Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.17

 ---o0o--- 

Kính mừng Vu Lan

 Ban Biên Tập

Từ ngàn xưa đến nay, trải qua bao sự biến thiên của thời không, bao thăng trầm của lịch sử, nhưng tinh thần Vu Lan-Báo Hiếu vẫn không bị phai mờ trong lòng người con Phật mà mãi luôn phát huy những giá trị cao quý. Đức Phật dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, nghĩa là bất cứ người nào đang hiện hữu trên cõi đời sống trọn đạo làm người, hiếu thảo phụng dưỡng mẹ cha, đó chính là người đang nuôi dưỡng hạt giống bồ đề, hạt giống thành Phật. Đức Phật thuở xưa là một người thực hành trọn vẹn cả tâm hiếu và hạnh hiếu, được trời người khen ngợi tán dương. Vì vậy có thể nói, người có hiếu tâm, hiếu hạnh tức là người đang thực hành Bồ-tát đạo theo lời Phật dạy. Tinh thần này vận hành thẩm thấu trong tâm hồn của những người không chỉ là Phật tử mà cả thế nhân phải luôn nhớ đến và thực hành.

Lễ Vu lan cũng là ngày chư Tăng Tự tứ, ngày của mười phương Phật Thánh hiền hoan hỷ. Đặc biệt hơn, ngày Tự tứ chính là ngày đánh dấu nấc thang tiến triển tâm linh, trưởng dưỡng giới đức của chư Tăng sau ba tháng an cư tịnh tu tam nghiệp, làm nền tảng cho tiến trình tu tập giải thoát; và đây cũng là cơ hội để cho Phật tử hướng về gieo trồng hạt giống phước đức, tạo thêm niềm hoan hỷ cho cuộc sống hiện tại. Hai mối tương quan ấy đã tạo nên chất liệu hài hòa trong dòng chảy Phật giáo, xây dựng đời sống Tăng già và là yếu tố quyết định sự tồn tại của một người thực hành hạnh thoát ly. Có an lạc, có hạnh phúc, sống giới hạnh, sống hòa hợp thanh tịnh, đó chính là yếu tố cần và đủ để Tăng già vững mạnh, phát triển tại thế gian.

Nhân ngày lễ Vu Lan, nhân ngày chư Tăng Tự tứ, BBT  kính dâng trọn tấm lòng hướng về cha mẹ cùng nguyện cầu, chia sẻ hương thơm của trí tuệ, tình thương và giới hạnh báo hiếu song thân, và kính chúc chư tôn thiền đức Tăng Ni, Phật tử, thân tâm thường lạc, phước huệ trang nghiêm, chúng sanh dị độ.

BBT.

 

Truyền Tâm Ấn

Diệu Trân

Hoàng tử Bồ-Đề-Đa-La thả lỏng giây cương. Con bạch mã thong dong bước qua cổng hoàng thành, đi về phía hoàng cung. Đám lính lệ cúi rạp, đỡ hoàng-tử xuống ngựa. Khi hoàng-tử bước vào sân rồng thì đã thấy phụ hoàng là vua Hương Chí, hai hoàng huynh là hoàng-tử Nguyệt-Tịnh-Đa-La và Công-Đức-Đa-La đang cung kính tiếp chuyện một vị Tăng. Hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La vội quỳ xuống đảnh lễ. Vua Hương Chí nói:

- Đây là Tổ Bát-Nhã-Đa-La mà cha cung thỉnh tới để được cúng dường Ngài.

Nghe danh xưng đó, hoàng tử Bồ-Đề-Đa-La ngước lên. Ánh mắt của hoàng tử vừa chạm tới thần quang của Tổ thì lòng hoàng tử bỗng cực kỳ rung động, và một niềm vui bao la lan tỏa khắp châu thân. Tổ Bát-Nhã-Đa-La đưa tay ra, tỏ ý đỡ hoàng-tử đứng dậy. Lui về chỗ ngồi nhưng mắt hoàng-tử vẫn không rời vị sứ giả Như-Lai, người đang tỏa ánh sáng kỳ diệu như thể chiếu sáng được cả thế gian.

Tổ Bát-Nhã-Đa-La cũng không ngớt nhìn hoàng-tử. Với tuệ nhãn, Ngài vừa thấy được trí tuệ vô song của vị hoàng-tử nhỏ qua cung cách đảnh lễ rất khiêm cung mà lại vô cùng thư thái, tự tại. Ngài bèn giơ lên hạt minh châu quý giá mà vua Hương Chí vừa cúng dường và hỏi:

- Trên đời có thứ gì quý hơn hạt minh châu này không?

Hoàng-tử Nguyệt-Tịnh-Đa-La vòng tay thưa:

- Đây là hạt minh châu quý giá nhất, chỉ giòng vua Sát-Đế-Lợi mới có. Trên đời không gì có thể quý hơn.

Hoàng-tử Công-Đức-Đa-La cung kính tiếp lời anh:

- Bạch Tổ, đây là hạt minh châu chiếu sáng nhất. Không gì trên đời có thể chiếu sáng hơn hạt châu này.

Vua Hương Chí đưa mắt nhìn hoàng-tử út, chờ câu trả lời. Hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La quỳ xuống trước Tổ mà thưa rằng:

- Hạt minh châu này rất quý, nhưng chưa phải là thứ quý nhất trên thế gian. Hạt minh châu này chiếu sáng, nhưng chưa phải là ánh sáng rực rỡ nhất thế gian. Bởi vì, hạt châu này không thể tự nó hiển hiện, nếu không nhờ trí tuệ giúp nó hiển bày; rồi nó cũng không tự biết nó là gì, nếu không nhờ trí tuệ giúp nó biết được nó là hạt minh châu. Biết mình là hạt châu rồi, nó cũng không tự biết nó quý giá, nếu không nhờ trí tuệ giúp nó biết giá trị của nó. Tóm lại, nhờ trí tuệ, hạt châu mới biết được mình là hạt châu quý giá, có thể tỏa chiếu ánh sáng. Nhưng ánh sáng đó cũng chỉ chiếu sáng cho chính nó mà thôi, nó chẳng làm sáng được viên đá, hòn sỏi nào để gần nó. Vì vậy, bạch Tổ, con nghĩ rằng, hạt châu này chưa phải là thứ quý nhất trên đời.

Tổ Bát-Nhã-Đa-La yên lặng mỉm cười. Nhưng nhà vua thì nóng nảy hỏi;

- Vậy thứ gì quý hơn hạt châu này?

Hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La vòng tay thưa:

- Bạch Tổ, tâu phụ vương, trí tuệ là thứ quý hơn hạt châu này muôn ức lần. Trí tuệ chính là thứ quý nhất trên đời, vì có trí tuệ mới nhận ra được tự tánh, và nhận ra tự tánh mới giải thoát khỏi mọi trói buộc phiền não, mới đoạn diệt được luân hồi. Ánh sáng trí tuệ là ánh sáng rực rỡ nhất trên đời vì người có ánh sáng trí tuệ không chỉ soi sáng chính mình mà còn soi sáng cho người u tối, giúp họ đoạn trừ vô minh mà giác ngộ. Trí tuệ cũng là của cải bền vững nhất vì người đã có trí tuệ rồi thì không cảnh huống nào, quyền lực nào có thể lấy đi được.

Vua Hương Chí và hai hoàng tử Nguyệt-Tịnh-Đa-La, Công-Đức-Đa-La cùng sửng sốt khi nghe câu trả lời của hoàng-tử út. Họ nhìn hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La như nhìn một người rất lạ, một người uyên bác thâm sâu mà trước đây họ không hề chú ý tới. Riêng tổ Bát-Nhã-Đa-La thì vẫn im lặng mỉm cười. Ngài nhớ lại khi xưa, sư phụ của Ngài là Bất-Như-Mật-Đa, trước khi thị tịch cũng phải biết, trong hàng đệ tử ai là kẻ xứng đáng để truyền tâm ấn, tiếp nối việc hoằng pháp độ sanh. Từ ngày Tổ được sư phụ truyền tâm ấn, ròng rã nhiều chục năm bôn ba hoằng pháp mà chưa tìm được đệ tử đủ công năng và trí tuệ để kế thừa Tổ vị. Hôm nay, cơ duyên đã tới rồi chăng?        

Sau khi vua Hương Chí băng hà, hoàng-tử Nguyệt-Tịnh-Đa-La lên nối ngôi thì hoàng-tử Bồ-Đề-Đa-La xin theo Tổ học đạo. Tổ Bát-Nhã-Đa-La không ngạc nhiên khi thấy hoàng-tử nhỏ tìm đến thiền đường, vì Tổ đã nhìn thấy căn cơ của hoàng tử qua cuộc trắc nghiệm về hạt minh châu. Tổ hoan hỷ nhận hoàng tử làm đệ tử và đặt hiệu là Bồ-Đề-Đạt-Ma.

Từ đó, Bồ-Đề-Đạt-Ma theo thầy hoằng pháp mấy mươi năm ròng.

Trước khi diệt độ, tổ Bát-Nhã-Đa-La gọi Bồ-Đề-Đạt-Ma đến mà nói rằng:

- Cơ duyên hóa thân của ta tới đây đã dứt. Xưa, Như-Lai trao truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng cho Tổ Ca Diếp, lần lượt nhiều đời nhiều kiếp, đến ta được nhận lãnh. Nay, con là đệ tử xứng đáng để ta truyền lại, con phải hết lòng gìn giữ và lưu truyền. Đó là trọng trách của kẻ được kế thừa tổ vị. Sau khi ta diệt độ rồi, con hãy tạm ở Nam Ấn mà hoằng pháp một thời gian, nhưng nhân duyên lớn của con lại ở tận nước Trung Hoa xa xôi. Con sẽ trải qua muôn vàn khổ hạnh trên đường khai tâm cho người dân xứ ấy. Ta sẽ phò trợ con. Vậy, hãy lãnh ý ta mà tuyên hành.

Bồ-Đề-Đạt-Ma sụp lạy sư phụ, nhận lễ truyền tâm cùng y bát của thầy mình để sau này làm ấn tín.

Và, đúng như điều tổ Bát-Nhã-Đa-La đã thấy trước, Bồ-Đề-Đạt-Ma chính là vị Tổ thứ nhất đã gieo hạt Thiền Tông Phật giáo ở Trung Hoa, và từ đấy ảnh hưởng trực tiếp đến những dòng thiền tại Nhật Bản, Triều Tiên và ngay cả Việt Nam.

Nhắc lại chuyện xưa để chúng ta có thể học được bài học đầu tiên nơi vị hoàng-tử nhỏ. Đó là, NHẬN BIẾT GIÁ TRỊ CỦA TRÍ TUỆ VÀ DÙNG TRÍ TUỆ ĐÓ NHƯ NGỌN ĐÈN, XUA TAN BÓNG TỐI TRONG TA VÀ QUANH TA.

Như một thiền sư đã nói, khi đèn được bật sáng, ta chỉ còn việc nhìn mọi vật cho tỏ tường, mà không bận tâm bóng tối rồi sẽ đi về đâu. Có phải vậy không, thưa chư liệt vị?

 

 

Các cảnh giới tái sinh

Thích Nguyên Liên

A. DẪN NHẬP.

Tùy theo nghiệp nhân con người gây tạo trong quá khứ có sai khác, mà đến khi lâm chung mỗi người hấp hối đều có những biểu hiện khác nhau. Hoặc có người biết trước giờ chết vui vẻ niệm Phật mà vãng sanh, hoặc có người tràn đầy sự thảng thốt, run sợ, thậm chí có người khi sắp chết đã có những tướng biểu hiện của cảnh giới ngạ quỷ, súc sanh. Như thế tùy theo nghiệp nhân thiện hay ác, mà con người sắp chết có những biểu hiện lâm chung khổ đau hay hạnh phúc, để rồi tái sanh về cảnh giới lành hay dữ. Chung quy, cảnh giới con người tái sanh là cảnh giới tương ưng với sự khao khát truy cầu và thỏa mãn tự thân của mỗi người.

Tựu trung các cảnh giới con người sẽ tái sanh vào là cảnh giới gì? Do động lực căn bản nào dẫn dắt thần thức con người đi tái sanh? Sự thọ dụng khổ đau hay hạnh phúc của từng cảnh giới ra sao? Nỗi bình an hay hốt hoảng để tương ứng với từng cảnh giới con người chuẩn bị tái sanh như thế nào? Các yếu tố cần và đủ để biện minh về sự hình thành một cảnh giới ra sao? Đây là những vấn đề mà người Phật tử chúng ta không thể không biết.

B. NỘI DUNG.

I. NGHIỆP VÀ CÁC CẢNH GIỚI TÁI SANH

1. Nghiệp - Nhân tố quyết định cho sự tái sanh.

Theo quan điểm đạo Phật; con người sau khi chết không phải là mất hẳn, đó chỉ là một trạng thái biến dạng của nghiệp thức. Thể xác phân tán nhưng phần tâm thức tiếp tục bị nghiệp lực dẫn dắt thọ sanh vào cảnh giới tương ứng. Và cứ như thế con người chúng ta ngày nào chưa đạt đến Thánh vị, thì mãi luẩn quẩn trong cuộc rượt bóng bắt hình nơi trò chơi luân hồi huyễn mộng này.

Ai là tác giả của cuộc chơi hư hư thực thực này? Đó chính là nghiệp - nguyên động lực dẫn dắt con người đi vào tái sanh trong các cảnh giới luân hồi. Nghiệp là những hành động có tác ý, từ nghiệp tạo thành sức mạnh của nghiệp hay còn gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực chi phối sự tái sanh của con người qua một trong bốn loại sau:

a. Cực trọng nghiệp: nghĩa là những hành động trọng yếu hay là những hành nghiệp cực trọng. Nếu cực trọng nghiệp thuộc về loại bất thiện đó là những nghiệp như: ngũ nghịch, thập ác. Bằng như cực trọng nghiệp thuộc về loại thiện đó là những nghiệp như: người chứng đắc các quả vị tứ thiền sắc giới trở lên.

 b. Tập quán nghiệp: còn gọi là thường nghiệp. Tập quán nghiệp là những việc làm, lời nói hàng ngày chúng ta hay làm và thường nhớ đến ưa thích hơn hết. Những thói quen lành hay dữ dần dần uốn nắn tạo thành bản chất của con người. Ngay trong vô thức đôi lúc nó vẫn hiện khởi. Trong các loại nghiệp thì nghiệp này đóng vai trò rất quan trọng trong việc chi phối sự đầu thai.

c. Tích lũy nghiệp: đời sống của con người hôm nay là sự tích góp bởi vô số các nghiệp từ trong quá khứ đã tạo. Trong sự luân hồi bất tận con người ai cũng đã tích lũy cho mình một số lượng lớn tài sản nghiệp. Như thế, tích lũy nghiệp là những nghiệp do tích lũy nhiều đời. Nghiệp này có công năng dẫn dắt con người đi tái sanh, khi ba loại nghiệp trên vắng mặt.

d. Cận tử nghiệp: là nghiệp nhân sau cùng con người nhớ tưởng lúc lâm chung. Tâm niệm sau cùng của con người nếu là niệm ác tức sẽ tái sanh vào một trong các cảnh khổ. Tâm niệm sau cùng của con người nếu là niệm thiện tức sẽ tái sanh vào một trong các cảnh giới lành, đây gọi là cận tử nghiệp.

Khi con người lâm chung, nếu không có cực trọng nghiệp hay tập quán nghiệp nào làm động cơ cho sự thúc đẩy tái sanh thì cận tử nghiệp sẽ dẫn dắt con người thọ sanh. Hoặc nếu không có cả ba loại nghiệp kể trên thì tích lũy nghiệp sẽ dẫn dắt con người tái sanh.

2. Các cảnh giới tái sanh.

Không gian không ngằn mé gọi là vũ, thời gian không cùng tận gọi là trụ. Trong khoảng không gian vô cùng thời gian vô tận đó, có tất cả mười cảnh giới mà tuỳ theo nghiệp lực của mỗi người tạo ra, tương ứng để tái sanh vào một trong mười cảnh giới. Mười cảnh giới đó bao gồm bốn cảnh giới Thánh và sáu cảnh giới phàm.

Thần thức con người sau khi chết sẽ có hai tình huống xảy ra. Nếu người nào hiện đời có công phu tu hành, đạt đến được cảnh giới nghiệp sạch tình không, tùy mức đoạn vô minh vi tế có sâu hay cạn hoặc dứt sạch mà sanh về một trong bốn cảnh giới Thánh là Phật, Bồ Tát, Duyên giác và Thanh văn. Hoặc như người nào tuy có công phu tu hành nhưng chưa đoạn được phiền não, chưa đạt đến cảnh giới nghiệp sạch tình không… nhưng do tâm nguyện khẩn thiết cầu sanh thế giới Cực lạc và thường trì danh hiệu Phật A-di-đà, người đó cũng được thoát ly sanh tử, khi lâm chung được vãng sanh về thế giới Tịnh độ của chư Phật, lần hồi tiến tu cho đến ngày thành Phật.

Còn bằng, người nào còn nghiệp sau khi chết đều phải tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi. Tùy theo nghiệp của mỗi con người có sai khác mà họ phải tái sanh vào cảnh giới khổ đau hay hạnh phúc. Sáu cảnh giới mà con người phải luân hồi qua lại đó là: Thiên đạo, Nhân đạo, A tu la đạo, Bàng sanh đạo, Ngạ quỷ đạo và Điạ ngục đạo. Trong đó hai cảnh giới đầu là cảnh giới thiện đạo, đây là cảnh giới có hạnh phúc xen lẫn với khổ đau, bốn cảnh giới sau là cảnh giới ác đạo, là cảnh giới hoàn toàn khổ đau. Chung quy, con người trong dòng sống bất tận, phần nhiều vì vô minh che lấp tạo ra các nghiệp lành hay dữ rồi phải tùy theo nghiệp lành hay dữ mà tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi.

II. Luân hồi trong lục đạo

Trong phạm vi bài viết chúng tôi xin trình bày giản lược về ý nghĩa, thân tướng và thọ lượng, cảnh giới thọ dụng, nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung… trong sáu cảnh giới luân hồi và cảnh giới Tịnh độ. Nơi cảnh giới Tịnh độ chúng tôi triển khai về cảnh giới Tây phương Tịnh độ (thế giới Cực lạc của Phật A-di-đà), lấy cảnh giới đó làm đại biểu.

* Sanh về ác đạo.

1. Địa ngục đạo.

a. Định nghĩa.

Sao gọi địa ngục? Danh từ này do người Trung Hoa y theo nghĩa mà lập danh, để chỉ cho lao ngục ở dưới đất, và chữ ngục có nghĩa là bó buộc không được tự do. Nhưng theo luận Đại tỳ bà sa, thì địa ngục không hẳn toàn ở dưới đất, mà có khi ở trên mặt đất, hoặc dưới nước hoặc trên hư không, vì thế các bản kinh Phạn văn không gọi địa ngục, mà gọi là Nại-lạc-ca.

Nại-lạc-ca có những nghĩa như Khổ cụ, Phi đạo, Ác nhân… chỉ cho nơi  người tạo tội ác ở, nơi có muôn vàn sự khốn đốn khổ đau. Địa ngục tuy nhiều nhưng đại ước có hai loại: chánh ngục và biên ngục. Chánh ngục vị trí ở dưới châu diêm phù đề và giữa núi thiết vi. Chánh ngục có hai thứ: hàn ngục và nhiệt ngục. Hàn ngục và nhiệt ngục mỗi thứ có tám nơi, mỗi nơi có mười sáu ngục phụ, mỗi ngục phụ lại có nhiều tiểu ngục khác nữa.

Biên ngục cũng gọi là độc ngục, ở lẻ loi trên núi, nơi mé biển, dưới nước, chỗ đình miếu, giữa đồng trống, hoặc trong hang sâu. Ở Nam thiệm bộ châu có đại địa ngục, còn ba châu kia chỉ có biên, độc địa ngục. Chung quy địa ngục là cảnh giới trong đó không có hạnh phúc, nơi có đầy đủ muôn vàn sự khổ đau mà những người tạo ác nghiệp phải sanh về để trả lại những nghiệp nhân bất thiện trong quá khứ.

b. Thân thể và thọ lượng.

Thân chúng sanh ở Nại-lạc-ca cao thấp lớn nhỏ không định, có đủ màu sắc và hình tướng nhân, quỷ, súc, vì do các nẻo sanh về khác nhau. Nếu loài hữu tình tạo nghiệp cực ác, tự cảm thấy thân thể to lớn vô cùng. Về tuổi thọ, loài hữu tình ở địa ngục tội ác sâu nặng, nên thọ mạng rất dài lâu.

Chúng sanh ngục Đẳng hượt thọ 500 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 16.200 Câu-đê năm cõi người. Chúng sanh ngục Hắc thằng thọ 1000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 32.400 năm Câu-đê cõi người. Chúng sanh ngục Chúng hiệp thọ 2000 tuổi, một ngày đêm nơi đây bằng 64.800 Câu-đê năm cõi người… Như thế cứ tăng gấp đôi cho đến ngục Cực nhiệt, chúng sanh thọ nửa trung kiếp, ngục Vô gián chúng sanh thọ một trung kiếp.

c. Cảnh giới thọ dụng.

Nơi phần cảnh giới thọ dụng, chúng tôi sơ lược trình bày ba phần là khổ lạc thọ dụng, ẩm thực thọ dụng và dục nhiễm thọ dụng. Về khổ lạc thọ dụng, chúng sanh ở cảnh địa ngục phải chịu sự thống khổ vô cùng, như trong kinh Địa Tạng dạy: Chúng sanh ở cõi này, một ngày một đêm trải qua trăm vạn lần chết đi sống lại để chịu các khổ báo như ăn hoàn sắt nóng, uống nước đồng sôi, bị kéo lưỡi cho trâu cày…

Về ẩm thực thọ dụng, chúng sanh ở cảnh địa ngục đều dùng thức thực mà duy trì thân. Loại này cũng có thọ dụng phần xúc thực vi tế, tạng phủ có hơi gió thoảng động, do nhân duyên này mà được sống lâu, hoặc có loại dùng đoàn thực. Về dục nhiễm thọ dụng, chúng sanh ở cảnh địa ngục không có hành dâm, vì bị quá nhiều hình phạt đau khổ.

d. Nghiệp nhân tái sanh và biểu hiện lâm chung.

d1. Nghiệp sanh tái sanh.

Người hiện đời bất tín Tam bảo, tạo các nghiệp cực ác sau khi  chết sẽ đọa vào cảnh giới khổ đau. Theo kinh Biện Ý Trưởng Giả Tử, đức Phật dạy người nào sanh tiền tạo năm nghiệp, khi chết sẽ bị đọa vào địa ngục.

- Không tin Phật, Pháp, Tăng khinh báng Thánh đạo.

- Phá hại chùa miếu.

- Hủy báng bốn chúng của Phật, hung hăng không tin tội phước.

- Ngỗ nghịch không biết tôn ty thượng hạ, chẳng kể quần thần phụ tử, không chịu thuận tùng phục thiện theo lẽ phải.

- Không nghe lời dạy chân chính của chư Tăng, tự cao, khinh mạn hủy báng sư trưởng.

d2. Biểu hiện lâm chung:

Nếu người nào lâm chung, sắp đọa vào cảnh giới địa ngục sẽ có những biểu hiện sau.

- Nhìn ngó thân quyến với con mắt ghét giận.

- Đưa tay lên quờ quạng giữa hư không.

- Đi đại tiện, tiểu tiện mà không hay biết.

-Thân thường có mùi hôi hám.

- Nằm úp mặt xuống hoặc che giấu mặt.

- Hai mắt đỏ ngầu.

- Nằm co về bên trái.

- Xương lóng đau nhức.

- Thiện tri thức dù có chỉ bảo, họ cũng không nghe theo.

- Nhắm nghiền đôi mắt không mở.

- Mắt bên trái hay động đậy.

- Sống mũi xiên vẹo.

- Gót chân đầu gối luôn run rẫy.

- Thấy ác tướng vẻ mặt sợ sệt mà không nói được, hoặc sảng sốt kêu la bảo quỷ hiện.

- Tâm thức rối loạn.

- Cả mình giá lạnh, tay nắm lại, thân thể cứng đơ.

e. Tiến trình thác sanh.

Trung ấm sắp sanh vào cảnh giới địa ngục, bỗng nghe những khúc ca bi ai hết sức buồn thảm, thấy cảnh giới mù mịt tối tăm, nhà cửa sắc đen hay trắng, hoặc thấy hang hố sâu thẳm, đường sá lờ mờ. Lúc ấy chính mình bị quỷ xua đuổi vào trong đó, khi vào rồi thì thân không được tự do, liền bị thác sanh.

Trung ấm sắp đọa vào ngục hàn băng, do sức nghiệp bỗng nhiên thân thể nóng bức vô cùng, gặp hơi lạnh ở hàn ngục xông lên, tự cảm thấy mát mẻ dễ chịu, khởi lòng ưa thích vội vả bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị thác sanh. Chúng sanh sắp đọa vào ngục viêm nhiệt, do sức nghiệp bỗng nhiên thân thể giá rét bất kham, gặp hơi nóng ở hỏa ngục xông lên, tự cảm thấy ấm áp dễ chịu, khởi lòng ưa thích vội vả bay xuống nơi đó, lúc ấy liền bị thọ sanh. Trung ấm sắp đọa vào ngục phẩn uế, do sức nghiệp bỗng cảm thấy một mùi thơm ngạt ngào khó chịu, bấy giờ trong tâm ao ước muốn tìm nơi có mùi hôi thối để đánh át bớt mùi thơm đó, bởi nhân duyên ấy mà bị thọ sanh. (còn nữa)

 

Hạnh lắng nghe

TT. Thích Thái Hòa

Pháp thoại của TT. Thích Thái Hòa cho ngày Hạnh của ngành nữ GĐPTVN

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Thưa tất cả quý ACE Huynh trưởng GĐPTVN

Cùng tất cả trại sinh ngày Hạnh quý mến,

Trong Lục Độ Tập Kinh, có dạy: “Thà mất nước không thà mất hạnh”. Thà mất nước là thà mất biên cương, lãnh thổ, chứ không thà mất hạnh. Mất hạnh là mất văn hóa, mất nếp sống đạo đức, mất thuần phong mỹ tục, mất nhân tính, mất đi lý tưởng sống. Mất nước là mất biên cương, mất lãnh thổ, mất chủ quyền quốc gia, mà còn Hạnh, nghĩa là còn nền đạo đức của một dân tộc, còn nền văn hóa của một dân tộc, còn thuần phong mỹ tục của một dân tộc, và còn lý tưởng sống của một dân tộc, thì việc mất chủ quyền về chính trị, mất biên cương, mất lãnh thổ của dân tộc, sớm muộn gì cũng có thể phục hồi lại được, nhưng một dân tộc không mất biên cương, lãnh thổ mà mất Hạnh thì vĩnh viễn mất nước.”

Cũng vậy, người Phật tử chúng ta, dù mất sinh mạng, nhưng không mất lý tưởng, thì chúng ta vẫn còn là một con người nguyên vẹn trong lý tưởng giác ngộ.

Muốn duy trì hạnh nguyện của người Phật tử ngành nữ, chúng ta cần phải thực hành hạnh lắng nghe của Bồ-tát Quán Thế Âm. Chúng ta thực hành muôn hạnh cũng không ra ngoài hạnh ấy.

Muốn duy trì hạnh Đại Trí và Đại Bi của Bồ-tát Quán Thế Âm, chúng ta phải duy trì hạnh ấy bằng chính thực hành hạnh lắng nghe. Đạt được hạnh lắng nghe là chúng ta có thể thành tựu được các hạnh tinh tấn, bố thí, nhẫn nhục, thiền định, và trí tuệ ngay trong cuộc sống này.

Tâm chúng ta luôn luôn xáo động, thân chúng ta luôn luôn manh động, thì làm thế nào để chúng ta có thể ngồi yên để lắng nghe người khác nói.

Hạnh lắng nghe là luôn lắng nghe người khác khen mình và lắng nghe người khác chỉ trích mình, bôi nhọ mình mà mình vẫn giữ được thái độ trầm lặng, mỉm cười và thương xót, đó mới là người thực hiện hạnh lắng nghe, hạnh ấy chỉ người lớn mới có khả năng thực hiện được.

Thực hiện hạnh lắng nghe cũng là thực hiện hạnh bố thí, để làm vơi bớt niềm đau của người, chúng ta lắng nghe người khác nói với tâm tư điềm tĩnh, không sợ hãi đó là chúng ta đã bố thí tâm không sợ hãi cho người.

Người đời có hai cái sợ, một là cái sợ bên trong và hai là cái sợ bên ngoài. Chúng ta lắng nghe người khác khen và chê ta, mà không hề có sự sợ hãi cả bên trong lẫn bên ngoài, như vậy là từ trong hạnh lắng nghe, chúng ta đã thành tựu hạnh vô úy.

Chỉ thực hành hạnh lắng nghe thôi, là chúng ta cũng thực hành được khẩu nghiệp, thân nghiệp và ý nghiệp thanh tịnh vậy. Như vậy, chúng ta đã thành tựu trì giới Ba-la-mật.

Lắng nghe người khác nói hoặc nghe người khác tâm sự nỗi buồn của họ, một cách hoan hỷ, đó là ta đã thành tựu được hạnh nhẫn nhục Ba-la-mật. Nơi nào cũng lắng nghe, lúc nào cũng lắng nghe, lắng nghe tất cả những tiếng kêu đau thương của hết thảy mọi người, mọi loài là chúng ta thành tựu được tinh tấn Ba-la-mật.

Lắng nghe tiếng khen chê mà tâm không bị xao động, bất động trước khen chê, thị phi của cuộc đời là ta thành tựu thiền định Ba-la-mật.

Từ sự lắng nghe dẫn ta đến trí tuệ. Ta lắng nghe để thấy rõ chơn vọng của cuộc đời, thấy rõ tác nhân, tác duyên của mọi vấn đề, thấy rõ nhân quả nghiệp báo của mọi vấn đề, như vậy là ta thành tựu trí tuệ Ba-la-mật.

Bồ-tát Quán Thế Âm nhờ thực hành hạnh lắng nghe mà thành tựu viên mãn Lục độ.

Quý vị là ngành nữ, tay yếu chân mềm có nhiều lo âu và sợ hãi. Sợ hãi dông bão giữa cuộc đời, cũng như dông bão trong lòng mình nổi lên và cần có nơi nương tựa, nên hạnh lắng nghe của Bồ-tát Quán Thế Âm là hạnh mà quý vị có thể nương tựa để thực tập tạo ra chất liệu an ổn trong đời sống hàng ngày.

Nhờ thực tập hạnh lắng nghe, quý vị  không những có khả năng cứu đời, mà còn làm nơi nương tựa cho các con và  em của mình, và cuộc sống của quý vị trở thành linh hoạt trong mọi tình huống, như Bồ-tát Quán Thế Âm linh hoạt chuyển vận bánh xe chánh pháp để độ đời.

Nơi nào có bất công, kỳ thị, thì nơi đó có Bồ-tát Quán Thế Âm xuất hiện. Bồ-tát Quán Thế Âm đã hóa thân thành Quan Âm Diệu Thiện để chữa lành bệnh cho cha. Bồ-tát Quán Thế Âm đã hóa thân thành Quan Âm Thị Kính bị bà mẹ chồng hiểu lầm, đã  nhẫn nhục kiên trì, không nổi tâm thù oán, sân hận. Bồ-tát Quán Thế Âm đã hiện Tiêu Diện đại sĩ để nhiếp phục loài đầu trâu mặt ngựa, khiến chúng trở về với đạo đức lương thiện.

Do đó, chúng ta thực tập hạnh lắng nghe của Bồ-tát Quán Thế Âm, hy sinh vì hiếu như Quan Âm Diệu Thiện, chấp nhận mọi ngộ nhận để đem lại lợi ích cho xứ sở như Quan Âm Thị Kính, và phải biểu hiện đại hùng địa lực như Tiêu Diện đại sĩ để cứu nước, cứu dân, và nghe bất cứ nơi nào có tiếng gọi bị áp bức, thì Bồ-tát liền xuất hiện ở đó, dưới nhiều hình thức để lắng nghe và cứu hộ.

Trong thời đại ngày nay của chúng ta, là thời đại quá ư là ngoại giao, ngôn ngữ  được sử dụng hết sức điêu luyện và xảo trá, lại thêm nền văn minh tin học, lượng thông tin bùng vỡ, có những người đã lợi dụng văn minh tin học để loan truyền những tin tức không chuẩn xác, chỉ nhắm tới mưu lợi cho cá nhân, phe nhóm hay chủ nghĩa mà không phải vì hạnh phúc và an lạc cho thế giới con người. Cho nên vào thời đại của chúng ta hiện nay, việc thực tập hạnh lắng nghe để khám phá và phát hiện sự thật lại là một pháp môn hết sức cần thiết để cứu mình và cứu đời. Lắng nghe là một phép lạ để khám phá sự thực của mọi tâm hồn và mọi thông tin từ mọi phía đến với chúng ta.

Trong thời đại hiện nay, chúng ta nói nhiều thì sẽ bị lỗi nhiều, nói ít thì ít lỗi, không nói thì không lỗi. Chỉ im lặng và thực hiện, mỗi chúng ta cũng đều trở  thành hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Như thế, chúng ta có thể làm cho trần gian cạn vơi đi những hư dối và tủi luỵ.

Cầu nguyện đức Bồ-tát Quán Thế Âm, gia hộ cho tất cả chúng ta thực tập hạnh Lắng Nghe một cách thành công.

 

Học hạnh của đất

Thích Quảng Trí

Các sự vật, hiện tượng trong cuộc đời này đều có một giá trị, một ý nghĩa nhất định. Tất cả chúng đều góp phần tạo nên cuộc sống. Nếu tiếp xúc với các sự vật bằng sự quán chiếu thì chúng ta sẽ “nghe” được những đạo lý từ chính các sự vật ở trong cõi đời này chứ không chỉ ở cõi Cực Lạc của đức Phật A-di-đà mới có thể nghe. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng nhau tiếp xúc với đất để “lắng nghe” tiếng lòng của đất, và học theo những điều giá trị từ nó.

Điều chúng tôi muốn nói đến đầu tiên đó là tính chịu đựng của đất. Con người đã đặt lên đất rất nhiều thứ với nhiều đặc tính khác nhau, từ những thứ đẹp đẽ đến những thứ xấu xa, từ những thứ sạch sẽ đến những thứ nhơ bẩn,… đất đều tiếp nhận tất cả. Đất đã tiếp nhận mà không hề có sự phản kháng hay chống đối, cũng không hề có sự vướng lụy.

Không chỉ có thế, đất còn là điểm tựa cho tất cả các sự vật. Đất đã nâng đỡ tất cả các sự vật. Dù cho là vật gì đi nữa thì đất cũng không loại trừ. Đất đã “đối xử” với các sự vật rất bình đẳng. Đất không bao giờ có sự phân biệt. Đất đã nâng đỡ cho cỏ cây, hoa lá, đất làm điểm tựa cho sự sống của con người và các loài động vật. Không có sự nâng đỡ của đất thì sự sống không thể nào tồn tại được trên thế gian này.

Đồng thời với tính chịu đựng và nâng đỡ là khả năng chuyển hóa của đất. Chuyển hóa ở đây có nghĩa là chuyển hóa những thứ mà đất đã tiếp nhận. Những thứ không tốt lành đến với đất, đất đều chuyển hóa chúng dần dần để tạo nên những thứ có ích cho cuộc sống, những thứ đã tốt thì làm cho tốt hơn. Những thứ rác bẩn đến với đất đã được chuyển hóa thành chất dinh dưỡng để nuôi cây trồng. Những dòng nước bẩn khi thấm vào lòng đất đã được đất chuyển hóa thành dòng nước trong lành.

Chính vì đất có những đặc tính như thế cho nên đất trở thành một phần quan trọng của sự sống. Chúng ta cần phải học theo hạnh của đất. Học theo hạnh của đất có nghĩa là chúng ta phải thực hành hạnh nhẫn nhục.

Cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Đời người có lúc gặp thuận duyên nhưng cũng có lúc gặp nghịch cảnh. Chúng ta cần phải giữ cho lòng mình bình lặng trước những ngọt ngào cũng như đắng cay đến với mình trong cuộc sống. Khi người khác ca ngợi mình, cung kính, tôn trọng, thân thiết với mình thì mình không vì thế mà kiêu căng, tự đắc, không vì thế mà hãnh diện. Khi người khác đối xử bất nhã với mình, công kích và nhục mạ mình, mình vẫn không chống đối, không oán hận hay thù ghét. Ngược lại, còn giữ lòng bình thản, sẵn lòng tha thứ, bao dung và thương yêu.

Tuy nhiên, như đất đã tiếp nhận các vật một cách rất tự nhiên, không hề có sự dồn nén hay gượng ép, không có sự phân biệt. Cũng vậy, trước các sự thuận nghịch trong cuộc sống, lòng chúng ta phải bình thản một cách tự nhiên, không bị chi phối bởi một nguyên do nào khác ngoài lòng thương yêu vô bờ bến. Càng không phải là sự bình thản vì nhu nhược, tư lợi, cũng không phải để mưu toan,.. Như thế mới là sự nhẫn nhục đích thực, mới thực hành theo hạnh của đất một cách rốt ráo.

Một khi chúng ta thực tập hạnh nhẫn nhục được thuần thục thì lòng thù hận sẽ vắng bóng trong lòng chúng ta. Chúng ta không còn có sự phân biệt giữa thù với bạn, giữa thân với sơ. Với tất cả mọi người, chúng ta đều tôn trọng, thương yêu và giúp đỡ, đều mong cho tất cả mọi người có được hạnh phúc trong cuộc sống và luôn cố gắng đem hạnh phúc đến cho mọi người, không bao giờ có ý làm tổn hại người khác.

 Và cũng chính sự nhẫn nhục mà mình có thể làm thay đổi tâm niệm và cách nghĩ của người khác từ xấu trở nên tốt, từ tiêu cực thành tích cực. Một người dù có vô tâm đến đâu, tàn nhẫn đến đâu cũng không thể không xúc động trước sự bình thản, bao dung của người khác khi bị họ đối xử không tốt. Như thế là nhẫn nhục đã chuyển hóa được người khác, chuyển hóa được mối quan hệ không tốt giữa người với người, làm cho con người không còn thù ghét, oán hận nhau nữa.

Nhẫn nhục đem lại lợi ích lớn cho tự thân, gia đình và xã hội. Nhẫn nhục giúp con người giữ được tâm an tịnh trước những chuyện thị phi, trước nghịch cảnh cũng như trước những cám dỗ trong cuộc sống. Nhẫn nhục làm giảm sự hận thù, thiết lập lại mối giao hữu tốt đẹp giữa người với người. Người có lòng nhẫn nhục thì luôn cung kính, thương yêu mọi người, có khả năng đem lại hạnh phúc cho người khác. Sống mà không có nhẫn nhục thì sẽ không thể nào có được an vui, hạnh phúc trong cuộc sống. Chính đức Phật cũng đã ca ngợi về lợi ích của nhẫn nhục như sau:

“Nhẫn là duyên trợ đạo tốt nhất

  Nhẫn là thuyền bè vượt sông biển

  Nhẫn là thuốc trị bệnh cứu mạng

  Tu hành chánh giác, vượt qua ba cõi,…

  Cũng nhờ hạnh nhẫn nhục”.

Quả thật, nhẫn nhục có công năng đem lại lợi ích lớn cho cá nhân, gia đình và xã hội. Trong cuộc sống, ai cũng muốn mình trở thành một người tốt, một người có ích cho xã hội, muốn xây dựng cho mình một đời sống có ý nghĩa. Để được như thế thì cần phải học theo hạnh của đất, thực hành hạnh nhẫn nhục trong đời sống hàng ngày. Lúc nào thấy lòng mình “dậy sóng” thì hãy nhìn xuống đất, nhớ đến hạnh của đất để rồi tự đánh thức mình.

 

 

Chữ Hiếu trong Nho giáo và Phật giáo

Thích Đồng Thành

Đối với truyền thống đạo đức Đông phương vấn đề thể nghiệm luôn là yếu tố chính mà các tư tưởng gia thường hướng đến. Không giống như hệ thống tư tưởng kinh viện của các nhà đạo đức học Tây phương, những lời giáo huấn của các bậc hiền giả Đông phương được người đời sau ghi lại và truyền giữ cẩn thận không phải là những học thuyết, những giáo điều khô khan để bàn luận mà ngược lại chúng là những tinh hoa được chắt lọc từ kinh nghiệm sống thường nhật của những tâm hồn mẫn cảm và bao dung. Đạo đức học Đông phương vì thế luôn hàm chứa một tiềm lực dồi dào và trên thực tế chính tiềm lực này đã làm cho nền luân lý ấy hòa quyện vào nền văn minh vật chất để từ đó hình thành nên các giá trị văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc. Ta có thể hiểu rõ hơn điều này khi tìm hiểu về ý nghĩa của chữ hiếu trong hai dòng tư tưởng lớn của Đông phương là Nho giáo và Phật giáo.

Sách Đại học của Nho giáo được mở đầu bằng một lời khẳng định minh bạch rằng mục đích của Đại học là soi sáng bản tính đạo đức của mình, gắn bó, thương yêu người, để mình và người cùng đạt đến chỗ chí thiện1. Lời tuyên bố này đã trở thành tư tưởng trọng tâm của nền học thuật Nho giáo và vì thế nó là yếu điểm mà các nhà Nho thường nhắm tới. Theo như lời dạy này, người Quân tử phải khởi đầu từ việc trau dồi phẩm hạnh cá nhân để kế đến là ổn định trật tự xã hội và cuối cùng là hoàn thiện nhân cách cao tột của mình. Đối với các nhà Nho, trau dồi phẩm hạnh cá nhân là khởi điểm để từ đó mỗi người xây dựng cho mình một nhân cách mà tinh chất của nhân cách ấy là Nhân (lòng bác ái), đức đầu tiên trong ba đức (Nhân, Trí, Dũng, theo Khổng Tử), bốn đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, theo Mạnh Tử) hay năm đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, theo Hán Nho).

Khi Phàn Trì hỏi Nhân là gì, Khổng Tử (551-479 Tr. CN) đáp: “là thương người.”2 Mạnh Tử (372?-289? Tr. CN) thì cho rằng người Quân tử khác với người đời là ở cái tâm của họ, tâm người Quân tử luôn có Nhân, có Lễ. Người có Nhân biết thương người khác, người có Lễ biết kính người khác.3 Theo cách lý giải của Mạnh Tử mỗi người đều vốn mang trong mình một lòng trắc ẩn, không nỡ thấy ai bị đau khổ, nên khi mình thấy một điều gì đó nguy hiểm xảy ra với người khác, mình không thể làm ngơ mà phải ra tay cứu giúp họ. Ông đưa ra một ví dụ như sau: một người tình cờ thấy một em bé sắp bị rơi xuống giếng liền khởi tâm lo lắng và vội vàng đến cứu em. Người ấy khởi lên tâm thương tưởng như thế không phải vì mong cha mẹ của em bé kia sẽ trả ơn, cũng chẳng mong được bạn bè, láng giềng khen ngợi, lại cũng chẳng phải vì sợ sẽ mang tiếng xấu bởi đã không giúp người trong cơn hoạn nạn, mà đó vốn là một phản ứng tự nhiên của mỗi người. Lòng trắc ẩn này, theo ông, chính là đầu mối của lòng Nhân.4 Tình thương người như thế không cần học hỏi để có, không nhọc suy tư để biết, mà nó là bẩm sinh như trẻ thơ lúc nhỏ thì biết thương mến cha mẹ, lớn lên thì biết kính trọng đàn anh của mình. Sự thương mến đó là Nhân, sự kính trọng đó là Nghĩa vậy.5 Như vậy hiếu thảo hay sự thương mến cha mẹ chính là cội nguồn của Nhân. Hữu Tử, một môn đồ của Khổng Tử cũng khẳng định rằng hiếu là gốc của tất cả những điều Nhân.6 Đến đây ta có thể phần nào hiểu được vai trò của chữ hiếu trong truyền thống Nho giáo. Vì Nhân là đức tính đứng đầu trong muôn đức, là tinh chất để tạo nên nhân cách của một bậc Quân tử, mà hiếu là cội gốc của Nhân nên hiếu được xem là nền tảng đạo đức của người Quân tử.

Dù hiếu là một đức tánh bẩm sinh nhưng nếu hạt giống này của lòng Nhân không được vun xới thường xuyên thì nó sẽ bị hư hoại và có thể biến mất và nếu điều này xảy ra thì lòng Nhân sẽ bị mất đi nền tảng như cây không cội, nước không nguồn và rồi nó lại bị biến dị sang một hình thái khác. Hình ảnh của những kẻ hung ác, bạo ngược trong xã hội đã phần nào chứng minh được sự thật này. Họ là những người đã đánh mất đi hạt giống của hiếu hạnh, quan hệ gia đình bị rạn vỡ để rồi trở thành những tâm hồn lạc loài giữa sa mạc ngông cuồng chỉ biết bám trụ vào những ốc đảo của lòng ham muốn thấp hèn, bại hoại. Do vậy hiếu và Nhân không thể tách rời nhau. Người có hiếu thì dễ dàng phát triển lòng Nhân mà một khi đã có Nhân thì hạnh hiếu càng sáng tỏ. Chỉ khi nào con người biết bắt đầu từ sự hiếu thảo với cha mẹ, từ sự gắn bó với thân quyến, thì người ấy mới có thể thương yêu người khác. Đó là thứ lớp thăng tiến của Nho giáo hay là lộ trình tu đạo của người Quân tử. Sách Trung Dung có viết rằng: đạo Quân tử cũng giống như đi đường xa, muốn đi ắt phải khởi sự từ gần; cũng ví như lên cao, muốn lên ắt phải bắt đầu từ dưới thấp.7

Hiếu kinh, tác phẩm chính của Nho giáo nói về đạo hiếu được mở đầu như sau: “Hiếu là gốc của đức, là nguồn của giáo…thân thể tóc da, nhận từ cha mẹ, không dám tổn thương đó là khởi đầu của hiếu. Lập thân hành đạo, dương danh với hậu thế, để làm rạng rỡ cha mẹ, đó là kết cục của hiếu. Xét về hiếu, khởi đầu là lo việc song thân, kế đến là việc vua tôi, sau cùng mới đến việc lập thân.”8 Bản kinh này cũng dẫn lời của đức Khổng Tử về đạo hiếu rằng: “Người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, ăn ở phải hết sức cung kính, cung dưỡng cha mẹ phải hết mực vui vẻ, khi cha mẹ đau ốm phải lo lắng hết lòng, khi lo việc tang lễ phải cực kỳ thương xót, khi cúng tế cha mẹ phải vô cùng trang nghiêm.9 Hai đoạn này trong Hiếu kinh đã tóm thâu được ý nghĩa của chữ hiếu trong Nho giáo. Người con hiếu là người luôn giữ gìn và không làm tổn thương đến thân thể mà cha mẹ đã sanh ra, phải sống làm sao hầu để lại danh thơm tiếng tốt ở đời, làm cho cha mẹ, dòng tộc mình được rạng rỡ, lo cho chữ hiếu, chữ trung trước rồi sau mới lo cho mình. Đối với cha mẹ, lòng hiếu thảo của người con phải được thể hiện trên cả hai phương diện vật chất lẫn tinh thần. Về phương diện đầu, người con phải thực hiện ba điều căn bản: chăm sóc cha mẹ chu đáo, luôn ý thức rằng thân thể mình được tạo thành từ máu thịt cha mẹ nên phải biết quí trọng nó và phải lập gia đình, sanh con để nói dõi tông đường.

Theo Mạnh Tử, xét về phương diện thế tục, có năm điều được xem là bất hiếu: thứ nhất cơ thể lười biếng, chẳng đoái hoài đến việc phụng dưỡng cha mẹ; thứ hai, đam mê cờ bạc rượu chè, chẳng nghĩ đến việc phụng dưỡng cha mẹ; thứ ba, chạy theo của cải, tiền tài, chỉ nghĩ đến vợ con mà chẳng lo báo ân cha mẹ; thứ tư, đắm vào dục lạc sắc thanh làm cho cha mẹ tủi nhục; thứ năm, ưa thích sự kiêu hùng, đấu tranh, tàn nhẫn làm nguy hại cho cha mẹ.10 Nhưng đứng trên quan điểm của đạo Quân tử, Mạnh Tử lại cho rằng: “Bất hiếu có ba, không người nối dõi là lớn nhất.11 Tư tưởng này của Mạnh Tử về sau được Trình Di (1033-1107), một trong những nhà cách tân nổi tiếng của Nho giáo dưới thời Tống, kế thừa và cổ xúy mạnh mẽ. Trình Di cho rằng việc nối dõi như thế chính là trọng tâm của đạo làm người. Có lẽ chính vì điều này mà việc hôn nhân là điều rất quan trọng trong truyền thống Nho giáo. Thông thường việc hôn nhân này gồm ba khía cạnh sau: thứ nhất, đôi vợ chồng trẻ phải gắn bó, chung thủy và đối với họ việc ly dị là điều tối kỵ; thứ hai, việc cưới hỏi thường do cha mẹ hai bên đặt để. Việc tìm hiểu nhau trước khi hôn nhân diễn ra của đôi vợ chồng ấy không là điều quan trọng; và thứ ba, trách nhiệm và cũng là niềm tự hào của đôi vợ chồng ấy là phải sinh con trai để tiếp nối tổ tiên. Trong bối cảnh đó nếu họ không sinh được con trai thì người chồng có quyền ly dị vợ hoặc sẽ cưới thêm tỳ thiếp khác. Đây là một trong những nguyên nhân phát sanh tục đa thê và là tác nhân tạo nên những đổ vỡ hạnh phúc gia đình trong xã hội ngày xưa.

Về phương diện tinh thần, khi cha mẹ còn ở đời, người con hiếu phải thực hiện những hoài bảo mà cha mẹ trông mong, phải tiếp nối chí hướng của cha mẹ. Khi cha mẹ qua đời người con phải tỏ lòng tiếc thương và lo việc cúng tế, thờ phụng chu đáo. Sách Lễ Ký giải thích rằng sau khi một người qua đời hình phách (khí của đất) của người đó sẽ ẩn vào trong đất và hồn khí (khí của trời) sẽ về với trời và lễ tang được tổ chức để cho hai luồng khí này được dung hòa, gắn bó nhau mãi mãi. Theo thời gian cách thức và nội dung của lễ nghi như thế càng ngày càng được xem trọng và đó được xem là biểu hiện của lòng hiếu thảo của người sống đối với kẻ đã khuất. Khổng Tử cũng như các môn đồ của mình thường không quan tâm nhiều đến những vấn đề siêu hình chẳng hạn như Thượng đế tồn tại hay không tồn tại, có hay không một linh hồn bất tử, quan hệ giữa sống và chết ra sao… Khi Quí Lộ hỏi về việc quỉ thần, Khổng Tử đáp: “Chưa lo hết việc người, sao lại lo việc quỉ.” Quí Lộ lại hỏi tiếp về việc chết, Khổng Tử đáp: “Chưa biết việc sống, sao biết việc chết.” Sự im lặng của Khổng Tử đối với những vấn đề như thế làm cho Tử Cống, một môn đồ của ông phải than thở rằng: “Văn chương của Thầy thì ta đã nghe nhiều, nhưng về nhân tánh và đạo trời thì ta chưa từng nghe Thầy dạy.”13 Thái độ tránh né những câu hỏi liên hệ đến thế giới siêu hình của Khổng Tử được các thế hệ nhà Nho sau này tiếp nối một cách trung thành và điều đó nói lên một sự thật là Nho giáo không có chủ ý đưa niềm tin tôn giáo vào học thuyết thế trị của mình. Chủ trương của Nho giáo là thiết lập một thể chế xã hội mà ở đó mỗi cá nhân có những lối hành xử khế hợp theo những khuôn mẫu chung như Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng… Một xã hội được ổn định khi mỗi gia đình có sự đoàn kết, hòa thuận. Sự hòa thuận đó chỉ có thể có khi sự hiếu thảo được thực hành triệt để. Như vậy hiếu là nền tảng của đạo làm người, là nhân tố để hình thành nên đức Nhân của người Quân tử, một mẫu người lý tưởng trong Nho giáo. Chung quy việc tu thân để tiến đến việc tề gia, trị quốc và bình thiên hạ phải bắt đầu từ một đức tính căn bản trong mỗi người, đức tính đó không gì khác hơn là hiếu hạnh.

Trong Phật giáo, dù ở bất cứ truyền thống nào, khổ và diệt khổ là những điểm mấu chốt mà người tu Phật hướng đến trong tiến trình thăng hoa tâm linh của mình. Nhận thức được hiện tướng, đặc điểm, bản chất, nguyên nhân của khổ để rồi tu trì đoạn trừ những nguyên nhân ấy và từng bước an trú vào cảnh giới giải thoát là điều mà đức Phật đã dạy ngay trong bài pháp đầu tiên của mình cho năm anh em tôn giả Kiều Trần Như tại Lộc Uyển. Song để thành tựu những cấp bực chứng đắc của các thừa giáo cao tột như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát… thì hành giả phải khởi sự tu tập ngay từ vị thế hiện tại của mình đó là Nhân thừa. Trong kinh tạng Nguyên Thủy đức Phật thường dạy rằng một trong những cách hành xử căn bản của con người đó là việc biết ơn và đền ơn. Kinh Tăng Chi I có nói rằng biết ơn là phẩm chất của một người cao thượng, người biết ơn là một trong ba hạng người hy hữu trên thế gian này. Phật giáo thường nói đến bốn ân căn bản mà một người Phật tử thường phải ghi nhớ và đền đáp là: ân cha mẹ, ân Tam bảo, ân quốc gia và ân chúng sanh. Bốn ân này được xem trọng vì theo giáo lý Nghiệp và Duyên Khởi của Phật giáo trong vô lượng kiếp trước cho đến đời hiện tại mỗi người đều đã tạo ra vô số nhân duyên khác nhau, đã thọ ân của vô số chúng sanh và đến đời này lại thọ ân của cha mẹ đã sinh thành nuôi nấng, ân Tam bảo đã soi sáng và dẫn bước trên đường tu học và ân quốc gia đã bảo bọc, chăm lo cho cuộc sống mình được bình an, hạnh phúc. Trong bốn ân nói trên, ân cha mẹ là ân căn bản và phổ biến nhất.

Trong kinh Tương Ưng II Đức Phật đã dạy công ơn cha mẹ thật vô biên và rằng dòng sữa mà mình đã thọ nhận từ mẹ trong vô lượng kiếp còn nhiều hơn nước của đại dương. Vì công ơn cha mẹ to lớn như thế nên người con khó có thể đền đáp trọn vẹn thâm ân của cha mẹ mình (Tăng Chi I). Đức Phật cũng dạy rằng cách đền đáp đúng đắn và ý nghĩa nhất của người con đối với cha mẹ là ngoài việc báo ân cha mẹ theo năm cách như kinh Thiện Sinh (nuôi dưỡng cha mẹ, làm tròn mọi bổn phận người con, giữ gìn gia đình với truyền thống, bảo vệ tài sản thừa tự, và làm tang lễ khi cha mẹ qua đời - Trường Bộ Kinh IV) thì người con phải khuyến hóa cha mẹ làm điều phước thiện, qui y Tam bảo, thọ trì giới luật, sống theo chánh kiến. Không những khuyến hóa cha mẹ mà bản thân người con cũng phải thực hành những nguyên tắc này trong cuộc sống của mình. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái là một quan hệ hổ tương mật thiết nên cha mẹ cũng chính là một trợ duyên để người con giữ gìn đạo hiếu được trọn vẹn. Do vậy để con mình sống đúng với đạo lý ấy bản thân cha mẹ cũng thể hiện trách nhiệm đối với con. Đức Phật đã dạy về trách nhiệm đó như sau: ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp; lo việc cưới hỏi cho con thật xứng đáng; và trao tài sản thừa tự cho con đúng thời (Trường Bộ Kinh IV).

Như thế chữ hiếu trong đạo Phật không chỉ dừng lại ở chỗ nhận thức được công ơn của cha mẹ là bao la nên người con phải đền đáp thâm ân đó theo các nguyên tắc nhân bản của xã hội mà hơn thế nữa một người con hiếu phải còn là một thiện tri thức làm trợ duyên cho cha mẹ trong việc tu tập hướng đến sự giác ngộ và giải thoát. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa chữ hiếu trong Phật giáo và Nho giáo.

(Còn nữa)

Chú thích:

01. Đại Học, I.1.

02. Luận Ngữ, XII. 22.

03. Mạnh Tử, IVB. 28.

04. Sđd, IIA. 6.

05. Sđd, IIA, 15.

06. Luận Ngữ, I. 2.

07. Trung Dung, XV. 1.

08. Hiếu Kinh, I.

09. Sđd, 10.

10. Mạnh Tử, IVB. 30.

11. Sđd, IV A. 26. Theo J. Legger hai điều bất hiếu khác là khuyến khích cha mẹ làm điều bất nghĩa và không phụng dưỡng cha mẹ lúc cha mẹ nghèo túng và già yếu. The Four Books, J. Legger  (Tr.), Hong kong: Culture Book Co.

12. Luận Ngữ, XI. 11.

13. Sđd, V. 12.

 

Dòng Phật giáo Giác Lâm - Gia Định

Tâm Phương

Phật giáo Giác Lâm chính là cái nôi của Phật giáo Sài Gòn-Gia Định, là cửa ngõ của Phật giáo Sông Chín Rồng, là trường Phật học lâu đời nhất của Phật giáo 6 tỉnh Nam Kỳ. Trải 140 năm (1744-1884) định hình và phát triển, dòng chảy Phật giáo Giác Lâm đã cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu, nhất là tìm hiểu về văn hóa Phật giáo. Nơi đây như một nhà lưu niệm Phật giáo thu nhỏ, nhiều dấu vết Phật giáo Sài Gòn-Gia Định xưa còn được lưu giữ tại đây. Còn nhiều điều chưa được giới thiệu rộng khắp đến các giới Phật học trong và ngoài nước, còn nhiều phát hiện mới về Phật giáo Sài Gòn-Gia Định cũng như Phật giáo vùng đất Sông Chín Rồng, điều mà có nguồn từ dòng Phật giáo Giác Lâm.

Sài Gòn-Gia Định cũng là đất dụng võ cho những bậc Hào kiệt, anh tài. Nơi đây đã mời gọi nhiều dòng văn hóa Việt, Hoa, Khmer, tất cả đã hội tụ trên vùng đất “Đồng Nai-Gia Định”; cũng chính nơi đây vào năm 1744 đã tạo nên dòng Phật giáo mới: Phật giáo Giác Lâm.

 

1. Buổi bình minh của Phật giáo Giác Lâm

Tổ đình Giác Lâm, chùa Giác Lâm là tên gọi về sau, buổi bình minh của cái thuở còn “hàn vi”, chùa Giác Lâm được biết khiêm tốn qua tên gọi chùa Cẩm Đệm hay Cẩm Sơn. Chùa Giác Lâm thuộc loại “lão làng” trong số những chùa của đất Gia Định như Giác Viên, Hưng Long (1794), Phụng Sơn, v.v... do ông Lý Thụy Long dựng lên vào những năm 1744. Buổi đầu chùa có dáng vóc như một am tranh vách lá còn chánh điện thì chiếm một khoảng không gian khiêm tốn và được trang trí với chữ PHẬT được vẽ theo kiểu đại tự.

Đến 1772 đáp ứng nhu cầu tu học của tín đồ, tổ Phật Ý cử Tổ Tông-Viên Quang về trụ trì, sau khi về trông coi cơ sở nầy, am được đổi tên là chùa Giác Lâm vào năm 1772. Chùa Giác Lâm thuộc dòng Lâm Tế, vị trí Giác Lâm ngày nay gần trường đua Phú Thọ TP. HCM.

Từ mái chùa đơn sơ, trải qua nhiều lần sửa mới cùng với công hạnh tổ đạo hoằng truyền, giáo hóa để Giác Lâm dần trở nên một tổ đình tiêu biểu của Phật giáo Sài Gòn-Gia Định, nơi đây là nguồn đào tạo nên nhiều thế hệ Cao Tăng cho khắp 6 tỉnh Nam Kỳ.

 

2. Trụ trì Giác Lâm, những người tiếp nối

 


 

Năm Trụ trì

 

 Năm sinh-mất

1744

[Chưa rõ]

 

1772-1827

Tổ Tông-Viên Quang

-1828

1827-1869

Tiên Giác-Hải Tịnh

(Tế Giác-Quảng Châu)

1788-1875

1869-1893

Minh Vi-Mật Hạnh

1825-1898

1893-1903

Minh Khiêm-Hoằng Ân

1850-1914

1903-1910

Như Lợi

 

1910-1949

Hồng Hưng-Thạnh Đạo

1877-1949

1949-1974

Nhựt Dần-Thiện Thuận

1900-1974

1974-

Lệ Sành-Huệ Sanh

1935-

 

3. Ứng-Phú đàn tràng, một nét lớn trên dòng chảy Phật giáo Giác Lâm 

 

Ứng-Phú: Ứng là đáp lời mời của tín đồ; Phú là đến. Ứng-Phú đàn tràng là đáp lời mời của tín đồ mà đến nhà bổn đạo để cầu kinh. Mong muốn của tổ Tiên Giác-Hải Tịnh khi qui tụ những bậc Danh Đức-Cao Tăng 6 tỉnh Nam Kỳ là nhằm chấn chỉnh sinh hoạt ứng phú đạo tràng mà qua đó việc Ứng-phú phải thể hiện được nét: mô phạm cho mọi người (vị tha tác tắc).

4. Một tác phẩm văn học trải hơn 100 năm mà hương sắc vẫn chưa phai

Trong số những ghi nhận sáng giá trên dòng Phật giáo Giác Lâm đó là tác phẩm văn học. Có 2 đầu sách được ghi nhận đó là: sách Tông Phái Sự Tích của Tiên Giác-Hải Tịnh và hai là sách “Phép tắc dùng hằng ngày dón gọn” (Tỳ ni nhật dụng yếu lược). Tông Phái Sự Tích thuộc loại sử truyện; trong khi sách Tỳ ni nhật dụng yếu lược thì thuộc về luật học cho hàng Sa Di. Từ thông tin Giác Viên Lan Nhã Thiền Hòa Hoằng Ân tỉnh nghĩa Hoa Nghiêm Thiền Viện Tỳ Kheo Huệ Lưu sao lục, thông tin nầy được hiểu như sau: chùa Giác Viên Minh Khiêm-Hoằng Ân lược giải về nghĩa; thiền viện Hoa Nghiêm, Tỳ-kheo Huệ Lưu chép lại. Chùa Giác Viên là cơ sở trực thuộc chùa Giác Lâm nó cũng được xem như Giác Lâm 2, vị trí gần trường đua ngựa Phú Thọ, Sài Gòn ngày nay. Thiền viện Hoa Nghiêm thuộc quận Thủ Đức, Tỳ-kheo Huệ Lưu chính là Đạt Lý-Huệ Lưu (1858-?), chùa Huê Nghiêm, Thủ Đức, thuộc đời thứ 38 dòng thiền Hạnh-Siêu-Minh.

Sách Phép tắc dùng hằng ngày dón gọn, đây là tác phẩm luật học dành cho người mới học (hàng Sa Di). Ấn bản đầu tiên của quyển luật Phép tắc dùng hằng ngày dón gọn nầy là vào năm 1894 (Giáp Ngọ), về sau do nhu cầu tu học của người mới vào chùa, nhiều chùa khắp 6 tỉnh Nam Kỳ đứng ra khắc bản gỗ in lại sách nầy. Trải thời gian trên 100 năm từ 1894 đến 2004 thật không thể thống kê đầy đủ, chính xác số lần cũng như số lượng ấn bản của sách nầy. So với Sa Di thập giới giảo ngụy tự tiểu thiên của Toàn Nhật-Quang Đài hay Sa Di thập giới quốc âm của Như Như thì sách Phép tắc dùng hằng ngày dón gọn nầy đã tạo cho Minh Khiêm-Hoằng Ân một vị trí chẳng những là sáng danh “ông Tổ núi Sam” mà còn là cao trọng vào hàng tổ đạo Phật giáo Sài Gòn-Gia Định nữa.

 

5. Phật giáo Giác Lâm, vài nét Sinh hoạt

1744 Lý Thụy Long dựng chùa.

1772 Tổ Tông-Viên Quang trụ trì chùa Giác Lâm.

1804 Trùng tu chùa Giác Lâm.

1850 Giác Lâm mở đại hội qui tụ Cao Tăng khắp nơi cùng về tham dự nhân ngày giỗ tổ. Trong dịp nầy Tiên Giác-Hải Tịnh giám định lại việc Ứng Phú đạo tràng, một hình thức đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho tín đồ. Việc nầy đem lại kết quả khả quan có sức thuyết phục cao và được chư Tăng cho phiếu thuận áp đảo gần như tuyệt đối.

1871 Tiên Giác-Hải Tịnh họp chư Tăng các tỉnh mở Đại Giới Đàn tại chùa Tây An, núi Sam (Châu Đốc).

1872 Hòa thượng đàn đầu Đại Giới Đàn chùa Hưng Long, Định Tường (Mỹ Tho).

1875 tổ chức Đại Giới Đàn chùa Từ Ân Gia Định.

1875 tổ chức Đại Giới Đàn chùa Linh Sơn Tiên Thạch, Tây Ninh.

1850 sửa điện Quan Âm lại và đặt tên là chùa Giác Viên.       

Cho đến cuối thế kỷ 18, dòng chảy Phật giáo Huế trên đường vào Nam đã định hình dòng chảy mới trên vùng đất Đồng Nai-Gia Định, đó là dòng chảy Phật giáo Giác Lâm. Giác Lâm là tên gọi một ngôi chùa, một tổ đình. Cơ sở nầy qua chiều không gian đã mở rộng vành đai giáo hóa cũng như qua chiều thời gian trên đà phát triển đã tự khẳng định vai trò lãnh đạo truyền giáo trong khu vực: Giác Lâm cái nôi của Phật giáo Sài Gòn-Gia Định, là trường Phật học lâu đời nhất của Phật giáo 6 tỉnh Nam Kỳ, là cửa ngõ của Phật giáo Sông Chín Rồng. Chính nơi đây đã hội tụ những Sắc-Màu của nhiều dòng phái Phật giáo khác nhau như: Dòng Đạo-Bổn-Nguyên, dòng Thiệt-Tế-Đại, dòng Tào Động, dòng Dung Hợp giữa các dòng phái. Bên cạnh đó còn phải nói đến dòng Phật giáo Nam tông-Khơme và một phần Phật giáo Hoa tông v.v… Tất cả đã tạo nên một Phật giáo Giác Lâm với diện mạo mới phong phú hơn so với Phật giáo Thăng Long hay Phật giáo Huế.

 

6. Nhìn chung,

Hơn 140 năm, từ 1744 đến 1884, trước khi quân Pháp xâm lược toàn cõi Việt Nam (vào năm 1884), có một thời gian khá dài Đồng Nai-Gia Định còn là thuở thái bình (nhớ xưa hồi thái bình), đây chính là thời điểm “mưa thuận gió hòa” cho hoa giác ngộ khoe sắc trên vùng đất mới. Qua khảo sát bước đầu về năm tháng dựng chùa thuộc 6 tỉnh Nam Kỳ đã cho thấy hầu hết các chùa Nam Bộ được thành lập vào thế kỷ 18- 19. Bấy giờ dòng chảy Phật giáo Giác Lâm đã đặt pháo đài truyền giáo lớn mạnh và dày đặc khắp nơi. Khắp Nam kỳ 6 tỉnh: Biên-Gia-Định-Vĩnh-An-Hà (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Tiên) cơ sở Phật hóa được phân bổ, đan xen hầu khắp mọi nơi. 

Biên Hòa có chùa Đại Giác, Bửu Phong.

Gia Định có chùa Giác Lâm, Giác Viên, Long Huê, Trường Thọ.

Định Tường có chùa Vĩnh Tràng.

Vĩnh Long có chùa Phước Hậu.

An Giang có chùa Phú Thạnh (1840), chùa Tây An (1847), chùa Giồng Thành.

Tiên có chùa Tam Bảo.

Như vậy qua thời gian trải dài, qua không gian trải rộng, dòng chảy Phật giáo Giác Lâm đã biểu hiện những nét rực rỡ; một mặt cho thấy mô hình gầy dựng cơ sở và mặt khác là đào tạo Tăng tài. Từ Tổ Tông-Viên Quang (-1828), đến Tiên Giác-Hải Tịnh (1788-1875) đến Minh Khiêm-Hoằng Ân (1850-1914), Phật giáo Giác Lâm đã mở ra dòng chảy mới trên đường về Phương Nam.

Tiên Giác-Hải Tịnh đã trợ hóa và trụ trì chùa Tây An, núi Sam một thời gian dài. Chính nơi đây Tiên Giác-Hải Tịnh đã tiếp độ một lãnh tụ của Phật giáo bản địa là đức Phật Thầy của đạo Phật giáo Hòa Hảo để Đoàn Minh Huyên có tên Đạo (pháp danh) là Minh Huyên-Pháp Tạng thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 38. Tiên Giác-Hải Tịnh cũng thuộc hàng tổ mở đạo chùa Phú Thạnh, Châu Đốc. Trong số đệ tử lỗi lạc thuộc bậc thầy giáo thọ, người mà xuất thân từ chùa Phú Thạnh thấy có Minh Đắc-Chân Bửu.

Thành quả Dòng chảy Phật giáo Giác Lâm là pháp lý sáng ngời của Phật giáo Sài Gòn-Gia Định. Pháp lý Phật giáo Sài Gòn-Gia Định là công cuộc Hộ Quốc-An Dân của dân tộc. Một biểu hiện không công nhận pháp lý Phật giáo Giác Lâm nếu có thì đây cũng có nghĩa là đem tất cả thành quả làm nên Phật giáo Sài Gòn-Gia Định đỗ ra biển lớn; cũng có nghĩa là đem một bộ phận lớn làm nên vùng đất Sài Gòn-Gia Định mà hủy hoại đi; việc làm nầy xuất phát từ đỉnh cao bệnh hoạn của loài người. Chất liệu Phật đã nuôi sống dân tộc Việt. Chất liệu Phật-Việt là pháp lý Giáo hội trên tất cả pháp lý thành văn nào khác. Pháp lý Giáo hội là 2000 năm mở nước và dựng nước của dân tộc. Phật giáo Giác Lâm với pháp lý Giáo hội trong cái nhìn tham chiếu thì đây là bài học trên đường hội nhập và phát triển Phật giáo trong thời đại mới

Phật giáo Giác Lâm là nguồn sức mạnh dân tộc trên đường Nam Tiến, là hương sắc tô điểm cho quê hương cả về không gian thời gian. Công hạnh tổ đạo Phật giáo Sài Gòn-Gia Định là chất liệu An Cư-Lạc Nghiệp cho con người Sài Gòn-Gia Định, bài học lịch sử  đã viết nên những trang sử vàng như thế và không thể nói khác đi được.

Dòng chảy Phật giáo Giác Lâm một thời hưng thịnh, một vài mãnh vụn chứng tích dạo chơi trên biển giác của tổ đạo xưa còn lại qua tháp tổ, qua bia ký, qua bản gỗ kinh văn, qua Minh văn trên chuông lớn, qua liễng đối, nhất là qua loại hình giai thoại, v.v… với chừng ấy thông tin từ Phật giáo Giác Lâm kết hợp với tấm lòng “phù trì giới pháp” của nhà chuyên môn thì qua đó chúng ta có thể vẽ lại chân dung “dép cỏ lối về” hay “chân hình tổ đạo” của Phật giáo Giác Lâm cho người học sau chiêm ngưỡng.

 

Tìm hiểu về tục kỵ húy của người Việt

 Huyền Châu

Ngôn ngữ là vỏ âm chứa đựng nội dung thông tin, văn hóa và kinh nghiệm của một dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác nên nó mang tính xã hội và là nhân tố quan trọng phản ánh một nền văn hóa, phong tục tập quán, tư duy triết lý, lối sống, tín ngưỡng… của một dân tộc. Nói cách khác, ngôn ngữ ảnh hưởng đến tư duy, cách nhìn nhận thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng người cùng nói một thứ tiếng hay có cùng gốc ngôn ngữ. Cho nên, mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng một phần được thể hiện qua ngôn ngữ của họ. Bởi vậy, chúng ta có thể đi đến kết luận rằng hai phạm trù ngôn ngữ và văn hóa của một dân tộc luôn có mối tương quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau.

Trong hệ thống tương quan ấy, chúng ta chiết trung ra một nét văn hóa đặc thù đó là “tục kỵ húy” để mổ xẻ và phân tích.

Cổ nhân có câu: “nhập môn vấn húy”, đó chính là phép xã giao đầu tiên. Người xưa trước khi đến thăm một gia đình thì thường tìm hiểu tên húy của người lớn trong gia đình đó để tránh tên húy gia tiên người ta trong khi nói chuyện hoặc xướng họa thơ từ. Đã gọi là “húy” đồng nghĩa với “kỵ”, tức là kiêng kỵ. Ngày giỗ còn gọi là húy nhật hay kỵ nhật. Tên húy là tên chính nhưng lại là tên kiêng nói đến, nếu phạm phải điều này thì cũng có nghĩa là xúc phạm. Tuy nhiên, người lớn có thể gọi con cháu bằng tên húy. Ngoài ra, trong ngôn ngữ thông thường có sự trùng âm nên phải nói tránh đi, nếu không sẽ bị xem là vô phép.

Ngày nay, phong tục này không còn ảnh hưởng nhiều trong thế hệ trẻ. Song ở các vùng nông thôn thì tục này vẫn còn ảnh hưởng, nhất là người lớn tuổi và thông thường họ vẫn hay gọi nhau bằng tên con trưởng hoặc tên cháu đích tôn.

Đứng trên quan niệm nền văn hóa cổ thì Việt Nam là cư dân nông nghiệp lúa nước, nền kinh tế gần như phụ thuộc vào sự ưu đãi của thiên nhiên. Mỗi khi gieo trồng, người ta thường trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm… để mong gặt được chút gì no ấm. Nhưng sự trông đợi ấy lắm khi “ông giời” cũng không thấu hiểu nên đã để thiên tai giáng xuống làm họ phải chịu nhiều mất mát. Mặt khác, đặc tính mưu cầu hạnh phúc trong quá trình sinh tồn là bản chất vốn có của con người. Do vậy, cùng với bản chất tôn giáo tín ngưỡng và ý thức tôn thờ đa thần giáo cùng với tâm lý sợ hãi ma quỷ đã phát khởi trong tư duy làm tiền đề cho tâm lý cầu thần linh ban phúc, né trách sự dòm ngó của ma quỷ đã sinh ra tâm thức kỵ húy trong con người cũng là điều dễ hiểu thôi. Như thế, phải chăng tục kỵ húy cũng là nét văn hóa được sinh ra từ những ý niệm này. Vì sao? Vì tục kỵ húy tức là tục kiêng gọi tên người bởi họ quan niệm cái tên đi kèm sẽ luôn gắn chặt với con người. Nói cách khác, cái tên là một bộ phận đại diện cho con người, đại diện cho tiểu ngã phân biệt với mọi sự vật hiện tượng khác. Đụng đến cái tên, cũng có nghĩa là đụng đến con người đó. Vào thời nguyên thủy con người đã đồng nhất tên gọi với người đó, cho nên nếu biết tên của một người thì có thể chi phối, chế ngự được họ và tất nhiên cũng có thể giúp cho họ tốt hơn hay hại họ đến chết.

Đứng trên quan niệm lịch sử, chúng ta thấy từ rất xưa tục kỵ húy đã có ảnh hưởng nhất định đến đời sống con người, nhưng người viết không có tư liệu chính xác để nói về niên đại khởi nguyên của nó nên chỉ dẫn ra đây vài tư liệu lịch sử cận đại để minh chứng tục này.

“Sau khi Lê Nghi Dân bị các tướng lãnh đảo chánh và lật đổ năm 1460, Lê Thánh Tông (trị vì 1460 -1497) được sử sách đánh giá là một minh quân, nhưng lại đi vào vết xe của nhà Trần. Vừa cầm quyền được hai tháng, Lê Thánh Tông hạ chiếu ra lệnh đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ húy của Cung Từ hoàng thái hậu. Bà này tên húy là Phạm Ngọc Trần, người làng Quần Lai, huyện Lội Dương (Thanh Hóa), vợ của Lê Thái Tổ, mẹ của Lê Thái Tông, tức bà nội của Lê Thánh Tông. Nhà vua cho rằng bà nội của mình tên Trần nên yết thị cho dân chúng khắp nước, nơi nào có họ “Trần” đều phải đổi chép thành chữ “Trình.”[1]

Theo sử liệu này thì tại sao Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và cho đến Lê Nhân Tông không kỵ húy bà Cung Từ mà vua Lê Thánh Tông lại kỵ húy? Phải chăng sau một loạt những biến động triều chính từ khi Lê Thái Tông chết (1442), và Lê Nhân Tông bị Lê Nghi Dân lật đổ (1459) thì vua Lê Thánh Tông đã dùng cách kỵ húy như Trần Thủ Độ trước đây, để tách ảnh hưởng của họ Trần trong ý thức tôn thờ minh chủ còn tồn lại trong con cháu họ Trần, đang nuôi dưỡng mộng phục hồi triều đại cũ. Như vậy, trên phương diện chính trị xã hội thì tục kỵ húy như là một phương pháp làm tăng lên sự tôn kính và tiêu diệt ý thức phản loạn.

Đến đời vua Minh Mạng (năm 1832) thì tục này được đẩy mạnh nên có ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt ngôn ngữ toàn dân. Tên của vị quan nào kém phẩm trật hơn hay trùng tên sẽ phải đổi tên; nếu không đổi thì cũng phải bớt đi tên đệm, hoặc bớt nét chữ, hoặc đổi ra tên đồng âm khác chữ, khác nghĩa. Ở cấp làng xã, gia tộc cũng phải kiêng gọi tên những Thành hoàng làng, chức sắc, khoa bảng. Nhưng tục này không được tuân thủ thống nhất mà “Có thể nói, chữ kiêng húy là một thứ “vân tay” của niên đại văn bản Hán Nôm, một thứ chìa khóa để giải mã và nhận dạng loại văn bản này. Mỗi một triều đại phong kiến lại có một lệ kiêng húy chữ nhất định. Theo đó, có những chữ hoàn toàn không được dùng, một số chữ khác tuy vẫn được nhưng phải viết chệch sang chữ khác hoặc viết khác với hình dạng chữ nguyên.”

Còn trong văn bản Thiên Tải Nhàn Đàm, có chữ “Lan” bị kiêng nhiều nhất. Bởi đó là tên húy của Huy gia Từ phi Nguyễn Thị Lan, tức mẹ cả của vua Gia Long. Ở trang 9 ta thấy chữ “lan” đáng lẽ phải có bộ thảo ở trên, nhưng ở đây không có bộ thảo mà lại đổi thành bộ mộc ở phía trước. Các chữ “lan” khác trong bài, không chữ nào được viết đúng như chữ nguyên mà thường viết chệch đi bằng cách không viết nét chấm phía trên, bên trái, mà viết liền vai...

Có một điều rất lạ là chúng ta thấy ý thức kiêng gọi tên người để tránh rước họa vào thân do khế ước xã hội mang lại hoặc bị loài ma quỷ, những người có bùa phép khống chế hãm hại, nhưng với người chết thì lại được con cháu khấn thưa rõ ràng. Như thế thì việc xưng tên ở đây lại mang ý nghĩa giúp cho tổ tiên nhận ra con cháu để gia hộ cho được bình an.

Tìm hiểu về tục bốc bùa của người Dao ở Việt Nam, chúng ta thấy tục này cho rằng muốn trở thành một người có pháp thuật cao, thành thạo việc cúng, khấn vái và người đó phải có khả năng ngồi liên tục 24 giờ trở lên thì biết nói chuyện với thế giới ma quỷ. Người có khả năng ngồi khấn liên tục trong 72 giờ thì đó là thầy pháp biết kêu mưa, gọi gió. Nếu thầy pháp có thể ngồi liên tục trong 168 tiếng thì vị ấy có thể bắt người sống hoặc chết theo ý họ. Do đó, tục kỵ húy ở đây được người dân giữ gìn rất chu đáo.

Ngoài ra, còn có nhiều phong tục của các bộ lạc mà khi ra trận người ta tuyệt đối giữ bí mật tên gọi. Nhiều bộ tộc ở Ấn Độ, chỉ có những người đứng đầu làng có quyền đặt tên tộc cho một đứa bé và giữ bí mật tên đó. Từ việc giữ bí mật tên gọi như thế nên mới xuất hiện các trường hợp phải đọc chệch âm tên thật đi và có người còn có hai tên: tên giao tiếp và tên tục. Có trường hợp phải đọc chệch âm như bộ lạc Xelebes tuân thủ nghiêm ngặt việc gọi tên bố vợ, nếu tên bố vợ là Kalala. Vì Kawalo cũng có thể hiểu là con ngựa cái, cho nên người ta không gọi con ngựa cái mà gọi là “con vật để phi” (Sasa Kajan).

Tục kỵ húy có ảnh hưởng mạnh đến danh xưng trong Phật giáo. Danh xưng quí Ngài thường dùng theo địa danh cư trú hoặc dùng lối nêu lên chữ trên và dưới (thượng mỗ hạ mỗ). Ví dụ: Thầy tôi tên Thượng Tâm Hạ Nguyên (thầy Tâm Nguyên), ở chùa Liên Trì (thầy Liên Trì) tại núi Phiếu Nhiễu (ngài Phiếu Nhiễu)… Ngoài ra danh xưng còn tùy vào chức năng sử dụng nên mới có pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, bút danh… Đây là đặc điểm mà các nhà sử học gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc tra cứu, vì một người mà có đến gần chục danh xưng.

Tuy tục kỵ húy có nhiều quan niệm, nhưng chung quy thì chỉ có hai quan niệm chính: một là tránh hậu quả xấu do thế lực vô hình nào đó làm hại nên phải đặt tên “cúng cơm” hay một cái tên nào xấu đi để ma quỷ chê và không bắt đi; hai là vì lòng tôn kính hay để tránh phạm vào những tập quán lâu đời nên phải làm cho chệch âm đi.

Nói chung, tục kỵ húy là một nét văn hóa phổ quát trong phong tục tập quán của dân tộc Việt và của nhiều tộc người trên thế giới. Nó có ý nghĩa rất lớn trong sinh hoạt ngôn ngữ, tư duy,… Nó ghi dấu lên tâm thức của những tộc người và đặc biệt qua đó, chúng ta có thể nhận thấy những giá trị văn hóa riêng của từng dân tộc. Như thế, tập tục kỵ húy có thể nói là một nét văn hóa đặc thù, không những xuất hiện trong kho tàng văn hóa dân gian, trong ý thức tôn giáo, trong cách ứng xử hằng ngày mà ngay cả trong lịch sử chữ viết nữa.

 

Chú thích:

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Việt sử thông giám cương mục, gọi tắt là Cương mục, bản dịch của Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1957, tr 1013.

[2] Thiên tải nhàn đàm của Đàm Nghĩa An qua lời xác nhận của PGS.TS Ngô Đức Thọ.

 

 

---o0o---

Nguồn: Phatviet.net

Trình bày: N.Tường

Cập nhật: 1-9-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au