Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

số 19 - tháng 09 năm Ất dậu

Chuyên đề: Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

 

Mục Lục 

 

--Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu Học

--Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia  

--Các Cảnh Giới Tái Sanh  

--Thế nào là Đại Ý Phật Pháp?  

--Niệm Phật và Đức Tin  

--Tóm tắt tiểu sử mười bốn đời của đức Đạt-lai-lạt-ma  

--Tập Tục Dâng Hương  

--Chùa Thầy Giai Thoại và Triết Học  

--Hạnh Nhẫn Nhục của một Ẩn Sĩ  

--Nơi Bình Minh Yên Tịnh  

--Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử và phương pháp giáo dục  

--BAMIYAN: Dùng tia Laser để phục hồi những pho tượng bị phá hủy bởi chính quyền Taliban  

--CANADA: Thiền Định có tác dụng làm giảm đau nhức kinh niên  

--Thơ: Thiện Hữu; Ninh Giang Thu Cúc; Hạnh Phương; Huỳnh Khải Nguyên; Mặc Không Tử; Nguyễn Xuân

 ---o0o--- 

Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu Học

TT.Thích Thái Hòa
 

Tam vô lậu học là ba pháp học tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là sống đời sống không bị rơi vào sinh tử luân hồi.

Vô lậu học giới là phần thứ nhất trong ba pháp vô lậu học và nó cũng làm nền tảng cho vô lậu học định và vô lậu học tuệ.

* VÔ LẬU HỌC GIỚI: Tức là học tập và thực hành học giới, để dẫn đến đời sống vô lậu, đời sống giải thoát. Giới nói theo tiếng Phạn là Sìla, nó có khả năng phòng hộ các căn, không cho các trần cấu quấy nhiễm. Và nó cũng có khả năng phòng hộ ba nghiệp, không để cho ba nghiệp hành động một cách sai lầm dẫn đến những kết quả khổ đau. Giới ngoài ý nghĩa phòng hộ, nó còn là động cơ thúc đẩy ba nghiệp thực hành mọi thiện pháp.

Như vậy, “Sìla” hay giới được biểu hiện như là luân lý, đạo đức; và học tập giới chính là học tập đời sống đạo đức, bằng cách chuyển đổi mọi ác nghiệp thành thiện nghiệp.
Vì nghiệp (Karma) xác định sự hiện hữu của con người và chúng sanh, hay nói theo lập trường của luận Câu-xá:

“Thế biệt do nghiệp sinh

  Tư cập tư sở tác

  Tư tức thị ý nghiệp

  Sở tác thị thân ngữ”.

Nghĩa là sự sai biệt của thế gian là do nghiệp sinh khởi. Đó là Tư và điều được tác động bởi Tư. Tư tức là ý nghiệp và điều được tác động bởi Tư tức là thân và ngữ.

Nghiệp (Karma): xác định mọi sự hiện hữu sai khác của tất cả chúng sanh trong thế gian. Và mọi sự sai khác của chúng sanh trong thế gian được xác định bởi nghiệp. Nghiệp là hành vi tạo tác có cố ý và luôn luôn xảy ra trong thời gian hiện tại. Chính hành vi của con người, của chúng sanh như thế nào, thì nó sẽ khẳng định con người và chúng sanh là như thế ấy.
Chẳng hạn, hành động giết người sẽ khẳng định người ấy là kẻ giết người. Và như vậy, đó là kẻ ác. Trái lại, một hành động cứu giúp kẻ khác thoát khỏi sự chết chóc, hành động cứu giúp ấy, khẳng định kẻ kia như là một người hiền thiện.

Một hành động thiện hay ác theo Phật giáo phải có đủ bốn tiêu chuẩn. Hành động ấy, gây nên hạnh phúc cho mình và kẻ khác trong hiện tại và trong tương lai. Và hành động ác thì ngược lại, nghĩa là gây thiệt hại cho mình và kẻ khác không những trong hiện tại mà ngay cả trong tương lai nữa.

Hành động thiện, chính là  điều kiện dẫn đến niềm vui và an lạc. Nhưng, niềm vui và sự an lạc nào chỉ có trong thoáng chốc, và sau đó là những cảm giác khó chịu, sầu muộn và khổ đau, thì đó không phải là chơn thiện, không phải là chơn hạnh phúc, an lạc. Trái lại, niềm vui và sự an lạc nào do hành động thiện đem lại, thời gian dễ chịu, êm ái càng kéo dài bao nhiêu, thì giá trị của hành động thiện được đánh giá bằng những mức độ cao bấy nhiêu. Lại nữa, cảm giác hạnh phúc và an lạc liên tục kéo dài cho đến vô tận, nghĩa là không bao giờ chấm dứt, thì sự an lạc hạnh phúc ấy, gọi là hạnh phúc an lạc của Niết-bàn, và chỉ có Niết-bàn mới gọi là điều thiện tối thắng.
Hành động để dẫn đến sự an lạc tối thắng của Niết-Bàn, hay là điều thiện tối thắng, hành động ấy gọi là Chánh nghiệp.

Như vậy, Sìla hay Giới có khả năng phòng hộ ác nghiệp và làm cho ba nghiệp trở nên thanh tịnh. Điều này đã được luật Tứ Phần nói rất rõ trong phần tóm lược các Giới kinh của chư Phật, có bài kệ như sau:

“Thiện hộ ư khẩu ngôn

 Tự tịnh kỳ chí ý

 Thân mạc tác chư ác

  Thử tam nghiệp đạo tịnh

 Năng đắc như thị hành

  Thị Đại Tiên Nhân Đạo”.

Nghĩa là:

“Khéo phòng hộ lời nói

 Tâm chí tự lắng trong

 Thân không làm các ác

 Ba nghiệp đạo này tịnh

 Thực hành được như thế

 Là Đạo Đấng Đại Tiên”.

Đây là Giới kinh mà đức Phật Thích-ca đã giảng dạy cho chúng Tỳ-kheo trong mười hai năm đầu.
Ba nghiệp thanh tịnh là do sự hành trì thanh tịnh giới. Nếu không có giới, thì ba nghiệp không biết dựa vào đâu để có được sự thanh tịnh.

Theo luận Câu Xá, nghiệp (Karma) tạo nên sự đa dạng và sai thù của chúng sanh trong thế gian về quả báo thiện và ác, thì Sìla hay Giới là để phòng hộ mọi ác nghiệp ở nơi thân, ngữ và ý. Đồng thời cũng là năng lực thúc đẩy mọi hoạt động của thân, ngữ, ý phù hợp với thiện vô lậu, tức là Niết-bàn.

Như vậy, Giới dẫn dắt hành động của thân, ngữ và ý đến chỗ hợp lý. Chỗ hợp lý ấy chính là Niết-bàn.

Thế nên, trong Bát Chánh Đạo thì Chánh nghiệp được xem như là Giới và Giới là Chánh nghiệp. Chánh ngữ và Chánh mạng cũng vậy. Nghĩa là ở trong Tam vô lậu học thì chúng thuộc về Giới vô lậu học.
Vì một người hành trì thanh tịnh giới không thể nào có một đời sống tà nghiệp, tà ngữ và tà mạng.
Do đó, ba thành phần trong tám yếu tố của Thánh đạo đã nêu ra ở trên được xem như là Vô lậu học giới.

* VÔ LẬU HỌC ĐỊNH: Tức là học tập và thực hành thiền định dẫn đến đời sống giải thoát, không còn bị vướng mắc ở trong sinh tử luân hồi.
Thực tập thiền định vô lậu, tức là làm cho thân tâm đình
chỉ mọi khát ái, hay nói cách khác mọi khát ái đang khô dần ở trong tâm hồn của người đang thực hành thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì ba yếu tố Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định được xem như là Vô lậu học định.

* VÔ LẬU HỌC TUỆ: Tức là trí tuệ vô lậu, trí tuệ vô lậu là con đường dẫn thoát khổ đau và sinh tử, con đường đưa đến giác ngộ.
Trí tuệ vô lậu này phát sinh không phải do sự suy luận hay học hỏi mà chính do sự hành trì thanh tịnh giới vô lậu và thiền định vô lậu.

Ở trong Bát Chánh Đạo, thì Chánh tư duy và Chánh kiến được xem như là Vô lậu học tuệ.
Bát Chánh Đạo phối hợp với Tam vô lậu học như vậy, ta có thấy ở trong kinh Cùlavedalla (Hữu Minh Tiểu Kinh) và Giải Thoát Đạo Luận của Ưu Ba Đề Sa.
Tuy nhiên, sự phối hợp như vậy, chúng chỉ có giá trị ở mặt tương đối. Còn đối với mặt tuyệt đối thì chúng không phải nhất định là như vậy.

Và chính ở trong giới có định và trong định có giới, trong tuệ có giới và trong giới có tuệ; trong giới có định có tuệ; trong định có tuệ có giới và trong tuệ có giới có định…
Nhìn một cách sâu sắc và tế nhị thì lằn mức giữa Giới, Định, Tuệ thật khó phân định. Vì trong đời sống tu tập để hướng đến giải thoát và Niết-bàn, ba yếu tố ấy không thể nào tách biệt khỏi nhau; chúng là thế chân vạc, nếu thiếu một thì hai cái kia không thể có mặt.
Bởi vậy, sự phân định lằn mức giữa Giới, Định và Tuệ chỉ có một giá trị tương đối, thì sự phối định Bát Chánh Đạo vào trong Giới, Định, Tuệ không phải là sự phối định tuyệt đối.

Vì sao? Vì Chánh tinh tấn không phải chỉ có mặt nhất định ở trong Vô lậu học định mà nó cũng có thể có mặt ở trong Vô lậu học giới cũng như ở trong Vô lậu học tuệ nữa.
Vì, nếu hành trì giới mà thiếu Chánh tinh tấn thì khả năng phòng hộ của giới không kiên quyết, bờ đê phòng hộ của giới có thể bị các trần tướng xói mòn và đâm thủng. Vì vậy mà có những trường hợp phạm giới và hủy giới.

Và, nếu thực hành Chánh tư duy hoặc Chánh kiến mà không nỗ lực thường xuyên, thì chắc chắn sự tư duy sẽ không thấu đáo và sự hiểu biết cũng không thể nào quán triệt.
Do đó, ở trong lĩnh vực Tuệ vô lậu học cũng không thể vắng mặt Chánh tinh tấn.
 Như vậy, Chánh tinh tấn không những chỉ có mặt ở Định mà còn luôn luôn có mặt ở Giới và Tuệ nữa.

Nói gọn lại, Bát Chánh Đạo đối với Tam vô lậu học, cả hai đều tương dung tương nhiếp với nhau. Tam vô lậu học có mặt ở trong Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo có mặt ở trong Tam vô lậu học, hoặc Bát Chánh Đạo là hình thức khai triển của Tam vô lậu học và Tam vô lậu học là cái lõi thu hẹp của Bát Chánh Đạo.

Do đó, nhìn từ khía cạnh thực hành và cốt lõi thì Bát Chánh Đạo là Giới, Định, Tuệ và Giới, Định, Tuệ là Bát Chánh Đạo. Nên, bất cứ ai thực tập được Giới, Định, Tuệ thì người ấy thành tựu được Bát Chánh Đạo và cũng chính là  thành tựu Giới, Định và Tuệ.
Kết luận phần này cho chúng ta thấy, Bát Chánh Đạo hay Tam vô lậu học đều có chung mục đích phòng hộ mọi ác nghiệp của thân, ngữ và ý. Và mỗi khi thiện vô lậu đã được phát khởi thì đó là thiện Niết-bàn đã bắt đầu có mặt.

Thiện của Niết-bàn có mặt là kết quả do thực hành Giới, Định, Tuệ hay thực hành Bát Chánh Đạo.

Vậy, trên hình thức thì Bát Chánh Đạo và Giới, Định, Tuệ xem như là hai, nhưng thực chất của nội dung và mục đích thì cả hai chỉ là một.

Thế nên Bát Chánh Đạo đối với Giới, Định, Tuệ là một. Và chúng là con đường đưa đến Niết-Bàn tối thượng.
 

 

Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia

Tâm Minh  

Kính thưa quí vị, 

Tuổi tr, đến vi đạo Pht vi nhiu b ng như người lc vào khu rng đầy hoa thơm cỏ l nhưng lại khó tìm li ra. Tiết mc “Tui tr vi Pht pháp” đến vi các bn tr, đặc bit là nhng bn tr Pht t VN hi ngoi, trưởng thành ti mt nơi mà tiếng m đẻ không được dùng trong sinh hot hng ngày, để giúp nói đến nhng vic rt bình thường nhưng có thể “khó” vi h.  

Ngoài ra, “Tuổi tr vi Pht pháp” s giúp chúng ta cùng tìm hiu và thc hành Pht pháp, hu đạt được an lc, hnh phúc và thnh thơi ngay trong cuộc sng trước mt cho bn thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mi quý vị và các bn tr cùng theo dõi câu chuyn hôm nay vi tiêu đề “Bn phn người Pht t ti gia” vi các bn tr A,B,C. 

A: Xin chào các bạn! Người Pht t là người con Pht, đi theo con đường ca đức Pht, hc sng theo giáo lý ca Ngài, nhưng tại sao li gi là “người Pht t ti gia” h?

C: Gọi như vậy để phân bit vi người Pht t xut gia là quí vị Sa-di, Sa-di-ni, T-kheo, T-kheo-ni, v.v… sng chùa, “ly gia cát ái” nghĩa là thoát ly khi s ràng buc ca tình cm gia đình đó.

A: Người Pht t ti gia có phi còn được gi là Ưu-bà-tắc (nam) và Ưu-bà-di (nữ) hay “cn s nam”, “cn s n” hay “thin nam”, “tín n” na phi không?

B: Đúng rồi, nói tóm li, là Pht t chúng ta có “4 Chúng đồng tu” là T-kheo, T-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.

A: Vậy thì các bn hãy cho biết bn phn ca nhng người Pht t ti gia (PTTG) là gì ngay đi!

C: Bổn phn chính ca người PTTG là sng đúng với Pht pháp, truyn bá Pht pháp đến mi người để mi người được an lc.

B: Như vậy vn đề là trước hết, người PTTG phi biết áp dng Pht pháp vào đời sng hng ngày để t mình có s an lc, ri mi đem an lạc cho người khác được, có phi không?

A: Phải ri! Làm sao để gi là sng đúng theo Phật pháp và có an lc?

B: Trong Phẩm “Tnh hnh” ca kinh Hoa Nghiêm, ngài Văn Thù có trả li cho Pht t ti gia, nhng v B-tát nhà, sng như thế nào gi là sng đúng theo Phật pháp (sách do thy Hng Trường Vit dch và ging).

C: Có phải ngài Văn Thù dạy ta nhìn mi s vt, hin tượng trong cuc đời này bng cp mt trí tuệ, hướng v chân lý ch đừng nhìn vi cái tâm hp hòi, c chp...?

B: Đúng rồi! Ngài có đưa ra hơn 10 lời dy cho người PPTG s dng để sng đúng tinh thần Pht pháp trong nhng hoàn cnh sinh hot bình thường gia đình.

A: Thật là hay quá, bn hãy cho biết nhng li dy y đi!

B: Bài học th nht là Ngài dy: gia đình, người PTTG phi nhường nhn (không tranh giành), phi bao dung vi mi người, nói năng nhỏ nh, phi biết lng nghe, chuyn qua ri đừng có nhc li, đừng trách móc; tránh bàn lun chuyện đúng sai, hay dở ca các thành viên trong gia đình; nên chia sẻ chân lý, truyn đạt nhng gì mình hc được trong Pht pháp để mi người biết làm nhng điều thin lành tránh điều hung ác.

C: Có phải bài k thường nhc nh chúng ta mà hôm trước bn đã nhắc đến hay không?

Bồ-tát ở nhà

Nguyện rằng chúng sanh

Biết nhà tánh Không

Tránh mọi bức bách.  

A: Tôi nhớ ra ri! Nghĩa là mình yêu mến gia đình nhưng đừng quá tham luyến, quá khn trương để sinh ra đủ th stress - là “bc bách” - phi không?

B: Phải rồi, các bn đã nhớ đúng rồi đó. Còn đối vi cha m thì hiếu tho, chăm sóc nhưng cũng phi biết rng đức Pht đã dạy: “Tt c chúng sanh đều là cha m ca chúng ta trong by kiếp”; ý nói là thương yêu thờ phng cha m là hiếu, nhưng phải t lòng hiếu đó lan rộng ra đến mi người ch không phi ch biết chăm lo cho cha mẹ mình mà xúc phm đến cha m người khác, hay vì lòng hiếu mà làm nhng chuyn sai trái ti li v.v... thì đó lại là bt hiếu. Ngoài ra, phi biết cha m cn mình nht là nhng lúc già yếu, bệnh tt, tuyt vng; hãy gn gũi h, lng nghe h và chia s kinh nghim tu hc vi h. Các bn còn nh bài k này ch?

C: Ừ, nh! Bài k nhc nh chúng ta là:

Hiếu thảo cha mẹ,

Nguyện rằng chúng sanh

Khéo phụng sự Phật,

Chăm sóc hết thảy! 

A: Tôi cũng nh bài k nói v gia đình nhỏ gm v con nhưng hai câu cuối chưa được thông sut, các bn hãy ging nghĩa giùm nha:

Vợ con sum vầy,

Nguyện rằng chúng sanh

Oán thân bình đẳng

Vĩnh ly tham trước.  

B: Đức Pht dy: “Phi có duyên n vi nhau trong nhiều đời nhiu kiếp mi thành v chng”, vì vy phi thương yêu giúp đỡ chia s hnh phúc hay đau khổ vi nhau cho đúng đạo lý. Mt khác, đừng yêu đương tham đắm quá mà sinh ra ích k, ri t đó nghi kỵ, hiu lm, ghen tuông, ly d v.v... kéo theo liền! Phi tp sng theo “trung đạo”-không tht cht quá, không th lng quá-thì tình v chng, con cái mi bn vng và dành cho nhau s t do đúng mức. Đóng là ý nghĩa my ch “vĩnh ly tham trước” và “bình đẳng” đối vi k oán, người thân trong hai câu cui. Thế còn v “ngũ dc tht tình”, các bn có còn nh bài k nhc nh chúng ta như thế nào không?

A: Đó là:

Được hưởng ngũ dục,

Nguyện rằng chúng sanh

Nhổ mũi tên dục,

Cứu cánh yên ổn.

Nhưng tôi chưa nhớ ra ngũ dc là gì? Và ti sao gọi là “mũi tên dc”?

B: Ngũ dc là năm “đối tượng” (object) ca dc vng: tin tài vt cht, sc đẹp, danh vng, ăn uống hưởng th, ng ngh (tài, sc, danh, thc, thùy). Đặc tính ca ngũ dc là khiến người ta nghin ngp chìm đắm-các bn đừng tưởng chỉ có rượu hay thuc phin mi làm người ta nghin đâu nha-ngay cả danh vng, địa v, sc đẹp cũng làm người ta say đắm và nhn chìm người ta được (“sc bt ba đào dị nch nhân” - có nghĩa là “sc đẹp không có sóng nhưng nhận chìm người ta d dàng”) đó!

C: Bạn nói đúng quá! Ai đã nếm mùi ngũ dc thì tht khó mà buông x. Cho dù bn mun tránh né, nó cũng vn còn gc r nm sâu trong đáy lòng, phải không? Hèn gì đức Pht nói “ngũ dc là gc r ca địa ngc đọa lc” - ging như mũi tên độc đã ngấm vào da tht, khó nh cho ra và dù nh ra được thì đau đớn biết bao nhiêu và cht độc đã ngấm vào cơ thể ri!

A: Như vậy thì nguy ri! Cuc sng ca người PTTG luôn có ngũ dc vây quanh, làm sao mà tránh đây các bạn?

B: Thì mình phải gi mình bng cách “tiết chế” nhng ham mun (to bound your desire, to limit) ch biếr có làm sao hơn! Mình thực hành các hnh sau đây: biết đủ (tri túc), tch tĩnh, đạm bc, buông x,  mun ít.

C: Tôi nghe quý thầy ging rng mun tránh ngũ dc mình phi suy nghĩ như thế này: làm giàu để làm gì? Chết có đem theo được không? (để đối tr vi “tài”)

Sắc đẹp làm mê đắm lòng người, có th dn đến ti ác, phm gii v.v... có đáng cho mình hy sinh mọi th để chy theo “sc” hay không?

Danh là thật hay là gi, là hình hay bóng? Chy theo có phí thi gian không? (Tnh gic mng ni kê chưa chín”)

Thực (ăn): bệnh là do ming mà vào, tham thc cc thân, ăn vào dễ, nh ra khó.

Ngủ ngh (thùy): hưởng th sướng thân, sinh biếng nhác, ham vui, phóng dt; đến lúc git mình thì thi gian không còn na, cái chết đến gn... có phi mt đời hi hn không?

A: Thế còn đi xem văn nghệ, ca nhc v.v... có phi là “ngũ dc” không?

C: Cũng có bài k nói v ca nhc t hp đó nha:

Ca nhạc tụ họp

Nguyện rằng chúng sanh

Vui với chân lý

Biết nhạc là giả. 

B: Ca nhạc, thơ văn, hội ha v.v... nói chung là văn nghệ có tác dng nuôi dưỡng tinh thn, tâm hn con người, đặc bit âm nhc có sc mnh thay đổi trng thái tâm hn ca người nghe. V đẹp, cái hay, cái k diu ca nhc và thơ, không chỉ loài người mi có, mà cõi trời cũng có nhc na đấy (nhc tri) và tiếng chim hót, tiếng sui reo, thông reo v.v... không phi cũng là nhng khúc nhc làm êm du tâm hn ta hay sao? Tuy nhiên, âm nhc có thể cu người mà cũng có th hi người; cái chính là chúng ta luôn tnh giác để biết rng tìm vui trong ca nhc ch là tm b, nim vui chân chính, cu cánh ca an lc phi là tìm vui nơi Chánh pháp, nơi chân lý.

C: Niềm vui nơi chân lý có phải là vui vi Pháp, vi s chm dt ca vng tưởng, s dng li ca mi ham mun tham đắm hay không?

B: Phải đó!

A: Các bạn có mun nghe câu chuyn v “Bài ca vô thanh” mà đức Pht đã kể mt cõi tri không?

C: Muốn ch, bn hãy k đi!

A: Có một v B-tát được mi lên mt cung Tri thuyết pháp. Ngài yên lng nhp định, chun b ging kinh. Các Thiên n tán hoa, múa hát, nhc Tri tri lên ai nghe cũng thy tâm thn nh nhõm và hoàn toàn b cun hút vào. Sau khi v B-tát thuyết pháp xong, vua Trời Đế Thích hi: “Thưa Ngài, Ngài là bậc đã du hành vô số cõi Tri, đã nghe vô số âm nhc, phi chăng âm nhạc ca chúng tôi đây là hay nhất?” V B-tát chp tay đáp rằng: “Tht h thn, xin Ngài th li, theo thin kiến, chng âm nhc nào xut sc bằng bn nhc ca s im lng tuyt đối, chng có bài hát nào du dương bằng âm điệu ca chân lý, ca Pháp!” Vua Tri bng nhiên tnh thc, hc tp lng nghe bài ca vô thanh.

B: Trên đây là những nhc nh chúng ta, nhng người PTTG v nhng sinh hot bình thường, làm sao để được an lc và làm cho mi người thân quanh mình được an lc. Ngoài ra, v x thế, chúng ta còn được dy v “cách cho”, tc là b thí na:

Cho ai vật gì

Nguyện rằng chúng sanh

Cho được mọi thứ

Lòng chẳng ái trước.  

Nghĩa là đã cho thì nên thật lòng cho, không hi tiếc, không tính toán hay mong cu được tr công; vì “cho” là thành khn mun làm vui lòng người, không phi là trao đổi, mua chuc, nnh b v.v... Cho-hay b thí chính là phương pháp mở rng lòng t bi, đối tr bnh ích k, hà tiện, keo kit, tham lam v.v... Các bn còn gì b sung không?

C: Tôi còn nhớ ngài Văn Thù còn dạy bài k này cho người PTTG:

Nếu bị ách nạn

Nguyện rằng chúng sanh

Tùy ý tự tại

Việc làm vô ngại! 

Tôi có một thc mc là ti sao khi b ách nn tc là mình hoàn toàn bị động mà sao mình li nguyn cho người khác được “t ti”, “vô ngi” được h các bn?

B: Bạn thc mc đúng lắm! Gp tai nn, b áp bc, khng chế, ép buc, oan c v.v... là nhng điều đâu có ai muốn xy ra cho mình, tt nhiên là mình trong hoàn cảnh b động và bt lc ri, thế nhưng mình vẫn có th “ch động” trong cách tư duy (suy nghĩ, phn tnh) để không đi đến tình trng khng hong, tuyt vng, than thân trách phn, oán tri trách đất hay làm nhng vic điên rồ để ri hi hn c đời như tự t hay giết người hay nuôi thù oán hàng chc năm v.v...

A: Tôi hiểu ri! Nghĩa là khi gp ách nn, oan c, mình nghĩ rng đây là nghiệp nhân quá kh ca mình đã “chín” thành quả ri-mình đã từng gây nhân hng hách, hiếp đáp người, gây khó khăn cho người, nói oan cho người, nên nay mình gt qu b mt t do, t ti, t ch. Bây gi mình phi gây nhân lành gieo ht ging thin, t bi h x để có th gt qu “tai qua nn khi ách nn tiêu tr” phi không các bn?

C: Phải ri! Có còn gì na không, các bn?

B: Còn chứ! Va ri, chúng ta ch mi nói v bn phn đối vi bn thân mà chưa nói tới vic h trì Tam bo.

A: Phải ri, Pht có dy Chúng xut gia thì tr trì ngôi nhà Pht giáo, còn hàng Pht t ti gia phi h trì (protect, sponsor) Tam bo đó nha!

C: Cho một ví d c th đi! Tôi thường nghe Tam bo h trì mình, bo v mình ch đâu có nghe mình mà bảo v và h trì (sponsor) cho Tam bo đâu anh!

B: Tam bảo h trì mình là h trì v tâm linh, v kinh điển, v Pht pháp; còn mình h trì Tam bo là v vt chất, v phương tiện và chng li “thú d” gia cuc đời làm hi chư Tăng, Ni… Tại bn không nh đó thôi! Hồi Pháp nn 1963, các chùa trên toàn quc min Nam Vit Nam b lính tn công vào đánh đập chư Tăng Ni và Phật t, hi đó Phật t chùa nào t hp v chùa đó để bo v chư Tăng, Ni... Người Pht t, bao gm GÐPT ca anh ch em chúng ta, cũng có mt vi quý Thy, quý Sư cô của mình trong cơn biến động đó. Hằng ngàn hàng vn Tăng Ni, Phật t đã bị bt b giam cm, có v đã tự thiêu để cu nguyn, có v b chết vì súng đạn đàn áp hay chết trong tù…

C: Hồi nãy chúng ta mi nói đến các pháp tu, nhưng chưa nói hết, ch mi nói đến B thí, tc là thc hành hnh T Bi, các bn nh không?

B: Nhớ ch, thc hành B thí là thc hành mt trong bốn nhiếp s (Four Assistant Methods): B thí (Donation_ donation of Goods, of Dharma, of Encouragement), Ái ng (Friendly Speech), Li hành (Benificial Actions), Ðng s (Collaboration) - Nhng điều này chúng ta đã biết ri.

A: Chúng ta cũng cn nhc nhau rng chúng ta không nhng ch biết h trì Tam bo lúc Chùa gp nguy him mà ngày thường cũng vy, không nhng chúng ta h trì bo v chư Tăng Ni mà chúng ta còn quan tâm những vic như xây cất tu b chùa, vic ăn ở ca chư Tăng Ni, việc t chc tu hc cho Pht t, vic chi phí cho các đại l Pht Ðn, Vu Lan, Tết Nguyên đán v.v… cũng cn có tài chánh. Chúng ta cũng phi quan tâm đóng góp phần mình; bi vì nếu không có Chùa, chúng ta làm sao “làm quen” vi Tam bo được, phi không?

C: Phải ri, nhưng đó là việc ca Ban h trì Tam bo các Chùa phi không?

B: Đúng vậy; nhưng có nhiều Chùa nh, ít chư Tăng, ít Thiện nam Tín n thì quý Thy phi t túc, nếu biết được, chúng ta cũng phi có bn phn quan tâm h trì Tam bo nhng nơi đó.

A: OK. Vậy cũng tm đủ ri. Nếu PTTG chúng ta làm được nhng điều như chúng ta vừa hc tp và tho lun trên đây thì cũng đủ đem lại hnh phúc, an lc cho bn thân, cho gia đình và cho mọi người quanh ta. Đóng là cách hong dương Phật pháp mt cách hữu hiu nht, phi không các bn? 

C: Phải ri, vy bài hc hôm nay tm đủ, xin tm bit nha!

A và B: Tạm bit! Tm bit!

 

 

Các Cảnh Giới Tái Sanh

Thích Nguyên Liên 

 

2. Thiên đạo. 

a. Định nghĩa. 

Thiên đạo là no tri, ch thiên có nghĩa là thiên nhiên, t nhiên. Đây là chỉ cho các chúng sanh các cõi tri do tu thượng phm thp thin và các thin định, nên hưởng phước thiên nhiên, s ăn mặc th dng đều tùy nim hóa hin. Li ch thiên đây còn có bốn nghĩa n: ti thng, ti thiên, ti lc, ti tôn. 

Sáu hạng cõi tri dc gii đều có hình tướng nam n, dc nhim tùy theo cao thp mà có nng nh. Mười tám hng tri cõi sc, không hình tướng nam n, không có sự dc nhim, dùng thin định để trưởng dưỡng sc thân. Còn bn hng tri cõi vô sc, ch có tâm thc, vì là báo th ca cõi không định. 

Riêng chúng sanh trong sáu cõi, chỉ có chư thiên là có ánh sáng rõ rệt, như chư thiên ở dc gii do tu b thí trì giới, nhn nhc, thanh tnh nên thân thường có ánh sáng rc r. Chư thiên cõi sắc do ly dc tu thin định, nên nơi thân phát ra ánh sáng nhiệm mu, hơn cả ánh nht nguyt và quang minh ca thiên chúng cõi dc. Ánh sáng đây là do tâm thanh tịnh mà có. 

b. Thân tướng và th lượng: 

Dc gii, chư thiên trời T Vương thân lượng cao na dm, áo nng na lượng. Chư thiên trời D Ma cao mt dm rưỡi, áo nng ba thù. Chư thiên trời Đâu Suất cao hai dm, áo nng hai thù. Chư thiên trời Hóa Lc cao hai dm rưỡi, áo nng mt thù. Chư thiên trời Tha Hóa cao ba dm, áo nng na thù. 

Sc gii, chư thiên trời Phm Chúng thân cao na do tun, chư thiên trời Phm Ph thân cao mt do tun, tri Đại Phm cao mt do tun rưỡi, tri Thiu Quang cao hai do tun, tri Vô Lượng Quang cao bn do tun, tri Quang Âm cao tám do tun, tri Thiu Tnh cao 16 do tun, tri Vô Lượng Tnh cao 32 do tun, tri Biến Tnh cao 64 do tun, tri Vô Vân cao 125 do tun, tri Phước Sanh cao 250 do tun, tri Qung Qu cao 500 do tun, tri Vô Phin cao 1000 do tun, tri Vô Nhit cao 2000 do tun, tri Thin Kiến cao 4000 do tun, tri Thin Hin cao 8000 do tun, tri Sc Cu Cánh cao 16000 do tun. 

Chư thiên cõi Sắc tuy không mc y phc, song cũng như có mặc; tuy không đội mũ thiên quan, song như có đội, vì do thân quang chiếu hin. Chư thiên ở Vô sc gii chđịnh qu sc, nên không có thân lượng. 

Thọ lượng chúng sanh thiên thú cũng có hơn kém tùy theo mỗi tng tri. Như về Dc gii tri T thiên vương thọ 500 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 50 năm cõi người. Tri Đao Lợi th1000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 100 năm cõi người. Tri D Ma th 2000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 200 năm cõi người. Tri Đâu Suất th 4000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 400 năm cõi người. Tri Hóa Lạc th 8000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 800 năm cõi người. Tri Tha Hóa T Ti th 16000 tui, mt ngày đêm nơi đây bằng 1600 năm cõi người. 

Thọ mng ca chư thiên cõi Sắc thì ly kiếp làm lượng. Như Sơ thiền, tri Phm Chúng th na trung kiếp, trời Phm Ph th mt trung kiếp, tri Đại Phm th mt trung kiếp rưỡi. V Nh thin, tri Thiu Quang th hai đại kiếp, tri Vô Lượng Quang th bn đại kiếp, tri Quang Âm th tám đại kiếp. V Tam thin, tri Thiu Tnh th 16 đại kiếp, tri Vô Lượng Tnh th 32 đại kiếp, tri Biến Tnh th 64 đại kiếp. V T thin, tri Vô Vân th 125 đại kiếp, c như thế tăng gấp đôi cho đến tri Sc Cu Cánh th 16000 đại kiếp. Trong đây trừ tri Vô Tưởng Thiên th lượng đồng vi Qung Qu Thiên. Vô sc gii, trời Không Vô Biên th 20.000 đại kiếp, c như tăng gấp đôi cho đến tri Phi Phi Tưởng th 80.000 đại kiếp. 

c. Cảnh gii th dng 

Về kh lc th dng, chúng sanh cnh gii này kh ít vui nhiu. Chư thiên ở cõi Dc th dng nhiu phn vui, có ít phn kh v s suy não đọa lc. Chư thiên ở cõi Sc gii t Sơ thiền đến Tam thin ly định cnh làm vui, s vui cùng cc duy cõi tam thin. T T thin cho đến chư thiên cõi vô sắc thì không có kh lc th. 

Về m thc th dng, chư thiên ở cõi Dc th dng nhng trân v như cam lồ, tô đà. Tuy nhiên, tùy theo phước báu ca mi v sai khác mà có v th dng đầy đủ có v th dng không đầy đủ, đồng thi mùi v ca thc ăn có sự hơn kém. Chư thiên ở cõi Sc gii th phn tư thực, dùng s vui thin định để nuôi sc thân. Còn chư thiên ở cõi vô sc thì ch có thc thc. 

Về dc nhim th dng, chúng sanh cnh thiên đạo, ch có chư thiên ở dc gii là có s hành dâm, còn chư thiên ở cõi sc và vô sc gii đều tu phm hnh, không có dc nhim th dng. Thiên chúng Dc gii khi gn gũi vi nhau không có chy ra cht bt tnh, ch nơi căn môn có hơi gió nhẹ thi ra, dc nim lin tiêu. Tri T Thiên vương và Đao Lợi có s giao cm cũng như loài người. Tri Dạ Ma nam nữ ch ôm nhau là đã thỏa mãn dâm dc. Tri Đâu Suất hai bên nm tay nhau dc nim lin tiêu. Tri Hoá Lc hai bên nam n ch chăm nhìn nhau cười là dc s đầy đủ. Tri Tha Hoá chư thiên chỉ liếc mt nhau là đã xong dục s. 

d. Nghiệp nhân tái sanh và biểu hin lâm chung: 

d1. Nghiệp nhân tái sanh. 

Người nào hin đời thành tu năm việc, khi chết được tái sanh lên cõi tri.

- Giữ hnh t bi, không giết hi loài hu tình, thường phóng sanh nuôi dưỡng, ái m vt mng, khiến cho chúng được yên n.

- Giữ hnh hin lương không tham lam, không trộm cướp tài vt ca người khác, b thí giúp đỡ k nghèo nàn khn kh.

- Giữ hnh trinh tiết không ngoi tình, tinh tn phng trì trai gii.

- Giữ hnh thành tín không di người, tránh bn điều vng ng (nói di, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói li vô ích).

- Không say mê rượi chè c bc, khéo gi tâm trí sáng sut xa lìa nhim duyên.

Người nào tu năm điều trên cng vi chng đắc mt trong bn thin định (t thin) s tái sanh v mt trong các cnh tri thuc Sc gii, hoặc người chng đắc mt trong bn không định (t không) s tái sanh v mt trong các cnh tri thuc Vô sc gii. 

d2. Biểu hin lâm chung. 

Nếu ai lâm chung được tái sanh v cnh tri s có nhng biu hin sau.

- Sanh lòng thương xót.

- Phát khởi tâm lành.

- Lòng thường vui v.

- Chánh niệm rõ ràng.

- Đối vi ca ci, v con lòng không lưu luyến.

- Đôi mắt có v sáng sch.

- Không có những s hôi hám.

- Ngửa mt lên và mm cười, hoc mt thy thiên đồng, tai nghe thiên nhc.

- Sống mũi không xiên vẹo.

- Lòng không giận gi. 

Chư thiên khi sắp mng chung có năm tướng tiu suy: Y phc và đồ trang nghiêm như vòng xuyến, chui anh lc, kêu vang ra tiếng không được thanh tao êm du. Ánh sáng nơi thân hốt nhiên m yếu. Khi tm gi các git nước dính đọng nơi mình. Tánh tình thường thung dung phóng khoáng, nay b tr li mt cnh. Mt luôn luôn máy đọng, không được trong lng như mọi khi. 

Kế đó lại có năm tướng đại suy: Y phc dính bi. Vòng hoa trên đầu rũ héo. Hai nách chy m hôi. Thân có mùi hôi bay ra. Không ưa chỗ ngi ca mình. Lúc năm tướng này hin ra, quyết định s mng chung. 

e.Tiến trình thác sanh: 

Chúng hữu tình châu Nam Thin B, khi lâm chung sp sanh lên cõi tri, trước tiên thy mt di la trng tế nhuyn rũ xung như muốn rt, li trông thy các tướng vườn cây, ao hoa chư thiên múa hát. Lúc đó dù quyến thuc có than khóc kêu gi, nhưng bởi phước nghip, k y cũng không hay biết; ch ngi thy mùi thơm, nghe tiếng âm nhc, trong lòng vui v không còn nh nghĩ gì hết, lin được mng chung. 

Chúng hữu tình châu Đông Thắng Thn, khi lâm chung sp sanh lên cõi tri, t thy cung điện nghiêm đẹp, xung quanh có thiên t, thiên n đang vui vẻ nhàn du. Lúc đó trong lòng sanh hoan hỷ, t có cm giác như người mi thc dy. By gi liền được th sanh. 

Chúng hữu tình châu Tây Ngưu Hóa khi lâm chung sắp sanh lên cõi tri, trước tiên thy nước chy xao xuyến trong ao đầm mi. Lúc đó thần thc nương theo ngọn nước trôi qua đến b bên kia. Kế đó lại thy các thiên n xinh đẹp, t thy mình chạy đến mà ôm. Khi y chính là lúc hóa sanh. 

Chúng hữu tình châu Bc Câu Lô, khi sanh lên cõi tri có nhiu tướng trng. Nếu là người phước bc h, thì khi lâm chung mũi ngi mùi thơm lạ, mt thy hoa quý đẹp, trong lòng ưa thích muốn leo lên cây cao. Đang khi leo cây chính là lúc trung ấm bay lên núi Tu Di. Khi đến nơi liền thy thế gii ca chư thiên, cung điện vườn hoa tt c đều trang nghiêm xinh đẹp. Lúc y tùy theo nhân duyên k đáng làm cha mẹ mà hóa sanh. 

Như kẻ phước đức bc trung thì khi lâm chung thy có by ong vn vũ xung quanh mt hoa sen trong h, t mình bước lên hoa sen y bay đến thiên cung. Lúc y tùy nơi nhân duyên của k đáng làm cha mẹ mà hóa sanh. Còn người phước đức bc thượng, thì khi lâm chung thy cung điện tt đẹp trang nghiêm, thân trung hu nương nơi cung điện y mà bay lên hóa sanh nơi thiên giới. 

Lưu ý: Biểu hin lâm chung ca sáu cnh gii k trên, không phi con người khi sp chết đều biu hin đầy đủ, mà đôi lúc chỉ có nhng điểm thiết yếu. Lại chúng ta cn phân bit, ví như hai cảnh gii nhân đạo và thiên đạo thì tâm hn h đều trong sch, nhưng một bên ch nghĩ đến thiên cung xao lãng vic đời, mt bên thì thương nhớ bà con căn dặn vic nhà. Còn hai cnh ng quđịa ngc thì tâm hn h đều mê man, nhưng một bên thì sanh tâm nóng ny mt hết s t hòa, mt bên thì biu hin tham lam hay nói đến chuyn ăn uống. Đến như loài bàng sanh thì thân thể tháo m hôi, tiếng nói khàn nght nhưng còn luyến tiếc bà con… đó là những điểm d bit trong sáu cnh gii để chúng ta xác định rõ tng cnh gii tái sanh. 

Lại có đôi người đến khi chết tâm hn tr thành vô ký (không biu hin lành hay d như thế nào). Hng người này mun d đoán họ s tái sanh v cnh gii nào, chúng ta ch xác định da theo hơi nóng nơi nào trên thân thể sau cùng, mi có th quyết đoán được.

 

III. Ba yếu t quyết định thành tu mt cnh gii. 

Xưa nay có một s người quan nim rng, con người chúng ta khi tâm thanh tnh chính là đang sống trong cnh gii Tnh độ; khi tâm đang tham lam, sân hận là h đang sống trong cnh gii Ng qu, hoc khi tâm đang ngu si, mê mờ đang sống trong cnh gii địa ngc… ch không có cnh gii Tnh độ, cnh gii Ng qu hay cnh gii Địa ngc nào khác. Quan nim v cnh gii như thế là hết sc sai lm, hoàn toàn không chính xác, đôi khi dẫn đến nhiu s ng nhn khiến gây tác hi cho người tin theo không nh. Vi nhng biu hin ca tâm con người như thế, chúng ta ch có th nói đó là những người đang tạo nghip nhân Tnh độ, nghiệp nhân Ng qu hay nghip nhân địa ngc mà thôi.

Chung quy, cảnh gii mà mi khi chúng sanh th dng phi đầy đủ ba yếu t sau, mi có th thành tu. 

1. Vũ tr quan. 

Là xác định v trí địa lý ca mi cnh gii, như cảnh Tây phương Tịnh độ là cõi cc k trang nghiêm nm phía Tây cõi Ta bà, cnh bàng sanh bàn bc khp người và ng qu, địa ngc là cnh gii thun kh đau, vị trí ngoài mé núi Thiết vi. 

2. Nhân sanh quan. 

Là xác định thân tướng sai bit ca mi cnh gii, bi thân tướng của mi loài tu theo phước báu có hơn kém mà mỗi loài đều có hình tướng sai bit, như thân tướng ca Thánh chúng cõi Tây phương Tịnh độ thì trang nghiêm đủ ba mươi hai tướng tt tám mươi vẻ đẹp, còn thân tướng ca chúng sanh cnh gii Ng qu thì bng to như trống, c nh như kim; thân tướng chúng sanh cnh địa ngc thì xu xa k d, đầu trâu mt nga… 

3. Tâm lý quan. 

Là xác định tâm lý sai bit ca mi cnh gii, như tâm của Thánh chúng cõi Tây phương Tịnh độ thì luôn thanh tnh, tâm các Ngài luôn an trụ vào thin định đồng th hưởng pháp lc ca thin định tương đồng vi Pht A di đà; còn tâm chúng sanh ở cnh gii ng qu luôn b s đốt cháy ca đói khát, tâm của chúng sanh cnh gii địa ngc luôn sân hn, s hãi… 

Như thế, chúng sanh hin đời gây tạo nghip nhân gì sau khi lâm chung s tu theo nghip nhân đó mà tái sanh về mt trong sáu cnh gii luân hi. Do đó, cảnh gii tái sanh ch xác lp khi đã đầy đủ ba yếu t k trên, nếu chưa đủ ba yếu t đó thì chưa có thể nói đó là cảnh gii chúng sanh đang thọ dng. Hay nói mt cách khác, mi cnh gii đều có v trí, thân tướng và tâm lý sai khác mà chúng sanh y phi th dng. 

 C. Kết lun. 

Tóm lại, bi do vô minh và ái dc chi phi mà chúng sanh c sng ri chết, chết ri lại sng, c thế mãi mãi trôi lăn vào một trong sáu cnh gii luân hi. Trong sáu cnh gii đó, bốn cnh gii trước hoàn toàn kh đau, hai cảnh sau tri và người tuy có hnh phúc nhưng xét lại vn là vui ít kh nhiu. 

Ví như chúng sanh ở cnh gii địa ngc thì mt ngày mt đêm phải tri qua cnh vn ln chết đi sống li, b s tra tn ca vc du hm la. Chúng sanh cnh gii Ng qu thì b s thiêu đốt ca nn đói khát, trải qua ngàn vn năm cái tên cơm nước chưa từng nghe hung gì là được ăn no. Chúng sanh ở cnh gii Bàng sanh thì b s kh ca si mê dày vò, b người khác nu nướng, banh da, xo tht nhai nut vào bng. Chúng sanh cnh gii A tu la thì b s sân hn và tham dc chi phi, sut ngày luôn đánh giết ln nhau để tìm cu s tha mãn của xác tht. Còn chúng sanh hai cnh gii tri, người tuy có hnh phúc xen ln kh đau nhưng ở cnh người, chúng sanh phi chu tướng bát kh; cnh gii tri vn b năm tướng suy hao. 

Vì thế, so sánh v s hơn kém và đau khổ hnh phúc gia các cnh giới, ngõ hu tìm ra được đâu là cảnh gii an n để quay v, trong Pháp gii tp thut ng có nói: Bi ba cõi định ngôi, sáu đường chia loi, nên hình hài xu đẹp, qu có kh vui! Tìm ra điểm sanh khi chng ri sc thân, x đến ch hi quy không ngoài sanh diệt. Mà sanh dit luân hi chính là vô thường, sc tâm hư huyễn nguyên là ci kh! Thế nên kinh Pháp hoa d cho nhà la, kinh Niết bàn ví dòng sông to. Bc thánh nhân thiết giáo để đưa nhân loại vượt ra ba cõi, v no chân tâm là do l trên vy. 

Đến như thiên báo, tuy lầu qunh áo gm, người đẹp cnh xinh, nhưng trên trời Tha Hóa vn còn có thiên ma, trong cõi Vô Vân vn còn ngoi đạo. Hung na bc sanh lên Phi phi tưởng định còn đọa phi ly, tri Đâu Suất Đà hãy còn mê ngũ dc, nên biết phước báo d sanh kiêu mạn, cnh vui khó hc Niết-bàn! Đến khi thng nghip hết ri, thì tóc tiên hoa héo, áo ngc bi vương, điện vàng tt ánh quang minh, thân nhp còn mong chi v đẹp? Khp khuyên ra lòng sám hi, nim Pht làm lành, xa thì vui cnh chân thường, gn được xum vy nơi Tịnh độ. 

Chi bằng mun thoát ly sanh t luân hi, tránh s nhc nhn khi phi làm k l khách qua li nơi tam giới; chúng ta nên c gng phát tâm tín sâu, nguyn thiết, chuyên trì danh hiu Pht A-di-đà. Nơi cảnh gii đó có Phật A-di-đà, Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Thế Chí là cha m, chư thượng thin nhân là bn lành, chim hót sui reo đều tuyên bày diu pháp. Do vy đã không vãng sanh thì thôi, nếu vãng sanh thì qu v Vô sanh pháp nhn đã trong tm tay. Chúng ta ch mong làm sao hin đời tr chút nghiệp còn li, lâm chung sm được vãng sanh v nước Pht. 

 

Thế nào là Đại Ý Phật Pháp?

Thanh Tâm 

(tiếp theo) 

Nhiu người thường quan nim rng đạo nào cũng tt, ai cũng khuyên răn con người ăn hin lành, sng tt vi mình tc tt vi người, chưa tìm hiu hay nghiên cu sâu xa đã vi đồng hóa giáo lý này ging giáo lý kia, nhưng thc cht các phương din thc hành li không th như thế. Quan nim đạo đức v thin ác ca mi tôn giáo khác nhau, như quan nim v thin ác theo các nn văn hóa luân lý xã hi ca nhiu nước, nhiu khu vc trên trái đất khác nhau hoàn toàn. Ví d như quan nim v ch hiếu, người phương Đông báo hiếu hoàn toàn khác xa vi s báo hiếu người phương Tây. Có mt b tc Châu Phi cho rng, mt người con sng có hiếu tho là sau khi cha m đến tui già bt cha m trèo lên cây và mình dưới rung cây để cha m té xung chết, đó là hiếu tho vi cha m. Nhưng nhìn t góc độ ca nhng người sng các nước phương Đông thì người con có hành động như vy rõ ràng đó là s bt hiếu, không th tha th. Theo quan nim phương Đông, người con sng có hiếu, tc là phi phng dưỡng cha m lúc v già, sm hu ti nom chăm sóc không nên làm cho cha m bun, đau kh hay có bt c mt hành động nào đi ngược li thói thường đạo lý mà xã hi đã n định như thế-mt hành động trái ngược đạo lý như giết cha m bng cách rung cây như vy là không th chp nhn. Vit Nam không đồng quan nim rung cây theo kiu báo hiếu như vy. Do nh hưởng ch hiếu ca người phương Đông, nh hưởng nn văn hóa Pht giáo đã trên hai ngàn năm nên tinh thn hiếu tho ca người Vit Nam hin bày rt rõ trong tng nếp sng, nếp suy nghĩ ca mi người, cung cách ng x ca mi người sng sao hiếu thun m cha. Nghĩa là mt người con cn phi phng dưỡng cha m trên c hai phương din vt cht cũng như tinh thn-phng dưỡng vt cht và phng dưỡng đời sng tâm linh tinh thn để cha m vui lòng. Trong quan đim này, vn đề v thin ác ca mi tôn giáo tn ti trong mt phong-hóa tuy có tính cht khác nhau, dù có ging nhau chút ít là khuyên người làm lành tránh d nhưng mc đích chung trên con đường ci thin hướng cho con người tiến đến đỉnh thăng hoa ca đời sng tâm linh, đạt được hnh phúc an lc thì hoàn toàn khác xa. Có đạt được điu đó hay không, có an lc hnh phúc hay không còn là điu mà con người sng cn phi biết, phi hc và cn phi tri qua mt quá trình th nghim tu tp. Đối vi Pht giáo, ngoài b ác làm lành ra, người con Pht còn phi thanh lc thân tâm để cho đời sng t thân thanh tnh, trong sch và hng gi hng phút không huân tp các chng t bt thin đưa đến đau kh.  

B ác làm lành, hai điu này nói ra thì rt d nhưng không phi ai cũng làm được. Như đứa con nít ba tui đã được Bch Cư D đưa ra cũng có th hc thuc, nói thì d nhưng thc hành thì không phi d dàng chút nào, đó mi là điu mà đạo Pht chú ý đến. Làm sao biết rõ vic nào là làm lành, vic nào là làm ác. Vì vy, vn đề thin ác thc cht rt khó phân định. Còn nếu cho rng như thế này đúng hay như thế kia sai, điu đó chng qua là theo quan đim luân lý ca mi quc độ trong mc độ tương đối mà thôi. 

Có nhng điu mà thi đim này, giai đon này, tôn giáo này, xã hi này cho là đúng, là điu lành, nhưng thi bui khác, tôn giáo khác, xã hi khác cho là sai, là làm ác. Cho nên điu quan yếu ca mt người hc Pht cn phi nm vng và hiu biết phân bit rõ ràng hai lãnh vc thin ác. Thin ác nào thuc lãnh vc đạo đức tôn giáo, thin ác nào thuc lãnh vc luân lý xã hi. Nh đó chúng ta có th đánh giá được mc độ đúng sai theo chiu hướng: tôn giáo hay luân lý. Khi phân định được s vic mà không phm vào nhng sai lm có th đưa đến tranh cãi, thì dù là giá tr ph quát hay khép kín đi chăng na chúng ta cũng có th hiu được trong kh năng chp nhn gii hn ca chúng. đây để đưa đến gii thoát thì vn đề thin ác ca mt luân lý xã hi nào đó, nếu phù hp vi đạo đức con người thì chúng ta có th chp nhn và xem chúng như là tin đề để thc hin hoài bo gii thoát cho mi người. Ch có làm lành chúng ta mi không thy ray rt lương tâm, không có đau kh hay hi hn. Làm lành còn đem li cho con người s thnh thơi an lc, làm cho gia đình xã hi, bn bè thân quen hnh phúc, đất nước an bình, quc gia thnh vượng. Ch có làm lành mi đem li hnh phúc cho mình và cho chúng sanh. Ch có làm lành mi đem li và tôn trng s sng ca tt c chúng sanh hay cng đồng đang hin hu trên thế gian này.  

Giáo lý đức Pht định nghĩa rt rõ v vic làm lành hay tránh d. Trong sách thường có dy: “Thin gi li dã”. Nghĩa là, người làm vic thin là người luôn đem li li lc cho mình và cho người trong hin ti và tương lai. Nhng vic làm mà không đem li li mình và li người trong hin ti và tương lai đều là vic ác. Làm mt s vic mà s vic đó đem li li ích, hnh phúc, an lc cho mình trong hin ti và tương lai nhưng li đem đến s đau kh cho người khác thì vn là điu ác, hay ngược li. Trong Kalama, đức Pht dy cho các hoàng t rng: “Hành động gì có hi cho mình, có hi cho người, có hi cho c hai, b người ch trích, nếu chp nhn và thc hin s đem li tâm kh s, tâm ưu phin, hành động như vy là hành động bt thin và chúng ta phi loi b hành động y. Hành động gì mà không có hi cho mình, không có hi cho người, không có hi cho c hai, được người trí tán thán, nếu chp nhn và thc hin s đem li tâm an lc hoan h. Hành động như vy là hành động thin và chúng ta phi thc hành”. Như vy, vn đề thin hay ác ca đạo Pht mun thm định cn phi căn c vào hai tiêu chí hnh phúc hay đau kh ca t thân và tha nhân. Trong cuc sng hin ti nếu chúng ta thc thi nhng hành động không đem li hnh phúc cho chúng sanh thì nhng hành động đó gi là ác.  

Còn nhng hành động nào đem li hnh phúc an lc cho chúng sanh thì gi là thin. Đó là điu được đức Pht ch dy trong sut hành trình chuyn vn bánh xe Pháp, “Ngài ra đời vì lòng thương tưởng chúng sanh, vì an lc cho chúng sanh, vì hnh phúc và an lc cho chư thiên và loài người”. Cho nên sau khi Thành đạo, Ngài đã đem nhng gì mà mình chng đạt, nim  hnh phúc an lc đã đạt được trao truyn li cho chúng sanh, ngõ hu chúng sanh cùng sng chung trong mt cnh gii tht s không có bóng dáng ca phin mun kh đau. Đã là người theo Pht, chúng ta không nên t làm kh mình, không nên t làm kh người, không t làm kh bt c mt chúng sanh nào khác, vì khi t làm kh chúng sanh, t làm kh tha nhân tc là mình đã t làm kh mình. Nh vy, chúng ta mi không đi lch ra khi đạo l gii thoát. Chúng ta không ch gii thoát cho cá nhân mình mà còn gii thoát cho c chúng sanh. Tôn trng s sng và bo v s sng ca chúng sanh là thin pháp. Ngược li không tôn trng và bo v s sng ca các loài khác là ác pháp. Vì thế, giáo lý đạo Pht mi đưa ra các pháp môn, phân ra nhiu chương mc là tùy hp vi căn cơ ca chúng sanh mà ch bày cho thích ng. Làm lành tc là làm vic lành, hành động lành, tác ý vic lành. Vic lành này được xây dng trên ba khía cnh ca thân khu ý: thân không làm ác, ming không nói vic ác, tâm không nghĩ điu ác. Khi mt người làm nhng vic như sát sanh, trm cp, tà dâm thì gi là làm ác, khi mt người nói di để đem li li lc cho mình, làm tn hi cho người, hay tha mãn tính v k, tư k cho mình đem li chia r cho người,… đều gi là ác, thm chí tâm khi lên mt nim mà có yếu t tham, sân, si chi phi đều gi là ác c; còn nếu thân không to sát, đạo, dâm, ý không khi tham, sân, si, ming không ng, lưỡng thit, vng ngôn, ác khu thì gi là “chư ác mc tác”; li có th nói rng, tiêu dit các điu ác đã sanh, điu ác chưa sanh thì không cho phát khi, nên gi là “chư ác mc tác”. Người làm được như vy mi gi là hc Pht, gi ming, nhiếp ý, phòng thân ch phm. Đây là bước đầu ca người hc Pht pháp. Không phi “chư ác mc tác” mà còn phi “chúng thin phng hành”, không nhng không sát sanh mà còn phóng sanh, không nhng không trm cướp mà còn b thí, không nhng không tà dâm mà còn phi sng phm hnh, không nhng đừng nói li ác, nói hai lưỡi, nói di, nói thêu dt mà còn nói li chân tht, nhu nhuyến hòa hp…, không khi tâm tham sân si mà còn phát tâm t bi và trí tu, cũng như các điu thin đã sanh làm cho tăng trưởng, các điu thin chưa sanh làm cho sanh khi. Nhng vic làm như vy đều gi là các vic thin nên làm. Cho nên chúng ta có th kết lun, làm thin theo Pht giáo tc là không xâm phm đến đời sng an lc hnh phúc ca mt cá nhân, không đem li đau kh cho mt chúng sanh hay mt cng đồng nào khác, cũng như không đem li đau kh hay ray rt cho lương tâm ca chính mình, làm được như vy thì chúng ta đang tiến trin theo chiu hướng thin.  

Ngoài nhng điu đó ra, nếu chúng ta làm ngược li thì chính bn thân chúng ta đang làm các điu ác. 

Mt khác, tu hc là để chuyn hóa nghip ác thành nghip thin, hướng con người vào con đường luân lý tt, đạo đức tt, đem li nim an vui hnh phúc cho cá nhân, n định cho gia đình và hòa bình cho xã hi. Người làm thin s hưởng phước báo sanh thiên, khi hết phước báo s tái sanh lên cnh gii an lành, không tái sanh vào nhng cõi d và còn được cơ hi để tu tp và sng thin tiếp theo. Còn làm ác thì phi luân chuyn trong các cõi ác nghip. Làm thin hay làm ác vn còn trong vòng đối đãi. Hai phm trù này b chi phi bi vô minh và ái dc cho nên chưa thc s là mc đích cu cánh ca đạo Pht. Làm thin hay làm ác vn còn tái sanh trong lc đạo luân hi, chưa thc s gii thoát ra ngoài ba cõi. Mc đích ca đạo Pht là vượt lên trên c hai lãnh vc đối đãi thin ác tc không nhim c hai. Bi ác nghip là do lòng ích k li mình hi người, còn thin nghip là mt hình thc khác ca ngã chp li mình li người, tc là trong tâm luôn nghĩ có nhng li cho mình đã và đang làm. Vy dù chúng ta có làm thin tt bao nhiêu đi na nhưng nhng điu thin này nó là nhân trói buc chúng ta trong ba đường lành, chưa gii thoát rt ráo được. Vì thế, câu k th ba khng định lp trường tu hc theo giáo lý đạo Pht, nghĩa là ngoài làm vic thin dt điu ác ra, chúng ta phi luôn luôn gi thân lúc nào cũng trong sch, tâm lúc nào cũng chánh nim tnh giác, gn lc mi cu nhim ca duyên trn, bng cách không nghĩ thin, không nghĩ ác, sng vi cái tâm thanh tnh ca mình. Tc là cn phi làm vi mt tâm an nhiên t ti, mt tâm trong sch, không còn phân bit thin ác, b th, ngã chp hay pháp chp.  

T thanh lc thân tâm thanh tnh là giai đon vô cùng quan trng trong Pht giáo, là mc đích đạo Pht cn đạt đến. Nếu ch dng li cp độ thin ác, thì con người vn còn trm luân trong sanh t. Do đó, mun ra khi sanh t phi vượt trên hai lãnh vc thin ác, làm vi mt tâm ý luôn thanh tnh không ô nhim. Ti sao như vy? Bi vì chúng sanh mi mt vic làm phát khi đều do tâm nim chp trước. Như khi ta b thí hay làm vic t thin chng hn, ta lin nghĩ rng: ‘Ta là người b thí, kia là k nhn thí, hay ta là người làm t thin, chùa ta làm t thin, còn người kia là k nhn ca t thin’. T đó sanh ra oán ghét, phi trái, suy lường phân bit, mà phân bit oán ghét chính là nhng phin não. Phin não thì đem li qu báo phin não, chu qu báo hu lu thì dù có tu hành thp thin, làm lành đến đâu thì cũng không có kết qu an lc, bi vì tâm nim lúc nào cũng chp trước mà chưa thc hành được “t tnh k ý”. Do vy trong quá trình tu tp, người tu tp cn phi rèn luyn bng cách huân tp các pháp lành, tâm nim lành thì phin não s không có cơ hi tiến trin, dn dn s tiêu tr. Tiến lên tu tp các pháp môn trong tam t tnh gii để phát sanh thin căn. Mt khi các điu thin sanh khi thì các điu ác không còn ht ging để tăng trưởng và dn dn s tiêu hoi. Nh th đạt được như vy, hành gi quán sát để thy các pháp đương th tc không, hu lu, vng tưởng đều là nhng vng duyên làm cho tâm trí b mê m ô nhim, không sáng sut, là nhng cu bn che lp tâm tánh chúng sanh không lúc nào được an lc gii thoát. Trong kinh Kim Cang, đức Pht dy các đệ t rng: “phàm s hu tướng giai th hư vng”, nghĩa là trong khi tu tp cn phi quán sát các tướng ngã, tướng pháp đều là hư vng. Để liu ng các pháp vn không, thì không chp tr dính mc vào các pháp, đó chính là đang huân tp giáo pháp vô lu ca chư Pht. Khi hiu được như vy, người hc Pht s hiu rõ thâm ý ca chư Pht, đại ý ca Pht pháp. 

Qua câu chuyn ca Thin sư Ô Sào đối đáp vi Thi hào Bch Cư D, chúng ta phn nào hiu được thâm ý ca Pht tht sâu xa. Bn câu được nói ra tuy đơn sơ nhưng triết lý ca nó hàm cha c Tam tng thánh đin. Sut c cuc đời ca mt người tu tp chưa chc đã làm được. Làm thin phi hiu thin là thế nào, làm ác thì phi hiu ác ra sao, và mc đích ca đạo Pht hướng đến là gì? Bn câu “Chư ác mc tác, chúng thin phng hành, t tnh k ý, th chư Pht giáo” này chính là ni dung ct yếu ca toàn b hc thuyết đạo Pht. Nghĩa lý ca chúng tuy đơn gin nhưng tht thâm sâu, cn phi nghiên cu hc hi. Sau khi thu rõ phi t gng sc tu tp để thanh lc thân tâm để đon tr nhng vng nhim đem li an lc, gii thoát cho mình và cho người. Ch khi nào trong tâm người tu tht s an tnh, trong sch thì bt c hành động nào, ý nghĩ nào cũng đều làm li lc cho chúng sanh c, còn không thì dù núp dưới bóng dáng nào ca vic thin hay gì đi na mà tâm chưa tht s an tnh, trong sch thì nhng vic làm đó cũng ch đem li tư li cho bn thân ca mình mà thôi. Cho nên, hc Pht không ch dng li mc độ lý thuyết mà cn phi thc hành, cn phi chăm sóc nuôi dưỡng huân tp và thanh lc tâm trong sch trong tng gi tng phút, cn phi quán sát thân tâm, quán sát các pháp để thy hin thc ca muôn pháp ch là gi tm. Nh quán sát như vy khiến cho hành gi quay v t tánh, th ng pháp không, liu đạt và an nhiên t ti trước s biến thiên ca vô thường hay biến dch ca các pháp.

 

Niệm Phật và Đức Tin

Pháp Hiền cư sĩ

 *Om Ratnatrayāya* 

Đảnh l Tam b

Không phi là mt con đường mà là nhiu con đường, không phi bng mt cách đi mà là nhiu cách đi. Cho dù được trình bày dưới bt c hình thái nào, Pht giáo ch có chung mt mc đích, đó là gii thoát. Gii thoát, theo thường lun, là phát trin phm cht ca con người đến mt đỉnh cao toàn din và tuyt đối; hay nói mt cách khác, tu Pht là thành Pht. Nếu lý tưởng y không phi là hin thc, thì có l Pht giáo chng còn là Pht giáo. Hin thc, không phi ch có mt v Pht lch s: Pht Thích Ca Mâu Ni, mà có vô s đức Pht, ta có th chng thc hoc minh nghim được qua giáo thuyết hoc Pht pháp, nghĩa là nhng con đường thc hành nhm đưa đến qu v như vy. 

Nói thế, tc là Pht Thích Ca là bc th hin chân lý đó và cũng là Đấng ch đường cho nhng ai mun có qu v gii thoát như Ngài. Do vy, người ta gi Ngài là đức Bn Sư hay là Đại đạo sư cũng vy. 

Như đã nêu, chng phi ch có riêng đức Bn Sư, mà trước đó, trong hàng vn đại, cũng đã có nhng v thc hin thành công qu v đó. Mt trng thái tương tiếp và truyn tha ch có th xy ra vi tt c, khi mà hành gi thc hin trn vn con đường mình đã chn. Tc là thc hành Pháp.

Thc hin con đường tương ưng mình đã chn, thut ng gi là Pháp duyên. 

Vy thì, khi bt đầu tu và hc Pht, hành gi tùy theo điu kin, môi trường và mt vài bn cht vn có ca mình có th chn cho mình mt pháp tu nào đó thích hp. Mc dù, mi phương pháp ca Pht đều là nhng viên ngc quý, nhng viên ngc Như ý, vì tt c đều t Trí Bi tuyt đối ca đức Pht nói ra.  

 Thế nhưng, ni bi đát nht hin nay là thi k mà nhng giá tr tinh thn đang b bng bt gc trit để, thay vào đó, là s phát trin đến chóng mt ca năm đối tượng ngũ quan. Nim vui tâm hn hin nm trong tay các nhà đầu cơ th thit ca công ngh. Và, đau đớn hơn, nim tin tôn giáo, ch có th thy được trong quyn hành ca cơ chế th trường. Ngày hôm nay, thm chí, các nhà thc hành tôn giáo đôi khi rao ging đức tin ca tôn giáo mình, t hào bng như khoa hc. Như vy, tôn giáo b cái gi là khoa hc dt dìu và đức tin được ban ân bng lý lun. Cái to ln được thy qua cơ s vt cht và hc v. Sau cùng để người ta có th vin vào, là thi ca và âm nhc, nó cũng b đứng xếp xó bên đường, mi mt ngm nhìn dòng xe c “nhân bn” ngược xuôi. Riết ri, hoc ca hát bi thương hoc nhy tưng điên lon. 

 Mt nghch lý như vy đã được d dàng chp nhn khi k thc hành ác hnh: khng b và chiến tranh toàn cu, rêu rao tin mng cu chuc; khn kh hơn, nhng nghch lý như vy li được người ta cho là quy lut cân bng ca tri đất. Mt cuc đời tươi đẹp đang ch ta phía trước. C thc hành ác hnh và rao ging tin mng. Lt qua lt li cũng ch mt bàn tay trót đã nhúng chàm.

 Đứng trước nhng ni bi thương như vy, con người, hoc là, chy trn trong kh tu, hoc là an thân trong cơ cu b gung máy điu hành. Đây có phi là thân phn ca chúng ta thi hin ti chăng?  

 Chng l Kiếp ha như Kinh nói đã đến ri chăng? Pht giáo chúng ta cũng hng chu điu này, không ít nhng người đã b lôi vào trong gung máy toàn cu y. Gii pháp được đề ra, chng khác nào tiếng kêu cu cui cùng ca người đang chết đui. Đâu còn ai có dp tin rng ch mt câu nim Pht, cu hết mi ni lm than! Qu thế, hành nhân nim Pht thì khác hn.

Ti sao vy? 

Đơn gin, vì h sng trong và tương ưng vi Bn nguyn A-di-đà Pht.

Khác hn, có nghĩa là, Kiếp ha để có vàng ròng. Đời ác vi năm trng thái suy thoái là để hoa sen mau n. Ni đau trong tư duy làm tăng trưởng sc mnh tâm hn. Và, thân thương tt để mau trn lành phm cht. 

 Được như vy, chính là nim Pht trong Bn nguyn A-di-đà Pht.

 Rt khó tin, bi vì ta chưa nim Pht. Rt khó tin, bi vì ta chưa phát nguyn nim Pht để tương ưng vi Bn nguyn Pht đà. Cho dù chưa phát nguyn, nhưng ta vn luôn có cm giác rng mình luôn trong Bn nguyn ca Ngài. Phát nguyn là để có vàng ròng và hoa sen vy. Chúng ta thy, đây, nim Pht, hoàn toàn không phi là mt gii pháp. Mi gii pháp đến t ngã chp, chng khác nào bác th n lm cm, loay hoay trong vn đại t xây cho mình mt nm m tráng l hoang vu, vô phương cu thoát. Ngã chp vn là vy.  

 Làm sao ý thc có th t bùng v khi mà t thân nó luôn là bác th n ngã chp?

 Làm sao ngã chp có th phá hy được mình khi nó luôn luôn nuôi dưỡng ngũ quan, vn là nhng tên tay chân tâm phúc, chúng lp công vi ông ch mình bng nhng khát ái ba đời mt cách cn cù; tr phi là Bn nguyn Pht đà và Bn nguyn Chư B tát. Nó, ngã chp, không th bt cu vào vô ngã được. 

Ngài Thân Loan đã tuyên b như vy trước khi tht vng t b tu vin Mount Hiei, nơi mà hơn 20 năm ông đã kh tu. Bc thiên tài y đi vào trn gian bng sáu ch Nam mô A-di Đà Pht. Và nước Nht, t đó có mt Pht giáo Chân tông vĩ đại, đến độ thế gii cũng phi nghiêng mình đảnh l

 Nim Pht, theo Ngài Thân Loan, chng cn biết nhiu hay ít, vn đề là phm cht đức tin có nm bên dưới hay không mà thôi. 

Đức tin, theo thường lý, có th phân thành 3 nhóm:

 1/ Phân gii ri mi tin.

 2/ Nghe nói đến Pht là tin ngay hoc được tu nghip dn vào Pht đạo.

 3/ Tin Pht vào thi khc lâm chung, khi được thin tri thc thuyết ging. 

Phân gii ri mi tin: Để làm công vic này, Jean Guitton, vin s hàn lâm Pháp, trong tác phm Dieu et la science ni tiếng ca mình, ông đã phi khi đi t triết hc thi trung c cho đến nhng nn triết hc siêu vit thi cn đại, trong đó bao hàm c các lĩnh vc khoa hc ca thuyết lượng t gói năng lượng và J. Guitton nói:

“Người ta s tn rt nhiu công sc, thì ch có ba đạo trình cho vn đề y: đạo trình tôn giáo, khoa hc và triết hc. Đến đây, ch còn tôn giáo và triết hc; mi đạo trình có mt cách để n lc và nhng gii đáp mang tính thuyết phc đem đến nhng phúc đáp cho nhân sinh. 

 Thế nhưng, trong mt thế gii mà càng lúc càng b chiếm đot bi khoa hc và nhng hình thái ca nó xut sinh. Mt thế gii đang b kéo đi bi công ngh và cách sng ca nó, tiếng nói triết hc đã mai mt năng lc chân tht thu xa xưa ca mình ri… các triết gia sp đánh mt cái đặc quyn ti hu ca mình: là được trm tư

 Duy còn tôn giáo, đây cũng thế thôi, có v như các nhn thc, quan kiến sinh ra t khoa hc càng lúc càng mâu thun vi phm cht vn thành là trt t ca nhng cái  được hn sâu trong linh thiêng, đó là: dường như Thượng đế và khoa hc b quy cho nhng (hai) thế gii khác bit, đến độ chng có ai dám dn thân đem c hai đặt k li vi nhau. 

 Tuy vy, mt vài du hiu nói trước cho chúng ta biết rng, sp là thi đim khai l mi thông qua trng thái tri nghim sâu xa,… Mt cái gì hu như  là Thượng đế vy”[1].

  đây, động t “b kéo đi” ca J. Guitton sao ging Ph Môn quá – neya (nī) – “Ai mà b bt c thế lc nào kéo đi, thì Ngài hin thân thuyết pháp bng chính thế lc y”[2]. 

 Thế nhưng, qua mt chui lý lun nghiêm xác bng dn chng và nhng tư duy thm thiết, Guitton, xác tín là trước hàng t phn giây ca v n “brg Bang” hn phi là có bàn tay ca Thượng đế vì nm sau chúng – cái đáy (fond) ca vt cht, thm chí, bc tường thi gian khét tiếng ca Planck – là nhng gì bt kh thăm dò. Theo Guitton, mt trt t mà vũ tr được thành hình như vy đúng là ý Chúa được nên (peut-être). Nếu không, vũ tr s chng còn là nó na. 

 Khác mt chút vi Guitton, ít ai tin Pht theo cách y; cho dù để có mt tri kiến như vy, người ta hn phi mt công rt nhiu, thm chí không th như Guitton được. đây không có nghĩa là cao hay thp. Pht giáo quan nim mi th đều là nghip (karma). Danh xưng này được din sinh t động t k - thc hin. Có nghĩa là, cái gì được to ra (cho c 3 thi) mà chúng ta có th nhn thc hoc chưa nhn thc được đều là nhng tương quan nhân qu, ngay c cái được gi là thi gian cũng đều b chi phi bi karma này. Thế thì nghip là mt khi thông tin vn dĩ để hành gi vượt qua. Ai mà vượt qua nhng h ly nhân duyên, thì ta gi đó là Pht hay B tát. Thế gii, nghĩa hp, mi hin tượng ca nhân sinh và vũ tr ch là phn ánh thông tin toàn din ca mt chúng sinh. Vượt qua cái khung ca hp này, ví như, chú gà con đến thi k đục phá v bc ca mình, sng đời sng khác. Không t nhiên, cũng chng phi nhân duyên. Đó là Niết-bàn Pht. 

 Ai mà được đức tính t to đối tr phn (antidote to: pratipaka) vượt thoát v bc như vy và trang nghiêm mình bng phm cht li tha toàn din ta gi là Pht, Thế Tôn. 

 Vũ tr và nhân thân chng ai to ra c. Vy Pht t, tin Pht là tin cái đức t đối tr vô minh và phm cht li tha toàn din cùa các Ngài. Bi vì ta cũng có th thc hin được như vy. Ta không th nào t đi tìm mình trong tt c, hoc sáng to ra tt c nhm tha lòng mong ước ca mình. Vì, cho dù có mun kiến to thế gian đẹp tuyt như thế nào - mà thế gii y thành hình do nghip - thì thế gii y cũng ch là thế gii ca các nhân t khát ái, như bác th n ln thn vn đại xây m, tr phi là nguyn lc thanh tnh ca chư Pht, B tát. 

 “Ta là người tha t nghip ca mình”. Đức Pht đã dy như thế.  

 Tht vy, nếu chu trm tư mt chút vi nhng gì din ra quanh ta hng ngày, hn chúng ta thy rng, nhng gì mà ta cho là hin tượng khách quan luôn luôn nh hưởng trc tiếp vi ta. Thm chí, có nhng th gây cho ta thng kh trin miên, chng hn cái chết, trng thái y luôn din ra tng ngày. đâu mà s sng sinh ra t nghip, thì đó vn hin din cái chết ri. Nhng gì mà ta yêu mến nht đã lng l b ta đi, và ri mt ngày kia cũng đến lượt ta - Vô thường. Có l không gì hãi hùng bng cái chết, bng vô thường. Do thói quen chng cht ca nhng đời bn rn và chính thói quen đó, ta quên mt mình ri chăng? Chng l vô thường là mt định mnh ca chúng sinh? Vô thường, t thân nó đã sp xếp thành mt trt t như vy sao? Hết đời này đến đời khác ta va làm mi và k săn mi cho chính mình sao? 

Đã nhiu đời ri, ta vn phi làm mi săn cho nó ư

Không như nhng động vt cp thp khác - chúng được tha mãn nhu cu và vô tư ch x tht, hoc bng nhng bo hành nhm tha mãn dc tính ca mình - đến độ cũng ch vì mt mu xương khô; con người chúng ta, ngoài vic đáp ng chân chính cho cơ th vt lý, cho nhu cu hnh phúc tâm hn, còn có mt cái gì đó luôn thúc bách vào nhng phút giây tm lng lòng mình, trong nhng đêm co ro vì sám hi li lm và nhiu hơn thế na. Nhng ký c, nhng du in trót to… t đâu ba v. Và như thế, ta choàng mình dy - s vượt thoát kh đau và nhng hn cuc ca các nim vui tm b, mt dưỡng cht đặc thù không mô t được, bng nhng git tinh khôi, tng git mát lòng thoát kiếp t sinh. 

By gi, chính là lúc mt cái gì đó tht trong sáng, tht hn nhiên sng sng trong ta - đức tin gii thoát.

Nghip là mt thông tin cn thiết để cm nghim tht s tm lòng khát khao gii thoát. Thut ng Pht giáo gi thc th đó là phát b đề tâm (bodhi-citta-utpāda). Đúng theo tinh thn Phn ng, thì thut ng quý báu này phi được hiu là: Đánh thc lòng mong cu giác ng (wakening the aspiration for enlightenment). 

 Nhng tư tưởng vĩ đại, đến vi trn gian này bng đôi chân ca chim câu, tht nh nhàng và không để li du vết.

 Hình như Albert Camus đã nói câu nói tuyt vi như vy mà tôi không nhđã đọc đâu. Và câu nói y còn mãi trong tôi như nhng đợt sóng trùng khơi v rì rào trong cm thc. Cũng vy, nhng tư tưởng ca chư Pht và chư đại B tát còn nh nhàng hơn na, các Ngài đã để li cho ta Pháp tu và Thánh hiu ca các Ngài. 

 Nguyn th 18 ca đức A-di-đà đã nói như vy:

 “Thưa Thế Tôn! Nếu con chng đắc trong Chánh đẳng giác, chúng sinh nào trong nhng thế gii khác sau khi đã được nghe danh hiu con, phát khi nim trì bng tm lòng trong sáng; thì phút lâm chung ca h con xut hin cùng mt lúc vi Tăng đoàn và, h được các Ngài kính trng. Khi vi tâm hn lon như vy ca h mà con không đứng trước mt h (tc là hin tin khiến h định tâm) thì con nguyn không chng Chánh đẳng giác”[3]. 

 Pháp tu và Thánh hiu. 

 Tht tế trong đời thường, nếu cn phi có mt danh hiu nào đó, đôi khi người ta phi b ra rt nhiu công phu, nhiu thế h, nhiu kiếp đời... để biến cái danh y tr nên thường ti, ph cp và tăng ích. Như vy, danh hiu là c nhng quá trình tích lũy; hung h là Thánh hiu ca chư Pht và chư đại B tát. Vì nguyên lý đó, qua nhiu bn Kinh, đức Bn sư thiết tha khuyên ta nên nim tôn hiu Pht, B tát - thay vì phi tn nhiu tâm lc qua các phương tin ti ưu trong tiến trình tu hc. 

 Nim Pht là tha qu v Pht mà tu, như hái ăn ngay trái ngt chín mùi. Mt đảm bo trn vn và tuyt đối gii thoát trong mt kiếp đời may mn được thân người này. Có th nói hơi quá trn mt chút: Nim Pht là thành Pht. 

 Tôi đích thân được nghe đúng như vy, trong bài ging ca gi hc Câu-xá, thy Tu S khng định: Nim Pht là đẳng lưu thanh tnh pháp. Tc là vô lu pháp chuyn hóa bc lưu vy.

 Nim Pht - đây bn văn mun đề cp đến pháp tu nim hng danh đức A-di-đà. Có th ta khó tìm đâu ra, mt cương lĩnh trng yếu như trong Pht giáo Chân tông:

 “Đức A-di-đà khi còn thc hành B tát đạo, đã phát khi nhng đại nguyn quan h thiết thân đến chúng ta - nhng chúng sinh luôn b vô minh trói buc. Đó là Đại nguyn Vô lượng quang và Đại nguyn Vô lượng th

 Ánh sáng hay Đại nguyn quang minh ca Ngài, chính là trí tu hay s toàn tri, và Vô lượng th nguyn chính là Tâm đại bi do t trng thái toàn giác mà được kết qu như vy. Tu Pht y được hoàn mãn đến độ khi Ngài nghĩ đến ta là Ngài thu hiu ta mt cách chân xác như ta đang là. Tht vy, Ngài nhiếp th ta trn vn (mi th nhim tnh ca chúng ta) vì đây là s toàn giác ca Ngài. 

 Đức Pht A-di-đà cũng nguyn rng, danh hiu Ngài hn được biết đến - dù c đến 10 phương - nghĩa là, bt c nơi đâu hay thế gii nào, nhng ai nim hng danh Ngài, gi trn vn thân mnh mình cho Ngài, chúng sinh đó s đắc sinh Tnh độ và viên thành Pht qu

 Đây là tiêu đim trong cách c xát đối vi Pht giáo Chân tông, cách đó chính là Nim Pht... Viên mãn Pht qu trong Nim Pht là tht tính (shinshu) ca tông Tnh độ...”

  

Chú thích:  

[1]. J. Guitton: “On aura beau chercher, il n’y a que trois voies offertes à ces questions et aux éventuelles réponses qu’elles suscient :celles de la religion, de la philosophie et de la science. Jusqu’ici, seules la religion et la philosophie, chacune sa manìere, ont tenté d’apporter des réponses aux hommes. 

Mais dans un mond de plus en plus occupé par la sciene et les modèles de pensée qu’elle produit, par la technologie et les mondes de vie qu’entraîne, le discours philosophie a perdu son ancienne force de vérité; Reste la regilion. Mais là encore, il semble que les savoirs issus de la science s’opposent de plus en plus à l’ordre profond des certitudes incrites dans la sacré : Dieu et la sciene paraissent appartenir à des mondes si differents l’un de l’autre que personne ne songerait même à prendre le risque de les rapprocher. 

Portant, certains signes avant-cours nous disent que le monde est venu d’ouvrir des voies nouvelles à travers le savoir profond de chercher au-delà des apparences mécanistes de la scence la trace presque métaphisique de quelque chose d’autre, à la fois proche et étrange, puissant et mystérieux, scientifique et inexplicable : qelque chose comme Dieu, peut-être.” 

[2]. Samantamukhaparivarto: Īśvara neyānā sattvanā, Īśvara rūpea dharma deśayati. (H ai mà b v tri Đại t ti kéo lôi, thì Quán âm thuyết pháp bng chính sc thân tri Đại t ti ) 

[3]. Sukhāvatīvyuha: “sacenme Bhagavan bodhiprāptasya ye sattvā anyeu lokadhātuv anuttarāyā samyaksabodhau cittam upādya mama nāma-dheya śrutvā prasanna- cittā man anu-smareyus teā cid aha maraa-kāla samaye praty-upaṣṭhite bhikusaghaparivta puras-kto na puratas-tiṣṭheya yad ida cittā-vikepatāyai mā tāvad aham anuttarā sayaksa-bodhi abhisa budhyeya”. 

[4]. “Amida as a Budhisattva made vows in relation to us, people stranded in the realm of ignorance. These are the Vows of of immeasurable light and immeasurable life. 

Light is Wisdom or understanding,, and life is the compassion that results from perfect understanding. AMIDA BUDDHA’s understanding is so complete that when he thinks of us he knows us exactly as we are and, indeed, accepts us as we are because of his perfect understanding. 

Amida also vowed that his Name would be heard “thoroughout the ten directions (Large-Sutra 7) that is, everywherwe, and that those who say his Name, entrusting themselves to him, will be born in the the Pure Land and attain Budhhahook. 

This is how it is that the proximate focus for Shin Buddhists is Nembutsu, the Name of the Buddha....” (ibid.).

 

Tóm tắt tiểu sử mười bốn đời của đức Đạt-lai-lạt-ma


Biển Xanh

Nghi thức của các Đạt-lai Lạt-ma ở Tây Tạng thật sự là một trong những thể chế vô song trên thế giới. Sau khi đức Đạt-lai Lạt-ma viên tịch không bao lâu, một hội đồng được thành lập để tìm kiếm sự tái sinh của Ngài. Hầu hết các đức Đạt-lai Lạt-ma đều để lại những “manh mối” bí mật về nơi mà các Ngài sẽ tái sinh vào. Chính những manh mối này được sử dụng như là cơ sở cho sự tìm kiếm. Thêm vào đó, còn có các nhà tiên tri, những vị Lạt-ma nổi tiếng, những người có khả năng biết trước được tương lai, và tất cả các thành viên đặc biệt khác của xã hội Tây Tạng đã cùng làm việc với nhau để xác định vị trí và phục hồi lại hậu thân của trẻ ấy. Các nhóm tìm kiếm được thành lập, các ứng cử viên đã được nhận dạng, sau đó họ sẽ tiến hành và mở rộng những cuộc thử nghiệm. Lúc này, mỗi ứng cử viên tí hon sẽ được những vị Lạt-ma cho xem những vật dụng thuộc về đức Đạt-lai Lạt-ma tiền kiếp, như: những xâu chuỗi hạt, những pháp khí dùng cho nghi lễ, những thứ đồ đạc quần áo… chúng được trộn lẫn với những bản sao giống nhau như đúc, và người tái sinh thật sự được yêu cầu phải chọn chính xác những vật dụng thuộc về tiền thân của mình.

Một ứng cử viên thành công sẽ được thừa nhận một cách chính thức và được đăng quang cùng với chức vụ quan trọng. Vị này sẽ được trao cho những bậc Thầy lỗi lạc của Tây Tạng dạy dỗ. Trong suốt thời gian từ hai mươi đến ba mươi năm, vị ấy phải phục tùng, tuân theo sự đào tạo tâm linh chuyên sâu các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học và nhân văn. Cuối cùng, vị ấy phải đương đầu với một kỳ thi tranh luận với cả chục học giả nổi tiếng trước sự chứng kiến của vài chục Tăng Ni trong những học viện lớn ở Tây Tạng. Có như thế vị ấy mới mở rộng quyền lực tâm linh của mình trên toàn lãnh thổ. Đức Đạt-lai Lạt-ma hiện tại là vị thứ XIV và đang thống lãnh quyền lực đặc biệt của quốc gia.

Từ “Dalai” (Đạt-lai) thật ra xuất phát từ Mông Cổ, mặc dù dòng dõi của Đạt-lai Lạt-ma ra đời trước khi có được danh hiệu này. Vị đầu tiên được biết đến như một “Dalai” chính là So-nam Gya-tso, người đã cảm hóa được vua Mông Cổ - Altan Khan - và cả vương quốc của ông ta đến quy y với Phật giáo vào năm 1578. Thay vì gọi Ngài bằng cái tên Lama của Tây Tạng, vua Altan Khan đã dịch phần thứ hai của tên Ngài, (Gyal-tso)  có nghĩa là “Đại dương” sang tiếng Mông Cổ. Kết quả thành ra từ “Đạt-lai Lạt-ma” hay “bậc Đạo Sư (có trí tuệ như) đại dương”. “Dalai” cũng là thuật ngữ ngụ ý về quyền uy tối cao hay sự vĩ đại. Từ này còn có một cách dịch khác là “vị Thầy tối thượng”, “bậc Đại Đạo Sư”. Như vậy, dân tộc Mông Cổ là những người đầu tiên sử dụng từ: “Đạt-lai Lạt-ma”, sau đó danh hiệu này lan tỏa sang Trung Quốc và các vùng Viễn Đông, rồi đến châu Âu và châu Mỹ; nó chưa từng được sử dụng bởi chính người Tây Tạng. Tuy nhiên, người Tây Tạng lại thích gọi bậc Thầy lãnh đạo tinh thần của họ bằng những danh hiệu Tây Tạng như: Kun-dun (bậc Vạn Năng), Yi-shin Nor-bu (viên Ngọc Ước) và Gyal-wa Rinpoche. Sonam Gyal-tso được xem là tái sinh của Gen-dun Gyal-tso. Vị này lại là tái sinh của Gen-dun Drub, do vậy, So-nam Gyal-tso, thầy của Vua Altan Khan, được biết đến như đức Đạt-lai Lạt-ma thứ III. Hai vị trước chỉ được gọi danh hiệu sau khi đã qua đời là đức Đạt-lai Lạt-ma thứ I và thứ II.

Mặc dù các Đạt-lai Lạt-ma được giải thích và lập luận chính xác đó là sự tái sinh của các đức Đạt-lai Lạt-ma, nhưng mỗi vị có một sự hiện thân rất vĩ đại trong những phong cách đặc biệt và đã chọn một lĩnh vực riêng để tham dự cũng như hoạt động.

Đức Đạt-lai Lạt-ma đầu tiên, Gyal-wa Gen-dun Drub sinh ra ở Gur-ma, Zhab-to vào năm 1391 trong một gia đình nông dân du mục. Lúc lên bảy, Ngài phải rời khỏi cha mẹ và được mẹ Ngài cho vào chùa Nar-tang (thuộc trường phái Ka-dam) để học hành. Ngài trở thành một học giả nổi tiếng do chùa này đào tạo. Danh tiếng của Ngài đã lan rộng như một ngọn cờ chiến thắng chinh phục trên khắp đất nước Tây Tạng. Vào năm 1447, Ngài xây dựng ngôi chùa Ta-shi Lhun-po ở Shi-ga-tse, về sau ngôi chùa này trở thành trường Đại học Phật giáo lớn nhất ở miền Nam Tây Tạng. Trong viết lách, Ngài tập trung vào những truyền thống thực hành Ka-dam-pa và năm chủ đề của giáo l‎ý đức Phật. Ngài là nhân vật nổi tiếng đặc biệt chính vì Ngài đã kết hợp được giữa học và hành trải qua thời gian suốt hơn hai mươi năm nhập thất tu thiền. Ngài viên tịch vào năm 1474 trong lúc đang toạ thiền.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ II, Gyal-wa Gen-dun Gya-tso, sinh vào năm 1475 tại Yol-kar Dor-je-den, là con trai của hành giả Yoga nổi tiếng của trường phái Nying-ma. Ngài được phát hiện ra là sự tái sinh của Gen-dun Drub vào lúc bốn tuổi. Ngài đã học và viết rất nhiều về sự thực hành của những trường phái Tây Tạng. Những tác phẩm nổi tiếng đặc biệt của Ngài là viết về dòng dõi của truyền thống Nying-ma, Shang-pa Ka-gyu và Ge-luk Nyen-gyu. Ngài tập trung chủ yếu vào truyền thống Mật Tông. Sự nổi tiếng đặc biệt của Ngài còn nhờ vào sự khám phá ra hồ La-tso (hồ Ảo Tưởng) và xây dựng chùa Cho-khor-gyal bên cạnh hồ. Ngài viên tịch vào năm 1547 trong tư thế đang tọa thiền.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ III, Gyal-wa So-nam Gyal-tso, sinh năm 1543 tại Khang-sar xứ To-lung. Ngài được phát hiện ra là tái sinh của ngài Gen-dun Gyal-tso từ khi còn rất bé và được đưa đến Dre-pung để học hành. Ngài nổi tiếng rất sớm vì trí tuệ và sự hoàn hảo của mình. Chính vì điều này, Ngài đã được bổ nhiệm làm người lãnh đạo Tu viện Dre-pung. Tên tuổi của Ngài lừng vang cả châu Á. Vua Altan Khan của Mông Cổ đã trở thành đệ tử của Ngài. Ngài du hành đến Mông Cổ vào năm 1578 và xây dựng chùa Tek-chen Cho-khor. Sau đó, Ngài du hành về phía Đông Tây Tạng và miền Tây Trung Quốc - nơi mà Ngài đã giáo hóa cùng khắp và xây dựng nhiều chùa chiền; trong số đó quan trọng nhất là chùa Li-tang và Kum-bum. Ngài nổi tiếng nhờ sự kết hợp hai dòng Nying-ma và Ge-luk trong sự thực hành của mình, và mang nền văn minh đến với miền biên địa hoang dã của xứ Trung Á. Ngài viên tịch vào năm 1588 khi đang đi giảng dạy ở miền Đông Nam Tây Tạng.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV, Gyal-wa Yon-ten Gyal-tso là vị Đạt-lai Lạt-ma duy nhất được sinh ra bên ngoài đất nước Tây Tạng. Ngài tái sinh vào năm 1589 tại Mông Cổ, người nối dõi trực tiếp của vua Altan Khan. Ngài đã thực hiện trọn vẹn lời hứa với người Mông Cổ là sẽ trở về với họ vào kiếp sau của mình. Vì Ngài sinh ra bên ngoài đất nước Tây Tạng nên việc thừa nhận và đăng quang đã xảy ra lâu hơn thường lệ. Mãi đến năm mười hai tuổi, Ngài mới được cung nghinh về Tây Tạng. Cả Ngài và tiền thân của Ngài là đức Đạt-lai Lạt-ma thứ III đều được nhận những món quà quí giá từ Hoàng đế Trung Quốc và nhiều lời mời viếng thăm cung điện Manchu nhưng cả hai đều từ chối. Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV này đã dành toàn bộ thời gian, sức lực cho việc nghiên cứu và thực hành giáo pháp. Ngài viên tịch vào đầu năm 1617.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ V, Gyal-wa Nga-wang Lob-zang Gyal-tso, ra đời vào năm “Con Rắn Lửa” - chưa đầy một năm sau khi đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IV viên tịch. Ngài rất năng nổ so với các đức Đạt-lai Lạt-ma trước. Ngài sáng tác rất nhiều tác phẩm có số lượng bằng tổng số tác phẩm của các đức Đạt-lai Lạt-ma trước gộp lại. Ngài du hành và thuyết giảng rộng khắp, phục hồi lại chế độ chính trị ở vùng Trung Á. Trong thời gian đó, ba tỉnh của Tây Tạng (miền Trung, Nam và Đông) bị chia ra thành những quốc vương riêng biệt kể từ khi vua Lang Dar-ma băng hà vào giữa thế kỷ thứ IX, và một lần nữa được sát nhập lại để thống nhất xứ Tây Tạng. Sự xuất hiện của bậc Đại Đạo Sư thứ V này như một vị thống lãnh cả về mặt tâm linh lẫn quốc sự. Vào năm 1652, Ngài được Hoàng đế nhà Thanh mời sang triều đình Trung Quốc để chỉnh đốn lại các chùa chiền Phật giáo và viếng thăm Bắc Kinh. Ngài viết về nhiều đề tài khác nhau nhưng nổi bật nhất là những tác phẩm viết về lịch sử, thơ văn Ấn Độ cổ đại và tiểu sử của những nhân vật kiệt xuất trong thời đại của Ngài. Kỳ công vĩ đại cuối cùng của Ngài là sự khởi công xây dựng cung điện Potala tráng lệ ở Lhasa. Cung điện chưa hoàn thành thì Ngài đã viên tịch vào năm 1682 trong lúc đang thực hiện kỳ nhập thất ba năm. Để đảm bảo cho việc hoàn tất cung điện Potala, Ngài ra lệnh cho các vị đệ tử cần phải giữ bí mật về sự qua đời của Ngài và nơi Ngài sẽ tái sanh trong tương lai cho đến khi phần chính của công trình được xây dựng đảm bảo an toàn. Vị Đại Đạo Sư thứ V này cũng được dân chúng tưởng niệm nhờ vào việc thiết lập hệ thống y tế quốc gia và khởi xướng chương trình giáo dục quốc gia cho Tây Tạng.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ VI, Gyal-wa Tsang-yang Gya-tso, là vị Đạt-lai Lạt-ma duy nhất không duy trì giới luật thiền môn. Ngài sinh ra trong gia đình Chi-me Ling-pa thuộc miền Nam Tây Tạng nằm trên đường biên giới giữa Tây Tạng và Ấn Độ. Hai năm sau, Ngài được nhận diện và vào năm 1688 được đưa đến Nang-kha-tse để học hành. Trong thời gian này, mọi sự kiện đều được giữ bí mật và không tiết lộ cho đến khi cung điện Potala được hoàn tất vào năm 1695. Ngài Pan-chen Lama thứ II được mời đến để thế phát và dạy dỗ cho Ngài. Ngài đã đăng quang vào năm 1697 nhưng Ngài thích cuộc sống ngoài xã hội hơn cuộc sống thiền môn, thế nên đến năm hai mươi tuổi Ngài đã hoàn tục và rời khỏi cung điện Potala, ra sống ở một căn phòng nhỏ mà Ngài đã xây ở dưới chân một ngọn đồi. Ngài được mọi người tưởng nhớ và mến mộ qua những tác phẩm thơ ca lãng mạn, cuộc sống đầy thú vị và sự bất cần về quyền lực của mình. Thế rồi, một bi kịch đã xảy ra với Ngài. Đó là vào năm 1705, một số người Mông Cổ đã không hài lòng với sự thiếu hình thức thọ trì giới luật của Ngài nên đã xâm chiếm Lhasa và bắt giữ Ngài. Ngài viên tịch vào năm 1706 trong lúc đang bị đày sang Mông Cổ. Mặc dù vậy, người Tây Tạng vẫn xem Ngài chính là sự tái sinh của bậc Đại Đạo Sư thứ V và họ đã giải thích cách cư xử bất thường của Ngài chính là sự thể hiện của trí tuệ Mật tông như một phương tiện truyền bá giáo lý huyền bí cho dân tộc của Ngài.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ VII, Gyal-wa Kal-zang Gyal-tso, ra đời vào năm 1708 ở Li-tang, miền Đông của Tây Tạng. Ngài được xác định vị trí tái sinh ngay sau đó, nhưng vì sự quấy rầy của Mông Cổ nên Ngài đã không được công nhận chính thức. Cuối cùng, vào năm 1720, Ngài được các vị Lama đưa về trung tâm của Tây Tạng và đăng quang. Nhưng điều đó không thể thực hiện cho đến khi những cuộc nổi loạn dai dẳng được giải quyết và đánh đuổi quân Mông Cổ khỏi Lhasa. Thật không may là sự kiện đăng quang lần này lại phải nhờ vào sự trợ giúp của Manchus, người đã xem Mông Cổ như kẻ thù chính của mình và thấy được mối xung đột này (giữa Tây Tạng và Mông Cổ), mới thành công được. Đây chính là cơ hội để khuếch trương sự quan tâm của mình đối với vùng Trung Á. Mối liên minh này (Manchus và Tây Tạng) đã dẫn đến sự phức tạp chính trị về sau. Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ VII tỏ ra hết sức quan trọng đối với lịch sử tôn giáo Tây Tạng; tuy nhiên, Ngài đã chinh phục được nhân dân Tây Tạng bằng chính cuộc đời thanh bạch và giản dị của một đời sống Tăng sĩ. Ngài đã sáng tác rất nhiều, đặc biệt là về lĩnh vực: “Mật tông phổ cập”: Guhyasamaja, Heruka Chakrasamvara, Vajrabhairava và Kalachakra. Ngài nổi tiếng với những sáng tác thơ ca thuộc lãnh vực tâm linh và nhiều bản Kinh tụng. Ngài tịch vào năm 1757.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ VIII, Gyal-wa Jam-pal Gya-tso, ra đời một năm sau đó tại Tob-Gya thuộc tỉnh Tsang. Ngài được phát hiện và đưa về Lhasa vào năm 1762. Ngài được trao cho đức Pan-chen Lama thứ III dạy dỗ. Trong thời gian học tập và hành trì, Ngài đã biểu lộ đặc tính tâm linh tuyệt vời, pha lẫn với sự chán ghét về những âm mưu chính trị. Cũng trong giai đoạn này, lần đầu tiên Tây Tạng ‎nhận thức được sự “nhòm ngó” về vấn đề thuộc địa của Anh tại châu Á. Vì vậy, Tây Tạng đã hình thành chính sách phòng thủ biệt lập vào năm 1802. Ngài đã viên tịch vào năm 1804.

Cứ mỗi bốn vị Đạt-lai Lạt-ma liên tiếp thì có một vị qua đời rất sớm. Người ta suy đoán rằng trường hợp này có thể là do sự liên lạc với thế giới bên ngoài ngày càng nhiều nên bệnh tật dễ dàng phát sanh, hoặc giả chỉ đơn giản là do một phần nhân dân Tây Tạng còn thiếu duyên lành (người Tây Tạng cho rằng duyên lành của các đệ tử chính là nguyên nhân chủ yếu đối với sự trường thọ của các bậc cao Tăng).

Có lẽ vì thế nên đức Đạt-lai Lạt-ma thứ IX, Gyal-wa Lung-tok Gyal-tso, sinh năm 1805, đã qua đời vào mùa xuân năm 1815. Đã có sự tiên đoán rằng đức Đạt-lai Lạt-ma này sẽ gặp rất nhiều chướng duyên trong cuộc đời, nên Ngài không thể sống thọ để thực hiện những kỳ công vĩ đại nhất so với tất cả các Đạt-lai Lạt-ma trước đây. Cho nên lúc Ngài viên tịch, cả Tây Tạng đều khóc thương cho sự mất mát lớn lao của cả dân tộc.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ X, Gyal-wa Tsul-trim Gyal-tso, sinh vào năm 1816, được phát hiện ra và đăng quang vào năm 1822. Ngài đau yếu liên miên và viên tịch vào năm 1837 khi vừa tròn 21 tuổi.

Một năm sau, đức Đạt-lai Lạt-ma đời thứ XI, Gyal-wa Khe-drub Gya-tso, ra đời ở Gar-tar thuộc miền Đông Tây Tạng. Ngài được đăng quang vào năm 1855 nhưng lại viên tịch trong vòng mười một tháng sau đó.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XII, Gal-wa Trin-le Gya-tso, ra đời một năm sau đó. Ngài là Đạt-lai Lạt-ma duy nhất mà sự chọn lọc dựa trên nền tảng sắc lệnh “điều may rủi của bình đựng tro cốt bằng vàng” do Trung Quốc đặt ra. Vì thực tế là có những lúc Đạt-lai Lạt-ma không có quyền lực, cho nên tình hình chính trị nội bộ đã trở nên ngày càng suy yếu. Đức Đạt-lai Lạt-ma này cũng qua đời rất sớm vào năm 1875.

Vị Đạt-lai Lạt-ma thứ XIII, Gyal-wa Tub-tan Gya-tso, sinh năm 1876 trong một gia đình nông dân ở Tak-po Lang-dun miền Đông Nam Tây Tạng. Ngài được phát hiện vào năm 1878 và một năm sau thì được đăng quang. Ngài đã trang bị một cương vị lãnh đạo về chính trị và tâm linh mạnh mẽ cần thiết cho sự phục hồi lại Tây Tạng. Điều này khiến cho chế độ thực dân trở nên hết sức lúng túng và xáo trộn trong chính sách cai trị. Nắm quyền vào năm 1895, Ngài đã chứng kiến cảnh Tây Tạng trải qua những xung đột  do chính quyền Anh và Nga vào cuối thế kỷ XIX, cho đến cuộc xâm lược của Anh vào năm 1904 và của Trung Quốc vào 1909. Sau ba năm nỗ lực tranh đấu, nhân dân Tây Tạng đã triệt tiêu những cuộc tấn công ồ ạt của Trung Quốc. Vào năm 1912, tất cả binh lính Trung Quốc đã phải đầu hàng và bị trục xuất khỏi Tây Tạng. Nhưng thật chẳng may là Ngài đã không đủ khả năng để làm cho đất nước Tây Tạng được thừa nhận vào khối Liên Hiệp Quốc. Anh quốc, vì sợ rằng một nước Tây Tạng độc lập sẽ dễ dàng trở thành miếng mồi cho sự bành trướng của Nga, nên đã khăng khăng tuyên bố rằng Tây Tạng - về mặt pháp lý - trên bình diện quốc tế - đã được xem như dưới sự thống trị của Trung Quốc (mặc dù thực tế không hề như thế). Tuy nhiên, Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XIII đã ra lệnh cấm tất cả những người Trung Quốc không được vào đất nước của Ngài. Điều này đã tạo nên một cuộc cách mạng trong suốt cả cuộc đời Ngài. Đây là đức Đạt-lai Lạt-ma đầu tiên có sự giao tiếp rộng rãi với phương Tây. Ngài nhận được lòng yêu thương sâu sắc và sự kính trọng chân thành từ những người có duyên gặp gỡ Ngài. Trong cuốn: Chân dung đức Đạt-lai Lạt-ma viết về Ngài, Charles Bell (London: Collins, 1946) biểu lộ sự kính trọng mà người Anh đã dành cho Ngài. Ngài đã hoàn tất việc học vấn của mình từ khi còn rất trẻ và vào năm 1914, Ngài đã thực hiện ba năm nhập thất thiền định. Suốt những năm cuối của cuộc đời mình, Ngài đã phấn đấu không ngừng cho công cuộc đổi mới của Tây Tạng, dù rằng sự nỗ lực của Ngài gặp phải những kháng cự mạnh mẽ từ các thế lực. Năm 1932 Ngài tiên đoán rằng, trong tương lai Trung Quốc sẽ xâm chiếm Tây Tạng, nên Ngài đã thúc giục nhân dân Tây Tạng phải chuẩn bị cho chính mình. Ngài đã cống hiến hầu hết thời gian cho nhu cầu khôi phục lại đất nước và tinh thần của dân tộc. Chặng đường đó đầy gian nan và thử thách. Tuy nhiên, với tinh thần vô úy, không những Ngài vượt đã qua mọi thử thách mà còn sáng tác rất nhiều tác phẩm có giá trị. Ngài đến Mông Cổ, Trung Quốc, Ấn Độ, và đã trải qua nhiều năm trên bước đường nỗ lực giữ cho đất nước nhỏ bé của mình thoát khỏi sự đè bẹp bởi những thủ đoạn của các nước siêu cường - Anh quốc, Nga, Trung Quốc. Ngài viên tịch vào năm 1933.

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XIV, Gyal-wa Ten-zin Gya-tso, ra đời vào ngày 06-07-1935 tại Tak-tser, thuộc miền Đông Tây Tạng. Hai năm sau người ta phát hiện ra Ngài rồi cung thỉnh về Trung tâm Tây Tạng, sau đó đăng quang vào năm 1939. Đây là đức Đạt-lai Lạt-ma được các nước phương Tây tìm đến thỉnh giáo, học hỏi và hết sức ngưỡng mộ. Cuộc xâm lược của Trung Quốc vào những năm thập niên 1950 và vô số những cuộc di cư của dân tỵ nạn Tây Tạng tiếp theo sau đó - mặc dù là một bi kịch thật khủng khiếp đối với con người, nhưng nó đã có sự ảnh hưởng đến việc khiến cho đức Đạt-lai Lạt-ma và các bậc Cao Tăng Tây Tạng lần đầu tiên tiếp cận với thế giới phương Tây. Cho đến nay, đức Đạt-lai Lạt-ma thứ XIV đã có vô số chuyến đi hoằng pháp ở phương Tây. Với sở học sâu rộng, trí tuệ uyên thâm về bản chất của nhân sinh đã khiến cho Ngài chinh phục được hàng vạn con tim trên khắp thế giới. Sự hóm hỉnh, lòng nhiệt thành và năng lực từ bi vô hạn của Ngài được xem như những chứng cứ hùng hồn sống động của sức mạnh và tính hiệu quả của Phật giáo Tây Tạng, cũng như giá trị lớn lao của nó đối với xã hội loài người.

Khái niệm Tul-ku hay “Hiện thân Lama” là một bộ phận không thể thiếu được của văn hóa Tây Tạng. Đức Đạt-lai Lạt-ma là một trong số hàng ngàn trường hợp hiện thân như thế, nhưng Ngài là người có những l‎í do đặc biệt nhất trong số họ; là vua của các sự hiện thân, vượt trên mọi phạm vi giới hạn hay trường phái của Phật giáo Tây Tạng. Ngài vừa là người đứng đầu trị vì cả đất nước Tây Tạng, lại còn là bậc Thầy lãnh đạo tinh thần - không những chỉ đối với Tây Tạng mà còn đối với cả các lãnh địa nơi mà Phật giáo Tây Tạng chiếm ưu thế như: Mông Cổ, miền Tây Trung Quốc, Nam Ấn… Những người ngưỡng mộ Ngài không chỉ giới hạn trong số sáu triệu dân Tây Tạng mà là hàng chục triệu Phật tử đang sinh sống trên các dải đất rộng mênh mông, một địa hạt rộng lớn hơn cả lãnh thổ của châu Âu. Ngày nay, Tây Tạng không còn là một quốc gia độc lập nữa, vị trí về mặt thế gian của Ngài vì một số lí do nào đó đã bị thu hẹp lại, nhưng sự ảnh hưởng về tâm linh của Ngài thì tăng trưởng không ngừng. Ngoài ra, sự trân trọng và kính ngưỡng của cộng động quốc tế đối với các bậc Cao Tăng và Phật giáo Tây Tạng đã phát triển một cách ngoài sức tưởng tượng.

Sự mất mát của Tây Tạng và tương lai phục hưng của nó cũng đã được Padma Sambhava (ngài Liên Hoa Sanh), nhà hiền triết Ấn độ ở thế kỷ thứ VIII tiên đoán: “Khi chim sắt biết bay và những con ngựa sắt chạy bằng bánh xe thì Phật pháp sẽ được mang đến vùng đất của những người da đỏ”. Có lẽ những khổ đau và những phẩm cách đặc biệt của nhân dân Tây Tạng chính là chất xúc tác cần thiết, để có thể mang chân giá trị của văn hóa Tây Tạng truyền bá đến các quốc gia khắp nơi trên thế giới.

Khi được hỏi về vấn đề tiên đoán ở trên, vị Thánh Tăng Đạt-lai Lạt-ma thứ XIV đã trả lời: “Dù có sự tiên đoán hay không thì thế giới phương Tây cũng đang thể hiện một sự quan tâm mạnh mẽ đến Phật giáo. Càng ngày càng có nhiều trường Đại học đưa ra giảng dạy về phân khoa Phật giáo, hàng trăm trung tâm thiền Phật giáo đã xuất hiện trên thế giới. Bản thân tôi tuyệt đối tin tưởng rằng Phật giáo chính là tài sản của cả nhân loại, chứ không phải riêng của bất cứ dân tộc hay quốc gia nào. Phật giáo đã cống hiến rất nhiều cho nhân loại về lĩnh vực thấu hiểu và trưởng dưỡng tâm thức. Thông qua việc hiểu biết và phát triển những phẩm chất sáng tạo của tâm thức, chúng ta có thể làm tăng trưởng nền hoà bình và hạnh phúc cho nhân loại. Nếu người Tây Tạng chúng tôi có thể đóng góp được cho vấn đề này - dù bằng bất cứ giá nào - thì chúng tôi cũng sẽ hết sức vui mừng để làm được điều đó…. Có rất nhiều yếu tố trong Phật giáo có thể mang lại sự lợi lạc cho thế giới, nhiều phương pháp để trưởng dưỡng tình yêu cao thượng, tâm từ bi và trí tuệ. Mọi người đều được lợi lạc nhờ vào sự tăng trưởng của những phẩm chất này. Người ta không cần phải trở thành Phật tử trong ý nghĩa nghi thức để được sử dụng những phương pháp kỹ thuật Phật giáo. Mục đích của giáo pháp là để làm lợi lạc tất cả chúng sinh… Thế giới thật sự cần hòa bình, tình yêu và sự hiểu biết. Nếu Phật giáo có thể làm cho sự đóng góp này trở nên hoàn hảo, chúng tôi sẽ rất vui để được làm như thế. Tất cả chúng ta đều cùng nhau sống chung trên hành tinh này. Tất cả chúng ta đều là anh chị em với cùng những khả năng về thể xác lẫn tinh thần, cũng có cùng những vấn đề và những nhu cầu như nhau. Tất cả chúng ta đều cần phải đóng góp với tất cả khả năng của mình cho sự hoàn hảo của tiềm năng nhân loại và sự hoàn thiện phẩm chất của cuộc sống. Nhân loại đang kêu gọi sự giúp đỡ. Những ai có điều gì để cống hiến thì nên tiến về phía trước. Bây giờ chính là lúc…”.

(Phỏng dịch theo phần Phụ lục của “Selected Works of the Đạt-lai Lạt-ma II” by Glenn H. Mullin)

 

Tập Tục Dâng Hương
 

Thích Thánh Minh

Mỗi lần, trước khi hành lễ ở các chùa, vị chủ lễ thường chắp tay cầm ba nén nhang dâng lên trên trán và đọc thầm bài kệ niệm hương: “Nguyện đem lòng thành kính, gởi theo đám mây hương, phưởng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam bảo, thệ trọn đời giữ đạo, theo tự tánh làm lành, cùng pháp giới chúng sanh, cầu Phật từ gia hộ, tâm bồ đề kiên cố, xa bể khổ nguồn mê, chóng quay về bờ giác.” Và chúng ta cũng thường nghe những vần thơ như: “Lặng lẽ chiên đàn tỏa khói hương, đỉnh trầm xông ngát ý thiền môn, lung linh nến ngọc ngời sao điểm, xóa sạch trần gian hết tủi hờn…” Những vần thơ này đã giới thiệu về những nét đẹp văn hóa của sinh hoạt tín ngưỡng, sinh hoạt tâm linh và cho chúng ta thấy nghi thức dâng hương là nét văn hóa rất đẹp trong nghi lễ thiền môn.

Tại các tư gia quý Phật tử, việc thắp hương cúng Phật, dâng hương lên bàn thờ ông bà, tổ tiên trong các ngày lễ, ngày giỗ chạp cũng không thể thiếu được. Những người không theo đạo Phật, họ vẫn thắp nhang để tỏ lòng thành kính với ông bà tổ tiên, trong các lễ tiết như tết Nguyên đán, trong những ngày sóc vọng...

Những điều này đã cho chúng ta thấy dâng hương là một trong những tập tục truyền thống lâu đời trong văn hóa sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt nam. Cho dù dòng đời có những thay đổi, cuộc sống có những biến thiên nhưng tập tục dâng hương không bao giờ mất đi. Trái lại nó càng mở rộng ở Đình làng Miếu vũ cho đến việc thực thi lễ dâng hương tại các nghĩa trang liệt sĩ để tỏ lòng biết ơn, ghi nhớ công lao của những anh hùng, chiến sinh, anh linh đã hy sinh vì nước vì dân. Tập tục dâng hương là một trong những nét văn hóa đẹp trong nếp sống sinh hoạt tâm linh, cho nên  chúng ta cần phải đặc biệt  quan tâm đến.

Thưa quý vị! Khi trình bày đề tài này, tôi biết trong quý vị sẽ có người bảo rằng: Thắp nhang, đốt hương là một việc làm rất bình thường có gì là quan trọng phải để tâm suy nghĩ, luận bàn? Xin thưa rằng: Dâng hương không chỉ có nghĩa là đốt hương, thắp nhang mà nó còn mang cả một văn hóa và đạo lý, cao hơn nữa nó còn mang ý nghĩa của một quan niệm triết lý vũ trụ và nhân sinh. Nó không phải là một động tác thắp nhang, đốt hương mà nó đã trở thành một tập tục dâng hương có nghi thức, có luật tắc rõ ràng.

Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Minh Tâm - Thanh Nghị: Hương là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng, khi nguyện v.v... (Lò trong ngát dạ, đỉnh ngoài bay hương (Nhị Độ Mai). Theo Từ điển Phật học Huệ Quang: Hương liệu được tinh luyện từ dầu của những loại cỏ hoặc gỗ thơm, gồm các loại như  Chiên đàn hương, Trầm thủy hương, Đinh tử hương, Uất kim hương, Long não hương. Năm thứ hương này Mật giáo thường sử dụng trong lúc lập đàn. Nếu phân biệt theo cách sử dụng và chế tạo thì có các loại như Đồ hương (hương xoa trên thân), Thiêu hương (hương đốt để xông), Huân hương (hương ướp), Mạc hương (hương bột dùng để rắt nơi đạo tràng và chùa miếu), Hương thủy (nước hương).

Hương Hỏa: hương và đèn dùng chỉ việc thờ cúng tổ tiên. Lo việc hương hỏa (từ điển tiếng Việt).
Có nhiều người thắc mắc tại sao thắp hương lại dùng những con số lẻ nén nhang 1, 3, 5, 7, 9, v.v...? Thường thì ba nén nhang và hai bàn tay luôn luôn chắp lại và miệng thì lâm râm thầm khấn nguyện? Phải chăng số lẻ là con số tượng trưng cho sự linh thiêng, tượng trưng cho trời vì chiếu theo luật cơ-ngẫu  của dịch lý thì số lẻ thuộc Dương, số chẳng thuộc Âm. Dương tượng trưng cho trời, cho sự linh thiêng, cho vô hình, cho sự trong sạch thanh tịnh, cho sự sinh trưởng phát triển, cho các cõi trên như Tiên, Thánh, Phật...

Con số ba liên quan đến biểu tượng “Lưỡng long triều nguyệt”, nghĩa là đôi rồng chầu vào một mặt nguyệt, ta thường được trang trí trên các bát nhang, lư hương lớn nhỏ ở các nơi thờ tự. Theo dịch lý đôi rồng là tượng trưng của dương, ứng với hai hào dương trong các quẻ Kinh Dịch. Còn mặt nguyệt là tượng trưng của âm, ứng với hào âm trong các quẻ. Ở đây, hào âm (mặt nguyệt) ở giữa, còn đôi rồng chầu hai phía. Lưỡng Long triều nguyệt cũng chính là biểu tượng của quẻ Ly.

Không những vậy, con số 3 còn liên quan cả một quan niệm triết học về vũ trụ của người phương Đông: Thiên, Nhân, Địa (Trời, Nguời, Đất) gọi là Tam tài. Người xưa rất chú trọng về ý nghĩa Tam tài, cho nên làm bất cứ việc gì họ đều xét nét tỉ mỉ về Thiên thời, Địa lợi và Nhân hòa, nếu thấy đầy đủ ba yếu tố Tam tài thì mới hành sự và tin tưởng điều ấy sẽ thành công.

Ngày xưa, Lý Thường Kiệt với lời tuyên ngôn: Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư, đã từng “mượn” uy linh của đền thờ Trương Hống, Trương Hát mà khích lệ ba quân tướng sĩ, Chính sử và Dã sử  còn ghi lại những hiện tượng “âm phù”, “báo mộng” của các thần linh đối với vua chúa đem quân đi chống giặc. Tín ngưỡng ấy, nó đã từng có những tác dụng không nhỏ trong cuộc sống của con người, nhiều khi có tác dụng làm lay động cả một cộng đồng.

Tuy vậy, hiện nay có người không hiểu và cho rằng dâng hương là một trong những hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì hiện nay hương chỉ làm bằng mạt cưa, bằng cây v.v… rồi tin tưởng đặt trong lư hương và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không đem lại lợi ích, lại còn làm nhơ bẩn đến nhà cửa và hao tốn tiền bạc. Lời này mới nghe qua có lý, nhưng tìm hiểu cặn kẻ nguồn gốc và ý nghĩa của việc dâng hương thì ta thấy lời nhận định trên đây hoàn toàn sai lầm.

Chúng ta thử tìm hiểu từ đâu mà có tập tục dâng hương?

Theo Phan Kế Bính, trong “Việt Nam phong tục” thì việc đốt hương xuất phát từ Tây Vức. Đốt hương nghĩa là cầu cho quỷ thần giáng cách. Khi xưa tục Tàu tế tôn Miếu chỉ dùng cỏ tiêu (cỏ thơm) trộn với mỡ đốt cho thơm. Đến đời nhà Hán, vua Vũ đế sai tướng sang đánh nước Hồn Gia (xứ Tây Vức), vua nước ấy đầu hàng, dâng một thân tượng bằng vàng. Vua Vũ Đế đem tượng về đặt trong cung Cam Toàn để dâng hương tế lễ. Kể từ đó, Tàu mới có tục đốt hương.

Theo Pháp sư Tịnh Không: Đốt hương? Hương đại biểu cho hương tín, đây là một tín hiệu mà người xưa đã dùng rất rộng rãi. Rõ ràng nhất, Nơi Vạn lý trường thành, chúng ta thấy cách một đoạn có một phong hỏa đài, phong hỏa đài là đài truyền tin gấp rút. Phong hỏa đài giống như cái lò hương. Người ta dùng lửa đốt phân sói, mật độ của khói phân sói không giống như khói khác, gió khó thổi tan và duy trì lâu. Ở xa trông thấy chỗ có khói thì biết rằng chỗ kia có biến cố, đây là cách truyền tin gấp của người xưa. Việc đốt hương để truyền tin gấp đến chư Phật và Bồ tát khiến cảm ứng đạo giao cũng xuất phát từ ý niệm truyền tin kiểu này.

Đạo Phật đã được truyền bá vào Việt Nam từ  những thế kỷ trước Công nguyên, cho nên văn hóa Phật giáo  hòa quyện cùng văn hóa bản địa đã tạo ra một Văn hóa tín ngưỡng rất đặc thù. Tập tục dâng hương theo quan điểm của Phật giáo, hương thắp lên vừa đạt được ý nguyện tâm linh dâng mùi thơm và chuyển lời cầu nguyện lên ngôi Tam bảo chứng minh, vừa để biểu hiện chí tâm hướng tới điều thiện.

Khi đốt hương cúng Phật, chúng ta thường đọc những câu mật ngữ như: “Hương Yên khiết thể, thông xuất tam giới, ngũ uẩn thanh tịnh, tam độc liễu nhiên.” Trong lúc cầm ba nén nhang vị chủ lễ xướng to bài kệ: “Thử nhất biện hương, bất tùng thiên giáng, phi thuộc địa sanh. Lưỡng nghi vị phán chi tiên, căn nguyên sung tắc tam giới, nhứt khí tài phân chi hậu. Chi diệp biến mãn thập phương. Siêu nhật nguyệt chi quang hoa, hàm sơn xuyên chi tú lệ. Tức giới tức định tức huệ. Phi mộc phi hỏa phi yên. Thâu lai tại nhứt vi trần. Tán khứ phổ châu sa giới. Ngã kim nhiệt hướng lư trung, đoan thân cúng dường. Thập phương thường trú Tam bảo, sát hải vạn linh, tất trượng chơn hương, đồng quy chơn tế.
(Mông Sơn Khoa Nghi)

Chúng ta lắng lòng khi đọc những câu như vậy với những phút giây thanh tịnh, sẽ thẩm thấu được sâu sắc ý nghĩa dâng hương: Hương ở đây chẳng phải là những vật liệu  làm bằng mạt cưa, chẳng phải là lửa là khói và hương cũng chẳng phải là mùi thơm, vật đốt cho thơm khi cúng. Mà hương ở đây chính là ngũ phần hương. Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát và Giải thoát Tri Kiến hương, dâng lên cúng dường mười phương chư Phật, chư Hiền Thánh, thể hiện lòng  thành kính của chúng ta.

Tích xưa, có một đồng tử sau khi nghe lời đức Phật dạy thực hành các phương thức quán các pháp hữu vi. Đồng tử bèn lẳng lặng tu tập. Một hôm nhân thấy quý thầy Tỳ-kheo đốt hương trầm thủy mùi hương ngào ngạt, khói tỏa lan vào mũi. Đồng tử quán mùi thơm: Không màu, không sắc, không trong không ngoài, không đến không đi, không phải không, không phải có… nhơn đó tỏ ngộ lý chơn thường đắc quả A-la-hán, Phật liền ấn chứng cho đồng tử với danh hiệu Hương Nghiêm. Để ca ngợi hạnh quả của Hương Nghiêm, tổ Từ Vân có làm bài nguyện Tán hương sau đây:

“Tâm nhiên ngũ phận, phổ biến thập phương

Hương yên Đồng tử ngộ chơn thường

Tỉ quán thiệt nan lường

Thoại ái tường quang

Kham hiến Pháp trung Vương

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát.”

Nghĩa:

Hương lòng năm món biến khắp mười Phương

Hương Đồng Tử (nhơn khói) tỏ lý chơn thường

Diệu lực của mũi thật không lường

Sáng tốt đẹp lành quý như ngọc Khuê – Bích

Xin dâng cúng dường đại Pháp Vương.

Cúng kính dâng mây hương khắp (lợi lạc) Giác Hữu Tình.

Trong kinh Pháp Cú đức Phật dạy: “Không một hương hoa nào, bay ngược chiều gió thổi, chỉ hương người đức hạnh, bay ngược gió bốn phương”.

Giới Hương: Muốn trở thành người đức hạnh trước hết chúng ta phải giữ giới, chúng ta phải sống một đời sống trong sạch. Chúng ta phải làm việc để nuôi sống bản thân bằng một nghề nghiệp chân chánh. Chúng ta phải siêng năng tinh tấn làm lành lánh dữ và không bao giờ lừa dối gạt gẫm thiên hạ bằng những lời vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác khẩu. Làm được như thế, hương thơm đức hạnh và đạo đức của chúng ta sẽ tỏa sáng và lan rộng.

Định Hương: Nhờ giữ giới mà tâm chúng ta được an định, nghĩa là trong lúc tu tập để đạt được thanh tịnh hoặc để giải quyết một vấn đề gì đó trong sự nghiệp ở đời; cũng như hạnh nguyện giải thoát trong đạo, chúng ta phải gom thân khẩu ý vào một định hướng của chánh tư duy và chánh kiến. Hay nói một cách dễ hiểu hơn chúng ta phải sáng suốt, tỉnh táo để giải quyết mọi vấn đề. Làm được như vậy, chúng ta sẽ thành công và đạt được năng suất và hiệu suất của việc làm, đó là ý nghĩa của định hương.

Huệ Hương: Là ánh sáng mầu nhiệm của tâm linh, khi có định kiên cố thì tâm trí sẽ bừng sáng. Hằng ngày định tâm tu tập một pháp môn, quán chiếu suy xét mọi việc, hiện tượng trên nền tảng Chánh pháp như nhân duyên sanh, vô thường, vô ngã, hoan hỉ, xả ly. Bền bỉ thực hành lâu ngày, ta sẽ đạt được tâm thái an nhiên giải thoát. Ứng dụng hữu hiệu Chánh pháp làm cho nhận thức ta sáng tỏ như Chánh pháp, không bị tham, sân, si, tập khí phiền não quấy nhiễu. Đây chính là ý nghĩa của Huệ hương.

Giải thoát hương: Giải thoát là một thuật ngữ của Phật giáo được dịch từ Phạn ngữ là “mộc đề”, “mộc xoa”, nghĩa là rời bỏ mọi sự trói buộc mà được tự tại, cởi bỏ sự trói buộc của hoặc nghiệp, thoát ra khỏi khổ quả của Tam giới. Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm, do Viện ngôn ngữ Việt Nam ấn hành, định nghĩa từ giải thoát như sau: 1) làm cho thoát khỏi sự giam hãm, ràng buộc hay bế tắc, giải thoát được những ý nghĩ nặng nề. 2) thoát khỏi mọi điều đau khổ trên cuộc đời.

Muốn được giải thoát ta phải vâng lời Phật dạy tu tập theo tam vô lậu học. Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Bởi vì, Giới, Định, Huệ là ba môn học chi phối toàn bộ giáo pháp giải thoát của đức Phật và luôn luôn đòi hỏi ở năng lực hành trì thâm hậu của tất cả Phật tử chúng ta. Làm được điều đó tâm hồn chúng ta sẽ phơi phới hạnh phúc, tràn đầy niềm vui và đem lai sự an lạc giải thoát đến với mọi người. Đây là ý nghĩa Giải thoát hương.

Giải thoát tri kiến hương: Tri kiến là sự nhận định, nhận thức của con người. Ở đời có những sự kiện xảy ra thường không đúng sự thật vì do chủ quan con người ấn định. Cùng một sự kiện, nhưng quan niệm của mỗi người nhận định mỗi khác, đó là do chủ quan của con người. Do sự thương ghét của chúng ta tác động vào sự tin tưởng của chúng ta, cho nên khi bị cảm giác kích động, con người sanh ra chủ quan; mà chủ quan theo danh từ Phật học gọi là tri kiến hay kiến trược. Khi đã bị chủ quan thì không bao giờ có nhận xét đúng. Bởi vậy, người ta phải tránh chủ quan, bởi vì chủ quan là nguồn gốc lôi kéo chúng ta đi vào những nhận xét sai lệch. Nếu tránh được chủ quan cũng chính là giải thoát tri kiến thì ta sẽ trở thành một người có nhận thức đúng đắn gọi là Giải thoát tri kiến hương. Ngược lại, ta không giải thoát được tri kiến thì chúng ta sẽ gặp nhiều hối hận sau khi đã thất bại. Nội dung những vần thơ sau đây sẽ minh chứng cho sự thật hiển nhiên đó:

Nghi ngút đầu gành tỏa khói hương

Miếu ai như miếu vợ chàng Trương

Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ

Làn nước chi cho lụy đến nàng

Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt

Giải oan chi mượn đến đàn tràng

Qua đây mới biết nguồn cơn ấy

Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng.

Vua Lê Thánh Tôn ngẫu hứng sáng tác bài thơ này khá súc tích với những ý tưởng thành thật trong một dịp đi ngang qua bờ sông Hoàng Giang, thuộc huyện Nam Xương (tỉnh Hà Nam) trông thấy một ngôi Miếu tỏa khói hương nghi ngút ở đầu gành, hỏi ra mới biết nơi đây đã xảy ra một câu chuyện hết sức thương tâm:
 Người chồng họ Trương đi lính thú lâu ngày. Ở nhà mỗi khi con hỏi “cha đâu” thì vợ lại chỉ bóng mình trên tường và bảo đứa trẻ rằng đó là cha nó. Khi người chồng trở về, đứa bé không nhận ra cha và nói rằng cha nó tối mới đến… Nghi vợ ở nhà ngoại tình, người chồng sỉ nhục và đánh đập, hành hạ vợ một cách tàn nhẫn. Quá uất ức, người vợ nhảy xuống sông để kết liễu cuộc đời. Ít lâu sau, vào một buổi tối, đứa bé bỗng chỉ vào bóng trên tường và bảo rằng cha nó đó. Bấy giờ, người chồng mới hiểu ra và lập đàn chay bạt độ giải oan cho vợ.

Câu chuyện trên đã cho chúng ta thấy rõ rằng: Vợ chàng Trương bị oan ức, chính vì sự nhận xét chủ quan của chàng Trương. Nếu chàng Trương bình tĩnh trưng cầu ý kiến của nhiều người thì tất nhiên sẽ không chủ quan và khám phá ra sự thật, không còn gây oan uổng dẫn đến cái chết của vợ mình.
Tóm lại, tập tục dâng hương là một đạo lý truyền thống của dân tộc có từ ngàn xưa, đây là những gia bảo tinh thần đáng quý của tổ tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia bảo này được hấp thụ những tinh hoa của tư tưởng văn hóa Đông phương. Để xác định một lần nữa, dâng hương không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là một truyền thống văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, chúng ta không nên quên nguồn gốc văn hóa Đông phương. Và đó cũng chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị tâm linh ấy trong cuộc sống xã hội của họ.

Riêng đối với Phật giáo, việc dâng hương cúng dường chư Phật mang nhiều ý nghĩa, từ sự hiển lý, không những làm tăng vẻ uy nghiêm, phá tiêu chướng khí nơi đạo tràng, mà còn làm cho chúng ta tỏ ngộ chơn thường, đạt thể tánh tịnh minh. Người Phật tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa giá trị của việc dâng hương theo quan niệm Phật giáo thì hãy cố gắng giữ gìn truyền thống và thực hiện cho kỳ được việc dâng hương cho trang nghiêm và chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân vừa giáo dục con em của mình trở thành những con người tài đức vẹn toàn để cống hiến và xây dựng một xã hội văn minh và hạnh phúc.

 Ngày nay, trong xu thế hướng về nguồn cội để giữ gìn và phát huy những truyền thống bản sắc văn hóa của dân tộc thì tập tục dâng hương lại là một trong những đề tài hướng đến Chân Thiện Mỹ để chúng ta suy gẫm và phát huy nhiều hơn nữa những giá trị văn hóa tâm linh cao quý này.

 

Chùa Thầy Giai Thoại và Triết Học

Quang Đức
 

Chùa Thầy (Thiên Phúc tự), một di tích Phật giáo và văn hóa, đến nay chưa xác định được niên đại thành lập, nhưng theo một số sử liệu cho chúng ta biết, lịch sử của ngôi chùa này gắn liền với thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chùa hiện còn được xây dựng thời Lê Trung Hưng (tu sửa lớn vào năm 1499 theo lệnh vua Lê Hiến Tông). Chùa Thầy dựa vào sườn Tây Nam của một núi đá vôi có nhiều hang động. Ngọn núi đó gọi là núi Thầy, tức núi Sài Sơn thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

Chùa Thầy khởi nguyên chỉ là một ngôi chùa làng bé nhỏ, song với đức độ của Thiền sư Từ Đạo Hạnh mà ngôi chùa này dần dần được xem là một chốn Tổ. Thiền sư Từ Đạo Hạnh, theo pháp phái, Ngài là thế hệ thứ 12 thuộc dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi, một Phật phái gần gũi với nếp sống và tín ngưỡng dân dã, với những hướng đi được quần chúng nhân dân sùng kính. Hơn nữa, theo lịch sử để lại, chúng ta thấy thế kỷ thứ 17 là thời kỳ xã hội Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng, cho nên chính thời điểm ấy cánh cửa từ bi của đạo Phật nói chung và ngôi chùa nói riêng mở rộng vòng tay che chở. Chính vì thế đã tạo ra những thiền môn sầm uất lúc đó như một trào lưu theo yêu cầu cần thiết nhất mà bản thân chùa Thầy cũng vậy.

Chùa Thầy được xây dựng theo thuyết phong thủy rất rõ ràng. Chùa được tọa lạc trên một thế đất hình rồng, một loài vật được dân gian sùng bái và hư cấu nhất trong tất cả các con giáp của dân gian. Ở phương Đông có một câu nói về nhóm tứ linh như sau “kỳ lân tín nghĩa, phượng hoàng trị loạn, rùa báo điềm lành, rồng có phép biến hóa” thì trong đó rồng được biết đến như một dũng sĩ rất uy nghi, thiêng ứng, có vai trò độ thế như chính trong tâm tưởng của mỗi vị tu sĩ trong triết lý của Phật giáo.

Phía trước chùa bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao rồng). Sân có hàm rồng. Tất cả những yếu tố đó đều mang nét tượng trưng thực sự, với những chi tiết mang lại tiết tấu tôn lên hình ảnh của con rồng trong tư thế đang ngậm một viên ngọc uốn lượn đùa trong nước. Nổi bật nhất chính là thủy đình mọc lên giữa hồ Long Chiểu chính là viên ngọc ở đầu rồng, hai giếng hai bên chính là hai mắt rồng. Ngoài ra, vào năm 1602, ngôi chùa này được quan trạng Phùng Khắc Khoan cho xây dựng thêm hai cầu có mái ngói chính là hai răng nanh của miệng rồng: cầu Nhật Tiên ở bên trái trông vào đền Tam phủ, xây trên một đảo nhỏ ở giữa ao; cầu Nguyệt Tiên ở bên phải dẫn vào đường lên chùa trên núi. Đối diện với thủy đình là chùa cả, xây dựng theo kiểu chữ “tam”, trong đó có đặt ba pho tượng diễn tả ba kiếp của Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Tăng, Phật, và Đế vương, mang màu sắc triết lý Phật giáo về kiếp luân hồi trong một cuộc đời làm người và sự giải phóng chính mình, cứu giúp mọi người ra khỏi những nghiệp chướng.

Với hướng quay về Nam như vậy, công trình đã tạo ra một chủ ý minh triết vừa đề cao ,vừa cầu viện đến sức mạnh của đức thánh Từ Đạo Hạnh. Còn đối với các công trình kiến trúc tôn giáo thời Lê lại có một lời giải thích khác: “Hướng Nam là hướng mà đức Phật và Bồ-tát quay về để nghe lời kêu cứu của chúng sanh trong kiếp đời tục lụy, dùng pháp từ bi hỉ xả mà cứu vớt” (theo Nguyễn Đình Toàn, trong Kiến Trúc Việt Nam Qua Các Triều Đại, trang 96). Dù được giải thích như thế nào chăng nữa thì công trình đó cũng là một kinh nghiệm được đúc kết qua thời gian mà có. Còn trong dân gian thì lại lưu truyền câu thơ: Lấy vợ hiền hòa làm nhà hướng Nam”.

Chùa Thầy còn là một trung tâm văn hóa mà nổi bật nhất chính là thủy đình ở giữa hồ Long Chiểu như đã nói ở trên. Ngoài sức biểu tượng còn mang một công năng dân dã, ở đây thường xuyên diễn ra hoạt động múa rối dưới nước đặc sắc. Về bản thân căn nguyên của múa rối nước đã ẩn chứa trong nó tiềm tàng về triết lý nghệ thuật dân  gian của Việt Nam. Ngoài ra, chùa còn là một trung tâm văn hóa sinh hoạt cộng đồng mang màu sắc tín ngưỡng dân gian:

Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ,

Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.

Lời giải thích đó được nhắc đến khá đầy đủ trong bài thơ:

Rủ nhau lên núi Sài Sơn

Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?

Hỏi non, non những làm thinh

Phải rằng non đã vô tình với ai?

Nước non ví chẳng chiều đời

Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?

Yêu nhau ta dắt nhau cùng

Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.

(Nam Trần Tuấn Khải).

Chùa thầy là sản phẩm lao động cả về trí tuệ lẫn sức lao động của con người Việt. Qua đó thể hiện những suy tư, nếp sống, sinh hoạt của cộng đồng của một tổ chức, mà chúng ta đánh giá được những giá trị tinh thần tiềm tàng trong quần cư tại chỗ nói riêng và cả một nền văn hóa nói chung. Xin mượn lời của Nguyễn Khuyến để thay đoạn kết:

Hóa công xây đắp biết bao đời

Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời

Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng gắt

Ban chiều mây họp tối trăng chơi

Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn

Giữ thủ giang sơn bốn mặt ngồi

Bán lợi mua danh no những kẻ

Chẳng lên mặc cả một đôi lời.
 

 

Hạnh Nhẫn Nhục của một Ẩn Sĩ

Quang Sơn

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một Tỳ-kheo có tính khí nóng giận. Đức Thế Tôn hỏi Tỳ-kheo này:

- Này Tỳ-kheo, tại sao thầy lại nóng giận khi đã xuất gia theo giáo pháp của Như Lai, người không bao giờ biết đến nóng giận là gì. Bậc hiền trí thuở xưa, mặc dầu bị đánh một ngàn cái; tay chân, tai mũi bị xẻo, vẫn không tức giận người khác.

Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, ở thành Ba-la-nại, có vị vua tên là Ca-lam-phù (Kalābu) trị vì vương quốc Ca-thi (Kāsi). Bấy giờ, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn có tài sản tám mươi triệu đồng tiền vàng. Lúc thiếu thời, Bồ-tát có tên là Khôn-đạt-già-khố-mã-lạp (Kuṇḍaka kumāra). Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài đến Xoa-thi-la (Takkasilā) để học các kiến thức về khoa học và sau đó trở thành một vị gia chủ.

Khi cha mẹ của Ngài qua đời, nhìn vào số tài sản để lại, Ngài nghĩ: “Người thân của ta tích lũy số tài sản này nay đã ra đi mà không mang theo được một thứ gì, bây giờ ta sở hữu số tài sản này và một ngày nào đó rồi cũng đến lượt ra đi.” Thế rồi Ngài cẩn trọng chọn lựa những người có hạnh bố thí - xứng đáng được nhận số tài sản của mình và bố thí tất cả cho họ, rồi sau đó vào Tuyết Sơn xuất gia làm ẩn sĩ. Ngài trú ở đấy một thời gian dài, sống nhờ vào trái cây rừng. Sau đó, để kiếm muối và giấm, Ngài đi xuống những vùng có dân chúng sống và dần dần đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, Ngài trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, Ngài đi quanh kinh thành để khất thực cho đến khi đến trước nhà một vị tướng quân. Hoan hỷ trước oai nghi của ẩn sĩ, vị tướng quân đã đưa Ngài vào nhà và mời Ngài dùng thức ăn được chuẩn bị sẵn cho mình, rồi sau đó đưa Ngài trở lại ngự viên.

Một hôm nọ, trong cơn phấn khích do rượu nồng gây ra, vua Ca-lam-phù bằng một nghi thức long trọng, đã cùng với một đám vũ công đi đến ngự viên. Rồi vua cho đặt long sàng trên một chỗ ngồi bằng đá và nằm kê đầu lên người một cung phi mà ông yêu thích nhất, trong khi các vũ nữ điêu luyện về đàn hát và ca múa thì trình diễn mua vui. Vẻ nguy nga tráng lệ của vua thì tuyệt diệu như Thiên chủ Đế thích (Sakka). Và rồi nhà vua ngủ thiếp đi. Thấy thế các tỳ nữ nói:

- Chúng ta biểu diễn âm nhạc là vì đức vua, nay đức vua đã ngủ thì chúng ta cần gì phải trình diễn nữa.

Thế là họ vứt bỏ đàn sáo đây đó và bắt đầu đi dạo vườn. Ở đấy, bị quyến rũ bởi đám cây cối đang ra hoa trổ trái nên họ cứ mãi miết vui chơi.

Bấy giờ, Bồ-tát như một con voi chúa hùng dũng, đang ngồi dưới gốc cây sa-la đang trổ hoa trong khu vườn này, hưởng thọ phước lạc của một người từ bỏ thế tục. Thế rồi khi dạo quanh vườn và trông thấy Ngài, các nữ tỳ này nói:

- Này các chị, hãy đến đây và ngồi xuống nghe vị ẩn sĩ đang ngồi tại gốc cây này thuyết giảng, đợi khi nào đức vua thức dậy thì trở lại.

Thế là họ đi đến chỗ Bồ-tát, ngồi xuống xung quanh Ngài và nói:

- Thưa Tôn giả, xin giảng cho chúng tôi những điều đáng nghe.

Thế rồi Bồ-tát thuyết pháp cho họ. Trong khi đó vị cung phi được sủng ái kia trong khi cử động thân thể đã đánh thức nhà vua dậy. Khi thức dậy và không nhìn thấy các nữ tỳ đâu cả, nhà vua bèn hỏi nàng cung phi này:

- Bọn nữ tỳ đi đâu cả rồi?

Cô này đáp:

- Thưa hoàng thượng, họ bỏ đi và đang ngồi hầu hạ vị ẩn sĩ ở đằng kia.

Nhà vua tức giận, nắm lây thân gươm vội vã ra đi và nói:

- Ta sẽ cho vị ẩn sĩ giối trá này một bài học.

Khi thấy nhà vua tức giận đi đến như vậy, những tỳ nữ được yêu mến nhất bèn đến nắm lấy thân gươm ở nơi tay nhà vua và làm cho vua nguôi giận. Nhà vua đến đứng bên cạnh Bồ-tát và hỏi:

- Này Sa-môn, ông đang thuyết giảng gì vậy?

- Thưa đại vương, tôi đang thuyết giảng về hạnh nhẫn nhục.

- Hạnh nhẫn nhục là gì? Nhà vua hỏi.

- Là không tức giận khi bị người khác phỉ báng, lăng mạ hay đánh đập.

- Bây giờ ta muốn thấy hạnh nhẫn nhục của ông thực sự thế nào.

Nhà vua nói và cho gọi vị đao phủ đến. Vị này theo nhiệm vụ của mình, cầm lấy một cây rìu, một sợi dây gai, mặc y phục màu vàng, đeo một tràng hoa màu đỏ, đi đến khấu bái nhà vua và hỏi:

- Thưa đại vương, ngài muốn con làm gì?

Nhà vua bảo:

- Hãy túm lấy và kéo gã ẩn sĩ giối trá đê mạt này đi, ném y xuống đất, dùng dây gai của ngươi đánh vào phía trước, phía sau và hai bên người y; đánh cho y một ngàn cái.

Khi gã đao phủ ra tay xong, da trong da ngoài của Bồ-tát đều bị tuốt khỏi thịt, máu chảy ướt đẫm khắp thân. Nhà vua lại hỏi:

- Này Sa-môn, ông thuyết giảng điều gì?

Bồ-tát trả lời:

- Thưa đại vương, tôi giảng về hạnh nhẫn nhục. Nhưng ngài chớ tưởng hạnh nhẫn nhục của tôi chỉ nằm ở nơi da. Nó không chỉ nằm ở nơi da mà nằm tận ở nơi tim tôi, chỗ ngài không thể nhìn thấy.

Tên đao phủ lại hỏi:

- Thưa đại vương, đại vương muốn con làm gì?

Nhà vua nói:

- Hãy chặt lìa hai bàn tay của tên ẩn sĩ dối trá này ra.

Thế là gã đao phủ xách rìu, đặt nạn nhân vào trong vòng tử tội và chặt hai bàn tay của Ngài. Rồi nhà vua lại bảo:

- Chặt hai chân của ông ta ra.

Hai bàn chân của Bồ-tát lại bị chặt. Máu từ chân và tay chảy ra giống như sữa chảy ra từ một chiếc bình bị thủng. Nhà vua lại hỏi Ngài thuyết giảng điều gì, và Bồ-tát đáp:

- Thưa đại vương, tôi giảng hạnh nhẫn nhục. Nhưng ngài chớ tưởng hạnh nhẫn nhục của tôi nằm ở nơi hai bàn tay và hai bàn chân của tôi. Nó không phải ở đó, nó nằm sâu ở nơi khác.

Nhà vua nói:

- Hãy xẻo mũi và tai của ông ta.

Tên đao phủ đã làm như vậy. Toàn thân của Ngài bây giờ nhuốm đầy máu. Nhà vua lại hỏi Ngài thuyết giảng điều gì, và Bồ-tát lại nói:

- Ngài chớ nghĩ hạnh nhẫn nhục của tôi nằm nơi chóp mũi và vành tai tôi. Hạnh nhẫn nhục của tôi nằm tận trong tim tôi.

Nhà vua nói:

- Này Sa-môn dối trá kia, hãy nằm xuống đó mà ca tụng hạnh nhẫn nhục của ngươi.

Nói vậy xong, ông dẫm chân lên ngực Bồ-tát và bỏ đi. Khi nhà vua đi rồi, vị đại tướng quân đi đến lau máu me nơi thân Bồ-tát, băng bó tay chân, tai mũi cho Ngài, sau đó nhẹ nhàng đặt Ngài lên một chỗ ngồi, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên và nói:

- Thưa Tôn giả, nếu Ngài căm giận kẻ gây tội ác cho Ngài thì hãy căm giận nhà vua chứ đừng căm giận ai khác.

Thỉnh cầu vậy xong, ông đọc lên bài kệ:

Mũi tai Ngài kẻ nào tùng xẻo

Tay chân Ngài kẻ ấy chặt đi

Bậc anh hùng hãy giận kẻ ấy

Cõi đời này xin chớ giận chi.

Bồ-tát nghe vậy thì đọc lên bài kệ thứ hai:

Cầu nhà vua sống lâu muôn tuổi

Người ra tay tàn hại thân ta

Bậc thanh tịnh như ta dầu vậy

Không hận thù việc đã xảy ra.

Còn nhà vua khi vừa rời khỏi ngự viên, mới ra khỏi tầm mắt của Bồ-tát, thì mặt đất rắn chắc dày hai trăm bốn mươi dặm liền nứt ra làm hai. Lửa từ dưới đất phun lên, và như một chiếc hoàng bào bằng len đỏ bền chắc đã trùm lên túm chặt lấy người ông. Như vậy, nhà vua bị nhấn chìm vào trong lòng đất ngay tại nơi cổng ngự viên và bị giam hãm dưới đại ngục A-tỳ. Bồ-tát vào ngày hôm đó cũng đã qua đời. Những người hầu của nhà vua và dân chúng mang nước hoa, vòng hoa và nhang trầm đến làm tang lễ cho Bồ-tát.

Người ta nói bậc thánh đời trước

Biểu lộ lòng can đảm cao nhất

Chịu nhẫn nhục trước điều ngang trái

Đã bị vua Ca-thi giết mất.

Ôi món nợ mỗi khi vay mượn

Vị vua kia sẽ phải trả thôi

Khi bị đọa vào trong ngục thẳm

Tháng ngày dài hối hận không vơi.

* * *

Kết thúc pháp thoại này, đức Thế Tôn tuyên thuyết các Thánh đế. Kết thúc thời pháp, thầy Tỳ-kheo nóng giận chứng được quả Nhất lai, trong khi nhiều thầy khác chứng được quả Dự lưu. Rồi Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là vua Ca-lam-phù nước Ca-thi, Xá-lợi-phất là vị tướng quân, còn ta chính là vị ẩn sĩ - người thuyết giảng hạnh nhẫn nhục.

(Tiền thân Khantivādi, số 313, dịch từ bản tiếng Anh)

 

Lời bàn:

Nhẫn nhục (ksānti) là một trong những hạnh tu căn bản của hành giả tu tập theo lời dạy của đức Phật. Phật giáo Nguyên thủy hay Phật giáo Đại thừa đều xếp nhẫn nhục vào một trong những Ba-la-mật (Pāramita). Khi nói đến nhẫn nhục là nói đến sự nhịn chịu mọi ô nhục, khổ hại; chịu đựng những hoàn cảnh ngang trái mà không sinh lòng hờn oán, thù hận. Người tu nào khi gặp cảnh ngang trái mà giữ được tâm tỉnh táo, không sinh lòng hận thù thì người ấy được xem là đang thực hành nhẫn nhục Ba-la-mật.

Nói thì dễ nhưng thực hành được hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật là một điều vô cùng khó khăn. Hạnh nhẫn nhục chỉ được thực hành một cách rốt ráo khi nào hành giả thấu rõ và thực chứng được lý vô ngã. Nếu tu tập nhẫn nhục mà cái “Tôi” còn quá lớn thì không thể nào được. Cái Tôi càng nhỏ thì thực hành nhẫn nhục càng dễ. Như vậy, các pháp tu đều luôn có sự hỗ tương lẫn nhau.

Đọc câu chuyện Tiền thân trên, chúng ta vô cùng cảm phục trước hạnh nhẫn nhục của vị ẩn sĩ - Tiền thân của đức Phật Thích-ca. Phẩm hạnh ấy của Ngài dầu chúng ta chưa thể thực hành theo hết được, nhưng học tập và noi theo hạnh đó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều ở tại cuộc sống này, một cuộc sống có không ít bất công và ngang trái. Thực hành hạnh nhẫn nhục sẽ giúp cho chúng ta giàu lòng nhân ái, biết khoan dung với mọi người; và hơn hết là giúp chúng ta đoạn trừ đi lòng chấp thủ tự ngã, để từ đó đạt đến an lạc và giải thoát tối hậu.

 

Nơi Bình Minh Yên Tịnh

Lam Khê

 

Đêm thật dài, sâu thẩm và hun hút trên những đôi chân đời lang bạt. Cái nóng râm ran sau nhiều ngày khô hạn làm cho mặt đường nhựa bỗng như lên cơn sốt giữa làn khói xe dày đặc. Không gian rồi cũng trở nên im vắng khi đêm về. Tất cả chìm nhanh trong những giấc ngủ vội vàng, những hơi thở gấp gáp như sợ thời gian qua mau. Thỉnh thoảng vang lên tiếng lè nhè vô thưởng vô phạt cùng bước đi ngất ngưỡng của một gã say mèm nào đó làm khuấy động lên đôi chút.
Không biết Linh đã chạy qua bao nhiêu quãng đường, bao nhiêu dãy phố… khi tiếng rao đêm vẫn còn văng vẳng, cho đến lúc mọi hoạt động đều ngưng bặt, thì cô mới dừng lại ngồi nghỉ bên cánh cổng ngôi nhà có mái che rồi thiêm thiếp ngủ. Nhưng chỉ được chốc lát, Linh đã choàng tỉnh dậy, cảnh giác nhìn quanh.

Chiếc cổng có dàn hoa giấy màu tím trông ẩn khuất và hiền lành làm sao, mùi ngọc lan thoảng ra từ mảnh sân nhỏ, ngôi nhà hai tầng xinh xắn gợi lên một chút gì đó bình yên và hạnh phúc mà Linh từng ước ao. Lòng cô bé chợt bồn chồn ray rứt. Sao giống quá, vẫn khung cảnh này… giàn hoa giấy, hương ngọc lan nhè nhẹ làm trái tim Linh thắt lại vì nhớ thương khắc khoải. Cô lại chìm vào giấc ngủ, chìm vào trong giấc mơ về một khoảng đời đã xa thật xa, dù chưa được bao lâu.

 Ngôi nhà là niềm mơ ước của ba mẹ lúc mới lấy nhau. Khi chị em Linh bắt đầu đến trường thì đã cùng vui đùa dưới mái nhà khang trang đó rồi. Em Trúc nhỏ hơn Linh một tuổi, hai chị em gái lần lượt ra đời không làm cho ba mẹ mất đi tình yêu thương và chắt chiu vì tương lai con cái. Ba là công chức bậc trung, mẹ buôn bán lặt vặt ở nhà, trông coi dạy dỗ các con. Những ngày rãnh rỗi ba chỉ quanh quẩn chăm sóc mấy chậu hoa kiểng và mảnh vườn nho nhỏ trước sân, cùng chơi đùa với chị em Linh, phụ mẹ làm những công việc khác trong nhà. Một bức tranh gia đình yên vui hạnh phúc tưởng như sẽ mãi vững bền theo năm tháng.

 Sự yên ấm ấy không kéo dài qua hết quảng đời tuổi thơ của Linh. Lúc ấy, Linh còn quá nhỏ để có thể hiểu được nỗi lòng của người lớn. Trong một lần gây gổ, ba mẹ chia tay nhau. Mẹ đem theo em Trúc bỏ về bên ngoại, rồi sau đó sang định cư nước ngoài cùng với người đàn ông khác. Có lẽ đó là nguyên nhân làm cho gia đình Linh phải chịu cảnh tan đàn xẻ nghé. Mái nhà hiu quạnh vì không còn bàn tay vun quén của người phụ nữ, nên không bao lâu ba cũng lấy vợ khác, và một đứa con trai kháu khỉnh ra đời, sớm làm cho Ông quên hết nỗi đau buồn cũ. Những ngày tháng đó, Linh đã sống trong sự ghẻ lạnh khinh ghét của mẹ kế và vẻ thờ ơ đôi khi tàn nhẫn của ba đã làm đứa con gái thơ dại sớm chịu xa mẹ cảm thấy tủi thân, lòng đầy uất nghẹn. Một lần Linh lở tay làm té đứa em trai nhỏ, cô bé sợ hãi khi thấy cả ba và dì tức giận nhào tới túm lấy tóc cô. Linh vùng bỏ chạy để từ đó không bao giờ trở về ngôi nhà ấy nữa.

Đêm nay Linh cũng lại chạy trốn. Cô đang chạy trốn khỏi những cạm bẫy mà cuộc đời luôn giăng ra cho những kẻ cô thân yếu đuối. Nhiều năm bặt hết tin tức gia đình, trái tim cô cũng dần chai sạn vì lăn lộn trên đường mưu sinh, nhưng Linh không nguôi lòng nhớ mẹ, nhớ về mái nhà một thời đầm ấm thân thương. Một lần tình cờ gặp người bà con xa bên ngoại bảo mẹ mới trở về nước và có đi tìm đứa con gái nhỏ lưu lạc. Buồn tủi và tự ái, Linh đã không hỏi gì thêm về mẹ. Nếu như Cô còn một mái ấm gia đình, còn một ngôi nhà để quay về, thì đâu phải lang thang vất vưởng, tối nay lại trải qua một đêm ngủ ngoài đường. Thân gái dặm trường làm sao cô lường hết bao trắc trở đời thường.

Gã đàn ông to lớn đẫy đà vì cái bụng phệ quá cở và cặp môi lúc nào cũng mấp máy như luôn thèm khát một cái gì đó. Đã vậy đôi mắt ông ta cứ híp lên khi cười, để lộ hàm răng vẩu ra vừa đáng sợ vừa thấy ghét. Bà chủ nhà trọ bảo với Linh là ông ta cần một người phụ bán hàng, lương khá, ổn định lại có chỗ ăn ở đàng hoàng. Dầu gì thì cô cũng không còn sự lựa chọn nào khác. Mấy tháng rồi cơ sở may da nơi Linh vào làm chưa bao lâu, bị thua lỗ nên họ sa thải bớt những công nhân chưa vững tay nghề. Linh thất nghiệp, tiền ăn, tiền nhà còn thiếu, nay biết lấy gì để trả. Người chủ nhà gợi ý một chỗ làm mới, thế là cô bằng lòng ngay. Từ ngày trôi nổi tha phương Linh đã nếm trải đủ mọi ngành nghề, từ cô bé bán dạo, chạy bàn, cho đến phụ bốc vác, đẫy xe hàng ở bến chợ, từng phải ăn bờ ngủ bụi. Cuối cùng thì một người tốt bụng giới thiệu cô vào làm trong cơ sở may này.

Linh hoảng lên khi thấy ông ta bước vào phòng mình. Căn phòng nhỏ nằm cuối hành lang, cửa then chỉ gài hờ:

- Ông chủ! Ông vào đây làm gì trong đêm hôm?

 - Ấy! Đừng la chứ. Chúng ta đã thỏa thuận rồi mà.

- Thỏa thuận gì? Tôi chỉ đến đây làm công cho Ông thôi, Ông đừng….

- … À, thì làm công… chẳng phải cô đang cần tiền là gì?

Linh tức giận nói lớn: - Tôi cần tiền. Nhưng đồng tiền làm ra từ mồ hôi nước mắt của mình, chứ không phải bán thân…

Không hiểu làm cách nào mà Linh đã chạy thoát được gã đàn ông lực lưỡng chực vồ lấy cô trong cơn dục vọng. Linh chạy… chạy mãi cho đến tận nữa đêm và…

- Ê! Con nhỏ nào lại đến ngủ nhà ông vậy cà.

 Tiếng cười nói của hai thanh niên say xỉn vừa trờ xe tới, một tên bước qua chỗ Linh để mở cổng. Gã còn lại phụ hoạ: - Con nhỏ coi bộ được đó mầy. Hay mình rủ em vào nhà chơi cho vui, còn hơn để ngủ ngoài hè thế này.

- Thôi chứ, mày tính dụ dỗ con gái nhà lành à?

- Nhà lành cái con khỉ. Cái thứ đầu đường xó chợ này…

Linh chồm dậy như bị điện giựt và lại nhanh chân bỏ chạy, mặc kệ những giọng cười nham nhở đuổi theo. Chạy một hơi… chợt cô nghe có tiếng chuông chùa. Tiếng chuông công phu khuya nhẹ vang trong thinh lặng, làm cho cõi lòng cô nhen nhún lên một chút bình yên tin tưởng. Linh dừng chân lại trước ngôi chùa, cổng chùa bỏ ngỏ, cô bé thở dài rồi vội bước vào bên trong đến ngồi dựa nơi bực thềm trước chánh điện. Cô ngủ liền sau đó, trong tiếng mõ nhịp nhàng cùng giọng tụng kinh đều đều trầm lắng, và rồi Linh lại nằm mơ… một giấc mơ thật an lành tươi đẹp.

Khi ánh nắng toả lên tới bực thềm thì Linh cũng giật mình thức dậy. Cô ngơ ngác nhìn quanh, thấy mình vẫn nằm ngoài hành lang chùa, với chiếc khăn mỏng trên người mà không biết ai đó đã đắp lên. Đưa mắt nhìn quanh, Linh trông thấy một vị sư cô đang đi tới, liền rụt rè bước lại thưa: - Thưa… cho con gởi lại chiếc khăn… không biết của ai…

Sư cô mỉm cười đở lấy: À! Khăn của chùa, Sư Cô thấy con ngủ ngon quá nên không nở đánh thức. Con vào đây lúc chùa công phu phải không? Thôi con bước ra phía sau rửa mặt, rồi xuống nhà bếp dùng cháo sáng. Mấy cô có để phần cho đó.

Linh hơi ngỡ ngàng nhưng cũng làm theo lời vị sư dạy. Khi múc gáo nước lạnh rửa mặt mà Linh cứ nghe bụng mình cồn cào co thắt lại vì đói và khát kinh khủng.

Sư cô ngồi yên lặng nghe cô bé kể chuyện đời mình. Lần đầu tiên có người chịu lắng nghe nên Linh nói say sưa như chưa từng được nói. Bao nhiêu tủi buồn cơ cực vì miếng cơm manh áo, cùng nỗi uất hận vì ba mẹ bỏ bê khiến cho cô phải dập dìu trôi nổi như cánh lục bình. Nói xong cô thở hắt ra: - Bây giờ con chẳng biết phải đi đâu làm gì? Chắc con trở lại với nghề bán dạo hay bán vé số gì đó. Con chẳng quen biết ai ở thành phố này cả. Làm gì rồi cũng bị người ta gạt gẫm lừa lọc.

- Theo Sư cô thì-vị sư chậm rãi nói-con chưa tìm được việc làm thích hợp thôi thì cứ ở lại chùa. Từ từ rồi Sư cô sẽ nhờ những Phật tử thân tín giới thiệu cho nơi làm tốt đáng tin cậy. Con hiền lành lại là con gái mới lớn, ra đời sớm quá… về lâu về dài thật cũng khó giữ mình. Mà này, con cũng nên về quê thăm ba một lần và tìm mẹ đi. Mẹ con ở nước ngoài về, chắc là cũng muốn lo cho tương lai của con…

Linh cúi mặt im lặng, như cố kiềm chế những giọt nước mắt cứ chực tuôn ra. Một lúc lâu cô mới ngẩng lên nói với giọng đầy xúc động:

- Con nhớ nhà, nhớ ba mẹ lắm; nhưng con vẫn giận họ… chưa muốn về vào lúc này đâu.

- Người lớn cũng có nỗi khổ tâm riêng con ạ! Con bỏ đi bặt tăm như vậy, ba mẹ con hẳn là lo lắng lắm. Nước mắt lúc nào cũng chảy xuôi, ba mẹ nào lại không thương con. Mà thôi từ từ rồi tính. Đợi khi con ổn định rồi trở về thăm nhà cũng được. Trở về với hình dáng và tâm hồn nguyên vẹn, ba con cũng sẽ hối hận và thương con hơn. Con cứ ở lại đây ít bữa, nghe kinh kệ và phụ làm công quả, rồi lòng con sẽ được thanh thản bình yên trở lại.

Ngoài sân có nhiều người đang làm việc và chuyện trò thật vui vẻ; những Ni Cô trẻ điềm đạm mà chói sáng qua nụ cười hiền từ chứa chan đạo vị. Những em nhỏ đến Chùa làm công quả trong niềm tin tưởng lạc quan hạnh phúc. Ánh nắng đã lên cao. Lâu lắm rồi Linh mới được hưởng một buổi sáng thanh bình như thế. Cô chợt ví mình như một người sắp chết đuối, bất chợt gặp chiếc thuyền cứu hộ; và khi an ổn bước sang bờ sự sống, Linh mới cảm nhận hết cả một khoảng trời mênh mông rộng mở phía trước.

Ngày mai khi bình minh trở lại… biết đâu Linh lại không tự mình lật sang một trang đời khác. Ngày mai, con đường trở về nhà ắt sẽ nhuộm đầy sắc nắng vui tươi và thoát tục.
 

Đặc điểm tâm lý của tuổi thiếu niên Phật tử

và phương pháp giáo dục


Quảng Trí

 

Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi có nhiều biến động trong tâm lý, là lứa tuổi mà nhân cách con người bắt đầu qui tụ và nẩy nở. Ở lứa tuổi này, trong các em có một sức sống mạnh mẽ và đồng thời đây cũng là lứa tuổi mà sự cân bằng bị phá vỡ. Các em thiếu niên không còn là trẻ em, nhưng cũng chưa hẳn là người lớn. Ở độ tuổi các em còn thiếu kinh nghiệm, kiến thức còn non kém. Nếu như thiếu sự giúp đỡ, giáo dục đúng đắn, kịp thời của người lớn thì các em rất dễ bị ngã vào những vấn đề tiêu cực của cuộc sống.

Chính vì thế, giáo dục thiếu niên Phật tử là một vấn đề rất cần thiết cho tương lai của đạo pháp và dân tộc. Người trồng cây muốn thu hoạch được nhiều hoa lợi thì phải chăm bón ngay khi cây đang còn non. Chúng ta muốn tương lai của đạo pháp, dân tộc, giống nòi được rạng rỡ thì không thể không lưu tâm đến công tác giáo dục thế hệ trẻ, nhất là lứa tuổi thiếu niên.
Để công tác giáo dục cho thiếu niên Phật tử đạt được kết quả tốt, thiết nghĩ chúng ta cần tìm hiểu những đặc điểm tâm lý của các em.

Ở lứa tuổi thiếu niên, do sự biến đổi lớn về mặt sinh học, sự phát triển không đồng đều về các bộ phận của cơ thể, nhất là ở các chi, làm cho các em thiếu niên có vẻ lóng ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ… Điều này gây cho các em cảm giác khó chịu. Hơn nữa, hệ thần kinh của thiếu niên chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh hoặc tính đơn điệu kéo dài. Chính điều này thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay ngược lại là bị kích động mạnh, dẫn đến những phản ứng tiêu cực, không đúng với bản chất của các em. Vì thế, những người làm công tác giáo dục (cha mẹ, quí thầy, quí cô, các anh chị huynh trưởng, thầy cô giáo,…) cần phải nhận thấy được vấn đề này để có sự hướng dẫn và tác động phù hợp. Không nên nói nặng lời với các em, biết thông cảm và ân cần khuyên nhủ các em, phải hết sức thận trọng khi nhận xét các em; không nên chế giễu về sự vụng về, lóng ngóng của các em.

Vấn đề tiếp theo là đặc điểm phát triển trí tuệ của lứa tuổi thiếu niên. Hoạt động trí tuệ của các em thiếu niên phát triển hơn so với lứa tuổi trước. Các em có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác các sự vật, hiện tượng. Trí nhớ cũng được nâng lên một trình độ cao hơn, ghi nhớ máy móc dần dần nhường chỗ cho sự ghi nhớ logic và ghi nhớ ý nghĩa. Vì thế, hiệu quả của việc ghi nhớ trở nên tốt hơn. Khả năng tập trung sức chú ý của các em cũng mạnh hơn, bền vững hơn. Tuy nhiên, tính lựa chọn sự chú ý phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của đối tượng tri giác và mức độ hứng thú của các em với đối tượng đó. Khả năng tư duy cũng cao hơn rất nhiều, tư duy trừu tượng, khái quát phát triển mạnh. Chính những đặc điểm này đã nâng hoạt động học tập của các em thiếu niên lên một tầm cao mới, trở thành hoạt động chủ đạo.

Hoạt động học tập đã tạo ra những biến đổi chủ yếu nhất trong tâm lý của các em, trong đó có những biến đổi giữ vị trí trung tâm trong hệ thống các chức năng tâm lý và có sự chi phối đến các biến đổi khác. Để hoạt động học tập của các em đạt được chất lượng và hiệu quả cao, người lớn cần phải hướng dẫn cho các em phương pháp tiếp thu và ghi nhớ tài liệu học tập; hình thành cho các em kỹ năng tách ý, tách đoạn, lập dàn ý, khái quát vấn đề và biết cách ôn tập đối với các nội dung học tập; giải thích cho các em biết được tầm quan trọng của sự ghi nhớ chính xác các định nghĩa, mệnh đề, các ý chính của bài học. Người lớn cần có sự kiểm tra việc ghi nhớ của các em, cũng như trong quá trình giảng giải thì nên có sự minh họa và liên hệ với thực tiễn để giúp các em nắm vấn đề một cách sâu rộng hơn.

Có một điều mà người làm công tác giáo dục cần phải chú ý đó là động cơ và thái độ học tập của các em thiếu niên. Các em có thể có những động cơ và thái độ học tập khác nhau. Nhà giáo dục phải chỉ cho các em thấy những mặt tốt, mặt không tốt, mặt tiêu cực và mặt tích cực của từng động cơ và thái độ học tập, chính điều đó sẽ giúp các em hình thành những động cơ và thái độ học tập đúng đắn, phù hợp và có ý nghĩa nhất.

Các em thiếu niên không còn là trẻ con nữa. Chính các em cũng ý thức được vấn đề này. Cho nên các em có nhu cầu muốn trở thành người lớn, muốn tự khẳng định mình và muốn được xem là người lớn. Điều này đã đưa đến sự hình thành tính tích cực xã hội trong các em. Các em thích được tham gia vào các hoạt động tập thể, các hoạt động mang tính xã hội. Các em có nguyện vọng muốn đem lại điều tốt lành cho mọi người - giúp mọi người trong cơn hoạn nạn, ốm đau; cảm thông sâu sắc với những nỗi khổ cực, bất hạnh của người khác. Những mong muốn này thường được các em ý thức rõ ràng, song đôi khi cũng chưa được ý thức một cách đầy đủ. Hơn nữa, các em còn có tính bồng bột, thiếu chín chắn trong suy nghĩ và thiếu thận trọng trong công việc. Cho nên nhiều người lớn vẫn xem thiếu niên là trẻ con. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự khó khăn trong mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn. Khó khăn này sẽ được hóa giải nếu như người lớn biết tìm cho thiếu niên một vị trí phù hợp bên cạnh mình, nếu mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn được xem như là mối quan hệ “bạn bè”, hoặc là mối quan hệ có tính hợp tác với những chuẩn mực đặc trưng của người lớn – đó là sự tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau.

Đôi khi chính người lớn đã làm thui chột tính tích cực ấy của thiếu niên. Sự đánh giá thấp, xem thường và định kiến của người nhân chủ yếu. Để phát huy tính tích cực xã hội của các em và hướng những khát vọng của các em vào mục đích có ý nghĩa nhất định thì người lớn cần phải tôn trọng các em, biết lắng nghe ý kiến và không quá khắt khe trong việc đánh giá các em. Cần tổ chức các hoạt động xã hội có tính tích cực và tạo điều kiện cho các em tham gia, làm sao thu hút được sự tham gia của các em một cách tích cực nhất. Có thể thông qua những hoạt động tập thể, những buổi sinh hoạt tập thể để giáo dục cho các em những đức tính cao đẹp, khơi dậy và làm nảy nở những nghĩa cử cao đẹp trong các em thông qua những mẫu chuyện, những tấm gương sáng trong văn học hay trong hiện thực của cuộc sống, và có thể thông qua sự gương mẫu của chính bản thân những người đang trực tiếp hướng dẫn, giáo dục các em. S.Smiles đã khẳng định rằng: “Sự gương mẫu dù nó có im lặng cách mấy vẫn là yếu tố giáo dục mạnh nhất trần gian”.

Ở lứa tuổi thiếu niên, các em bắt đầu biết ý thức về bản thân mình. Các em biết tự đánh giá mình. Vấn đề này đã giúp cho các em bắt đầu nhận thức rõ hơn về bản thân, biết đánh giá về những mặt tốt và chưa tốt của mình. Sự nghĩ về tự thân, suy ngẫm về thế giới nội tâm của các em cũng đã mở rộng sang cả lĩnh vực xúc cảm gắn với sự phân tích, đánh giá những tình cảm đã trải nghiệm. Vì thế có một số em tỏ ra hối hận, ăn năn về những tình cảm không tốt của mình, đôi khi các em căm thù chính bản thân mình. Sự mặc cảm, tự ti cũng xuất phát từ đây. Mặt khác, sự tự ý thức của các em thiếu niên dựa trên cơ sở đánh giá của người lớn, trước hết là của cha mẹ, của những người lớn trong gia đình, của những người dạy bảo và hướng dẫn các em. Do đó, để giúp các em đánh giá phù hợp về bản thân và không đưa đến những tâm lý tiêu cực (tự ti, mặc cảm) thì người lớn cần có sự đánh giá phù hợp về các em; không được phủ đầu, chụp mũ các em, không nên quá khắt khe với các em. Cần động viên, khích lệ các em và khen ngợi các em khi đáng khen. Và một điều không kém phần quan trọng là người lớn phải tôn trọng và giữ thể diện cho các em, không nên nói lỗi các em trước đám đông.

Cơ sở tự ý thức và nhận thức về thực tiễn cuộc sống đã hình thành ở các em thiếu niên khả năng tự giáo dục. Các em có khát vọng muốn làm chủ những phản ứng, những cảm xúc và toàn bộ hành vi của mình. Các em muốn khắc phục những khuyết điểm, sai lầm, những nét tính cách không tốt và phát huy những nét tính cách tốt của bản thân. Ở các em có sự định hình nhân cách của mình, hướng đến những chuẩn mực đạo đức, những mục đích nhất định. Các em biết hướng đến tương lai. Ý chí, nghị lực và tính kiên nhẫn là những yếu tố hết sức quan trọng, quyết định đến kết quả của quá trình tự giáo dục ở các em. Vì thế, giáo dục ý chí, nghị lực và tính kiên nhẫn cho các em là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người làm công tác giáo dục.

Cùng với hướng phát triển đó, đời sống tình cảm của các em thiếu niên cũng sâu sắc và phức tạp hơn. Đặc điểm nổi bật của lứa tuổi này là các em dễ bị kích động, vui buồn chuyển biến dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột, hăng say và đôi khi có sự tự mâu thuẫn. Tuy vậy, tình cảm của các em cũng đã bắt đầu biết phục tùng lý trí, tình cảm đạo đức được phát triển mạnh.
Tình bạn bè, tinh thần tập thể cũng được phát triển mạnh. Tình bạn của các em hình thành trên cơ sở cùng học tập, cùng sinh hoạt và cùng chung một sở thích, hứng thú. Trong quan hệ bạn bè, các em đối với nhau rất chân tình, cởi mở, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Các em tin tưởng nhau và kể cho nhau nghe những điều thầm kín nhất của mình. Các em muốn được hoạt động chung với bạn như muốn lao động chung, chơi thể thao chung, giải trí chung…

Bên cạnh lòng mong muốn giao thiệp với bạn bè, không thể không kể đến mối thiện cảm và sự quan tâm đến các bạn cùng lứa tuổi thuộc giới khác. Sự quan tâm này được biểu hiện khác nhau ở các em trai và các em gái. Ở các em trai, sự quan tâm đến bạn gái được biểu hiện dưới hình thức khá thô bạo như kéo tóc bạn, xô đẩy bạn,… Còn ở các em gái thì đôi khi được che đậy khá kín đáo. Ở tuổi thiếu niên, có em đã có “những rung cảm đặc biệt” đối với người bạn khác giới. Có thể khẳng định rằng, đây là hiện tượng bình thường. Cảm tình và sự thân thiết đối với bạn khác giới cùng học ở lứa tuổi thiếu niên có ý nghĩa không nhỏ đối với sự phát triển nhân cách của các em. Các em có thể động viên, giúp đỡ lẫn nhau, gợi cho nhau và thúc đẩy nhau làm việc tốt, bảo vệ lẫn nhau. Đấy là một động lực rất lớn giúp các em tự hoàn thiện bản thân mình. Tất nhiên, trong quan hệ nam nữ ở lứa tuổi này cũng có thể có lệch lạc, đưa các em đến chỗ đua đòi chơi bời, bỏ cả việc học tập và các công việc khác. Vì thế, những người làm công tác giáo dục phải thấy được điều đó để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn khác giới ở lứa tuổi này thật lành mạnh, trong sáng, và cần có sự tác động khéo léo, tế nhị, tránh những tác động thô bạo đem đến những kết cục thương tâm. Có những em thiếu niên đã phải tìm đến cái chết do sự tác động không đúng đắn của người khác trong quan hệ tình bạn khác giới của mình.

Nhìn chung, các em thiếu niên có đặc điểm tâm lý khá phức tạp. Nếu thiếu thận trọng thì nhà giáo dục rất dễ gây ra những phảp ứng tiêu cực nơi các em. Giáo dục cho thiếu niên đã khó, giáo dục cho thiếu niên Phật tử lại càng khó khăn hơn. Tại vì, trong khi giáo dục các em theo nền tảng luân lý, đạo đức của Phật giáo, chúng ta không được phép làm mất tính cách thiếu niên ở các em. Vì vậy, để có thể hướng dẫn các em thiếu niên Phật tử theo con đường Chân - Thiện - Mỹ thì đòi hỏi người làm công tác giáo dục phải có lòng thương yêu các em. Điều này thì người Phật tử chúng ta đã sẵn có. Tuy nhiên, chỉ tình thương thôi thì chưa đủ, chúng ta phải có sự hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý của các em, phải hiểu rõ hoàn cảnh, điều kiện sống của các em; phải có sự khéo léo, thông minh; phải có sự kiên trì, nhẫn nại và phải có một tâm hồn tươi trẻ.

Sự sai lầm trong lao động, sản xuất có thể sữa đổi được. Nhưng sự lầm lỗi trong giáo dục, dù là rất nhỏ cũng khó lòng tẩy sạch. Vì vậy, những ai làm công tác giáo dục cần phải hết sức thận trọng.

 

BAMIYAN: Dùng tia Laser để phục hồi những pho tượng bị phá hủy bởi chính quyền Taliban


Lê Thanh

 

Nghệ thuật gia Nhật Bản, Hiro Yamagata, đang thực hiện dự án dùng ánh sáng tia Laser nhiều màu chiếu lên vách đá để phục hồi những pho tượng Phật 1600 tuổi thọ trong thung lũng Bamiyan.

Nghệ thuật gia 58 tuổi Hiro Yamagata, một cư dân lâu đời của Los Angeles được sinh ra tại Nhật Bản, nói: “Tôi đang làm một công trình nghệ thuật tuyệt tác. Đó là mục đích của tôi, không phải cho nhân quyền, tôn giáo hay chính trị”. Một số tác phẩm nghệ thuật laser khác của ông đang được trưng bày thường xuyên tại viện bảo tàng Guggenheim ở Bilbao, Tây Ban Nha.

Tương phản với không gian của thung lũng Bamiyan, 14 hệ thống laser sẽ phát ra 140 hình ảnh của những bức tường gối chồng lên nhau kéo dài bốn dặm ngang qua vách đá của thung lũng dưới ánh đèn neon màu xanh lá cây, hồng, cam, trắng, và xanh lục. Mỗi một tấm hình sẽ liên tục thay đổi màu và kiểu màu.

Năng lượng được cung cấp bởi những tấm kính nhận ánh sáng mặt trời và những máy phát điện chạy bằng sức gió. Những hình ảnh màu sắc kiểu Day-Glo, cao từ 10 đến 50m cùng kích thước với tượng Phật Thích Ca nguyên thủy.

Vào tháng 3 năm 2001, giới cầm quyền Taliban bất chấp sự phản đối của thế giới đã dùng chất nổ, đạn pháo nổ tung những pho tượng được xây dựng từ thế kỷ thứ 5. Những pho tượng nổi tiếng vì kích thước và vị trí nằm trên con đường Tơ lụa cổ xưa nối liền châu Âu và Trung Á.

Ông Robert Brown nói: “Sự phá hủy hai tháp nhà cao tầng và hai tượng Phật đã  liên kết như là một thời điểm trong lịch sử”. Ông là lịch sử gia nghệ thuật của Đại học California ở Los Angeles, và là giám đốc của nghệ thuật Đông Nam Á thuộc Viện Bảo tàng nghệ thuật địa hạt Los Angeles, nói tiếp: “Laser của ông Yamayata sẽ mang nhiều ý nghĩa khi phục hồi những pho tượng này, giống như đài kỷ niệm 9/11 ở New York”.

Các viên chức chính phủ Afghanistan đã tiếp xúc lần đầu tiên với ông Yamagata vào năm 2003 và đã chấp thuận dự án có điều kiện với ông vào năm ngoái. Họ đang chờ đợi sự chấp thuận của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO). Ông Gulam Sakhi Yousafzai, Cựu thủ trưởng điều hành phụ trách nghệ thuật và văn hóa của Afghanistan, phát biểu trong một cuộc phỏng vấn với Thông tấn xã AP: “UNESCO là cơ quan sẽ có quyết định và thông báo cho chúng tôi. Chúng tôi đang chờ họ trả lời”.

Thống đốc tỉnh Bamiyan, Habiba Sarobi, nói với Thông tấn xã AP rằng bà ta hy vọng UNESCO có thể chứng minh rằng những vách đá không bị tàn phá bởi chùm tia laser 80-100 W sẽ được chiếu thường xuyên vào mỗi tối chủ nhật trong 4 giờ. “Nếu như có cách làm mà không có tác động đến môi trường, chúng tôi sẽ hỗ trợ cho dự án bởi vì nó sẽ đẩy mạnh du lịch và hình ảnh sẽ gợi chúng tôi nhớ những vách đá đó trông thế nào trước đây”.

Zahir Aziz, Đại sứ Afghanistan tại UNESCO, nói rằng ông sẽ đề nghị và ủng hộ mạnh mẽ dự án của ông Yamagata nếu như dự án được đưa ra UNESCO.

Theo các chuyên gia vật lý và hóa học của Đại học Antwerp và Đại học Công giáo Leuven của Bỉ, cho rằng các chùm tia sẽ không gây hại cho vách đá vì mức độ năng lượng thấp phát ra từ một khoảng an toàn cách 6 đến 7 dặm.

Theo ông Yamagata, công trình này đã được sự tài trợ của hãng Mercedes-Benz và sẽ chọn một công ty sản xuất máy phát điện chạy bằng sức gió vào tháng 12 đồng tài trợ; công trình có thể sẽ hoàn thành vào tháng 6 năm 2007.

Theo nguồn tin của CBS
Lê Thanh lược dịch

 

CANADA: Thiền Định có tác dụng làm giảm đau nhức kinh niên

Nghiên cứu của Avis Favara
 

Phóng viên đài CTV thực hiện

Các bác sĩ ở Canada vừa mới thực hiện một cuộc nghiên cứu cho thấy những kết quả có triển vọng đối với việc sử dụng thiền định để chữa trị bệnh đau nhức kinh niên. Sự nghiên cứu được khởi xướng bởi bác sĩ Jackie Gardner-Nix, người đang điều khiển một chương trình thiền định tại các bệnh viện Sunnybrook và St. Michael ở thành phố Toronto.

Bác sĩ Gardner-Nix nói với đài CTV rằng: “Chúng tôi làm giảm bớt sự đau nhức thân thể, chúng tôi làm giảm bớt cường độ đau nhức của họ và làm tăng thêm giá trị của sự sống”.

Bà bác sĩ đã chuyển sang phương pháp thực tập thiền định khi bà thấy rằng các loại thuốc trị đau nhức trở nên không thích hợp với một số bệnh nhân và đã gây ra một số phản ứng phụ.
Bà nói: “Tôi từng là một chuyên gia có kinh nghiệm về các loại thuốc trị đau nhức trong một thời gian dài, nhiều năm và điều mà tôi nhận thấy là chúng không hiệu quả”.

Hiện nay bà điều trị chứng đau nhức kinh niên bằng phương pháp thực tập thiền định. Phương pháp của bà dựa trên một chương trình được sáng tạo bởi bác sĩ Jon Kabat-Zinn ở Trung tâm Giảm thiểu Áp lực (Stress Reduction Center) tại trường đại học ở bang Massachusetts. Nhiều chuyên gia xem bác sĩ Kabat-Zinn như một người tiên phong áp dụng phương pháp thiền định trong y học, và chính bà Gardner-Nix cũng từng học tập với ông ta.

Nhưng vào lúc phương pháp của bác sĩ Kabat-Zinn được thực tập ở khắp Canada, thì các chuyên gia cảm thấy rằng vẫn còn thiếu các dữ kiện để chứng minh hiệu quả của nó. Qua nghiên cứu, bác sĩ Gardner-Nix thấy sau 10 tuần thực tập thiền định từ 10-20 phút mỗi ngày, các bịnh nhân đã chế ngự được những con đau nhức của họ.

Bệnh nhân Corrine Humphreys đã chịu đựng trải qua sự đau nhức kinh niên hơn một thập kỷ trước khi bà tìm thấy sự an tịnh qua thực tập thiền định. Một tai nạn xe hơi và cột sống thương tích đã làm cho bà bị thương tổn thần kinh và lo lắng; thậm chí một việc đơn giản như lái xe hơi cũng là một khó khăn thử thách đối với bà.

Bà nói với đài CTV: “Tôi phải nghỉ việc và nghỉ học. Tôi phải nằm trên giường và không hề ra khỏi giường. Mỗi ngày tôi cứ cầu nguyện sao cho mình sớm thoát khỏi cõi đời để không phải chịu sự đau đớn này nữa.”

Bà đã thử rất nhiều loại thuốc trị đau nhức, gồm cả Morphine và Demerol, nhưng những liều thuốc nặng liều nhất cũng trở nên vô hiệu. Trong số những điều được chọn, các bác sĩ đã cấy vào cột sống của bà một dụng cụ bằng điện để khống chế những cơn đau nhức nhưng cũng không thể làm giảm bớt cơn đau. Vì thế, bà bắt đầu có ý định tự vẫn.

Cuối cùng, bà đã chuyển sang thực tập thiền định. Bà rất lạc quan vì bà nghĩ rằng không có gì để mất cả. Và kết quả rất đáng ngạc nhiên sau khi thực tập. Khi tiếp xúc với bà, bà tươi cười và nói: “Tôi rất kinh ngạc khi thấy hiệu quả và nó đã đến quá nhanh đối với tôi như thế nào.”
Thật sự chương trình của bác sĩ Gardner-Nix có hiệu lực khiến  bà Humpreys không cần phải sử dụng các loại thuốc trị đau nhức.

Bác sĩ Roman Jovey của Hội Đau nhức Canada quan tâm những gì mà các bịnh nhân giống như bà Humphreys đã nói về thiền định và ông ta nhận thấy cuộc nghiên cứu của Gardner-Nix có nhiều hứa hẹn.

Trong chương trình tin tức trên đài CTV, bác sĩ nói: “Có quá nhiều người đang đau khổ. Các bệnh nhân luôn ao ước tìm thấy một vài niềm vui do vậy bất cứ thứ gì có khả năng giúp đỡ họ kiểm soát được bệnh đau nhức kinh niên, thì đó đều là một điều tốt cả.”

Chương trình của bác sĩ Gardner-Nix đã hướng dẫn thực tập thiền định cho 375 bệnh nhân. Nghiên cứu của bà đã được thuyết trình trong một cuộc họp “Autralian International Pain” vào tháng 8 ngày 24 vừa qua.

Đến nay, những dữ kiện thu được từ 45 bệnh nhân đã cho thấy những cải thiện đáng kể trong việc khống chế những cơn đau nhức qua các khóa học của bác sĩ Gardner-Nix.
Một nghiên cứu thứ hai liên quan đến nhiều bệnh nhân hơn sẽ được công bố vào cuối năm nay.

Mỹ Hằng dịch

 

THƠ

 

Tri Ân Một Nụ Cười
■Thiện Hữu

Ta đã ngủ
Mấy ngàn năm mộng mị
Thấm tâm can
Màu sỏi đá vô tri
Hôm thức dậy
Nhìn vực sâu kinh hãi
Chạnh lòng sầu
Hạt sương trắng hoen mi
Nỗi khinh bạc
Từ đâu về trong mắt
Xếp áo phong sương
Ta bỏ cuộc ra đi
Chừ đơn độc
Đường xưa ai để dấu
Xin tri ân
Một nụ cười từ bi.

DƯỚI GỐC THÔNG CHÙA TỔ

■ Ninh Giang Thu Cúc

Thông từng sợi rì rào trong gió
Đang thì thầm pháp thoại cùng mây
Con ngồi đây an lạc đong đầy
Nghe cung bậc hòa âm trong vũ trụ
Nghe ấm áp những tháng ngày an trú
Gió trăng ngàn ru mãi điệu Chân như
Con dang tay đón nhận vạn thiền thư
Đèn tuệ giác sáng bừng soi tâm trí
Con nguyện sống vững vàng bằng ý chí
Bỏ yếu mềm bi lụy kiếp phàm phu
Phiền não trói con trong chốn ngục tù
Bởi mê chấp, bởi ôm đồm, tất tả
Hạnh phúc (thật) từng sát na buông thả
Trong an nhiên tĩnh lặng giữa trời mây
Trong không gian giải thoát Lạc bang nầy
Miền đất tổ mạch nguồn thơm pháp vị.

Ngần này Kim Cương
■Hạnh Phương

Giọt sương tinh túy ngọc châu
Ngàn hoa giọt nắng tô màu kim cương
Mộng Hoang giữa cõi Vô Thường
Mãi ngân nga tiếng trùng dương vỗ bờ.

Tình người phôi dựng cõi thơ
Hóa thân vô thủy cuộc chờ vô chung
Thoáng qua nhi nữ hình dung
Phân thân bóng mẹ nghìn trùng đại bi.

Trái tim kết tụ lưu ly
Mắt nhìn tường tận cả khi đoạn trường
Tình yêu người biếc trùng dương
Để cho suốt cuộc vô thường thành thơ.

Búng tay nhành liễu cam lồ
Trùng trùng gội mát cõi bờ trần gian
Bâng khuâng gió núi mây ngàn
Trùng tu đẹp giấc mộng hoang vừa tròn…

Còn đâu biển cạn non mòn
Còn đâu ngày tháng héo hon vơi đầy
Ngọc châu đầy ắp bàn tay
Và thơ lóng lánh ngần này kim cương.

 

NGƯỜI VỀ

■ Huỳnh Khải Nguyên

Người về đất ấm muôn hoa
Cỏ cây nẩy lộc trăng hòa vườn không
Tình thương gặp Phật nơi lòng
Bao la quá! Nghe non sông gọi nguồn.

Người về núi gọi chim muôn
Gió reo ca, mọi nẻo đường thênh thang
Suối ngân rung những cung đàn
Khói sương chìm lắng lá vàng khẻ rơi.

Người về thơ hóa muôn nơi
Bồi hồi cuộc lữ lưng trời nhạn bay
Nhẹ nhàng giữa gió và mây
Thắp lên từ vũ trụ này lung linh.

Người về cho cả biển tình
Cho hương và cả bình minh vỡ tràn
Non sông chợt giấc mơ màng
Người là Phật giữa trần gian con tìm.

TỜ KINH RƠI
■ Mặc Không Tử

Bên quán khuya
chút tự tình với bóng
Chừng thao thức hóa niềm thinh lặng
Nửa vần thơ lạc vận giữa đêm rơi
Chén đời
uống hoài chưa cạn
Tình nhân thế
vị ẩm trà ngọt đắng
Một nốt trầm khúc nhạc tiếng lòng tôi
Mộng hồ thỉ
đôi chân trần đã mỏi
Gánh phiêu bồng lãng đãng mây trôi
Chừ ngoảnh lại
non nửa đời như quáng nắng
Đêm tàn
cúi nhặt tờ kinh rơi.
 

Bánh Xe Nghiền Nỗi Nhớ
■ Nguyễn Xuân

Gió cuồng loạn, xé tan tành tổ ấm
Cánh chim già gãy nát – buốt hồn con
Bụi miền xa – ngầu đỏ mắt lưu vong
Lau lách cứa, bánh xe nghiền nỗi nhớ!
Tìm bóng mẹ trong nhạt nhòa nắng gió
Đất trời ơi, giấu bóng mẹ tôi đâu?
Mẹ hiền ơi! Trong đôi mắt đục ngầu
Mẹ có thấu lòng con nơi xa vắng?
 

 

---o0o---

Nguồn: thuvien.phatviet.net

Trình bày: N.Tường

Cập nhật: 1-1-2006

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au