Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.16

Số 3 - Phật Lịch 2549

 

Mục Lục 

 

Đạo lý Nhân quả. Thích Quảng Trí

Chiếc áo cà-sa. Thích Đồng Trí

Trạng thái nhập thai, trụ thai và xuất thai của bậc Thánh (tt). Nguyên Liên

So sánh về cuộc đời và tính cách của hai bậc Vĩ nhân: Đức Đạt-lai-lạt-ma và Albert Einstein. Biển Xanh

Dòng Thiền học Trúc Lâm - giai đoạn sau đời Trần 1400+. Tâm Phương

Kiến trúc Phật giáo qua các thời kỳ (tt). Trần Lan Chi         

Hiện tại an lành. Chân Hữu

Ẩn sĩ lừa dối . Quang Sơn

Dòng sông không tên. Phước Tâm

Ngày ấy bây giờ. Huỳnh Sa

Tám cái biết. Tâm Minh

Bangkok, Thailand: Tìm thấy ngôi cổ tự nằm dưới mặt đất gần tu viện Samphantawong. Mai Vàng

Tây Tạng: Những chìa khóa mở cửa ngõ giải thích tham thiền trau dồi tâm linh như thế nào.. Thúc Đạt 

Thơ: Huỳnh Khải Thiên,  Ngàn Thương, Liên Thao, Thích Đức Thắng, Ninh Giang Thu Cúc, Vĩnh Thi, Mặc Không Tử.

 

 ---o0o--- 

Không gì ích lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay.

Albert Einstein

 

Đức Thế tôn dạy các Tỳ-kheo:

“Có ba người, xứng đáng được người đời cúng dường. Ba người ấy là ai? Như lai Chí chơn Đẳng chánh giác, xứng đáng được người đời cúng dường. Đệ tử của đức Như lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người đời cúng dường. Chuyển Luân Thánh Vương, xứng đáng được người đời cúng dường.

“Có nhân duyên gì mà Như lai xứng đáng được người đời cúng dường? Như lai điều phục những ai chưa được điều phục, hàng phục những ai chưa được hàng phục, độ những ai chưa được độ, giải thoát những ai chưa được giải thoát, khiến thành Niết-bàn những ai chưa bát-niết-bàn, cứu hộ những ai chưa được cứu hộ, làm con mắt cho những ai mù mắt. Như lai là tối tôn đệ nhất, là ruộng phước tối tôn, đáng kính, đáng quý giữa Ma, hoặc Ma thiên, trời và người, làm đạo sư hướng dẫn loài người biết con đường chánh, thuyết đạo giáo cho những ai chưa biết đạo. Do nhân duyên này, Như lai là xứng đáng được người đời cúng dường.

“Có nhân duyên gì mà đệ tử của Như lai, A-la-hán lậu tận, xứng đáng được người đời cúng dường? Tỳ-kheo nên biết, A-la-hán lậu tận đã vượt qua được dòng sanh tử, không còn tái sinh, đã đắc pháp vô thượng; dâm, nộ, si vĩnh viễn diệt tận không còn, là ruộng phước của đời. Do nhân duyên này, A-la-hán lậu tận xứng đáng được người đời cúng dường.

“Lại nữa, do nhân duyên gì mà Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được người đời cúng dường? Các Tỳ-kheo nên biết, Chuyển Luân Thánh Vương dùng pháp để trị hóa, trọn không sát sanh, lại dạy dỗ người khiến không sát sanh; tự mình không trộm cắp và cũng dạy người khác không trộm cắp; tự mình không dâm dật và dạy người khác không dâm dật; tự mình không nói vọng ngữ và dạy người khác không vọng ngữ; tự mình không nói hai lưỡi đấu loạn kia-đây, lại cũng dạy người khác khiến không nói hai lưỡi; tự mình không ganh ghét, sân, si, lại dạy người khác cũng không tập pháp này; tự hành theo chánh kiến và dạy người khác không hành theo tà kiến. Do nhân duyên này, Chuyển Luân Thánh Vương xứng đáng được người đời cúng dường.”
 


 

ĐẠO LÝ  NHÂN QUẢ  ^

 

Hêraclite, một triết gia Hy Lạp cổ đại đã bảo rằng: “Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông”. Điều này nói lên rằng, tất cả các sự vật, hiện tượng từ vật chất đến tinh thần trong kiếp sống nhân sinh, vũ trụ này luôn vận hành không ngừng. Sự vận hành ấy không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên, cũng không phải do một đấng siêu nhiên nào làm chủ guồng máy. Sự vận động ấy được diễn ra theo một định luật, một nguyên lý hoàn toàn khách quan và công bằng, đó là định luật nhân quả. Vậy, nhân quả là gì?

Theo quan điểm của đạo Phật, nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau, tương quan mật thiết với nhau, nương vào nhau mà có. Nếu không có nhân thì không có quả, không có quả thì cũng không có nhân. Để tạo được kết quả thì thường do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ, nguyên nhân chính gọi là nhân còn nguyên nhân phụ gọi là duyên. Vì thế, nhân quả nói một cách đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả.

Như vậy, nhân quả là một định luật khách quan chi phối đến tất cả các lĩnh vực trong hiện tượng giới.

1. Các đặc tính của nhân quả

Theo đạo Phật, định luật Nhân Quả có những đặc tính sau:

Nhân quả có cùng chủng loại: Nhân và quả thường có chung một chủng loại, không có sự lẫn lộn chủng loại với nhau. Hay nói cách khác, nhân nào thì sinh ra quả nấy. Con gà thì chỉ sinh ra trứng gà chứ nó không thể sinh ra trứng vịt được, cây cam thì sinh ra quả cam chứ không thể sinh ra quả mít hay quả đu đủ được,... Nhân với quả bao giờ cũng có chung một chủng loại với nhau, nhân thay đổi thì quả cũng thay đổi.

Một nhân không thể sinh ra quả: Tất cả các sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều yếu tố mà thành. Vì thế, một nhân không thể sinh ra quả, hay một quả không chỉ có một nhân tạo nên. Để có thể tạo nên kết quả thì cần phải có nhiều nguyên nhân tham gia, trong đó có nguyên nhân chính gọi là Nhân và các nguyên nhân phụ gọi là Duyên. Cho nên, luật nhân quả nói một cách đầy đủ là Nhân - Duyên - Quả. Nói rằng, hạt lúa sinh ra cây lúa, đây là cách nói giản đơn. Thực ra, hạt lúa chỉ là nguyên nhân chính để sinh ra cây lúa. Nếu hạt lúa ấy không được ủ, không được đem gieo trên đất ẩm, không có nước, không được sự chăm sóc của con người, không có ánh nắng mặt trời,... thì hạt lúa ấy khó có thể phát triển thành cây lúa. Các yếu tố đất, nước, nhiệt độ, độ ẩm, sự chăm sóc của con người,... là các duyên cần thiết để hạt lúa phát triển thành cây lúa.

Bởi vì giữa nhân và quả còn có các duyên tham gia, nên quả tuy cùng loại với nhân nhưng vẫn khác với nhân, tùy thuộc vào sự can thiệp mạnh hay yếu, thuận hay nghịch của các duyên đối với nhân mà quả có thể hình thành sớm hay muộn, hoặc có thể là không thể nào kết thành quả. Khi quả đã kết thành rồi thì việc đón nhận nó là tùy thuộc vào điều kiện tâm lý của người đón nhận. Có thể cùng một kết quả nhưng ở mỗi người thì có mỗi sự cảm nhận khác nhau, chẳng hạn: cùng bị giam trong tù nhưng người A thì cảm thấy vô cùng túng quẩn, nhưng với người B, tuy có hơi không được tự do, anh ta vẫn cảm thấy không đến nỗi quá tuyệt vọng vì đấy là cơ hội tốt để anh ta có thể suy ngẫm về cuộc sống của mình, là điều kiện để anh ta có thể tiếp xúc những con người không bình thường trong xã hội để có thể hiểu hơn về họ, cảm thông và chia sẻ với họ,... cũng như một nắm muối, nếu bỏ vào trong một chậu nước thì độ mặn của nước đó sẽ cao hơn khi ta bỏ nắm muối vào trong một hồ nước.

Trong nhân có quả và trong quả có nhân: Nói đến nhân quả là nói đến sự tương quan, sự tương quan này là mối tương quan vòng tròn (hay xoắn ốc), có nghĩa là trong nhân có quả và trong quả có nhân. Chính trong nhân hiện tại đã hàm chứa quả vị lai, và chính trong quả hiện tại đã ẩn chứa hình dáng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là nhân, là khi nó chưa biến thành cái quả mà ta quan niệm; một sự vật mà ta gọi là quả khi nó đã biến thành trạng thái mà ta quan niệm. Một vật đều có nhân và quả: đối với quá khứ thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả đắp đổi cho nhau, tiếp nối nhau không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy mà trong một hoàn cảnh nhất định, người ta có thể đoán biết được tương lai của một sự vật hay của một người. Cũng chính điều này mà con người ta có thể hoạch định kế hoạch cho tương lai của mình, chuẩn bị trước những gì cần thiết cho ngày mai.

2. Phân loại nhân quả

Tùy thuộc vào các tiêu chí để phân loại mà có thể phân nhân quả thành nhiều loại khác nhau. Có hai cách phân loại nhân quả phổ biến như sau:

a. Cách phân loại thứ nhất: Căn cứ vào thời gian, người ta đã phân nhân quả thành các loại là:

- Nhân quả đồng thời: Là loại nhân quả mà từ nhân đi đến quả rất nhanh. Ví dụ: ăn thì liền no, uống nước thì hết khát, nóng giận thì liền sinh buồn phiền,...

- Nhân quả khác thời: Là loại nhân quả mà từ nhân đi đến quả có một khoảng thời gian nhất định. Và khoảng thời gian đó được chia thành ba loại như sau:

+ Hiện báo: Có nghĩa là từ nguyên nhân tạo ra trong đời này thì đưa đến kết quả ngay trong đời này. Ví dụ: Tuổi nhỏ chăm lo học tập, rèn luyện nhân cách nên khi lớn được thành đạt.

+ Sinh báo: Nghĩa là tạo nhân trong đời này nhưng đến đời sau mới nhận quả báo. Như trong kinh đức Phật thường dạy, đời này bỏn xẻn thì đời sau gặp cảnh nghèo khó, đời này hay mắng nhiếc người khác thì đời sau sẽ bị người khác làm nhục,...

+ Hậu báo: Nghĩa là tạo nhân trong đời này nhưng đến nhiều đời sau mới nhận quả báo.

Quan niệm ba đời nhân quả này giúp chúng ta có thể hiểu được phần nào sự sai biệt giữa người này và người khác trong xã hội. Tại sao có người sinh ra thì được sống trong giàu sang, phú quý nhưng cũng có người vừa sinh ra thì phải chịu cảnh nghèo cùng, khốn khổ? Tại sao có người làm lành mà lại bất hạnh, có người làm ác mà lại được may mắn?

Tuy nhiên cách phân loại trên đây vẫn chưa đủ khả năng để gói gọn mọi trường hợp nhân quả. Có trường hợp do yếu tố tâm lý và vật lý tác động mạnh vào quá trình biểu hiện của kết quả nên khiến kết quả không hình thành hoặc hình thành nhưng dưới một tính chất khác xa so với nguyên nhân tạo ra nó. Cho nên mới có cách phân loại thứ hai.

­b. Cách phân loại thứ hai: Cách phân loại thứ hai này nói lên sự biểu hiện của kết quả thông qua thái độ tiếp nhận nó, và sự biểu hiện của kết quả ở hai lĩnh vực: thế giới sinh, vật lý và cảnh giới tâm lý. Nhân quả biểu hiện ở mặt sinh, vật lý gọi là nhân quả ngoại giới, nhân quả biểu hiện ở mặt tâm lý gọi là nhân quả nội tâm.

Trong đời sống thực tế chúng ta thường nghe nói: “Nhà giàu đứt tay, ăn mày đổ ruột”. Đối với cái đứt tay nhè nhẹ của người giàu sang, họ cảm thấy đau đớn vô cùng, và sự đau đớn do đứt tay của người giàu ví bằng sự đau đớn khi kẻ ăn mày bị đổ ruột, còn với người ăn mày, đứt tay chẳng là gì cả. Như vậy là, cùng một kết quả như nhau nhưng do có thái độ tâm lý khác nhau nên sự cảm nhận về kết quả đó cũng không giống nhau.

3. Sự vận hành của nhân quả trong thực tế

Như các phần trên đã nói, nhân quả chi phối tất cả các hiện tượng giới trong vũ trụ, không có một sự vật, hiện tượng nào từ thực vật đến động vật, vật chất hay tinh thần nào mà có thể thoát ra ngoài sự vận hành của luật nhân quả.

Nhân quả biểu hiện cả trong những vật vô tri vô giác, nước bị lửa đốt thì nóng, bị lạnh thì đóng băng,... Trong các loài thực vật, luật nhân quả cũng tác động đến, giống ngọt thì sinh ra quả ngọt, giống chua thì sinh ra quả có vị chua, giống đắng thì sinh ra quả có vị đắng,... giống nào thì sinh ra quả ấy. Cho đến các loài động vật cũng chịu sự chi phối của luật nhân quả, loài chim sinh ra trứng, nếu ta gọi trứng là nhân thì khi trứng nở ra thành con non, con non đó là quả của trứng, đến khi con chim non ấy trưởng thành và nó là nhân để sinh ra quả trứng,...

Luật nhân quả chi phối đến cả con người. Ở đây chia làm hai phương diện vật chất và tinh thần để phân tích.

a. Nhân quả trong phương diện vật chất: Hình hài của người con là do bẩm thụ khí

huyết của cha mẹ, do hoàn cảnh nuôi dưỡng, giáo dục. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân, người con trưởng thành là quả, và cứ tiếp nối như vậy mãi, nhân sanh quả, quả trở lại làm nhân rồi sinh ra quả khác không bao giờ dứt.

b. Nhân quả trong phương diện tinh thần: Những tư tưởng và hành vi của bản thân đã tạo trong quá khứ sẽ tác động đến một mức độ nhất định đến nếp sống tinh thần trong hiện tại. Tính tình và nếp sống ngày nay làm nhân để tạo ra những tư tưởng và hành động trong tương lai.

Phương diện tinh thần hay phương diện nội tâm này là một vấn đề quan trọng và cũng từ vấn đề này thường nảy sinh những hoài nghi, thắc mắc cho nhiều người.

- Trước hết chúng ta phân tích nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt: Những hành vi và tư tưởng không tốt, không lành mạnh thường đem đến những kết quả không tốt cho người tạo ra nó.

Tham lam: Thấy tiền bạc của người khác mà sanh lòng tham lam, muốn chiếm đoạt làm của riêng mình, dẫn đến hành vi trộm cắp hoặc giết người cướp của là nhân; bị chủ đánh đập hoặc chém giết, phải mang tật bệnh, hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giam, bị tra tấn đau khổ là quả.

Sân hận: Người quá nóng giận hay đánh đập vợ con, phá hại nhà cửa, chém giết người khác không ghê tay là nhân; khi hết giận, đau đớn khi nhìn thấy vợ con tàn tật, bệnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, bị pháp luật trừng trị, phải chịu nhiều điều khổ cực là quả.

Si mê: Người mê đắm trong sắc dục không biết chán chường, không biết dừng lại, không biết kiềm chế bản thân, bất chấp cả luân thường đạo lý là nhân; làm cho thân thể suy nhược, bệnh tật liên miên, vợ chồng bất hòa, con cái bơ vơ không nơi nương tựa, bà con thân thích ghét bỏ, xóm làng chê cười,... là những khổ quả mà họ phải gánh chịu.

Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh chê người khác, chà đạp nhân phẩm của mọi người, tỏ thái độ hách dịch là nhân; bị người xa lánh, ghét bỏ, sống một cuộc sống cô độc, lẻ loi là quả.

Dối trá: Người hay dối trá, lừa gạt người khác thì kết quả là không được mọi người tin tưởng, nói ra điều gì cũng không được sự tán thành của người khác, mọi người luôn đề cao cảnh giác đối với họ và xa lánh họ.

Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người khác muốn hốt về cho mình, đắm đuối quanh năm suốt tháng theo các trò may rủi, theo cờ bạc là nhân; đến lúc của hết, nhà tan, nợ nần vây kéo, con cái hư hỏng, thiếu trước hụt sau là quả.

Nghiện rượu trà, các chất kích thích: Chung nhau tiền bạc, ăn nhậu cho thỏa thích, hoặc mua vui, tìm nguồn cảm hứng trong các chất kích thích như: thuốc phiện, ma túy, hồng phiến,... để đến nỗi sa vào nghiện ngập là nhân; kết quả của những việc làm ấy là tan gia bại sản, ẩu đả chém giết lẫn nhau, làm các việc mất hết nhân tính, thân thể suy nhược trầm trọng, lâm vào vòng tù tội.

- Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt

Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng và hành vi không tốt đem đến cho con người những kết quả đen tối, nhục nhã, xấu xa. Ngược lại, những tư tưởng và hành vi tốt đẹp sẽ tạo ra cho con người những kết quả xán lạn, vinh quang và an vui, hạnh phúc.

Người không có tính tham lam, bỏn xẻn thì tất sẽ không bị tiền của trói buộc, luôn được thảnh thơi. Người ít nóng giận, tất sẽ được sống trong cảnh thuận hòa, gia đình êm ấm. Người không mê đắm theo sắc dục thì sẽ được mọi người kính nể, vợ con quí chuộng, thân thể khỏe mạnh,... Người không nghiện ngập, không say mê cờ bạc thì gia đình được hạnh phúc, không đến nỗi phải túng thiếu, không trở thành người bất nhân, bất nghĩa.

Hằng ngày, chung quanh chúng ta những cảnh tượng nhân và quả ấy diễn ra không phải là ít. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cuộc sống đời thường, đâu đâu cũng nhan nhản những biểu hiện về kết quả của những nhân bất thiện. Thế nhưng, tình trạng ấy không có sự giảm sút, ngược lại, chúng đang có chiều hướng ngày càng gia tăng và phức tạp hơn. Họ cứ nghĩ rằng, họ luồn lách khỏi sự kiểm soát của pháp luật, che được mắt người khác là coi như không có gì xảy ra. Họ không biết rằng, luật nhân quả không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào cả dù cho người đó là ai. Dân gian ta cũng thường nói: “Lưới trời lồng lộng tuy thưa mà chẳng lọt”. Những gì họ đã gây ra thì sẽ có một ngày họ sẽ phải gánh chịu tất cả. Và ngay trong hiện tại, tòa án lương tâm cũng đang hành phạt họ mỗi khi họ làm những điều bất chính.

4. Nghiệp

Trong vấn đề nhân quả của con người, có một vấn đề khác được đặt ra, đó là nghiệp, đây là nói về tính chất thiện ác trong nhân quả. Trong lĩnh vực này thì luật nhân quả được gọi là nghiệp báo (nghiệp nhân và quả báo). Vậy, nghiệp là gì? Nghiệp là sức mạnh do những hành động, lời nói mà cá nhân tạo ra khi có sự tham gia của ý thức. Những hành động, lời nói mà không có sự tham gia của ý thức thì không gọi là nghiệp. Sức mạnh ấy khi đã được tạo ra rồi thì nó trở thành động lực tác động trở lại chủ nhân của nó, cho nên thường gọi là nghiệp lực. Ý thức đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó quyết định tính chất của nghiệp. Trong kinh Pháp cú, đức Phật có dạy: “Chư pháp ý tiên đạo, ý chủ, ý tạo tác, nhược dĩ nhiễm ô ý, hoặc ngôn hoặc hành nghiệp, thị tắc khổ tùy bỉ, như luân tùy thú túc” (Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo tác. Nếu nói năng và hành động với ý nhiễm ô thì sự khổ não sẽ theo ta như bánh xe lăn theo chân con vật kéo). Và “Chư pháp ý tiên đạo, ý chủ, ý tạo tác, nhược dĩ thanh tịnh ý, hoặc ngữ hoặc hành nghiệp, thị tắc lạc tùy bỉ, như ảnh bất ly hình.” (Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ, ý tạo tác. Nếu nói năng và hành động với ý thanh tịnh thì sự an lạc sẽ theo ta như bóng không rời hình). Chính vì ý quyết định tính chất của nghiệp, nên nhiều khi cùng một hành động như nhau nhưng kết quả lại khác nhau vì ở mỗi người có sự phát khởi ý nghĩ không giống nhau. Chẳng hạn, cùng đem tài vật cho người khác, nhưng một người thì đem cho với lòng mưu cầu danh lợi, còn một người thì đem cho với lòng thương tưởng đến nỗi khổ của người được cho, muốn cho họ bớt khổ đau, chính vì thế nên kết quả đến với hai người không giống nhau.

Nghiệp do ta tạo ra, ta là chủ nhân của nghiệp và chính ta phải lãnh phần trách nhiệm về những nghiệp nhân mà ta đã tạo ra và nhận lấy những quả báo an vui hay đau khổ trong hiện tại. Chính ta tạo thiên đường cho ta và cũng chính ta tạo địa ngục cho ta chứ không ai khác. Con người hoàn toàn tự chủ, con người nắm quyền quyết định trong việc tạo lập cuộc sống hiện tại cũng như trong việc xây dựng tương lai của mình. Điều này thể hiện tính nhân bản của đạo Phật.

Nói như thế không có nghĩa là nghiệp đã tạo ra là hoàn toàn không thể nào thay đổi được. Như ở trước đã nói, giữa nhân và quả còn có yếu tố duyên xen vào nữa. Ở đây cũng vậy, tùy những gì chúng ta tạo ra trong hiện tại mà những nghiệp nhân trong quá khứ có thể thay đổi tính chất về quả báo của nó từ xấu trở nên tốt, nặng thành nhẹ, hoặc là tốt trở thành không tốt, hoặc là quả báo đến chậm hơn hay nhanh hơn... Nghiệp đã tạo ra

vẫn có khả năng chuyển nghiệp chứ không phải là bất di bất dịch.

Hơn nữa, nghiệp không phải tác động một cách riêng lẽ mà có sự pha lẫn giữa thiện nghiệp và ác nghiệp dẫn đến thiện quả và ác quả cũng có sự pha trộn lẫn nhau. Điều này được thể hiện rõ trong đời sống của con người, đời sống của con người không phải chỉ thuần khổ, thuần vui, hoặc thuần không khổ không vui, mà cuộc sống của con người luôn có buồn vui lẫn lộn. Và tất cả những gì đang diễn ra với con người trong hiện tại không phải là hoàn toàn do nghiệp nhân trong quá khứ mà còn do những nghiệp nhân mà con người đã tạo ra trong kiếp sống hiện tại nữa, nghiệp nhân trong quá khứ chỉ tác động ở một phạm vi nhất định mà thôi. Nghiệp là do ta tạo ra và ta vẫn có thể biến chuyển tính chất của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ bằng chính đời sống hiện tại của ta. Đây là mấu chốt của giáo lý nhân quả trong đạo Phật để con người có thể đi tìm hạnh phúc và an vui, để con người có thể tu tập, hoàn thiện bản thân mình.

Từ đó cho chúng ta thấy rằng, luật nghiệp nhân - quả báo trong đạo Phật khác xa thuyết định mệnh hay thuyết về đấng tạo hóa chứ không giống nhau như một vài người lầm tưởng. Theo thuyết định mệnh hay thuyết về đấng tạo hóa thì con người hoàn toàn thụ động, hoàn toàn không có tự do để có thể cải thiện đời sống của mình, không còn tự do để suy nghĩ hay hành động nữa, tất cả đã được định sẵn rồi, đã được an bài rồi, có cố gắng cũng chỉ vô ích mà thôi, không thể nào thay đổi được.

Hơn nữa, đạo Phật không cho rằng, tất cả đều do nơi nhân quả, nhân quả không phải là nguyên do duy nhất tạo nên sự khác biệt, chênh lệch, vận hành của hiện tượng giới. Nhân quả chỉ là một trong năm định luật tham gia vào lịch trình vận hành của hiện tượng. Năm định luật đó là:

Thứ nhất là định luật liên quan đến sự tiến triển của vật lý thuộc loại không cơ thể như hiện tượng thay đổi thời tiết, khí hậu, mưa gió,...

Thứ hai là định luật liên quan đến sự tiến triển của sinh, vật lý thuộc loại hữu cơ. Hiện tượng âm dương hòa hợp, thụ phấn, thụ thai, di truyền, sinh trưởng,... đều do qui luật này chi phối.

Thứ ba là luật nhân quả, tức là sự tiến triển từ nguyên nhân đến kết quả. Đã tạo ra nghiệp nhân và các duyên thì tất yếu là sẽ có nghiệp quả tương xứng.

Thứ tư là định luật của hiện tượng giới, như lực vạn vật hấp dẫn, lực hút của trái đất,... và những định luật khác trong vũ trụ đều thuộc vào loại này.

Thứ năm là định luật tâm lý như lịch diễn tiến của tâm thức, những yếu tố cấu tạo nên tâm thức, những năng lực của tâm như thần giao cách cảm, trực giác, thôi miên, năng lực tiên tri, và những hiện tượng tương tự mà khoa học hiện đại chưa giải thích được.

Năm định luật này chi phối sự vận hành của vật chất cũng như tinh thần.

Có người lại cho rằng, thuyết nhân quả trong đạo Phật là một loại nha phiến để xoa dịu và ru ngủ người xấu số bằng những luận điệu như sau: “Bây giờ anh phải chịu nghèo hèn vì anh đã tạo nghiệp xấu trong quá khứ, anh hãy cam tâm chịu lấy số phận của mình và cố gắng tạo nghiệp tốt để được hạnh phúc trong đời sau”. Đức Phật không hề dạy như thế. Thuyết nhân quả trong đạo Phật không bao giờ chấp nhận một cuộc phán xử sau kiếp sống, không hứa hẹn hạnh phúc hão huyền trong tương lai. Theo luật nhân quả, chúng ta không nhất định bị trói buộc trong một hoàn cảnh nào cả, chúng ta luôn có khả năng chuyển nghiệp và loại bỏ những nghiệp nhân đã tạo ra bằng chính hành động, lời nói và ý nghĩ của bản thân ngay trong đời sống hiện tại.

5. Ý nghĩa của đạo lý nhân quả

Đạo lý nhân quả là một nội dung giáo lý thuộc vào lĩnh vực luân lý, đạo đức trong hệ thống giáo lý của đạo Phật, giáo lý này có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống của cá nhân và xã hội.

Trước hết, đạo lý nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, hiện tượng không có gì là mơ hồ, bí hiểm. Nó vén lên tất cả những bức màn đen tối, phỉnh phờ của mê tín, dị đoan đang bao trùm lên cuộc sống. Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ trương vạn vật do một đấng siêu nhiên sinh ra và có quyền thưởng phạt muôn loài. Do đó, người hiểu đúng luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin của mình, không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại nơi thần quyền, không lo sợ, hoang mang, cũng không đổ lỗi, không trốn tránh.

Luật nhân quả nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân của con người, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ nhận lãnh những nghiệp quả do chính mình tạo ra, chứ không ai khác. Cũng vậy, không có trách nhiệm cá nhân thì luật pháp xã hội cũng không được thành lập, hoặc giả có được thành lập thì cũng không có cơ sở để thi hành. Xã hội không có pháp luật thì xã hội sẽ bị đại loạn! Ở lãnh vực đạo đức, con người được đánh giá là con người trưởng thành khi con người đó có trách nhiệm cao đối với tự thân và xã hội. Như vậy, giáo lý nhân quả vừa nâng cao ý thức trách nhiệm nơi mỗi người, vừa chỉ rõ con đường đau khổ để con người tránh xa, khích lệ con người biết sống thiện, tránh xa lối sống không lành mạnh, vô bổ. Chính ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đời sống tâm thức của mình làm cho con người tự nguyện lánh xa mọi điều xấu xa, chứ không phải vì sợ hình phạt, sợ chỉ trích, hoặc vì khen chê,... Con người mưu mô có thể trốn tránh hoặc qua mặt được lưới pháp luật, và đánh lừa dư luận nhưng không thể chạy trốn lương tâm và nghiệp quả được.

Đạo lý nhân quả còn đem lại cho con người lòng tin tưởng vào chính mình. Khi biết cuộc sống của mình là do chính mình tạo ra, mình là người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo thì con người trở nên tự tin ở chính mình hơn. Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng quý báu, làm cho con người dám hành động, dám hy sinh, sẵn sàng tiếp nhận tất cả và hăng hái làm điều tốt.

Đạo lý nhân quả còn làm cho con người ta không bị chán nản, không trách móc. Người hay chán nản, trách móc là người không tin tưởng vào chính mình, có thói quen ỷ lại vào người khác, luôn luôn hướng ngoại. Ngược lại, người hiểu và tin nhân quả sẽ luôn phấn đấu vươn lên, không chịu khuất phục trước nghịch cảnh.

Không những thế, đạo lý nhân quả còn giúp con người biết hoạch định tương lai cho mình, chuẩn bị những gì cần thiết cho cuộc sống ngày mai. Và khi làm việc gì con người đều nghĩ đến hậu quả của nó, do vậy mà họ không dám làm càn, không dám làm ẩu.

Đạo lý nhân quả nâng cao ý thức trách nhiệm nơi mỗi cá nhân, dạy con người biết sống thiện, sống hữu ích, tích cực vươn lên trong cuộc sống. Cho nên, nếu hiểu và tin nhân quả thì con người sẽ tự giác thực hiện pháp luật của nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh những chuẩn mực đạo đức trong xã hội, thực hiện tốt các nội quy mà tập thể đặt ra, hoàn thành tốt nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, sống một đời sống đạo đức. Nhờ vậy mà trật tự xã hội được giữ vững, các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống được giữ gìn và phát huy, đời sống của xã hội ngày được nâng cao, gia đình được hạnh phúc, ấm no.

 

 

Chiếc Áo Cà-sa ^

 

 Thích Đồng Trí

 

LTS. Thầy Đồng Trí là đệ tử của Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện, Vị Đệ Nhất Trụ Trì Tu Viện Nguyên Thiều – Bình Định, nguyên là tăng sinh khóa III của Học Viện Vạn Hạnh. Thầy đã du học Ấn độ hơn 7 năm (1997 – 2004) và đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Phật học năm 2003. Đến năm 2004 Thầy được học bổng du học tại Hòa Kỳ. Thầy đang ở tại Chùa Lục Hòa, Boston, Massachusetts. Do vì Chùa cách trường Hạ quá xa mà Phật sự nơi đây lại nhiều, nên Thầy không được dự khóa an cư hàng năm, cũng không tùng Hạ, và ngay cả Bố-tát vào nửa tháng cũng không đi được, chỉ biết “tâm niệm” mà thôi!

Mùa An cư năm nay (PL.2549), Thầy nhìn chiếc y vàng, nhớ về quê hương, về Thầy Tổ… trầm tư về nguồn gốc, cách thức may và ý nghĩa mặc chiếc y… đã cảm xúc viết lên bài Tăng sĩ và chiếc áo Cà-sa để nhắc mình phải giữ bổn phận tu học không chỉ trong mùa An cư này mà cả cuộc đời xuất gia.

Vì dòng cảm xúc tuôn tràn, nên bài viết “Tăng sĩ và chiếc áo cà-sa” khá dài, không thể đăng hết trong khuôn khổ của Tập san có giới hạn. Vì vậy, BBT chỉ xin trích phần bài viết nói về ý nghĩa của Tăng phục giới thiệu đến độc giả. Đồng thời, chúng ta hãy chia sẻ cùng tác giả đang ở trong hoàn cảnh “nhất tăng nhất tự” tại đất khách quê người.  

Nay đang mùa An Cư Kiết Hạ, mùa mà chư Tăng Ni thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức và kinh nghiệm nơi giới trường Tu Viện Nguyên Thiều và những giới trường miền Trung tôi đã thấy thì trong mùa hạ chư Tăng Ni chuyên lo hành trì miên mật, tụng kinh bái sám liên tục đến nỗi “y áo không kịp khô”. Đây cũng là mùa để cho cư sĩ Phật tử có nhiều cơ duyên thân cận học hỏi, cúng dường chư Tăng và gieo nhiều giống lành cho ruộng phước điền. Trong phẩm vật cúng dường cư sĩ dâng cúng chư Tăng trong giờ Quá Đường thường có kèm theo những xấp vải vàng để chư Tăng may y áo. Vậy Y áo Cà sa có nguồn gốc và liên hệ với đời sống tu học và hành Đạo của người Tăng sĩ như thế nào? Nhân dịp này, chúng ta hãy thử tìm hiểu Ý Nghĩa Y Phục của Tăng sĩ phật Giáo.

Cách đây hơn 2600 năm, Thái Tử Tất- đạt-đa nửa đêm lặng lẽ giã từ cha già, mẹ yếu, vợ đẹp, con xinh, kinh thành Ca-tỳ-la-vệ và thần dân trăm họ để xuất gia tầm Đạo. Sau khi vượt khỏi dòng sông Anoma rì rào sóng vỗ, Thái Tử tự cắt bỏ râu tóc và mặc y phục sa-môn. Đó là chiếc Cà-sa đầu tiên trong Phật Giáo. Bồ-tát Tất- đạt-đa trong giai đoạn xuất gia tu tập đã lượm vải bô chằm vá để tạo thành áo Cà-sa mặc che nắng che mưa:

Áo đã mặc nhiều năm rách rã

Lượm vải bố chằm, vá, khiếu, khâu

Khẽ khầm từng miếng kế đâu

Thành Y bá nạp ngõ hầu che thân.(1)

Chiếc cà-sa đó đánh dấu một sự thoát ly vĩ đại: Một Thái Tử tột bực cao sang có tất cả lại giã từ tất cả để đi tìm chơn lý. Đó là một sự thoát xác tận gốc rễ làm lay chuyển ý thức phân biệt giai cấp nặng nề của Ấn Độ - Một Thái Tử đã cởi bỏ hoàng bào của giai cấp Sát-đế-lợi khoác lên mình một mảnh Cà-sa không giai cấp. Rồi từ đó, chiếc Cà-sa ấy gắn liền với đời sống tu học của Bồ-tát trong 6 năm, chịu đựng bao nhiêu cào xước bởi gai góc của núi rừng khe lạch trên đoạn đường dài tầm thầy học Đạo, nhuốm đượm phong sương bởi thời tiết khắc nghiệt của Ấn Độ nơi đỉnh Tuyết Sơn qua bao ngày đêm miệt mài tu niệm. Chiếc cà-sa ấy đơn sơ nhưng cao quý vì nó che chở cho một hành giả quên thân vì Đạo Pháp, chứa đựng một tâm hồn cao thượng, một ý chí không thối chuyển, một trái tim trải yêu thương đến vạn loài, hun đúc cho Trí Tuệ rạng ngời. Rồi một đêm, đêm thứ 49 dưới gốc cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng, chiếc Cà-sa ấy đã trở thành huỳnh y rạng rỡ chói sáng bởi Ánh Đạo Vàng giác ngộ vừa phát minh, lung linh ngàn sắc hoa tươi thắm do chư Thiên cúng dường, Cà-sa thay sắc màu và Bồ-tát Tất-đạt-đa lên ngôi: Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thành Phật Thích Ca Mâu Ni.

Theo Luật Tứ Phần, sau khi Ðức Phật chuyển Pháp luân tại Lộc Uyển (Isipatana – Sarnath), độ năm anh em ông Kiều Trần Như trở thành năm vị đệ tử Tỳ-kheo đầu tiên. Bấy giờ năm Tỳ-kheo đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật: “Chúng con nên thọ trì loại y nào?” Đức Phật dạy: “Nên thọ trì y phấn tảo và mười loại y như: câu-xá, kiếp-bối, khâm-bạt-la, sô-ma, xoa-ma, xá-nâu, ma, sí-di-la, câu-nhiếp-la, thẩn-la-bát. Mười loại y như trên nhuộm thành màu sắc Ca-sa để thọ trì.”(2)

Phấn tảo y (Pamsukùla) là y được chấp nối bằng những mảnh giẻ rách chủ yếu là do lượm được từ các đống rác, đống phân (midden) hoặc bãi tha ma, là loại “y thuộc một trong những loại sau: vải lấy từ nghĩa địa, từ cửa hàng, từ đường cái, từ hố phân, từ giường trẻ, vải tẩy uế, vải từ chỗ tắm, vải đi về nghĩa địa, vải bị cháy, bị gia súc ăn, bị kiến ăn, bị chuột ăn, vải rách ở biên, rách ở đầu, vải làm cờ, vải bỏ từ điện thờ, y của nhà khổ hạnh, vải từ cuộc lễ, vải do thần thông biến hoá, vải trên xa lộ, vải gió bay, vải do thiên thần bố thí, vải trôi giữa biển, lấy một trong những thứ vải này vị ấy nên xé bỏ những mảnh rách nát, giặt sạch những mảnh lành lặn để làm thành một cái y.”(3)

Nhuộm y thành màu Ca-sa là như thế nào? Cà-sa (kàsàya) là những loại vải đã không còn giữ được màu sắc chính, đã được nhuộm bằng nước do các vỏ cây giã ra, đặc biệt là từ gỗ và vỏ cây mít băm vụn và đun trong nồi. Những tấm vải này có màu vàng nâu nên được gọi là hạt sắc y hay hoại sắc y.

Câu chuyện về những kỳ tích của vị danh y Kỳ-bà (Jivaka), ngự y của vua Bình Sa Vương (Bimbisara) và sau này là bác sĩ riêng để chăm sóc đức Thế Tôn, đã cho chúng ta biết ai là người đầu tiên cúng dường Y đến Thế Tôn và Ngài bắt đầu cho phép Tỳ-kheo nhận vải và Y cúng dường từ lúc nào:

Khi vua Ba-la-thù-đề (Pajjota) của xứ Úy-thiền (Ujjeni) được danh y Kỳ-bà chữa khỏi một cơn bệnh ngặt nghèo, vua đền ơn vị danh y này với một tặng phẩm là một chiếc y vô cùng quý giá, trị giá bằng phân nửa nước Úy Thiền.

“Một hôm, Kỳ-bà Đồng tử mang chiếc y quý giá đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ sát chân, rồi đứng lui qua một bên, bạch đức Thế Tôn:

“Con trị bệnh cho Quốc vương, trị bệnh cho Đại thần, hoặc được một quốc độ, hoặc được một tụ lạc. Cúi xin đức Thế Tôn cho một ước nguyện.”

Đức Phật dạy:

“Ta không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện.”

Kỳ-bà Đồng tử lại thưa:

“Con xin một ước nguyện thanh tịnh.”

Đức Phật dạy:

“Nguyện thanh tịnh ấy là gì?”

Kỳ-bà Đồng tử thưa:

“Chiếc y quý giá này, con nhận được từ Vua Ba-la-thù-đề, giá trị bằng phân nửa nước. Cúi xin đức Thế Tôn ai mẫn, vì con nạp thọ. Từ nay về sau, nguyện đức Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo nào muốn khoác y của đàn-việt cúng, hay y phấn tảo, thì tùy ý được mặc.”

Bấy giờ, đức Thế Tôn chấp thuận bằng cách im lặng. Kỳ-bà Đồng tử được đức Thế Tôn chấp thuận, liền đem bình nước rửa bằng vàng rửa tay đức Phật, rồi đem chiếc y rất quý giá dâng lên Ngài. Đức Phật vì lòng từ mẫn nên vì ông mà nhận. Kỳ-bà Đồng tử đảnh lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì Kỳ-bà Đồng tử nói các bài pháp, khiến sanh hoan hỷ, rồi Kỳ-bà Đồng tử lễ Phật cáo lui.

Bấy giờ, đức Thế Tôn vì nhơn duyên này tập hợp các Tăng Tỳ-kheo, vì các Tỳ-kheo, mà tùy thuận nói pháp, ngài dùng vô số phương tiện khen ngợi hạnh đầu đà, nhiếp trì oai nghi, thiểu dục tri túc, có trí tuệ, ưa nếp sống xuất ly. Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Tất cả các loại y quý giá, y nầy là bậc nhất. Như bò cho ra sữa, trong sữa cho ra lạc, trong lạc cho ra tô, trong tô cho ra thục tô, trong thục tô cho ra đề hồ là tinh chất đệ nhất. Y nầy cũng như vậy, trong tất cả các loại y nó là đệ nhất. Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo tùy ý khoác y của đàn-việt dâng cúng, hay y phấn tảo.”(4)

Sau này, mặc Phấn tảo y (pamsukùla) là hạnh đầu tiên trong 13 hạnh Đầu Đà (Dhutanga-niddesa) được tôn trọng gìn giữ một cách tự nguyện bởi một số vị Đại Đệ Tử của Đức Phật, đặc biệt là Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (Mahà Kassapa), người duy nhất trong Pháp Hội Linh Sơn thấu đạt ý nghĩa “niêm hoa vi tiếu” và được Phật truyền tâm ấn, vị chủ xướng triệu tập và chủ tọa Kỳ Kiết Tập Kinh Điển lần thứ nhất tại hang Thất Diệp (Saptaparna), trong núi Tỳ-bà-la (Vebhara) gần thành Vương xá (Ràjagaha) ba tháng sau khi Thế Tôn nhập diệt, và là Tổ Sư đầu tiên trong số 28 vị Tổ Tây Thiên (Ấn Độ).

Hạnh phấn tảo y: được thọ trì bằng cách thốt lên một trong hai lời nguyện này: “Tôi từ chối những y do gia chủ cúng” hoặc “tôi nguyện giữ khổ hạnh phẩn tảo y”.

Quần chúng hay tin Đức Thế Tôn cho phép Tỳ-kheo được mặc y áo cúng dường rất đỗi vui mừng mang vải và y đến cúng dường rất nhiều đến nỗi có nhiều vị Tỳ-kheo mang y không xuể.

“Bấy giờ, đức Thế Tôn ở nơi tịnh xứ tư duy, tâm tự nghĩ: “Các tỳ-kheo trên đường đi quảy theo nhiều y. Có vị đội y trên đầu. Có vị vắt nơi vai. Hoặc có vị quấn nơi thắt lưng.” Sau khi thấy, suy nghĩ như vầy: “Ta hãy chế định cho các tỳ-kheo số lượng y nhiều ít thế nào, chứ không được chứa nhiều quá.”

Hôm đó, đức Thế Tôn ngồi nơi đất trống. Đầu đêm khoác một chiếc y, đến nửa đêm cảm thấy lạnh. Khoác chiếc y thứ hai, đến cuối đêm vẫn cảm thấy lạnh, mặc chiếc y thứ ba. Bấy giờ, đức Thế Tôn mới nghĩ như vầy: “Đời sau, người thiện nam không chịu đựng được sức lạnh, thì nên cho phép chứa đầy đủ ba y. Ta nên cho phép các tỳ-kheo chứa ba y, không được quá.”

Sáng hôm sau, đức Thế Tôn tập hợp Tăng tỳ-kheo ra giới luật: “Từ nay về sau, cho phép các tỳ-kheo chứa ba y, nếu quá, không được chứa.”(5)

Nhưng một khi Tỳ-kheo được nhận vải hoặc y từ các đàn việt cúng dường thì cần phải có một kiểu mẫu thống nhất cho Y Phục Tỳ-kheo vì Tăng chúng là thanh tịnh hòa hợp. Câu chuyện sau đây giới thiệu Tôn giả Anan là “nhà tạo mẫu” áo Cà-sa theo sự hướng dẫn của đức Thế Tôn:

“Một lần nọ đức Phật cùng tôn giả Anan đang đi trên đồi ngó xuống dưới chân đồi thấy có nhiều thửa ruộng, đức Phật hỏi Tôn giả Anan rằng: “Này Anan, con có thể làm Cà-sa hình như những thửa ruộng này không?”. Tôn giả Anan bạch Phật rằng: “Dạ, để con làm thử xem sao”. Cách vài hôm sau, Tôn giả Anan lấy vải cắt nối miếng vuông miếng dài may.

Nói đến Ðại đức Ananđa, chúng ta không thể bỏ qua đức tính thông minh và óc thẩm mỹ. Chính nhờ những nét độc đáo này mà Ðại đức đã trở thành một cộng sự viên đắc lực của đức Phật. Ðiển hình là việc sáng chế giáo phục. Câu chuyện như vầy:

Một lần nọ, Ðại đức theo đức Phật qua tỉnh Ðắc-khi-na-ghi-ri. Ðức Phật nhìn thấy thửa ruộng của nông dân xứ Magatha vuông dài, bốn cạnh bằng nhau, lại thêm có những đường nhỏ thông ngang dọc trông thật đẹp mắt, bèn hỏi Ðại đức Ananđa:

- Này Ananđa, ngươi có thể chế biến giáo phục cho chư Tăng theo hình thức thửa ruộng này được không?

- Bạch đức Thế Tôn, đệ tử sẽ cố gắng.

Sau đó, Ðại đức Ananđa đã cắt may được một mẫu y có hình thức như thửa ruộng đệ trình đức Phật. Ðức Từ Phụ hoan hỉ chấp thuận và chính thức ban hành giáo phục cho Tăng già.

Nhơn tiện, đức Phật khen ngợi Ðại đức Ananđa giữa Tăng chúng:

Này các tỳ kheo, Ananđa là người thông minh, có óc thẩm mỹ, trí lực bén nhạy, có khả năng hiểu biết toàn diện những điều Như Lai chỉ nói vắn tắt.”(6)

Từ đó mỗi vị Tăng sĩ có Tam Y: một là An Đà Hội, hai là Uất Đa La Tăng, ba là Tăng Già Lê.

Y An Đà Hội: Antarivāsaka (Pàli), Antaravāsaka (Sanskrit): Nội y, y mặc bên trong. Y An Đà Hội chỉ có 5 điều, cả tấm y gồm mười miếng ráp, cứ một miếng dài, một miếng ngắn theo chiều ngang, đếm theo chiều dọc là năm miếng, theo chiều ngang là hai miếng.

Y Uất Đa La Tăng: Uttarāsaṇgha (Pàli), Uttarasaṃgha (Sanskrit): còn gọi là Tăng Y, y mặc ở giữa. Y này gồm 7 điều, chỉ mặc khi thực hành các việc như thọ trai, giảng kinh, lễ bái, tụng niệm... nên còn gọi là Nhập Chúng Y, hay Phú Tả Kiên Y (y che vai trái). Y này dùng vải cắt thành 21 miếng (2 miếng dài thì 1 miếng ngắn), ráp sao cho đếm theo chiều dọc của tấm y thì có bảy miếng, nên gọi là y bảy điều.

Y Tăng Già Lê: Saṅghāti (Pàli), Saṃghāti (Sanskrit): còn gọi là Đại y, áo cửu điều, y cửu điều, áo Tăng già lê, y Tăng già tri, y già chi. Đây là y đắp ngoài của chư Tăng, là Cà-sa 9 đến 25 điều, được may bởi 9 mảnh vải hàng dài, mỗi hàng hai miếng dài một miếng ngắn. Y này chỉ được đắp khi đi đến chốn đông người, đi trì bình, nhập chúng thọ trai, khi lễ tháp, khi nghe kinh, khi lễ cao Tăng.

Nạp y chỉ chung bộ gồm 3 Y, Y đắp ngoài là Y Tăng Già Lê, Y đắp gìữa là Y Uất Đa La Tăng và Y mặc trong là Y An Đà Hội.

Tùy theo công việc đang làm mà mỗi vị Tỳ-kheo đều phải mặc Y thích hợp, không nên lơ là sơ sót. Tỳ-kheo nên luôn tự ý thức để giữ gìn cho trọn vẹn cả đời. Điều này cũng không phải dễ dàng vì ngay một người có trí nhớ siêu tuyệt như Ngài Anan mà có lúc cũng đã quên mặc Y thích hợp. Chuyện kể rằng một hôm A-nan-đa đi khất thực quên mặc Y Tăng Già Lê, được một đồng đạo nhắc khéo: “Phật đã phê chuẩn bậc xuất gia phải luôn luôn mặc đủ tam Y, khi đi vào làng xóm!” A-nan-đa liền vui vẻ cảm ơn vị đạo hữu ấy, và phân trần rằng: “Bần Tăng chỉ quên thôi, chứ không cố ý bất tuân phép Phật”. Rồi ông đi mặc Y Tăng Già Lê. Kể từ đó, những phép tắc về cách vận y phục cho trang nghiêm của một Tỳ kheo khi ra khỏi tịnh xá, do đức Phật phê chuẩn, đã được ông thi hành từng chi tiết.(7)

Vị “tạo mẫu” có óc thẩm mỹ ấy cũng là người thực hiện thiết kế tài tình. Một lần nọ, đức Bổn Sư ra lệnh cho A-nan-đa trông nom phân phối vải, và may y phục cho các hàng Tăng chúng, A-nan-đa đã thực hiện công việc này một cách tốt đẹp, nên được đức Phật khen ngợi trước Tăng chúng rằng: “A-nan-đa là người khéo léo, ngay cả trong lĩnh vực khâu vá! Một Sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viềng bung ra, và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ.”(8)

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu tại sao đức Phật chọn mẫu y Phục cho hàng Tu Sĩ xuất gia Phật Giáo có hình thức như thửa ruộng? Thiển nghĩ, sự lựa chọn này có những ý nghĩa nổi bật sau đây:

Thứ nhất, theo cách này sẽ tận dụng và tiết kiệm vải rất nhiều vì có thể gộp các miếng nhỏ lắp ráp lại để thành Y và khi hư miếng nào có thể thay miếng nấy được. Mỗi Phật tử có thể tùy khả năng mà cúng dường những mảnh vải lớn nhỏ đều được lợi ích. Đó cũng là sự đúc kết kinh nghiệm của các hành giả tu lâu năm trong rừng sâu thanh tịnh và tự lo lượm vải chằm khâu may mặc cho mình.

Thứ hai, Tăng là những người xuất gia tu hành thanh tịnh, là Trưởng Tử của Như Lai, là Chúng Trung Tôn. Tăng thừa hành chánh pháp của Như Lai. Hầu hết các Phật tử biết đến Phật, biết đến Pháp cũng nhờ Tăng. Giả sử có những vị thiện tín Phật tử biết đến Pháp trước khi biết đến chùa và gặp Tăng tức là do đọc Kinh sách mà tỏ ngộ những lẽ mầu trong Đạo Pháp thì những sách ấy cũng do bao đời chư Tăng biên soạn, trước tác, gìn giữ, lưu truyền. Phật nhập diệt đã lâu bây giờ chỉ còn hình tượng, thời mạt pháp căn cơ chúng sanh phần nhiều bị lu mờ, nghiệp chướng buộc ràng mà giáo pháp lại cao siêu, huyền diệu, khó hiểu, khó ngộ, nếu không nhờ Tăng biết nương lối nào vào Đạo?

Thứ ba, Y có nhiều điều (nhiều mảnh) cũng như con đường tu tập hướng đến Đạo Quả Vô Thượng Bồ Đề có nhiều thứ lớp giai đoạn. Đức Phật đã trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp hành Bồ-tát hạnh như chúng ta đã thấy trong Túc Sanh Truyện (Jataka). Mỗi hành giả phải liên tục tích lũy Phước đức, Công Đức, tương tục nhiếp niệm trong chánh pháp. Từ vô thỉ đến nay đã bao nhiêu kiếp rồi ai chẳng gây nhiều lỡ lầm tội lỗi cũng như mảnh đất tâm của chúng ta bỏ hoang vu đã lâu và ngập tràn cỏ dại thì mỗi người hãy liên tục nhổ cỏ và chăm sóc mảnh vườn tâm của mình và phải chờ đợi đủ thời tiết nhân duyên, đúng thời kỳ mới có thể thu hoạch được chứ không thể nôn nóng vội vàng đòi hỏi hưởng hoa thơm quả ngọt ngay được. Cũng vì thế các vị Thượng Tọa, Hòa Thượng thì mặc Đại Y đến 25 điều vì quý Ngài đã tích lũy được nhiều công đức còn những vị Tăng mới thọ giới thì mặc Đại Y 9 điều thôi. Nhìn vào Đại Y mặc trong lúc hành Lễ nơi chánh điện cũng có thể nhận biết được phẩm trật thứ lớp trong Phật Giáo.

Thứ tư, bậc xuất gia tu hành mặc áo nâu sồng hoại sắc cốt để che thân chứ không phải nghiêm sức và thường xuyên quán niệm nơi thân và y áo đã cắt ái ly gia thoát tục của mình. Tỳ-kheo hoặc là mặc y chắp vá được từ các mảnh vải rách ở đống rác, đống phân, bãi tha ma, hoặc là thọ nhận mọi loại vải dù là thô xấu cúng dường từ thiện tín rồi nhuộm đi để may mặc cốt sao có y mặc mà thôi chứ không bận lòng phân biệt tốt xấu. Mỗi lần sờ lên đầu hay nhìn lại y của mình mỗi vị Tỳ-kheo đều nhớ biết mình là người xuất gia mà lo tinh tấn với Đạo nghiệp nếu giãi đãi là uổng phí đời sống xuất gia, uổng phí của đàn na tín thí.

Thứ năm, mang bộ Y nhiều điều để nhớ nghĩ ơn sâu dày của đàn na tín thí, trong cuộc sống này ai cũng bận rộn lo toan xoay vần với cái ăn cái mặc. Tỳ-kheo được tứ sự cúng dường để thanh thản an tâm lo tu học đó là nhờ công lao khó nhọc biết bao người. Vậy mỗi Tỳ-kheo phải luôn niệm tưởng và làm sao cho xứng đáng với công ơn đó:

“Thân phi nhứt lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ”

(Thân mặc một chiếc áo thường nghĩ về sự cực nhọc của người đan sợi vải, ngày ăn ba bữa luôn nhớ đến nỗi khổ sở của người nông dân).

Y áo Cà-sa có nhiều ý nghĩa cao quý như thế. Người mặc Y áo phải làm sao xứng đáng là một vị Tăng tiếp nối gia phong ba đời mười phương chư Phật. Y Bát là bảo vật truyền thừa trong thiền môn. Hình ảnh chư Tổ Sư, chư Tăng phụng hành chánh pháp Như Lai ba Y một bát đơn sơ nhưng thanh thoát vân du tự tại hóa độ chúng sanh được mô tả bằng những vần thơ tuyệt đẹp:

“Nhứt bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du.
Kỳ vị sanh tử sự,
Thuyết pháp độ xuân thu.”

“Một bát cơm ngàn nhà,
Một thân vạn dặm xa.
Chỉ vì chuyện sanh tử,
Nói Pháp độ người qua.”

Thật là dung dị và cũng thật là tuyệt diệu! Một bình bát nhờ cơm ngàn nhà để sống, ba bộ Y che thân qua bao độ Xuân Thu, bước chân xuất thế đi qua khắp hang cùng ngõ hẻm cuộc sống, chỉ vì “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp”, độ mọi người ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Vẻ đẹp bên ngoài phù du giả tạo như hoa sớm nở chiều tàn có gì bền chắc, hương thơm phấn sáp sẽ nhanh chóng tàn phai, chỉ có vẻ đẹp bên trong mới đáng quý, hương thơm đạo hạnh mới lan tỏa rộng xa và có sức ảnh hưởng tốt đẹp để mọi người hướng đến Chân, Thiện, Mỹ “Hương các loại hoa thơm, Không ngược bay chiều gió, Nhưng hương người đức hạnh, Ngược gió khắp tung bay.”(9)

Ngày nay, các vị Tỳ-kheo Nam Tông vẫn duy trì việc mặc Y tương thích trong mọi thời, mọi sinh hoạt, các Tỳ-kheo Bắc Tông thì tùy theo điều kiện thời tiết và để thuận tiện cho việc di chuyển đi lại sinh hoạt nên lúc ở trong chùa chủ yếu là mặc bồ đồ vạt hò, lúc đi ra đường hoặc đi sinh hoạt thì mặc áo nhật bình, áo thông y, chỉ đặc biệt những lúc tụng kinh, bố tát, thuyết Pháp, đảnh lễ chư Tôn Túc, Trưởng Lão, thọ Quá Đường, tác pháp Yết Ma,…nơi chánh điện tôn nghiêm, đàn tràng thì mới mặc áo tràng và Y mà thôi. Tất cả các loại Y phục Tăng sĩ nêu trên đều là hoại sắc, có màu vàng, đà, xám hay nâu, đều là đơn giản, trang nghiêm, thanh tịnh.

Riêng bản thân tôi Y áo Cà-sa lại gắn liền với kỷ niệm ân tình với Sư Phụ. Thuở sanh tiền Người thường lo may Y Phục cho tôi. Tôi còn nhớ trước khi tôi thọ giới tại Đại giới đàn Ấn Quang tôi đến đảnh lễ xin phép Người khi ấy Người đang đau dưỡng bệnh ở Chùa Giác Uyển chờ nhập vào Bệnh Viện Chợ Rẫy, Người tặng cho tôi mấy xấp vải vàng Người đã thọ nhận những lúc Trai Tăng ở Quá Đường để may y áo với lon sữa và dạy:

“Còn mấy ngày nữa là con sẽ thành Tỳ-kheo, thành Ông Thầy. Hãy làm một Ông Thầy nên thân nên thể. Luôn nhớ giới luật mà hành trì theo. Tui già yếu sống nay chết mai không biết thế nào. Con là người đầu tiên trong chúng điệu lớp sau này thọ giới, hãy tu học làm sao làm gương cho đàn em noi theo và không phụ của đàn na tín thí. Làm một Ông Thầy không nên dáng là hổ thẹn Tông Môn”

Khi tôi đảnh lễ xin ý kiến của Người về nguyện vọng đi du học Ấn Độ của tôi, Người dạy: “Học Tàu, học Ấn, học Tây học gì cũng tốt, ở Việt Nam ở Nga, ở Mỹ cũng được, miễn làm sao còn giữ chiếc áo đó là được rồi.”

Khi tôi ở Ấn Độ, Người vẫn tiếp tục gửi áo qua cho tôi mặc.

Thưa Sư Phụ ! Người đã về cõi Phật nhưng áo Cà-sa may từ mảnh vải Người cho, những chiếc áo Thầy chùa do Người may nay con vẫn còn giữ với tất cả tâm tình Người nhắn gửi. Lời dạy bảo ân cần của Người vẫn còn văng vẳng bên tai: “Hãy làm một Ông Thầy nên thân nên thể. Luôn nhớ giới luật mà hành trì theo”, “… ở Việt Nam ở Nga, ở Mỹ cũng được, miễn làm sao còn giữ chiếc áo đó là được rồi” là sự bảo hộ của Người tiếp cho con thêm định lực vững bước trong dòng đời dù có nhiều biến thiên nghịch cảnh, con xin nối tiếp bước đi Phật Tổ, chư Tôn Đức nối chí Tông Phong và trong hành trang vượt qua dòng sanh tử con luôn mang theo chiếc áo Cà-sa bên mình với tâm niệm:

“Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, phụng trì Như Lai mạng, quảng độ chư chúng sanh” (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước tối thượng, phụng hành lịnh Như lai, hóa độ cho tất cả).

 

Chú thích:

1. Nhớ ơn Phật, Nghi thức thọ trì, Hệ Phái Khất Sĩ.

2. Tứ Phần Luật, Phần III, Chương VI, Hán dịch: Tam tạng Phật-đà Da-xá và Trúc-phật-niệm, Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng, Hiệu chính và chú thích: Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng.

3. Thanh Tịnh Đạo Luận, Chương II, Bhadantacariya Buddhaghosa, Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải.

4. Tứ Phần Luật, sđd, có thể tham chiếu Buddha the Gospel, The Regulations, By Paul Carus, Chicago, The Open Court Publishing Company tại địa chỉ:

http://www.buddhistinformation.com/buddha_the_gospel.htm.

5. Tứ Phần Luật, Sđd.

6. Tình đời, Ý đạo (Cuộc đời Thánh tăng Ananda), Hòa thượng Hộ Giác.

7. Theo Mahàvagga 8, 23, Ðại Phẩm Tạng Luật số 8, 23.

8. Theo Mahàvagga 8,12, Ðại Phẩm Tạng Luật 8, 12.

9. Kinh Pháp Cú, Phẩm Hoa, Thi Kệ số 54.


 

Trạng thái Nhập thai, Trụ thai, &

Xuất thai của  Bậc Thánh^

 (tt và hết)

 

Nguyên Liên

 

c. Ý nghĩa sanh ở hông bên hữu.

Tất cả chúng sanh đều do ái dục mà sanh, do ái dục mà tồn tại và cũng do ái dục mà phải luân hồi trong các thú. Chính ái dục mới là động lực duy nhất có đủ sức mạnh để lôi kéo chúng sanh qua lại trong tam giới, chứ không một ai khác có đủ sức mạnh dù trời, rồng, quỷ thần... có thể lôi kéo chúng sanh được. Vì chúng sanh do ái dục mà sanh, nên cũng phải sanh ra từ nơi ái dục, sanh ra từ nơi nữ căn người mẹ (chỗ biểu thị tột cùng của ái dục), điều này cũng dễ hiểu mà thôi.

Còn chư Phật, Bồ-tát thì khác, các Ngài đã đoạn sạch vô minh và ái dục, do đó các Ngài không còn bị sự sanh tử luân hồi chi phối. Do vì tình thương và đại nguyện cứu độ chúng sanh mà các Ngài thị hiện vào cõi ngũ trược ác thế này. Vì thế các Ngài không sanh ra từ nơi nữ căn của người mẹ, mà sanh ra từ hông bên hữu, là nơi sạch sẽ thanh tịnh, không vướng chút bợn nhơ ái dục. Sanh ra từ hông bên hữu, sanh không có vết sanh nói lên ý nghĩa Bồ-tát sanh ra từ chỗ vô sanh, Bồ-tát không còn bị sanh tử luân hồi chi phối nữa, Ngài là bậc đã thực chứng vô sanh.

Bồ-tát sanh ra từ hông bên hữu còn nói lên một ý nghĩa nữa, là Bồ-tát tùy thuận tâm mong cầu của thế gian mà sanh. Bên hữu là chiều thuận, phù hợp với vòng quay của trái đất. Bồ-tát sanh từ hông bên hữu người mẹ, ý nói chúng sanh hiện đang khao khát có một vị đạo sư toàn năng toàn trí xuất hiện để làm hướng đạo cho mọi người. Ứng theo tâm nguyện mong cầu của chúng sanh, đức Phật đã xuất hiện để tuyên thuyết giáo lý vô ngã, đáp ứng nhu cầu thăng hoa chính đáng cho con người.

d. Ý nghĩa Đế Thích rãi hoa sen trên lối đi của Bồ-tát.

Khi Bồ-tát mới đản sanh, trời Đế Thích liền đem hoa sen rãi trên lối đi của Ngài. Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi không ngoài hai nguyên do sau:

Thứ nhất, sở dĩ Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát lúc Ngài đản sanh, là do lời phát nguyện trong tiền kiếp quá khứ của Đế Thích đối với Bồ-tát. Trong kiếp quá khứ Đế Thích đã từng có lời thệ nguyện: “Bất cứ vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ nào lúc mới đản sanh, tôi nguyện sẽ đem hoa sen rãi trên lối đi của các Ngài”.

Lý do thứ hai, là Bồ-tát muốn hàng phục tâm kiêu ngạo của các vị trời, rồng, quỷ thần, A tu la... bởi xưa nay các chúng sanh này đều tôn sùng Đế Thích. Nhân sự kiện Đế Thích cung kính đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát, họ sẽ tự nghĩ rằng: “Ngay cả trời Đế Thích, vị chúa tể mà chúng ta hằng tôn sùng, còn sanh tâm cung kính đem hoa sen rãi trên lối đi của Bồ-tát, hà huống gì là bọn đệ tử chúng ta”. Do tâm suy nghĩ như vậy, lòng kiêu ngạo, tự đắc tự mãn của họ sẽ tiêu trừ, phát tâm quy hướng với Phật. 

e. Ý nghĩa Bồ-tát chân đi trên hoa sen.

Sau khi Đế Thích đem hoa sen rãi trên lối đi, Bồ-tát chân đi trên hoa sen bảy bước. Bồ-tát chân đi trên hoa sen nói lên ý nghĩa gì? Như chúng ta biết, hoa sen là một loài hoa rất tôn quý tại Ấn Độ. Hoa sen có các đặc tính mà các loài hoa khác không thể có, như hương tinh khiết, cánh hoa mềm mại, ai thấy cũng yêu thích... nhưng điểm quý hơn cả, hoa sen là loài hoa mọc giữa bùn nhơ nước đục nhưng không bị vấy nhiễm, hôi tanh mùi bùn.

Bồ-tát khi mới sanh ra chân đi trên hoa sen, nói lên ý nghĩa Bồ-tát thị hiện vào cuộc đời đầy đen tối nhưng không bị ngũ dục lạc cuộc đời làm vấy nhiễm. Sự trong sáng của Bồ-tát ví như hoa sen, tuy mọc từ bùn nhơ nước đục nhưng không vướng chút bợn nhơ.

Bồ-tát tuy sống giữa đám người ác độc, thù hằn, hãm hại... nhưng Ngài đã vươn lên trên tất cả với tâm hồn ngập tràn thánh thiện, làm cho những tâm hồn cấu uế của chúng sanh được hoán chuyển, chẳng khác nào hoa sen mọc giữa bùn nhơ nước đục, tỏa ngát hương thơm khắp hồ. Sự hiện hữu của các Ngài giữa cuộc đời là sự hiện hữu của hương và sắc làm thăng hoa sự sống. Hương ấy là hương đạo đức và sắc ấy là sắc trí tuệ, khiến Bồ-tát tỏa ngát và rực rỡ giữa vũng bùn lầy tội lỗi của vạn loại chúng sanh. 

f. Ý nghĩa Bồ-tát chân đi bảy bước.

Bồ-tát khi mới sanh ra, chân đi bảy bước. Hình ảnh Bồ-tát đi bảy bước không phải là vô nhân hay tự nhiên, mà đều có mật ý trong việc đi bảy bước. Bồ-tát chân đi bảy bước không ngoài ba ý nghĩa sau:

- Bồ-tát chân đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ nhất, Ngài là chúng sanh duy nhất trong tam giới, đã thoát ly sáu đạo luân hồi.

Số bảy nói lên ý nghĩa, Ngài là bậc đã vượt thoát sáu cảnh giới luân hồi. Sáu cảnh giới luân hồi là thiên, nhân, A tu la, địa ngục, ngạ quỷ và bàng sanh.

- Bồ-tát chân đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ hai, Ngài là vị Phật thứ bảy xuất hiện ở thế gian.

Bảy vị Phật gồm ba vị thuộc Quá khứ trang nghiêm kiếp là Tỳ-bà-thi Phật, Thi-khí Phật và Tỳ-xá-phù Phật; bốn vị thuộc Hiện tại hiền kiếp là Câu-lưu-tôn Phật, Câu-na-hàm mâu-ni Phật, Ca-diếp Phật và Ngài Thích-ca mâu-ni Phật.

- Bồ-tát đi bảy bước nói lên ý nghĩa thứ ba, giáo pháp của Ngài trong mai hậu sẽ lan tràn khắp năm châu và bốn bể.

Số bảy là số bao quát cả không gian lẫn thời gian. Không gian không ra ngoài bốn hướng là Đông, Tây, Nam, Bắc; thời gian không ra ngoài ba thì quá khứ, hiện tại và vị lai. 

g. Ý nghĩa mỗi bước chân.

Theo kinh Ưu bà di tịnh hạnh, Bồ-tát khi mới sanh ra đã đi bảy bước và nhìn về sáu phương. Ý nghĩa của mỗi bước chân của Ngài nhìn về một phương nhằm nói lên ý nghĩa gì?

- Bồ-tát đi bước thứ nhất và nhìn về phương Đông, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, Ngài là bậc đạo sư tối thượng xuất hiện trong đời này.

- Bồ-tát đi bước thứ hai nhìn về phương Nam, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài như đám ruộng phước mát mẻ đến với tất cả chúng sanh.

- Bồ-tát đi bước thứ ba nhìn về phương Tây, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, đây là thân cuối cùng của Ngài trong vòng sanh tử luân hồi.

- Bồ-tát đi bước thứ tư nhìn về phương Bắc, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, Ngài sẽ đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề trong đời này.

- Bồ-tát đi bước thứ năm nhìn xuống phương dưới, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài trong cuộc đời là để hàng phục tất cả các loài ma.

- Bồ-tát đi bước thứ sáu và nhìn lên phương trên, để chỉ cho tất cả chúng sanh biết rằng, sự xuất hiện của Ngài trong cuộc đời này là để làm chỗ quy y cho tất cả trời người.

- Bồ-tát đi bước thứ bảy, một tay chỉ lên trời một tay chỉ xuống đất và nói lời rằng: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới đất, chỉ có một mình ta là tôn quý nhất). 

h. Ý nghĩa câu kệ đản sanh.

Trong câu kệ Bồ-tát tuyên thuyết lúc Ngài đản sanh, ý Ngài muốn khẳng định cho tất cả chúng sanh khắp trong tam giới biết rằng, Ngài là bậc thù thắng nhất, bậc siêu tuyệt nhất, bậc tôn quý nhất ở thế gian, không có bất cứ một chúng sanh nào trong thế gian, dù phạm thiên, ma vương... có thể sánh phước đức và trí tuệ bằng Ngài.

Lại theo quan điểm kinh Đại Bảo Tích, Bồ-tát Hộ Minh khi mới đản sanh, tuyên bố lời này, ngoài việc Ngài tuyên cáo cho tất cả chúng sanh biết rằng Ngài là bậc tôn quý nhất của thế gian, còn là lời biểu lộ tâm đại từ bi, thương tưởng các vị như Phạm thiên, Chư thiên, Ma vương, Quỷ thần, A tu la… tức các vị giáo chủ đương thời. Bồ-tát muốn họ dứt trừ tâm kiêu căng, ngã mạn để thoát ly cảnh giới khổ đau đọa lạc. Đồng thời cũng là lời báo hiệu cho tất cả chúng sanh ở tam giới biết rằng Ngài, bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đã xuất hiện ở thế gian. 

k. Ý nghĩa Long vương đem hai giòng nước ấm và mát đến tắm cho Bồ-tát.

Hình ảnh Long vương từ trên hư không phun hai làn nước ấm và mát, đến tắm cho Bồ-tát lúc đản sanh nhằm nói lên ý nghĩa gì? Hai luồng nước ấm và mát biểu trưng cho mọi nghịch duyên và thuận duyên mà trong cuộc đời hoằng hóa sau này Ngài gặp phải. Và trước mọi sóng gió của cuộc đời, Ngài đều hoàn toàn bất động, không bị hoàn cảnh chi phối, không bị nghịch duyên tác động.

Nhìn lại cuộc đời tám mươi năm trụ thế của đức Phật, chúng ta sẽ thấy rõ được điều đó. Đức Phật đã được mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội từ vua chí dân hết lòng sùng kính ngưỡng mộ… Tuy nhiên, bên cạnh những người cung kính ngưỡng mộ, vẫn còn không biết bao nhiêu người thù hằn, chống đối, chửi mắng, dùng đủ mọi hình thức mưu toan phá hại Ngài.

Giữa hai hoàn cảnh thuận duyên nghịch duyên, hay sự vinh quang tuyệt vời cùng những sự khinh chê tột cùng mà xã hội ban tặng cho Ngài, ám chỉ qua hai làn nước nóng và mát mà Long Vương đem tắm cho Bồ-tát lúc mới đản sanh. Giữa hai hoàn cảnh ấy, đức Phật vẫn bình thản, không bị hoàn cảnh lay động, chi phối… Ngài không vì sự cung kính, ngưỡng mộ, lễ bái mà sanh tâm kiêu căng, ngã mạn, hống hách. Cũng như không vì sự khinh chê, chửi mắng mà sanh tâm thối thất, phẫn chí, đúng như Thánh hiệu của Ngài được thế gian xưng tụng “Năng Nhân Tịch Mặc”.

l. Ý nghĩa hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày rồi băng hà.

Theo lịch sử ghi lại, sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, hoàng hậu Ma-gia băng hà và sanh lên cung trời Đao-lợi? Với sự kiện, người mẹ sau khi sanh con một thời gian quá ngắn ngủi đã mất, thông thường theo quan niệm của thế gian cho đó là điềm dữ. Và có đôi người còn nghĩ rằng Bồ-tát sanh ra đã đem điềm họa tới cho hoàng hậu.

Vấn đề này, chúng ta đừng nên đem tâm niệm kiết hung theo thế gian để phán xét. Sự kiện hoàng hậu băng hà sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, không phải do điềm họa bởi hoàng hậu sanh Bồ-tát, mà vì nhân duyên thọ mạng của hoàng hậu chỉ có thời gian từng ấy mà thôi.

Trong kinh Đại Bảo Tích, có ghi lại nguyên nhân hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày, băng hà sanh lên cung trời Đao-lợi. Nguyên nhân không phải lỗi của Bồ-tát, mà do thọ mạng của hoàng hậu đến giai đoạn này đã chấm dứt… Lúc bấy giờ, Bồ-tát ở cung trời Đâu-suất, dùng Phật nhãn quan sát, thấy thọ mạng hoàng hậu Ma-gia chỉ còn mười tháng bảy ngày, Bồ-tát dùng phương tiện biết thọ mạng của hoàng hậu sắp hết nên Ngài đến thọ sanh. Vì thế hoàng hậu sau khi hạ sanh Bồ-tát bảy ngày thì băng hà.

C. KẾT LUẬN.

Với thần lực bất khả tư nghì, nhưng Bồ-tát không thẳng xuống nhân gian thành Phật, mà thị hiện vào thai mẹ trước khi thành Phật, là vì Bồ-tát muốn khích lệ hàng phàm phu tiến tu đạo nghiệp ngõ hầu thoát ly sanh già bệnh chết, vì muốn ngăn ngừa tà thuyết của ngoại đạo sau này dựng lên có hại cho Phật giáo, vì muốn dẫn dắt hàng Thích chủng thân thuộc đi vào chánh pháp, vì muốn lưu thân giới cho chúng sanh cúng dường, để tô bồi cho chúng sanh phước điền… Phải chăng những sự thị hiện vi diệu đó của Ngài, cũng không ngoài trí tuệ vô biên và tình thương vô hạn của một vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ đầy lòng lân mẫn chúng hữu tình; tình thương không phân biệt đối tượng, như trong Di đà sớ sao nói “Phật ái chúng sanh, như phụ mẫu ái tử” (Phật thương chúng sanh, chẳng khác nào như cha mẹ thương con). ❑

 

So sánh về cuộc đời & Tính cách của hai Bậc Vĩ Nhân:  

 Đức Đạt Lai Lạt Ma &Albert Einstein^

 

Bảy mươi năm về trước, một bé trai với cái tên Lhama Dhondrub đã chào đời trong một gia đình nông dân nghèo thuộc miền Đông Bắc Tây Tạng. Khi được phát hiện ra là hiện thân của ngài Avalokitesvara (Quán Thế Âm Bồ-tát), cậu được đặt tên lại là: Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso, và được xem như một “viên ngọc thỏa mãn mọi ước nguyện”. Đó chính là vị Thánh Tăng Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV, bậc Thầy lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng cũng như của Phật giáo thế giới.

Ngày 06 tháng 07 năm nay (2005) sẽ là lần kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Ngài. Nhân dịp này, giáo sư Rasoul Sokhabi, chuyên gia nghiên cứu tại viện “Năng lượng và khoa học địa chất” của trường đại học Utah, thành phố Salt Lake đã viết một bài so sánh về cuộc đời và tính cách của hai bậc vĩ nhân của nhân loại: Đức Đạt Lai Lạt Ma - nhà lãnh đạo Phật Giáo và Albert Einstein - khoa học gia nổi tiếng của thế giới.

Tổ chức Liên Hiệp Quốc đã tuyên bố năm 2005 này là năm “Vật lý thế giới” để tưởng nhớ những cống hiến của Albert Einstein, người đã đưa ra học thuyết “Tương đối” vào năm 1905 (đúng 100 năm trước), và ông đã qua đời vào năm 1955 (cách nay đúng 50 năm). Năm nay cũng là năm đánh dấu kỷ niệm lần thứ bảy mươi ngày sinh nhật của đức Đạt Lai Lạt Ma. Đây chính là thời điểm và cơ hội thích hợp nhất cho chúng ta suy ngẫm về vị trí tương xứng của hai nhân vật kiệt xuất này trong thời đại của chúng ta để tìm ra một sự hợp nhất giữa tôn giáo và khoa học.

Cuộc đời của Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng cuốn hút rất nhiều người trong thế hệ chúng ta từ nhiều năm qua. Khi đọc tiểu sử hay những tác phẩm, những công trình nghiên cứu của họ, ta có thể nhận ra được nhiều nét nổi bật tương đương về bối cảnh cũng như cá tính của hai nhân vật này. Điều đó đã lóe lên những tia sáng trong mối quan hệ giữa lý trí và tâm linh, cả hai lĩnh vực này đều hết sức cần thiết cho cuộc sống con người và xã hội.

Nguyên lý chung của cả Phật giáo lẫn khoa học: dù là một nhà nghiên cứu tâm linh hay một nhà khoa học đều phải dựa trên tâm thức và kinh nghiệm của chính mình. Không hề có một đấng Thượng đế nào đầy quyền năng để cho họ phải tin theo một cách mù quáng. Mọi sự việc sẽ trở nên rất có ý nghĩa nếu như chúng được cảm nhận bằng những kinh nghiệm tâm linh hay được tái tạo bằng những thực nghiệm khoa học. Đặc tính nổi bật của các tác phẩm và những bài thuyết trình của Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma là những ngôn ngữ ấy đều được chắt lọc từ tâm hồn và kinh nghiệm của chính họ. Các học giả rất dễ dàng nhận ra được những nét đặc trưng này, bởi lẽ họ đã từng viết, đã từng đọc không ít những tham khảo, chú thích, dẫn chứng… về những tác phẩm của hai tác giả trên. Mặc dù các tác phẩm ấy đòi hỏi những kiến thức chuyên môn khác nhau nhưng cả hai tác giả đều có lối viết giống nhau: sử dụng ngôn ngữ giản dị, văn phong rõ ràng, có căn cứ xác thực. Thậm chí, còn có sự ăn khớp giữa hai tâm hồn tác giả ở chỗ họ cùng mượn những khái niệm, những thuật ngữ mà các bậc tiền bối đã từng sử dụng, đã từng biết đến để viết cho tác phẩm của mình. Bất chấp những mâu thuẫn trong lịch sử về mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo, cả Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đều giữ chung một lập trường rằng khoa học và tôn giáo có thể cùng nhau tồn tại và cùng đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Khoa học và tôn giáo là những phương diện khác nhau của kiến thức và thực hành, sự nỗ lực của cả hai lĩnh vực đều rất cần thiết cho sự cân bằng của cuộc sống. Đức Đạt Lai Lạt Ma không phải là một người theo trào lưu chính thống tôn giáo. Ngài trân trọng sự thành tựu của khoa học hiện đại và cũng tin tưởng rằng tất cả các truyền thống tôn giáo khác đều có sự hữu ích của nó. Einstein cũng không phải là một khoa học gia chỉ có đầu óc toán học vô tình thiếu nhạy cảm với chiều sâu tâm linh. Trong cuốn: “Out of My Later Years” (1950), ông đã viết: “Tất cả các tôn giáo, nghệ thuật và khoa học là những cành khác nhau của cùng một thân cây, mọi khát vọng đều hướng đến mục đích cao quý của cuộc sống con người và nâng nó lên từ phạm vi chỉ có sự tồn tại của vật chất đến sự tự do, giải thoát về tinh thần cho từng cá nhân”. Và ông đã nói: “Mỗi ngày, tôi đã tự nhắc nhở mình hàng trăm lần rằng: đời sống vật chất lẫn tinh thần của tôi đều dựa trên sức lao động của người khác. Do vậy, tôi phải nỗ lực để đền đáp lại những khoảng mà tôi đã thọ nhận và vẫn còn đang tiếp tục thọ nhận”. Đây là lời của Einstein nhưng chúng ta rất dễ nhầm lẫn là lời của đức Đạt Lai Lạt Ma. Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa vật chất, loài hữu tình và sự kiện là những khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại lẫn tư tưởng Phật giáo. Trong buổi lễ nhận giải thưởng Nobel hòa bình, đức Đạt Lai Lạt Ma đã phát biểu: “Tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau trên rất nhiều phương diện, đến nỗi chúng ta không thể nào sống biệt lập với các cộng đồng và phớt lờ đi những gì đang xảy ra bên ngoài những cộng đồng ấy. Chúng ta cần sự giúp đỡ của người khác khi chúng ta gặp khó khăn và chúng ta cũng phải chia sẻ với người những may mắn mà chúng ta đang tận hưởng”. Về phương diện triết học, những lời này của đức Đạt Lai Lạt Ma xuất phát từ khái niệm thuyết “Duyên sinh” phát sinh từ tư tưởng Trung đạo của Phật giáo.

Các tu sĩ Phật giáo không hề bị cám dỗ bởi những sở hữu vật chất cá nhân. Đức Đạt Lai Lạt Ma luôn lặp lại câu nói: “Tôi là một Tăng sĩ rất giản đơn”. Howard Culter, một cộng tác của Ngài trong cuốn “Nghệ thuật của Hạnh phúc”, cũng đã nói rằng: “Đức Đạt Lai Lạt Ma không hề biết rằng sách của Ngài đã được bán chạy nhất ở Bắc Mỹ”. Cũng vậy, Einstein cũng có cùng một thái độ không vị kỷ đối với cuộc sống. Trong một bài tiểu luận nổi tiếng nhất của mình “The World as I see it” (1931), ông viết: “Tôi cũng tin tưởng rằng cuộc sống giản dị và khiêm tốn rất tốt cho mọi người cả về thể xác lẫn tinh thần. Ba mục tiêu phấn đấu của con người là tài sản, sự thành công bên ngoài và sự xa hoa đều luôn luôn là những thứ bần tiện đối với tôi”. Ông đã thực hành đúng với những gì ông đã từng nói. Chẳng hạn như: mặc dù đã tái hôn nhưng Einstein vẫn trao toàn bộ số tiền 30.000 đô la là giải thưởng Nobel của ông cho người vợ cả và các con của họ.

Einstein đạt giải thưởng Nobel Vật lý năm 1921 và đức Đạt Lai Lạt Ma đạt giải Nobel Hòa bình năm 1989. Tuy nhiên, Einstein cũng là một nhà hoạt động tích cực cho hòa bình thế giới, công cuộc giải trừ vũ khí hạt nhân trên các quốc gia, sự bình đẳng và dân quyền trong xã hội. Cả cuộc đời ông là sự đấu tranh chống bạo động, chiến tranh, phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa phát xít. Người anh hùng chính trị của ông là Mahatma Gandhi. Văn kiện cuối cùng mà Einstein đã ký (tháng 04/1955) là lời tuyên bố về sự cộng tác với triết gia người Anh - Bertrand Russell - trong đó, họ đã điểm danh tên của tất cả các nhà lãnh đạo thế giới về những nghị quyết hòa bình của những xung đột chính trị.

Gần đây, đức Đạt Lai Lạt Ma đã trả lời trong một cuộc phỏng vấn rằng: nếu có thể, Ngài sẽ đến một ngôi chùa và cống hiến cả quãng đời còn lại của mình cho sự thiền định. Điều này khiến ta liên tưởng đến lời nói của Einstein rằng: “Việc làm của người giữ nhà sẽ rất có ý nghĩa đối với một khoa học gia, bởi lẽ ông ta được đảm bảo có thời gian tự do và rảnh rỗi để suy nghĩ và làm việc”.

Cả Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đều là những người bị mất nước. Einstein thoát khỏi Nazi, Đức vào năm 1933 và sinh sống ở Mỹ. Đức Đạt Lai Lạt Ma tị nạn tại Ấn độ từ năm 1959 do sự chiếm đóng của Trung quốc trên đất Tây Tạng. Kinh nghiệm của cuộc đời “vong quốc” một phần nào đó đã giúp họ trân trọng giá trị vô song về lịch sử văn hóa của dân tộc mình (cộng đồng người Do thái đối với Einstein và Phật giáo Tây Tạng đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma), để thấy được vẻ đẹp và tính đa dạng của văn hóa nhân loại và cảm nhận được nguồn gốc chung của sự bình đẳng về tâm linh của loài người ở mọi nơi trên thế giới. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã từng nói rằng cuộc sống lưu vong đã cho Ngài một cơ hội lớn để được gặp gỡ và tiếp cận với tất cả mọi người từ những quốc gia khác nhau và thuộc mọi tầng lớp của xã hội. Ngài kết luận rằng: “Tất cả mọi người đều như nhau, đều mong cầu hạnh phúc và xa lánh khổ đau”.

Leopold Infeld, bạn đồng nghiệp - đồng thời cũng là người đã viết tiểu sử cho Einstein đã viết: “Nếu Einstein bước vào phòng của bạn trong một buổi tiệc và bạn được giới thiệu về ông ta như một người mà bạn chưa hề biết tí gì về ông ta cả, thì bạn cũng sẽ bị cuốn hút bởi chính đôi mắt sáng ngời của ông, bởi sự bẽn lẽn, hiền lành, những ý tưởng thú vị, hóm hỉnh. Thực tế là ông ta có thể làm cho những điều hết sức tầm thường đều trở thành kiến thức thông thái, và những gì ông ta nói ra đều xuất phát từ tận đáy tâm hồn của chính mình chứ không hề bị ảnh hưởng bởi những tác động từ thế giới bên ngoài”. Tất cả những người đã từng hữu duyên được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma cũng đã xác thực rằng những đặc điểm trên cũng chính là tính cách của Ngài.

Einstein được sinh ra trong một gia đình Do Thái ở Đức vào năm 1879. Đức Đạt Lai Lạt Ma ra đời trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng Amdo - Tây Tạng vào năm 1935. Những câu chuyện của họ hoàn toàn khác nhau. Thế nhưng tại sao chúng ta có thể tìm thấy ở họ những khía cạnh giống nhau về bối cảnh lẫn nhân cách? Bởi lẽ cả Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma đều đã vượt lên trên chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, quốc gia…. Cả hai đều có sự nhận thức về nhân loại, hòa bình và cuộc sống bằng chính trái tim nhân hậu của mình.  

Các giải thưởng Nobel của Einstein và đức Đạt Lai Lạt Ma tượng trưng cho cùng một đỉnh cao của nhân loại. Cả hai bậc vĩ nhân này đã đạt đến đỉnh cao ấy bằng chính sự hoàn thiện của họ trên những con đường khác nhau. Họ đã gặp nhau tại đỉnh cao ấy, và nơi đó đã phát ra hàng ngàn tia sáng chiếu rọi đến khắp cả muôn loài.

 

Theo “Mandala Magazine”

Biển Xanh lược dịch

 

Dòng Thiền HọcTrúc Lâm giai đoạn sau đời Trần 1400+

 ^

TÂM PHƯƠNG

 

Qua chân dung toàn cảnh, nhất là trên diện rộng thì những thông tin liên hệ về nó hầu như trống không, âm hưởng từ nó hầu như cũng đã tắc lịm, có điều là ảnh hưởng của nó thì không mất. Nhiều nhà chuyên môn đã khơi lại “đống tro tàn” lịch sử mong nhặt lượm lại những mãnh vụn chứng tích trong ý hướng phác họa lại chân dung Phật giáo Trúc Lâm sau đời Trần, để qua đó làm sống lại tinh thần thông điệp Cư Trần Lạc Đạo của Phật giáo Trúc Lâm. Tinh thần đó cũng chính là tìm lại bản sắc ưu việt của Phật giáo đời Trần trên dòng chảy 2000 năm Phật giáo Việt Nam, hầu đóng góp Nhân Tố Mới cho Phật giáo trong thời đại Mới.

Tiếp nối thành quả nghiên cứu của người đi trước cùng đề ra một vài suy nghĩ về chung quanh vấn đề nầy: Dòng thiền học Phật giáo Trúc Lâm sau đời Trần. Nay chúng tôi trình bày chủ đề trên đây bao gồm trong mấy nét lớn như sau:

 

Biến cố lịch sử

1407-1413 Trần Sau (Hậu Trần).

1413-1428 Lê Lợi kháng Minh.

1428-1527 Lê Sau (Trung hưng).

1527-1777 Lê sau (Phân hóa).

Lý do xuống dốc của Phật giáo Trúc Lâm sau đời Trần

Mất chỗ dựa từ triều đại nhà Trần: Một tổ chức Tôn giáo mà tổ chức đó có liên hệ quá sâu vào một triều đại thì tính bất ổn và hệ lụy đến với nó là điều không sao tránh khỏi. (Minh Châu Hương Hải, Nguyên Thiều-Siêu Bạch, Tiên Giác-Hải Tịnh v.v…là một điển hình)

Chiến dịch càn quét văn hóa của giặc Minh:

Tính thâm độc của giặc Minh cũng như sức tàn phá của chúng đối với văn hóa Đại Việt (kể cả văn hóa Phật giáo) quả thật là ghê gớm. Rằng, nó không dừng lại ở mức độ manh tâm, võ biền của đám quân viễn chinh chuyên cướp bóc tàn phá mà hơn thế nữa, sức tàn phá của nó lại được chỉ đạo bằng sắc chỉ của Minh Thành Tổ, được hướng dẫn thực hiện bằng văn bản, được chỉ định người chuyên môn thi hành việc tàn phá, không phải một đợt mà làm nhiều đợt, như là vào những năm 1606, 1407, 1418. Qua đó, chúng liệt kê chi tiết cụ thể theo từng thể, loại, từng hình thức văn hóa để đốt phá, tiêu diệt. Nói chung là chúng tiêu diệt tất cả “nguồn sức mạnh làm nên con người Việt Nam”. Bên cạnh đó, nhà Minh còn lập ra Tăng Cang ty, một tổ chức ngoại vi của triều đình chuyên có nhiệm vụ giám sát mọi sinh hoạt Phật giáo theo chính sách về tôn giáo đã được vạch định sẵn. Chúng còn bắt người, kiềm hãm sức sống, thiêu chột mầm non Phật giáo bằng cách cống nạp Tăng sĩ Đại Việt về Trung Quốc, người mà chúng rêu rao là: “sư Nam chẩn đàn giỏi hơn sư Bắc”. Cho nên từ sau đời Trần văn hóa Đại Việt khác nào như đống tro tàn, văn hóa Phật giáo cũng chung chịu số phận như thế.

Một trong những điển hình như thế đã là nguyên nhân đưa Phật giáo sau nhà Trần đi vào khúc quanh suy kiệt về nhiều mặt kể cả về nhân sự.

Đến thế kỷ 16, Lương Đăng trong việc tìm lại mãnh vụn văn học Phật giáo thời bấy giờ, đây là một nỗ lực đem lại kết quả lớn lao, tuy nhiên cũng không bù đắp được những gì đã mất.

 

Quan hệ nhà Lý với nhà Trần (Xem bảng)

Dòng chảy Phật giáo Trúc Lâm.

Phật giáo cuối đời Lý, quốc sư Nhất Tông được tôn vinh, ngay cái Mỹ hiệu sắc phong cho nhà sư, qua đó cho thấy ý hướng thống nhất các dòng phái thiền học làm một trước nhu cầu thời đại mới của nhà Trần.

Dòng thiền học Trúc Lâm được khởi xướng vào đầu đời Trần và chính thức thành hình bởi Trúc Lâm Điều Ngự-Trần Nhân Tông. Thiền phái nầy tiếp nối được 3 đời, đến đời thứ tư thì thế hệ Tổ Đạo bỗng nhiên gián đoạn và rơi vào khoảng trống, một khoảng trống kéo dài hơn 200 năm. Cho đến thế kỷ cuối thế kỷ 17, dòng Trúc Lâm Phương Nam được sống lại bởi Minh Châu-Hương Hải (1628-1715), điều nầy được giải thích như sau:

Nhân sự dòng Trúc Lâm chẳng những là gắn bó sâu chặt với nhà Trần mà có người còn là huyết thống gần xa với triều đại nầy nữa như Thượng sĩ Tuệ Trung-Hưng Ninh Vương là một điển hình. Do đó, dưới mắt của chính quyền xâm lược giặc Minh, những thành phần Phật giáo-Trúc Lâm nếu muốn sống còn thì phải cải dạng, dời chỗ ở, đổi họ, thay tên để được yên thân trước sự càn quét của triều đại mới.

Sau Minh Châu-Hương Hải, những người tiếp nối có tiếng thuộc thế hệ các đời như chữ Tính, chữ Hải là rất đông, theo thống kê bước đầu thì có đến trên dưới 50 người.

Chân An - Tuệ Tỉnh

Quảng Điền và Hải Lượng (người in lại Tam Tổ Thực Lục vào năm 1732?)

Hải Lượng (Ngô Thì Nhậm) lại cho ra đời sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh mà qua nội dung sách ta lại biết dưới tay Hải Lượng đại thiến sư còn có Hải Hòa, Hải Âu.

Tổng đốc Ninh-Thái Nguyễn Đăng Giai, người viết có công lớn trong việc làm sống lại sinh hoạt Phật giáo Trúc Lâm phương Nam.

Tìm hiểu thông tin liên hệ gần-xa về quá trình trôi nổi của sách Tam Tổ Thực Lục; về lược truyện ba vị tổ Trúc Lâm đời Trần là Điều Ngự-Trần Nhân Tông đến Pháp Loa-Tịnh Trí đến Huyền Quang-cùng những liên hệ gần xa với lược truyện của thiền sư Kim Sơn qua đó cho thấy lược truyện ba vị tổ Trúc Lâm đã từ văn học đi vào văn bia rồi từ văn bia được viết lại và lưu hành qua dạng văn học; sự trôi nổi thông tin đã diễn ra một quá trình thật là ly kỳ rằng tuy khi ẩn lúc hiện mà sách tổ đạo vẫn không bị mai một. Bên cạnh đó là đọc lại sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh từ đó sẽ soi sáng thêm nhiều khám phá bất ngờ nhằm làm rõ cho những bóng mờ còn bao phủ trên nền trời giáo sử Phật giáo Trúc Lâm sau đời Trần. Như vậy sự gián đoạn người tiếp nối của dòng thiền Trúc Lâm sau đời Trần là có nhiều lý do mà một trong số những lý do trên đó là hóa thân vào dòng chảy mới với lý lịch mới.

Chính vì những lý do trên, có nhà nghiên cứu cho rằng vì những lý do thời thế cho nên dòng thiền Trúc Lâm sau đời Trần đã hóa thân vào Phái thiền Lâm Tế Đàng Trong và có tên là Trúc Lâm-Lâm Tế hay Trúc Lâm Phương Nam. Nhận định trên đây là có cơ sở và có tính thuyết phục cao. Như vậy, Dòng thiền Trúc Lâm sau đời Trần không hẳn là tuyệt tích mà Dòng Trúc Lâm-Lâm Tế với lý lịch mới là Trúc Lâm-Phương Nam với người tiếp nối mới tạo nên dòng chảy mới đó là dòng Thật Diệu-Liễu Quán.

Tính đặc thù của thiền học Trúc Lâm: “Đạo Nội Thánh-Ngoại Vương”

Có nhà chuyên môn đề ra cái nhìn: nét đặc thù của Phật giáo Lý-Trần là “Đạo Nội Thánh-Ngoại Vương” mà một trong số những bậc thầy chuyên môn có thẩm quyền về vấn đề nầy và cũng là người làm rõ nét nhận định về tiêu chí trên đây đó là tiên sinh Nguyễn Đăng Thục, người được Tổng vụ trưởng Tổng vụ văn hóa GHPGVNTN phong tặng tiến sĩ danh dự trong đại hội văn hóa Phật giáo toàn quốc vào những năm 1973.

Trong Đại Tạng kinh có quyển Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh. Kinh nầy được dùng rộng rãi trong Phật giáo đời Trần qua các bản dịch của Pháp Loa-Phổ Tuệ; Và gần đây nhất là bản dịch của Thích Trung Quán, Sài Gòn 1972 với tên gọi: Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh.

Như vậy tư tưởng Nhân Vương-hộ Quốc đã là nhân tố lớn và nó được Thâu Hóa Sáng Tạo để trở nên tư tưởng Thánh Vương hộ pháp và được định hình trên dòng chảy Phật giáo Việt Nam từ nhiều thế kỷ. Tư tưởng Thánh Vương hộ pháp cũng bàn bạc trong từng khu vực Phật giáo Vùng-Miền: Phật giáo Nam Á, Phật giáo Viễn Đông như: Ấn Độ có Phật giáo Asoka, Trung Quốc có Phật giáo Lương Võ Đế; Phật giáo Tùy Văn Đế; Phật giáo Đường Thái Tông. Nhật Bản có Phật giáo Thánh Đức, Việt Nam có Phật giáo Trúc Lâm. Nói đến tư tưởng Thánh Vương thì truyền thống Phật giáo Ấn-Hoa chỉ nói chung chung mà chưa đề ra được tính chất Đồng-Dị giữa Thánh với Vương khi biểu hiện vào đời (hòa quang đồng trần). Nói khác đi là một khi đến miền đất “thỏng tay vào chợ” thì điển hình là trong cương vị một nhà vua thì lúc nào ông ta là Thánh mà lúc nào là Vương. Trong khi đó, điểm đặc thù của Phật giáo Trúc Lâm Đại Việt là bên cạnh tư tưởng học lý Thánh Vương hộ pháp theo truyền thống như truyền thống Phật giáo Ấn-Hoa, ở đây Đại Việt còn đặt định cương lĩnh học lý rõ nét hơn đó là dòng chảy Phật giáo Trúc Lâm định hình nên tư tưởng trong Thánh-ngoài Vương gọi là “Đạo Nội Thánh-Ngoại Vương” hay nói cách khác là kiến giải: Giải là Thánh mà tập hạnh; Hạnh là Vương. Chính do từ tư tưởng “Đạo Nội Thánh-Ngoại Vương” mà Phật giáo Trúc Lâm đã ban tặng cho Đại Việt ít nhất là 2 vị vua vào hàng “Đạo Nội Thánh-Ngoại Vương” đó là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Với Trần Thái Tông thì “Trẫm bỏ ngôi báu như trút đôi dép rách” còn với Hương Vân đại đầu đà-Trần Nhân Tông thì du hóa khắp cả nước mà rao giảng thông điệp Cư Trần Lạc Đạo. Cả hai là những con người mà Hạnh-Giải đã từng được ca tụng vào hàng “Cõi nước vô lậu mời không ở, ra bãi sương mù cát lạnh nằm? (Vô lậu quốc trung lưu bất trụ, khướt lai yên ổ ngọa hàn sa).

Phật giáo Trúc Lâm vốn nội hàm tư tưởng Nhân Vương, nó không những là thềm bậc bước lên phương trời cao rộng của vùng đất Thánh Vương mà hơn thế nữa nó chính là nội Thánh-ngoại Vương hay nói cách khác, Phật giáo Trúc Lâm với chủ trương: Cư Trần Lạc Đạo rằng ngay trong cuộc sống đời thường nầy mà xuất sinh những bông hoa giác ngộ; rằng cũng chính từ đất Tùng Địa Dũng Xuất nầy mà lập địa thành Phật đó vậy. 

Tinh thần Thông Điệp Phật giáo Trúc Lâm Phương Nam

Tinh thần Thông Điệp Phật giáo Trúc Lâm Phương Nam là gì? Hay tính đặc thù của Dòng Trúc Lâm-Lâm Tế (dòng Trúc Lâm Phương Nam) là gì? Đó là tính Dung Hợp mà rõ nét nhất là dung hợp qua tu tập và truyền giáo. Lời bạt sau sách Khóa Hư Lục đã phác họa nét chính chân dung về tinh thần thông điệp nầy, sách viết:

Ngồi thiền là vào cảnh giới Phật.

Trì chú là học hạnh Phật.

Niệm Phật là nghĩ nhớ ơn Phật.

Tụng Kinh là tán dương lời Phật.

Thuyết pháp là làm sáng tỏ bản nguyện độ sanh của Phật nơi đời.

Giảng kinh là làm sáng tỏ ý chỉ của Phật nơi đời.

Thì giờ dễ luống qua, thời khóa tu tập đừng để cho luống qua.

(Thời khắc hư dã, công khóa thời bất khả hư dã)

 

Nhìn lại,

Sau đời Trần (1400+) có còn nghe nói đến thông điệp Phật giáo Trúc Lâm nữa không? Ngài Minh Châu-Hương Hải (1628-1715); Ngài Quảng Điền và Hải Lượng; Ngài Thật Diệu-Liễu Quán (1667-1742)… những đại diện tiêu biểu trên đây đã cho thấy chân hình Phật giáo Trúc Lâm như là còn bàn bạc đâu đây qua Sông-Núi trước chùa, qua thông điệp Cư Trần Lạc Đạo của mỗi lần kỷ niệm Đản sanh bậc Thầy cao cả  hóa thân vào với dòng chảy Lâm Tế-Đàng Trong để định hình dòng chảy mới: dòng Trúc Lâm-Lâm Tế hay còn gọi là dòng Trúc Lâm Phương Nam tức Trúc Lâm sau đời Trần, một hậu duệ của Trúc Lâm Yên Tử đời Trần.

Những gì được biết thêm về thiền phái Trúc Lâm sau đời Trần (từ 1400+) hiện còn là chủ đề bàn cải có sức thu hút rộng rãi trong giới nghiên cứu. Mặc dù đã có đó đây một số đề tài nghiên cứu chung quanh chủ đề nầy, một nỗ lực hơn nữa đang cần sự đóng góp của nhiều người. Những suy nghĩ trên đây còn nhiều hạn chế và cần được bổ xung trong những nghiên cứu tiếp theo.

Giới thiệu ngôi nhà chung Phật giáo gồm mấy nét lớn là: ngồi thiền, trì chú, niệm Phật, tụng kinh, thuyết pháp, giảng kinh. Qua đó thông điệp Phật giáo Trúc Lâm Phương Nam muốn truyền đạt rằng những sai biệt trong tu tập đều chung qui về một (nhất quán), cái một đó chính là tinh thần “tương thủ thâm tâm phụng trần sát” hay nói gọn lại là tinh thần phụng Phật. Trong khi phụng Phật là cương lĩnh Phật giáo thì phương chân hoằng pháp Phật giáo Việt Nam là: “Bồ Tát thấy dân kêu ca liền lăn xả vào nơi hiểm nạn để cứu chúng sanh lầm than” như tinh thần thông điệp Khương Tăng Hội đã từng diễn nói trên đất Giao Châu. Một nỗ lực không ngừng, một tâm nguyện trung kiên, một con đường đã vạch cho người con Phật Việt Nam; một lộ trình đã đi, đang đi và ngày đến đích Cư Trần Lạc Đạo đang hiện ra phía trước.

 

KIẾN TRÚC PHẬT GIÁO QUA CÁC THỜI KỲ ^

 

Trần Lan Chi

Phần 3:

Kiến trúc Phật giáo thời Lê Sơ và thời Mạc 

+ Kiến trúc Phật điện

Mặt bằng Phật điện phổ biến là một khối nhà hình chữ công gồm tòa Thượng Điện thờ Phật một gian hai chái (còn gọi là hậu cung), tòa Bái Đường song song với tòa Thượng Điện dùng làm nơi hành lễ của Phật tử (còn gọi là Tiền Đường). Tòa Thiêu Hương là tòa nhà nối giữa Bái Đường và Thượng Điện, là nơi để lễ Phật và thắp hương (tên gọi dân gian là tòa ống muống).           

Kết cấu các công trình kiến trúc Phật giáo thời Mạc về cơ bản giống với kiến trúc Phật giáo thời Trần. Các cột được liên kết với nhau bằng các vì kèo tạo thành bộ khung đỡ toàn bộ sức nặng của mái nhà. Trên cùng hai cột cái nối với nhau bằng một câu đầu lớn úp chụp từ trên xuống. Cột cái nối sang hai cột quân bằng các xà nách nhỏ. Trên các câu đầu và xà nách là các bộ phận liên kết con rường và đấu vuông thót đáy đỡ hoành. Càng lên cao, con rường càng ngắn lại do mái nhà thu lại. Rường cánh trên cùng, chân mộng được tạo như một chốt khóa vững chắc ăn sang bên kia thân cột được tạo hình đầu dư trang trí hình rồng. Các bộ khung được nối bằng các xà dọc (thường gồm hai xà song song là xà thượng và xà hạ), ngạch, dầm (nối các chân cột với nhau) tạo thành một thể thống nhất và ổn định. Vì kèo kiểu chồng rường phổ biến trong thời kỳ này (nguồn gốc vì chồng rường từ kiến trúc Trung Quốc được du nhập vào nước ta rất sớm) có độ bền vững và ổn định hơn loại vì kẻ chuyền của văn hóa bản địa. Tuy vậy, trong quá trình tiếp thu của từng thời kỳ, vì kèo chồng rường cũng có những biến đổi cho phù hợp với văn hóa bản địa mang những đặc trưng riêng của từng thời. Các vì chồng rường cuối Trần hai trụ đấu giữa của vì nóc được nâng cao tạo thành một khoảng trống cho các trang trí lá đề, thì sang thời Mạc, các trụ trên vì nóc ngắn, phía trong khoảng trống được bịt kín bằng “ván rốn nhện”. Các quầng sáng nhọn đầu chỉ còn là một đường khắc chìm chạy viền quanh tấm ván đó. Phía trong các đường viền không trang trí những hình rồng trang nghiêm nữa, mà có bố cục sinh động hơn với những hình hổ (chùa Bà Tấm), hình thú (chùa Cói).

Vì kèo chùa nói chung đơn giản do quy mô chùa thời này thường không lớn, gồm 4 hàng cột (2 cột cái ở giữa, hai cột quân hai bên), riêng chùa Cói có 6 hàng cột nhưng có thể hai hàng cột hiên được thêm vào ở thời kỳ sau. Kết cấu kiến trúc chùa Cói dựa trên 4 cột cái ở giữa, tạo thành 2 bộ vì giá chiêng đỡ mái. Bốn cột cái nối ra các cột quân và cột hiên bằng những cốn và xà nách tạo thành dạng kiến trúc một gian hai chái, 4 mái hình vuông. Bộ vì theo kiểu chồng rường, bẩy hiên nhưng tạo cho ngôi chùa có vẻ thoáng đãng hơn và nhẹ nhàng hơn so với thời Trần.

Mái nhà của các tòa thường là 4 mái, hai mái chính chạy dọc và hai mái phụ hai bên. Người ta đắp gờ diềm nổi cao giữa các mặt mái (giữa hai mái chính gọi là bờ nóc, và giữa mái chính và mái phụ gọi là bờ dải). Trang trí hai đầu bờ nóc là những con kìm được đắp cao dưới hình dạng đầu rồng. Góc đao được uốn cong bởi nhiều phiến đất nung mỏng được kê chốt chặt chẽ (khác với kiểu đầu đao lá mái của đình làng) nên bộ mái không có tính bay bổng nhiều. Đây có thể là sự bảo lưu lối cấu trúc cũ từ nguồn gốc phương Bắc, về sau mái đao chùa mới được thực sự uốn cong theo kỹ thuật truyền thống của mái đình.

+ Vật liệu và kỹ thuật xây dựng

Thời Mạc, vật liệu chủ yếu vẫn sử dụng vật liệu gỗ, gạch, đất nung và đá trong xây dựng tháp và chùa. Các công trình truyền thống thường sử dụng vật liệu gỗ (gỗ lim, gỗ đinh, gụ, táu)... cho hệ thống kết cấu khung cột, hệ thống cửa, rui hoành... Ðá thường được sử dụng là đá nguyên khối từ đá ong, đá sa thạch, đá xanh... sử dụng trong nền, bậc cấp, chân tảng.

Một số vật liệu đất nung hiện còn từ thời Mạc không thể không kể đến là các dạng gạch vồ trang trí hình con thú, lá cây độc đáo cỡ 39 x 16 cm, gạch trang trí chữ vạn 40 x 20 cm.

Trên đỉnh nóc là ngói cong máng úp thường gọi là ngói bò. Ngói mũi hài (phía trên mỏng, phía dưới dày nhô lên hình mũi hài) dày và lớn được tìm thấy ở chùa Mui, chùa Trăm Gian với kích thước thường thấy là 32 x 22 x 3cm, mũi ngói cong cao 6,7cm được sử dụng để lợp mái. Các viên ngói có gờ nổi cao để bám chắc vào hệ thống rui mè của sườn nhà. Cuối dốc mái là hàng ngói giọt gianh mũi thẳng rộng 25 cm, dài 40 cm.

Kỹ thuật xây dựng thời Mạc kế thừa từ những thời kỳ trước đặc biệt là thời Trần thể hiện qua giải pháp xây dựng. Chùa chữ “công” phát triển từ hai ngôi chùa chữ “đinh”, thành hai gian chữ nhất nối với nhau bằng ống muống. Bộ vì kèo gỗ theo kiểu chồng rường và bẩy hiên tạo cho công trình có dáng dấp bề thế nhưng thanh thoát hơn.

Những thợ đá tài hoa của một thời Lý Trần đã bị giặc Minh tàn sát và bắt bớ khiến nghề đá dưới thời Lê Sơ và thời Mạc không thể phục hồi. Dường như nghề đục đá phải bắt đầu mới hoàn toàn với một thế hệ nghệ nhân mới. Thời này ta không bắt gặp các kiệt tác bằng đá xanh như thời Lý Trần. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nghề chạm khắc gỗ thời Mạc vẫn tiếp thu được những đường nét tinh xảo thời trước, các kỹ thuật chạm thủng chạm bong được phát triển hoàn hảo. Bí quyết làm cho các kiến trúc gỗ bền vững, hệ khung cân bằng ổn định, bên cạnh việc chọn vật liệu (gỗ to, gỗ tốt, đá cứng hay gạch nung già) hay sự tính toán hợp lý của người xưa về cả hình học, vật lý, cả về mỹ thuật và kỹ thuật thi công xây dựng đã được kế thừa và áp dụng.

+ Trang trí, điêu khắc

- Tuy những bức chạm đẹp có giá trị về trang trí điêu khắc thời Lê Sơ không có mặt trong các công trình Phật giáo, nhưng bài viết cũng đề cập sơ qua để bạn đọc nắm được dòng chảy liên tục của nghệ thuật mỹ thuật nước nhà. Đầu thời kỳ Lê Sơ, giai cấp phong kiến chưa bị ảnh hưởng của văn hóa phương Bắc nên hoa văn truyền thống được sử dụng nhiều. Những đường nét tinh tế, chắc khỏe từ thời Trần được kế thừa và đổi mới. Sự chắc khỏe trong hình khối và hình thái biểu hiện hoàn chỉnh của các mẫu hoa văn trang trí cũng như sự hài hòa trong bố cục.

Về sau, điêu khắc thời Lê Sơ sử dụng thủ pháp cân xứng, đăng đối, dường như ở mỗi tác phẩm đều dựa trên trục thần đạo. Hình rồng thời kỳ này về mọi thành tố thì cơ bản vẫn được kế thừa từ thời kỳ trước nhưng có những điểm khác biệt như mồm kiểu mõm thú, dài nhô ra trước, tư thế chính diện hay nghiêng thì hai con mắt vẫn tròn lồi, mũi sư tử, hình thức dữ tợn, chi tiết nghệ thuật không còn lãng mạn mà có tính chất cung đình chính thống, xa rời nghệ thuật dân gian. Hình tượng rồng mang những yếu tố của rồng Trung Hoa (mắt quỷ, miệng lang, sừng hươu, tai thú, trán lạc đà, mũi sư tử, thân rắn, vẩy chép, chân cá sấu, móng chim ưng…)

Loại hoa văn hình sóng nước cũng tương đối phổ biến trong nghệ thuật trang trí thời Lê Sơ (xuất hiện tại các diềm chân bia và bệ tượng). Nghệ thuật trang trí hình sóng mang tính tả thực, hoa văn sóng nước ngoài kiểu uốn lượn hình sin kế thừa thời Lý và Trần có đơn giản hóa trong chi tiết, thì xuất hiện thêm kiểu các ngọn sóng cung tròn đồng tâm nối tiếp nhau tạo thành nhiều lớp, ở chính giữa có hình sóng bạc đầu với những bọt hình hoa, đây là dạng hoa văn mang đậm tính ngoại lai (phổ biến trong nghệ thuật trang trí phương Bắc thời Minh). Hoa văn trang trí thời Lê Sơ khá phong phú, hình mây là sự phát triển của hình mây thời Lý sang thời Mạc và Lê Trung Hưng. Các trang trí hình mây trời thường gặp là những cụm mây xoắn ốc hai đầu, đè so le lên nhau hoặc quấn lấy nhau tạo thành lớp, ngoài ra mây kéo dài hình như ngọn lửa cũng thường gặp ở thời kỳ này. Ngoài ra, trang trí thời Lê Sơ còn có loại hoa văn hình sừng nhọn và u tròn chạm nổi trên bệ đá.

- Sang đến thời Mạc, mỹ thuật trở nên tương đối đa dạng, được thể hiện trên các chất liệu gỗ tinh tế, trên đá tả thực thô vụng, trên gốm điêu luyện phóng khoáng. Trong cách tạo tác, nghệ nhân không bị bó buộc vào quy luật cụ thể nào. Các bộ phận chạm khắc trên cùng một mảng chạm luôn đầy đủ chi tiết cả khi nhìn nghiêng và tỉ lệ không được chú ý nhiều.

Trong nội thất các công trình chùa thời Mạc, các nghệ nhân tận dụng mọi thành phần kiến trúc để trang trí làm đẹp thêm cho tác phẩm. Các đầu bẩy, đầu dư, cốn, lá gió… được biến thành những trang trí vô cùng đẹp mắt với các đề tài như rồng, phượng (chùa Trà Phương, gạch chùa Trăm gian), lân (bệ tượng chùa Ngo, gạch chùa Bối Khê) sóng nước, mây lửa, hoặc một số con vật như hổ (gạch chùa Sổ, chùa Trăm Gian), hươu (gạch chùa Trăm Gian), voi (gạch chùa Trăm Gian), ngựa (chùa Trăm gian, chùa Đậu, Bà Tấm). Các bức chạm về cảnh sinh hoạt của con người như cảnh dắt ngựa cho quan, cầu hiền, cưỡi hổ báo (chùa Cói). Các tượng gắn trên kiến trúc như nhạc sĩ và vũ nữ thiên thần được tạc trên các đòn tay nhô ra từ đấu ba chạc (chùa Đông - Hà Tây).

Đề tài trang trí liên quan đến lực lượng thiên nhiên (hoa cúc, mặt trời) được chạm giữa các bông hoa sen nở (bệ chùa Cập Nhất - Hưng Yên), hoặc mặt trời chạm riêng biệt, tỏa đao sáng hai bên (chùa Dâu - Bắc Ninh). Các cặp sừng nhọn đặt chéo nhau (tượng trưng cho linh vật) đi đôi với nhau tạo thành lưỡng nghi (âm dương) và các u tròn (tượng trưng cho sự giao kết của lưỡng nghi). Nền dưới các cặp sừng và u tròn thường thấy là loại cây thiên mệnh với những đường nét khúc khuỷu ấp ủ nguồn sinh khí. Tất cả hệ thống đó tạo nên một nguồn năng lượng vô biên làm nảy sinh cây trồng, muôn loài phát triển dưới sự bảo trợ của Phật và Bồ Tát. Lá và hoa sen cũng là một đề tài phổ biến mang tính tinh tế, thanh khiết, chiếc lá sen được chạm trên nền sóng nước, hoặc làm bệ đỡ cho các dạng hồi văn, đôi khi đỡ các cặp sừng và u tròn… Các đề tài vân xoắn (thể hiện cho tia chớp) chạm thủng, hoặc được xếp ken vào nhau, hoặc làm trung tâm mảng chạm, hoặc làm nền cho các linh thú thường đi cùng với các đao mác (tượng trưng cho tia sáng) được tìm thấy phổ biến trong chạm khắc kiến trúc đình chùa.

Rồng thời Mạc đẹp về hình thức và gần gũi về tinh thần giống như rồng thời Lý. Tuy nhiên, hình tượng con rồng đã thoát ra khỏi biểu tượng của vương quyền mà chỉ còn mang ý nghĩa quyền lực huyền bí. Tượng rồng chạm tròn có nhiều loại mang phong cách khác nhau, loại đầu mang phong cách thế kỷ 13, 14 nhưng chắc khỏe hơn, các cụm mây lớn và ít dày đặc, đôi khi chạm khắc rồng đưa chân lên vuốt râu, nhiều sóng cuộn dưới bụng. Loại thứ hai ảnh hưởng phong cách Lê Sơ thì phần mặt nhất là mồm đã được rút ngắn lại bớt dữ tợn hơn (chùa Cói), thân ngắn, mập, kèm trên thân là các đao mảnh chạm bong. Loại thứ ba là hình rồng kết hợp cả hai phong cách trên với mũi to, tai và sừng hai chạc, trán ngắn nhưng dáng khỏe chắc theo kiểu rồng Trần nhưng không có mào, được kết hợp với những mảng vân xoắn lớn (chùa Ngo, chùa Bối Khê). Còn một số hình rồng rải rác mang đầy tính dân gian như thân nhiều đoạn gẫy vuông góc (bệ tượng Quân Âm chùa Hạ - Vĩnh Phúc), nhiều bia với niên đại xác định cũng có những hình rồng khác nhau không ổn định phong cách chung, chỉ có một điểm chung là hay được chạm đi kèm với vân xoắn và đao nhọn điểm xuyết hoa văn chữ S, bộc lộ tư duy dân dã về sức mạnh thiên nhiên ẩn chứa trong hình dạng rồng.

Một vài đặc điểm khác biệt nhận thấy giữa thời Mạc so với thời kỳ trước là: trang trí thời Lý Trần gồm những đề tài đề cao Phật giáo hoặc thống nhất và mang ý nghĩa cụ thể nào đó. Thời Lê Sơ ảnh hưởng tạo hình của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các linh vật. Sang thời Mạc, bên cạnh các đề tài truyền thống có xuất hiện những mảng chạm mang những nét phản ánh đời thường và tính dân dã mạnh dần.

+ Bài trí tượng thờ

Một số tượng tròn nổi tiếng có niên đại tuyệt đối dưới thời kỳ này đã đóng góp một phần không nhỏ vào kho tàng mỹ thuật nước nhà. Tượng Phật Bà ngàn mắt ngàn tay, biểu tượng của lòng từ bi bác ái tại chùa Hạ, tượng Quan Âm Nam Hải ở chùa Cập Nhất năm 1582, các tượng Tứ Pháp… Các tượng thờ vẫn bộc lộ khuynh hướng tượng Phật chính thống mặc dù nhiều chi tiết đã được biến đổi mang tính dân gian. Phong cách tạc tượng thời kỳ này là sự nối tiếp của tượng tròn thời Lý, những biểu hiện quý tướng của Phật trong vẻ đẹp trầm tư, thân mình sang quý, nếp áo rủ mềm mại. Những điểm dễ nhận nhất của các tượng tròn thời kỳ này là thân ngắn vai xuôi, lưng tròn eo nhỏ. Nhiều pho tượng đẹp tạc bằng gỗ mít, gỗ hoàng tâm, đặc biệt là tượng Quan Âm hiện còn nguyên vẹn cho tới ngày nay với dáng vẻ trầm ngâm suy tư thế sự mà trong sáng, nhân hâu, truyền tải được sự từ bi trong từng nét điêu khắc. Tượng Quan Âm được mô tả trong tư thế ngồi thiền, đứng, trong hình dạng Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn (hoặc dạng Việt hóa Phật mẫu Chuẩn đề).

Hệ thống tượng thời Mạc cũng đa dạng phong phú hơn các thời kỳ trước cho thấy sự phát triển nghệ thuật tạo hình và là sự minh chứng cho sự giao lưu của Phật giáo với các tôn giáo khác. Phật giáo được dân gian hóa thích ứng với yêu cầu của xã hội đương thời. Những tượng Phật theo quan niệm dân gian được thờ phổ biến trong các Phật điện. Ở thời Mạc, ghi nhận được trong điện thờ các dạng tượng Tam thế (chùa Nành, chùa Dâu, chùa Lệ Mật, chùa Trà Phương), tượng Quan Âm (chùa Cập Nhất, chùa Hội Hạ, chùa Thượng trưng, chùa Ngo, Bối Khê, Đa Tốn), Thích Ca cửu long. Bên cạnh đó có tượng Ngọc Hoàng (chùa Vua - Hà Nội, chùa Ngo), tượng Tứ pháp (tượng Pháp Lôi hiện đặt tại chùa Thái Lạc), thiên thần và nhạc công thiên thần, tượng diêm vương… Các hình tượng vua, công chúa dưới hình thức Phật tử. Có thể kể đến tượng Mạc Đăng Dung được tạo tác mang dáng dấp giống với tượng Ngọc Hoàng, phù điêu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ Mạc Đăng Dung sử dụng chất liệu đá vôi tại chùa Trà Phương - Hải Phòng.

- Kết luận phần 3

Trong vòng hai mươi năm đầu, mỹ thuật thời Lê Sơ với phong cách phóng khoáng, ngôn ngữ tạo hình trong sáng, là tiền đề nối nguồn mỹ cảm dân gian thời Trần đến những thế kỷ sau. Một điều đáng tiếc trong thời kỳ này, tuy là thời kỳ mở đầu cho nghệ thuật dân gian phát triển lại không có đóng góp của kiến trúc Phật giáo do sự bảo thủ của hệ tư tưởng phong kiến. Về sau, dưới ảnh hưởng của nghệ thuật phương Bắc, tính dân tộc trong kiến trúc thời gian đó bị mờ nhạt, nghệ thuật cung đình phát triển với những cách biệt và ưu thế rõ rệt. Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này không kéo dài lâu, về cơ bản, ý thức dân tộc vẫn chi phối tư tưởng xã hội. Tinh thần yêu nước, ý chí độc lập đã là nguồn sức mạnh nuôi dưỡng nền văn hóa mang tính dân tộc, thoát khỏi những tác động ngoại lai do Nho giáo đem lại.

Kiến trúc thời Mạc ngoài những nét kế thừa của nền mỹ thuật và kiến trúc thời Lý Trần, đồng thời còn mang đậm những nét riêng biệt của thời Lê Sơ, thời Mạc còn tạo nên một sự đổi khác trong mỹ thuật, đánh dấu bước chuyển tiếp từ nghệ thuật chính thống sang nền mỹ thuật dân dã. Mỹ thuật Mạc vô cùng đa dạng vì thế, xen lẫn những hoa văn cao quý là những họa tiết giản đơn, xen lẫn sự trang nghiêm là nét phóng túng… Thời Mạc, chỉ một giai đoạn ngắn trong lịch sử đã có những tác động đến phương diện kiến trúc nói chung và kiến trúc Phật giáo nói riêng. Nền nghệ thuật dân gian được dịp trỗi dậy mạnh mẽ, các chùa làng được xây dựng và tu bổ nhiều góp phần tạo nên một nền mỹ thuật có giá trị thẩm mỹ cao. Khác với thời Lê Sơ, nghệ thuật hướng ngoại và bế tắc, thời kỳ này đã đưa nghệ thuật dân tộc trở về với vị thế của mình. Điều này, một lần nữa minh chứng cho truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, cho dù bị tàn phá, bị lai căng, bị thể chế chi phối… vẫn luôn hướng đến Chân Thiện Mỹ mang sắc thái riêng mình.❑

 

Tài liệu tham khảo:

Lê Mạnh Thát. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam tập 1 (1999), tập 2 (2001), tập 3 (2002), NXB Tp. HCM

Trần Lâm Biền. Chùa Việt. NXB VH-TT 1996

Nguyễn Ðăng Duy. Văn hoá tâm linh. NXB VH-TT 2001

Nguyễn Ðức Nùng và các tác giả. Mỹ thuật thời Lê Sơ. NXB VH năm 1979

Nguyễn Tiến Cảnh, Nguyễn Du Chi, Trần Lâm, Nguyễn Bá Vân. Mỹ thuật thời Mạc. Viện Mỹ thuật năm 1993 

 

HIỆN TẠI AN LÀNH ^

 

CHÂN HỮU

Thời gian như những đám mây trắng lững lờ trôi trên nền trời trong xanh. Những chú chim đang líu lo khắp cả khu rừng. Mấy bông cỏ dại bên triền đồi, khiêm nhường khoe sắc thắm như đang hân hoan trong những khoảnh khắc đang là…

Hiện tại luôn an lành khi ta biết mở trái tim mình ra với vạn vật xung quanh, và khi ấy ta sẽ cảm nhận những điều tuyệt diệu mà sự sống luôn luôn ban tặng. Một chiếc lá vàng rơi bên kia lối mòn, tiếng côn trùng vang vang như đang ẩn hiện đâu đó, những tia nắng lấp lánh trên những thân cây…tất cả đều chứa chan sự tương hòa, bình đẳng, không phân biệt của sự sống bao la muôn thuở.

Nếu chúng ta biết luôn trở về nơi hiện tại đang là, nhìn ngắm vạn vật với tâm tư hồn nhiên, ta chợt thấy ra những điều mới lạ, hạnh phúc vốn trọn vẹn ở nơi đây và bây giờ. Tất cả mọi thứ trên cuộc đời dù quí giá đến đâu cũng chỉ là vô nghĩa nếu chúng ta sống hời hợt trên bề mặt của tâm trí và bỏ quên hiện tại đang là, mà ở đó nhịp sống luôn dạt dào vô tận!

Trở về hiện tại để nhận chân được bản chất của cuộc đời, của con người và của vạn vật vốn là một nguồn sống trôi chảy không ngừng trong tình yêu bao dung vô ngã tính.

Vâng, trở về hiện tại, không phải để tìm kiếm hay cầu khẩn điều gì; mà chỉ giản đơn để nhìn ngắm và lắng nghe những gì bên trong và quanh ta. Ngay lúc ấy, ta sẽ hưởng được niềm hạnh phúc sâu thẳm lạ lùng, trong từng khoảnh khắc an lành của hiện tại.❑

 

ẨN SĨ LỪA DỐI ^

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên, đức Thế Tôn kể câu chuyện này về một kẻ lừa đảo.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con Tắc kè. Bấy giờ, có một ẩn sĩ khổ hạnh sống trong một thảo am gần một ngôi làng ở vùng biên địa. Vị này đã chứng được năm Thắng trí và rất được dân làng kính trọng. Trong khi đó, Tắc kè sống tại một gò mối nằm ở cuối con đường mà vị ẩn sĩ đi kinh hành, và mỗi ngày hai hoặc ba lần Tắc kè đi đến chỗ ẩn sĩ để nghe giảng pháp. Và vì kính trọng bậc giới đức này nên Tắc kè đã rời bỏ trú xứ của mình để đến đấy sống. Sau một thời gian, vị ẩn sĩ tạm biệt dân làng và ra đi. Khi vị này đi rồi, có một ẩn sĩ giả dối đến thảo am ấy sống. Nghĩ rằng người mới đến này cũng đầy đủ giới đức, Tắc kè đã đối xử với ông ta như đối với vị ẩn sĩ trước đây.

Một hôm, vào mùa khô hạn, một cơn mưa dông bất chợt đổ xuống và trận mưa đã làm cho những con kiến bò ra khỏi tổ. Rồi khi những con tắc kè bò ra ngoài để ăn kiến, chúng đã bị dân làng bắt đi rất nhiều. Chúng được xào trộn với dấm và đường để đem cúng cho vị ẩn sĩ. Khoái khẩu với món ăn này, vị ẩn sĩ bèn hỏi đó là món thịt gì và được trả lời cho biết đó là món thịt tắc kè.

Nghe thế, vị ẩn sĩ nghĩ ngay đến con Tắc kè xinh đẹp sống gần thảo am của mình và quyết định giết chết nó để ăn thịt. Thế là ông ta chuẩn bị sẵn xoong chảo cùng với gia vị để xào nấu thịt tắc kè. Rồi dấu một cái vồ bên dưới chiếc y, ông ta ngồi nơi cửa thảo am chờ Tắc kè đến với một thái độ hết sức bình thản. Vào buổi chiều, Tắc kè đi đến. Và khi đi đến gần, Tắc kè nhìn thấy vị ẩn sĩ ấy hoàn toàn không giống với thường ngày: ông ta ngồi chờ mình với một thái độ báo hiệu điều gì đó không tốt sắp xảy ra. Đứng phía dưới ngọn gió từ hướng thảo am của vị ẩn sĩ, Tắc kè ngửi thấy mùi thịt tắc kè, và ngay lập tức nhận ra rằng chính mùi vị thịt tắc kè đã khiến cho ẩn sĩ kia muốn dùng vồ giết mình ăn thịt. Vì thế, Tắc kè bèn quay lại hang của mình mà không viếng thăm vị ẩn sĩ nữa. Nhìn thấy Tắc kè không đến, vị ẩn sĩ nghĩ rằng Tắc kè chắc đã đoán biết mưu đồ của mình, và ông ta phân vân không biết vì sao Tắc kè lại biết được điều đó. Quyết không để Tắc kè trốn thoát, vị ẩn sĩ liền rút cái vồ ra và ném vào Tắc kè, nhưng cái vồ chỉ trúng vào mút đuôi. Nhanh như cắt, Tắc kè chạy vội vào hang, rồi sau đó thò đầu ra một cái lỗ khác và nói:

- Này kẻ lừa dối bất lương kia, y áo của người đã khiến cho ta tin ngươi, nhưng bây giờ ta biết được bản chất thấp hèn độc ác của ngươi. Một kẻ ăn cướp như ngươi thì có xứng đáng khi khoác y áo ẩn sĩ không?

Quở trách vị ẩn sĩ lừa dối như vậy xong, Tắc kè đọc lên bài kệ này:

Tóc bện cùng với y vỏ cây

Phải chăng bắt chước vị trước đây?

Ngươi thật không phải người giới hạnh

Dơ bẩn xấu xa ngươi chứa đầy.

Bằng bài kệ này, Tắc kè đã vạch trần tâm địa độc ác xấu xa của vị ẩn sĩ, rồi sau đó rút vào trong gò mối. Còn vị ẩn sĩ khổ hạnh độc ác kia sau đó đã bỏ đi nơi khác.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, kẻ lừa dối này là ẩn sĩ độc ác, Xá-lợi-phất là vị ẩn sĩ có giới hạnh mà trước đó đã sống ở thảo am, còn ta chính là con Tắc kè.

(Tiền thân Godha, số 138, dịch từ bản tiếng Anh)

 

Lời bàn:

Khoác lên mình chiếc áo của một người tu, bề ngoài tỏ ra có đầy đủ đức hạnh, nhưng bên trong lại đầy tham dục và dối trá thì đây là một kẻ nguy hiểm và đáng sợ nhất. Bởi vì với một hình thức bề ngoài như vậy, kẻ này rất dễ dàng đánh lừa người khác, vì thói thường người ta vẫn hay nhìn nhận người khác qua hình tướng bên ngoài. Câu chuyện Tiền thân trên đây là một minh chứng cho điều đó:

Vị ẩn sĩ kia là một kẻ đầy tham dục, lòng còn chứa đầy dối trá, nhưng với y áo và cái lốt của một ẩn sĩ, ông ta đã dễ dàng đánh lừa được tắc kè trong một thời gian dài. Và tắc kè, vì tin tưởng và tôn kính, chút nữa đã bị mất mạng vì con người này. Nhưng may cho tắc kè là cuối cùng nó đã kịp phát hiện ra được bản chất của con người này. Và lời mà tắc kè nói với vị ẩn sĩ được trích dẫn lại sau đây là điều khiến chúng ta cần phải suy ngẫm, và cũng là bài học được rút ra từ câu chuyện này: “Này kẻ lừa dối bất lương kia, y áo của người đã khiến cho ta tin ngươi, nhưng bây giờ ta biết được bản chất thấp hèn độc ác của ngươi. Một kẻ ăn cướp như ngươi thì có xứng đáng khi khoác y áo ẩn sĩ không?”

 

DÒNG SÔNG KHÔNG TÊN ^

PHƯỚC TÂM

“Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, có thể hòa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên chim mây cây cỏ” (thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ oán, nhĩ chi sư phụ, viễn chi sự quân, đa thức cư điểu thú, thảo mộc chi danh) -Luận ngữ.

“Thơ phát xuất từ lòng người ta” - Lê Quý Đôn

“Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” (Lamactin).

Thơ là tiếng nói hàm súc mà đa nghĩa, cô kết mà ý thì bao la; nếu như lòng người như biển cả sâu thẳm, khó lường, thì thơ chính là biển cả khó lường ấy. Nói như Nguyễn Cư Trinh trong “Phủ biên tạp lục”: Lòng người là thứ khó lường nhất lại phát ra làm thơ, và ngụ ý trong thơ, do đó cũng khó hiểu. Thế nhưng, để hiểu “tâm thơ” này hay bất kỳ tâm thơ nào, chỉ có một con đường duy nhất - là phải hòa mình vào bản đàn của vũ trụ, bằng con đường đồng cảm: hiểu và thương, ta mới có thể lắng nghe được những thanh âm rì rào, những nỗi buồn niềm vui trong thế giới nội tâm diệu vợi của họ.

 Bây giờ, tôi thử làm cuộc thoát xác; làm một ly nước yêu thương nóng hổi, bốc hơi lên những lớp sóng hư vô, quyện hòa cùng sương khói, lược khắp không gian, hy vọng lúc ấy sẽ bắt gặp nhiều hồn thơ, trong đó có cả tâm thơ này. Chỉ có ly nước thoát hơi mới mong gặp một cuộc tình yêu rộng lớn và lâu bền, nhà Phật gọi đây là “Nhi hưng đại bi tâm” (Khả tính vô biên của tình yêu tỉnh thức). Còn như, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở một ly nước nguội, ứ đọng trong phạm vi nhỏ hẹp với mọi cái buồn vui xao xuyến, e có lẽ mỗi thân phận của chúng ta sẽ ngộp thở mất. Hãy tập thương yêu mọi người xung quanh, nơi ấy sẽ trùng phùng một tình yêu cao khiết, vĩnh hằng. Đây là toàn bộ ý nghĩa của bốn chữ: “Dòng sông không tên” hay nói khác đi, là cái “có” lồng trong cái “không”, cái tiểu ngã lồng trong cái đại ngã, một ý nghĩa rất giải thoát, rất Phật giáo.

- Chúng ta hãy lột bỏ mọi ý niệm vị kỷ thấp hèn, lắng đọng tâm tư, nghe hồn thơ thổn thức - ước nguyện:

Kiếp sau xin hóa dòng sông,

Cho bao người rửa sạch lòng thế gian.

Đọc lên câu thơ ta nghe như có nỗi niềm khổ đau bất tuyệt đang ẩn dấu sau lớp vỏ ngôn ngữ mang nghĩa rộng lớn. Cuộc đời toàn là nước mắt đầy vơi; biển là nơi hội tụ bao dòng nước mắt của mọi người, là nơi dung chứa hết thảy niềm vui nỗi buồn của chúng sanh, thật đúng đắn khi nhà Phật tuyên bố: Đời là biển khổ (hay bể khổ). Với ý nghĩa đó, con người ta nếu có ý thức sống một cuộc sống tốt đẹp, họ sẽ chán chường khi nhìn vào thực tại đầy rẫy sự bất công và tẹp nhẹp... muốn sống yên thân cho qua ngày đoạn tháng cũng không được, môi trường xung quanh đã đưa đẩy, làm tổn thương đến mọi ý niệm đẹp đẽ của con người, làm nát tan những hạt giống Bồ-đề vốn trong sáng và mầu nhiệm. Đây là nội dung của “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”. Và vì vậy, con người ta có khuynh hướng chạy trốn kiếp người, thích hóa thành một cái gì đó sao cho đừng còn một trí thức suy nghĩ, thà làm gỗ đá ở tận rừng sâu, thà làm con suối róc rách bên người. Câu thơ hết sức cởi mở, nhưng thực chất (chỉ) là sự bỏ cuộc, sự lẫn tránh, giống như sự chạy trốn của Nguyễn Công Trứ:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”

Hai hồn thơ ở hai thế kỷ khác nhau, nhưng đã gặp nhau ở một đường thẳng cố hữu, đó là sự vượt ngục trần gian, một địa ngục luôn trói buộc và đốt cháy tất cả cái đẹp, cái thiện, cái chân nơi mỗi con người, nó làm đảo lộn mọi nguyên tắc, đạo đức của đời sống. Sự sống còn luôn hiện hữu hai mặt như chiếc lá vú sữa: trái - phải; tốt - xấu, chúng đấu tranh để sinh tồn, một khi cái trái, cái xấu chiến thắng thì mọi cái phải, cái tốt bị đẩy lùi. Sự mất cân bằng này chính là điểm khởi nguyên cho mọi đau đớn của kiếp người. Vì thế, chẳng trách gì khi có một số người muốn giã từ kiếp sống có tư tưởng, có tư duy để tìm cho mình đời sống vô trí, vô tri, vô tư, vô luận.

Tuy con người ta bỏ chạy kiếp sống làm người (yếm ly thế gian) là một điều không nên có, là quan điểm sai lầm, nhưng cái đáng nói ở đây chính là lòng thương yêu vô biên của tác giả, dẫu đấy là một tâm nguyện hão huyền viễn tưởng. Ôi hạnh nguyện bao la làm sao, lời hứa hẹn cao cả biết mấy nếu lời phát nguyện ấy có thể trở thành sự thật, tác giả viết:

Cho ai trong cõi ba ngàn

Đêm khuya soi bóng trăng vàng mà chơi

Sông lang thang cõi luân hồi

Cho cây xanh lá cho đời nở hoa

Cho ruộng đồng hát dân ca,

Cho hương cau, bưởi mặn mà tình quê.

Dòng sông là một cơ thể của biển nhưng bản tánh có khi thì rất khác với biển, đồng chất khác vị. Cái đặc biệt của sông là có dòng nước ngọt (có khi hòa nước biển thành nước lớ - nửa mặn nửa ngọt), phần nhiều vào những ngày bình thì là nước ngọt, nghĩa là khi tác giả có tâm hồn thư thái định tỉnh thì dòng sông tưởng tượng hay dòng sông tâm hồn ấy sẽ là nơi biển sa mạc cằn cỗi trần tục của cuộc đời thành dòng sông tình thương ngọt ngào chảy mãi vào đêm trường đau khổ. (Nơi đó mọi sinh vật đang ủ rủ, rũ rượi chợt phơi phới thẳng mình, nở nụ cười trên môi). Không những lòng người hồ hỡi trước “giọt nước cam lồ” mà ngay cả “ruộng đồng” cũng phải bật lên tiếng “hát khúc dân ca”; và nơi đó những gì thuộc xứ sở của chốn chôn nhau cắt rốn của mình cũng trở nên hiền hòa, đẹp lạ thường. Chẳng còn nghèo nàn nữa nơi quê hương đất tổ, bởi vì tác giả đã tưới-ươm-ướp dòng nước tình yêu muôn thuở rồi. Cuộc đời cho dù buôn danh bán lợi gì cũng chỉ quy về một mục đích - là tìm hạnh phúc và hưởng thụ hạnh phúc. Mà hạnh phúc chỉ đến với con người khi con người sống có sự tôn trọng và có tình thương yêu đối với chính mình và đối với những sự sống chung quanh. Tình thương giúp con người cởi mở mọi mặc cảm tự ti, tháo gỡ mọi gút mắc âm ỉ trong lòng người. Tình thương yêu giúp chúng ta hiểu nhau, gần gũi nhau hơn, thông cảm nhau hơn, ở đó có hòa bình và hạnh phúc đích thực. Vì vậy mới có câu:

“... Hương cau, bưởi mặn mà tình quê”

Đây là ý nghĩa (hay tác dụng) hữu ích của “dòng sông nước ngọt”.

Thế nhưng, không phải khi nào cũng là dòng sông nước ngọt. Như trước đã trình bày, sông là chi nhánh của biển cả, nên vẫn có dòng nước mặn. Dòng nước mặn chúng ta thường bắt gặp khi có sự cố ngoài khơi, nó không chảy xuôi từ sông ra biển, mà ngược lại chảy từ biển vào sông. Như vậy không có nghĩa là khi nào sông cũng là người bạn tuyệt vời đối với những người nông dân lam lũ, một nắng hai sương. Nó vô tình sẽ là kẻ thù của con người trong một thời gian nào đấy nếu nó tùy tiện đem dòng nước mặn vào ruộng đồng. Nhưng, có lẽ tác giả bài thơ không nghĩ đến điều này, mà cố mường tượng ra một dòng sông tâm hồn, lý tưởng nào đấy: vừa trong, vừa mát, vừa êm dịu hài hòa mãi vậy thôi! Dù sao dòng sông mang linh hồn con người hay được con người khúc xạ qua trí mơ ước, bao giờ cũng nặng tính chất khuôn sáo cao thượng. Đấy là vẻ đẹp của nghệ thuật chân chính, vì dù rằng nó vẫn hướng con người ta đến chân trời của cái đẹp thuần khiết siêu thoát, mà không phải hướng con người ta đến ngõ cụt của cuộc đời.

Hai câu thơ tiếp theo của dòng này thật khó hiểu quá, nhưng có gì đó đang bị vướng mắc... không như mạch thơ giải thoát, đại bi trên:

Cho muôn vạn trượng đi về

Bất ngờ mà ngộ lời nguyền thề xưa.

“Vạn trượng” là gì mà “đi về”, phải chăng trên con nước tình thương rộng lớn ấy, tác giả (con sông) - chủ thể trữ tình im lìm bất động không thèm “gợn sóng” nào cả khi mọi người (vạn trượng) cứ thế lướt trên mặt sông “đi về”... Nhưng như vậy có nghĩa là gì? Sao trên con nước “vạn trượng đi về” ấy lại “bất ngờ lại ngộ...”. Đối tượng nào “Bất ngờ” chủ thể trữ tình hay đối tượng trữ tình? Nếu như dòng sông đã có tấm lòng rộng rãi cho muôn “vạn trượng đi về” rồi thì dù đối tượng hay chủ thể trữ tình mà “bất ngờ” đi nữa cũng đã là muộn màng rồi. Nếu tác giả một khi đã hóa thân này thành dòng sông bao la, thì hãy làm một cuộc bốc hơi ra khỏi mọi khái niệm nhỏ nhặt, tầm thường, đừng nên “ngộ lời nguyền xưa” nữa để làm gì. Bởi vì “Ngộ” sẽ là nguyên nhân “đầu môi chót lưỡi” của sự ích kỷ và đau khổ.

Cũng có thể hiểu cách khác, hai câu thơ khó hiểu đó là sự kết tụ của một quá trình hóa thân, của con người trách nhiệm; bổn phận đối với quê hương đất nước; một kiếp người toàn cống hiến, sống vì mọi người và để rồi đi đến một tình yêu ngày ấy. Đây là điểm dừng chân “ngộ” để cho tác giả nghĩ ngơi sau bao năm tháng lặn lội cho đời; ở đó sẽ có nhiều thứ bí ẩn vui buồn khó nói:

Khi vui sông hát lời đùa

Khéo khen ai vẽ hơn thua cuộc tình

Dòng sông cũng tợ như có linh hồn, có cảm giác, có vui có buồn, có lên, có xuống; lúc rảnh rang thì yên lặng bình luận về cõi đời, bàn tán ngợi khen, hay so sánh “hơn thua cuộc tình”. Nhưng chẳng biết làm gì được; hơn nữa sông đâu thực sự hiểu thấu đáo cái cuộc tình ấy; cũng rất có thể, sông không có can đảm để đối diện với cuộc tình bí ẩn ấy, nên cứ âm thầm “mượn gió bẻ măng” nói kiếp này mà mượn kiếp khác. Và thời gian không đợi chờ ai, lướt qua, lướt qua giữa cõi phù du mộng huyễn này:

Lối về giữa cõi phù sinh

Sông in bóng hạc vô tình thế thôi.

“Sông in bóng hạc” hay “lòng cứ nhớ lòng” vậy thôi?! Ở đây hai chữ “vô tình” không phải không có tình mà nó ngự trị trong lòng như một sự hiển nhiên, không nói, nó vẫn có. Song, tất cả điều đó cũng chỉ là ảo tưởng vời vợi; cái ảo ảnh đó không hiểu vì sao mà không thành hiện thực, nên tác giả lại tưởng tượng một cuộc hội ngộ cuối cùng như một quy luật tất yếu sẽ đến:

Mai kia cuối nẻo luân hồi

Thì sông về lại với nguồn mạch kia.

Hai câu thơ nhắc ta nhớ lại hai câu trong “Thề non nước” của Tản Đà:

 “Nước đi ra biển lại mưa về nguồn

Nước non hội ngộ còn luôn.”

Niềm nhung nhớ của tác giả đối với đối tượng trữ tình như là điệp khúc của chú tiểu mới vào chùa, đêm đêm thầm lén giọt lệ nhớ trông về quê hương. Nỗi nhớ ấy không còn là thuộc trạng thái mơ hồ, vu viễn, ám ảnh nữa mà nó đã khắc lên tim một dấu ấn rõ rệt của yêu thương. Tác giả dùng từ “in” trong cụm từ “Sông in bóng hạc” thật đắt, đến nỗi làm cho người cảm nhận về nó cũng phải hé mở rung động con tim. Ôi, hồi hộp, hồi hộp đợi chờ!!! Nhưng đọc tiếp 4 từ còn lại: “vô tình thế thôi” đã phủ lên đầu đối tượng đợi chờ một màn đêm đen thất vọng trong sự hy vọng của chủ thể trữ tình, không chỉ hy vọng thôi mà chủ thể trữ trình này còn tin tuyệt đối một tương lai tao ngộ:

Mai kia cuối nẻo luân hồi

Thì sông về lại với nguồn mạch xưa.

Nếu như hai câu thơ mở đề là sự hóa thân mở ra một không gian bao la theo chiều ngang và một thời gian dằng dặc theo chiều dọc, tưởng chừng mọi câu chuyện đến đây xem như chấm hết sang trang, thì hai câu thơ kết chính là điểm rút ngắn và hội tụ không gian và thời gian ấy, một tình yêu không biên giới đến đây cũng đã đọng lại, chan hòa và giải thoát trong phạm vi TÌNH NGƯỜI.

Điểm họ gặp gỡ nhau đó là “cuối nẻo luân hồi”. Ở đó dường như mọi triền phược của cõi hồng trần đã được cởi bỏ và lúc ấy sông và nguồn mạch xưa thênh thang một cõi đi về... như một hồn thơ từng ước mộng:

“Dặm trình thong dong bước

Hoa trắng nở ven đồi”. Tuệ Nguyên

 Bài thơ “Dòng sông không tên” thể hiện hướng nhìn thẩm mỹ về nhiều khía cạnh, mà cái nổi bật nhất là cho mọi người một khái niệm về thời gian luân hồi, đó là: Cuộc sống của con người (kể cả con người trong bài thơ) không phải là một tiến trình bất tận, “Nhất khứ quy hề” theo kiểu đường thẳng tiến đến vô hạn, mà là một chu kỳ, một chu trình khép kín có mở có đóng, có đi có về; đi không phải đi mãi mãi mà là để trở về”. Cũng vậy, muốn có được tình yêu thương chung thủy trọn vẹn theo quan niệm vị tha giải thoát thì, chúng ta hãy tập làm một cuộc cách mạng như chính cuộc cách mạng của “Dòng sông không tên”.

Ban mai

con sông róc rách

 róc rách

chảy vào trần ai.

 

(*) Đây là tiêu đề bài thơ của một vị tu sĩ trẻ

 

NGÀY ẤY BÂY GIỜ ^

 

HUỲNH SA 

Ai đã từng một lần đi qua vùng đất Củ Chi có lẽ sẽ không sao quên được cái không khí trong lành mát mẽ của một vùng quê yên bình bên cạnh phố xá ồn ào náo nhiệt. Hình như tôi thấy mình rất có lý khi chọn về nơi đây, thay vì ở một ngôi chùa lớn nằm ngay trung tâm thành phố.

Tôi thả bộ trên con đường mòn nhỏ xíu, hít thở thật sâu và thấy lòng hoan hỷ lạ. Đi được một đoạn, tôi chợt nghe có tiếng người rên hư hử ở bên đường. Dừng lại xem, trước mặt tôi là một thanh niên say mèm nằm thở hổn hển và dường như anh ta không còn nhúc nhích nổi, mùi rượu bay lên nồng nặc. Tôi nghĩ thầm: chắc là anh ta say quá! Tôi dùng hết sức đỡ người thanh niên dậy, nhưng thật khó khăn, phải mất một hồi lâu cả hai mới ra khỏi được vệ đường. Tôi mệt lả người, lưng ướt đẫm mồ hôi, định bụng ngồi nghỉ một vài phút rồi sẽ đưa anh ta về chùa. Bất chợt tôi nhìn người thanh niên và trông anh ta quen quen! Tôi lại gần nhìn thật kĩ, hình như là đã gặp đâu đó rồi. Tôi đưa anh ta về chùa, lau người và thay tạm cho anh ta bộ đồ nâu. Rồi tôi phát hiện ra trong túi anh có một số giấy tờ tùy thân và vô cùng ngạc nhiên khi thấy rằng người mang tên trong những giấy tờ này là Minh, một người bạn đồng tu trước đây của tôi. Tôi thay chiếc khăn khô trên trán anh bằng một chiếc khăn khác, mắt không rời người thanh niên đang nằm bất động trên phản gỗ, lòng tôi se lại. Có một điều gì đó thật đớn đau, thật xót xa đang đè nặng cõi lòng mà có lẽ chỉ có người trong cuộc mới hiểu và cảm nhận được!

Ngày đó tôi và Minh là huynh đệ đồng sư, cả hai đều tiến bộ như nhau trong tu học. Nhưng hai người, mỗi người có một tính cách và thể lực khác nhau nên Thầy cũng theo đó mà đặt để những quan tâm cần thiết. Tôi vốn nhiều bệnh, không hợp với công việc nặng nhọc nên Thầy giao cho tôi làm những việc nhẹ ở chùa. Còn với Minh, vì anh rất cần cù nhẫn nại trong công việc, hay gánh vác những việc nặng trong chùa nên Thầy giao cho Minh trông coi rẫy tiêu nằm dưới chân đồi.

Hoàn cảnh ở chùa lúc này còn khó khăn về mọi mặt, nên Thầy rất thương yêu và quý mến những đệ tử xuất gia của mình. Công việc chăm sóc và thu hoạch tiêu hầu như đều do Minh đảm trách. Dù bận việc nhưng Minh chưa bao giờ bỏ một thời công phu nào, và hầu như anh chưa bao giờ làm điều gì trái ý Thầy. Thầy tin tưởng và kỳ vọng ở Minh rất nhiều.

Dù vất vả và bận rộn nhưng Thầy tôi luôn khuyến khích và sách tấn chúng tôi học hành và tìm hiểu kinh điển. Thế rồi, khi tôi và Minh bước qua tuổi hai mươi, Thầy đã tạo điều kiện để cho chúng tôi tham dự lớp Trung cấp Phật học, dù mọi công việc phải đổ dồn lên đôi vai khắc khổ của Thầy.

Được Thầy sớm trang bị cho tinh thần tiến thủ và nếp sống lục hòa, chúng tôi đã dễ dàng hòa nhập vào môi trường sống mới. Tâm hồn vẫn hồn nhiên trong sáng và luôn cố gắng học tập.

Rồi bốn năm Trung cấp Phật học trôi qua một cách nhẹ nhàng. Cầm tấm bằng giỏi trên tay, cả hai phấn khởi và bắt đầu chuẩn bị tư trang để thi vào Học viện. Nhờ những nỗ lực cần thiết và sự hỗ trợ về tinh thần của Thầy, cả hai chúng tôi đều đỗ vào Học viện. Điều này đã làm cho Thầy tôi hoan hỷ và tin tưởng rất nhiều.

 

Ngày nhập học đến gần, Thầy tôi chuẩn bị tất cả những thứ cần thiết để cho hai đứa đệ tử ra đi với niềm tự hào khôn tả. Trước khi đi, chúng tôi vào đảnh lễ Thầy. Thầy căn dặn: “Hai con phải tinh tấn hết mình, hãy học tập và sống đúng với con đường mà mình đã chọn.”

Cuộc sống êm đềm trôi đi và con người trong dòng quay của thời gian đang bị nhiều điều chi phối. Có kẻ yếu đuối rồi buông xuôi tất cả. Nhưng có người với lòng kiên định, đã cố gắng vươn lên và vượt qua những cam go của cuộc đời. Tuy thế, cũng có những ý chí tưởng chừng vững chắc như bê tông cốt thép cũng đã phải rơi đổ và tan nát trong khoảng không vô tận. Tất cả chợt đến, chợt đi nghiệt ngã khôn lường. Với Minh cũng vậy, dù nhiều năm được un đúc, được tôi luyện, nhưng nghiệp lực lại là điều không thể tránh khi con người ta chưa thật sự trả hết những gì mình đã mượn vay.

Minh trở về chùa sau một năm kể từ ngày mang lời dạy ra đi. Thầy vẫn ngồi trên chiếc tọa cụ đã cũ phải vá nhiều nơi. Bên cạnh Thầy là tôi và hai sư huynh nữa. Minh đắp y quỳ trước mặt Thầy, giọng anh run run.

- Bạch Thầy? Con không thể tiếp tục tu được nữa!

Tại sao lại như vậy? Điều gì đã đốt cháy ý chí sắt đá của Minh. Bao nhiêu năm tháng được rèn đúc trong lối sống từ bi và trí tuệ giờ chỉ còn là gió thoảng, cuối cùng thì Minh cũng không vượt qua nỗi cái sợi dây oan nghiệt trói buộc ngàn đời. Minh sám hối lần cuối và xếp y gởi lại cho Thầy. Hai sư huynh im lặng bỏ đi. Còn tôi, bao nhiêu năm tháng cùng sống với Minh, chưa bao giờ tôi thấy Minh lại yếu đuối như hôm nay. Sao lại như vậy? Sao Minh nỡ đối xử với mọi người như vậy? Sao Minh không nghĩ đến Thầy và chư huynh đệ? Minh đánh đổi tất cả sao? Hàng trăm câu hỏi cứ quay cuồng trong đầu. Tôi cũng không biết là Minh đáng thương hay đáng trách nữa!

Trời đêm dường như ảm đạm hơn. Những hạt mưa đầu mùa chen nhau rơi lộp bộp xuống mái tôn. Gió vẫn rít từng cơn qua khe cửa sổ, âm thanh nghe đến nhức nhối. Thầy vẫn ngồi đó im lặng, nhưng hình như lưng Thầy đã khòm xuống, nét khắc khổ còn đọng lại trên vầng trán nhăn nheo và đôi mắt quầng thâm sau nhiều đêm mất ngủ. Thầy im lặng nhìn người đệ tử, ánh mắt vẫn tràn đầy từ bi và bao dung.

Hiện giờ, trước mặt tôi là người thanh niên chưa đầy ba mươi nhưng nét phong trần đã biểu lộ trên gương mặt khắc khổ. Những đường ngang đường dọc trên đôi má và vầng trán khô nám chứng tỏ cuộc đời đã cày lên anh những nỗi buồn, những hệ lụỵ. Bất giác tôi thở dài ngao ngán và nhớ lại những tháng ngày êm đềm đã qua, những ngày tháng đã động lại trong tâm trí những hình ảnh khó quên. Những năm tháng đong đầy mây trời lồng lộng đã khiến cho tôi hoài niệm trong bồi hồi quay quắt giữa những giọt đắng giọt thương đan chen lẫn lộn. Thật đúng khi người ta nói: “Có những quá khứ êm đềm khiến người ta phí bỏ một đời để nhớ”. Tất cả vẫn còn đọng lại như một nỗi nhớ nhung sâu thắm vô cùng. Dòng đời vẫn luôn trôi chảy miên man trong sự dao động khôn lường. Niềm vui thoáng ẩn hiện đâu đó nhưng rồi nỗi buồn lại đến vây lấy kiếp người. Khi nỗi buồn đến, có một vài người không vượt qua nỗi đã vội ra đi, đã rời khỏi vòng tay người thân để đến một nơi xa xôi nào đó mà chính họ cũng không biết được. Việc đến, đi vẫn biết là lẽ thường tình của cuộc đời có thịnh có suy, có mất có còn… nhưng sao tôi vẫn cứ bị xao động lung lay, vẫn dè dặt, sợ hãi khi nghe hoặc đối diện.

Đường về chùa gần mà xa. Con người có thể phải trải qua nhiều kiếp thăng trầm để trở về nhưng cũng có thể chỉ trong một cái quay đầu! Tôi vẫn thường được nghe nói đó là căn duyên. Và tôi tin rằng, trải qua những lụy phiền do mình gây tạo, rồi Minh sẽ có được một căn duyên tốt để trở về nơi bến đỗ bình yên ngày xưa. ❑

 

 

TÁM CÁI BIẾT ^

 

Tâm Minh

Kính thưa quí vị và các bạn,

Tuổi trẻ Phật giáo hôm nay đến với Phật Pháp như đi lạc vào một khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ, ngoài việc thưởng thức hương sắc tuyệt vời đem lại an lạc cho bản thân, các em còn muốn được biết tên, nhớ tên những danh từ Phật pháp để khi đọc sách, tham khảo có thể hiểu được dễ dàng. Đó là lý do các anh chị đi trước thường nói chuyện, trao đổi với các em của mình để vốn liếng tiếng Việt về Phật pháp được nâng cao.

Hôm nay, chúng tôi xin kính chào tái ngộ với quí vị và các bạn trong đề tài “8 cái biết” dưới hình thức một cuộc hội thoại bỏ túi giữa 3 anh em huynh trưởng trẻ A, B, C đã được làm quen với quí vị và các bạn.

A: Chào các em, hôm nay anh muốn giới thiệu với các em về một danh từ được Việt hóa, coi thử các em có còn nhớ “gốc gác” của nó là gì không? Đó là danh từ “cái biết”.

B: Dạ thưa anh, em nhớ chứ! Nhưng anh nói “8 cái biết” thì em không biết hết.

C: Em cũng vậy, “cái biết” có phải là consciousness mà chúng ta thường gặp trong các bài Phật pháp với danh từ chữ Hán là “thức” phải không anh? Nhưng em đã quen chữ này rồi nên khi anh nói “cái biết” em nghe lạ tai hơn là chữ “thức”.

B: Ðúng vậy đó anh, khi học về chánh niệm, anh có nhắc tụi em “to act in full consciousness” tức là ý thức rõ việc mình đang làm, đồng nghĩa với “mindfullness” đó phải không anh?

A: Các em khá lắm, như vậy các em hãy áp dụng chữ “thức” là “cái biết” để nghĩ xem chúng ta đã học được bao nhiêu loại thức rồi? C hãy kể trước đi nha!

C: Dạ thưa anh, như chúng em đã học trong bài “ngũ uẩn” thì có 6 cái biết (thức); đó là: nhãn thức (consciousness of the eyes), nhĩ thức (consciousness of the ears), tỉ thức (consciousness of the nose), thiệt thức (consciousness of the tongue), thân thức (consciousness of the body) và ý thức (consciousness of mind).

A: Đúng rồi, B có gì bổ sung không?

B: Dạ, em muốn thêm là khi nói đến “thức” thì phải nói đến “căn” và “cảnh”; vì bộ ba căn+cảnh+thức không thể tách rời nhau nên được gọi là “tam hòa hiệp” (threefold continuation).

C: Dạ, em cũng nhớ ra rồi. 6 căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6 trần là đối tượng của 6 căn; đó là sắc (form), thanh (sounds), hương (perfume), vị (taste), xúc (contact), pháp (dharma hay dhamma).

A: Các em rất giỏi, anh chỉ muốn bổ sung thêm một chút là chữ “thức” (vijnana), một thuật ngữ quan trọng trong Phật pháp, chỉ sự nhận biết. Như các em đã nhắc lại được 6 cái biết rồi, trước khi nói thêm 2 cái biết nữa, anh hỏi các em thêm vài chi tiết về 6 cái biết trên.

B: Hãy cho anh biết, khi nói căn+cảnh+thức không thể tách rời nhau, chúng ta muốn nói đến cái gì?

B: Dạ thưa anh, chúng ta muốn nói rằng: Nếu mắt nhìn (look at) mà không có mặt của nhãn thức thì tuy nhìn mà không thấy gì cả (we don’t see anything). Tương tự, tai nghe mà không có sự hiện diện của nhĩ thức thì nghe mà không hiểu là đang nghe cái gì, v.v... Ngoài ra, sự kết hợp của 3 yếu tố căn+cảnh+thức làm phát sinh ra xúc và đưa đến cảm thọ (vui, buồn, không vui không buồn).

C: Nghe khen thì vui, nghe chê thì buồn và hết nghe rồi vẫn còn nhớ lại những cảm giác đó…

A: Đúng thế các em ạ! Vì vậy nói đến “thức” là phức tạp rồi. Trong Phật pháp chúng ta thường gặp những chữ như “biển thức” hay “thức biến”... ý nói các thức không hoạt động độc lập mà kết hợp với nhau, xuất hiện rồi biến đi, tạo ra một biển cảm giác gồm những hiện tượng tâm-vật lý sinh diệt không ngừng (the whole process of these psycho-physical phenomena which are constantly becoming and passing away…)

B: Vậy ngoài 6 cái biết trên đây còn cái biết (thức) nào nữa hở Anh?

A: Còn thức thứ 7 và thức thứ 8 nữa.

C: Thức thứ 7 tên là gì? Tác dụng như thế nào hở anh?

A: Thức thứ 7 tên là Mạt-na thức; Mạt-na là cái gốc của Ý nên Mạt-na còn được gọi là Ý căn (cũng như con mắt là nhãn căn vậy). Nói một cách dễ hiểu, những lúc ý thức bị gián đoạn (ngủ mê, bất tỉnh nhân sự, côma, bị chụp thuốc mê...) nó không bị mất hẳn mà nương vào thức thứ 7 là Mạt-na; ý thức vì vậy được ví như cái cây có cái rễ là thức thứ 7 (Mạt-na). Công năng của thức thứ 7 này là chấp trước, so đo, suy xét, phân biệt, phân biệt ta và người, bảo thủ cho “cái tôi”, “cái ta” (self).

B: Còn thức thứ 8 là gì hở anh?

A: Thức thứ 8 là A-lại-da thức (Alaya), còn có tên là Tàng thức. A-lại-da thức được coi như là cái KHO chứa mà Mạt-na dùng để cất hết vào đó những điều mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm… dưới dạng chủng tử (hạt giống, seeds) Ðó là lý do tại sao có nhiều cảnh, nhiều người, ta gặp từ hồi thơ ấu vẫn có thể tái hiện trong trí ta khiến ta nhớ lại.

C: Như vậy Mạt-na là mạnh nhất phải không anh? Vì nó có khả năng dùng A-lại-da để cất giữ…

A: Nói như vậy để cho dễ nhớ cũng được, Mạt-na có khả năng truyền những điều mắt thấy, tai nghe, v.v... (gọi là các pháp hiện hành) vào A-lại-da, vừa có khả năng tống các chủng tử ở trong A-lại-da khởi ra hiện hành nữa.

B: Như vậy, A-lại-da, thức thứ 8 là một cái kho vĩ đại, vì nó có thể cất giữ những gì Mạt-na muốn nắm giữ trong nhiều đời nhiều kiếp phải không anh?

A: Đúng vậy, Hòa thượng Thiện Hoa có một bài kệ nói về 8 thức hay 8 cái biết, chúng ta cùng học thuộc lòng cho dễ nhớ nha:

Anh em Tám chú một chàng si

Duy có Ý thức rất linh ly

Năm người ngoài cửa lo buôn bán

Làm chủ trong nhà đệ bát y

C: Em không hiểu gì cả! Anh giảng rõ nghĩa đi nha!

B: Em hiểu rồi, để em nói cho C nghe: một chàng si = si mê, chấp ngã đó, ám chỉ thức thứ 7 (Mạt-na) là chấp có cái tôi và cái của tôi; Ý thức rất linh ly là rất nhạy bén, linh động, khôn ngoan; “5 người ngoài cửa” = 5 thức trước: nhãn thức, nhĩ thức… thân thức; đệ bát y là thức thứ 8 đó (bát = 8, thất là 7, lục là 6, v.v...)

A: Như vậy, các em đã hiểu “8 cái biết” là gì rồi phải không?

B&C: Dạ phải!

A: Bây giờ anh muốn các em cho anh biết, sau khi học qua 8 cái biết này, chúng ta áp dụng vào cuộc sống như thế nào?

B: Chúng ta tu cho từng cái biết, nghĩa là đối với 5 cái biết trước (nhãn thức, nhĩ thức,…) chúng vô tư vô tội, chúng ta tu tập làm sao để cái thấy vẫn chỉ là cái thấy thuần túy, cái nghe chỉ là cái nghe...

C: Dạ, em cũng hiểu rồi, tu tập về cái thấy, chúng ta để cho cái thấy khách quan, đừng khởi tâm phân biệt, ham muốn, phê phán, v.v... ví dụ mắt ngắm nhìn một bông hoa thì chỉ thuần là quan sát, nhìn ngắm, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa, không khởi tâm muốn hái cái hoa đem về nhà, hay khởi tâm chê bai cái vườn hoa, người chủ khu vườn v.v... và v.v... Cũng thế, khi nghe chỉ thuần là nghe âm thanh mà không bị vướng vào yêu-ghét, lấy-bỏ… nghĩa là đừng để cho anh chàng Mạt-na chen vào.

A: Vậy là các em đã nắm được vấn đề; các em có nghĩ đến áp dụng tu tập về thức thứ 7 và thứ 8 như thế nào không?

B: Dạ, như trên dây, chúng ta cố gắng loại trừ tâm phân biệt, giữ tâm bình đẳng đối với mọi người, mọi vật mà ta thường tiếp xúc-nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt đối xử-đó là một phương pháp tu cho thức thứ 7 không hoành hành ngang nhiên, lộng quyền nữa.

C: Còn đối với thức thứ 8 thì chúng ta cố gắng xông ướp (huân tập) vào tâm thức mình những hạt giống tốt: những hạt giống của từ bi, trí tuệ, tinh tấn, v.v… để trung hòa những hạt giống xấu đã được xông ướp vào từ nhiều đời nhiều kiếp…

B: Anh có thể nói thêm về thức thứ 8 và chủng tử với hiện hành khác nhau như thế nào cho chúng em biết không anh?

A: Thức thứ 8 được xem là thức căn bản vì nó chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và là nguồn gốc của tất cả các hiện tượng tinh thần. Tất cả những việc làm có tác ý (intention) của thân, miệng, ý (gọi chung là nghiệp) đều được tích lũy trong A-lại-da thức dưới hình thức những hạt giống, đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện hành.

C: Thế nào là nhân duyên đầy đủ? Và hiện hành là như thế nào? Anh cho em một ví dụ cụ thể đi nha!

A: Ví dụ, trong tâm thức chúng ta có những hạt giống thiện và bất thiện: như những hạt giống của sự giận dữ, sân hận là bất thiện, nếu gặp thuận duyên như bị ai chọc tức, khiêu khích, mắng chưởi, đánh đập… thì những hạt giống đó sẽ hiện hành ngay-nghĩa là chúng ta liền đỏ mặt nổi giận, rồi phản ứng lại bằng mắng chưởi, đánh đập. Những hành động hiện hành mới này-chính là những chủng tử mới của nghiệp, lại được xông ướp vào Tàng thức, tạo ra một vòng tròn tiếp tục tạo tác và chịu sự chi phối của nhân quả luân hồi. Những hạt giống tư tưởng trong A-lại-da cũng như hạt giống trong cây chanh: hoa chanh và trái chanh tuy chưa xuất hiện nhưng nó đã ẩn tàng trong cây chanh, chỉ cần hội đủ thời gian, sự tưới tẩm, bón phân… cây chanh sẽ đơm hoa kết trái.

B: Nói vậy, khi các hạt giống đang ngủ yên trong Tàng thức thì gọi là nhân, khi đầy đủ các trợ duyên nó hiện khởi ra thì gọi là quả, phải không anh?

A: Đúng vậy, và nhân quả luân lưu, cho nên mới nói: chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân tập chủng tử. Vì vậy, GÐPT chúng ta chú trọng giáo dục về xông ướp (xông ướp). Những điều mắt thấy, tai nghe,… những hành động của thân, miệng, ý… được cất kỹ vào Tàng thức chờ ngày xuất hiện. Do vậy chúng ta phải rất cẩn trọng trong việc tu tập và giáo dục cho đàn em, con em của chúng ta.

C: Em hiểu rồi, vì vậy, chúng ta phải siêng năng tưới tẩm những hạt giống tốt trong tâm như từ bi, trí tuệ, thanh tịnh, v.v... để khi đủ trợ duyên sẽ đơm hoa kết thành những trái an lạc hạnh phúc.

B: Còn những chủng tử xấu (tham sân si) như sâu ăn hại cây, như cỏ dại chiếm đất làm cây khô héo ta phải xịt thuốc trừ sâu, phải siêng năng nhổ sạch cỏ… để chúng khỏi xông ướp vào A-lại-da làm nhân cho những quả đắng về sau.

A: Đúng vậy! Ngoài ra, chúng ta phải làm gương tốt cho các em trong khi nói năng, sinh hoạt: đừng nói một đằng làm một ngã, đừng dạy các em những thói hư tật xấu (như hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, nói xấu lẫn nhau, ăn nói bậy bạ, nổi nóng...) Ngược lại, chúng ta trao truyền cho các em qua những bài học về Phật Pháp, Việt ngữ, Hoạt động thanh niên… những lời hay ý đẹp, những nét đẹp của văn hóa dân tộc, những đức tính, những truyền thống, những nề nếp sống đạo đức… là chúng ta đã xông ướp vào Tàng thức của các em một vườn hoa thơm trái ngọt, như trao tặng các em một hành trang vào đời rất quí giá vậy.

C: Nhờ bài học về A-lại-da này, em biết nghiệp không chỉ là do những tác ý trong đời này mà còn do bao nhiêu đời kiếp trước nữa… thật là ghê gớm quá! Như vậy, nghiệp không phải do từ bên ngoài mà do tự bên trong tâm của ta phải không anh?

A: Đúng vậy! Thực tế cho thấy các trẻ em cùng cha mẹ, cùng trong một điều kiện về vật chất, hoàn cảnh… giống nhau nhưng tính tình có khi rất khác nhau; thậm chí anh em song sinh cũng không giống nhau hoàn toàn về tâm tính; vì vậy giáo dục phải lấy căn bản là con người (đứa trẻ) chứ không thể theo một khuôn mẫu nào cố định được.

Anh tặng các em mấy câu thơ của thi hào Nguyễn Du nói về nghiệp nha:

 …Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẩn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.

B: Cụ Nguyễn Du cũng giỏi Phật pháp quá Anh hở? Cụ nói “mang lấy nghiệp” vào thân nghĩa là cụ hiểu rằng “nghiệp” chính là những chủng tử đã được xông ướp vào A-lại-da đó mà!

A: Đúng rồi, nhưng em đã “khen phò mã tốt áo” rồi đó B à!

C: Là sao hở anh ?

A: Là mình khen một thi sĩ tài hoa và trí tuệ thì cũng như khen một vị phò mã có áo đẹp vậy thôi, có gì lạ đâu, ai mà không biết !!   !!

Thôi nha, bữa nay tạm đủ, tạm biệt các em !

B&C: Tạm biệt! Tạm biệt!

 

Bangkok, Thailand: Tìm thấy ngôi cổ tự nằm dưới mặt đất gần tu viện Samphantawong. ^

 

Báo chí tại Thailand đưa tin, một ngôi cổ tự được xây dựng có niên đại cách đây hơn một thế kỷ đã phát hiện đang nằm dưới một cây bồ đề, một đống rác phía sau một tu viện và một phòng vệ sinh của một ngôi nhà xây lấn chiếm hàng rào tu viện tại quận Samphantawong, Bangkok.

Theo nguồn tin của Bangkok Post, vào chiều ngày 21.06.2005, trong khi tìm hiểu nguyên nhân than phiền của những người làm vườn về các bí ẩn thường xảy ra mỗi khi họ muốn chặt tỉa cây bồ-đề, các nhà Sư đã phát hiện ra ngôi cổ tự này.

Ngôi cổ tự nằm dưới hàng rào và một đống rác to lớn nằm phía sau tu viện, nên những người làm công quả của tu viện phải di dời chúng đi nơi khác mới thấy được một phần kiến trúc cổ. Nhờ vậy, người ta mới thấy được những chữ chạm khắc trên đó có ghi nó đã được xây dựng vào năm 1853, với số tiền khoảng 640 baht và mở cửa vào năm sau đó.

Hiện tại, ngôi cổ tự này chỉ nhìn thấy được một nửa đã được dọn dẹp sạch sẽ. Còn nửa kia nằm khuất phía dưới phòng vệ sinh của ngôi nhà xây lấn chiếm hàng rào bao quanh tu viện. Các nhà sư đã yêu cầu chủ nhà phá hủy một phần của ngôi nhà xây xâm lấn để làm nhà vệ sinh.

Sau khi phát hiện được ngôi cổ tự, các trưởng lão mới nhớ ra trước đây đã từng thấy cái chóp của nó. Lúc đó quý ngài nghĩ rằng đây chỉ là đỉnh của ngôi tháp chôn người chết còn sót lại.

Ngôi chùa có chiều cao 5m, chiều rộng khoảng 3m và bị hư hại nặng do rễ cây bồ-đề lớn gây nên. Bộ Mỹ Thuật đã được tu viện đề nghi xem xét kỹ ngôi cổ tự và chuẩn bị cho việc phục chế để trả lại vẻ đẹp ban đầu của nó.

Tu viện Samphantawong là một ngôi chùa được xây dựng vào triều đại Ayutthaya với tên là chùa Kok. Đến năm 1796 chùa được Vua Rama đệ Tứ sắc phong thành tu viện của Hoàng gia.

Mai Vàng

 

 

Tây Tạng: Những chìa khóa mở cửa ngõ giải thích tham thiền trau dồi tâm linh như thế nào. ^

 

Các nhà nghiên cứu về thiền Phật giáo Tây Tạng đang tiến tới việc giải thích rằng những chức năng của não bộ có thể được uốn nén qua thiền định.

Các khoa học gia Úc Đại Lợi thử nghiệm với các thiền sư Tây Tạng bằng cách cho mỗi con mắt của họ quan sát một hình ảnh khác nhau. Với cách quan sát này, hầu hết những người bình thường sẽ bị tẩu hỏa ngay lập tức, nhưng các thiền sư có thể tập trung vào từng hình ảnh.

Tường trình trong Tạp chí Sinh Hóa Ngày Nay (Current Biology), các khoa học gia cho biết khả năng của các thiền sư có thể vượt qua những phản ứng tinh thần căn bản này, chứng tỏ rằng não bộ có thể uốn nén được. Tham thiền là một phương thức nhào nén tiến trình huy động sinh hoạt của não bộ.

Các khoa học gia của Đại học Queensland và Đại học California Berkley đã nghiên cứu 76 vị Tăng sĩ Tây Tạng trên vùng núi hoang vu thuộc Ấn Độ. Các Tăng sĩ này đã hành thiền từ 5 đến 54 năm.

Trong các buổi thử nghiệm, các Tăng sĩ đã được đeo những lăng kính đặc biệt để chứng minh rằng họ có thể nhìn bằng mỗi con mắt một hình ảnh khác nhau cùng một lúc. Thông thường, não bộ sẽ cuồng quay chuyển lật giữa hai hình ảnh khác nhau – một hiện tượng được gọi là thị giác giao tranh.

Trước đây người ta tưởng rằng đó là một phần phản ứng cơ bản và vô kiểm soát. Tuy nhiên, các thiền sư đã thực hành pháp thiền “nhất điểm”, có thể tập trung tư tưởng vào một đối tượng hay một ý tưởng, đã có thể nhìn hai hình ảnh khác nhau bằng mỗi con mắt.

Những vị này đã thực hành thiền định rất nhiều năm, họ có thể tập trung tư tưởng vào từng hình ảnh trong khoảng thời gian kéo dài đến 12 phút. Bà Olivia Carter, khoa học gia Đại học Queensland, cho biết: “Các

Tăng sĩ Phật giáo Tây Tạng đã chứng tỏ họ có thể thanh lọc những ảnh hưởng ngoại giác.” Đây là bước đầu tiên để hiểu biết não bộ của họ sinh hoạt như thế nào.

Bây giờ là thời điểm tốt để tiến hành những thử nghiệm mới dùng những kỹ thuật hình tượng để khảo cứu những đặc thù trong não bộ của các nhà sư.

Bà cho biết điều đó có thể hướng dẫn các nhà nghiên cứu tiến đến sự hiểu biết rộng rãi hơn về cơ năng mà pháp thiền có thể chỉ đạo não bộ chú tâm đến một sự kiện gì, hoặc làm ngơ những hung tin hay để giữ vững niềm an lạc trong ta.

Bà Carter nói thêm rằng: “Các thiền sư Phật giáo cho biết mọi khi có chuyện chẳng lành xảy ra, họ làm cho chuyện ấy lắng xuống và tiếp tục hướng tới ngày mai”.

Những người áp dụng pháp tham thiền, kể cả đức Đạt-lai Lạt-ma, cho biết rằng “khả năng giữ vững và điều động tư tưởng của mình rất hữu ích cho tiềm năng của tâm linh.”
Trên website Tin tức BBC, Tiến sĩ Toby Collins tại trung tâm Oxford về khoa học tâm linh đã khẳng định: “Pháp tham thiền là một phương thức nắm lấy tiến trình huy động sinh hoạt của não bộ”. Ông nói rằng sự kiện mà thiền pháp điều động não bộ chỉ lưu tâm đến một sự kiện hòa đồng với các khảo nghiệm trước đây. Ông nói thêm là: “Tiến trình đó thực sự như thế nào, chúng ta chưa biết được. Nhưng những khảo cứu dùng kỹ thuật fMRI
 (functional magnetic resonance imaging) có thể thấy những gì đang xảy ra trong não bộ.”
 

Theo BBC news

Thúc Đạt dịch

Thơ: ^

VĨNH THI

Nhìn lại

 

 Nỉ non điệp khúc mõi mon

 Hạ về sông nắng trắng soi mây ngàn

 Vô danh hoa dại nhẹ nhàng

 Cũng hương, cũng sắc bên đường lẽ loi

 Đêm thương tìm mộng tiếng cười

 Bước chồng lên bước người phơi chữ tình

 Cội nguồn trong bước chơi vơi

 Bờ mi hờ khép đôi bờ nhân sinh.

 

 

 

MẶC KHÔNG TỬ

 Đêm Cao Nguyên!

 

 Lao xao ngàn thông cợt gió

 Dế giun trỗi nhạc dậy lừng

 Sương giăng một miền ảo mộng

 Hương rừng đẩy gió mông lung

 

 An nhiên Sư ngồi độc ẩm

 Tri âm một bóng trăng gầy

 Đêm cao nguyên thơm mùi quế

 Quyện khói trà phơ phất bay.

 

HUỲNH KHẢI THIÊN

 

Tiếng gọi ngàn xưa

 

 Tiếng gọi ngàn xưa tiếp nguồn hiện tại

 Lời Thế Tôn di giáo hạ an cư

 Chiếc vàng y thắp sáng hạnh đại từ

 Mùa sen nở bi lòng hương bát ngát.

 

 Tuệ khơi mở hoa bồ đề đơm hạt

 Bên vườn xưa đàn chim gọi reo mừng

 Nhân loại về thể nghiệm mắt rưng rưng

 Đường hạnh phúc đạo mầu gieo phước thiện.

 

 Hương giới đưa lời thơ mùa hạnh nguyện

 Từng bước chân đại chúng ánh quang minh

 Lời kinh cầu bóng tỏa mát nhân sinh

 Nguồn tĩnh lặng nẻo về nghe vô trú.

 

 Con cúi lạy vâng lời Thầy nhắc nhủ.

 Học đạo Như Lai chuyển hóa tâm mình

 Chánh niệm về nghe hiện thể lung linh

 Tâm bừng dậy thong dong vào hóa hiện.

 

NGÀN THƯƠNG

 Đạo tình

 Áo cà sa

 không rời thân giáo

 Đêm ngày thơm ngát Như Lai

 Chùa xưa

 ra vào vô ngại

 Thong dong mở cửa đón người

 Về đây

 Bồ đề rợp bóng

 Tịnh hồn mến cội, thương cây

 Vô ưu

 nụ cười, son sắt

 Đạo tình tâm lắng, huệ khai…

 

Tâm ảnh

Niềm thinh lặng hóa thân vào cây cỏ

Lòng an nhiên bên triền đá nguyên màu

Bờ môi khẽ nở nụ cười hàm tiếu

Bụt từ hòa xoa dịu những thương đau…

 

Ý chơn lành

Thiền trong thơ như quen mà lạ

Ai pha màu mây trắng vô thanh

Dòng kinh kệ thoại đầu rêu mọc

Thức cùng trăng cổ tự ý chơn lành.

 

LIÊN THAO

 

Cõi Người

 

Thời gian nhuộm trắng mái đầu

Trầm tư khói sóng vân vu cõi người

Trăng thiền thoát khỏi mây trời

Tưới nguồn giao cảm rạng ngời hạnh duyên.

 

 

Mai Thi

 

Ơn đời mấy chục mùa Mai

Nguồn thơm cánh lụa suối đầy hương trinh

Líu lo Thúy Vũ trên cành

Mộng hồ trở giấc thoảng mành gió ru!

 

 

Cho và Nhận

 

Chiều gom lá rụng hoàng hôn

Buồn rơi từng hạt mưa hồn bâng khuâng

Nhạt nhòa sợi tóc tầm xuân

Sương vương mềm gót phong trần trúc mai

Nụ cười giọt lệ ấm môi

Hư không bất chợt niềm vui tháng ngày

Ta – Người

Ai nhận, cho ai?

Ân sâu nghĩa nặng

Vơi đầy Tình Thương.

 

NINH GIANG THU CÚC

 

Tằm - Tơ - Lụa

 

Thân tằm nguyện một đời xin rút ruột

Dâng tấc lòng dệt áo tặng trần gian

Lụa Hà Đông óng ả sợi tơ vàng

Tặng kiều diễm đường cong thân mỹ nữ

Ai biết được qua lắm kỳ sinh tử

Ổ kén đầy đẩm nước mấy lần sôi

Để làn tơ chín mọng đến bồi hồi

Kẻ chiêm ngưỡng ngất ngây màu lụa đẹp

Tha hồ cắt áo đơn rồi áo kép

Nào biết cho thân lụa xé lòng đau

Nào kim may nào chỉ kết liên thâu

Nào xấu đẹp khen chê lời mặc cả

Vì nợ dâu một đời tằm phải trả

Vì nợ đời nên lụa gánh đa đoan

Bay phất phơ mong một phút huy hoàng

Là được đón vào tay người lịch lãm.

 

---o0o---

Trình bày: N.Tường

Cập nhật: 1-8-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au