Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

PL.2549 DL.2005
TSPL số 22 tháng 12 năm Ất Dậu
Chuyên đề:
Đêm Thành Đạo
 

 ---o0o--- 

Phật

Thích Đức Thắng

 

Phật là từ gọi tắt của Phật-đà được phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Phạn (sanskrite), có nơi còn phiên âm là Phù-đà, Phù-đồ, Phù-đầu, Một-đà, Bột-đà,… có nghĩa là chỉ cho Bậc đã giác ngộ hoàn toàn về nhân sinh và vũ trụ, là Bậc hiểu biết thấu triệt tất cả các pháp, là Bậc đã giác ngộ chân lý, là Bậc tri kiến như thật về tánh tướng của tất cả các pháp, là Bậc đã thành tựu Chánh đẳng Chánh giác của Đại Thánh, là Bậc đã thành tựu ba việc tự giác ngộ mình, giác ngộ cho người khác và giác hạnh viên mãn, là Bậc chứng quả vị tu hành tối cao tột cùng của Phật giáo.

 

Trong ba việc tự giác, giác tha và giác hạnh đối với chúng sinh phàm phu như chúng ta thì hoàn toàn không có phần nào; đối với các hàng Thinh văn và Duyên giác thì chỉ đạt được phần thứ nhất là tự giác, còn hai phần kia thì chưa đạt được; đối với các hàng Bồ-tát thì mới chỉ đạt được hai phần tự giác và giác tha, còn phần giác hạnh thì chưa đạt được; chỉ có chư Phật mới hoàn thành một cách viên mãn ba phần này nói chung và đức Thích Ca Văn nói riêng mới đạt được nên gọi Ngài là Phật. Nhờ sự kiện này mà chúng hiển bày một cách rõ nét và nổi bật về sự tôn quí của Phật. Đối với nội dung chứng ngộ của Phật thì trong kinh luận của Phật giáo có đề cập rất nhiều; nhưng riêng về Phật thân (Buddha-kāya) và cõi Phật (Phật độ) thì có những quan điểm khác nhau vì sự khác biệt về nhận thức và trình độ hiểu biết của các bộ phái sau khi đức Phật nhập Niết-bàn. Trong hiện tại, Phật giáo chỉ còn lại hai bộ phái, đó là Tiểu thừa và Đại thừa nên sự khác biệt chỉ được giới hạn trong vòng hai bộ phái này và những bất đồng về mặt bản thể luận cũng nhích lại gần hơn trong nhận thức. Tuy nhiên, chúng vẫn có những dị biệt do căn cơ trình độ nhận thức còn giới hạn trong tư duy về sự chứng đắc A-la-hán và quả vị Niết-bàn. Riêng Đại thừa giáo nhắm đến mục đích cuối cùng là quả vị Phật.

 

- Căn cứ vào vô lượng công đức mà đức Đạo sư đã từng tự thực hành huân tập trong vô lượng kiếp đến nay, nên sau khi thành đạo, Ngài được xưng tụng và tán thán qua nhiều danh hiệu khác nhau như: Mười hiệu Như lai (Như lai thập hiệu), Bậc biết tất cả (Nhất thiết tri giả), Bậc thấy tất cả (Nhất thiết kiến giả), Bậc biết đạo (Tri đạo giả), Bậc khai đạo (khai đạo giả), Bậc nói về đạo (Thuyết đạo giả), Bậc được tôn quý ở đời (Thế Tôn), Bậc dũng mãnh kiên cường đoạn trừ tất cả phiền não thế gian, Bậc hướng dẫn thế gian (Thế nhãn giả), Bậc anh tú thế gian, Bậc được tôn quý nhất thuộc năm từng trời, Bậc Đại giác được tôn quý ở thế gian (Đại giác Thế Tôn), Giác vương, Pháp vương, Bậc thầy dẫn đường vĩ đại (Đại đạo sư), Đại Thánh nhơn, Đại Sa-môn, Đại tiên, Đại y vương, Phật thiên, Phật nhựt, Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên (Lưỡng túc hay nhị túc ở đây, có hai cách để giải thích: 1/ Ngài được hiểu như là  đấng tôn quý bậc nhất trong sinh loại có hai chân. 2/ Đầy đủ Hạnh và Nguyện, hay đầy đủ Phước và Trí), Bậc tối thắng trong chư thiên (Thiên trung thiên), là Ngưu vương trong cõi người (Nhơn trung ngưu vương), Bậc anh hùng trong cõi người (nhơn trung chi hùng giả),… Đó là những danh hiệu khác nhau được xưng tụng tán thán dành cho Phật.

 

- Và cũng căn cứ vào tánh đức thù thắng sở hữu của Phật được thể hiện ra bên ngoài qua ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, thì Ngài còn có đầy đủ mười lực, Bốn vô sở úy cùng mười tám pháp bất cộng năng lực thù thắng khác. Lại, Phật còn có Bảy hạng công đức thù thắng vượt hơn cả người thường tình thế gian được gọi là Thất thắng sự, còn gọi là Thất  chủng tối thắng, hay Thất chủng vô thượng (Tức chỉ cho thân thù thắng, trụ như pháp thù thắng, trí tuệ thù thắng, đầy đủ thù thắng, hành xử thù thắng, không thể nghĩ bàn thù thắng, giải thoát thù thắng); và sự quân bình định-trí-bi của Phật là thù thắng, cho nên thường gọi là đại định, đại trí, đại bi.

 

- Ngoài vấn đề công đức và thù thắng đã thể hiện qua tự giác tự độ ra, Phật còn có khả năng giáo hóa chúng sanh, hướng dẫn dạy dỗ mọi người thóat khổ được vui cho nên Phật có danh xưng là Năng Nhơn; như khả năng tiếp dẫn chúng sanh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà cũng được gọi là An lạc Năng Nhơn. Vì vậy cho nên ở trong trường hợp này, đức Phật Thích-ca có nghĩa là Năng Nhơn.

 

A. Phật thân:

 

Căn cứ vào những công đức, những thù thắng được thể hiện ra bên ngoài thân Phật nhờ chánh báo mà Phật đã tự thực hành tu tập trong vô lượng kiếp và khả năng giáo hóa của Phật nên các bộ phái Phật giáo sau này có những chủ trương khác nhau theo nhận thức của họ về thân Phật.

 

I. Quan điểm của Tiểu thừa: Như Đại chúng bộ thì cho rằng, thân Phật chỉ cho nhục thân (sinh thân) của Phật là thân vô lậu, nên oai lực, tuổi thọ là vô hạn. Trong khi đó, Hữu bộ thì cho rằng Phật thân tức sinh thân của Phật chỉ là kết quả của nghiệp phiền não (thiện) nên thuộc về hữu lậu. Hữu bộ chỉ thừa nhận Phật đã thành tựu mười lực, bốn vô sở úy cùng những thứ công đức khác và tất cả những giáo pháp của đức Phật dạy ra mới thuộc vô lậu, chúng được gọi là Pháp thân (dharma-kāya). Pháp thân này không thể dùng con mắt thịt bình thường của chúng ta mà nhận ra cái lý của Phật được. Như vậy, pháp thân cùng với sinh thân hợp lại gọi là nhị thân. Và cũng theo Hữu bộ thì giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến là năm phần pháp thân và những công đức trên cũng thuộc về phần pháp thân.

 

II. Quan điểm của Đại thừa: Theo các nhà Đại thừa thì tùy thuộc vào sự biến hóa uyển chuyển của nội dung tư tưởng pháp thân mà khai triển và cũng theo nghĩa này mà pháp thân được chỉ cho pháp tánh Chân như. Theo Kim Cang Bát Nhã luận, quyển thượng của Vô Trước thì: “Kinh điển là pháp thân trên ngôn thuyết, khi y cứ vào đó để tu hành chứng đắc lúc này pháp thân mới hiển hiện gọi là chứng đắc pháp thân.” Vì vậy cho nên, các nhà Đại thừa sau này mới gọi Lý thể Chân như là Pháp thân; còn Sinh thân chỉ là Ứng thân (nirmā-kāya) và, còn có Báo thân (sabhoga-kāya). Thập địa kinh luận 3 và Nhiếp Đại thừa luận hạ, thì chủ trương Phật có ba thân (Pháp-Báo-Ứng). Một số kinh luận lại ghi có bốn than, nhưng ở đây chúng tôi chỉ trình bày về ba thân:

 

1/ Pháp thân, còn gọi là Pháp Phật, Pháp thân Phật, Pháp tánh thân, Tự tánh thân, Đệ nhất thân, Chân thân… Phật giáo Đại thừa chỉ chấp nhận quan niệm về Pháp thân của các nhà Hữu bộ và cộng thêm quan điểm về Pháp tánh chân như của Lý thể bình đẳng phổ biến chân thật thường trụ của các pháp mà lấy làm Pháp thân, hay có chỗ lập Như lai tạng làm Pháp thân.

2/ Báo thân, còn gọi là Báo thân Phật, Thọ dụng thân, Thọ pháp lạc Phật, Thọ lạc báo Phật, Thực thân… chỉ cho lúc hành giả ngộ được chân lý mà có thân phổ biến cụ thể của công đức. Thân này chẳng phải là thân chân lý vĩnh viễn, cũng chẳng phải là thân nhân cách vô thường, mà ở nơi nhân vị Bồ-tát thời lập nguyện cùng tu hành, kết quả đó sẽ hiển hiện hưởng lạc của Phật, tức chỉ cho báo thân. Như báo thân của Phật A-di-đà lấy đại từ, đại định, đại bi làm Thể; lấy sắc tướng cụ túc vô lượng công đức cùng tướng lạc tịnh độ của Phật làm nhân mà thành lập báo than, Bồ-tát ở cõi Tịnh độ hưởng pháp lạc cũng lấy báo thân làm nhân cho mình.

 3/ Ứng thân, còn gọi là Ứng thân Phật, Ứng thân Như Lai, Ứng hóa thân, Ứng hóa pháp thân… tức là hiện thân Phật mà cứu độ chúng sanh, ứng vào căn cơ của chúng sanh mà ứng hiện thân nhân cách để tùy thuộc vào căn cơ, hoàn cảnh quốc độ để giáo hóa. Như đức Phật Thích-ca Mâu-ni, ứng hiện ra thân thông thường của Ngài cao một trượng sáu xích để thích hợp với vóc dáng người Ấn Độ vào lúc bấy giờ mà hóa độ.

 

Sự liên hệ giữa ba thân này giống như bóng, ánh sáng, và thể của mặt trăng, gọi một mặt trăng mà có ba thân. Nói một cách cụ thể thì thể lý của pháp thân là một, thường trụ không biến đổi, nên chúng ta dùng thể mặt trăng để ví dụ. Trí tuệ của báo thân do lý thể của pháp thân sinh ra, nó có khả năng chiếu sáng khắp tất cả, nên dùng ánh sáng của mặt trăng mà dụ; còn ứng thân đủ sức tác dụng biến hóa, theo từng cơ duyên mà hiện. Vì vậy cho nên, chúng ta lấy ánh sáng của mặt trăng hiện lên trên mặt nước và mọi nơi mà làm thí dụ cho chúng ta dễ hiểu.

 

B. Cõi Phật (Phật độ)

 

Căn cứ vào những công đức, những thù thắng được thể hiện ra bên ngoài cõi Phật là nhờ vào y báo mà Phật đã tự thực hành tu tập trong vô lượng kiếp và hạnh nguyện của các Ngài. Sự thị hiện của Ngài vào các quốc độ, vừa phù hợp với chánh báo, vừa phù hợp với y báo, vừa tự độ, độ tha hay tự giác giác tha trong sự nghiệp giáo hóa. Các bộ phái Phật giáo sau này dựa  theo đó nên đã có những chủ trương khác nhau theo nhận thức của họ về cõi Phật.

I. Quan điểm Tiểu thừa: Theo Thuyết nhứt thiết hữu bộ thì Phật độ chỉ cho Thế giới Ta-bà, là nơi Phật Thích-ca đã Đản sinh, sau đó Phật thân biến lý thể Chân như thành Pháp thân. Tính lịch sử của Phật là ứng, hóa thân. Nhờ quán sát ứng, hóa thân mà có cõi Chơn Phật, cõi ứng Phật, còn gọi là cõi Phương tiện hóa thân, và cũng do thuyết báo thân mà sinh ra tư tưởng cõi báo (báo độ). Vì những sự giải thích của Phật thân khác nhau nên cõi Phật cũng theo đó mà có hai, ba hay năm thuyết khác nhau.

 

II. Quan điểm Đại thừa:

 

1/ Theo Tam luận tông thì, như Đại thừa huyền luận 5, ngài Cát Tạng cho rằng, có năm cõi (độ): Bất tịnh; Bất tịnh, tịnh; Tịnh, bất tịnh; Tạp và Tịnh. Năm cõi này chúng liên hệ và y cứ vào nghiệp của chúng sanh mà cảm thọ nên gọi là chúng sanh độ. Ở nơi này có cả phàm phu lẫn các bậc Thánh cùng cư ngụ, nên gọi là Phàm thánh đồng cư độ, cũng là nơi các hàng đã chứng ngộ Tiểu thừa, Đại thừa (A-la-hán, Độc giác, Đại lực Bồ-tát) cùng nhau ở.

 

2/ Theo Thiên Thai tông thì có bốn cõi: Phàm Thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thật báo vô chướng ngại độ, Thường tịch quang độ.

 

- Phàm Thánh đồng cư độ, chỉ cho quốc độ vừa ô nhiễm vừa thanh tịnh, nơi phàm phu người trời cùng các bậc thánh Thinh văn, Duyên giác đồng ở chung. Cõi nhiễm tịnh này, tuỳ thuộc vào y báo và chánh báo nhiễm tịnh của mỗi chúng sanh mà được phân bố trong sáu đường. Những chúng sanh ác thì sinh vào bốn đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và a-tu-la; còn những chúng sanh thiện thì sinh vào hai đường trời và người. Cũng trong cõi này, nơi cư ngụ của các vị thật Thánh là bốn quả Thinh văn, Bích Chi Phật, Lục địa của Thông giáo, Thập trụ của Biệt giáo; còn nơi cư ngụ của các vị quyền Thánh là cõi Phương tiện hữu dư của các hàng Tam thừa. Và Pháp thân các vị Bồ-tát ở các cõi Thật báo vô chướng ngại và Thường tịch quang, cùng Diệu giác Như Lai thì ứng vào duyên cần cứu giúp của chúng sanh mà quyền biến thị hiện vào cõi đó mà hóa độ. Ngoài cõi Phàm Thánh đồng cư này ra lại có hai loại thế giới thanh tịnh và nhiễm ô đó là thế giới đồng cư uế độ cõi Ta-bà và thế giới đồng cư tịnh độ của Tây phương Cực lạc.

 

- Phương tiện hữu dư độ, chỉ cho A-la-hán, Bích-chi Phật là những quốc độ mà trước kia Bồ-tát cư ngụ. Những vị này liên hệ với phương tiện tu đạo của Không quán (quán về tính Không của các pháp) và Giả quán (quán về sự giả hợp của các pháp) mà đoạn trừ kiến hoặc cùng tư hoặc ra khỏi phân đoạn sinh tử, nên gọi đó là phương tiện; chỉ còn vô minh hoặc căn bổn, nó che giấu làm chướng ngại thật tướng Trung đạo chưa trừ được, nên gọi là hữu dư.

 

- Thật báo vô chướng ngại độ, là nơi Bồ-tát sinh ra khi đã đoạn trừ một phần vô minh nhờ tu pháp chân thật là Trung quán. Nơi này là nơi thù báo chân thật của Đạo một cách vô ngại tự tại, nên được gọi là Thật báo vô chướng ngại độ. Cũng là nơi cư ngụ của thuần Bồ-tát, không còn có phàm phu hay nhị thừa nữa và chính quốc độ này là nơi cư ngụ của các hàng Bồ-tát từ sơ địa của Biệt giáo và sơ trụ của Viên giáo trở lên.

 

- Thường tịch quang độ, còn gọi là Lý tánh độ, là nơi y cứ của Phật sau khi đoạn trừ tận gốc rễ vô minh hoặc căn bản, tức là chỉ cho quả vị Diệu giác tột cùng, là Phật độ nơi pháp thân thường trụ, giải  thoát tịch diệt, trí tuệ quang minh.

 

3/ Theo Hoa Nghiêm tong, y cứ vào lập trường Nhất thừa Biệt giáo đối với sự sai biệt đối đãi của các pháp thì, ứng vào cơ duyên hiểu biết của nhân loại mà nói về thế giới, đó là thế giới hải, đứng về mặt nhân hiện tượng thế giới này có thể nói được; nhưng đứng về mặt quả Phật chỉ có người giác ngộ về thế giới chân như mới có thể biết, đó là quốc độ giới; còn đối với chúng sinh phàm trần thì không thể nào nói được. Quốc độ giới này là chỉ cho toàn thể vũ trụ mang tên là thế giới hoa tạng cho đến mười thân (Chúng sanh thân, Quốc độ thân, Nghiệp báo thân, Thinh văn thân, Độc giác thân, Bồ-tát thân, Như Lai thân, Trí thân, Pháp thân, Hư không thân tác tự thân) đầy đủ những lời giáo hóa của đức Tỳ-lô-giá-na Như Lai về quốc độ.

 

4/ Theo Pháp tướng tông thì, họ chủ trương thành lập ba độ: Pháp tánh độ, Thọ dụng độ, Biến hóa độ. Trong Thọ dụng độ chia ra là hai là tự thọ dụng và tha thọ dụng nên cũng gọi là bốn độ.

 

- Pháp tánh độ, lấy lý chân như của pháp giới gọi là độ, cùng với thân không khác.

- Tự thọ dụng độ, là trên đệ bát thức của vô lậu quả vị Phật hiển hiện ra cõi Phật thuần tịnh vô lậu, trừ Phật ra không có bất cứ pháp nào đo lường để biết được.

- Tha thọ dụng độ, là cõi nhờ giáo hóa thập địa Bồ-tát mà biến hiện ra.

- Biến hóa độ, là cõi nhờ Bồ-tát bát địa trở lên giáo hóa các hàng nhị thừa và phàm phu biến hiện ra.

 

5/ Theo Chân ngôn tông thì, hành giả dùng chân ngôn quán tâm mà cảnh địa hiện bày. Phương pháp này phân ra làm ba giai đoạn để thành tựu diệu quả (tam phẩm tất địa): Thượng phẩm hành giả an trụ tâm vào nước Phật Mật Nghiêm, Trung phẩm hành giả an trụ tâm vào Tịnh độ mười phương, Hạ phẩm hành giả an trụ tâm vào cung chư Thiên và Tu-la, nương vào thứ tự pháp tánh thân, báo thân, ứng thân mà phân bố tâm ra khắp châu thân mà an trụ thì liền được ba phẩm tất địa, nơi cảm ứng của mọi người, còn thể của chúng thì không thể đạt được. Nếu nương vào nơi thân do cha mẹ sinh ra mà an lập tức sẽ chứng đắc địa vị Đại giác thì những gì người phàm thấy về đương thể của uế độ sẽ biến thành Phật quốc Mật Nghiêm.

 

6/ Theo Tịnh độ tông, vì đức Phật A-di-đà có ba thân pháp, báo, ứng nên có ba độ, Pháp thân độ, Báo thân độ, Ứng thân độ và lấy báo độ nơi cư ngụ báo thân của đức Phật A-di-đà làm Tịnh độ cực lạc. Tịnh độ Chân tông Nhật Bản gọi đây là Báo độ chân thật, và thành lập phương tiện hóa độ dẫn đạo giáo hóa chúng sinh.

 

Tóm lại trên là hai quan niệm về Phật thân và Phật độ của hai bộ phái Phật giáo phát triển hiện đang hiện hữu là Tiểu thừa và Đại thừa. Ở trên có những điểm đồng và không đồng khác nhau trên quan niệm căn cơ có được của hai phái Tiểu và Đại thừa Phật giáo. Đó chính là những biểu hiện của trình độ nhận thức kéo đến những bất đồng do trình độ căn cơ tu chứng và phương pháp tu hành mà đưa đến những điều không nên đáng có. Vì trên nền tảng căn bản Giáo pháp của đức Phật với mục đích giải thoát khổ (vô minh phiền não hoặc) để đạt giải thoát và an vui trong hiện tại cũng như trong tương lai qua nhận thức và thực hành duyên khởi pháp về quán pháp lưu chuyển và hoàn diệt, nên căn cứ vào pháp đặc trưng Duyên khởi này theo thời gian và không gian trên chiều tương đối và tuyệt đối thì đối với Phật thân và Phật độ không phải là vấn đề mâu thuẫn hay chống trái mà chỉ bị giới hạn trong vấn đề căn cơ nhận thức và hiểu biết để thực hành mà thôi. Về mặt thời gian và không gian, các nhà Tiểu thừa chỉ chấp nhận có một vị Phật trong hiện tại mà thôi, đó chính là đức Phật Thích-ca Mâu-ni lịch sử, ngoài ra không có hai và nhiều hơn nữa. Trong khi đó, theo các nhà Đại thừa thì cho rằng ngoài đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra còn có hằng hà sa số  đức Phật trong mười phương của ba nghìn đại thiên thế giới khác đang tồn tại và đang thuyết pháp, không những chỉ trong hiện tại mà trong quá khứ (Thất Phật) và trong tương lai (Di-lặc Phật) cũng có. Vì những nhận định trên, cho nên theo các nhà Tiểu thừa thì chấp nhận chỉ có một Phật nói pháp mà thôi, còn các nhà Đại thừa thì cho là vô số đức Phật đang thuyết pháp. Tuy nhiên, trong các nhà Tiểu thừa vẫn có bộ phái Đại chúng chấp nhận có ba nghìn đại thiên thế giới khác, đồng thời cũng có chư Phật tồn tại nên họ chủ trương “Một cõi có một Phật, nhiều cõi có nhiều Phật”. Ngoài ra còn có ba đời các đức Phật chỉ cho quá khứ trang nghiêm kiếp chi thiên Phật, hiện tại hiền kiếp chi thiên Phật cùng vị lai tinh tú kiếp chi thiên Phật. Cộng ba kiếp lại chúng ta có ba nghìn đức Phật. Những nhận thức của các nhà Đại thừa về Phật thân và Phật độ được căn cứ trên giáo lý Duyên khởi của đức Đạo sư đã dạy và căn cứ vào nghiệp cảm Duyên khởi đến A-lại-da Duyên khởi; từ A-lại-da Duyên khởi cho đến Chân như hay Như Lai tạng Duyên khởi và từ Như Lai tạng Duyên khởi đến Pháp giới Duyên khởi để chúng ta thấy rằng: một cõi Phật hiện hữu được phải nhờ hai, ba, bốn cho đến muôn nghìn cõi Phật hiện hữu; nếu một cõi Phật không hiện hữu thì vô lượng cõi Phật khác cũng không hiện hữu. Cũng thế, một Phật thân hiện hữu thì vô lượng Phật thân cũng hiện hữu. Đó là lối nhìn Duyên khởi để chúng ta biết pháp Duyên khởi là một pháp đặc trưng có một không hai của Phật giáo, nó quyết định sự hình thành và biến dịch của nhân sinh và vũ trụ theo luật vô thường tác động duyên khởi trùng trùng qua ba nghìn đại thiên thế giới hiển bày trong một sát-na hiện hữu  biến dịch.  

 

 

 

Đêm Thành Đạo

Lam Yên

 

 

Cao cả thay lời nguyện lành và cương quyết của vị Sa-môn trẻ! Sau khi phát đại nguyện, Ngài ngồi kiết già dưới cội Bồ-đề nhập thiền, quán tưởng… rừng Bồ-đề dường như yên tịnh hơn, thanh vắng hơn sau khi tất cả các vị đạo sĩ đã cùng nhau bỏ sang khu rừng khác để tiếp tục phương pháp tu khổ hạnh ép xác của mình, chỉ còn lại vị Sa-môn trẻ với rừng già sâu thẳm, với tiếng gió lộng muôn đời giữa ngàn cây, với muôn thú gầm gào trong buổi chiều hoàng hôn về muộn… Trăng lên, ánh vàng tỏa sáng khắp khu rừng Bồ-đề đại thọ, dường như đêm nay ánh trăng rực rỡ hơn mọi hôm, càng về khuya ánh trăng càng lung linh huyền ảo, cảnh vật thật tĩnh mịch lạ thường giống như sắp có một điều kỳ diệu sẽ xảy ra. Bóng vị Sa-môn trẻ nổi bật dưới gốc Bồ-đề lớn nhất trong khu rừng, Ngài ngồi bất động, xếp hai chân đan chéo vào nhau trong tư thế kiết già nhập thiền, bắt đầu quán tưởng.

 

Dáng vẻ thanh thản của vị Sa-môn làm cho muôn thú an tâm, chúng mon men đến gần rồi lại lảng đi, hết con này đến con khác chừng như chúng cũng muốn dự phần vào hành trình tu chứng của vị Sa-môn trẻ ấy. Đêm càng về khuya, bóng Người càng lồng lộng dưới ánh trăng ngà, chìm lặng tuyệt đối vào dòng suy tưởng. Ma vương (Namuci)  đến gần quan sát, sau lưng hắn là một đạo âm binh với đủ dáng vẻ thật khủng khiếp. Quỷ tham dục với vẻ mặt nham nhở đầy khát vọng với thân hình nung núc những thịt; những loài quỷ với đôi mắt lộ long sòng sọc dưới ánh trăng, dường như chúng không hài lòng khi thấy vị Sa-môn còn quá trẻ. Ngạ quỷ đói khát với thân hình thật kinh dị: bụng to như cái trống, cổ họng bé như ống kim; chúng há hốc mồn nhe nanh như muốn ăn tươi nuốt sống vị Sa-môn. Quỷ hôn trầm dã dượi uể oải, lười biếng kéo lê tấm thân khập khiễng dưới sự điều động hò hét của ma vương; quỷ sợ hãi lấm lét nhìn vị Sa-môn với cặp mắt khiếp sợ chỉ chực bỏ chạy, nhưng hắn càng sợ ma vương hơn nên đành phải hỗ trợ bằng cách khua tay múa chân loạn xạ để khủng bố tinh thần của Ngài. Quỷ hoài nghi khinh khỉnh buông lời thoái mạ, tiếng của hắn the thé làm cho muôn thú khiếp đảm thi nhau lẩn trốn vào hang. Quỷ phỉ báng và cố chấp kêu gào chửi bới phụ họa, một thứ âm thanh ghê rợn hỗn độn giữa rừng già càng làm cho những ai tinh thần chưa kiên định sẽ quỵ ngã ngay… Tất cả bọn quỷ đó không làm sao khủng bố được tinh thần vô úy của vị Sa-môn. Ngài vẫn ngồi đấy một cách bất động, với dáng vẻ uy nghi thanh thoát, lặng lẽ tuyệt đối trong sự quán tưởng, suy tư về chân lý vô thường, vô ngã của các pháp, suy tư về kiếp sống giả tạm của nhân sinh… Không làm sao được, ma vương bèn đổi chiến thuật: hắn tự biến mình thành các bậc vương giả trong thân tộc và một vị Sa-môn cung kính mang lễ vật đến cúng dường và hết lời khen ngợi ca tụng tâm kiên trì của Ngài, cung thỉnh Ngài hãy trở về vương vị để thống lĩnh thiên hạ, vì chỉ có Ngài mới xứng đáng là bậc đế vương tuyệt đỉnh mà họ quy phục. Mọi lời tâng bốc của chúng vẫn không hề lọt vào tai vị Sa-môn trẻ. Không thể lay chuyển tâm kiên định của Ngài được, ma vương lại biến thành những nàng Ma nữ đẹp tuyệt trần, lả lơi trong những bộ xiêm y mỏng manh khiêu gợi, uốn éo những vũ điệu hết sức gợi tình; chúng cất giọng hát giữa đêm trường thanh vắng nghe như dễ dàng hớp lấy hồn người; chúng phá tan sự tĩnh mịch của rừng già. Muôn thú hãi sợ nép mình dưới cây rừng, bụi cỏ hay chui vào hang động ẩn thân… gió rừng cũng trốn biệt không rì rào thoang thoảng dưới sự trấn áp của ma vương.

 

Sa-môn trẻ vẫn ngồi yên, bất động không hề bị chi phối bởi thế lực và sự đe dọa của ma vương. Gương mặt Ngài bình thản, đôi mắt khép hờ trong tư thế nhập thiền, tuyệt đối tĩnh lặng giữa muôn ngàn âm thanh hỗn độn gào thét điên cuồng giận dữ của ma vương bởi chúng không làm sao lay động tâm hồn và ý chí của Ngài. Ma vương đến bên vị Sa-môn trẻ buông lời xúc phạm: “Hỡi này đạo sĩ! Nhà ngươi gầy còm, thân hình ốm yếu thế kia thì làm thế nào thắng ta cho được. Hãy trở về đi, nếu không, cái chết sẽ đón lấy hồn ngươi. Hỡi này đạo sĩ! Cuộc đời không tốt đẹp hơn sự hành đạo điên khùng của nhà ngươi hay sao? Vợ đẹp, cung tần, con thơ yêu quý, giàu sang danh vọng, tôi tớ dư thừa không xứng đáng với ngươi hay sao? Sự u mê của ngươi liệu có xứng đáng với sự hy sinh gian khổ và nỗ lực kiên trì của nhà ngươi hay không? Rồi đây ngươi sẽ thấy, Ta thề sẽ cản trở ngươi tới cùng. Ai khiêu chiến với ta chỉ chuốt lấy thảm họa mà thôi… ha… ha… ha…”. Cùng với đạo binh ma rầm rộ khủng khiếp, chúng vờn quanh vị Sa-môn trẻ như muốn hủy hoại Ngài ngay tức khắc.

 

Dùng bao chiêu thuật để dụ dỗ ngăn chặn con đường của Ngài nhưng bất thành. Ma vương nhìn quanh như để tìm thêm sáng kiến trong việc quấy phá quyết tâm kiên cố của Ngài, bỗng mắt hắn sáng lên. Với ý tưởng si mê điên rồ, hắn bỗng nảy ra sáng kiến mới. Hắn rùng mình hiện ra Tịnh Phạn vương, thân phụ của thái tử Sĩ-đạt-ta, vị phụ vương vô vàn kính yêu, tay chống gậy lần bước đến trước vị Sa-môn trẻ, giọng rung rung như tha thiết van xin nài nỉ: “Thái tử, đứa con yêu duy nhất của ta. Tại sao con cứ phải ẩn mình trong chốn rừng già, quạnh hiu vắng vẻ này? Tại sao con cứ tự hành xác mình như thế? Hãy trở về với ngai vàng đang chờ đón con từng giờ từng phút. Chăm lo cho muôn dân ấm no hạnh phúc không thiết thực hơn là tìm kiếm hư ảnh của giải thoát giữa rừng thiêng nước độc hay sao? Con hãy nghĩ lại đi, phụ hoàng đã luống tuổi rồi, chỉ mong con trở lại để ta được nghỉ ngơi an dưỡng tuổi già bên người thân yêu mà không còn hiu quạnh… Thái tử, con hãy nghe lời phụ vương… về đi con.” Giọng nói của Tịnh Phạn vương run rẩy, yếu ớt và nghẹn đi vì dòng lệ đã ứa tràn trên đôi má nhăn nheo…

 

Sa-môn trẻ vẫn ngồi bất động, kiên cố không hề lay chuyển. Tâm Ngài mỗi lúc kiên định thêm, không hề vướng mắc bất cứ một vọng niệm nào. Bóng dáng của Tịnh Phạn vương mờ dần theo giọng giận dữ của ma vương. Hắn xoay một vòng, công chúa Da-du-đà-la tiều tụy hiện ra. Tay bồng con thơ, mái tóc xõa dài không màng chải chuốc, đôi mắt ràn rụa lệ thảm. Nàng đến bên vị Sa-môn trẻ, quỳ xuống trước mặt Ngài  run run: “Chàng ơi! Thiếp cầu xin chàng hãy thương lấy con thơ của chúng ta còn măng sữa. Rồi đây không ai dạy dỗ giáo dưỡng, xin chàng hãy trở về với thiếp, với phụ vương đã già yếu không người phụng dưỡng. Hãy nghe lời thiếp, hỡi Thái tử! Chàng nỡ nào bỏ mặc mẹ con thiếp trong nỗi nhớ thương tuyệt vọng khôn cùng…”

 

Sa-môn trẻ như không nghe thấy gì, tâm Ngài đã định; không có gì lay chuyển được, huống chi đó chỉ là huyễn ảnh của ma vương hiện ra hòng lung lạc ý chí kim cương của Ngài.

 

Trầm mặc với tư thế ban đầu, Ngài ngồi bất động hằng giờ quán tưởng… Đầu canh một, Ngài chứng được Túc mạng minh: đạt được trí tuệ sáng tỏ thấu suốt tất cả tiền kiếp của mình và chúng sanh. Biết được vì sao nhân loại cứ triền miên bao kiếp trong vòng sanh tử, những đớn đau chồng chất tự ngàn xưa, những nguyên nhân đã tạo nghiệp và những nghiệp báo còn lưu lại chưa trả hết trong kiếp này… Vào khoảng canh hai, Ngài chứng được Thiên nhãn minh: thấy nghe tất cả mọi việc của mình và của chúng sanh, thấy rõ ba cõi sáu đường, những cảnh giới an vui hay đau khổ, chúng sanh xinh đẹp hay xấu xí… rõ ràng như nhìn vào gương. Đến canh ba, lúc sao mai mọc, Ngài chứng được Lậu tận minh: thấy được nguyên nhân, hậu quả khổ đế của chúng sanh bắt nguồn từ vô minh và ái dục mà ra, mười hai duyên sanh ràng rịt vây chặt chúng sanh khó thoát khỏi kiếp trầm luân. Và Ngài hoàn toàn giác ngộ, đồng thời tìm ra con đường diệt tận gốc khổ cho chúng sanh, đó là Đạo đế, là con đường thoát khổ duy nhất cho chúng sanh nếu biết nương theo để tìm đến cảnh Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, Như như bất động của chư Phật quá khứ, vị lai…

 

Vị Sa-môn trẻ vừa xả thiền thì cũng là lúc vầng thái dương bắt đầu ló dạng. Đêm ấy, nhằm hôm mùng tám tháng mười hai, sau khi hàng phục tất cả ma quân, đứng đầu là ma Ba Tuần, một thứ giặc luôn cản trở cho tiến trình đi tìm chân hạnh phúc, hào quang trên đỉnh đầu của Ngài tỏa sáng khắp 3 ngàn đại thiên thế giới. Nhạc trời chúc tụng, mưa hoa cúng dường. Trái đất sáng bừng như thiên thể tinh tú bừng xuất hiện. Chim muông cất giọng véo von, vang lừng khắp nơi, hoa đàm bừng nở tỏa ngát hương thơm, tất cả như cùng hân hoan chào đón sự chứng đắc vô thượng của Đấng xuất thế. Ngài đứng lên, phóng tầm mắt ba ngàn đại thiên thế giới. Than ôi! Chúng sanh hãy còn vô minh sâu dày quá, thật là khó dẫn dắt họ đi theo con đường mà Ngài đã vừa tìm thấy để thoát khỏi ngục tù trần thế. Đôi mắt Ngài biểu lộ tình thương yêu vô hạn của đấng cha lành nhìn thấy đàn con si mê say sưa lặn hụp trong biển ái hà, trầm luân trong giả tưởng. Nhân loại và hữu tình hằng hà sa số nghiệp chướng sâu dày, tất cả đều bị vô minh che lấp, chế ngự đến bao giờ họ mới thoát khỏi căn nhà nghiệp quả kia. Tuy nghĩ thế nhưng Đấng đại giác vẫn khoan thai bước đi chầm chậm ra khỏi khu rừng Bồ-đề và bắt đầu cuộc chinh hóa với ý niệm từ ái khoan dung. Ngài đã thuyết pháp du hóa trên khắp lãnh thổ Ấn-độ. Với lòng bi mẫn vô biên, đức vị tha, Ngài đã chan hòa ánh sáng từ ái cho bao nhân sinh còn trong khổ ải.

 

Nay, nhân kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo PL.2549 (2005), chúng ta nhìn lại quãng đường đức Thế Tôn đi qua và sự nghiệp hoằng pháp độ sanh cao cả mà không có một vị giáo chủ nào trên thế gian này làm được.

 

Đêm thành đạo, trước mọi cám dỗ của ác ma mà Ngài vượt qua một cách nhẹ nhàng. Từ một Đông cung thái tử được mọi người yêu kính ngưỡng mộ, Ngài đã trở thành con người không chút quyền uy thế lực, thể hiện nếp sống của mình qua một bình bát và ba y. Với chí nguyện cao cả, Ngài cương quyết phải chiến thắng nội ma và ngoại ma dù có khó khăn chướng ngại cũng không làm Ngài thối chí với lời nguyện dưới cội Bồ-đề bên dòng sông Ni-liên-thuyền “Giả sử mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống, núi chúa tuyết có thể rời khỏi chỗ cũ… nếu Ta không chứng được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì Ta quyết không rời cội Bồ-đề này cho dù thịt nát xương tan”.

 

Nay và mãi mãi về sau, chúng ta lẽ nào quên lời nguyện cao cả ấy, là những người con tinh thần của đạo Phật, nếu biết suy nghĩ chắc hẳn không ai có thể thờ ơ trước bổn phận của mình. Chúng ta không ngồi cội Bồ-đề, không bị ác ma làm hại, không đầu trần chân đất, đi từ đầu làng đến cuối xóm để ngữa bình bát nhận sự bố thí như Ngài, vì thời đại ngày nay, phương tiện vật chất quá ư đủ đầy, nhưng con người thật sự thiếu điểm nương tựa tâm linh, đệ tử Phật nên làm gì trước sự sa sút về tâm linh như thế? Chúng ta nỗ lực nghiên cứu tu tập đừng để thời gian đi qua một cách oan uổng, phải dốc lòng chuyên sâu vào lĩnh vực của mình, thật sự thấu triệt những lời dạy của đấng Thế Tôn trong Tam tạng giáo điển là ta tạo điểm tựa tâm linh cho bao người muốn tìm đến nương tựa.

 

Ta noi gương Ngài là noi theo hạnh lành, không hề vì tiếng khen mà làm, không và hãnh diện mà làm, không vì lợi ích riêng tư mà làm, không vì lợi dưỡng mà làm, mà chỉ vì mục đích cho sự lợi lạc quần sanh. Ngài đã từng khuyên nhắc: “Này các Tỳ-kheo, phải ý thức toàn bộ cuộc đời là chuyển biến, có hợp có tan, đừng lo buồn, các thầy phải nỗ lực tinh tấn để sớm cầu tự độ, đem ánh sáng trí tuệ diệt trừ hắc ám vô minh. Vũ trụ quả thật mong manh không một thứ chi bền vững. Các Thầy đừng để thân tâm chìm ngập trong biển sanh già bệnh chết như thế; người có trí ai lại không hoan hỷ khi từ bỏ được thân ngũ uẩn này như từ bỏ kẻ thù”.

 

Dòng thời gian có thể trôi qua và mang đi tất cả nhưng không thể phai nhòa hình ảnh bậc Đạo sư khả kính với lời nguyện cao cả bên bờ Ni-liên-thiền trong đêm thành đạo là quyết tìm ra chân lý tối hậu hầu giúp nhân sinh, giúp họ thấy được giá trị chân thật nơi tự tâm, và thoát khỏi sự bủa vây của giáo điều đã ngự trị bao kiếp trong tâm khảm họ.

 

Đức Phật xuất hiện trên thế gian này không ngoài mục đích: “Một chúng sanh duy nhất, một con người phi  thường xuất hiện trong thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp,vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư thiên và nhân loại”. (kinh Tăng Nhất A-hàm).

 

Tóm lại mà nói, dù ở lĩnh vực nào thì chân lý mà đức Phật đã thân chứng là cuốn cẩm nang luôn kề cận bên mình, mỗi người học Phật dù sống nơi đâu, đừng quên mất những gì Ngài đã truyền trao chỉ dạy. Nhớ về đức Phật là nhớ đến hạnh nguyện và công hạnh của Ngài để chúng ta noi theo. Ơn Tam bảo, ơn Quốc gia, ơn đàn na, ơn thí chủ… cho đến thập trọng ân quyết phải trả cho bằng được thì hữu tình vô tình đều lợi lạc.

 

 

 

Thành Đạo - Sự kiện hy hữu trong lịch sử nhân loại

Thích Huệ Thành 

 

 

Ấn Độ vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch có những biến chuyển rất lớn về những vấn đề xã hội, văn hoá tư tưởng và tôn giáo. Vào thời điểm này, Ấn Độ chưa phải là một quốc gia rộng lớn độc lập mà bao gồm nhiều tiểu vương quốc khác nhau. Và các tiểu vương quốc ở những khu vực biên giới từ lâu được xem là man di nay đang vùng lên chiếm ưu thế và họ có những thế lực nhất định trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Bà-la-môn giáo từ lâu được xem là tôn giáo chính thống đang bị suy giảm uy tín cũng như quyền lực lãnh đạo tinh thần xã hội. Lòng người trở nên hoang mang và hầu như mất đi nơi quy hướng. Chính bối cảnh này đã tạo tiền đề cho việc bùng phát hàng chục giáo phái với các chủ thuyết khác nhau, đang cuồn cuộn nổi lên chống phá bức thành trì kiên cố của tư tưởng truyền thống. Kinh Sa Môn Quả đã cho biết thời này có đến 62 giáo phái cả thảy. Với sự bùng phát giáo phái như vậy, đã mở ra một thời kỳ rối ren phức tạp về tư tưởng. Nhiều bậc giáo chủ say sưa với căn bệnh hiếu biện, mãi mê lý luận trong việc tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ, và tuy vậy vẫn không thể tìm ra được một hướng đi chân chính để phát triển tinh thần xã hội. Cũng chính vào thời điểm này đức Phật ra đời.

 

Sự kiện ra đời của đức Phật được xem là một bước ngoặt lớn trong lịch sử nhân loại. Tuy thế, sự ra đời của Ngài chỉ thực sự được biết đến và có ý nghĩa quan trọng khi có sự kiện chứng ngộ Phật quả của Ngài. Nếu Bồ-tát Siddhattha không thành Phật dưới cội Bồ-đề thì những gì gắn liền với Ngài trước đó chắc hẳn đã rơi vào lãng quên. Và sự có mặt của Phật giáo cũng chỉ thực sự được bắt đầu sau sự kiện trọng đại này. Cũng chính vì vậy, truyền thống nguyên thủy đã ghi sự kiện đản sanh và thành đạo của Ngài cùng chung một ngày, đó là ngày trăng tròn tháng Vesakha. Giờ chúng ta hãy cùng quay về ôn lại sự kiện chứng ngộ lịch sử này.

 

Sau đêm vượt thành lịch sử, thái tử Siddhattha đã từ giã đời sống hệ lụy và bắt đầu dấn thân vào con đường tầm sư học đạo. Trước tiên, Ngài tìm đến đạo sư Ālāra Kālāma và học đạo với vị này, nhưng rồi Ngài đã bỏ đi khi nhận thấy rằng đạo quả Vô sở hữu xứ của giáo phái này không đem đến cho mình sự yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Sau đó Ngài lại tìm đến học đạo với đạo sư Uddaka Rāmaputta. Giáo lý của vị này hướng hành giả đến sở đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và thái tử Siddhattha đã đạt đến sở đắc đó, ngang bằng với vị đạo sư lãnh đạo. Nhưng dù đắc được thiền chứng Phi tưởng phi phi phi tưởng xứ và được mời ở lại lãnh đạo giáo phái, Ngài vẫn một mực từ chối vì mục đích của Ngài là mong muốn đạt đến giải thoát khổ đau thật sự chứ không phải tìm đến địa vị lãnh đạo hội chúng.

 

Sau đó, Ngài lại lên đường tìm đến Uruvelā; và tại đây, Ngài dừng chân hành trì khổ hạnh với những pháp môn khổ hạnh khốc liệt, như nhịn ăn, nằm giường gai, không tắm rửa... Trong kinh Đại Sư Tử Hống, Trung Bộ I, đức Phật đã mô tả rất nhiều phương pháp tu tập khổ hạnh mà Ngài đã kinh qua, và đây là kết quả của việc tu tập khổ hạnh: “Vì ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những ngọn cỏ hay như những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: ‘Ta sờ vào bụng’ chính da xương sống Ta bị nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: ‘Ta hãy sờ xương sống’ thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: ‘Ta đi đại tiện hay tiểu tiện’ thì Ta ngã quỵ úp xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.”

 

Nhưng với tất cả những phương pháp đưa đến sự kiệt quệ thân xác như vậy, Ngài vẫn không thể đạt đến chân lý cứu cánh tối thượng. Vì thế, Ngài đã phá bỏ đời sống khổ hạnh và bắt đầu một đời sống mới bằng bát cơm trộn sữa. Sau bát cơm này, cơ thể của Ngài trở nên dễ chịu và tinh thần sảng khoái. Rồi Ngài nhớ lại sự kiện lúc còn thơ ấu, khi Ngài cùng phụ vương ra đồng làm lễ hạ điền, ngồi một mình dưới cây hồng táo, Ngài đã thể nhập được trạng thái ly dục, ly bất thiện pháp, một trạng thái thiền định. Suy nghĩ với phương pháp này có thể đưa đến giác ngộ, Ngài đã bắt đầu ngồi tư duy thiền định dưới cội Bồ-đề, và sau 49 ngày đêm tham thiền, vào đêm cuối cùng, lúc sao mai vừa mọc, Ngài đạt được Tam minh và chứng đắc tuệ giác vô thượng.

 

Sự kiện giác ngộ của Ngài đã được kinh diễn tả tuần tự từ việc Ngài thể nhập vào Sơ thiền cho đến Tứ thiền và sau đó hướng tâm đến Tam minh. Trước tiên, Ngài hướng tâm đến Túc mạng minh: Thấy rõ vô lượng những kiếp sống trước đây của mình. Sau đó hướng tâm đến Thiên nhãn minh: Thấy biết tất cả những kiếp sống của chúng sanh với những hành nghiệp tạo tác của họ. Và sau cùng, Ngài hướng tâm đến Lậu tận minh: Đoạn trừ tất cả mọi phiền não, lậu hoặc. Đến đây, màn vô minh được vén lên, trí tuệ bừng sáng và Ngài chứng đắc được đạo quả giải thoát tối hậu.

Sự kiện chứng ngộ của Ngài được gọi là Thành đạo. Sau khi Thành đạo, đức Phật đã bắt đầu khởi hành thuyết pháp, từ đây Tăng đoàn được hình thành, và cũng là thời điểm khởi đầu cho việc ra đời của một tôn giáo mới - Phật giáo.

 

Sự kiện thành đạo của đức Phật đã mở ra một trào lưu tư tưởng mới. Với học thuyết Duyên khởi vô ngã, Ngài đã phá bỏ quan điểm hữu thần cố hữu của Bà-la-môn giáo và các giáo phái khác, cũng như phá bỏ quan niệm về một Tiểu ngã (Atman) thường hằng và một Phạm thiên (Brahman) toàn năng vĩnh cữu. Ngài không đưa ra một giáo thuyết hướng con người đến chỗ siêu hình, hay việc phục tùng tôn thờ một Thượng đế nào đó mà Ngài chú trọng vào đời sống nhân sinh, dựa trên việc khảo sát tâm lý để tìm phương pháp giúp nhân loại thoát khỏi nỗi đau khổ trầm luân đang đè nặng lên họ từ vô lượng kiếp. Học thuyết của Ngài là những gì mới mẽ, khác hẳn với quan niệm của các giáo phái đương thời và cả về sau này, như Ngài đã nói: “Khai mở ra những gì chưa được khai mở.” Ta hãy xem Radhakrishnan nhận định về học thuyết của đức Phật: “Nếu luân lý học lại lập cước trên đám cát biến chuyển của siêu hình hay thần học thì nó không có một sự tôn nghiêm vững chắc. Phật muốn xây dựng luận lý tôn nghiêm trên tảng đá của thực nghiệm tâm lý. Nguyên thủy Phật giáo tương tự như chủ nghĩa thực tiễn, cố chuyển dịch trung tâm điểm từ sự phụng sự Thượng đế sang phụng sự con người. Đức Phật không nhiệt thành về sự việc xây dựng một biểu đồ mới về vũ trụ mà chú trọng vào việc giảng dạy một ý nghĩa mới về bổn phận. Chính ưu điểm của Phật là mở đường cho một tôn giáo biệt lập với tín điều và giáo hội, nghi lễ và thánh hóa. Ngài chỉ nhấn mạnh vào sự hóa thành tâm hồn từ bên trong và vào một hệ thống tự tu đạo. Ngài chứng minh rằng sự cứu rỗi không ở tại sự thu nhận một mớ tín điều đáng nghi ngờ hay là những việc làm đen tối để làm nguôi lòng một Thượng đế biết giận dữ. Sự cứu rỗi cốt ở sự tu sửa tính cách và sùng tín điều lành. Luật pháp luân lý không phải là một phát minh may mắn của một tinh thần đặc biệt, hay tín điều của một thiên khải đáng ngờ, nó là một biểu thị tất nhiên của sự thật về sự vật. Theo Phật, mê muội về sự thật ấy là nguyên nhân của khổ đau.” (Indian philosophy, tr. 358).

 

Sự kiện Thành đạo của Ngài còn đưa ra một phương pháp tu tập chân chính, một lối sống thích hợp cho những ai muốn tìm đến một đời sống quân bình giữa thể xác và tinh thần. Phương pháp ấy thoát ra khỏi hai hình thái cực đoan là hưởng thọ dục lạc và hành trì ép xác, hai phương pháp mà hầu hết mọi giáo phái bấy giờ đang ứng dụng. Chính kinh nghiệm của Ngài khi còn sống đời vương giả và sáu năm hành trì khổ hạnh đã minh chứng sống động cho lời nói của Ngài. Ngài nhận thấy rằng thọ hưởng dục lạc đem lại cho con người tham đắm và sa đọa, còn hành trì khổ hạnh đem đến cho con người kiệt quệ thể chất cũng như tinh thần. Từ bỏ hai lối sống đó, Ngài chủ trương một lối sống mới, đó là lối sống Trung đạo. Và lối sống này đã trở thành một điểm giáo lý quan trọng của Ngài khi Ngài còn tại thế cũng như được triển khai sâu rộng theo nhiều khía cạnh về sau này.

 

Sự kiện Thành đạo của Ngài còn đem lại niềm tin cho con người về khả năng của mình. Đó là khả năng có thể đoạn trừ phiền não khổ đau để chứng ngộ Niết-bàn. Ta biết rằng sự kiện thành đạo của Ngài không phải là một sự mặc khải nào đó, mà là một quá trình nỗ lực đoạn trừ vô minh phiền não, vượt qua tất cả những tham dục để khai mở trí tuệ, một trí tuệ vượt ra khỏi những tri thức thường tình của thế gian. Như vậy, sự kiện Thành đạo của Ngài cho chúng ta thấy rằng thái độ rụt rè và bám víu tìm cầu sự cứu rỗi ở các đấng thần linh là điều không cần thiết. Vì rằng tất cả mọi người đều có khả năng giác ngộ như nhau, sự khác biệt về giai cấp, chủng tộc, màu da... chỉ là quan niệm do con người tạo ra, và như Ngài đã từng nói: “Không có giai cấp trong con người có máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn”.

 

Đã hơn hai mươi lăm thế kỷ trôi qua từ sau sự kiện Thành đạo của đức Thế Tôn, nhưng giáo thuyết được nói ra từ sở chứng của Ngài ngày nay vẫn hiện hữu và tỏa sáng khắp mọi phương trời, vẫn mãi là liều thuốc hữu ích trong việc đoạn trừ khổ đau và đem lại hòa bình cho nhân loại. Kỷ niệm sự kiện Thành đạo của Ngài, chúng ta vô cùng tri ân những giá trị cao cả mà Ngài đã đem đến cho nhân loại trong hơn 25 thế kỷ qua, và những giá trị đó sẽ là chất liệu làm thăng hoa đời sống thể chất và tinh thần cho những ai biết ứng dụng nó vào trong đời sống của mình.

 

 

 

Bát Chánh Đạo Với Tứ Hoằng Thệ Nguyện

Thích Thái Hoà

 

Bốn hoằng thệ nguyện là bốn sự thệ nguyện rộng lớn của một hành giả khi tu tập đã thành tựu giáo lý Bát chánh đạo. Nghĩa là hành giả tu tập để thành tựu ý nghĩa tự giác hoàn toàn, đã giải thoát mọi sự trói buộc của sanh tử, nhưng lại có tâm nguyện muốn tiến xa hơn trên con đường thành tựu tuệ giác vô thượng, đó là Phật quả, nên đã tiếp tục phát khởi Bốn sự thệ nguyện rộng lớn để hoàn thành sự nghiệp giác tha viên mãn.

 

Bốn hoằng thệ nguyện là:

 

1.- Chúng sanh không số  lượng, thề nguyện đều độ khắp;

2.- Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch;

3.- Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học;

4.- Phật đạo không gì hơn, thề nguyện đều viên thành.

 

Bốn hoằng thệ nguyện này được thiết lập và phát khởi là hoàn toàn dựa vào sự tu tập và thành đạt giáo lý Bát chánh đạo.

 

Thật vậy, nếu một hành giả không tu tập và không thành đạt giáo lý Bát chánh đạo, thì không thể nào phát khởi lên được bốn sự thệ nguyện rộng lớn này. Vì sao như vậy? Vì nếu một hành giả tu tập mà không có chánh kiến, thì vị ấy sẽ không có được  cách nhìn chân xác và đích thực về cuộc đời, vị ấy sẽ không có được sự suy tư hợp lý, sẽ không có lời nói, việc làm, nếp sống... phù hợp với đạo lý giải thoát và giác ngộ.

 

Nếu không có chánh kiến, thì hành giả sẽ không thấy được tất cả những khổ đau triền miên của chính mình và của vô số chúng sanh, do đó sẽ không phát khởi được tâm trí rộng lớn và nỗ lực thực hành để đưa mình và tất cả chúng sanh về với giải thoát, giác ngộ.

 

Nếu không có chánh kiến, hay nói một cách tổng quát là, không thực hành Bát chánh đạo, thì nhất định hành giả sẽ không có đức lực, định lực và tuệ lực như thực. Vậy thì, dựa vào cơ sở nào để hóa độ chúng sanh? Và những chúng sanh được hóa độ ấy, phải đưa họ về chỗ nào, nếu không phải là đưa họ trở về với đời sống đạo đức và trí tuệ như thực ấy.

 

Nếu không dựa vào Bát chánh đạo mà tu tập thì hành giả sẽ không có chánh kiến, nếu không có chánh kiến thì không thấy rõ Khổ đế, đã không thấy Khổ đế thì làm gì mà phát khởi tâm nguyện rộng:

 

“Chúng sanh không số  lượng, thề nguyện đều độ khắp”.

 

Nếu không có chánh kiến, thì trong cuộc sống hành giả sẽ không thấy rõ sự liên hệ giữa mình và người, sẽ không thấy rõ được rằng, niềm đau của kẻ khác cũng có khi tạo thành nỗi khổ đau của chính mình, và niềm hạnh phúc của kẻ khác, cũng có khi là niềm hạnh phúc của chính mình; hạnh phúc của chính mình cũng đang có mặt trong hạnh phúc của kẻ khác. Với cách thấy sự sống có tính tác động liên đới như vậy, đó là cách thấy của một hành giả có chánh kiến. Hay nói cách khác, và chính xác hơn, đó là cách thấy của những người thực hành Bát chánh đạo.

 

Từ những cách nhìn và thấy rõ như vậy, hành giả mới phát khởi tâm nguyện rộng lớn là: “Chúng sanh không số  lượng, thề nguyện đều độ khắp”.

 

Lại nữa, từ cách nhìn và cách thực hành của một hành giả ở nơi pháp Bát chánh đạo, vị ấy sẽ thấy chính bản thân của mình không có một tự ngã nào thực hữu, mà nó chỉ là một tập hợp của năm uẩn. Chúng liên hệ mật thiết và tác động qua lại hỗ tương với nhau trong một vòng nhân duyên, nhân quả sinh động vô tận. Vòng nhân duyên, nhân quả ấy có thể chuyển đổi từ một dạng này qua một dạng khác, từ một hình thái thô phù qua một dạng vi tế khác, từ một hình thái sinh hoạt cấp thấp qua một hình thái sinh hoạt cấp cao.

 

Nói gọn, bởi vì thấy rõ sự sống là duyên sinh vô ngã, không có tự tính, nên hành giả mới tu tập để chuyển đổi từ mê mờ thành giác ngộ, từ khổ đau thành an lạc cho chính mình và tất cả chúng sanh.

 

Bởi vậy, lời thệ nguyện thứ nhất phải được gắn liền với Bát chánh đạo, nếu không thì không thể nào phát khởi và thành tựu được lời thệ nguyện thứ nhất này.

 

Sự đau khổ của hành giả và sự đau khổ của tất cả chúng sanh là kết quả tất yếu của những tác nhân gần và xa trong chính tự thân và mỗi hoàn cảnh của nó. Do đó, một khi hành giả tu tập Bát chánh đạo, tức là đang nỗ lực đoạn trừ những tác nhân khổ đau, vì do hành giả đã thấy rõ những khổ đau của chính mình là bắt nguồn từ những tác nhân phiền não.

 

Bởi vậy, muốn hết khổ đau, thì hành giả phải nỗ lực đoạn trừ những tác nhân gây ra nó. Và muốn cho chúng sanh hết khổ đau, thì người phát khởi đại nguyện phải nỗ lực thường xuyên giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ thấy rõ mọi nguyên nhân phát sinh khổ đau để đoạn trừ. Nói theo thuật ngữ Phật giáo, hành giả phải chỉ rõ “Tập đế” là nguyên nhân phát sinh khổ đau cho họ.

 

Thật vậy, nếu không thực hành Bát chánh đạo, thì hành giả không thể nào thấy rõ những tập khởi hay nguyên nhân phát sinh khổ đau của chính mình và kẻ khác; và cũng không thể nào đoạn trừ được những nguyên nhân ấy.

 

Do đó, muốn đoạn trừ những nguyên nhân khổ đau cho chính mình và kẻ khác, thì hành giả không thể không thực hành giáo lý Bát chánh đạo. Vậy, lời thệ nguyện thứ hai là:

“Phiền não không cùng tận, thề nguyện đều dứt sạch”.

 

Thệ nguyện này phải được gắn liền với giáo lý Bát chánh đạo. Chỉ có thực hành Bát chánh đạo mới đoạn trừ được vô biên phiền não.

 

Sự gắn liền Bát chánh đạo với lời thệ nguyện thứ ba là:

 

“Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học”.

 

Thật vậy, một hành giả khi đã thực tập và thành tựu giáo lý Bát chánh đạo, vị ấy muốn đi xa hơn nữa trên con đường tuệ giác, nên cần phải học hỏi nhiều pháp môn để giáo hóa chúng sanh và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho họ.

 

Nhưng, một hành giả muốn đem lại những lợi ích thiết thực cho bất cứ một ai, thì trước hết hành giả phải thấy rõ căn cơ, hoàn cảnh, trình độ và mọi diễn biến tâm-sinh lý nơi chính kẻ ấy nữa. Sự nghiệp giáo hóa đem lại lợi ích cho một người, mà còn lắm công phu như vậy, huống hồ là giáo hóa cho mọi chủng loại chúng sanh!

 

Lại nữa, chính trong mỗi chủng loại của chúng sanh cũng có những hình thái đồng và dị biệt, huống gì là vạn loại chúng sanh thì biết bao tâm - sinh lý, hoàn cảnh, trình độ, nghiệp duyên khác nhau không thể kể xiết.

 

Thế thì, sự học hỏi có tính chấp thủ và giới hạn sẽ không thích ứng, không đủ năng lực để đáp ứng mọi nhu cầu học hỏi của tất cả chúng sanh. Do không đáp ứng được nhu cầu của họ, nên nhất định sẽ không giáo hóa được họ, và như vậy hiệu năng giáo hóa sẽ bị giới hạn, sứ mệnh giác tha để đưa mình và mọi người, cũng như tất cả chúng sanh đạt đến tuệ giác không thành. Sự nghiệp giáo hóa đã không thành, thì hạnh nguyện lợi tha không viên mãn. Tất cả những nhược điểm ấy, là do sự học hỏi có giới hạn của hành giả tạo nên.

 

Bởi vậy, hành giả muốn giáo hóa chúng sanh có hiệu quả, thì phải nỗ lực học hỏi vô số pháp môn, để rồi tùy theo căn cơ, trình độ, hoàn cảnh của mỗi chúng sanh mà dìu dắt họ, hướng dẫn họ đi vào biển cả giác ngộ. Đó là lý do tại sao một hành giả tu tập Phật pháp là phải học hỏi “vô lượng pháp môn”.

 

Lại nữa, chân lý là không có giới hạn, nên bất cứ ai muốn tìm hiểu chân lý, thì người ấy phải có một sở học không giới hạn. Và chân lý là không có giới hạn, nên những ai muốn ngộ nhập chân lý, thì người ấy cũng phải tu và thực tập đời sống không giới hạn, đúng như chân lý vậy.

Trong tất cả mọi sự học hỏi, thì sự học hỏi để thấy rõ chân lý là sự học hỏi vô hạn. Và trong tất cả mọi hoạt động thiết thực lợi ích, thì những hành động để đem lại sự hiểu biết đúng đắn là hành động lợi ích lớn nhất và thiết thực nhất.

 

Bởi vậy, một hành giả tu tập và đã thành đạt giáo lý Bát chánh đạo rồi, vị ấy muốn tiến xa hơn và sâu hơn trong sự tu tập bằng cách học hỏi vô số phương pháp để giáo hóa chúng sanh. Do đó, dù bất cứ một pháp môn nào, hoặc thấp, hoặc cao, hoặc cạn, hoặc sâu, hoặc thô, hoặc tế, đều không thể bỏ qua bởi tâm chí cầu học của một hành giả đã phát tâm: “Pháp môn không kể xiết, thề nguyện đều tu học”.

 

Tuy nhiên, một hành giả phát khởi tâm chí học hỏi “vô lượng pháp môn” như vậy, không phải là một sự tình cờ, hay một sự ngẫu nhiên, mà chính nó đã bắt nguồn từ sự học hỏi và thực hành Bát chánh đạo, nghĩa là không tu học và thấy rõ giáo nghĩa của Đạo đế, thì vị ấy sẽ không có cơ sở để phát khởi lên những tâm nguyện rộng lớn về sự học hỏi vô lượng pháp môn như vậy.

 

Vậy, sự phát khởi tâm nguyện rộng lớn của một hành giả, là học hỏi vô lượng pháp môn, phải được xây dựng trên nền tảng của giáo lý Bát chánh đạo, hay nói rộng rãi hơn, đó là Đạo đế. Và chính đặt trên nền tảng này, hành giả mới có thể thành tựu được thệ nguyện học hỏi rộng lớn của chính mình, dù sự học hỏi ấy phải hiến dâng toàn thể sinh mệnh, và chịu bao ngược đãi trước những hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn cho đến  muôn ngàn ức kiếp, nhưng tâm chí của vị ấy vẫn không hề bị thối chuyển và mệt mỏi.

 

Và sau cùng, sự gắn liền Bát chánh đạo với lời thệ nguyện thứ tư là:

 

“Phật đạo không gì hơn, thề nguyện đều viên thành”.

 

Nếu một hành giả tu tập mà không thành đạt chánh kiến, hay không thành tựu giáo lý Bát chánh đạo, thì không thể nào dẫn đến, hoặc đạt đến chánh trí và chánh giải thoát. Mỗi khi chánh trí và chánh giải thoát đã không thành đạt, thì không thể nào có sự ưa thích đối với niềm vui tịch tịnh và không thể nào nhận rõ Niết-bàn là một trạng thái an lạc tuyệt đối và là một sự hạnh phúc cao nhất trong tất cả mọi hạnh phúc của thế gian và xuất thế gian. Và, nếu không tu tập để có chánh kiến và có chánh kiến trong sự học tập thì không thể nào thấy rõ được Phật quả là quả vị cao nhất trong tất cả mọi quả vị tu tập, để khởi tâm chí mong cầu thành tựu quả vị ấy.

 

Thật vậy, trên bình diện giải thoát, đối với dục giới, sắc giới và vô sắc giới, thì giữa quả vị Phật và quả vị A-la-hán có thể thành đạt như nhau, nghĩa là cả hai quả vị này hoàn toàn không còn bị trói buộc ở trong sinh tử.

 

Nhưng, ở lãnh vực trí tuệ, soi chiếu để thấu triệt vạn pháp một cách như thật, thì sự khác biệt giữa hai quả vị này cách nhau một trời một vực. Trí tuệ của những vị chứng đạt A-la-hán, khi quán chiếu vạn pháp thì có những vấn đề quán triệt, nhưng vẫn có những vấn đề chưa quán triệt; những vấn đề quán triệt của các vị A-la-hán đó là: “Sự tái sinh của tôi đã hết, đời sống phạm hạnh đến đây đã thành tựu, điều đáng làm tôi đã làm, vĩnh viễn không còn sự tái sinh”.

 

 Tóm lại, đạt được quả vị A-la-hán, tức là đã quán triệt đối với “phân đoạn sinh tử”, nhưng chưa phải là Bậc đã quán triệt đối với “biến dịch sinh tử” và sự giác ngộ chân lý hoàn toàn.

Trái lại, Bậc giác ngộ chân lý hoàn toàn phải là Phật.

 

Một khi đã thành tựu Phật vị thì không những quán triệt một cách như thực đối với các pháp thế gian mà còn đối với các pháp xuất thế gian nữa, không những quán triệt đối với các pháp Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát mà còn quán triệt đối với tất cả các pháp có tính cách vi mật, thâm diệu của chư Phật và tất cả những cảnh giới mầu nhiệm của các Ngài nữa.

Bởi, đạo cao quý như vậy, nên lý tưởng hay mục đích cuối cùng của người tu tập là phải đạt đến mục tiêu ấy.

 

Nhưng, muốn đạt được mục đích và lý tưởng cao cả này thì hành giả phải thành tựu Diệt đế. Diệt đế, ngoài ý nghĩa dập tắt phiền não, còn có những ý nghĩa đoạn trừ khát ái, tiêu diệt hết thảy vô minh; Diệt đế là giải thoát, là trí tuệ, là Phật vị và cảnh giới của Phật vị.

 

Như vậy, một hành giả tu tập muốn thành tựu Diệt đế, nghĩa là muốn thành tựu đời sống giải thoát, an lạc của Niết-bàn và Phật vị, thì phải dựa vào đâu để tu tập, nếu không phải là dựa vào nền tảng đích thực là Bát chánh đạo. Vì sao như vậy? Vì không dựa vào Bát chánh đạo để tu tập, thì không thể nào thấy được tự tâm là Bồ-đề, tự tâm là trí tuệ, tự tâm là giác ngộ và hết thảy chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Do không thấy được như vậy, nên không thể phát khởi lời thệ: “Phật đạo không gì hơn, thề nguyện đều viên thành”.

 

Bởi vậy, lời thề nguyện này là phải dựa trên nền tảng của chánh kiến mà phát khởi, hay nói một cách chân xác hơn, lời thề nguyện ấy phát khởi là hoàn toàn dựa vào giáo lý Bát chánh đạo. Thật vậy, nếu một hành giả không tu tập và không thành tựu giáo lý Bát chánh đạo một cách minh thị, thì vị ấy không tài nào và không thể nào thành đạt những tâm nguyện rộng lớn như vậy.

Để tóm tắt bài này, chúng ta sẽ thấy rằng, giáo lý Bát chánh đạo làm nền tảng để cho Bốn sự thệ nguyện rộng lớn sinh khởi. Hay nói cách khác, Bốn hoằng thệ nguyện là hình ảnh phóng đại và khai triển của giáo lý Bát chánh đạo. Do đó, không tu tập và thực hành Bát chánh đạo, thì hành giả cũng không dễ gì mà thực hành Bốn hoằng thệ nguyện một cách viên mãn.

 

Bởi vậy, giáo lý Bát chánh đạo và Bốn hoằng thệ nguyện gắn liền với nhau và không hề tách biệt nhau. Chúng là hai mặt của một thực thể giác ngộ, đó là tự giác và giác tha; vì tự giác và giác tha là hai mặt tất yếu và viên mãn của giáo lý giải thoát, giác ngộ vậy! 

 

 

 

 

Đọc Yếu Chỉ Của Thiền Sư Viên Chiếu

Minh Đức

 

“Tham đồ hiển quyết” của thiền sư Viên Chiếu là một tác phẩm văn học thiền, hàm tàng nhiều ẩn ngữ khó giải mã nhất trong số thiền ngữ, thiền thoại của nước ta.

Ví dụ như khi học Tăng hỏi: “Hiên đêm một cửa vắng, thong thả gõ ai hay” (Dạ hiên nhất thâm hộ, thùy thức đẳng nhàn sao).

 

Sư đáp:

 

Kim cốc đìu hiu hoa cỏ rối

Mà nay hôm sớm thả trâu dê

(Kim cốc tiêu sơ hoa thảo loạn,

Như kim hôn hiểu nhậm ngưu dương).

 

Hoặc: “Qua sông phải dùng bè, đến bến chẳng cần thuyền, nếu không qua thì sao?”

(Độ hà tu dụng phiệt, đáo ngạn bất tu thuyền, bất độ thời như hà?)

 

Sư đáp:

 

Ao khô cá lên cạn

Sống cả vạn năm xuân.

(Hạc trì ngư tại lục, Hoạch hoạt vạn niên xuân).

 

Những câu đàm thoại như thế, dường như Thầy và trò họ đang ở trong một vòng tròn khép kín, một thế giới riêng mà người ngoài không thể hiểu, không thể dự bàn. Điều ấy đúng. Vì ngoài việc đối trị căn cơ còn tùy thuộc hoàn cảnh ngoại tại tương quan lúc ấy nữa. “Thực tại” không lập lại hai lần. “Thiên thu” cũng vậy. Đóa hoa nở rồi tàn đã đi vào vĩnh cửu. Dùng hình sương bóng khói của ý niệm để giải mã sự-sống-sinh-động-đang-là… quả là điều bất khả!

Phần “ẩn” ấy bao giờ cũng ẩn mật. Còn phần “hiển” thì sao?

 

Mai Viên Chiếu là một nhà sư đọc rộng, biết nhiều. Là học trò của Định Hương trưởng lão, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông. Đọc tiểu sử và “tham đồ hiển quyết” của ông, ta thấy nổi bật hai đặc trưng:

 

- Sư “rõ phép tam quán, sâu rõ ngôn ngữ tam muội”. “Tam quán” là ba pháp tu thiền định trong kinh Viên Giác. “Ngôn ngữ tam muội” là mượn cách nói của Đại Trí Độ luận. Thông tin ấy cho ta biết rằng: Viên Chiếu không còn tuân theo yếu chỉ “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” của Đạt-ma; ông đã tham cứu nhiều kinh luận trong thời gian tu học, và sau này, để giáo huấn môn đồ.

 

- Tư tưởng thiền của Viên Chiếu, qua phương pháp, lập ngôn, khẩu khí… có cái gì đó rất riêng, rất sáng tạo; không hề bắt chước, lập lại, nói theo các ngữ lục của chư tổ thiền tông Trung Quốc. Ông đã sử dụng một hình thức thi ca bác học; câu cú, đối luật nghiêm túc, nghệ thuật tu từ lão luyện; và nhất là nghệ thuật hình tượng đa dạng, phong phú, tạo ấn tượng mạnh mẽ, chắt lọc cảm xúc, va động vào chiều sâu tâm linh của thiền giả.

 

Chúng ta hãy tìm hiểu một vài điều.

Vào thời đầu triều Lý, Vạn Hạnh đã là nhà kiến trúc sư bậc thầy, xây dựng quy mô cho triều đại, đã lấy Phật giáo làm tâm tông trị nước, đồng thời muốn dung hòa Khổng, Lão để trở thành cái dụng chung để kiến quốc. Các vị thiền sư đi sau, cũng từ chiến lược quốc sách ấy mà lập ngôn, lập thuyết. Viên Chiếu là người hiểu rõ điều đó hơn hết khi tuyên bố:

 

Trăm sông đổ về đông hề, muôn dòng đua chảy. Ngàn sao chầu bắc đẩu hề, thiên cổ quy tâm. (Chúng thủy triều đông hề, vạn phái tranh lưu. Quần tinh củng bắc hề, thiên cổ quy tâm).

Trong số môn sinh của ông, có người đã đến từ Khổng Nho nên thắc mắc giữa Phật và Thánh (Chu, Khổng), giống nhau, khác nhau ra sao từ nền tảng giáo thuyết ích dụng cho nhân sinh, xã hội?

 

 Sư đáp bằng thơ:

 

Mùa thu, hoa cúc nở dưới dậu

Mùa xuân, tiếng oanh hót đầu cành.

(Ly hạ trùng dương cúc.

Chi đầu thục khí oanh)1

 

Tiết nào hoa nấy, thời nào dụng nấy. Tùy thuộc quốc độ, tùy thuộc đặc trưng tư tưởng, văn hóa, sẽ xuất sinh nhân vật tương thích. Khi học đồ chưa hiểu, sư nói thêm:

 

Ngày thì ác vàng dọi

Đêm đến thỏ bạc soi.

(Trú tắc kim ô chiếu.

Dạ lai ngọc thố minh).

 

Còn gì rõ ràng hơn thế nữa!

Rồi khi môn sinh thắc mắc giữa Phật và Tổ cũng được sư giải thích rộng nghĩa, bác học hơn môt tí:

 

Tối sáng, tượng trời do quạ thỏ,

Lõm lồi, hình đất tạc núi sông.

(U minh càn tượng nhân ô thố.

Khuất khúc khôn duy vị nhạc hoài).

 

Tượng trời là “càn tượng”, hình đất là “khôn duy”, được lấy từ thuật ngữ của Chu Dịch, có nghĩa là trời cao, đất thấp định ra càn và khôn. Ở trên trời là tượng (mặt trời, mặt trăng). Ở dưới đất là hình (núi, sông).2 Câu trả lời ấy hàm ý Phật như mặt trời, mặt trăng; tổ như núi, sông của quả địa cầu.

Còn đối với những môn sinh hỏi với đại ý: chúng sanh từ đâu đến, chết rồi chúng đi về đâu! Sư sẽ có câu đáp rất ấn tượng:

 

Rùa mù chui vách đá

Trạch què bò núi cao.

(Manh quy xuyên thạch bích,

ba miết thướng cao sơn).

 

“Rùa mù” và “trạch què” có làm được thế không hay chỉ là ước muốn vô ích, ngu si? Cũng vậy, nếu không tu, không học, cứ hỏi những câu vớ vẩn như vậy, thì thiền sư sẽ nói khá nặng lời đấy!

Đôi lúc, thiền sư cũng “vi tiếu” dí dõm, nhẹ nhàng. Khi có một môn đồ hỏi về cái dụng của “chân như”, sư đáp:

 

Tặng anh ngàn dặm xa

Cười mang một bình trà!

(Tặng quân thiên lý viễn,

tiếu bả nhất âu trà!)

 

Đấy không là cái dụng của chân như sao?

Để đối trị với những môn sinh biết rằng “chúng sanh đều có Phật tánh”, do vậy, hơi lơ là trong việc tu tập, sư đã chí tình dạy bảo:

 

Nông tang hãy gắng chăm chuyên nhé.

Đợi thỏ người kia chớ nhọc theo.

(Khuyến quân thả vụ nông tang khứ.

Mạc học tha nhân đãi thố lao).

 

Hình ảnh người nước Tống ôm cây mà đợi thỏ hoặc ngồi mà đợi Phật tánh đến thì quả thật là người ngu.

Đôi nơi dường như có chút ảnh hưởng tư tưởng “nhàn” của Lão Trang:

 

Chống gậy đường mây khi thích chí

Mệt buông rèm trúc ngủ giường tre”

(Hứng lai huề trượng du vân kính,

Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng).

 

Có câu với hình tượng nghệ thuật tu từ rất mới, không ai nghĩ là nó có tuổi thọ đã ngàn năm:

 

Theo gió, tiếng còi xuyên trúc đến

Đội trăng, ngọn núi vượt tường sang”.

(Giác hưởng tùy phong xuyên trúc đáo,

Sơn nham đới nguyệt quá tường lai).

 

Nói tóm lại, “tham đồ hiển quyết” mang giá trị văn học thiền vào loại sớm nhất ở nước ta, ảnh hưởng nhiều thời đại đi sau. Nó phong phú và đa dạng, vừa ẩn vừa hiển đan xen nhau, lại còn lúc hư lúc thực rất khó nắm bắt ý nghĩa. Và cũng nhờ cái đẹp “u huyền” ấy tạo nên sự cảm nhận đa tầng, đa biểu. Là khu vườn thiền mà ta chưa bao giờ khám phá hết, và yếu chỉ của nó còn bập bùng cháy tỏ đến ngàn sau…

 

Viết tại am Mây Tía, mùa mưa lũ Ất Dậu

 

 

 

Chuyện Người Phụ Nữ Xả Thân Cúng Dường

Chánh Niệm

 

 

Trong Căn Bản Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ Tỳ Nại Da -Dược Sự, No: 1448, quyển I có một câu chuyện rất cảm động, đó là chuyện một người phụ nữ dám lóc thịt trên mình để chế thuốc chữa bệnh cho Bí-sô. Câu chuyện đó như sau:

 

Bấy giờ, từ nước Địch Miêu, Thế Tôn đi du hành trong nhơn gian đến rừng Thi Lộc, nơi tiên nhơn đọa xứ thuộc Ba-la-niệt-tư. Trong thành ấy có trưởng giả tên Đại Quân, giàu sang, nhiều của cải. Ông ấy có vợ tên Đại Quân nữ, kính tín Tam bảo, hiền lành chất phát, ý thích thanh tịnh. Nghe tin Thế Tôn đi du hành từ nước Địch Miêu, đến rừng Thi Lộc, ông ấy liền nghĩ rằng: “Đó chính là đấng Thế Tôn, đại sư của ta. Tuy ta đã nhiều lần cúng dường nhưng chưa được đầy đủ. Nay ta sẽ đem số của cải hiện có ở trong nhà dâng cúng hết cho đấng Vô Thượng Từ Tôn để biểu lộ sự cúng dường nhỏ mọn của ta.” Suy nghĩ xong, ông ấy liền đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Ngài rồi ngồi lui lại một phía.

 

Bấy giờ, Thế Tôn thuyết Pháp lợi ích an vui cho trưởng giả Đại Quân. Sau khi đã dùng đủ mọi phương tiện diễn giảng diệu Pháp, Ngài đứng yên lặng. Nghe thời thuyết Pháp xong, trưởng giả Đại Quân rất hoan hỷ, liền đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chấp tay lễ Phật mà bạch rằng: “Cúi xin Thế Tôn cùng các Bí-sô nhận lời thỉnh an cư ba tháng hạ của con, con sẽ cúng dường y phục, đồ ăn uống, ngọa cụ, thuốc thang...” Lúc ấy, Thế Tôn im lặng nhận lời. Thấy Phật đã chấp nhận, Trưởng giả rất vui mừng đảnh lễ Phật rồi ra về.

 

Suốt ba tháng an cư, trưởng giả ấy dâng cúng Thế Tôn và các Bí-sô đầy đủ tứ sự. Hàng ngày, vào sáng sớm, Trưởng giả đảnh lễ sát chân Thế Tôn rồi đi thăm viếng các Bí-sô bị bệnh.

 

Có một Bí-sô mắc bệnh nặng đến hỏi thầy thuốc và thầy thuốc bảo phải ăn canh thịt.

 

Sau khi thăm hỏi xong, Trưởng giả trở về nhà nói với vợ: “Này hiền thê, có một Bí-sô bị bệnh, thầy thuốc bảo phải ăn canh thịt mới có thể chữa trị, nàng hãy chuẩn bị món đồ đó và mau mau đem dâng cho Bí-sô bệnh.”

 

Vợ trưởng giả liền sai người hầu đem tiền đến các lò mổ để mua thịt. Ngày hôm ấy, quốc vương sanh con nên cấm giết mổ, nếu ai vi phạm thì mắc tội nặng, vì thế giả sử có mua với giá mắc thì cũng không mua được.

 

Người hầu liền đem việc ấy bạch đầy đủ với chủ nhà.

 

Lúc ấy, vợ trưởng giả suy nghĩ: “Trong ba tháng ta đã cúng dường Thế Tôn và các Bí-sô đủ mọi thứ, nay nếu không có loại thuốc này thì e rằng Bí-sô ấy sẽ qua đời và đó là lỗi tại ta.” Suy nghĩ xong, cô ấy liền cầm dao bén vào trong phòng của mình, cắt thịt đùi đưa cho người hầu bảo cô ấy xắt nhỏ nấu canh và mau chóng dâng cho Bí-sô bị bệnh ăn. Lúc ấy, người hầu liền nấu canh dâng cho Bí-sô bệnh. Nhận được, Bí-sô ấy liền ăn ngay và lành bệnh. Bí-sô ấy cũng không biết là vợ trưởng giả đã cắt thịt trên thân mình, vị ấy liền suy nghĩ: “Ta đã nhận sự cúng dường này thì không nên nằm không; ta phải đắc những pháp chưa đắc, chứng những pháp chưa chứng, hiểu được những điều chưa hiểu”. Vị ấy siêng năng tinh tấn, dứt sạch các phiền não, đắc quả A-la-hán, đầy đủ ba minh, sáu thông và tám giải thoát, biết như thật là cuộc sống đã chấm dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn tái sanh, tâm không có chướng ngại, giống như dùng tay xé hư không, như dao cắt bùn thơm, không sanh thương ghét, xem vàng không khác đất, xả bỏ tất cả danh lợi, chư thiên Thích, Phạm đều cung kính.

 

Bấy giờ, vào sáng sớm, Thế Tôn đắp y mang bát cùng đại chúng đến nhà Đại Quân. Khi đã đến nơi, Ngài ngồi ở trước đại chúng và bảo với trưởng giả rằng: “Người vợ của ông đang ở đâu?”

 

Đáp: “Bạch Thế Tôn, vợ của con ở trong phòng.”

 

Oai lực Thế Tôn thật không thể nghĩ bàn. Ngài gia hộ cho người phụ nữ ấy làm cho nơi bị cắt được lành lặn như cũ.

 

Lúc ấy, vợ của trưởng giả sanh tâm hoan hỷ đối với Thế Tôn. Cô ấy liền bước ra khỏi phòng và đến đảnh lễ sát chân Thế Tôn, rồi đứng qua một phía.

 

Phật bảo cô ấy rằng: “Vì lý do gì mà ở trong đường sanh tử cô có thể phát Bồ-tát hạnh?”

 

Cô ấy liền chấp tay nói kệ:

 

“Trong sanh tử luân hồi

  Thân này dễ có được

  Trong trăm ngàn ức kiếp

  Khó gặp cảnh tối thắng.”

 

Đọc xong câu chuyện, chúng ta vô cùng cảm động trước hạnh xả thân cúng dường của người phụ nữ ấy. Đó là sự bố thí cao thượng, ít ai có thể làm được. Đồng thời, chúng ta thấy rằng, trong luân hồi sanh tử, tuy thân người khó được, nhưng gặp được nó còn dễ hơn gặp Phật pháp và quả vị giải thoát. Muốn đạt được cảnh tối thắng, chúng ta phải học và tinh tấn thực hành giáo pháp mà đức Phật đã dạy, thậm chí phải hy sinh cả thân mạng để đạt được mục đích ấy. Chúng ta phải học hạnh tự lợi lợi tha của bồ-tát, mới mang lại lợi ích, an lạc cụ thể cho mình và người trong hiện tại. Có như vậy, chúng ta mới có thể tiến tu đạo nghiệp và thành tựu đạo quả giác ngộ trong tương lai.

 

 

 

CHÁO Mùng Tám tháng Chạp

Hương Sơn

 

  

Mùng tám tháng chạp âm lịch hằng năm là ngày vía đức Thích-ca thành đạo dưới cội Bồ-đề (bodhi), người Trung Quốc kết hợp truyền thống văn hóa dân tộc và sự tích nữ thí chủ Tu-sà-đa (Sujata) cúng dường bát cháo sữa (milk-rice) để tổ chức ngày lễ nấu cháo cúng Phật, hiệp kỵ tổ tiên, tế thần, thiết đãi họ hàng, thân hữu, xóm làng và bố thí cho người nghèo. Cho nên cháo này được gọi là “cháo mùng tám tháng chạp” (臘八粥).

 

Ngoài tên gọi chính đó ra, cháo ngày này còn có các tên gọi khác như cháo Phật, cháo thất bảo, cháo ngũ vị, cháo phước thọ, cháo phước đức, v.v… Vì vậy, lai lịch cháo này có rất nhiều truyền thuyết và cứ liệu đề cập đến, mỗi vùng nói mỗi khác. Song, tập tục cúng cháo này có nguồn gốc liên qua đến ngày kỷ niệm đức Thích-ca thành đạo được tuyên truyền rất sớm.

 

Ngày xưa, sau khi Thái tử Tất-đạt-đa (Siddharta) trải qua sáu năm khổ hạnh tại núi Tuyết sơn với nhiều phương pháp tu hết sức khổ cực như nghiến răng, đè lưỡi, tập trung cắt đứt tư tưởng, nín thở, nhịn ăn, v.v... khiến cho thân thể ngày càng hao gầy, chỉ còn xương bọc da, sức lực hao mòn, nhưng Ngài nhận thấy, “những sự đau khổ này thực là tối thượng, không gì có thể hơn nữa. Nhưng với sự khổ hạnh khốc liệt như thế, Ta vẫn không chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh.” Vì vậy, Ngài quyết định đổi phương pháp tu, nhận bát cháo sữa của nữ thí chủ tên Tu-sà-đa cúng dường; dùng xong, sức khỏe của Ngài lần lần hồi phục, tinh thần minh mẫn. Ngài xuống tắm dưới sông Ni-liên-thiền (Niranjana), rồi sau đó trải cỏ cát tường làm tòa ngồi thiền dưới cây tất-bát-la (assatha), nay gọi là cây Bồ-đề và phát nguyện: “Nếu ta ngồi đây mà không tìm ra đạo lý nhiệm mầu, không tìm ra lẽ huyền vi của vũ trụ vạn pháp thì dù thịt nát, xương tan, ta quyết không rời bỏ chỗ này.” Suốt 49 ngày đêm ngồi thiền định, đến đêm cuối cùng, khi sao mai vừa tỏ, Ngài đã chứng ngộ đạo quả, thành Phật nhằm vào đêm trăng tròn tháng Tithakhu (Ấn Độ) tức mùng 8 tháng Chạp (Tàu).

 

Sau khi thành đạo, đức Phật du hóa khắp Ấn-độ để truyền bá đạo quả giải thoát mà Ngài đã chứng ngộ được. Vì vậy, giáo pháp của Ngài được lưu truyền rộng rãi, và nhờ đó mà có vô số chúng sanh hưởng được đạo quả giải thoát, chuyển phàm thành Thánh. Ngày thành đạo của Phật trở thành ngày lịch sử trọng đại của người Phật tử nói riêng và nhân loại nói chung. Vì vậy, người Phật tử khắp nơi trên thế giới thường tổ chức lễ cúng dường, bố thí hằng năm vào ngày thành đạo theo văn hóa riêng của mỗi dân tộc và dần dần hình thành nét văn hóa Phật giáo của quốc gia dân tộc đó.

 

Riêng Phật giáo Trung Quốc, đạo Phật du nhập vào nước này khoảng từ thời Hán Minh Đế. Tập tục làm lễ trai tăng cúng dường, bố thí, v.v… của người Ấn-độ vào ngày Phật thành đạo đã được người dân Trung Quốc tiếp thu và kết hợp với truyền thống văn hóa  bản địa làm cho ý nghĩa của nó càng trở nên phong phú hơn và hình thức tổ chức cũng đa dạng hơn. Ngoài ý nghĩa ca tụng sự giác ngộ thành Phật của đức Bổn sư, ngày lễ này của người Trung Quốc còn có ý nghĩa tạo mối giao hảo giữa vua tôi, thân hữu, làng xóm, và đặc biệt là thành phần trong phẩm vật cúng dường, bố thí có nhiều dược liệu, có tác dụng bổ dưỡng cho cơ thể rất cao.

 

Sở dĩ ngày thành đạo có nhiều ý nghĩa như vậy là vì người Trung Quốc kết hợp tập tục cúng gia tiên, tế thần linh cùng với sự tích cúng dường bát cháo sữa của nàng Tu-sà-đa. Thời Tống, Ngô Tự Mục soạn Mộng Lương Lục có đoạn: “Ngày mùng 8 tháng 12, các tự viện gọi đó là mùng 8 tháng Chạp. Tất cả các tự viện lớn đều chưng bày cháo ngũ vị gọi là cháo mùng 8 tháng Chạp, cũng gọi là cháo Phật. Ngày lễ này còn được gọi là ngày lễ Pháp bảo vì có nhiều nghi thức được thực hiện trong ngày trọng đại này. Trong Bách Trượng Thanh quy có ghi: “Ngày mùng 8 tháng Chạp, đón mừng ngày đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni thành đạo, tập hợp chúng Tỳ-kheo, chưng đầy đủ hoa, hương, đèn, đuốc, trà, quả, thức ăn để cúng dường.”

 

Món cháo này thịnh hành nhất vào thời nhà Thanh. Trước ngày lễ này, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng tử, v.v… đều ban món cháo này cho văn võ đại thần, tùy tùng, cung nữ, v.v… và cúng dường lương thực, thực phẩm, hoa quả, v.v… cho các tự viện nấu cháo cúng dường chư Tăng; còn các tự viện thì tổ chức lễ tụng kinh, kỷ niệm ngày đức Thích-ca thành đạo. Dân chúng tụ hợp gia đình bà con cùng ăn chung, hoặc mang cho bạn bè làng xóm.

 

Vào dịp lễ này, người dân thường dùng nồi lớn để nấu cháo thật nhiều, đủ loại vật liệu và hương vị thơm ngon với mong cầu năm nào cũng được của cải dư dật. Và tùy theo thời đại, hoàn cảnh mà thành phần của cháo được nấu có khác nhau. Từ đơn giản, cháo chỉ là nấu bằng gạo nếp với đậu đỏ cho đến đủ các thứ bổ dưỡng với hơn 20 nguyên liệu khác nhau trong đó. Tất cả đều là những vị có dinh dưỡng và dược liệu cao như hồng táo, bạch quả, dĩ nhân, v.v…

 

Vào thời nhà Thanh,  chuyên gia về dinh dưỡng Tào Yên Sơn soạn ra Chúc phổ đã  ghi rõ về thành phần và giá trị dinh dưỡng của cháo này. Nó có công năng làm cho thân thể khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt. Thức ăn nhẹ dễ tiêu, có tác dụng điều hòa dạ dày, bổ lá lách, dưỡng tim, lọc phổi, ích thận, lợi gan, giải khát, sáng mắt, thông tiện, an thần.  Cháo này được nấu nhuyễn nên ăn dễ tiêu hóa, rất thích hợp cho người già, trẻ con, người bệnh ăn; đồng thời còn có công hiệu làm cho dạ dày khỏe mạnh, nuôi máu, bổ khí, an thần, v.v… và nó còn làm ấm cơ thể, không bị lạnh và khỏe mạnh sống lâu.

 

Như vậy, người Trung Quốc xưa kia, từ cung đình cho đến các tự viện, từ vua quan cho đến bách tánh, trải qua các triều đại, đã kết hợp hài hòa giữa sự kiện lịch sử Phật giáo và văn hóa dân tộc, làm cho lễ thành đạo mùng 8 tháng Chạp trở thành văn hóa Phật giáo mang nét riêng của Trung Quốc với tên gọi cháo mùng 8 tháng Chạp thiêng liêng. Đồng thời, ngày lễ này còn có ý nghĩa trong việc tạo cho các mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp, giúp đỡ người khốn khó, v.v… Ngoài ra, cháo mùng 8 tháng Chạp rất có tác dụng bổ dưỡng cơ thể và phù hợp với thời tiết lạnh lẽo mùa Đông.

 

 

 

 

Người bao nhiêu tuổi

Hạnh Viên

 

 

Hỏi tên, rằng biển xanh dâu

Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đã xa

Gọi tên rằng một hai ba

Đếm là do tưởng đo là nghi tâm.

(Bùi Giáng)

 

Cũng may, những vấn đề con người phải đối mặt kỳ cùng trên thế gian này có lẽ không nhiều. Nhưng không may đó lại là những đối diện lạnh lùng và hoang vu có thể làm đóng băng mọi tâm hồn nồng nhiệt nhất, mọi đầu óc được cho là thông minh nhất của nhân loại. Như đỉnh núi tuyết ngàn năm chìm trong sương mù và băng giá, dù trong lòng nó có thể ẩn dấu đâu đó một hỏa diệm sơn.

 

Từ khi con người biết ngẫn ngơ trước vẻ đẹp rực rỡ đến độ bàng hoàng của bình minh khi mặt trời dần ló dạng lạ lùng ở một nơi nào đó, mà ngày nay người ta gọi là phương đông, và vẻ đẹp kiêu kỳ như phong kín của nó lúc sắp tàn, ở phương tây, người ta càng ngẫn ngơ hơn trước hàng loạt vấn đề chợt nảy ra trước mắt: Cái đẹp, sự khai sinh, sự tồn tại, sự tàn diệt, và đằng sau tất cả, là bóng dáng lồ lộ của thời gian. Đó là cái gì? Câu hỏi đơn giản nhất của rất nhiều đứa trẻ mà ‘người lớn’ đôi khi chẳng bận tâm trả lời. Nhưng từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, câu hỏi này đôi khi vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng, dù đã có rất nhiều giải đáp của những nhà hiền triết, thánh nhân. Có lẽ trước mọi câu hỏi rốt ráo, mỗi người phải có lời đáp riêng cho mình; không thể có một câu trả lời chung cho hết thảy. Chính đức Phật chừng như đã xác định điều này qua ví dụ về nắm lá rừng trong tay Ngài so với lá trong rừng, trước các đệ tử đang khắc khoải tìm cầu chân lý. Con người bối rối. Con người hiện đại càng bối rối hơn. Càng ‘tiến bộ’ người ta càng thấy mình bất lực trước những vấn đề căn bản và cốt lõi nhất của nhân sinh. Thời gian là gì? L’être et le temps. Hiện hữu và thời gian. Être hay being, hay bhava, svabhava, hay hữu, rồi hữu thể, tính thể, tồn thể, tự thể v.v., đơn giản nhất là ‘là’, to be, rồi be-coming, come to be… tất cả đều ẩn hiện dấu vết thời gian. Một thực tế trước mắt, trong mọi khoảnh khắc, có thể cảm nhận được trong từng hơi thở, mà không ai nắm bắt được. Bởi vì hiểu được nó, nắm được bản chất của nó, có lẽ ta nắm được trong tay cả thế giới sum la vạn tượng này.

 

Cách đây 100 năm, ở thành phố Berne, Thụy Sỹ, một viên thư ký Phòng cấp bằng sáng chế đã trải qua những giấc mơ lạ kỳ về bản chất của thời gian. Đó là Albert Einstein. Những giấc mơ đã hình thành trong ông khái niệm về thời gian tương đối, dẫn đến lý thuyết độc đáo về tính tương đối (relativity), làm sững sờ các nhà bác học Tây phương. Vật lý học hiện đại Tây phương tiến dần đến bờ mép những khu rừng thâm u huyền bí của Đông phương, nơi cách đây hàng nghìn năm các Phật giáo đồ đã không hề xa lạ với lý Duyên khởi, tánh không của vạn hữu. Vì cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt. Nghĩa là hết thảy đều tương quan tương duyên mà sinh khởi, tồn tại, và cả hoại diệt; không có bất cứ gì có thể tự nó hiện hữu một mình, không nhân duyên - tức điều kiện (condition), nghĩa là có tính tương đối (relativeness), cũng tức là tính không của vạn hữu. Thời gian từ khái niệm về một đường thẳng với ba thời điểm phân minh bỗng trở nên méo mó, lệch lạc. Mũi tên thời gian được bắn đi biến thành vòng tròn không có điểm khởi đầu và điểm kết thúc. Chưa có thể nắm bắt được nó như thật, người ta phải gợi nên bao giả định về nó. Đó là thời gian vật lý hay thời gian tâm lý, thời gian ý niệm hay thời gian tri giác, có thể quan sát được, hay thời gian trực nghiệm, nằm ngoài tất cả những cái trên. Đơn vị tận cùng của nó, nghĩa là thời gian tồn tại đích thực của một hiện hữu, là gì? Trước một sự hữu, ai cũng biết điều đơn giản: trước lúc khởi hiện nó không có, sau khi đã hiện nó không còn. Vậy cái thực sự hiện hữu là cái nằm giữa hai thời điểm đó. Nó kéo dài bao lâu? Bản chất nó là gì? Theo quan điểm Phật giáo về lý thuyết sát-na diệt, nếu sự hiện hữu của một vật là đồng với thời gian hiện diện chính xác của nó, thế gian này gần như là hư vô, vì hiện tại là một thời điểm hầu như không có thời lượng, không thể nắm bắt. Hoá ra thực tại trước mắt đã đùa giỡn với con nguời một chút. Họ tưởng mình đã hiểu biết nhiều điều, nhưng chỉ là hiểu lầm. Bây giờ ít nhất họ biết rằng mình đã hiểu cũng nhiều như mọi người có thể hiểu với tất cả kinh nghiệm hữu hạn vốn là thân phận con người.

 

Sau đây là một trong những giấc mơ của Einstein, qua ngòi bút của nhà vật lý hiện đại Alan Lightman, lần đầu tiên viết dưới dạng văn học. Ông quen thuộc hơn với nhiều biên khảo rất có thẩm quyền trong ngành, là giáo sư của Viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT), và điều hành Chương trình Nghiên cứu và biên khảo về Nhân văn của MIT. Những mơ mộng khẽ khàng dọ dẫm vào bản chất của thời gian, mà tôi xin trích dịch (in nghiêng) để giới thiệu bạn đọc một cái nhìn mới của Tây phương về vấn đề muôn thuở của mọi người, và của mỗi người.

 

14 tháng 4, 1905. Đêm…

 

Nếu thời gian là vòng tròn, quay xung quanh chính nó. Thế giới tự lặp lại, một cách chính xác, vô tận.

 

Với tuyệt đại quần chúng, người ta không biết là họ sẽ sống cuộc đời họ đã sống. Những nhà buôn không biết là họ sẽ lại mặc cả y như trước và mãi mãi. Những nhà chính trị không biết là họ sẽ lại hô hào cùng một loại diễn văn không biết bao nhiêu lần trong những chu kỳ thời gian. Những người cha người mẹ yêu quý tiếng cười đầu đời của đứa con như thể họ sẽ không bao giờ được nghe nữa. Những người tình yêu nhau lần đầu tiên cởi bỏ y phục mà bẽn lẽn, ngạc nhiên sao bắp đùi thon mềm, da thịt mong manh. Làm sao họ biết được mỗi cái lén nhìn, mỗi lần xúc chạm kia, sẽ được lặp lại mãi hoài như bao lần trước đó?

 

Trên phố Martgasse cũng vậy. Làm sao người bán hàng biết được mỗi cái áo đan tay, mỗi chiếc khăn thêu, mỗi cái kẹo, mỗi cái la bàn, mỗi cái đồng hồ phức tạp đó rồi sẽ lại trở về nằm trên quày hàng của họ? Khi chiều xuống, những người bán hàng trở về nhà với gia đình hay đi uống cốc bia cùng bạn hữu ở những con đường ngầm, nâng niu từng khoảnh khắc như viên lục ngọc được ký gởi tạm thời. Làm sao họ biết rằng không có gì là tạm thời, rằng tất cả chỉ là tái diễn? Không khác gì con kiến nhỏ bò quanh cái đèn chum, đâu biết rồi nó sẽ đến nơi đã bắt đầu ra đi.

 

Trong bệnh viện ở Gerberngasse, một thiếu phụ từ biệt chồng. Ông nằm trên giường, mệt mỏi nhìn bà với cái nhìn xa vắng. Trong hai tháng qua, căn bệnh ung thư cuống họng đã lan xuống gan, lá lách, rồi vào não ông. Hai đứa nhỏ con ông ngồi chung trên một chiếc ghế đặt ở góc phòng đang sợ hãi nhìn cha của chúng, với đôi gò má hóp sâu và làn da khô héo. Người vợ đến bên giường bệnh nhẹ nhàng hôn lên trán chồng, khẽ nói lời chào ông, rồi nhanh chóng ra về với lũ trẻ. Bà tin chắc đó là nụ hôn cuối cùng. Bà đâu biết rằng thời gian sẽ bắt đầu trở lại, rằng bà sẽ tái sinh, sẽ lại đến phòng tập thể dục thẩm mỹ, sẽ triển lãm tranh của bà ở một phòng tranh tại Zurich, sẽ gặp chồng trong một thư viện nhỏ ở Fribourg, sẽ chèo thuyền với ông trên hồ Thunlake vào một ngày đẹp trời tháng bảy, sẽ lại sinh con, và chồng sẽ làm việc tám năm trong một viện bào chế và một chiều trở về nhà với một cái bướu trong cổ họng, sẽ lại nôn mửa và phát bệnh và kết thúc cuộc đời trong cái bệnh viện này, trong căn phòng này, trên chiếc giường này và vào giây phút này… Làm sao bà có thể biết được?

 

Trong thế giới mà thời gian là vòng tròn, mọi cái bắt tay, mọi nụ hôn, mọi sự ra đi, mọi từ ngữ sẽ được lặp lại y như trước. Và chính vì mọi sự sẽ được lặp lại trong tương lai, mọi sự hiện đang diễn ra đã diễn ra hàng triệu lần trước đó. Chỉ có vài người nơi mỗi thành phố, trong những giấc mơ của họ, mơ hồ nhận thấy mọi việc quả đã xảy ra trong quá khứ. Đó là những người với cuộc sống không hạnh phúc, và họ cảm nhận được những phán đoán lạc nẻo, những hành vi sai lầm và sự rũi may của họ hết thảy đều đã diễn ra… Khi đêm tàn, những công dân đáng nguyền rủa này vật mình trong lớp chăn chiếu của họ, không thể chợp mắt nghỉ ngơi, vật vã với ý thức rằng họ khó thể thay đổi dù chỉ một hành vi, một điệu bộ. Họ sẽ phạm những sai lầm trong đời này cũng y như trong đời trước. Và chính những bất hạnh nhân đôi này là dấu hiệu duy nhất cho biết thời gian là vòng tròn. Bởi vì trong mỗi thành phố, lúc tàn canh, những con đường và những hành lang trống vắng còn vang vọng lời thở than của họ.

 

(Giấc mơ sau: Thời gian ba chiều)

 

 

Qua Mùa Mưa Bão

Lam Khê

 

Trong cuộc sống có những sự việc xảy ra cứ bắt người ta luôn nhớ đến với tất cả lòng trân trọng hoài niệm không nguôi. Cái nhớ đôi khi chỉ từ một lẽ rất thường tình, một thoáng hương xa chợt đến chợt đi trong cõi vô thường, nhưng gợi lên bao ý hướng thanh cao ngời ngợi.

 

Năm đó, tôi về quê nhằm vào mùa mưa bão. Về thăm quê mùa này thì chẳng có gì thú vị. Nhưng là vì giỗ đầu của người bác dâu, với lại lâu lắm không có dịp về quê, tôi những muốn tận hưởng cái rét buốt nơi quê nhà để được ngâm mình trong mớ áo khoác dày cộm ít khi được dùng đến.

 

…Bà Thượng lui cui dọn dẹp giường chiếu trong căn chòi lá của mình. Cái chòi rộng chưa đầy mười mét vuông nằm trên mảnh đất của ông anh họ con người O (Cô) ruột của tôi, và cũng là cháu gọi bà bằng cô. Gia sản trong nhà chỉ có chiếc giường tre, chiếc bàn con, cái bếp lò nhỏ bé, sứt mẻ và vài vật dụng chẳng giá trị gì, cũng không có được ngọn đèn điện như phần đông các gia đình khác trong xóm. Bà lấy mùng mền gối vớ ra cho Tôi và bảo:- Cô nằm đây nghỉ cho yên tịnh, chứ bên đó đám xá ồn ào, tụi nhỏ lại ăn nhậu ca hát suốt đêm không ngủ được đâu. Mùng mền mệ giặt sạch cất kỹ chỉ để cho khách. Mấy người trên phố lâu lâu về cũng thích nghỉ ở đây.

 

Thấy bà như muốn đi đâu tôi vội hỏi: “Giờ này mà mệ còn đi đâu à?” Lần đầu tiên về quê, tôi gọi mấy “Mệ” bằng tiếng “Bà” như trong miền Nam liền bị quở ngay.

 

- “À! Cô cứ ngủ đi! Mệ phải đi xuống xóm chơi với tụi nhỏ một chút, khoảng chín mười giờ mới về ngủ được, quen rồi.”

 

Một mệ già gần tám mươi thích chơi với đám con nít trong xóm chài này, tôi có nghe mấy ông anh họ kể lại. Hồi chiều thấy tôi một mình thơ thẩn trước sân nhà bác, bà qua chơi nói chuyện rồi rủ tôi sang lều tranh của bà ngủ lại. Rồi bà kể chuyện cuộc đời mình cho tôi nghe, có lẽ thấy tôi là nhà tu hành, bà tỏ ra thật ân cần thân mật: Thằng con của mệ nếu còn tu, năm nay cũng lên tới Thượng Tọa chi rồi.

 

Chuyện đời của bà là một trang tiểu thuyết buồn, như hầu hết những phụ nữ nhà quê khác vào giữa thế kỷ trước. Chồng bà đi kháng chiến rồi tập kết ra Bắc, bà một nách nuôi hai con thơ và một bà mẹ chồng đau yếu. Thời khó khăn, bà làm đủ công việc từ làm nông trồng vườn, cho đến đan lát, đón ghe mua cá tôm đem lên phố bán để nuôi mẹ chồng nuôi con. Nhưng rồi đứa con gái bị bịnh mất sau đó mấy năm, còn Hoàng- con trai lớn của bà học hết cấp hai, bèn nằng nặc xin mẹ đi tu :- Lúc ấy nó thường lên ngôi chùa ở xóm trên làm công quả, Sư  ông trụ trì rất thương nó. Lâu ngày thấm tương thấm chao, rồi đòi xuất gia luôn. Tôi vì cảnh một mẹ một con không nỡ cách xa. Thấy con quyết tâm, hơn nữa mình cũng hiểu đạo. Con đi tu cũng là điều phước lộc cho cha mẹ. Nghiệp duyên nó ở chùa, mình đâu ngăn cản được. Hồi đó cả mấy xóm chài này chỉ có mỗi ngôi chùa đó mà cũng đã xưa cũ hư nát, nhưng bổn đạo rất thuần thành, xem việc chùa như việc nhà mình vậy.

 

Đi tu rồi, nó vẫn đi học văn hóa. Hồi đó phải đi đò lên phố học - về chùa Sư ông dạy thêm kinh chữ Hán. Cậu nhỏ siêng năng và học rất khá. Tôi lúc ấy ngoài chuyện đồng áng ở nhà, mỗi ngày cũng lên xuống chùa phụ làm công quả, mà cũng là để lo cho con mình.

 

Mệ chợt ngừng lại, ánh mắt nhìn xa xăm như đang hồi tưởng lại bao chuyện đời đã qua.

 

- Chuyện cậu Hoàng đi tu rồi thế nào hả mệ? Tôi vội cất tiếng hỏi tiếp khi thấy bà yên lặng hơi lâu.

 

- À ! Khi nó học xong Trung học được đâu ít năm thì Sư ông mất. Chùa chỉ có hai thầy trò, thế nên nó kế nghiệp trụ trì. Nó có học, lại lanh lợi giỏi giang nên việc chùa cũng không có gì đáng nói, dù lúc ấy thời sự bất ổn, cuộc sống dân cư miền biển rất khó khăn, nhưng cảnh chùa quê vẫn yên ổn, thâm tình thầy trò bổn đạo vẫn tới lui sâu đậm. Rồi thì đất nước thanh bình, cái buổi giao thời ấy có biết bao điều éo le thay đổi…

 

Bà lại im lặng. Cái im lặng để cố nhớ lại từng chi tiết và cũng là để che dấu bao xúc động trong lòng. Chuyện đã lâu lắm rồi, nhưng người già thường sống với kỷ niệm nên mọi việc đối với bà dường như mới xảy ra. Đoạn tiếp theo tôi đã được nghe mấy ông anh họ nói qua. Tuy vậy, tôi vẫn thích được nghe bà kể lại. Lúc mới gặp bà, tôi có thiện cảm ngay. Một đời người sống trong nghèo khó, mang nặng nỗi buồn riêng tư, nhưng nhìn bà vẫn toát lên một phong thái tự tại an nhàn, không khắc khổ như nhiều mệ già nhà quê khác. Bà lại có lối nói chuyện dễ thu hút người nghe, giọng Huế miền biển mà sao vẫn nhẹ nhàng êm ái, vậy nên đám con nít rất yêu mến thích gần gũi bà.

 

Giải phóng về, điều bà chờ đợi đoàn tụ với người chồng xa cách suốt hai mươi năm đã không thể trọn vẹn. Ông ấy về quê mang theo một bà vợ và đàn con nheo nhóc khác. Thì thôi… thời chiến loạn và sự xa cách đằng đẳng như vậy cũng đâu thể trách ai được. Nhưng sự tình đâu chỉ có thế…

 

- Tôi cực khổ một đời nuôi con, lại lo cho mẹ chồng khi bà đau yếu bịnh hoạn cho đến lúc mất đều chu toàn bổn phận dâu con mà không hề than thở nửa lời. Vậy mà… ngày ông trở về chẳng có lấy một lời an ủi hỏi han, tôi cũng chẳng buồn lòng. Duyên nợ vợ chồng chỉ bấy nhiêu, tình không còn thì nghĩa có là gì đâu. Đằng này, ông còn lấy quyền làm cha và quyền một cán bộ lãnh đạo, hăm doạ bắt buộc con tôi hoàn tục…

 

 - Và Cậu Hoàng phải nghe lời hở mệ?

 

 -  Lúc đó, mấy thầy mấy cô còn trẻ dễ bị dao động lắm. Thằng con tôi cũng vậy. Ba nó cứ dụ dỗ thôi thúc, lại hứa hẹn đủ thứ. Thế là nó xiêu lòng. Nó hoàn tục rồi theo ông vào Đà Nẵng mà chẳng thiết đến nỗi buồn đau của Tôi lúc ấy.

 

-  Bây giờ cậu vẫn ở Đà Nẵng?

 

- Không! Thời gian đầu ông cũng lo lắng kiếm cho nó công việc. Đâu vài năm nó lấy vợ. Hai cha con lại nảy sinh bất đồng, việc làm lại không phù hợp. Thế là nó bỏ vào Đồng Nai… Đến bây giờ vẫn làm rẫy, làm nương vất vả lắm, con lại đông.

 

- Thỉnh thoảng cậu có về thăm mệ chứ?

 

- Ôi! Mười mấy năm rồi, nó không về lấy một lần, lại không thư từ thăm hỏi. Chúng nó chẳng hề nghĩ là mình còn bà mẹ… phải sống lầm lũi nơi quê nhà, nương dựa vào bà con chòm xóm. Mà có lẽ vì không khấm khá gì, đâu còn mặt mũi trở về gặp ai.

 

Bà lặng lẽ nhìn ra cảnh trời đang sập tối. Hình như có cơn mưa bão từ ngoài biển khơi sắp đổ bộ vào đất liền. Dông bão cuộc đời và dông bão trong lòng người mẹ này có khi nào lặng yên. Bà khẻ thở hắt ra nói: “Cái số tôi nó vậy cô ơi! Cứ xem như mình không chồng không con để thoải mái sống với tháng ngày còn lại. Tôi bây giờ cũng chẳng lo buồn gì nữa. Sống nhờ bà con xóm làng, chết rồi cũng nhẹ nhàng ra đi. Ngày ngày lên chùa làm công quả, vui với đám con nít mà lòng già thanh thản an lạc. Hôm nay gặp cô là người tu hành, tôi chạnh nhớ lại chuyện xưa nên nói lại chút đó thôi.”

 

***

 

… Nửa đêm cả làng thức giấc giữa tiếng gió rít ghê hồn từ ngoài khơi vọng lại, tiếp theo là mưa. Mưa như trút nước, mưa tuôn tất cả mọi sức mạnh của đất trời xuống ngay vùng đá sỏi trơ gan này. Cơn bão đã đổ vào đất liền. Bà Thượng cũng trở dậy, thấp thỏm đi lại trong căn chòi. Nơi bà ở nằm trên cao, những năm lụt lớn nước chỉ mấp mé ngoài sân, căn chòi cũng trải qua bao mùa gió bão mà chẳng hề hấn gì. Nhưng nào bà có quan tâm cho sự sống còn của mình đâu. Bà đang lo lắng cho mấy đứa trẻ ở trên chùa. Ngôi chùa mà con trai bà ngày trước từng làm trụ trì, có một thời gian bị bỏ hoang, làng xã phải cử người lên trông nom hương khói. Mười mấy năm nay có thầy từ trên phố về trụ  trì, sự sinh hoạt của bổn đạo mới có sinh khí nề nếp trở lại. Thầy có mở lớp học tình thương, để trẻ em nghèo được đến lớp. Lại có cả lớp nội trú, dành cho bọn trẻ nơi miền biển xa xôi ở luôn tại chùa để tiện việc học hành. Hằng ngày bà vẫn lên chùa làm công quả, phụ với mấy cô bảo mẫu nấu ăn và chăm sóc bọn trẻ. Lúc rảnh, bà thường bày trò chơi và kể chuyện cho chúng nghe. Bà vốn có duyên nói chuyện mà, tuổi già của bà không cô độc trong nỗi quạnh hiu, mà lúc nào cũng rộn rã tiếng cười nói. Bà vui với thôn xóm, với trẻ thơ… Cuộc sống của bà gắn liền trong niềm tin yêu của mọi người.

 

Từ sáng sớm… cư dân các vùng ven biển gồng gánh đưa nhau lên chùa tránh bão. Bà Thượng tất bật lo cơm nước cho dòng người tỵ nạn. Thầy trụ trì thì vận động đám trai tráng trong thôn ra ngăn đập và giúp đỡ những gia đình còn kẹt trong mưa lũ. Người lớn thì đủ thứ chuyện để lo lắng, còn bọn trẻ thì vô tư chạy giỡn. Bà lại phải lo trông coi chúng, nhưng bận rộn quá bà không thể chơi hay kể chuyện, nhiều đứa nghịch ngợm cứ thích nhào ra ngoài mưa tắm, chẳng biết gì đến nguy hiểm. Cha mẹ chúng an tâm khi gởi con lên chùa. Chùa nằm trên đồi cao, mới xây cất lại rất chắc chắn, mưa bão mùa này không lớn lắm, nhưng không phải là không có những mối đe dọa rình rập.

Trưa hôm đó mưa đã tạnh, gió cũng bớt hoành hành, nước ở các vùng thấp đã rút nhanh theo dòng chảy xiết ra sông biển. Bầu trời vẫn u ám như mọi ngày, tôi ủ mình trong tấm chăn bông dày mà cái lạnh như từ ruột gan tỏa ra. Đang nghĩ tới chuyến trở về nhà ngày mai, tôi chợt nghe tiếng xôn xao bên ngoài:- “Bà Thượng mất rồi, ở trên chùa ấy.”

 

Sao lại như thế nhỉ? Tôi vùng ngồi dậy, theo mấy ông anh họ lên chùa.

Khi người ta đem được bà lên thì thân thể đã lạnh cứng, nhưng bà vẫn chưa chết. Đôi mắt đờ đẩn nhìn quanh, miệng khẻ thì thào: - Mấy đứa nhỏ… cứu mấy đứa nhỏ.

 

Ai đó ghé vào tai bà nói: “Mấy đứa nhỏ đã được cứu lên bình yên rồi. Để tụi con hô hấp cho bà…”

- Thôi khỏi… như vậy là được rồi…

Thế là bà ra đi… nhẹ nhàng không chút vướng bận.

Sau nhiều ngày bị bó gối trong nhà, tụi nhỏ chạy ra chơi đùa nơi bờ ao sau chùa, rồi nhảy xuống tắm và bị hụt chân. Bà đi ra nhìn thấy, không chần chờ liền nhào xuống cứu… Tuổi già sức yếu… khi kéo được hai đứa lên thì bà chới với… nhưng còn mấy đứa nữa. Bà lướt đi trong dòng nước lạnh cóng và chảy xiết, cố đến nơi có những bàn tay đưa lên, lúc này mọi người chạy ra…

 

Cơn mưa bão suốt một tuần lễ rồi cũng dứt. Tôi chuẩn bị xuôi chuyến tàu trở về Nam mang theo ít nhiều nỗi niềm hoài hương cố quận. Lúc này làng xóm quê nhà mang một sắc buồn ảm đạm. Trận bão đã tàn phá nhiều nhà cửa ruộng vườn, làm hư nát nhiều đoạn đường nối qua các thôn xóm. Nhưng không khí thê lương đọng lại trong lòng mọi người ít nhiều chính là đám ma của bà Thượng, người duy nhất bị thiệt mạng sau cơn bão. Ngôi nhà lá xiêu vẹo, mái tranh gió đánh phần phật suốt ngày đêm vẫn còn đó, mà bà thì vĩnh viễn không quay về nữa. Bác tôi bảo đám tang bà buồn và lớn nhất trong thôn từ nhiều năm nay. Không kèn trống tưng bừng, đứa con trai phương xa cũng không quay về kịp, có lẽ mưa bão đã làm trễ nãi đường xá thư tín. Người của mấy thôn đều tập trung đến để đưa tiễn bà, cả mấy lớp học tình thương cũng để tang cho bà. Người ta buồn vì từ nay vắng đi tiếng nói nụ cười của bà, vắng đi sự ân cần vồn vả lúc nào cũng sẵn lòng vì mọi người. Tiếng tụng kinh ngân rền trong buổi chiều lặng sóng để đưa một người trở về nơi chốn thiên thu. Ai rồi cũng phải ra đi. Nhưng hình bóng của bà dường như vẫn còn đâu đó trong âm vang lòng người ở lại.

Mưa bão đã qua rồi, mọi việc rồi cũng trôi nhanh theo lẽ tuần hoàn của năm tháng. Cánh hoa dù tàn, vẫn tỏa sắc hương, đời người một khi trở về cát bụi vẫn để lại chút hương tình cho nhân thế. Những ngày lưu lại nơi miền quê hương đầy mưa dông gió bão này, tôi đã cảm nhận ra được một lẽ sống tiềm tàng bất diệt, ngay giữa dòng đời sanh diệt bể dâu.

 

 

Tứ Động Tâm

Tâm Minh

 

Kính thưa quí vị và các bạn,

 

Tuổi trẻ Phật giáo hôm nay khác với tuổi trẻ PG ngày xưa rất nhiều. Ví dụ như ngày xưa Phật tử không được đọc những Kinh “lớn” như Kim Cang, Lăng Nghiêm, Duy Ma Cật, v.v... vì quí Thầy, quí Sư Cô cố vấn giáo hạnh sợ các em chưa đủ tuổi để hiểu, rồi đâm ra hiểu lệch lạc, “mang tội”… Còn bây giờ, cho hay không cho cũng không thành vấn đề, các em chỉ cần lên “net” thì cái gì cũng có. Tuy nhiên, có nhiều chuyện thì các em biết về chữ nghĩa mà thực tế chưa biết hay có nhiều danh từ rất dễ hiểu mà các em không hiểu, trái lại những từ “cao siêu hơn” thì lại hiểu được! Vì vậy, các em luôn thắc mắc. Xin mời quí vị theo dõi cuộc hội thoại của mấy anh chị em huynh trưởng GÐPT trẻ A, B, C mà chúng ta đã làm quen qua mấy lần trước với đề tài Tứ Ðộng Tâm, chủ yếu là Bồ-đề Ðạo Tràng.

 

A: Chào các em, hôm nay gần cuối năm 2005 rồi! Các em định nói chuyện gì đây?

B: Dạ, chúng em định hỏi anh về mấy chữ “tứ động tâm” là gì?

C: Phải đó, Tứ vô lượng tâm hay Tứ thánh đế hay Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Tứ nhiếp pháp… chúng em đều đã học nhưng Tứ động tâm sao chúng em chưa học hở anh?

A: Các em đã biết rồi nhưng không gọi tên như vậy thôi, chứ sao lại chưa học được!

C: Thật sao? Biết hồi nào?

A: Hồi học lịch sử đức Phật Thích-ca từ sơ sinh đến nhập diệt đó! Các em đều biết đức Phật đản sinh ở đâu? Thành đạo ở đâu? Thuyết giảng bài pháp đầu tiên ở đâu? Và nhập diệt ở đâu chứ?

B: Dạ, nhất định rồi, dễ mà! đức Phật sinh ở vườn Lâm-tỳ-ni, thành Ðạo ở Bồ-đề Ðạo Tràng, thuyết giảng Tứ Ðế (Bốn sự thật cao thuợng) ở vườn Nai (Lộc Uyển), và nhập diệt ở thành Câu-thi-la.

A: Đúng rồi! 4 chỗ em vừa kể gọi là “4 động tâm” hay “tứ động tâm” cũng vậy; vì khi người con Phật đến đó không ai là không xúc động mạnh, xúc động đến tận tâm can.

C: À thì ra vậy, hèn gì em cứ thắc mắc tại sao mình không được học!

A: Bây giờ các em muốn nói động tâm nào trước?

B: Dạ, hôm nay sắp đến ngày Thành Ðạo, anh nói cho chúng em về Bồ-đề Ðạo Tràng trước đi nha!

A: Bồ-đề Ðạo Tràng ở thành phố Bodh Gaya của Ấn Ðộ. Ðây có lẽ là Thánh tích quan trọng nhất, được chính phủ Ấn đặc biệt quan tâm tu sửa, và hằng năm du khách Phật tử hay không Phật tử đều đến đây tham quan rất đông.

C: Vậy hồi tháng 11/04 có lễ hội hành hương (LHHH) của GÐPT, anh cũng có đi chứ?

A: Ðúng vậy, các thành viên của các phái đoàn GÐPT được ăn, ở và sinh hoạt tại Trung tâm tu học Viên giác ở Bodh Gaya (Viên Giác Institute Center) của thầy Thích Như Ðiển, rất gần Bồ-đề Ðạo Tràng. Mỗi buổi sáng, cứ 4giờ30 là anh chị em mình được quí Thầy hướng dẫn ra Bồ-đề Ðạo tràng, dưới cội Bồ-đề lịch sử để đi kinh hành, tụng kinh, bái sám và lễ lạy (nghĩa là đê đầu đảnh lễ) cội cây Bồ-đề.

B: Thật là thích quá anh hở? GÐPT chúng ta ở đó được mấy ngày và làm những việc gì hở anh?

A: Có nhiều phái đoàn, nhiều anh chị vì công tác, đã đến trước nhiều ngày nên không thể nói chính xác là anh chị em chúng ta lưu lại đó mấy ngày, nhưng tất cả mọi người đều đã ở đó ít nhất là 5 ngày, và liên tiếp trong 3 ngày cuối cùng, trước khi rời BÐÐT, chúng ta đã tiến hành các Phật sự quan trọng, mang tính chất lịch sử, đó là lễ “rước ánh sáng” đại hùng đại lực, đại từ bi về Ðại hội, lễ “thí phát gieo duyên lành xuất gia” cho một số anh chị em huynh trưởng và lễ thọ cấp Dũng ngay dưới Cội Cây Bồ-đề lịch sử của người anh Cả hải ngoại của chúng ta, anh Tâm Huệ Cao Chánh Hựu.

C: Anh có thể mô tả sơ cho chúng em quang cảnh chung của Bồ-đề Ðạo Tràng như thế nào không?

A: Được chứ, đó là một khu rộng lớn, cỡ lớn hơn những công viên lớn (park) ở Hoa kỳ mà chúng ta thường gặp, gồm nhiều Thánh tích như Đại Tháp (Maha), hồ Rồng Mù (Muchalinda), tòa tháp Animes Lochan, nơi đức Phật Thích-ca ngồi quan sát trong tuần thứ 2 sau khi thành đạo, mặt hướng về cội Bồ-đề, và nhiều tòa tháp, công trình xây dựng mang đặc tính của nhiều quốc gia Phật giáo cúng dường, như đại hồng chung của Nhật Bản, Việt Nam, công trình “hòn non bộ” Ngũ Hành sơn với núi non hoa lá kiểu bonsai do nghệ nhân xứ Huế thực hiện. Trong tháp Animes Lochan hiện chứa 3 tạng kinh Hoa Nghiêm bằng chữ Tây Tạng.

B: Chỗ đó có đông người bản xứ đến tụng kinh như chúng ta không?

A: Họ còn đến sớm hơn anh chị em mình nữa! Nghĩa là họ đã có mặt từ nửa đêm hay tự bao giờ không rõ, người thì dâng hoa, tụng kinh, chiêm bái các tượng Phật, người cầu nguyện, ngồi thiền, v.v... Không chỉ người dân bản xứ mà nhiều người “ngoại quốc” như Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Âu Châu, Việt Nam, v.v... Các vị Lạt-ma Tây Tạng đảnh lễ khác hơn dân VN mình. Họ mang 2 chiếc dép vào 2 bàn tay, và khi gieo mình xuống đảnh lễ; họ duỗi thẳng 2 cánh tay lên đầu, bằng cách “chà” 2 bàn tay lên mặt đất để thân mình nằm sát đất - đúng nghĩa “gieo 5 vóc” xuống đất (đầu mình và tứ chi).

C: Bên trong Ðại Tháp như thế nào hở anh?

A: Bên trong Đại Tháp có tượng đức Phật Thích-ca trong tư thế kiết già, tay trái gác lên đùi phải, tay phải buông xuôi, bàn tay trong tư thế bắt ấn địa xúc, mặt hướng về phía Đông. Nghe nói bức tượng này đã có trên 1700 năm và tác giả điêu khắc bức tượng này là hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Bức tượng đã được tìm thấy và phục chế sau một thời gian dài bị chôn vùi,…

B: Còn cây Bồ-đề lịch sử?

A: Thân cây Bồ-đề to lắm, ít nhất là 5, 7 người ôm mới kín vòng! Tàng lá Bồ-đề phủ rộng ra khoảng 10m trĩu xuống, có những trụ chống làm giá đỡ, khá cao; người ta đã xây một bức tường bằng xi măng vây kín cội Bồ-đề, chỉ để một cửa vừa đủ cho một người ra vào, bên trong có tòa Kim Cang bằng sa thạch do vua Asoka lập, nơi đức Phật ngồi nhập đại định 49 ngày. Anh chị em mình được vào thăm bên trong, vì thầy Như Ðiển có mượn chìa khóa mở cửa cho anh chị em chiêm bái cội Bồ-đề. Mọi người đi chung quanh cây, chạm trán vào thân cây, có người còn vốc một nắm đất dưới gốc nữa. Nghe đâu những vị quản lý khu BÐÐT có nhắc nhở “yêu cầu quí PT đừng lấy đất dưới gốc cây, vì như thế cây sẽ chết!” Hai năm trước, cội Bồ-đề suýt chết vì hàng trăm, hàng ngàn người đến thăm viếng, mỗi người đều vốc một nắm đất! Cây làm sao sống nổi! Phải nhờ hội bảo vệ thực vật quốc tế chăm sóc, cây mới sống được đến nay!☺☺!!

Vị trí cội Bồ-đề phía Tây Bắc, từ tòa ngồi đức Phật nhìn ra sông Ni-liên-thuyền là hướng Đông, và sao Mai mọc lên cũng từ hướng đó.

B: Cội Bồ-đề còn gì đặc biệt không anh?

A: Bên ngoài cội Bồ-đề lịch sử còn có hai dấu chân Phật rất lớn, to gấp 10 lần dấu chân bình thường, khắc trên đá và được lồng kính để bảo vệ. Phật tử đem hoa đặt lên mặt kính cúng dường. Hoa được dùng để cúng dường hầu hết không phải hoa sen mà là hoa Súng, màu trắng hay hồng tím; cánh hoa và cọng rất to gấp mấy lần hoa Súng ở Việt Nam hay ở Hoa Kỳ. Ði vào khu vực Bồ-đề Ðạo Tràng, tất cả giày dép đều được để ở ngoài, nên khi đi thiền hành hay đi thăm các nơi bên trong đều đi chân trần, cảm nhận được sự mát lạnh của nền gạch hay đất.

C: Còn hồ Rồng Mù như thế nào anh?

A: Chỗ này có tượng đức Phật Thích-ca ngồi giữa hồ, đây là nơi đức Phật ngồi tọa thiền trong tuần lễ thứ 6 sau khi giác ngộ. Hình tạc tượng Ngài ngồi nhập định và được rắn thần hổ mang chúa xòe mang ra rất rộng để che mưa cho Ngài. Rất xa bên kia là sông Ni-liên-thuyền, rừng khổ hạnh cây thưa và xơ xác, và ngôi làng Sujata (khu làng lấy tên người nữ mục đồng dâng bát sữa lên đức Thế Tôn trước khi Ngài thành đạo). Sông Ni-liên-thuyền mùa hè không có nước, nằm trơ trọi với những bãi cát vàng rộng và dài với vài con lạch nhỏ nơi dân làng dùng để tắm gội, giặt giũ… Nghe nói mùa mưa thì nước sông Ni-liên-thuyền dâng lên đến bụng.

B: Anh chị em còn đi đâu nữa, sau khi rời BÐÐT hở anh? đến động tâm thứ 2 hở?

A: Không, phái đoàn còn đi cứu trợ các nơi quanh khu vực BÐÐT rồi sau đó mới đi đến thành Vương-xá, lên núi Linh Thứu được nhìn thấy thạch động của ngài A-nan, ngài Maha Ca-diếp, thăm Phật học viện Nalanda, thăm Tịnh xá Trúc Lâm, v.v... rồi mới đi chiêm bái động tâm thứ 2, đó là vườn Nai (Lộc Uyển - Samath).

C: Vườn Nai ở có xa BÐÐT lắm không anh?

A: Từ Bồ-đề Ðạo Tràng, phải vượt 300km mới đến vườn Nai. Ngày xưa phương tiện giao thông khó khăn hơn bây giờ, đủ biết đức Thế Tôn phải tốn biết bao nhiêu ngày giờ để đến Lộc Uyển độ cho 5 anh em ông Kiều-trần-như! Vườn Nai hay Lộc Uyển thuộc xứ Ba-la-nại (Banerès) là một khu rộng rãi vô cùng với nhiều cây cao bóng mát, chim hót vang lừng. Thật là một nơi lý tưởng để chuyển pháp luân; hèn gì trước đức Thích-ca đã có 3 vị Phật khác là Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm và Phật Ca-diếp. Ðại Tháp chuyển pháp luân (Dharmekkha) đánh dấu nơi đức Phật giảng bài Pháp đầu tiên. Tháp có hình khối tròn, cao 31,3m đường kính 28,3m đứng sừng sững, thi gan cùng năm tháng, do vua A-dục (Asoka) dựng lên cách đây hơn 2 ngàn 3 trăm năm (300 năm trước Tây lịch); trong vườn còn lưu lại 6 bức tượng, của đức Bổn sư và 5 anh em tôn giả Kiều-trần-như.

B: Anh có nhìn thấy trụ đá của Vua A-dục sai khắc với hình 4 con sư tử mà anh chị em chúng ta dùng làm biểu tượng cho trại HL/HTr. A Dục không anh?

A: Có chứ, đó là trụ đá cao 21,33m đánh dấu nơi đức Phật Thích-ca phân công cho 60 vị đệ tử của Ngài đi hoằng pháp khắp nơi... Ngày nay, trụ đá này đã bị gãy làm mấy khúc! Trên đó có ghi lời dạy của đức Thế Tôn với các đệ tử của Ngài là phải sống hòa hợp thương yêu nhau. Tượng sư tử thì được đặt tại viện bảo tàng, ở ngoài khuôn viên vườn Lộc Uyển.

C: Quí Thầy có thuyết pháp cho anh chị em mình tại vườn Nai không hở anh?

A: À may có câu hỏi của em, anh quên kể, là sau khi hành lễ xong, quí Thầy bảo anh chị em chúng ta ngồi vòng tròn dưới các tàng cây đầy bóng mát để nghe quí Thầy nói về những sự kiện liên quan đến Lộc Uyển. Anh có cảm giác như được trở về quá khứ khi đức Thế tôn thuyết bài pháp đầu tiên cho anh em ông Kiều-trần-như vậy! Rải rác đây đó trong vườn Nai còn nhiều nền móng thấp, di tích của các tu viện, Tăng xá ngày xưa…

B: Thế rồi đoàn người lại đi thăm động tâm thứ 3 phải không anh?

A: Phải đó! Từ vườn Nai, đoàn hành hương vượt thêm 260 km về phía Bắc để đến động tâm thứ 3 là Câu-thi-na (Kushinagar), nơi đức Phật nhập Niết-bàn. Câu-thi-na thuộc thành phố Kasia, bang Uttar Pradesh, một trong những bang nghèo nhất xứ Ấn Ðộ. Khi đến chùa Niết-bàn, nơi cách đây hơn 2500 năm đức Phật từ giã thế gian và chư đệ tử của Ngài; lòng mọi người se lại… Tượng Niết-bàn dài chừng 6m, toàn thân Ngài sắc vàng, thế nằm gối đầu lên tay phải, đỉnh đầu hướng về phương Bắc, đúng như tài liệu tu học của anh chị em mình - nhiều người lấy la bàn ra kiểm chứng và rất lấy làm hoan hỷ nữa! Ngôi chùa Niết-bàn này do hội Phật giáo Miến Ðiện (Myanmar) xây cất.

C: Vậy anh chị em mình có được thấy chỗ trà tỳ nhục thân của đức Phật khi xưa không anh?

B: Và có được thấy ngọc xá-lợi của đức Phật không?

A: Có, đại tháp trà tỳ nơi hỏa táng nhục thân đức Phật ở cách chùa Niết-bàn khoảng 1 km về phía Bắc. Tuy nhiên ngôi tháp đã bị phá hư từ lâu, bây giờ thay vào đó là một mộ gạch cổ to lớn tạc tượng đức Phật nằm, đầu cũng hướng về phương Bắc. Chung quanh ngôi mộ là một công viên với đủ loại hoa đầy màu sắc, hương thơm… xá-lợi Phật được thờ trong các chùa Việt Nam, chùa Thái Lan… với kiến trúc đặc trưng của mỗi nước. Anh chị em chúng ta được Ni sư trụ trì chùa Linh Sơn mở kim quan ra cho chiêm ngưỡng ngọc xá-lợi đủ màu, và được Ni sư giải thích tường tận về tính chất bất hoại linh thiêng của ngọc xá-lợi.

C: Như vậy động tâm thứ tư là vườn Lâm-tỳ-ni đáng lẽ được xem trước hết vì đó là nơi Thái tử Tất-đạt-đa (Sidhartha) đản sanh nhưng bây giờ được xem sau cùng phải không anh? Tại sao vậy?

A: Đúng đó! Động tâm thứ 4 là vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini); mà vườn Lâm-tỳ-ni ngày nay thuộc Népal chứ không thuộc Ấn Ðộ. Từ Câu-thi-na phải đi hơn 148km mới đến Sonauli là biên giới Ấn Ðộ - Népal và phải mất nửa giờ để làm thủ tục visa qua biên giới! Népal là một xứ nhỏ và nghèo nhưng đã phá bỏ thành kiến về giai cấp từ lâu, thật xứng đáng là quê hương của đức Từ Phụ Thích-ca Mâu-ni.

B: Có phải Népal có rất nhiều đảng phái không anh?

A: Phải đó! Có đến 80 đảng phái lớn nhỏ!☺☺!! Ngoài ra, quân chính phủ và quân phiến loạn thường đụng độ, tình hình không được an ninh. Mấy năm trước đây, một ngôi chùa Nhật ở Lâm-tỳ-ni bị cướp tấn công và bắn chết vị Sư phó Trụ trì! May mắn là lúc anh chị em mình qua thì hai bên đang ngưng chiến nên tình hình tương đối yên tĩnh. Khu vực vườn Lâm-tỳ-ni rộng mênh mông và đang trong thời kỳ xây dựng qui mô để đón du khách. Phái đoàn của anh chị em chúng ta được quí Thầy hướng dẫn hành lễ, tụng niệm trước trụ đá của vua A Dục xây vào năm 249 trước Tây lịch, và tấm bảng có hàng chữ khắc bằng tiếng Anh và tiếng Pali (hay Sanskrit?) đại ý như sau: Lòng tưởng nhớ đến ngày trọng đại của Trời, Người, cách đây mấy ngàn năm: “Ngày Ðản sanh của đức Thế Tôn! Chính nơi đây Ngài đã sinh ra làm thân người, rồi xuất gia tìm Ðạo, để chỉ đường giải thoát cho chúng sanh.”

C: Có chỗ nào ghi dấu 7 bước chân của Thái tử sơ sinh không hở anh?

A: Để từ từ anh kể. Phía ngoài là cảnh hoang tàn đổ nát của những đền đài vương giả một thời vàng son, nhưng bên trong có đền mẫu hậu Maya, với một tấm bia đá để sâu dưới mặt đất, đánh dấu nơi đức Phật đản sanh, được bao bọc bằng một lớp gương dày. Phía trên tường là một tấm phù điêu khắc hình mẫu hậu Maya đang với tay bẻ cành cây Vô-ưu, bên hông ngài Maya là thái tử mới sinh và di mẫu Maha Ba-xà-ba-đề đang dang tay ẵm Thái tử. Bên trong có những ô đất vuông vức, ghi vị trí từng dấu chân của đức Sơ sinh bước đi và dấu chân của Maya hoàng hậu, chỗ ấy được gọi là ngôi bảo tồn “bảy bước xưng tôn”; gần đó có một hồ nước có nhiều bậc đi xuống. Tục truyền đó là nơi hoàng hậu Maya xuống tắm trước khi sinh Thái tử và cũng là nơi Thái tử được tắm sau khi đản sinh. Tấm bảng ghi “Sacred Pond. Mayadevi bathed here before giving birth to Buddha” còn được gọi là nơi “chín rồng phun nước”. Anh chị em GÐPT rất vui khi nhớ lại bài tán tụng ghi trong cẩm nang LHHH:

Chí tâm đảnh lễ

Dưới cây Vô-ưu

Ðản sanh thị hiện

Chín rồng phun nước

Bảy bước xưng tôn

Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật

B: Như vậy, đức Phật của chúng ta là người Népal anh hở? Anh có thể nói thêm về người dân Népal không?

A: Đúng vậy, đức Phật Thích-ca và hoàng triều Ca-tỳ-la-vệ là dân Népal, không phải Ấn-độ, da họ nâu và sáng chứ không đen và phục sức đơn giản, không phức tạp và loè loẹt như dân Ấn. Phụ nữ Ấn thích đẫy đà, mập mạp còn phụ nữ Népal thì cao và thon thả. Dòng họ Thích-ca bây giờ vẫn còn trong hình thái bộ tộc như xưa, tất cả đều theo Bái Hỏa giáo, thờ thần Lửa và suy tôn một trinh nữ khoảng 15, 16 tuổi làm nữ vương, hằng năm có những cuộc tế lễ, rước kiệu, v.v...

C: Thật lạ quá phải không anh? Bà con dòng họ của đức Phật mà không biết Phật là ai, lại đi thờ Thần Lửa, trong khi cả thế giới đang qui ngưỡng đức Phật như một nhà giáo dục vĩ đại, một giáo chủ đặc biệt, độc đáo với giáo lý vô ngã, với những câu tuyên bố bất hủ như: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành” hay “Không có giai cấp trong giọt máu cùng đỏ và giọt nước mắt cùng mặn” hay “oán thù không thể tiêu diệt hận thù, chỉ có từ bi mới dập tắt được lửa hận thù mà thôi”, v.v... em thật không hiểu nổi! ☺☺!!

A: Đúng vậy, thật đáng tiếc nhưng cũng dễ hiểu thôi vì Ấn Ðộ nói chung và Népal nói riêng đã từng bao phen bị Hồi giáo cai trị, họ đã giết hại nhiều thế hệ của Phật tử nói chung, dòng họ Thích-ca nói riêng… mục đích tiêu diệt Phật giáo, làm tuyệt giống Phật nên chỉ còn Sri Lanca là còn lưu truyền kinh điển, Phật pháp.

B: Buổi nói chuyện hôm nay thật bổ ích cho chúng em, mặc dù phần cuối nhắc đến dòng họ Thích-ca làm anh chị em chúng ta thật bùi ngùi! Em xin cảm ơn anh nhiều và xin hẹn gặp lại lần sau. Tạm biệt!

A & C: Tạm biệt! Tạm biệt!

 

 Vui Xuân - Phật Ngắn Phật Dài

Thích Hạnh Thiền

 

Tính đến Xuân Bính Tuất 2006 này thì Sư ông của chúng tôi tuổi thọ vừa đúng bát tuần. Nhưng phong thái của Ngài vẫn còn xuân, vẫn còn hùng tráng tươi tắn lắm. Bản tính lại hồn nhiên, giọng nói đầy hân hoan sảng khoái. Khi tâm đắc điều gì, Ngài thường cất cao tiếng cười, vang động cả thiền đường, làm mọi người bị cuốn theo như sắp được nghe một huấn thị gì. Quả nhiên là bài học “Bừng con mắt Tuệ ngay trong những công việc có vẻ hèn mọn nhất” – quét chùa, lau điện Phật, xách nước, tưới cây, bổ củi, lặt rau, rửa bát, vệ sinh nhà cầu, phòng tắm… đều là giác hạnh viên mãn. Sư ông dạy như thế và luôn luôn tiếp sức cho chúng tôi bằng những câu chuyện vui chay trong khi lao tác. Chúng tôi được phép ngưng tay dù là công việc cần khẩn trương cho kịp ngày Tết.

 

“Bạch Sư ông! Vì sao năm nay Sư ông lại cho treo lá phướn nhỏ có ba chữ ‘Vô Sở Trụ’ trên cành mai chung với các thiệp chúc Tết của các bậc thượng Tăng được vinh danh với nhiều màu sắc rực rỡ là ý gì?”, một thầy trong chúng thắc mắc.

 

Các ông chưa nhận ra sao? Năm nay chùa mình được quá nhiều thiệp chúc Tết của giới Tăng Ni các nơi gởi về. Thiệp mạ vàng chữ in nổi, pháp danh, hiệu chùa, chức vụ… nào là trưởng, chánh, phó, kiêm địa chỉ, số điện thoại, email, fax… Nếu những mỹ từ này mà có hình tướng thật thì chắc cây mai chùa mình gãy đổ ngay. Sư ông trả lời vậy cùng với tiếng cười hả hê của chúng tôi và nhanh chóng giải thích khi thấy điệu chúng hình như còn ngơ ngác nhìn những con bướm vàng đầy bản ngã đậu trên nhánh mai xuân tươi thắm không bao lâu rồi lại tàn phai rơi rớt.

 

Vô sở trụ - Tâm không dính chỗ nào. Cổ đức muốn nhắc nhở chúng ta “chớ có trụ tướng sanh tâm, chớ có làm bạn thân với khách trần lục dục (sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc lạc, pháp mừng) và chớ có đầu hàng bảy con yêu tình thức (mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn).” Đó là những ma chướng chận đường cản bước chúng ta đi. Nhưng đã mấy ai qua được bến bờ kia:

Diệt trừ sáu cướp bảy ma

Trăm năm trong cõi người ta dễ gì.

 

Đến đây, Sư ông chỉ tay về phía cổng tam quan, cất cao giọng phấn khởi như muốn cụ thể giáo pháp: “Đấy các ông thấy ba lối vào cửa: Giả quan, Không quan và giữa là Trung quan không. Các hình thái trên thế gian đều là giả danh chứ không có thực thể, không có bản ngã độc nhất bất khả xâm phạm. Nói vậy (Giả quan) mà không phải vậy (Không quan) nên tạm gọi là vậy (Trung quan), vì để tùy thuận chúng sanh, tùy duyên mà bất biến. Hiểu vậy thì đừng có bắt chước phô trương cái chức vụ như mộng huyễn, bào ảnh của mình để biểu dương với hàng Phật tử còn sơ cơ mắt tục.”

Một thầy bỗng ứng khẩu: “Bạch Sư ông! Liệu những con bướm vàng dững dưng kia có thể hiểu được thâm ý này không hay là chúng vẫn nhởn nhơ tung bay khoe khoan cái sắc diện không hương của mình. Nó vốn là sản phẩm ưa khoe danh sắc của một kiếp côn trùng thích bay lượn lòn lách từ bông hoa này đến bông hoa nọ để cầu cạnh tìm một chút hương thơm mật ngọt cho cuộc sống phù du ngắn ngủi của đời mình. Rồi như để tiếp tục chủ đề Vô Sở Trụ - Khuyên chúng đừng trụ tướng sanh tâm, tranh thủ lúc thư giản trước khi kiểng báo giờ thọ trai, Sư ông kể một câu chuyện vui, ra câu đố và ai trả lời đúng sẽ có giải thưởng giống như trên ti vi.

 

Câu chuyện tựa đề là “Phật ngắn Phật dài”. Mấy chú điệu nhỏ háo hức vì nghe có thưởng nên quyết dành chỗ ngồi gần Sư ông để nghe cho rõ, giải đáp cho đúng. Sư ông bắt đầu tươi nét mặt vừa mỉm cười vừa kể.

 

“Tại ngôi chùa nọ, một hôm đang quét nhà hậu tổ, điệu để chóp ngưng tay, cao hứng hỏi điệu đàn chị: ‘Mô Phật, này Hiền tỷ, chỗ thân tình, em mạn phép tò mò một câu nhé! Không hiểu sao Sư phụ mình mỗi khi tiếp khách đến chùa hình như có hai cách chào đón khác nhau. Khi sư phụ chào: Nam mô A Di Đà Phật… tiếng chào của Sư phụ nghe rất êm, rất ngọt và đặc biệt chữ Ph..ậ…t. kéo dài âm điệu rất hân hoan trân trọng. Nhưng có khi em nghe sư phụ chào gọn lỏn mỗi chữ, giọng yếu đi, chỉ có tiếng Phật mà thôi hay là do sức khỏe của sư phụ kém.

 

À! Em mới nhập chúng mà đã sớm khởi nghi tình quá quắc lắm đó. Thôi được! Đại nghi thì đại ngộ. Nếu chị không nói thì em khó mà hiểu được cái công án tối mật này. Đây nhé, chị đã quen bắt được tần số của sư phụ. Phải lưu ý khi sư phụ kéo dài câu A Di Đà Ph..ậ…t để chào ai thì ta biết được đối tượng đó là hạng khách sang xịn, từ bậc thượng nhân ngồi xe Mersedes hay VK hồi hương, hay là khi nghe phát sóng ngắn câu chào, ta cảm nhận được ngay đó là hạng Phật tử quèn, hạng bần dân đến xin cứu đói… Phải nhạy bén kịp thời bắt đúng tần số vi diệu đó. Nếu là thượng khách thì chúng hành đường thị giả phải khẩn trương y áo chỉnh tề, trang nghiêm bàn khách, ly tách thật xôm, bia lon thật xộp, thuốc hút thật xịn, trà pha cũng phải đậm đà hương vị, miễn sao cho vừa lòng khách đến đẹp lòng khách đi.

 

Điệu nhỏ mở tròn mắt, hất cái chóp ngược ra sau cười hi hi…. rứa à, rứa à. Thế còn câu chào ngắn gọn, giọng như bệnh nhân mới xuất viện thì sao hả Hiền tỷ?

 

Đó là công án thứ hai. Nó thuộc loại dĩ tâm truyền tâm, giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, chỉ có chị mới được sư phụ trao truyền tâm ấn. Này nhé, phải chánh niệm khi nghe tiếng chào ngắn gọn nhỏ yếu, đó là sư phụ bệnh mà không phải bệnh, tiếp mà không phải tiếp: tiếng A Di… Phật lúc đó tắt hẳn lạc lõng nghe như… quỷ vật… âm binh tới chi tới hoài; đủ biết đó là hạng mạt khách, đầu đường xó chợ, loại khất thực xã hội. Khi nghe mật hiệu này thì chị em thị giả mình cứ ung dung thư giản, bình thường tâm thị đạo, mọi sự đã có sư phụ tùy nghi ứng xử…

Điệu để chóp một lần nữa bịt miệng quay tròn trên nền phòng cười khúc khích sung sướng như vừa chứng ngộ diệu pháp.

 

Bỗng hai điệu giật mình, nghe tiếng chó sủa và tiếng dép lẹp xẹp bên vỉa hè chùa. Ngay sau đó là giọng của Sư phụ khác thường, chỉ có tiếng A… rồi tắt nghẽn. Hai điệu phân vân: “Hay là Sư phụ bị trúng gió” Thị giả nhìn qua cửa sổ bỗng thấy một vị sư khất sĩ tay không thấy ôm bình bát mà lại xách chiếc cặp da nặng nề như một quan chức đột xuất về thanh tra cơ sở. Sư phụ quá quẩn bách chỉ kịp truyền được tín hiệu A… và tiếng Phật sau đó thì hoàn toàn chìm khuất trong vô ngôn tịch tĩnh. Đến đây, điệu đàn chị vội vàng bước nhanh vừa hoảng hốt, giọng nói run rẩy: ‘Phật dài, Phật dài mau lên em ơi!...’”

 

Sau một tràng cười của đại chúng rung lên như động đất 30 giây, Sư ông bắt đầu ra câu hỏi: Vì sao mật hiệu của vị sư phụ chỉ mới có tiếng A… mà thị giả lại thông dịch là Phật dài. Sao không nói là Phật ngắn? Vậy thì mật hiệu nào đúng: Phật ngắn hay Phật dài? Ai gửi lời đáp đúng đầu tiên về trước ngày 30 Tết sẽ nhận được món quà Xuân bất ngờ đầy thú vị.

 

Các vị ở xa xin gởi về PNPD. tvnammo@yahoo.com trước giờ giao thừa đêm 30 Tết Xuân Bính Tuất. 

 

 

 

Ngũ uẩn giai không theo kinh Bát-nhã

Thích Thông Trí

 

 

HỎI: Hằng ngày, con thuờng tụng Bát-nhã Tâm kinh sau mỗi thời kinh. Trong kinh có câu “…hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách…” Nếu đúng như thế thì chúng ta ngày nay phải quán chiếu “ngũ uẩn giai không” như thế nào để có thể đồng hành với Bồ-tát Quán Tự Tại?

(PT Túy Phượng-243 Lý Tự Trọng Q.I, TP. HCM)

 

ĐÁP: Mỗi con người là một hợp thể năm uẩn. Khái niệm về hai phần vật chất và tinh thần có từ sự phân tích qua năm uẩn này. Tuy nhiên, dưới nhận thức giữa bậc Thánh và phàm phu chúng sanh về năm uẩn đều có sự khác nhau. Bồ-tát thì nhận thức được bản chất, tức tánh thể của nó, nên lòng thong dong vô ngại không còn chấp thủ. Đối với phàm phu chúng sanh chỉ nhận thức năm uẩn trên ảnh tượng, ảo giác, do đó vướng chấp khổ đau.

 

Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến quan điểm “ngũ uẩn giai không” trong kinh Bát-nhã để có nhận thức đúng trong quá trình quán chiếu tu tập.

Thật ra, danh từ ngũ uẩn là một thuật ngữ Phật học, được viết theo dạng Hán cổ. Ngũ uẩn (Pañcaskandha) tức còn gọi là năm thủ uẩn (Pañca upādāna skandha). Năm thủ uẩn gồm có: Sắc uẩn (rūpaskandha)-yếu tố sinh vật lý; Thọ uẩn (vedanāskandha) – yếu tố cảm giác; Tưởng uẩn (sajñāskandha) - yếu tố tri giác; hành uẩn (saskāraskandha) -yếu tố tâm lý hoạt động; Thức uẩn (vijñānaskandha) – yếu tố nhận thức phân biệt.

Dưới lăng kính kinh Bát-nhã, năm thủ uẩn đều là “không”, vì chúng do duyên sanh, giả hợp mà có. Sắc tức chỉ cho bốn đại (chất rắn, chất lỏng, chất khí, chất nhiệt) cấu tạo phần cơ thể sinh, vật lý. Riêng bốn yếu tố (cảm giác, tri giác, tâm lý hoạt động và nhận thức) còn lại cấu tạo về phần tâm lý. Khi năm uẩn này đủ duyên hợp lại tức hình thành một con người bình thường như mọi chúng ta.

 

Hơn nữa, theo khảo sát  của các nhà Phật học, bốn đại hiện hữu từ sự giả hợp, còn thọ, tưởng, hành, thức đều do vọng niệm sanh ra. Đã do vọng niệm giả hợp, tức tồn tại như huyễn hóa, tất cả đều là duyên sanh vốn không có tánh chơn thật. Vì cái thể của nó là không, nên kinh Bát-nhã cho rằng ngũ uẩn giai không.

 

Đặc biệt, đối với hàng Bồ-tát vì nhận thức được “Đương thể của năm uẩn tức không”, nên đời sống của các Ngài không còn trú chấp về tự ngã (cái tôi). Thế nên kinh Bát-nhã dạy rằng: “Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa thấy năm uẩn là không, liền vượt qua mọi khổ ách”.

Trong khi đó, chúng sanh phàm phu do vô minh che mờ nên thấy năm thủ uẩn có tự tánh, có chủ thể tồn tại, nên trú chấp và bám víu bằng mọi cách. Còn trú chấp tức phải bị cảm thọ khổ đau và nghiệp chi phối.

 

Dĩ nhiên, khi con người còn chấp thủ quá sâu nặng, do đó, họ có thể vì cái tôi mà bảo vệ đến cùng. Họ luôn hành động theo nghiệp ác thì làm sao tránh khỏi những sự thọ báo khổ đau đời này và đời sau. Từ đó, người học Phật thấy rằng, muốn giải thoát khổ đau, một mặt phải tu tập quán chiếu, tăng cường phát huy tuệ giác Bát-nhã để thấy năm thủ uẩn đúng với sự thật; mặt khác phải phát Bồ-đề tâm, hành Bồ-tát đạo để tâm bao la vô lượng như các vị Bồ-tát và các đức Phật. Vì giá trị tu tập của Phật giáo chính là sự thực tập, sự thể nghiệm và đạt được đời sống hạnh phúc, an lạc ngay trong hiện tại.

 

Vì vậy, “Ngũ uẩn giai không” dù tự thân nó là một mệnh đề nhưng chẳng phải là một mệnh đề triết lý suông mà chính là sự tuyên bố từ sự chứng nghiệm của Bồ-tát Quán Tự Tại. Đó là con đường tu tập, nhận thấy năm thủ uẩn không có chủ thể, tự tánh độc lập để vượt lên mọi chấp thủ phàm tình. Người nào thấy được thân năm uẩn là duyên sanh, là giả hợp, là tự tánh không, tức thấy đúng sự thật. Nhân tu đã chơn thật tức sẽ thành tựu sự giác ngộ và giải thoát tuyệt đối.

Ngày nay, cuộc sống xô bồ, phức tạp, con người càng cố chấp, định kiến, ích kỷ, khủng hoảng. Gần như tất cả những nhu cầu, những đòi hỏi để thỏa mãn tính dục vọng đều phục vụ cho ý thức về sự chấp thủ thân ngũ uẩn tức cái tôi. Và kết quả lúc nào cũng thấy thân tâm lo âu, phiền muộn bức bách chi phối.

 

Là người con Phật, để vượt qua những nỗi khổ này, không cách nào khác là chúng ta phải quán chiếu tu tập, phải có được nhận thức như Bồ-tát Quán Tự Tại khi thấy về sự thật của năm uẩn là không. Điều này phải quán chiếu lâu dài để từng bước tẩy sạch những chủng tử mê lầm, điên đảo của nhiều đời mà chúng ta đã huân tập. Trong ý hướng mong cầu giải thoát ngay hiện tại, chắc chắn hành giả sẽ đạt được tuệ giác Bát-nhã và quán chiếu thông suốt về “ngũ uẩn giai không” ngay trên lộ trình tu tập.

 

 

 

MALAYSIA: Tu viện Seck Kia Eenh tổ chức Lễ cầu nguyện để gây quỹ vì người bệnh ung thư

Hạnh Phước

 

Hơn 10.000 Phật tử thành tâm đốt đèn nến để cầu nguyện sức khỏe và hạnh phúc trong Lễ cầu nguyện, tại Tu viện Seck Kia Eenh diễn ra hôm thứ sáu ngày 9 tháng 12, 2005; đồng thời gây quỹ để ủng hộ những người bệnh ung thư.

 

Ban tổ chức đã quyên góp được hơn 211.000 RM (khoảng 844.000.000 VND) vào quỹ Vì người bệnh ung thư từ việc bán những đèn nến mang hình hoa sen trong Lễ cầu nguyện vào ngày 9 tháng 12, 2005.

 

Ngài Joy Chan, trưởng ban tổ chức Lễ hội, cho biết, ban tổ chức đã bán được 10.217 ngọn đèn nến. Mỗi ngọn nến được bán mua với giá 20 RM. Chúng được thắp sáng suốt thời gian diễn ra lễ hội tại hội trường của trường Trung học Pay Fong bởi những người mộ đạo. Họ cầu nguyện điều may mắn sẽ đến với họ, với thành viên trong gia đình, với người thân và bạn bè.

 

Bà Lui cùng với hai người con đang đốt nến cầu nguyện cho gia đình sau khi biết được sự thánh thiện của Lễ hội cầu nguyện vào giờ phút cuối, bày tỏ: “Chúng tôi tin rằng, nếu ánh lửa của ngọn nến bền lâu, người thắp lên ngọn nến sẽ được khỏe mạnh”.

 

Bà Lui và những người con của bà cũng như những gia đình và những người mộ đạo khác tại buổi lễ cũng sẽ nhận được kết quả tốt đẹp.

 

Quỹ vì người bệnh ung thư được thành lập bởi ngài Chan, Ngài là người được chữa khỏi bệnh này vào 2000; quỹ đã trợ cấp cho hơn 150 người bệnh ung thư, không phân biệt chủng tộc, màu da và tôn giáo.

 

Lễ hội cầu nguyện được tổ chức với sự hợp tác của ban tổ chức Hội nghị Tăng sĩ trẻ thế giới lần thứ II (The second World Buddhist Sangha Youth, WBSY) được diễn ra tại Tu viện Wisma Seck Kia Eenh thuộc Jalan Gajah Berang từ ngày 9 đến 11 tháng 12.

 

Theo chủ tịch WBSY, ngài W. Munindawansa Thero, hội nghị lần đầu tiên tổ chức tại Katmandu, Nepal, vào tháng Giêng năm 2004 với mục đích đào tạo những nhà lãnh đạo Tăng sĩ trẻ để quản lý những công việc trọng đại của Phật giáo trong tương lai.

 

Những tu sĩ đến từ 26 quốc gia gồm Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Nhật Bản, Pháp, Anh, Thái Lan, Mông Cổ, Malaysia… đã có mặt tại hội nghị và buổi lễ cầu nguyện.

Ngoài hai buổi lễ quan trọng, Tu viện Seck Kia Eenh cũng tổ chức lễ khánh thành tòa nhà mới, xây dựng với kinh phí ba triệu RM, nằm đối diện Tu viện.

 

Tu viện Seck Kia Eenh nhờ vào khoản tiền được tích lũy trong 30 năm từ sự hỷ cúng của Phật tử để xây dựng tòa nhà bốn tầng với nhiều phòng và một đại sảnh đường.

 

Ngài Chan, thành viên của Hội đồng quản trị Tu viện Seck Kia Eenh, cho biết mục đích chính của tòa nhà là để nuôi dạy học sinh mẫu giáo. Vì không gian của tu viện không đủ để cho các em sinh hoạt và học tập.

 

Trong hai thập niên qua, Phật giáo phát triển rất nhanh tại Malaysia. Phật giáo du nhập vào Malaysia khoảng thế kỷ thứ III TL, và đã trải qua bao cuộc thịnh suy theo dòng thời gian.

 

 

 

INDONESIA: Đại giới đàn, sự kiện trọng đại của Phật giáo Indonesia

Từ Quang

 

 

Hàng trăm Phật tử quy tụ về tu viện Vajrabodhi thuộc thành phố Bogor, để tham dự đại lễ truyền thọ giới pháp cho 150 vị tu sĩ đến từ Indonesia, Trung Quốc, và Singapore hôm chủ nhật ngày 4 tháng 12 năm 2005. Đây là sự kiện trọng đại chưa từng xảy ra đối với Phật giáo Indonesia trong 5 thế kỷ vừa qua, theo tường trình của Antara.

 

Theo Lim Njozk Tjoz, đến từ Sabang, nhận định: “Đây sự kiện trọng đại được tổ chức lần đầu tiên tại Indonesia, và là một sự kiện mang tính lịch sử đối với Phật giáo đồ, họ có dịp dâng cúng phẩm vật lên chư Tăng.” Khi Phật còn tại thế, vật dùng hằng ngày của Ngài và Tăng đoàn đều do hàng Phật tử tại gia dâng cúng. Ngài Bhadra Pala, trưởng ban tổ chức, nói: “Suốt cuộc đời đức Phật, Ngài đã ôm bình bát đi từ làng này đến làng khác để thọ nhận sự cúng dường của hàng thiện tín vì mục đích gieo rắc thiện nghiệp và thuyết giảng giáo pháp cho họ.”

 

150 vị Tân Tỳ-kheo này đã phải trải qua ba tuần thực hành những lễ nghi của người tu sĩ để chính thức dự vào hàng Tăng. Họ viếng thăm một số tu viện tại thủ đô Jakarta trước khi họ trở về bổn tự.

 

Theo Bách Khoa toàn thư, Phật giáo du nhập vào Indonesia vào khoảng thế kỷ thứ III TL. Từ đó, Phật giáo ngày càng phát triển và đã hình thành nhiều trung tâm Phật giáo lớn tại Sumatra và Java; thánh tích Borobudur còn lại đến ngày nay là một minh chứng cho sự phát triển Phật giáo tại đảo quốc này. Thế kỷ XV, khi Hồi giáo xâm nhập, Phật giáo bắt đầu suy vong. Ngày nay Phật giáo đồ chỉ chiếm khoảng 3% dân số của quốc gia Hồi giáo này.

 

Theo Jakarta Post 05.12.2005 

 

---o0o---

Nguồn: Phatviet.net

Trình bày: N.Tường

Cập nhật: 1-1-2006

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au