Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 

         
 

PHẬT VIỆT THI UYỂN
Nhiều tác giả
Xuất bản tại Houston, Texas, 2002

---o0o---

 


 

MỤC LỤC

Tri ân
Thay cho lời  Tri ân Thượng Tọa Nguyên Siêu
Dẫn Vào Cõi Thơ Thiền 
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Giấc Mộng Phù Sinh
Vui Với Niềm Vui
Cánh Hoa Tâm
Thoát Thế
Khuyến Thế tiến Đạo
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Giáng Sanh Cảm Niệm
Giáng Sanh Cảm Niệm
Báo Hiếu
cảm Niệm Tân Niên
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên
Kính Mứng Phật Đản
Pháp Lục Độ
Tình Thương của Phật
Diệu Lý Kinh Hoa Nghiêm
Chân Tâm
HòaThượng Thích Thắng Hoan
Tiếng Mõ Kinh Cầu
Tìm Hạnh Phúc Trên Tham Vọng
Bên Án Sương Lam
Mừng Ngày Phật Đản
Tiếng Chuông
Hòa Thượng Thích Chánh Lạc
Tán Phật
Tán Phật
Hòa Thượng Thích Giác Lượng
Rạng Danh Người
Thỉnh Tôn Tượng Quán Âm
Nguyện Chung Xây
Hương Vị Giải Thoát
Ánh Đạo Vàng
Hòa Thượng Thích Thiện Trì
Mừng Xuân Ất Hợi
Tĩnh Tọa
Bước Chân Du Hóa
Thượng Tọa Thích Tuệ Sĩ
Hạ Sơn
Mông Ngày
Tống Biệt Hành
Thương Nhớ
Thương Tọa Thích Tịnh Đức
Về Rừng
Vãng Am
Một Kiếp Phù Sinh
Dạy Con vào Đời
Thượng Tọa Thích Tín Nghĩa
Liễu Nhiên Kệ
Kham Nhẫn
Cùng Lo Liệu
Cảm Niệm Sư Phụ
Lòng Thương Của Phật
Thượng Tọa Thích Nguyên Hạnh
Một Thoáng Trần Gian Cơn Huyễn Mộng
Hoa Phật
Tính Sổ
Xuân Tâm
Sắc Đời
Quà Tặng
Thượng Tọa Thích Minh Thông
Tình Thương Vạn Kỷ (2)
Hương Thiền Hoa Đạo
Tình Thương Vạn Kỷ (3)
Tình Thương Vạn Kỷ (5)
Cảm Niệm Phật Thành Đạo
Thượng Tọa Thích Thiện Hữu
Nhớ Thầy
Viếng Cảnh Chùa Hương
Thượng Tọa Thích Quảng Thanh
Niềm Tin
Tóc Xanh Nhuộm Hương Thiền
Trăng Ngủ Trong Mây
Mẹ là Phật
Cảm Ơn Phật
Thượng Tọa Thích Viên Lý
An Lạc
Đản Sanh Cảm Tác
Một Phút Dừng Chân
Cười
Ta Cười Vang Trời Đất Giật Mình
Thượng Tọa Thích Trí Huệ
Nhận Thức
Thượng Toạ Thích Giác Đẳng
Như Lai
Phù Phiếm
Nhìn Lại
Hôi Ngộ
Một Lần về Davos
Thượng Tọa Thích Thiện Tâm
Xuân Tuổi Thơ
Xuân
Sáng Trăng
Mưa Giông
Gặp Gỡ
Khuyến Thị
Thượng Tọa Thích Nguyên Siêu
Trăng Nước Giai Không
Vô Đề
Hương Ca Sa
Mưa Đồi Pháp Vương
Hương Kim Cương
Sư Thích Huệ Không
Bến Mê Bờ Giác
Thiền Thơ
Chân Như
Lạc Cảnh
Gợi Nhớ
Sư Cô Thích Nữ Như Ánh
Tiếp Độ
Sư Cô Thích Nữ Chân Thiền
Buông Xả Tuyệt Đối là “ Tuyệt Đối”
Ta Là
Tọa Thiền
Thầy Thích Linh Như
Chân Vọng
Thầy Thích Tịnh Trí
Xuân Trong Cửa Thiền
Toại Khanh
Thương Phật
Mùa Xuân Lạnh
Trăng Vô Ngã
Vác Tượng
Sơn Miên
Nữ Sĩ Tâm Tấn
Quán Thế Âm Tịnh Thánh
Cây Đèn Hành Khất
Quán Tưởng
Đạo Vàng Xuất Hiện
Khai Đạo
Nữ Sĩ Tuệ Nga
Bến Trăng
Chuông Sớm
Hoa Đàm Ý Thơ
Hoa Kính Tin
Bến Bờ Nào Chia.
Vĩnh Hảo
Trà Khuya
Thể Nhập
Đêm Ở Lại kim Sơn
Thôi Đành
Lệ Tâm
Quẳng Gánh Lo Đi
Mật Nghiêm
Vô Thường
Tu
Đời Và Đạo
Khách Trọ
Một Niệm
Tuệ Kiên
Tìm Về
Hạnh Phúc Trong Thiền
Hạt Yêu Thương
Về Đâu
Xa Rồi
Thi Vũ
Thanh
Vi Khuê
Phật và Chùa
Lam Nguyên
Ở Ẩn
Thu Đất Khách
Nguyễn Lân
Giã Từ Bể Khổ
Mơ Mây
Tâm Niệm Phật
Diệu Anh
Hoá Thân
Vô Đề
Cảm Tác Thập Mục Ngưu Đồ
Phật và Con

 

TRI ÂN

 Xin chân thành tri ân Chư Tôn Đức và Chư Phật Tử đã hoan hỷ gởi thơ cho “ Phật Việt Thi Uyển”, để vườn thơ mang nhiều sắc thái và thêm phần phong phú. Sự đóng góp của Chư Tôn Đức và Chư Phật Tử cho nền văn hóa Phật Việt đã in sâu vào tâm khảm của người con Phật họ Diệu này.

Kính chúc Chư Tôn Đức Pháp thể khinh an, trụ thế lâu dài để chúng sinh được ân triêm công đức.

Kính chúc Chư Phật Tử bồ đề tâm kiên cố để hộ trì Phật Pháp được trường tồn, già lam được hưng chấn.

                                                                        *

Nơi đây xin cảm niệm công đức của KT Printing đã trợ duyên cho “Phật Việt Thi Uyển” 

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

THAY CHO LỜI TRI ÂN THƯỢNG TỌA NGUYÊN SIÊU 

“ Phật Việt Thi Uyển” ra đời như đóng góp thơ đạo cho Đại Hội Văn Hóa Phật Giáo Việt Namnăm 2003. Đã hẳn nhiên một bài thơ là phản ảnh tâm linh của từng nhà thơ nhưng phối ngẫu với nhau mà thành vườn thơ này. “ Phật Việt Thi Uyển” sẽ chẳng thành hình nếu không nhờ sự cố vấn giúp đỡ của Thầy. Là trưởng ban tổ chức Đại Hội, Thầy rất bận rộn với công việc Phật sự, nhưng Thầy vẫn hoan hỷ giúp con không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được mối đạo tình và lòng tôn kính của con đối với Thầy.

Con xin cảm tạ lòng từ bi và trí tuệ của Thầy hôm nay và về sau. Cầu nguyện Tam Bảo gia hộ Thầy công huân viên mãn.

 DẪN VÀO CÕI THƠ THIỀN. 

Trải qua dòng lịch sử dân Việt, Phật pháp và thi ca nâng đỡ, hoà quyện nhau như sóng với nước. Lịch sử đã ghi chép về Thiền sư Không Lộ, Người uyên thâm kinh điển mà vẫn mang tâm hồn thi sĩ, để có lúc, trong cái tĩnh mặc của tâm thể, sáng tác cho đời những thi kệ hùng tráng:

                                    Trạch đắc long xà địa khả cư

                                    Dạ tình chung nhật lạc vô dư

                                    Hữu thời trực thượng cô phong đảnh

                                    Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư

Dịch

            Lựa nơi rồng rắn đất ưa người

            Cả buổi tình quê những mảng vui

            Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm

Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời

                                    (Kệ Ngôn Hoài – Ngô Tất Tố )

Rồi lại kể đến Trần Nhân Tông là vị vua thứ ba đời Trần. Sau ngày bình định giặc Mông, yên vui bờ cõi, Ngài bèn cởi long bào, đi giày cỏ, theo đường mây về núi Yên Tử, mà khai sang giòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, vừa là nền tảng Bi, Trí, Dũng cho việc trị quốc, vừa phổ tính phiêu bồng thoát tục vào Thiền Việt. Và Ngài cũng là một thi sĩ, đem chính cái vấn nạn về thiên lý mà chuyển hóa thành thơ :

                                    Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

                                    Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

                                    Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

                                    Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

                        Dịch

                                    Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

                                    Đói đến thì ăn , nhọc ngủ liền

                                    Trong nhà có báu thôi tìm kiếm

                                    Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền

                                                                        ( Cư Trần Lạc Đạo Phú - Hội thứ 10 )

Truyền thống “Thơ trong đạo, đạo trong thơ” vẫn tiếp tục qua bao thời đại, bất kể bước lịch sử thăng trầm và điều bất thường của thời cuộc. Thế nên, gần với thời đại chúng ta, giữa bối cảnh khổ đau của kiếp người mộng tưởng lại hiển hiện những Thiền Sư, thi sĩ, người thơ, kẻ hành giả như Thích Nhất Hạnh, Thích Tuệ Sĩ, Phạm Thiên Thư, Thạch Trung Giả, Thi Vũ, Bùi Giáng… dù mặc áo Tăng hay lao đao giữa chợ đời, vẫn giữ trọn lửa đạo pháp sáng soi và cùng một lúc góp phần vào giòng thơ Việt những suối nguồn bất tuyệt. Có điều gì khác hơn là cái cảm nhận sâu thẳm về đời sống được nuôi nấng, vỗ về và lớn lên trong cái thế sung thiên phiêu bồng của Thiền để di sản thơ của chúng ta có được những câu như:

                                    Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

                                    Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

                                                                        ( T.T Tuệ Sĩ)

                        Hay

                                    Ta hỏi kiến nơi nào cõi Tịnh

                                    Ngoài hư không có dấu chim bay

                                                                        ( T.T Tuệ Sĩ)

Mối quan hệ xoá nhòa biên giới giữa Đạo và Thơ thật ra đã giao lưu bàng bạc trong hành trình Phật từ muôn năm trước. Phải chăng điều này hiển hiện trong ngôn từ Bodhi / Satva ( Bồ tát / Nghệ sĩ ) dành cho những nhân vật nửa truyền thuyết, nửa sống thật trong kinh văn Phật Thiên Trúc nguyên sơ. Phải chăng điều này đã hiển hiện trong kinh Pháp Hoa uyên áo:

                                    Ý tứ diệu đường mây

                                    Xối mưa pháp cam lộ

                                    Dứt trừ lửa phiền não

                                                                        ( Phẩm thứ hai mươi lăm” Quán thế Âm Bồ Tát”)

Hay còn ở trong những bài kệ Phạn ngữ thong thường tụng niệm:

                                    Dâng hoa cúng đến Phật Đà

                                    Nguyện mau giải thoát sanh già khổ đau

                                    Hoa tươi nhưng sẽ úa sầu

                                    Tấm thân tứ đại khỏi sao điêu tàn

                                                                        ( Kinh Hồi Hướng )

Phải chăng Đạo với Thơ như sóng với nước vì đạo pháp là cội nguồn để cho thơ tư duy và hiện diện trong thơ như tinh thần nhân bản. Còn thơ lại là tiếng nói tinh khôi diễn đạt ý nghĩa thâm sâu của đạo Pháp dưới một hình thức văn chương xúc tích để trở thành tiếng nói khoáng đạt qua lòng người. Mối duyên của Đạo và Thơ, của thiền lý và thi cảm, một nét đặc thù hiếm thấy ở các tôn giáo khác, vừa thú vị lại vừa nói lên không ít về bản chất của Phật học cùng một lúc là giáo lý tu tập và là hệ tư tưởng dẫn đạo cho cuộc sống.

Phật Việt Thi Uyển là vườn thơ của hơn 100 bài thơ qua sự đóng góp của hơn 30 người thơ hướng tâm về tình và đạo trải dài trong nhiều năm vừa qua.

Xin được coi “ Phật Việt Thi Uyển” như một tiếp nối cho truyền thống Đạo và Thơ mà ở đó mối quan liên vừa tâm linh vừa lãng mạn của thi ca và pháp tướng lại đuợc thể hiện vuông tròn. Cũng như những ngã sông, vừa muôn ngàn con sông mà vẫn thu về làm một, đóng góp trong vườn thơ này, dù nhất quán trong tư tưởng vẫn biểu hiệu cho những tư duy muôn nẻo nơi nhà Phật và những hình tướng muôn màu của đời sống. Đã có những cao tăng mà cùng song hành với hoạt động nghiên cứu của kinh điển và rao giảng Phật pháp cho đời, đã thành danh như một thi nhân, đem nhan sắc vi diệu của đất, đá và điều an vi của giòng suối từ núi sâu trôi chảy xuống bình nguyên đời mà phổ vào thơ. Nhưng cũng hiện diện rực rỡ và sinh động trong vườn thơ này là những người ẩn tích trong tâm thất, trầm mình trong đời sống tu tập, tịnh mặc trong hương khói ngoại am. Có lẽ những người thơ ấy sẽ chẳng bao giờ là thi sĩ, nhưng những giòng thơ đóng góp trong vườn thơ lại chính là những điều tâm đắc về giáo lý, giản dị và sâu sắc, dung dị và nhiệm mầu, trân trọng với nhân loại mà không một chút băn khoăn về hình tướng. Rồi từ đó vào đời những thông điệp, hay đơn sơ, những lời dâng nồng nàn và không kém sáng soi như Đuốc Tuệ.

Xin được nhìn vườn thơ như con đường giao hưởng. Những chủng tử sống trong vườn thơ này có lúc dấu nối cùng nhau như thác sinh cùng bọc, có lúc cô độc với ngọn lửa tâm linh của chính mình in trên vách. Những chủng tử ấy, qua vườn thơ này, xin cùng góp nhặt cát đá gạn lọc từ thể xác riêng phần hay tích cóp từ trùng tu của luân hồi mà gây dựng thành con đường giao hưởng đi vào lòng người và đạo pháp.

Xin được nhìn vườn thơ như vị thiền núi bạc, hay người cư sĩ tâm cảm với kinh sách mà vẫn cưu mang đời sống, hay nhà sư thăng bằng trên đôi vai, cân đối trong trái tim, tâm tình hiến dâng cho đạo và đời. Tất cả như lấy ý ngôn phiêu bồng mà nồng nàn với đời sống từ di sản của kinh điển mà hoàn thành vườn thơ này.

Xin được nghiêng mình hái một đóa sen trắng để tặng cho nhân loại, cho niềm tin và đạo pháp 

                                                                                                                                                                                                Diệu Anh

                                                                                                                                                                                   
Houston, Texas - Đông 2002

HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU
TỔ ĐÌNH TỪ QUANG

 

GIẤC MỘNG PHÙ SINH

Giấc mộng phù sinh vẫn thế thôi,
Nhục, vinh, thành, bại mặc cho đời.
Lòng trong, ôm ấp đời và đạo,
Cùng với thiên nhiên nở nụ cười.
Xuân Canh Thìn: 10-02-2000 

VUI VỚI NIỀM VUI

Vui với niềm vui của Đạo Vàng,
Vui cùng tứ chúng[1] mỗi hè sang.
Vui mây bàng bạc mười phương hợp,
Vui nắng dâng hoa đẹp mọi đàng.

Chân lý cao siêu được hiện lên[2],
Xa xưa vườn Lộc đã xây nền.
Sinh già bệnh tử, tươi màu đạo,
Nét đẹp vô sinh, bóng dáng hiền. 

Chỉ “biết” và không, có thế thôi,
Thung- dung-chân-cảnh dẹp luân- hồi.
Hư- không phóng khoáng không triền- phược,
Như Thánh cầu mong ánh sáng ngời. 

Thiện-sinh hiếu hạnh lễ gì đây?
Lễ sáu phương tâm trả đức dầy.
Đẹp đạo, tốt đời đây Cực Lạc,
Đây nguồn chân lý khỏi vơi đầy. 

Chân voi to rộng sánh sao bằng,
Đức cả hư-không, đạo chuyển thăng.
Thế- trí lặng trầm qua mắt tuệ,
Rạch, nguồn xa thẳm dưới sông Hằng. 

Tầm cầu giải thoát hiểu đường đi,
Đi tới nơi “ tâm chẳng động” gì.
Chặt lõi cây mang, mang đạt đích,
Vô biên pháp giới một lòng ghi !

Tin nơi chân lý chớ tin càn,
Dù bởi đâu đâu vẫn chẳng can.
Rõ thực, hiểu sâu bằng thực nghiệm,
An vui, lợi lạc, phúc muôn vàn. 

Vui với niềm vui tâm lắng trong,
Cùng chung tỉnh thức đạo vun trồng.
Cùng lên bờ giác tâm an lạc,
Cùng đón quần sinh thoát bụi hồng. 

Mùa Nghiên Tu An Cư
Tổ Đình Từ Quang: 14-7-2001 

 CÁNH HOA TÂM

Lồng lộng thái -hư,
Mông mênh sa- giới.
Chờn vờn vi vật,
Tĩnh lặng suy tư,
Dáng tâm hoa,
Muôn cánh,
Nở chu tuyền.
Hoa tâm muôn cánh diệu huyền
Núi sông cây cỏ góp duyên thuở nào.
Lưng trời lấp lánh trăng sao,
Mây bay gió thổi dạt dào nguồn sông.
Mưa rơi nắng dãi xanh đồng,
Chim muông hả mộng phiêu bồng tiêu dao.
Nhân sinh trọn chí anh hào,
Tùng xanh sương tuyết tuôn trào khí thiêng
Lồng trong pháp giới vô biên,
Nhịp nhàng tự tại chân thiền thăng hoa.
Hoa tâm hương ngát Sa-Bà,
Hoa tâm hiện bóng Di Đà nơi đây.
Hoa tâm gạn hết vơi đầy,
Hoa tâm bừng sáng muôn loài chung vui.
Hoa tâm dâng trọn cho người,
Cùng chung xây dựng cảnh đời như nhiên. 

Montreal, mùa thu năm 2000 

THOÁT THẾ [3]
( Thoát Đời)

Phiên thân nhất trịch xuất phần lung,
Vạn sự đô lô nhập nhãn không.
Tam giới mang mang tâm liễu liễu,
Nguyệt hoa Tây một, nhật thăng đông.
Dịch
Trở mình thoát lửa lao lung,
Mắt nhìn sự vật suốt cùng đều không.
Tâm thong ba cõi mênh mong,
Trăng Tây lẫn bong, trời Đông loé hồng.

Phỏng dịch thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ 

KHUYẾN THẾ TIẾN ĐẠO [4]
(Khuyên đời tiến đạo)

Tứ tự tuần- hoàn Xuân phục Thu,
Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu.
Vinh-hoa khẳng cố nhất trường mộng,
Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu.
Khổ thú luân hồi như chuyển cốc,
Ái-hà xuất một đẳng phù-âu.
Phùng trường diệc bất mô lai tỵ,
Vô hạn lương duyên cửu mạ hưu!
Dịch
Bốn mùa Xuân lại tới Thu,
Đầu xanh chốc đã phất phơ bạc màu.
Vinh hoa phủ giấc mộng sâu,
Tháng năm ôm ấp mối sầu muôn thưng.
Xe lăn nẽo khổ không ngừng,
Sông yêu chìm nỗi như chừng bọt tan.
Gặp đâu hay đó… không cần,
Lương –duyên vô hạn chỉ ngần ấy chăng?

Phỏng dịch thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ 

 

HOÀ THƯỢNG THÍCH HUYỀN VI
CHÙA LINH SƠN

 

GIÁNG SANH CẢM NIỆM

Năng nhơn thừa tượng hạ trần gian,
Tịnh Phạn Mẫu Hoàng thậm chí hoang,
Vô Ưu hoa thịnh hữu thủ tiếp,
Kim bồn mộc dục cảnh nghiêm trang.

Tứ phương thất bộ thiên địa chỉ,
Độc tôn chân ngã tùng vô thủy,
Bổn tâm toàn giác Như lai ngộ,
Khai hoá quần sanh chân thiện mỹ.
Dịch
Năng nhơn cưỡi tượng xuống trần gian,
Tịnh Phạn Mẫu hoàng rất hỷ hoan,
Tay hái Vô Ưu đang nẩy nở,
 Bồn vàng tắm Phật cảnh nghiêm trang. 

Bảy bước bốn phương chỉ đất trời,
Mình ta chơn ngã độc tôn thôi,
Như Lai biết được là tâm ngộ,
Khai hoá quần sanh thiện Mỹ đời. 

GIÁNG SANH CẢM NIỆM

Giáng sinh tu chứng độ quần mê
Giáng sinh xuất tục thoát khổ nê
Giáng sinh thành đạo siêu tam giới
Giáng sinh nhập diệt triệt Bồ đề. 

Giáng sinh khai Phật tri kiến tiên
Giáng sinh thị Phật tri kiến liên
Giáng sinh ngộ Phật tri kiến tánh
Giáng sinh nhập Phật tri kiến nguyên.
Dịch
Sinh xuống tục nêu gương thanh thoát
Sinh xuống tu thành đoạt cơ thiêng
Sinh xuống vượt khỏi ba miền
Sinh rồi vắng lặng như nhiên Bồ đề 

Sinh xuống mở cửa về chân nhất
Sinh xuống bày thấy thật tiếp liên
Sinh xuống gặp tánh Phật huyền
Sinh xuống vào thẳng Giác nguyên hoàn toàn. 

BÁO HIẾU

Mục Liên Tôn Giả hiếu từ thân
Chư thú tầm nương dục báo Ân
Ngã quỷ thọ hình tra thảm não
Khổ nạn cứu bạt ngưỡng Toàn Chân 

Thất ngoạt, Phật ngôn: cứu Thế Nhân,

Vu Lan kỳ nguyện độ mê tân
Cúng dường tứ sự Tăng, Ni nạp
Tận lực, tận tâm, tận khổ phần!
Dịch
Đại Đức Mục Liên hiếu Mẹ già,
Kiếm tìm khắp cõi mới hay bà,
Ngục hình ngã quỷ người đang khổ,
Tai nạn dứt trừ nhờ Phật Đà. 

Tháng bảy Phật khuyên cứu thế nhân
Vu Lan cầu nguyện khỏi mê tân,
Cúng dường tứ sự Tăng Ni nạp,
Rán sức hết lòng, dứt khổ phần. 

CẢM NIỆM TÂN NIÊN

Khánh chúc Tân Niên Di Lặc Tôn,
Châu viên vạn đức chiếu sơn môn,
Long Hoa tam hội truyền duyên pháp,
Đâu Suất nội viện thuyết ngọc ngôn. 

Nhâm Ngọ chung niên toàn thạnh đạt,
Ngũ châu Phật tử đáo Linh Sơn,
Trường xuân chánh đạo hoàn thanh cảnh,
Thọ ký đương lai tâm chánh chơn.
Dịch
Kính chúc Tân Xuân Di Lặc Tôn
Tròn năm muôn đức chiếu sơn môn,
Long Hoa ba hội truyền duyên pháp,
Đâu Suất cung trời tỏ ngọc ngôn, 

Nhâm Ngọ trọn năm đầy thành đạt,
Năm châu Phật tử đến Linh Sơn,
Xuân daì chánh đạo hoàn thanh cảnh,
Thọ ký ngày sau tâm chánh chơn… 

 

HOÀ THƯỢNG THÍCH GIÁC NHIÊN
TỔ ĐÌNH MINH ĐĂNG QUANG

 

KÍNH MỪNG PHẬT ĐẢN

Ngày Phật Đản chúng con thường tưởng nhớ
Ân cao dày của một Đấng Cha lành
Cả cuộc đời, vì nhân loại chúng sanh
Nên chí nguyện , mói giáng trần độ chúng. 

Cung Đâu Suất Bồ Tát danh Thiện Huệ
Tu nhiều đời nhiều kiếp mới được nên
Hưởng Niết Bàn, an lạc mãi thường bền
Thương sanh chúng lầm than trong Tam giới 

Ngài quán xét, cõi Ta bà mong đợi
Đấng Từ bi xuất hiện độ chúng sanh
Ngài nhập thần, quán chiếu thấy rành rành
Trung Ấn Độ có đức vua Tịnh Phạn 

Và Hoàng Hậu Ma Gia người trong sang
Đức hạnh nhiều, mọi người kính mến yêu
Đấng Mẫu từ và thuận tiện mọi điều,
Nên giáng xuống làm Đông cung thái tử 

Vừa anh ra Tiên Tư Đà xem thử
Tướng phi thường đều khác hẳn người đời
Ngài đoán rằng: Khi Thái tử lớn khôn
Quyết giải thoát, tu đắc thành chánh quả. 

Đem Chánh pháp phổ truyền lan khắp cả
Độ nhân sanh, cùng thế giới năm châu
Đạo của Ngài là vi diệu nhiệm mầu
Đáng sanh chúng muôn triệu đời ca tụng. 

Lời tiên đoán A Tư Đà rất đúng
Ngày hôm nay hai ngàn bảy trăm năm (2620)
Khắp năm châu tháng tư đúng ngày rằm
Lễ Phật Đản hằng năm đều niệm tưởng 

Hàng Phật tử chúng con đồng tín ngưỡng
Xin thành tâm kính lạy đấng Từ Tôn
Nguyện vâng theo lời ngọc ngữ kim ngôn
Trong Tam tạng, ân đức Ngài chỉ dạy 

Tu giải thoát, cõi Ta bà khổ hải
Đừng xuống lên, sanh tử cõi trần gian
Đến khi nào đắc quả nhập Niết Bàn
Là bổn nguyện tròn xong người con Phật.

Nam  Mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

 

PHÁP LỤC ĐỘ

Ra ân Bố Thí giúp cùng nhau
Trì Giới giữ gìn vẹn trước sau
Nhẫn Nhục thương người cơn thống khổ
Giải mê giúp kẻ buổi lao đao
Tánh tâm chẳng vướng nhơ trần bợn
Tinh Tấn càng thêm phần giá cao
Thiền Định lặng trong thâu vạn pháp
Đạt thành Bát Nhã sớm nhanh mau 

 TÌNH THƯƠNG CỦA PHẬT

Đức Phật tình thương cả vạn loài
Ngài là toàn giác đấng Như Lai
Biết đời đau khổ nhiều cay đắng
Đem pháp huyền linh mới chỉ bày
Biển khổ Ta bà luân chuyển mãi
Sanh già đau chết cứ bi ai
Tham gian ác quấy gây sầu khổ
Quả nghiệp vần xoay xuống lên hoài. 

DIỆU LÝ HOA NGHIÊM
Thiện Tài Đồng Tử đi cầu pháp

Thiện Tài Đồng Tử quyết tầm sư
Học hỏi suốt thông mối đạo từ
Giới đức nghiêm trì gìn đạo hạnh
Mở tâm khai ngộ lý chân như
Liễu khai vạn pháp minh tâm đạt
Thấu rõ tánh chân được vẹn mười
Tri cổ triệt kim đều suốt lý
Thiện Tài vốn thiệt trí vô sư. 

CHÂN TÂM

Hạnh Phúc tìm trong ở chính mình
Tâm mình trong lặng trí quang minh
Tam tâm tứ tướng không còn nữa
Tánh tịnh Niết bàn đạt quả linh 

Tất cả những gì tướng hữu vi
Ví như giọt nước có ra gì?
Khác nào điển chớp sương đầu cỏ
Chung cuộc đáo đầu chẳng có chi? 

Chỉ có chân tâm thật của mình
Tịnh lòng trí sáng huệ quang minh
Thông tri vạn pháp vô nan sự
Bổn thể chân như xuất lộ hình. 

Mê nhiễm trần gian phải đắm chìm
Xuống lên trồi ngụp mãi triền miên
Khó mong thoát khỏi vòng luân chuyển
Nương Bát Nhã thuyền mới vững yên 

Trí huệ công năng thắng vạn thù
Vô minh phá vỡ dứt phàm phu
Bổn lai thể hiện chân như lộ
Phật tánh ngộ rồi dứt tuyệt ngu.  

 

HÒA THƯỢNG THÍCH THẮNG HOAN
CHÙA PHẬT ÂN 

TIẾNG MÕ KINH CẦU

Vang đều tiếng mõ gọi xa
Gói tròn kinh tụng thiền ca vọng  về
Rót vào hố thẳm cơn mê
Lay người tỉnh mộng bên lề trầm luân
Âm ba chuỗi ngọc lan dần
Bao nhiêu vọng tưởng nghe chừng rụng rơi
Chân tâm đã thức dậy rồi
Bỗng nhiên miệng nở nụ cười xuân xanh
Tuy rằng sống giữa phù sinh
Nhưng mình cảm thấy bình minh sáng làu
Đi trong hơi thở nhiệm mầu
Nhẹ nhàng kinh tụng kết sâu mối tình. 

TÌM HẠNH PHÚC TRÊN THAM VỌNG

Chập chờn trên lá lục
Đàn bướm vàng nhởn nhơ
Nô đùa theo nhạc sống
Thanh bình xây ước mơ 

Vạn đóa hoa hàm tiếu
Ngàn hương thơm ngát bay
Bướm vàng thi nhau lượn
Đang ướp mộng tương lai 

Khách Trần từ đâu lại
Nhẫn chi bắt bướm hoa
Đem ép vào lòng sách
Giết chết bản tình ca. 

Thương thay người lữ khách
Làm mất vẽ đẹp xinh
Của bướm hoa trời đất
Ôm xác rã bên mình. 

Hạnh phúc nhân duyên đến
Thiếu duyên không thể sanh
Tìm cầu trong tham vọng
Lệ thấm suốt trường canh. 

BÊN ÁN SƯƠNG LAM

Khói sương cuồn cuộn lên đồi
Màn sương phủ kín chân trời cô thôn
Đồi thông lặng đứng sương ôm
Cỏ cây ấp ủ mặn nồng tình xuân
Nghe như sức sống lên đường
Đất trời rung chuyển nguồn thương nẩy mầm
Nghe như thế giới hoà âm
Thiền ca điệp khúc ngàn năm nhiệm mầu
Trần ai lắng đọng sạch làu
Lăng Già ảnh hiện nhịp cầu thiên thai
Thiền trà thắm giọt sương mai
Hương thơm Diệu Pháp vị đầy Chân Như
Đèn tâm soi sáng án thư
Hiên ngoài sương dệt vần thơ Niết Bàn  

MỪNG NGÀY PHẬT ĐẢN

Ngày Phật Đản tin về mùa kỷ niệm
Rộn ràng lên người con Phật năm châu
Nghe nguồn vui mang sắc thái nhiệm mầu
Niềm tin vững in sâu lòng thệ nguyện
Bậc Đại Giác Ta Bà đà xuất hiện
Cứu quần sanh thoát khỏi biển trầm luân
Phá si mê người ngọn đuốc dẫn đường
Thuyền Bát Nhã vươn cao buồm trí tuệ
Người nhận thấy trần gian bao thế hệ
Phũ phàng lên kiếp nô lệ lầm than
Tạo cho nhau giai cấp trói buộc ràng
Bị khống chế bởi quyền năng không tưởng
Cứ hy sinh suốt cuộc đời vất vưởng
Trong khổ đau đầy ác trược triền miên
Trôi xuống lên vòng sanh tử não phiền
Lôi cuốn mãi theo vô minh nghiệp báo
Người thương xót liền mở bày Chánh đạo
Hướng nẽo chân lời dạy bảo rõ rành:
“ Các con đây chính là Phật sẽ thành,
Đều bình đẳng hãy mau lên Chánh Giác”
Thật chân lý và tình thương bàng bạc
Lời ngọc vàng vẫn ghi tạc lòng son
Tiếng Pháp âm vẫn vang dội chuông ngân
Chúng con nguyện bước theo chân Phật Tổ
Để nhớ ơn một bậc Thầy giác ngộ
Gương hy sinh người tế độ trần gian
Ngày Đản Sanh thị hiện thật huy hoàng
Chúng con nguyện kết hoa đăng tưởng niệm. 

TIẾNG CHUÔNG

Mỗi lần điểm tiếng chuông ngân
Bao nhiêu vọng tưởng bỗng nhiên rụng rời
Trở về thực tại trong tôi
Phút giây chánh niệm đất trời lặng yên
Cửa tùng mở cánh chân nguyên
Vô ưu bắt nhịp cầu duyên Niết Bàn
Chim kêu Thiền thoại hành trang
Suối reo hòa khúc nhạc vàng Tâm Kinh
Thiền hương thơm bước tiến trình
Gót hài lưu dấu tinh anh nhiệm mầu
Tiếng chuông lãnh lót ngàn sau
Tỉnh người bến mộng sạch làu trần ai
Cách xa dù mấy dậm dài
Từ bi chất liệu tình xây nối liền
Đèn tâm soi sáng não phiền
Nguồn vui giải thoát đài sen kết thành
Bấy nhiêu chánh niệm cảm nên
Hiển bày qua tiếng chuông thanh nhịp nhàng
Tuy rằng bặt tiếng chuông ngân
Nhưng người tỉnh thức vẫn còn dư âm.
 

 

HÒA THƯỢNG THÍCH CHÁNH LẠC
CHÙA NHƯ LAI

TÁN PHẬT

Văn suôi
Thân Phật thanh tịnh như lưu ly
Mặt Phật là trăng tròn sáng tỏ
Phật ở thế gian để cứu khổ
Tâm Phật từ bi khắp nơi nơi
Văn vần
Lưu ly thanh tịnh Phật thân
Trăng tròn sáng tỏ trong ngần Phật nhan
Phật luôn cứu khổ thế gian
Từ bi tâm Phật muôn vàn nơi nơi 

TÁN PHẬT

Mặt Phật là trăng tròn sáng tỏ
Cũng như ánh sáng ngàn thái dương
Viên quang chiếu khắp mười phương
Từ Bi Hỷ Xả yêu thương muôn loài

 

HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC LƯỢNG

PHÁP DUYÊN TỊNH XÁ 

 

RẠNG DANH NGƯỜI
Kính dâng Đại Lão Hoà Thượng
Thích Huyền Quang 

Giác dòng họ Thích Giác muôn sanh
Lượng quyết tâm tu Lượng chí thành
Kính bậc Tôn Sư Nguyền phụng hiến
Dâng Ngài Đại Lão Xứng tinh anh
Hoà đời bảo đạo Gương lòng sáng
Thượng quốc yêu dân Rạng tánh danh
Huyền nhiệm pháp mầu Ngời bát chánh
Quang như nhật nguyệt Giữa Trời Thanh

San Jose Hoa Kỳ
Mùa Phật Đản 2626-2546-2002 

THỈNH TÔN TƯỢNG QUÁN ÂM

Cung thành hướng nguyện Quán Âm
Thỉnh Ngài thương xót giáng lâm thế trần
Thánh nguyền cứu khổ độ dân
Tượng tôn thạch bích trong ngần ánh quang
Bồ đề liên toạ ngự an
Tát đỏa tiền điện vững trang nghiêm đài
Quán tường cao ngút từng hai
Thế gian chiêm ngưỡng đức Ngài uy nghi
Âm vang linh cảm đại bi
An như tịnh thủy chuyển đi khắp miền
Ngự từ đỉnh Bát Nhã duyên
Tại nguồn chánh pháp lòng thiền mở khai
Pháp mầu độ khắp muôn loài
Duyên trao đến những ai ai cầu nguyền
Tịnh lòng khấn nguyện bình yên
nơi tích thiện vĩnh miên phúc lành
San tình Phật hóa chúng sanh
Jose kính đạo đạt thành ước mong.

Xuân năm 2000 

NGUYỆN CHUNG XÂY
Mến tặng T.T. Thích Tín Nghĩa 

Tuệ nhật thường lưu khắp đó đây
Đàm hoa tỏa ngát vị hương đầy
Tử tâm thông thấu nguồn chân lý
Tặng ý trao duyên pháp hữu này
Thượng chí cao vun nền chánh pháp
Tọa nơi trần thế nguyện chung xây
Tín lòng mong mãi lo tròn phận
Nghĩa đẹp đạo đời quý hoá thay.

Nhân kỳ Đại Hội GHPGVNTNHN/HK Kỳ III 12-10-2002 

HƯƠNG VỊ GIẢI THOÁT

Hữu duyên thay cho con người hữu phước
Sanh ra đời được gặp ánh Minh Quang
Đèn Chơn lý chiếu soi lòng tỏ ngộ|
Và nương theo nguồn đạo sống thanh nhàn
Hữu hạnh thay cho con người được độ
Về Tây Phương Phật Quốc hưởng Niết Bàn
Cảnh Cực Lạc trường tồn yên vĩnh viễn
Sống chơn thường ngự tọa khắp không gian
Quý hóa thay cho con người chí nguyện
Hoà chung nhau một thể sống đại đồng
Khắp vũ trụ muôn vạn loài yêu mến
Lòng mong cầu giác ngộ mới thành công
Thỏa mãn thay cho con người đạt đến
Lẹ huyền vi mầu nhiệm của trường đời
Hòa nhịp sống đượm nhuần trên nhân thế
Gieo Ánh Vàng chiếu rọi khắp cùng nơi. 

ÁNH ĐẠO VÀNG
( Họa y vận bài Ánh Đạo Vàng
Thơ Nữ Sĩ Tuệ Nga)
 

Họa mấy vần thơ kết ngọc tràng
Bài văn đượm sắc chiếu Huỳnh Quang
Thơ hoa ngát tỏa mùi thiên lý
Ánh nguyệt rạng ngời cánh Huệ Lan
Đạo tiếp người đời qua bến giác
Vàng soi nhân thế thoát trần gian
Tuệ khai bút pháp chân tâm hiện
Nga hướng lòng tu kính đạo vàng.

San Jose, Mạnh Hạ 2000 

 

HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN TRÌ
CHÙA KIM QUANG

 

MỪNG XUÂN ẤT HỢI

Sự đời qua trước mắt
Tợ sân khấu ti vi
Khổ vui bao thảm cảnh
Buông màn còn có chi?
Đón mừng xuân Ất Hợi
Bằng chánh quán liễu tri
Lẽ vô thường vô ngã
Nguyện tinh tấn tu trì
Phát huy giới định tuệ
Dứt diệt tham sân si
An vui trong chánh niệm
Tâm hỷ xả từ bi.

TĨNH TỌA

Biển cả rền sóng vỗ
Non cao vách đá xây
Thiền sư ngồi tĩnh tọa
Lưng trời mây trắng bay.

Hạ Uy Di 1985 

BƯỚC CHÂN DU HÓA

Bước chân du hóa Ta bà
Tạm dừng gót ngắm trời Ga-Lăng này
Chiều thu mặt biển chân mây
Trăng soi đáy nước đồi cây bóng lồng
Thiên thu vạn vật chắc không
Cảm thương biển khổ bềnh bồng sanh linh
Ngày mai bến giác đăng trình
Thuyền từ xin chở chúng sinh lên bờ

Tị nạn ở đảo Ga-Lăng

 

THƯỢNG TỌA THÍCH TUỆ SỸ

 

HẠ SƠN

Ngày mai sư xuống núi
Áo mỏng sờn đôi vai
Chuỗi hạt mòn năm tháng
Hương trầm lỡ cuộc say 

Bình minh sư xuống núi
Tóc trắng hờn sinh nhai
Phương đông mặt trời đỏ
Mùa hạ không mây bay 

Ngày mai sư xuống núi
Phố thị bước đường cùng
Sư ho trong bóng tối
Điện Phật trầm mông lung 

Bình minh sư xuống núi
Khoé mắt còn rưng rưng
Vì sư yêu bóng tối
Ác mộng giữa đường rừng. 

MỘNG NGÀY

Ta cỡi kiến đi tìm tiên động
Cõi trường sinh đàn bướm dật dờ
Cóc và nhái lang thang tìm sống
Trong hang sâu con rắn nằm mơ 

Đầu cửa động đàn ong luân vũ
Chị hoa rừng son phấn lẳng lơ
Thẹn hương sắc lau già vươn dậy
Làm tiên ông tóc trắng phất phơ 

Kiến bò quanh nhọc nhằn kiếm sống
Ta trên lưng món nợ ân tình
Cũng định mệnh lạc loài tổ quốc
Cũng tình chung tơ nắng mong manh. 

Ta hỏi kiến nơi nào cõi tịnh
Ngoài hư không có dấu chim bay
Từ tiếng gọi màu đen đất khổ
Thắp tâm tư thay ánh mặt trời? 

Ta gọ kiến, ngập ngừng mây bạc
Đường ta đi, non nước bồi hồi
Bóc quá khứ, thiên thần kinh ngạc
Cắn vô biên trái mộng vỡ đôi 

Non nước ấy trầm ngâm từ độ
Lửa rừng khuya yêu xác lá khô
Ta đi tìm trái tim đã vỡ
Đói thời giant a gặm hư vô.

Saigòn,1984 

TỐNG BIỆT HÀNH

Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi. 

Cho hết đêm hè trong bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân Hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn năm ố nhạt nhòa.
Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa náu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm hay máu xanh.

Nha Trang, 1977 

THƯƠNG NHỚ

Mười lăm năm một bước đường
 lòng lữ thứ đoạn trường, cha ơi
Đêm dài tưởng tượng cha ngồi
Gối cao tóc trắng rã rời thân con
Phù sinh một kiếp chưa tròn
Chiêm bao hạc trắng hãi hùng thiên cơ
Tuần trăng cữ nước tình cờ
Lạc loài du tử mắt mờ viễn phương
Tàn canh mộng đổ vô thường
Bơ vơ quán trọ khói sương đọa đày

Nha Trang, 1976

 

THƯỢNG TỌA THÍCH TỊNH ĐỨC
CHÙA ĐẠO QUANG

 

VỀ RỪNG

Ta về rừng núi bao la,
Nhìn sương rơi rụng, nhìn hoa lạc giòng.
Phù sinh một kiếp long đong,
Tiếng kinh vang vọng cô phong ngút ngàn.
Chiều về sương khói mênh mang,

Chuông chiều ngân giữa già lam lạnh lùng.
Mình ta lạc cõi vô cùng,
Như người lặn hụp giữa giòng tử sinh
Ta đi riêng một bóng hình,
Mang theo thức nghiệp tâm linh một đời.
Ra vào sinh tử chơi vơi,
Bờ mê, bến hoặc chuyển lời đạo xưa.
 

 

VÃNG AM

Gió ngàn lồng lộng rừng sâu
Am cheo leo đứng bên cầu Lãng Nhân
Sớm ra ngẫn thấy Phù-Vân
Một màu mây trắng, trắng ngần-đổi thay
Nghe chim hót, báo rạng ngày
Cho bình minh dậy, sương lay giọt sầu
Thoảng trong gió tiếng kinh cầu
vang vang, vọng vọng nhiệm mầu diệu âm
Có người phố thị về thăm
Đôi vai quảy nặng vi trần lợi danh
Nghe đồn chi lạ am tranh
Lần đi cho biết rừng xanh thế nào.
Buồn ơi rả rích mưa rào
Mưa tuôn hiên lạnh ôi chao nhớ nhà
Nằm nghe nhớ mẹ, nhớ cha
Nhớ non, nhớ nước, nhớ bà, nhớ con
Nhớ câu nước chảy đá mòn
Cây đa bến cũ đò còn khách đưa?
Biệt quê mẹ buổi chiều mưa
Giàn thiên lý nở bên chùa ngát hương
Nay xứ lạ, sống tha phương
Đoạn trường biến đổi; tang thương lạc loài
Sáng ra tỉnh mộng u hoài
Giã từ rừng vắng, đáo lai phố phường
Trong lòng còn chút vấn vương
Chiếc am cô lạnh vô thường Phù-vân

July,1998

 

MỘT KIẾP PHÙ SINH

Phù sinh nợ phù sinh duyên
Quẳng gánh ưu tư nhập đạo thiền
Nửa đêm bừng tỉnh trên giường mộng
Chợt biết ra mình thoát đảo điên.

Thoát đảo điên hề đời ta thênh thang
Hết say sưa hề hồn ta mơ màng
Nam Kha một giấc hề hồn ta miên man
Mộng hay thực hề lòng ta bàng hoàng.

Vu sơn giả mộng kiếp nhân sinh
Tay trắng hài nhi bướm hoá hình
Phù kiều mấy đoạn đời trôi nổi
Cập bến thiền môn tách bến tình.

Bồ đề một chuỗi của Thầy ban
Nhiếp niệm Hồng danh hiểu Đạo vang
Nam Mô thường niệm tâm thường tịnh
Tâm thường tịnh hề phiền não tan.

Khô Mộc thiền sư mở đạo tràng
ta theo diện bích ( sổ tức quan)
Chuyển mê khai ngộ trầm luân dứt
Biển đời thôi động biển mê sang.

Chèo thuyền Bát Nhã dạo thong dong
Chở ánh trăng khuya sáng rực song
Lâng lâng trần nhiễm lòng vô nhiễm
Thế sự thăng trầm vạn sự thông.

 

DẠY CON VÀO ĐỜI

Con còn nhỏ chim non vừa đủ cánh
Hãy bay đi vào biển rộng sông hồ
Gắng lên con vượt rừng núi hư vô
Chuyển đôi cánh mỗi ngày thêm cứng cáp
Con ơi đời đầy phong ba bão táp
Gió muôn trùng lồng lộng quạt bay con
Phải đương đầu những chướng ngại trầm oan
Con tự hiểu lớn khôn là phải sống
Gắng lên con dù trời cao biển rộng
Chí kiên cường con khắc phục khó khăn
Khổ cho con là tìm kiếm miếng ăn
Vì thơ dại con mồi không dễ kiếm
Nhưng thời gian sẽ dạy con kinh nghiệm
Sức sẽ bền chí sẽ vững thêm lên
Có những tuổi sầu quằn quại triền mien
Những nhục nhã phải cắn răng chịu lấy
Này con ơi muốn cho đời bừng dậy
Phải tự mình học lấy những thương đau
Cha Mẹ nuôi con khôn lớn đến độ nào
Rồi cũng phải xa con ngoan khờ dại
Phải ráng nhớ nghe con đừng ham dừng lại
Ở những nơi đầy mật ngọt mồi ngon
Bẫy sẳn giăng lừa dịp chờ bắt con
Lầm một chút là cuộc đời vong mạng
Tuy hiểu rằng hữu sinh thì hữu hạn
Nhưng chết sao cho liệt liệt oanh oanh
Có đôi lúc phải xả kỷ hy sinh
Xem cái chết tựa lông hồng nhẹ bỗng
Nhưng có úc phải nhục nhằn kham nhẫn
Dành mạng này cho đại cuộc mai sau
Đừng chỉ vì phút tức khí chẳng vào đâu
Mà phí bỏ cuộc đời trong vô nghĩa
Có đôi lúc bị thế gian mai mĩa
Xem như không để ý đến làm gì
Miễn sống sao đừng đánh mất lương tri
Đừng tàn hại đồng bào cùng huyết thống
Nhớ rõ câu là trời cao đất rộng
Mảnh lưới trời có lọt thoát ai đâu
Nếu kẻ nào ham danh lợi công hầu
Đem bán rẽ lương tâm cùng nghĩa khí
Lúc khó nghèo hay những khi cực bỉ
Phải giữ mình cho sạch rách thơm
Sống bao lâu tranh được được hơn hơn
Lúc nhắm mắt đều chẳng còn chi cả
Lợi lợi, danh danh mồi ngon vật lạ
Giã từ đời tay trắng lại hoàn không
Nhớ nghe con!

Nhớ nghe con! đừng ảo mộng tìm mong!

Phù vân Am,1986
 


 

Xem tiếp phần 02 > 03

 


[1] Bốn chúng của Đức Phật: Tăng, Ni, Thiện nam , Tín nữ

[2] Các đoạn thơ dưới đây, ngầm nêu các kinh đã giảng trong Mùa Nghiên Tu An Cư này như kinh: Chuyển Pháp Luân, kinh Thánh Cầu, kinh Thiện Sinh, kinh Dụ Dấu Chân Voi, kinh Dụ Lõi Cây, kinh Kalama

[3] Đại ý: Muốn thoát ra cõi đời đầy phiền não, cần phải có chí quyết liệt, dám trở mình, nhảy vọt ra khỏi vòng lửa đang thiêu đốt. Đời vô thường, muôn sự đều vô thường. Thoát được tâm thênh thang, ba cõi ( cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc) mông mênh, an nhiên tự tại, thấy ánh trăng đẹp lặn phương Tây, mặt trời mọc phương Đông như thường.

 
[4] Đại ý: Bài thơ này khuyên người ta vào đạo, tu đạo, tiến đạo. Cảm nhận đời là vô thường: Xuân đến Thu. Đầu xanh thanh đầu bạc. Vinh hoa là giấc mộng, năm tháng những buồn rầu. Cứ thế, chìm nỗi trong luân hồi, lăng xăng trong yêu ghét. Gặp cơ hội, không biết sờ lên mũi, xem hơi thở còn hay mất. Duyên lành chỉ có hạn thôi. Đừng nên gặp đâu hay đó, như trong Tuyền ăng Lục có câu: “ Can mộc tùy thân, phùng trường tác hý” Nghĩa là gậy gộc theo mình, gặp chỗ nào chơi đùa chỗ ấy.

 

 

 

---o0o---

Vi tính: Thanh Phi - Thanh Hạnh
Trình bày: Cát Tường - Diệu Tường

Cập nhật: 01-08-2009


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thơ Văn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544