Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.14

Mục Lục

 

Tứ niệm xứ  TT. Thích Đức Thắng

Thần thông và nghiệp lực Tôn giả Mục-kiền-liên.Thích Trí Lộc

Hạnh phúc thay đức Phật ra đời! Thích Trí Nguyệt

Đức Phật và cuộc chuyển hóa nhân sinh tận gốc rễ. Ỷ Thu Am

Dòng họ Thích Ca. Thích Đồng Thành

Đại cương về học phái PGVN trong học phái PGTG   Tâm Phương

Chùa Dâu . Đức Dung

Quá trình nhập thai, trụ thai và xuất thai .Nguyên Liên

Đức Phật có phải là một thượng đế hay không?Thanh Tâm

Thơ: Minh Đức - Triều Tâm Ảnh, Ngàn Thương, Vĩnh Thi, Ninh Giang Thu Cúc, Thông Nhã

Hại thay uống rượu .Quang Sơn

Giấc mộng vàng son .Lam Khê

Thiền bây giờ và ở đây .Tâm Minh

Nhật Bản: Nhiều tác phẩm nghệ thuật PG đang được triển lãm tại hội chợ thế giới Aichi. Nguyên Anh

LHQ: Cơ quan văn hóa của LHQ sẽ viếng thăm và khảo sát tháp. Đại Bồ-đề  Thạch Thảo

Thái Lan: Thủ tướng Thaksin Shinawatra mời PG đồ khắp nơi trên thế giới về tham dự lễ hội Visakabucha  Từ Quang

 

 ---o0o--- 

Kính bạch chư Tôn đức,

Thưa quý cư sĩ Phật tử,

 

Trong kiếp quá khứ, cõi Ta-bà này đã có sáu đức Phật thị hiện. Đó là Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật Câu-lưu-tôn, Phật Câu-na-hàm-mâu-ni, và Phật Ca-diếp. Chư Phật xuất hiện ở đời có chung một đại hạnh là giáo hóa cho chúng sanh chứng ngộ tri kiến Phật. Kiếp hiện tại, đức Thích-ca thị hiện ở cõi Ta-bà này cũng vì mục đích như vậy.

Ngài ra đời đã làm chấn động cả thế giới, thiên nhiên biến chuyển tươi đẹp, trời người hân hoan và hạnh phúc. Sau đó, Ngài đã khơi nguồn cho dòng lịch sử Phật giáo chảy hơn 2500 năm trên thế giới này.

Hơn 2549 năm qua, tác dụng ngày Phật đản vẫn không ngừng ảnh hưởng sâu sắc và lan rộng trong xã hội loài người. Ngày ấy đã trở nên thiêng liêng đối với người con Phật. Đồng thời là ngày hết sức có ý nghĩa đối với nhân loại, khiến cho Liên Hiệp Quốc phải công nhận, tôn vinh và tổ chức lễ tưởng niệm hằng năm tại trụ sở vào ngày Phật đản.

Riêng tăng ni sinh, ngày Phật đản là thời điểm để kết thúc một năm tu học đã qua và bắt đầu một năm tu học mới. Chúng ta hãy lấy thành quả tu học làm phẩm vật cúng dường ngày Phật đản, noi theo hạnh nguyện chư Phật để làm hành trang, làm sức sống dõng mãnh trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.

Chúng ta sanh trong thời mạt pháp, nhưng vẫn còn được học và thực hành theo giáo pháp của Phật; vẫn còn có chư Tôn đức, người thừa kế của chư Tổ, giảng dạy, chỉ bày ý nghĩa thâm sâu của Phật pháp, cùng với những trải nghiệm mà quý Ngài có được từ sự tu chứng. Quý ngài đã tạo điểm son rực rỡ trên dòng sử Phật giáo và đang hướng dẫn chúng ta làm theo như vậy để tự lợi, lợi tha, đạt đến đạo quả giải thoát.

Tu học theo sự chỉ dạy của chư Tôn đức là bổn phận, là hạnh nguyện của tăng ni sinh chúng ta, thế hệ sẽ tiếp nối trong dòng chảy lịch sử ấy. Chúng ta hãy tu học để thấy rõ mức độ cao sâu, vi diệu của giáo pháp đức Phật; thấy được giá trị hiện thực và siêu thoát của Phật giáo, để tạo cho mình một điểm son rực rỡ trên dòng lịch sử như Thầy Tổ đã làm.

Trong không khí đón mừng ngày Phật đản năm nay, tăng ni sinh chúng con cầu nguyện cho Phật pháp được truyền bá sâu rộng, pháp thể của chư Tôn đức thường an lạc, và kính chúc quý cư sĩ Phật tử luôn hạnh phúc. 

Phật đản PL.2549, Ban biên tập

Kính chúc


 

Tứ Niệm Trụ

TT. Thích Đức Thắng

Tứ niệm trụ là hành phẩm thứ nhất trong bảy hành phẩm của Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: Một là Tứ niệm trụ, hai Tứ chánh cần, ba Tứ như ý túc, bốn Ngũ căn, năm Ngũ lực, sáu Thất giác phần, bảy Bát chánh đạo. Ở đây, Tứ Niệm trụ Phạn ngữ gọi là catvāri smṛty-upasthānāni, Pāli gọi là cattāro sati-paṭṭhānāni còn gọi là tứ niệm xứ, tứ ý chỉ, tứ chỉ niệm, tứ niệm, thân thọ tâm pháp, nghĩa là Bốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp là nơi để hành giả tập trung tâm niệm vào một trong bốn điểm này khi tu tập, với mục đích là đề phòng và đình chỉ những tạp niệm vọng tưởng khởi lên. Đây là bốn loại phương pháp dùng để đạt chân lý trong pháp môn tu hành theo kinh điển Phật giáo Nguyên thỉ mà đức Đạo sư đã chỉ dạy.

Hành giả lúc tu tập chỉ cần dùng tự tướng thân mình cùng những cọng tướng khác mà quán sát thân này là bất tịnh, những nhận lãnh (thọ) là khổ, tâm mình luôn luôn không thường hay thay đổi, và các pháp thì luôn không có ngã, nó chỉ là một giả hợp. Vì sao hành giả phải quán sát như vậy? Vì chúng ta luôn bị bốn pháp này chi phối làm lệch lạc tư duy của chúng ta, nên lúc nào chúng ta cũng cho rằng thân này là trong sạch, mọi thứ thủ đắc có được của chúng ta đối với cuộc sống mang lại vui sướng khoái lạc hạnh phúc, tâm của chúng ta thì lúc nào cũng vĩnh viễn thường hằng bất biến và các pháp giữa cuộc đời này là thật có, là ta, là của ta. Những tư duy cố chấp lệch lạc như vậy đưa chúng ta đi đến những hành động tạo nhân nghiệp sai trái đưa đến quả khổ trong sinh tử luân hồi. Để đối trị lại bốn thứ tà chấp điên đảo cho rằng thân là trong sạch, thọ nhận là khoái lạc, tâm là thường hằng, các pháp (tâm và vật) là hữu ngã, đức Đạo sư đã dùng bốn pháp quán thân là bất tịnh, thọ nhận là khổ, tâm là vô thường, pháp là vô ngã để phá trừ bốn thứ tà chấp điên đảo trên. Ở đây, niệm có nghĩa là chúng ta quán sát có trí tuệ (tuệ quán); trụ chỉ bốn nơi thân, thọ, tâm và pháp phát sinh ra bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã. Khi hành giả dùng trí tuệ để quán sát, tức là tâm niệm chúng ta có thể đình chỉ trụ vào những chỗ này để tu tập.

Tứ niệm trụ tức chỉ cho:

1. Thân niệm trụ (Skrt: kāya smṛty-upasthānāni; Pāli: kaye kāyanuppassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thân niệm xứ, tức là quán sát tự tướng của thân là bất tịnh, nhơ nhớp, và cùng lúc quán sát cộng tướng thân của chúng ta là vô thường, là khổ đau, là không thật, là vô ngã để đối trị lại các bệnh chấp điên đảo cho là thanh tịnh.

2. Thọ niệm trụ (Skrt: vedanā-smṛty-upasthāna; Pāli: vedanāsu vedanānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) còn gọi là thọ niệm xứ, tức quán sát nguyên do đối trong việc hân hoan mong cầu hưởng lạc sẽ sinh ra khổ đau ngược lại, và cũng đồng thời quán sát cộng tướng của nó là khổ đau, không thật hữu, để đối trị bệnh chấp điên đảo cho là lạc thú.

3. Tâm niệm trụ (Skrt: citta-smṛty-upasthāna; Pāli: citte cittānupassi viharati ātāpi sampajāno satimā.) Còn gọi là tâm niệm xứ, tức quán sát tâm thường mong cầu của chúng ta luôn sinh diệt vô thường biến đổi, và quán sát mọi cộng tướng của chúng cũng như vậy, để đối trị bệnh chấp điên đảo cho là thường hằng vĩnh viễn.

4. Pháp niệm trụ (Skrt: dharma-smṛty-upasthāna; Pāli: dhammesu dhammānupassi viharati ātāpi sampajāno satima.) Còn gọi là pháp niệm xứ, tức là quán sát tất cả các pháp đều nương vào nhân duyên mà sinh khởi, nên sự hiện hữu của chúng là không có tự tánh, và tất cả những cộng tướng khác cũng được quán sát như vậy, để đối trị bệnh chấp ngã điên đảo.

Theo Trung A-hàm 24, (Đ.1, tr.582) thuộc Hán tạng thì gọi là kinh Niệm xứ chứ không gọi là Niệm trụ. Bốn niệm xứ là tên gọi khác của niệm trụ. Bốn niệm xứ là quán thân như thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán pháp như pháp.

Theo đức Đạo sư dạy thì:

Quán thân như thân là Tỳ-kheo khi nào đi thì biết mình đang đi, khi nào đứng thì biết mình đang đứng, khi nào ngồi thì biết mình đang ngồi, khi nào nằm thì biết mình đang nằm, khi nào ngủ thì biết mình đang ngủ, khi nào thức thì biết mình đang thức, khi nào ngủ say thì biết mình đang ngủ say.

Biết rõ chính xác khi vào khi ra, khi co khi duỗi, khi cúi khi ngẩng, oai nghi chững chạc, khéo khoác tăng-già-lê và cầm bát; đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng đều biết rõ chính xác.

Khi sanh niệm ác bất thiện, liền niệm điều thiện để đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ. Răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, tiêu diệt, tĩnh chỉ.

Niệm hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra dài thì biết thở ra dài. Thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn. Học toàn thân thở vào, học toàn thân thở ra. Học thân hành tĩnh chỉ thở vào, học khẩu hành tĩnh chỉ thở ra.

Hỷ lạc sinh do ly dục, thấm nhuần thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể không đâu không có. Như người hầu tắm, bỏ bột tắm đầy chậu, nước hòa thành bọt, nước thấm vào thân, phổ biến sung mãn, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc sanh nhờ ly dục không đâu không có. Tỳ-kheo có hỷ lạc nhờ định sanh, nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc nhờ định sanh không đâu không có. Cũng như suối trên núi, trong sạch không nhơ, nước từ bốn phương chảy đến đổ vào tự nhiên, từ đáy suối, nước tự vọt lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi, phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc nhờ định sanh thấm nhuần thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, hỷ lạc do định không đâu không có.

Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp; biến trong thân thể, lạc sanh do ly hỷ không đâu không có. Như các thứ sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, rễ, hoa, lá, cọng thảy đều thấm nhuần, phổ biến đầy khắp, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ nhuần thấm thân thể, phổ biến đầy khắp, biến trong thân thể, lạc do ly hỷ không đâu không có.

Tỳ-kheo ở trong thân này được biến mãn với tâm thanh tịnh, ý giải, thành tựu an trụ; ở trong thân này tâm thanh tịnh không đâu không biến khắp. Như có một người trùm một cái áo rộng bảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu đến chân, thì khắp cả thân đều được phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thân này với tâm thanh tịnh, không đâu không có.

Tỳ-kheo niệm quang minh tưởng, khéo thọ trì, nhớ rõ điều niệm; như phía trước, phía sau cũng vậy; ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày; dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Như vậy tâm không điên đảo, tâm không bị ràng buộc, tâm tự sáng tỏ, không khi nào còn bị bóng đen che lấp.

Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, như người ngồi quán sát kẻ nằm, rồi nằm quán sát kẻ ngồi. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu từ đầu đến chân quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh: “Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu”. Như một cái bồn chứa đủ hạt giống, ai có mắt sáng thì thấy rõ ràng: “Đây là hạt lúa, hạt gạo, kia là hạt cải, cỏ, rau”. Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo những chỗ trong thân, tùy theo tính chất tốt xấu, từ đầu đến chân, quán thấy thảy đều đầy dẫy bất tịnh: “Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não căn, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu”. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheo quán sát giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng: ‘Trong thân này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheo quán xác chết, mới chết từ một hai ngày đến sáu bảy ngày, đang bị quạ diều bươi mổ, sài lang cấu xé, hoặc đã hỏa thiêu, hay đã được chôn lấp, đang bị rửa nát hư hoại. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

 Tỳ-kheo như từng thấy trong nghĩa địa, hài cốt xám xanh, rữa nát gần hết, xương vãi khắp đất. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh khỏi,’ Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

 Tỳ-kheo như từng thấy trong nghĩa địa, da, thịt, máu, huyết tiêu cả, chỉ còn xương dính gân. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheo như từng trong nghĩa địa thấy xương rời từng đốt, rải rác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy.

Tỳ-kheo như từng thấy trong nghĩa địa, xương trắng như vỏ ốc, xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn. Quán rồi tự so sánh: ‘Thân ta rồi cũng thế, đều có những trường hợp này, không sao tránh khỏi’. Tỳ-kheo khéo giữ tướng trạng tu quán, khéo nhớ điều niệm, cũng giống như vậy. Tỳ-kheo như vậy, những phương pháp quán trên là quán nội thân như thân; quán ngoại thân như thân; lập niệm tại thân, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thân như thân.

Quán thọ như thọ là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc, khi thọ nhận cảm giác khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ, khi thọ nhận cảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giác lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm thọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảm giác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn, cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổ khi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khi có dục, cảm giác không khổ không lạc khi có dục; cảm giác lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảm giác không lạc không khổ khi không có dục. Tỳ-kheo như vậy, quán nội thọ như thọ, quán ngoại thọ như thọ, lập niệm tại thọ, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán thọ như thọ.

Quán tâm như tâm là Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng như thật có tâm tham dục, có tâm không dục thì biết đúng như thật là có tâm không dục. Khi có sân hay không sân, có si hay không si, có ô uế hay không ô uế, có hợp hay có tan, có thấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn; tụ hay không tụ, định hay không định, giải thoát hay không giải thoát. Cũng như vậy, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải thoát; có tâm không giải thoát thì biết đúng như thật là có tâm không giải thoát. Tỳ-kheo như vậy, quán nội tâm như tâm, lập niệm tại tâm, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy là Tỳ-kheo quán tâm như tâm.

Quán pháp như pháp là khi con mắt duyên sắc, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết; bên trong thật không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết. Nội kết chưa sinh, bây giờ sinh, biết đúng như thật. Nội kết đã sinh và được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như vậy. Khi ý duyên pháp, sinh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nội kết chưa sinh bây giờ sinh; biết đúng như thật nội kết đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật.

Bên trong thật có ái dục thì biết đúng như thật là đang có ái dục, bên trong thật không có ái dục thì biết đúng như thật là không có ái dục. Ái dục chưa sinh nay sinh, biết đúng như thật. Ái dục đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật. Với sân nhuế, thùy miên, điệu hối và nghi cũng giống như vậy. Bên trong thật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên trong thật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi. Nghi chưa sinh, nay đã sinh, biết đúng như thật. Nghi đã sinh và đã được đoạn trừ, không sinh lại nữa, biết đúng như thật.

Bên trong thật có niệm giác chi thì biết đúng như thật là có niệm giác chi; bên trong thật không có niệm giác chi thì biết đúng như thật là không có niệm giác chi. Niệm giác chi chưa sinh nay sinh, biết đúng như thật. Niệm giác chi đã sinh thì ghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biết đúng như thật. Với trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả cũng giống như vậy. Bên trong thật có xả giác chi thì biết đúng như thật là đang có xả giác chi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng như thật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sinh nay sinh, biết đúng như thật, xả giác chi đã sinh thì ghi nhớ không quên, không suy thoái, tu tập càng lúc càng tăng trưởng, biết đúng như thật. Tỳ-kheo như vậy quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, có tri, có kiến, có minh, có đạt. Như vậy gọi là Tỳ-kheo quán pháp như pháp, nghĩa là quán Bảy giác chi.

Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào trụ Bốn niệm xứ thì lâu nhất trong vòng bảy năm, nhất định sẽ chứng được một trong hai quả: hoặc chứng Cứu cánh trí ngay trong hiện tại, hoặc chứng A-na-hàm nếu còn hữu dư. Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.

Trên là phương pháp tu tập Bốn niệm trụ (xứ) quán được chúng tôi tóm lược đầy đủ từ trong kinh Niệm xứ văn hệ Hán tạng thuộc Thinh văn thừa trong Trung A-hàm mà đức Đạo sư đã dạy cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni khi Ngài còn tại thế. Ở đây tuy đức Đạo sư chỉ dạy cho hàng xuất gia, nhưng hàng tại gia chúng ta cũng có thể tu tập phương pháp này, nếu mọi người nỗ lực thực hành trong miên mật thì sự thành công đối với chúng ta cũng không phải là chuyện khó. Vì đây, cũng chỉ là một phương pháp thiền định của hiện quán tự thân mỗi chúng ta đối với cuộc sống mà thôi.

Ngoài ra, nếu chúng ta muốn tìm hiểu rộng sâu hơn nữa thì chúng ta cũng có thể tìm hiểu và y cứ vào Câu-xá luận quyển 23 thì pháp tu tập tứ niệm trụ lệ thuộc vào tự tướng (tướng riêng) và cọng tướng (tướng chung), y vào thứ tự bốn thứ nơi thân, thọ, tâm và pháp mà quán chiếu; nhưng trong lãnh vực này mỗi phạm trù có tự tánh riêng của chúng. Như tự tánh của thân là bốn đại chủng sắc đã tạo ra nó, còn cọng tướng là chỉ cho tánh cộng thông của các pháp, tức là tánh của tất cả các pháp đều vô thường, khổ, không, vô ngã.

Về thể của tứ niệm trụ thì mỗi phạm trù nó có ba loại, gọi là ba niệm trụ:

a/ Tự tánh niệm trụ, còn gọi là tự tánh niệm xứ: Là dùng ba tuệ văn, tư, tu làm thể thường quán sát thân, thọ, tâm và pháp.

b/ Tương tạp niệm trụ, còn gọi là cộng niệm xứ: Dùng tâm, tâm sở cùng với tuệ đồng lúc tồn tại làm thể, ở đây chỉ cho mọi tác dụng của tinh thần.

c/ Sở duyên niệm trụ, còn gọi là duyên niệm xứ: Lấy tuệ làm đối tượng của sở duyên, tức chúng ta lấy bốn phạm trù thân, thọ, tâm và pháp làm thể.

Quán pháp của tứ niệm trụ, chúng ta có thể phân ra làm hai loại biệt tướng và tổng tướng:

1/ Biệt tướng niệm trụ: là chỉ cho mỗi quán pháp riêng của tứ niệm trụ.

2/ Tổng tướng niệm trụ: là chỉ cho quán pháp chung cho tứ niệm trụ.

Hơn nữa trong tứ niệm trụ thì ba phạm trù trước thuộc về tạp duyên, còn pháp niệm trụ thứ tư thì chung cho tạp duyên cùng không tạp duyên. Nên chỉ có quán pháp niệm trụ mới gọi là bất tạp duyên; đối với thân, thọ, tâm và pháp thì hoặc là hợp duyên quán hai phạm trù, hay ba phạm trù, hoặc hợp duyên quán chung cả bốn phạm trù thì gọi là tạp duyên. Ở đây, hành giả nếu tu tập tạp duyên pháp niệm trụ thì có thể vào được vị của tứ thiện căn, tức là hành giả đã hoàn thành phàm vị của mình để bắt đầu chuẩn bị đi vào Thánh vị của kiến đạo.

Và cũng theo Đại thừa A-tỳ-đạt-ma tạp tập luận quyển 10 thì, Tứ niệm trụ này chúng ta có thể theo thứ tự phối hợp với Tứ thánh đế: Tức là thân niệm trụ kết hợp với khổ thánh đế, thọ niệm trụ có thể kết hợp với tập thánh đế, tâm niệm trụ có thể kết hợp với diệt thánh đế và pháp niệm trụ có thể kết hợp với đạo thánh đế để quán sát trong việc thanh tu ba nghiệp thân khẩu ý trừ khổ đạt vui trong hiện quán.

Tóm lại, pháp quán Tứ niệm trụ, dù là Tiểu thừa hay Đại thừa trên phương pháp, tức chỉ cho sự tướng tuy có cạn sâu, có nhanh có chậm, nhưng trên bình diện thể cứu cánh thì cũng như nhau. Hành giả sẽ đạt được cứu cánh nếu những nỗ lực thực hành tu tập của chúng ta luôn đặt trên chiều miên mật trong hiện quán thì chính như đức Đạo sư đã dạy: “Luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chánh trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất định buổi tối liền được thăng tiến. Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.” Ở đây, đức Đạo sư muốn nói đến sự thăng tiến đạt đến kết quả của cứu cánh Niết-bàn an vui giải thoát trong hiện quán.
 

Thần thông và Nghiệp lực Tôn giả Mục-kiền-liên

Thích Trí Lộc

(Tiếp theo)

B. Nghiệp lực qua cuộc đời Tôn giả Mục-kiền-liên:

Nếu thần thông của Tôn giả Mục-kiền-liên là cánh diều no gió tung bay trên trời cao để hoằng hóa độ sanh một cách tự tại, thì những nghiệp bất thiện mà Tôn giả đã tạo trong tiền kiếp lại như tảng đá lớn níu dây diều trở lại, để rồi cuối cùng khi trời ngừng gió thì cánh diều lại rơi. Yếu tố này trong các kinh sách Phật giáo gọi là: “thần thông không thắng được nghiệp báo”. Cuộc đời của Tôn giả Mục-kiền-liên từ trong vô thỉ kiếp luôn ẩn chứa những nghiệp cực thiện và cực ác, để đến kiếp sau cùng mọi hậu quả tốt xấu đều hiện hành. Điều này thể hiện rất rõ nét qua hai yếu tố thần thông và nghiệp lực để lại bao suy tư, lo âu nhưng chứa dựng những điều kính phục sâu xa trong hàng triệu trái tim của người con Phật đến bây giờ và mãi ngàn sau. Trong vô lượng kiếp, Ngài đã từng cùng với Tôn giả Xá-lợi-phất quì dưới chân đức Phật Anomadassi để cúng dường và dâng lời phát nguyện trở thành Đại đệ tử của đức Phật Thích-ca, tạo một nghiệp cực thiện mà muôn triệu người khác không dễ gì làm được. Trong vô biên kiếp trước, Ngài đã từng cúng dường và phát nguyện cầu chứng thần thông trước sự chứng minh của một vị Bích-chi Phật, để rồi đến đời sau cùng, Ngài chứng đắc đệ nhất thần thông giữa muôn ngàn đệ tử của đức Phật v.v… Tích tụ thiện nghiệp trong nhiều đời nhiều kiếp như thế, đến đời sau cùng Ngài xuất gia tu tập, chứng được Thánh quả, siêu xuất luân hồi.

Bên cạnh những thiện nghiệp mà Ngài đã làm trong vô lượng kiếp trước, thì cũng có những nghiệp bất thiện mà Ngài đã tạo trong những kiếp lâu xa. Trong những đời quá khứ lâu xa ấy, Ngài đã từng nghe theo lời người vợ độc ác, đánh đập, bất hiếu với cha mẹ; đã từng làm nghề chài lưới để sát hại hàng triệu sinh linh… từ đó đã tạo nên những nghiệp cực ác, cho đến kiếp sau cùng, dù đã chứng đắc quả vị Vô sanh cũng vẫn phải trả những món nợ xa xưa ấy. Những điều trên cho ta thấy rằng, năng lực của nghiệp rất công bình, thể hiện rất rõ nét và xuyên suốt cuộc đời Ngài. Thần thông là yếu tố siêu phàm nhưng không thể chuyển đổi được nghiệp lực mà mình đã tạo, điều đó thể hiện rất rõ nét qua những đặc điểm trong đời Ngài, đặc biệt là ba yếu tố sau: thần thông đối với dòng họ Thích, thần thông với mẫu thân và thần thông với nghiệp của Ngài.

1. Thần thông với dòng họ Thích:

“Đã mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.”

Hai câu thơ trong tác phẩm truyện Kiều bất hủ của Nguyễn Du đã thuyết minh được phần nào về giáo lý Nghiệp của đạo Phật. Nghiệp là hành động của thân, khẩu và ý có tác ý . Trong suốt dòng sanh tử vô tận, con người đã tạo rất nhiều nghiệp thiện và ác; tất cả những nghiệp thiện, ác ấy dẫn đến sự khác biệt của muôn người với nhau. Nghiệp không phải là cái gì bất biến, mà nó luôn biến đổi theo thời gian và không gian, tùy theo những hành động của con người, của chúng sanh và không bao giờ mất đi được; đã tạo nghiệp thì hiển nhiên có quả báo.

Thuở Phật còn tại thế, vua Tỳ-lưu-ly thuộc nước Kiều-tất-la đã đem quân sát hại dòng họ Thích để rửa mối hận trong thuở thiếu thời. Mối hận ấy bắt nguồn từ sự thiếu chân thật của vua Ma-ha-nam, chủ nhân thành Ca-tỳ-la-vệ, thuộc dòng họ Thích. Thuở ấy, vua nước Kiều-tất-la là Ba-tư-nặc, là vua một nước giàu có, binh hùng, tướng mạnh. Ông biết thành Ca-tỳ-la-vệ có nhiều mỹ nữ nên muốn kết thân với nước này. Vua Ma-ha-nam vì thương công chúa xinh đẹp con của mình nên không muốn gả cho vua Ba-tư-nặc, bèn chọn một nàng tỳ nữ thật xinh đẹp tên là Mạt Lợi cho cải trang thành công chúa để gả cho vua nước này.

Tỳ nữ Mạt Lợi vừa xinh đẹp, khôn ngoan, lại phúc hậu cũng rất xứng đáng với ngôi vị hoàng hậu nước Kiều-tất-la. Ai cũng khen ngợi nàng nên vì thế không nghi ngờ gì về thân phận của nàng. Năm tháng dần trôi, hoàng hậu Mạt Lợi đã sanh cho vua Ba-tư-nặc hai hoàng nam tuấn tú đó là thái tử Kỳ-đà và hoàng tử Lưu Ly. Lúc bấy giờ, hoàng tử Lưu Ly còn nhỏ và được phụ hoàng gởi sang vương thành Ca-tỳ-la-vệ để học bắn cung, vì kỷ thuật bắn cung của dân Ca-tỳ-la-vệ rất điêu luyện. Trong lúc đang vui chơi, hoàng tử Lưu Ly thấy một ngôi nhà tráng lệ được trang trí rất đẹp, giữa nhà có đặt một bảo tòa sư tử rất đẹp và cao quí. Thấy vậy, hoàng tử liền leo lên bảo tòa ngồi chơi. Đúng lúc ấy, có một đoàn người thuộc dòng họ Thích đi qua, nổi giận mắng rằng:

“Mi là con của một đứa nữ tỳ hạ tiện, làm sao dám bước chân vào tòa giảng đường linh thiêng của ta, và làm ô uế bảo tòa sư tử này? Mi có biết là bọn ta xây ngôi giảng đường này để tiếp rước bậc Đại Thánh đức Phật Thích-ca về quê không? Làm sao một đứa ti tiện như mi lại có thể đặt chân đến một chỗ thanh tịnh thế này, có mau cút đi cho ta không?”

Hoàng tử Lưu Ly tuy còn nhỏ nhưng đã vốn có lòng sân giận và độc ác nên vô cùng tức giận và nói với Khổ Mẫu (tên người bạn thân, con của tể tướng nước Kiều-tất-la đi cùng với hoàng tử Lưu Ly) rằng:

“Khổ Mẫu! Chuyện hôm nay huynh hãy nhớ giùm tôi, ngày nào tôi lên ngôi vua thì việc thứ nhất là báo thù rửa cái nhục hôm nay.”

Nói xong liền cùng với tùy tùng trở về nước, từ đó cho đến lúc trưởng thành, hoàng tử Lưu Ly luôn ôm mối hận trong lòng. Với bản tánh độc ác và tham tàn, Lưu Ly đã tìm cách giết anh mình là thái tử Kỳ-đà và vua cha để lên ngôi vua. Ngay sau khi lên ngôi vua, việc làm gian ác tiếp theo của Lưu Ly là đích thân thống lãnh quân đội hùng mạnh của nước mình đi tàn sát vương thành Ca-tỳ-la-vệ để tiêu diệt dòng họ Thích.

Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên biết được thảm hại diệt vong của dòng họ Thích, Ngài đã sử dụng thần thông đem năm trăm người dòng họ Thích bỏ vào bình bát của mình, cứu họ thoát khỏi thảm họa tàn sát của Lưu Ly, nhưng sau khi mở bình bát ra thì hỡi ôi, chỉ toàn là máu!

Đức Phật dạy tôn giả Mục-kiền-liên rằng, thần thông không thể thắng được nghiệp lực mà con người đã tạo ra. Và đức Phật đã kể về tiền kiếp của dòng họ Thích: Vào thời quá khứ, dân chúng thành Ca-tỳ-la-vệ là cư dân sinh sống ở một ngôi làng lớn, gặp kì đại hạn kéo dài, cỏ cây không sống được, lương thực của làng cũng không còn gì để ăn. Trong làng có một cái đầm rất lớn, trong đầm có một con cá khổng lồ tên là Ma-kiệt, vì đại hạn nên nước đầm này cũng khô, cá Ma-kiệt ấy cũng chịu chung số phận sống với chút ít nước còn lại dưới đáy bụng của mình. Cư dân trong làng vì không còn gì ăn nên muốn giết con cá Ma-kiệt này để ăn. Sau một hồi bàn cãi, họ quyết định dùng dao, rựa và rìu để bửa từng mảng thịt của cá Ma-kiệt mà không giết nó, để ăn được lâu dài. Cá Ma-kiệt đau đớn buốt xương, van nài dân làng hãy giết nó đi, đừng hành hạ nó đau đớn kinh khiếp từng ngày như vậy, nhưng cư dân vẫn không chịu nghe lời van lơn của cá Ma-kiệt. Với tâm căm thù kinh khiếp, cá Ma-kiệt đã phát lời thề rằng sẽ giết tất cả dân làng này ở đời sau để rửa hận. Đức Phật dạy rằng, cá Ma-kiệt chính là tiền thân của vua Tỳ-lưu-ly.

Với tâm độc ác của vua Lưu Ly như thế, đức Phật đã cho mọi người biết rằng, trong vòng bảy ngày sau ông sẽ bị thảm họa chết cháy. Nghe lời tiên đoán của Phật, vua Lưu Ly rất kinh khiếp, vội cùng với quần thần lên đại thuyền trốn ra giữa biển khơi để lánh nạn. Bảy ngày trôi qua, đến đêm thứ bảy, một cung nữ của vua đã vô tình làm đổ ngọn đèn, gặp gió lớn ngọn lửa bốc cao, thiêu sống toàn bộ vua quan và thể nữ. Đức Phật dạy rằng: “Lấy oán báo oán, oán thêm chồng chất; lấy ân báo oán, oán ấy mới tiêu”.

2. Thần thông với mẫu thân

Đông phương có những truyền thống rất cao đẹp mà các nước khác ở Tây phương không có được. Một trong những truyền thống cao đẹp ấy là hạnh hiếu. Hạnh hiếu của tôn giả Mục-kiền-liên là một trong những tấm gương sáng ngời nhất. Hạnh hiếu ấy có liên quan đến hai yếu tố thần thông và nghiệp lực.

Sau khi giã biệt cuộc sống hồng trần để bước chân vào con đường xuất thế, Tôn giả Mục-kiền-liên đã nỗ lực tu tập chỉ trong một tuần đã chứng được quả vị Vô sanh, chứng được năng lực thần thông siêu việt nhất. Lúc ấy vì lòng hiếu thảo cao cả, Ngài đã dùng thiên nhãn siêu nhiên quan sát tìm thân mẫu mình đang ở cảnh giới nào hầu mong được đáp đền công đức sanh thành trong muôn một.

Nhưng với thần lực thiên nhãn siêu nhiên ấy, Tôn giả Mục-kiền-liên cũng không tìm thấy mẹ mình. Bởi mẹ Ngài, là bà Thanh Đề lúc sanh tiền đã tạo quá nhiều nghiệp ác: tội không tin Tam bảo, hủy báng Phật, phá hoại Chánh pháp, dối gạt, đánh đập chư Tăng, lại đi phụng thờ ngoại đạo, giết hại sinh linh để tế thần… Những tội nghiệp cực trọng ấy chính là nguyên nhân để bà Thanh Đề chịu khổ đau hành hình nơi địa ngục A-tỳ kinh khiếp nhất. Với tội nghiệp tham lam, bỏn sẻn... bà lại bị đọa đày trong loài ngạ quỉ không được uống ăn. Trường hợp của bà Thanh Đề vừa bị đọa vào địa ngục chịu đủ mọi cực hình đau đớn nhất, lại chịu khổ đói khát của loài ngạ quỉ, đây quả là trường hợp đáng thương, đau xót nhất. Với năng lực thần thông siêu việt, Tôn giả đã quan sát mọi cảnh giới cũng không tìm thấy mẹ mình. Ngài đã thưa cùng đức Phật, đức Phật chỉ nơi thọ khổ báo của mẹ Ngài và ban cho Ngài cây tích trượng để mở cửa ngục Cao-tường thăm viếng mẹ. Nhìn thấy khổ cảnh đọa đày kinh khiếp của mẹ, tôn giả dâng lên mẹ một bát cơm, nhưng hỡi ôi, cơm bốc cháy thành lửa dữ:

“Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt

Sợ chúng ma cướp giựt của bà.

Cơm chưa đưa đến miệng đà

Hóa thành than lửa nuốt mà đặng đâu.”

Thần thông đệ nhất cũng đành bó tay không giúp gì được dù đó là người mẹ thân yêu nhất của mình. Rời A-tỳ ngục, Tôn giả Mục-kiền-liên cầu xin đức Phật cứu giúp. Vâng lời đức Phật, Ngài đã thành tâm cung thỉnh đức Phật và chư Thánh Tăng tịnh tu trong ba tháng hạ, thiết lễ trai Tăng nhất tâm chú nguyện, thị hiện năng lực siêu phàm, phóng đại hào quang tiếp độ mẫu thân Ngài và vô số chúng sanh trong địa ngục thác sanh về cõi trời Đao Lợi hưởng phước thanh nhàn.

Ở đây, chúng ta nhận thấy, thần thông và sự chú nguyện của đức Phật và chư Thánh Tăng là một đại duyên lành để trợ lực cho bà Thanh Đề phát khởi tín tâm, ăn năn sám hối những tội nghiệp của mình. Bà Thanh Đề đã hoàn toàn hối lỗi qua chén cơm hóa lửa, qua sự tra tấn cực hình, qua lời thuyết pháp khuyên răn chí tình của Tôn giả Mục-kiền-liên… Tất cả những điều ấy cộng với năng lực chú nguyện của đức Phật, của chư Thánh Tăng… đấy là đại thiện duyên để bà Thanh Đề thành tâm sám hối tất cả tội nghiệp sâu xa của mình, khiến cho thân tâm thanh tịnh, những thiện nghiệp trong tiền kiếp mót từng hạt gạo cúng chùa đã trở về… Đây mới là nguyên nhân chính hợp cùng với đại thiện duyên trên để đưa bà Thanh Đề từ chốn tối tăm, đọa đày, đau khổ, đói khát trong khổ cảnh địa ngục và ngạ quỉ, thác sanh về cõi trời Đao lợi hưởng phước an lành.

3.Thần thông và nghiệp lực của Ngài

Thần thông không thể hoán cải được nghiệp của người khác và cũng không thể vượt qua được nghiệp lực của chính bản thân mình. Chính vì thế mà đức Phật không khuyến khích các đệ tử mình tu tập cầu chứng thần thông. Bởi vì khi có thần thông mà tâm chưa được thanh tịnh thì sẽ phát sanh lòng tham lam, tìm cầu nơi thế quyền, danh vọng… đó chính là rơi vào con đường tu tập của hàng ngoại đạo hay ma Ba tuần…

Thời Phật còn tại thế, có rất nhiều ngoại đạo tu tập cầu chứng thần thông. Họ dùng thần thông để lừa bịp thiên hạ, lôi kéo tín đồ, tìm cầu danh vọng và lợi dưỡng. Từ ngày tôn giả Mục-kiền-liên được đức Phật cho sử dụng thần thông để hóa độ hàng ngoại đạo, phần đông họ đã quay về với Chánh pháp, nhưng vẫn còn một số vì nghiệp lực sâu xa, họ không những không quay về Chánh pháp mà ngược lại họ nuôi lòng căm thù tìm cơ hội để giết hại Tôn giả: “Một hôm trên đường hoằng dương Chánh pháp, Mục-kiền-liên đi qua núi Ý-tư-xá-lê. Bọn lõa hình ngoại đạo thám thính biết rõ lộ trình, chúng tụ tập nhau trên núi âm mưu phục kích. Khi Tôn giả vừa tới nơi mai phục, chúng từ trên núi xô đá xuống. Đá rơi ầm ầm như sấm rền, thác đổ, che lấp cả lối đi. Nhục thân tứ đại của Tôn giả bị đá đập nát, máu tuôn đầm đìa. Thật là rùng rợn! Thật là thảm thương! Vậy mà bọn ngoại đạo lại lấy làm đắc ý, toại nguyện vì đã trả được mối thâm thù. Chúng không làm gì được Phật thì chúng sát hại đệ tử thượng thủ của Phật để làm cho Phật pháp mất uy danh. Tin tôn giả Mục-kiền-liên bị ám hại truyền đến tai đức Thế Tôn và vua A-xà-thế, nhà vua nổi giận hạ lệnh bắt hết cả ngàn hung thủ lõa thể để ném vào hầm lửa, thần thức chúng sa đọa vào địa ngục.”

Đọc qua lịch sử của tôn giả Mục-kiền-liên, gặp điểm này, vẫn không ít người thắc mắc: Tại sao Tôn giả có đệ nhất thần thông lại để bọn ngoại đạo ám hại dễ dàng như vậy? Đối với các bậc chân tu thì chuyện sống chết tự tại như thay áo: cái áo này đã dơ, đã cũ thì nên thay cái áo mới, sạch hơn, đẹp hơn. Thân này đã già cõi, bệnh tật thì nên từ bỏ không cần  lưu luyến. Hơn nữa những nghiệp bất thiện mà Tôn giả từng tạo trong quá khứ như giết hại vô số sinh vật trong lúc làm nghề chài lưới, nghe lời người vợ độc ác đánh đập cha mẹ, đem cha mẹ bỏ vào núi rừng… Những nghiệp trong quá khứ như thế đã đến lúc trả quả nên Ngài không sử dụng thần thông để trốn chạy, mà an nhiên nhận lãnh, đó mới chính là tinh thần vô úy, là chân lý của nghiệp. Đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo! Ta không cần báo trước, Mục-kiền-liên đã biết trước rồi. Tôn giả có thể dùng thần thông để bảo vệ mình, nhưng đó không phải là biện pháp cứu cánh, vì nghiệp vẫn cứ đeo mang. Tôn giả biết trước mà vẫn an nhiên tiến đến cái chết vì Ngài muốn trả một lần cho dứt nghiệp hầu an nhàn thành Phật đạo ở mai sau. Cái cao quí nhất là Mục-kiền-liên đã hy sinh tuẫn tử vì đạo pháp, nêu gương sáng cho mọi người, mọi thời. Các ông hãy nêu gương ấy của Tôn giả.”

Nghiệp là một hành động tất yếu của chúng sanh, đã tạo nghiệp ắt phải trả quả, cho dù đó là một Bậc đệ nhất thần thông như tôn giả Mục-kiền-liên cũng không trốn tránh nghiệp xấu của mình. Ý thức được bài pháp sống động qua thần thông và nghiệp lực của tôn giả Mục-kiền-liên, chúng ta hãy cẩn trọng tỉnh giác trong lúc tạo nghiệp của mình, lúc nào cũng cố gắng tạo những nghiệp thiện, nghiệp tốt để tự thăng hoa chính mình ngay trong  hiện tại cũng như vô lượng kiếp về sau. (hết)


 

THƠ

MINH ĐỨC - TRIỀU TÂM ẢNH 

Niềm Vui Siêu Thoát 

Vén trăng, Phật xuống trần gian

Sắc thân tinh đẩu chảy tràn lưu ly

Sen vàng nở bảy bước đi

Cốt cách vi diệu, dung nghi đại hiền

 

Hoàng thành Xá-vệ đứng lên

Mừng vui nhảy múa dáng mềm tiên nga

Hương thơm từ đóa sàlà

Thơm thơm đại nguyện, chan hòa nước mây

 

Gió lành phơ phất, ô hay!

Đất trời mát mẻ, và ngày và đêm

Người ơi! Giây phút linh thiêng

Núi cao núi xuống, thương miền tà huân

 

Phật về cây lá thanh tân

Niềm đau hạt muối vỡ gần vỡ xa

Biển dâu lận đận không nhà

Chợt nghe siêu thoát câu ca thượng đầu!

 

Am Mây Tía

Mùa Phật Đản PL.2549

 

NGÀN THƯƠNG 

 Đêm Cao Nguyên Bình An 

 Đêm cao nguyên

Lấp lánh ánh sao

Hướng về Đản sanh

Cây rừng tỏa mùi hương quế

Chim bay về từ đỉnh núi xa lơ.

 

 Đêm cao nguyên

Hiền thánh tự bao giờ

Mà suối hát

Chim ngân lời diễn cảm

Nghe hồn ấm cam lồ pháp vũ

Nguồn tâm linh vượt bể ái hà.

 

 Đêm cao nguyên

Tâm cảm thiết tha

Vẫn thấy gần Ngài

Cho những ai ngưỡng vọng

Chỉ cần hướng tâm

Là tới bến bình an…

NINH GIANG THU CÚC

Mưa lành

 

Từng giọt mưa lành tưới thế gian

Đản sanh nhè nhẹ gót sen vàng

Bừng lên đuốc tuệ soi nhân loại

Tỏa khắp ta bà ánh đạo quang

Mẫu hậu Ma gia tròn ước nguyện

Quân vương Tịnh Phạn vẹn đôi đàng

Chuyển luân đời đạo lòng tâm niệm

Ruộng phước cấy cày buổi khẩn hoang.

Kính ngưỡng

Người đi những bước chân vào huyền thoại

Tự an nhiên đại địa ngát hương sen

Nhạc trời tấu diệu hòa ca an lạc

Tháng tư trong vườn thiêng tỏa ánh quang

Tự thể tánh Ngài hiện thân miên viễn

Thương chúng sanh vào cõi thế trầm kha

Từ vô thủy thân vô biên thường trú

Mưa pháp âm thấm nhuận cả sơn hà

Bi vô lượng chuyển muôn ngàn phương tiện

Cũng sanh, già, hoại, diệt có hề chi

Đời cứ thấy đến đi theo ngày tháng

Như Lai thành trong một nghĩa nhất như.

 VĨNH THI
 

 

THÔNG NHà

Với Bóng Tà dương 

Thưa cùng với bóng tà dương

Tôi người lạc bước giữa đường nhân gian

Tạ ơn một kiếp trầm hoàn

Cho tôi thấy được muôn vàn khổ vui

Niềm chung xin gởi lại người

Niềm riêng chừ thả mây chiều bay đi

Trăm năm nắng chợt mưa thì

Lối về hư ảo còn gì cho nhau

Ngồi nghe biển hẹn ngàn dâu

Bờ rêu sương phủ trắng màu thời gian

Đi-về giữa nhịp ly tan

Khói mây nhân ảnh lấp tràn ước mong

Ngày mai sóng nước xuôi dòng

Lời thơ nhỏ lệ giữa lòng tịch liêu.
 

HẠNH PHÚC THAY ĐỨC PHẬT RA ĐỜI

Thích Trí Nguyệt 

Người xuất thế, đấng toàn năng giáng độ

Ôi hân hoan! Ôi hạnh phúc dường nào!

Ba nghìn năm thuở nhiệm mầu hiếm có,

Lâm-tỳ-ni bừng nở đóa vô ưu,

Lòng chúng sanh lịch kiếp vẫn truyền lưu,

Ngày kỷ niệm “ra đời đức Từ Phụ” 

Hôm nay, ngày đản sinh của đấng Trí Tuệ lại một lần nữa trở về với nhân loại. Không những nơi đây mà khắp nơi trên thế giới hàng triệu con tim đang thành kính đón mừng ngày lịch sử của ánh sáng từ bi. Giờ khắc này gợi lại cho chúng ta nhớ đến sự ra đời và lịch sử của một con người vĩ đại nhất thế giới. Tính chất vĩ đại ở đây không phải vì uy quyền, bạo động, vũ khí hay khủng bố, mà vĩ đại vì lòng thương và trí tuệ. Không những nay mà muôn ngàn năm sau loài người vẫn còn kinh ngạc và thán phục một con người sanh ra cách đây hơn 25 thế kỷ đã có thể tuyên bố con người với con người vốn bình đẳng, phụ nữ cũng có đủ các khả năng như đàn ông, thế giới này được quyết định bởi bàn tay con người, chứ không phải thần linh, thượng đế hay đấng siêu nhiên nào, và sau cùng là con người đều có khả năng tiến bộ (giác ngộ).

Đức Phật ra đời là mang lại cho thế gian niềm tin và hạnh phúc tuyệt đối. Ngài là người kêu gọi và khen ngợi một cuộc sống không thù hằn và cuộc sống hướng đến tiến bộ. Chính vì thế mà trong suốt chiều dài lịch sử truyền giáo khắp đó đây, Phật giáo không hề vô tình hay cố ý nhúng tay vào những cuộc đổ máu, cũng không lôi cuốn ai lao vào con đường diệt vong đó.

Trước đây hơn 25 thế kỷ, tại thành Ca-tỳ-la-vệ, vua Tịnh Phạn cùng nhân dân vui mừng khi thái tử Tất-đạt-đa ra đời bao nhiêu, thì hôm nay, Phật tử khắp năm châu những người đã được tắm gội trong giáo pháp từ bi cũng tràn đầy niềm hân hoan thanh khiết bấy nhiêu để đón mừng lễ kỷ niệm Phật đản, PL 2549. Vì lòng bi mẫn muốn cứu độ chúng sanh, muốn chúng sanh giác ngộ, thoát khỏi những cái đau khổ do sanh lão bệnh tử mang lại, đức Phật đã thực hiện hai lần ra đi rất là cao cả. Lần thứ nhất, Bồ-tát Hộ Minh từ giã cung điện Đâu Suất nguy nga lộng lẫy đầy ánh sáng. Lần thứ hai, thái tử Tất-đạt-đa từ giã vương thành Ca-tỳ-la-vệ ra đi tìm đạo trong đêm khuya. Hạnh phúc thay cho chúng ta, vì đức Phật ra đời là thế giới được ánh sáng để chúng ta có thể chiến đấu với ác ma, với kiếp sống mê muội, với đầu óc phi nhân. May mắn thay cho chúng ta, nhờ đức Phật mà ta có được người hướng đạo để vượt qua biển khổ. Kể từ đó đến nay, biết bao nhiêu người đã hưởng được hương vị giải thoát của giáo pháp mà được an lạc hạnh phúc. Ngày nay trên thế giới diễn ra những cảnh giết hại nhau, gây oán cừu và khổ cho nhau, tạo sự nghi kỵ và khủng bố là đều do xa rời giáo pháp của Phật.

Ngày Phật xuất thế là một tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người hãy buông vũ khí thù hằn nguy hiểm của tham sân si xuống và mang lên những gì hiền hòa của lòng từ bi để lợi người lợi vật. Muôn loại ca vang vì ngày này mà nước mắt bớt chảy, oán giận nguôi dần, thù hằn giảm xuống, và cũng nhân ngày này mà mọi người có thời gian nhớ lại những đức tính hiền lành và khả năng giác ngộ đã bị chôn vùi từ vạn kiếp trong chủ nghĩa cực đoan, trong thành kiến mê lầm. Ngày này, không những loài người, mà luôn cả chim muôn, thú vật cũng đều vui mừng hớn hở, được tự do sống ngày thanh thản, không lo âu hãi hùng cảnh máu chảy đầu rơi hoặc cảnh chảo dầu lò nướng như những ngày kỷ niệm linh đình khác.

Ngày Phật xuất thế là ánh dương mầu nhiệm soi rọi khắp trần gian, soi thấu tâm tư thầm kín mà mỗi khi bước đến gần ngày này thì lòng người cảm thấy một năng lượng dịu hiền bát ngát tràn ngập trong người, xóa bỏ bao lớp biên cương của ích kỷ vị ngã, để sống gần nhau hơn, thương yêu nhau hơn trong một bản thể cao quý. Có được duyên lành lại gần đức Phật, ta mới thấy ta bao la vĩ đại, cao thượng, ta với mọi người, mọi vật không còn cách biệt lạ thường như xưa kia đã lầm tưởng theo tâm lượng hẹp hòi u tối.

Cử hành lễ kỷ niệm Phật đản, chúng ta phải noi gương cao cả của Ngài, đem hết năng lực để phục vụ chúng sanh theo đúng chánh pháp theo phương châm “Cúng dường chúng sanh tức cúng dường Phật”, cúng dường đây có nghĩa là làm việc thiện ích cho chúng sanh, đem lại sự an vui cho chúng sanh, làm thế nào giữa chúng sanh nói chung, loài người nói riêng không còn cảnh tàn sát lẫn nhau, bắt bớ tù đày hay nghi kỵ giam lỏng lẫn nhau. Nhân loại chỉ biết đem trí thông minh xảo trá, tâm lừa dối để tàn hại lẫn nhau trong khi đức Phật lại dùng trí giác ngộ để bảo toàn tánh mạng cho chúng sanh, lắm lúc dùng ngay cả thân mạng mình, cả cuộc đời của mình để bảo vệ một lý tưởng, một truyền thống hay một chính nghĩa. Cho nên, chúng ta phải ý thức rằng chúng ta kính cẩn làm lễ Phật đản không phải vì đức Phật, mà chính là vì nhân loại, vì chúng sanh.

Ngày lễ kỷ niệm sự kiện ra đời của đức Phật là ngày lịch sử vĩ đại nhất trong tim của hàng triệu Phật giáo đồ trên thế giới, ngày quý báu nhất của chúng ta. Để phát huy hết tính năng vĩ đại và quý báu ấy, chúng ta phát tâm rộng lớn, thực hành nhiều Phật sự với tất cả sự tích cực linh động trong tinh thần chân Phật giáo, dẹp tan quan niệm của một Phật giáo thụ động.

Đời càng đau khổ chừng nào chúng ta phải càng thực hành giáo lý đạo Phật chừng đó, vì chỉ có giáo lý của Phật mới có thể xóa tan được nỗi thống khổ của chúng sanh, làm lắng dịu tâm niệm thù hằn, xảo trá, phi đạo đức, phi nhân bản. Để có thể có những kết quả như thế, chúng ta phải loại trừ tận gốc những tư duy và hành động lệch lạc, xây dựng một cuộc sống đạo chân chính, không vụ lợi… Trách nhiệm của chúng ta là làm sao cho ánh sáng của một đạo Phật quang minh chính đại tỏa rạng khắp trong ta và trong nhân gian. Nếu làm được như thế mới có thể gọi là thật sự đền đáp thâm ân của Phật trong ý tưởng cử hành lễ Đản sanh.


 

ĐỨC PHẬT VÀ CUỘC CHUYỂN HÓA NHÂN SINH TẬN GỐC RỄ 

Ỷ Thu Am

(Viết để kính dâng cúng dường ngày Đản Sanh của đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, Phật lịch 2549) 

Khi Thái tử Siddhàrtha vượt thành Kapilavatthu trong đêm trường thanh vắng để vào núi Himalayas tìm đường tu tập, Ngài đã xác định hướng đi cho cuộc chuyển hóa nhân sinh toàn diện nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng có lẽ đó chỉ là thời điểm chín mùi của một quá trình tư duy và chiêm nghiệm lâu dài từ trước về bản chất và ý nghĩa đích thực của đời sống. Thật vậy, ở ngôi vị của một Thái tử quyền quý cao sang như Ngài thì quyết định từ bỏ gia đình để xuất gia tầm đạo không thể xảy ra mà không có những nguyên nhân và động lực sâu xa. Sử truyện ghi rằng, khi Thái tử đi dạo chơi trong nhân gian, Ngài đã chứng kiến những thực trạng của cuộc đời như già yếu, bệnh hoạn và chết chóc. Từ đó Ngài bắt đầu tư duy về bản chất vô thường, giả tạm và khổ đau của cuộc đời để rồi quyết tâm tìm đường chuyển hóa. Tuy nhiên, ắt hẳn trên thực tế có lẽ với trí tuệ nhận thức bén nhạy và lòng thương yêu rộng lớn, Thái tử đã thường trực cảm nhận được bản chất biến dịch không ngừng của cuộc đời ngay trong chính những sinh hoạt và giao tiếp hằng ngày của Ngài, rồi cũng qua đó Ngài đã trầm tư sâu thẳm về con đường diệt khổ cho bản thân và đồng loại.

Sau khi thành đạo, đức Phật cùng chư vị Tỷ-kheo về thăm vua Tịnh Phạn và thân bằng quyến thuộc ở thành Kapilavatthu. Trong dịp này, hình ảnh của một vị xuất gia đầu tròn áo vuông, tay ôm bình bát an nhiên đi khất thực từng nhà làm cho vua Tịnh Phạn vì chưa hiểu được công hạnh xuất thế của Phật nên đã cảm thấy đau lòng. Nhưng cũng từ đó, chúng ta thấy được hai biểu tượng: Một nhà vua với tâm nguyện an bang tế thế bằng quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế trong tay. Một vị đạo sư với thệ nguyện cứu khổ độ sinh bằng con đường cách mệnh tâm linh tận gốc rễ. Đức Phật trong lần về thăm cố hương này đã lại một lần nữa khẳng quyết con đường chuyển hóa nhân sinh toàn diện của Ngài.

Tại sao đức Phật đã không chọn con đường chuyển hóa nhân sinh bằng quyền lực chính trị, quân sự và kinh tế như phụ thân Ngài đã làm?

Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục cưu mang trong nó chủ trương đấu tranh không loại trừ yếu tố bạo lực. Giải pháp nhân sinh như vậy tự nó không thoát khỏi phạm trù ý thức nhị nguyên. Ý thức nhị nguyên dẫn đến thái độ phân biệt bỉ thử, nhân ngã, bạn thù, do đó chỉ chấp nhận cái gì của mình là đúng, là chân lý, còn những cái khác đều sai, đều tà vạy. Thay vì chuyển hóa mọi tranh chấp, bất an trong xã hội, cách mệnh nhân sinh thế tục mang sắc thái nhị nguyên và đấu tranh chỉ tạo ra thêm những đối lực thù nghịch, những chính sách bất công, thiên vị. Hơn nữa, bạo lực không phải là giải pháp nhân sinh kiến hiệu để mang lại ổn định xã hội và hạnh phúc cá nhân. Dùng bạo lực chỉ có thể thống trị xã hội nhất thời, nhưng không thể chuyển hóa được tận gốc mầm mống của phân hóa, thù hận, bất công, lại càng không thể tập trung được sức mạnh của quần chúng để xây dựng xã hội, nâng cao mức sống vật chất và tinh thần của con người.

Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục chỉ nhắm đến đối tượng là cái tổng thể xã hội, hoặc là cơ chế lãnh đạo xã hội xét như là một tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội, mà không nhắm đến đối tượng cá nhân xét như là thực thể của xã hội. Thực chất, tổng thể xã hội hay một tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội chỉ là cái tên gọi suông không phải là thực thể của xã hội. Thực thể xã hội, nếu có, chính là từng cá nhân, vì xã hội là một tập hợp của nhiều cá nhân. Nếu cá nhân mà không hiện hữu như một thực thể tồn tại thì xã hội cũng không thể hình thành. Tất nhiên, khi quan niệm về cá nhân như là một thực thể đó chỉ là nói theo nghĩa thông tục tương đối, bởi vì, đức Phật qua sự quán chiếu của trí tuệ bát nhã thâm sâu đã thấu suốt được bản chất vô thường, giả tạm, không có tự tánh của xác thân tập hợp ngũ uẩn được mệnh danh là cá nhân. Cách mệnh nhân sinh do vậy phải nhắm đến đối tượng là những cá nhân, thực thể của xã hội. Chính vì thế, mọi cuộc cách mệnh nhân sinh chỉ nhắm đến đối tượng là cái tổng thể xã hội hoặc là tập hợp quyền lực của tổng thể xã hội, xưa nay, đều không thể hoàn thành được mục đích chuyển hóa xã hội tận gốc rễ.

Con đường cách mệnh nhân sinh thế tục chỉ nhắm đến việc chuyển đổi và cải tạo xã hội ở giới hạn bề ngoài mà không đi sâu vào việc chuyển hóa bản chất bên trong. Thế nào là chuyển đổi và cải tạo xã hội ở giới hạn bề ngoài? Ở đây con người chỉ nhắm đến việc thay đổi, sửa đổi hay cải thiện những mô thức, định chế, cơ cấu, nguyên tắc trong sinh hoạt xã hội từ văn hóa, giáo dục đến kinh tế, chính trị, v.v... Tất nhiên, không ai chối cãi rằng công cuộc chuyển đổi và cải tạo xã hội ở giới hạn bề ngoài ấy đã có những tác động, những thay đổi, những cải thiện trong chiều hướng tích cực và lợi ích. Nhưng vấn đề mà chúng ta nói đến ở đây chính là sự chuyển hóa tận gốc rễ mà điều này thì con đường cách mệnh nhân sinh ở giới hạn bề ngoài vẫn chưa thể đạt được. Tại sao? Bởi vì những mầm mống và thảm trạng của bất an, khủng hoảng, khổ đau, và những tệ nạn xã hội khác vẫn còn đó. Một điển hình dễ thấy là luật pháp của các nhà nước đã được công bố và thi hành, nhưng luật pháp ấy chỉ nhắm đến việc ngăn chận và trừng phạt những hệ quả mà không có giải pháp để chuyển hóa tận gốc từ nguyên nhân. Vậy, muốn giảm thiểu tối đa hay loại trừ các tội trộm cướp, tham nhũng, v.v.., việc chế tài và trừng phạt theo hệ quả của luật pháp nhà nước đối với tội phạm không, vẫn chưa đủ, cần phải có phương thức để con người bỏ bớt hay diệt trừ lòng tham lam thì tệ nạn đó mới có thể chấm dứt. Lòng tham chính là căn nguyên của tội trộm cướp, tham nhũng, v.v... Ngày nào mà con người còn lòng tham thì ngày ấy xã hội vẫn còn tội trộm cướp, tham nhũng, v.v... Công cuộc chuyển hóa bản chất bên trong chính là ý nghĩa này. Do đó, các cuộc cách mệnh nhân sinh thế tục không nhắm đến việc chuyển hóa bản chất con người mà cụ thể là chuyển hóa tâm thức, cho nên đã không thể đem lại thành công tận gốc rễ.

Như vậy, công cuộc chuyển hóa nhân sinh của đức Phật là gì?

Trước hết, đức Phật đã nêu cao giá trị làm người. Mặc dù nhận thức được bản chất vô thường, giả tạm và không thật của tập hợp ngũ uẩn, đức Phật đã không có thái độ phủ nhận giá trị hiện hữu của con người, vì ít ra con người còn có thể vận dụng được xác thân ngũ uẩn ấy cho công cuộc chuyển hóa vô minh và giải thoát phiền não khổ đau đối với tự thân và tha nhân. Trong mối tương quan tương duyên của cộng đồng xã hội, mỗi người đều có giá trị hiện hữu bình đẳng như nhau. Không ai có quyền nhân danh bất cứ thế lực gì để chà đạp lên quyền sống và quyền làm người của kẻ khác. Làm người ai cũng muốn bảo vệ sự sống và sợ cái chết, ai cũng tránh khổ đau và mưu cầu hạnh phúc, ai cũng có sự tôn nghiêm trong tư cách làm người cho nên, phẩm giá của con người là giá trị phổ quát, không một ai có thể chối bỏ hay chà đạp.

Sau khi dựng lại giá trị làm người, đức Phật đã mở ra khung trời quang đãng hơn trước mặt sự hiện hữu quý giá ấy. Khung trời đó chính là khả năng mà con người vốn có trong việc tác tạo khổ đau hoặc xây dựng hạnh phúc. Theo định luật hiển nhiên của nhân quả và lý thuyết tất yếu của nghiệp, khổ đau hay hạnh phúc là do chính con người tạo ra. Tu tập các thiện pháp, gieo trồng những nhân lành thì con người chắc chắn sẽ có được sự an lạc trong đời này và đời sau. Ngược lại, buông thả ba nghiệp thân-miệng-ý theo sự thao túng của vô minh và các phiền não tham sân si để rồi tạo ra nhiều điều bất thiện thì trong đời này và đời sau không thoát khỏi khổ não. Từ đây, con người có đủ niềm tin và khả lực để đứng lên gánh lấy trách nhiệm trước vận mệnh của cuộc đời mình mà không phải cầu cạnh nơi bất cứ thế lực nào khác. Đây chính là mở đầu của thời đại nhân chủ.

Tuy nhiên, với khả tính vi diệu tiềm tàng bên trong bản thể sâu nhiệm, con người có thể đạt thành mục tiêu tối hậu của đời sống, đó là thực nghiệm sự chuyển hóa toàn diện và tận gốc rễ nơi tự thân để giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não khổ đau rốt ráo. Chỉ có con đường này, cảnh giới này mới thật sự kết thúc chuỗi xích trói buộc của sanh tử luân hồi từ vô thỉ kiếp.

Nhưng làm sao để thực nghiệm sự chuyển hóa con người tận gốc rễ?

Một con người có hai bình diện cấu trúc và sinh hoạt chính yếu: Thể xác vật chất với các cơ năng vận hành để duy trì và phát triển sự sống, hoạt động tinh thần bao gồm nhận thức và tình cảm hay nói cách khác là lãnh vực tâm thức trách nhiệm chi phối và chỉ đạo mọi động thái của tư duy, ngôn ngữ và hành động. Lẽ tất nhiên, cả hai cấu trúc này đều đóng vai trò tương tác như nhau. Trong hoạt động của con người không thể thiếu cái nào cả. Một thân xác không có tâm thức thì đó chỉ là một xác chết. Ngược lại, một tâm thức không có thân xác thì không có căn thân sở y để thực hiện mọi động thái của tư duy, ngôn ngữ và hành động thể xác, như vậy cũng chẳng khác gì là một bóng ma. Cho nên, yếu tố đầu tiên và cơ bản để thực nghiệm sự chuyển hóa con người tận gốc rễ một cách thành công chính là cần có một chánh báo tương đối hoàn bị, nghĩa là một thân xác với các cơ năng đầy đủ và hoạt động tốt, một tâm thức bình thường.

Vấn đề còn lại là công cuộc chuyển hóa. Đến đây chúng ta cần phải ngược dòng lịch sử để dõi theo dấu chân tầm đạo của Thái tử Tất-đạt-đa. Thoạt đầu, Ngài khởi sự công cuộc chuyển hóa nơi thể xác vật chất theo như một số quan niệm về tu tập của các giáo phái đương thời. Chính vì vậy, Ngài đã liên tục thực hiện việc tu khổ hạnh suốt mấy năm trường với ý tưởng rằng làm như thế sẽ đoạn diệt được tất cả nghiệp chướng của tham-sân-si và đạt thành giải thoát. Nhưng thân xác vật chất chỉ là cơ năng thừa hành của tâm thức chủ đạo. Tạo tác nghiệp thiện hay ác, thọ nhận an lạc hay khổ đau đều do tâm thức dẫn đầu. Không có tâm thức tác ý, không có tâm thức điều động thì thân khẩu không làm sao tạo nghiệp.

“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm ô nhiễm tạo nghiệp nói năng hoặc hành động, sự khổ sẽ theo nghiệp kéo đến như bánh xe lăn theo chân con vật kéo xe.” (Kinh Pháp Cú, Phẩm Song Yếu, kệ số 1, Thích Trí Đức dịch).

Tu khổ hạnh áp chế thân xác vật chất không những không đạt được giải thoát mà còn làm suy nhược thể chất và tinh thần khiến cho con người mất sức khỏe, mất nghị lực để tiếp tục cuộc chuyển hóa. Do vậy, Thái tử Tất-đạt-đa đã quyết định chấm dứt việc tu tập theo phương thức này. Ngài bắt đầu suy nghiệm lại để tìm một đạo lộ khác. Khi trải cỏ ngồi dưới gốc cây Tất-bát-la, thệ nguyện không rời bỏ chỗ ngồi này cho đến lúc thành tựu được mục tiêu tối thượng, dường như Thái tử đã khẳng quyết về một phương cách chuyển hóa tận gốc rễ: Chuyển hóa tâm thức. Sau bốn mươi chín ngày đêm tĩnh tọa thiền định, đức Phật đã thành tựu được tuệ giác cứu cánh. Qua bao nhiêu năm đem thân lịch nghiệm con đường giác ngộ vô minh và giải thoát phiền não với muôn vàn gian lao khó nhọc, cuối cùng Ngài đã đến đích, đó là điểm tận cùng siêu việt mà một chúng sinh có thể vươn tới, vì không còn cảnh giới nào cao hơn, rộng lớn hơn, siêu thoát hơn. Đó là cảnh giới Thánh trí tự chứng, cảnh giới của Phật.

Đức Phật đã làm gì khi ngồi dưới cội Bồ-đề suốt bốn mươi chín ngày đêm mà chúng ta gọi đó là cuộc chuyển hóa tâm thức tận gốc rễ?

Điều hiển nhiên là không một ai khác ngoài chính đức Phật có thể hiểu và cảm nhận được những trạng thái tâm thức mà Ngài đã trải qua để chuyển từ tâm vô minh của chúng sinh đến tâm giác ngộ của Phật. Nhưng qua những điều đức Phật đã dạy trong những năm Ngài hóa độ sau này, còn ghi lại trong tam tạng kinh điển, chúng ta có thể hình dung ra những dấu ấn chính trong cuộc chuyển hóa tâm thức tận gốc rễ ấy.

Cuộc chuyển hóa tận gốc rễ mà đức Phật đã thành tựu đó chỉ nhắm đến có mỗi một tiêu đích duy nhất là cái tâm, bởi vì làm chúng sinh hay làm Phật cũng đều do một tâm mà nên. Tâm ấy mà động loạn thì sanh diệt khởi lên, ngã pháp có mặt, kết nghiệp thọ khổ, gọi là chúng sinh. Tâm ấy mà tịch tịnh thì vô sanh hiện bày, ngã pháp trống vắng, không ai tạo nghiệp nhân, không ai thọ quả báo, gọi là giác ngộ giải thoát, là Phật. Tiến trình chuyển hóa tâm ấy xảy ra trên hai bình diện: Lý kiến tánh thì đốn ngộ, nhưng sự tướng diệt trừ phiền não thì tiệm tu. Điều này có nghĩa là về mặt chứng ngộ lý tánh vô sanh thì xảy ra trong đường tơ kẽ tóc, song về mặt diệt trừ các tập khí vô minh phiền não đã được huân tập từ vô lượng kiếp quá khứ thì phải tu tập giới định tuệ để lần hồi chuyển hóa. Cho nên, trong giáo nghĩa Đại thừa nói rằng từ lúc sơ hưng phát Bồ-đề tâm cho đến khi thành Đẳng Chánh Giác phải trải qua ba A-tăng-kỳ kiếp tu tập ở năm mươi ba địa vị, từ Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng cho đến Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác và Phật.

Đến đây vấn đề này tất phải được đặt ra, rằng như vậy thì cuộc chuyển hóa tâm thức ấy chỉ xảy ra cho mỗi cá nhân con người, như thế làm sao nó có thể là công cuộc chuyển hóa rộng lớn đến toàn thể nhân sinh, toàn thể xã hội? Phải chăng đức Phật đã không đưa ra một phương thức mang tính vĩ mô để chuyển hóa và xây dựng xã hội nhân sinh?

Có một điều mà có lẽ chúng ta đều đồng ý rằng sở dĩ xã hội có những vấn đề như bất công, tham nhũng, trộm cướp, không an ninh, bất ổn, bệnh tật, nghèo khó, v.v.. căn nguyên là vấn đề của cá nhân, của mỗi người. Bởi vì chính mỗi cá nhân vẫn còn cưu mang trong tự thân mình những yếu tố căn bản để dẫn đến các vấn đề ấy. Yếu tố căn bản đó chính là một tâm thức nhiễm ô vì vô minh và các phiền não như tham, sân, si, v.v... Khi mỗi cá nhân với tâm thức có vấn đề thì đi đến đâu, sinh hoạt ở đâu, sống ở đâu, cá nhân đó cũng sẽ tạo ra vấn đề cho bản thân, cho cộng đồng, cho xã hội. Một cá nhân có vấn đề, nhiều cá nhân có vấn đề thì đó sẽ là vấn đề chung của xã hội. Nếu từng cá nhân tự chuyển hóa tâm thức để giải tỏa những vấn đề trong chính họ, nghĩa là họ đã giảm trừ hay tận diệt vô minh và các phiền não gây ra bất an khổ não, thì xã hội bớt đi một thành viên tác tạo những vấn đề khó khăn. Đó là mới nói trên lãnh vực tiêu cực, còn trên lãnh vực tích cực thì khi một cá nhân trở thành người hoàn thiện, người tốt, sống lợi ích cho mình và người, thì cộng đồng xã hội có thêm một thành viên kiến tạo hòa bình, an lạc và thịnh vượng. Một người thiện, nhiều người thiện thì xã hội sẽ trở thành thiện.

Quan niệm rằng đức Phật chỉ nghĩ đến việc giải thoát cá nhân mà không đoái hoài gì đến khổ đau của đồng loại và chúng sinh là điều không như thật. Bởi vì, sau khi thành đạo, đức Phật đã nỗ lực vân du khắp lưu vực rộng lớn của sông Hằng để thuyết Pháp độ sinh. Suốt gần năm mươi năm mà ngày nào cũng vậy với ba y và một bình bát đi khất thực từng nhà, ai có duyên được độ thì độ, không phân biệt thành phần giai cấp xã hội, từ kẻ cùng đinh nghèo khó đến vua chúa trưởng giả, tất cả Ngài đều đối xử bình đẳng như nhau. Tận tụy giáo hóa như vậy cho đến ngày nhập Niết-bàn mới thôi là Ngài vì cái gì? Chẳng phải là vì lòng từ bi thương xót con người và chúng sinh khổ não mà nhọc nhằn hóa độ đó sao?

Trong những bài Pháp mà Ngài đã dạy cho hàng đệ tử lúc sinh tiền, đức Phật đã đưa ra những phương thức chuyển hóa vừa mang tính triệt để cho từng cá nhân, vừa mang tính phổ cập cho quảng đại quần chúng nhân sinh, chẳng hạn Ngũ giới, Thập thiện, Tứ nhiếp pháp, Lục độ, v.v… Một người khi thực hành Ngũ giới, Thập thiện, Tứ nhiếp pháp, Lục độ không phải chỉ mang lại lợi ích là đời sống an lạc và giải thoát cho cá nhân không thôi, mà còn đem lại sự ổn định trật tự, an ninh, an lạc, tinh thần tích cực dấn thân, lòng thương yêu cứu giúp, đời sống văn hóa đạo đức, trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội, v.v.. Đặc biệt, giáo nghĩa Lục độ là nền tảng xây dựng Bồ tát đạo, mà Bồ tát đạo là con đường vị tha toàn diện, lấy việc cứu độ khổ ách cho chúng sinh làm bản hạnh nguyện để qua đó tu tập và khai mở tâm đại từ bi đồng thời phát huy diệu dụng của trí tuệ bát nhã để thành tựu mục đích tự giác giác tha giác hạnh viên mãn.

Thực tế, trên hai mươi lăm thế kỷ nay, bắt nguồn từ Ấn Độ rồi sang các nước Á châu, đến các nước Tây phương, và hiện nay trên khắp thế giới, càng ngày loài người càng nhận chân ra được giá trị ưu thắng của việc chuyển hóa tâm thức tận gốc rễ mà đức Phật đã khai thị. Đó chính là sự xác minh rõ ràng nhất về tính phổ quát, hiện thực và kiến hiệu của con đường chuyển hóa nhân sinh toàn diện của đức Thế Tôn.

 

 

Dòng Họ Thích Ca

Thích Đồng Thành

Khi sinh ra và lớn lên trong cuộc đời này mỗi người đều mang trong mình một huyết thống mà tổ tiên bao đời đã hun đúc, giữ gìn và truyền thừa qua nhiều thế hệ. Có những người đã quên mất nguồn cội, để đời mình trôi theo cuộc thế thịnh suy, lại có kẻ không tiếp nối, thực hiện được những gì mà tổ tiên mình đã trông mong, kỳ vọng, nhưng cũng có những bậc hiền nhân đã kế thừa xứng đáng truyền thống đạo lý cao quý của tổ tiên mình, đã sống một cuộc đời ngời sáng và đã mang lại cho đời một niềm an lạc vô biên mà bao thế hệ sau vẫn hằng kính ngưỡng và tôn thờ. Đức Phật Thích Ca là một trong những hình ảnh tiêu biểu nhất cho các bậc hiền nhân như thế. Những nếp sống thuần hòa và nhân ái, những kinh nghiệm của đời sống tâm linh đã được truyền thừa từ chính đức Phật cho các hàng đệ tử thân cận của Người và được lưu truyền cho đến thời đại hôm nay, ở khắp mọi phương trời, là một minh chứng rõ nét về ảnh hưởng của đức Phật trong thế giới này.

Trên phương diện lịch sử, đức Phật vốn là một người con của dòng họ Thích Ca. Ngài đã xuất gia, tu tập, thành tựu được Phật quả và khai sáng đạo Phật nhằm tuyên thuyết đạo lý giác ngộ và giải thoát cho nhân gian. Xét về phương diện tôn giáo, cũng như các đức Phật trong quá khứ, Ngài đã tiếp nối truyền thống tâm linh Chánh pháp của chư Phật và thị hiện trong đời ngũ trược này để phổ hóa chúng sanh. Các bản kinh văn Phật giáo, dù Nguyên thủy hay Đại thừa, đều ghi lại rằng hai trong số những danh hiệu thường được dùng để chỉ cho đức Phật khi Ngài còn tại thế là Sa-môn Cù-đàm (P: Gotama; S: Gautama) và đức Phật Thích Ca (P: Sakyamuni; S: Sākyamuni). Tại Trung Hoa, kể từ thời ngài Đạo An trở về sau các nhà sư Phật giáo đều dùng chữ “Thích” làm họ để nói lên rằng mình là con cháu của dòng họ Thích Ca, là người tiếp nối huyết thống tâm linh thanh tịnh mà đức Bổn sư Thích Ca đã tiếp nhận và truyền thừa.

Danh từ Cù-đàm là tên của một dòng tộc và là họ của đức Phật. Đây là danh hiệu mà các đạo sĩ, Bà-la-môn cũng như những người thuộc tôn giáo khác thường dùng để chỉ cho đức Phật. Trong kinh Trường Bộ II, đức Phật có nói rằng tổ tiên của Ngài có họ là Cù-đàm; còn trong Luật tạng Nam truyền, đức Phật gọi phụ vương mình là Cù-đàm. Kinh Tương Ưng IV còn giải thích thêm rằng những người thuộc dòng họ Thích Ca cư trú tại Ca-tỳ-la-vệ có họ là Cù-đàm, trong khi đó nếu họ cư trú tại những vùng khác như Cātumā, Khomadussa, Sāmagāma…thì lại mang họ khác.

Một số bài kệ tụng trong g Veda có nói đến hai người mang tên Gotama, một là thi sĩ và một là nhà hiền triết. Nhà hiền triết có tên là Gotama đó thuộc bộ tộc Agirasa, còn thi sĩ Gotama cũng xuất thân từ giai cấp Bà-la-môn. Như vậy có một sự liên hệ nào đó giữa những Bà-la-môn mang tên Gotama và những người Thích Ca thuộc giai cấp Sát-đế-lợi chăng? Khi bàn đến điều này, Burnouf, một học giả người Pháp, cho rằng theo truyền thống cổ xưa ở Ấn Độ, trong các lễ tế đàn người ta thường đọc tên tổ tiên của những người tế lễ. Trong trường hợp người tế lễ đó không thuộc giai cấp Bà-la-môn thì vị đạo sĩ trong lễ đó sẽ đọc tên tổ tiên của mình. Và như thế nguồn họ Cù-đàm của những người Thích Ca phát sinh từ những lễ tế đàn như thế. Theo giáo sư H. Nakamura, danh từ Cù-đàm không phải chỉ là họ của một số Bà-la-môn mà đó là họ chung của cả hai giai cấp Bà-la-môn và Sát-đế-lợi.

Trong một ý nghĩa khác, học từ Go có nghĩa là con bò cái và tama là một tiếp vĩ ngữ có chức năng so sánh bậc nhất và vì thế chữ Gotama có nghĩa là loại bò cái tối thắng hay kỳ vĩ nhất. Trong nền văn minh Lưỡng Hà, bò là một loài động vật được mọi người sùng kính và quí trọng nhất. Đối với một xã hội nông nghiệp thời xa xưa, ngoài việc cung cấp sữa, thịt, bò còn là nguồn lực chính trong việc cày cấy, thu hoạch và vận chuyển. Như vậy loại gia súc này nghiễm nhiên trở thành một thứ tài sản đáng giá nhất của mỗi gia đình hay mỗi cộng đồng. Vì thế, loại gia súc này tượng trưng cho một cái gì đó rất cao quí và thiết yếu trong sinh hoạt của đời sống thường nhật, và đó cũng là họ của những bộ tộc hùng mạnh và giàu có trong xã hội.

Thích Ca Mâu Ni cũng là một danh từ phổ biến khác dùng để chỉ cho đức Phật. Chữ Mâu Ni có nghĩa là bậc thánh nhân, nhà hiền triết, vì thế Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là bậc thánh của dòng họ Thích Ca. Trong kinh Ambaṭṭha (Trường Bộ I), đức Phật đã kể lại nguồn gốc của dòng họ Thích Ca cho thanh niên Ambaṭṭha như sau: thuở xưa có một vị quốc vương tên là Okkāka. Nhà vua có nhiều con trai nhưng lại muốn trao ngôi báu lại cho con của mình và hoàng hậu đương triều nên ông bèn đuổi những người con lớn khác là Okkāmukha, Karaṇḍu, Hatthinīya và Sīnipura ra khỏi vương quốc của mình. Lúc bấy giờ, những hoàng tử ấy bèn đến trú ngụ tại một khu rừng bên cạnh một hồ nước lớn nằm dưới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn. Một hôm, vì thương nhớ đến con, vua Okkāka bèn hỏi các vị cận thần trong triều rằng hiện giờ những vị hoàng tử ấy đang ở đâu. Khi biết rằng họ đang sống tại nơi rừng sâu, vua bèn thốt lên rằng: “Các hoàng tử thật là những Sakka, các hoàng tử thật là những sakka xuất chúng.” Nhà vua đã khen ngợi các hoàng tử như những cây sakka (sồi) vững mạnh và có thể sống tự lập nơi hoang dã. Từ đó về sau các hoàng tử này được gọi là Sakya và vua Okkāka là tổ phụ của dòng họ Thích Ca. Kinh A Ma Trú (Trường A Hàm) có nội dung giống kinh Ambaṭṭha nhưng lại thêm vài chi tiết khác là: Vua Thanh Ma (Okkāka?) đã đuổi bốn người con của mình ra khỏi nước vì họ phạm lỗi. Sau đó vì nhớ đến con cháu của mình nên những người mẹ và các quyến thuộc của những hoàng tử đó xin phép vua được đến Tuyết Sơn để thăm họ. Khi đến rừng Trúc Lâm ở phía Nam núi Tuyết họ đã gặp các hoàng tử và cho phép họ được cưới những người cùng hoàng tộc để bảo vệ huyết thống của mình. Các chi tiết trong hai bản kinh trên có điểm sai khác với câu chuyện trong Ngũ Phần Luật. Theo bộ luật này, vua Nhật Uất La (Okkāka) có bốn người con là Chiếu Mục, Thông Mục, Điều Phục Tượng và Ni Lâu. Họ là những thanh niên rất khôi ngô, tuấn tú, thông minh và giàu lòng từ mẫn. Lúc ấy, hoàng hậu đương triều có một người con xấu xí, đần độn tên là Trường Sanh. Vì muốn con mình sẽ kế vị ngôi báu nên hoàng hậu tìm mọi cách chìu chuộng và nài nỉ với vua Nhật Uất La. Cuối cùng thì vua cũng xiêu lòng và ra lệnh cho các người con thông minh của mình phải đi biệt xứ. Vì thương yêu và quí trọng bốn vị vương tử đó, những người thân cùng nhiều Bà-la-môn, phú gia, nô bộc, thường dân… đã theo chân họ đến núi Tuyết. Trải qua nhiều năm sau, cộng đồng người này dần dần lớn mạnh. Họ xây dựng cung điện, phố xá và trở thành một vương quốc biệt lập. Vài năm sau đó vì nhớ đến con nên vua Nhật Uất La đã hỏi thăm các vị cận thần và được biết rằng những người con của mình đã định cư bên núi Tuyết và xây dựng được đền đài cung điện, nhơn dân có cuộc sống ấm no. Vua bèn thốt lên ba lần rằng: “Con ta quả là người có năng lực lớn.” Từ đó về sau, bộ tộc cư trú bên núi Tuyết ấy có họ là Thích Ca và tổ phụ của họ là vua Okkāka. Trong truyền thống Vệ Đà, Okkāka (S: Ikvāku; C: Cam Giá Vương) là một vị anh hùng và là con của Manu, người cha của nhân loại và cũng là tổ tiên của một triều đại có tên là triều đại mặt trời. Những người thuộc dòng họ Ikvāku thường cư trú và trị vì những khu vực thuộc thượng lưu sông Ấn và sông Hằng. Song bộ sử thi Rāmāyana và văn học Purāas nói rằng những người thuộc triều đại mặt trời thường cai trị nước Kosala, đặc biệt là thành phố Ayodhyā.

Đức Phật Thích Ca thường được gọi là người con của dòng họ Thích hay xuất thân từ dòng họ Thích. Danh từ Sakya có nghĩa là một người có oai đức và năng lực, và đó cũng là tên của một bộ tộc từng sống dưới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn (thuộc thung lũng Terai của nước Nepal ngày nay). Những người Thích Ca luôn tự hào vì họ thuộc dòng dõi mặt trời. Một số bản kinh Pāli như kinh Đế Thích Sở Vấn (Trường Bộ), Tương Ưng I, Tăng Chi II… có nói đến một danh hiệu khác của đức Phật là Adiccabandhu (Nhật Chủng), tức người con của dòng họ mặt trời. Kinh Tập (Suttanipāta) nói rằng đây cũng là tên của bộ tộc (gotta) đã sản sinh ra đức Phật. Nguồn tổ tiên mặt trời của dòng họ Thích Ca và sự ra đời của vua Cam Giá được ghi lại trong kinh Phật Bổn Hạnh Tập như sau: trước thời vua Cam Giá có một vị vua tên Đại Mao Thảo đã bỏ ngôi xuất gia và chứng được ngũ thông, có tên là Tiên. Vì vua Tiên già yếu nên các đệ tử của ông làm một lồng cỏ, đặt vua Tiên vào đó và treo trên cao để tránh hổ báo làm hại mỗi khi họ đi khất thực. Một hôm, nhân lúc các đệ tử vua Tiên đi khất thực có một người thợ săn tưởng vua Tiên là một loài chim trắng nên giương cung lên bắn. Lúc vua Tiên bị trúng tên có hai giọt máu từ vết thương rơi xuống đất, sau đó ông qua đời. Sau khi đi khất thực về, các đệ tử vua Tiên rất đau xót, họ lấy củi khô chất lại và hỏa thiêu xác thầy mình. Sau khi thâu lấy tro cốt, họ xây một ngôi tháp và thường dùng hoa hương dâng cúng ngôi tháp đó. Trong lúc đó từ nơi phần đất hai giọt máu rơi xuống bỗng mọc lên hai cây mía. Nhờ hấp thụ ánh sáng mặt trời, một cây sinh ra một bé trai, cây kia sinh ra bé gái. Những đệ tử của vua Tiên nghĩ rằng khi còn tại thế thầy mình không có con và hai đứa bé này là dòng giống của thầy nên chúng phải được chăm sóc chu đáo. Nghĩ thế rồi họ bèn nuôi dưỡng và bảo bọc hai đứa bé một cách cẩn thận, rồi họ báo tin cho triều đình hay. Các quan trong triều nghe tin vội rước hai đứa bé về nuôi dưỡng. Đứa bé trai được đặt tên là Thiện Sinh, cũng gọi Cam Giá Sinh (vì sinh ra từ cây mía) hay Nhật Chủng (vì được hấp thụ ánh sáng mặt trời). Đứa bé gái có tên là Thiện Hiền và về sau trở thành hoàng hậu, vợ của vua Thiện Sinh (Sujāta) hay vua Nhật Chủng (Sūryavajśa). Hoàng hậu Thiện Hiền sanh được một người con trong khi đó người thứ phi của vua sanh bốn người con. Vì muốn con mình lên ngôi nên hoàng hậu bèn yêu cầu vua đuổi bốn người con sau ra khỏi nước. Bốn vị vương tử đó đã đến núi Tuyết xây thành Ca-tỳ-la, lấy hiệu nước là nước Xá-di và lập ra dòng họ Thích Ca. Như vậy dòng họ Thích Ca có tổ tiên thuộc họ mặt trời và hẳn nhiên việc thờ cúng thần mặt trời cũng là một trong những sinh hoạt tín ngưỡng của họ.

Tín ngưỡng thờ mặt trời thường xuất hiện ở những quốc gia chuyên về nông nghiệp. Những khu vực có khí hậu nóng, ẩm quanh năm như những quần đảo ở Thái Bình Dương và Caribbe, những nơi phải đối mặt với cái nắng gay gắt của mặt trời thì nền tín ngưỡng này không phổ biến cho lắm. Trong khi đó ở những quốc gia chuyên về việc trồng trọt, cày cấy, mặt trời được xem như một vị thần luôn mang đến ánh sáng và năng lượng để phát triển mùa màng. Tại Ấn Độ, việc tôn thờ thần mặt trời đã xuất hiện từ thời văn hóa Vệ Đà và ngày càng phổ biến ở nhiều khu vực khác nhau. Những đồng tiền cổ cùng những tác phẩm nghệ thuật thời Bhārhut kéo dài đến thời Kūshāna đã nói lên rằng tín ngưỡng thờ mặt trời đã phổ biến ở Ấn Độ vào TK III Tr CN và rất thịnh hành sau đó. Ngoài mặt trời, mặt trăng cũng được thờ phụng tại Ấn Độ. Theo cách lý giải của người Ấn thời xưa, những ai sinh ra từ hoàng tộc đều là con cháu thần mặt trời; còn những ai không sinh ra trong dòng dõi vua chúa mà sau này trở thành vua thì họ là hậu duệ của thần mặt trăng.

Dù vương quốc của dòng họ Thích Ca được xem như một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng về mặt chính trị đối với nước Kosala, một đất nước hùng mạnh đương thời, nhưng cho đến thời vua Ba-tư-nặc, nhà cầm quyền của cả hai bên đều rất kính trọng và gắn bó nhau. Sự gắn bó này có được là vì một phần cả hai bên đều có chung tổ tiên mặt trời và một phần khác là vì vua Ba-tư-nặc rất ngưỡng mộ nhân cách của đức Phật. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (Trường Bộ Kinh) có nói rằng những người Thích Ca rất tôn trọng và kính ngưỡng vua Ba-tư-nặc của nước Kosala và bản thân nhà vua cũng rất kính trọng và cung kính đức Như Lai. Có lần vua Ba-tư-nặc nghĩ rằng: “Có phải Sa-môn Gotama là thiện sanh? Còn ta không phải thiện sanh? Sa-môn Gotama có hùng lực, ta không có hùng lực; Sa-môn Gotama thì đẹp đẽ mà ta lại thô xấu; Sa-môn Gotama có nhiều thế lực, còn ta có ít thế lực?” Từ sự kính trọng đức hạnh và tuệ giác của đức Phật, vua Ba-tư-nặc cũng quí mến cả dòng họ của Ngài và vì thế vua mới thầm tán thán rằng đức Phật là “thiện sanh” (Sujāta).

Theo các tư liệu Phật giáo còn lại thì những người Thích Ca có phong tục hôn phối trong dòng tộc. Truyền thống hôn phối như thế thường xuất hiện trong các xã hội thời xa xưa, nhất là trong những nền văn hóa thời sơ khai. Phong tục này rất phổ biến trong cộng đồng người Dravidian ở Nam Ấn và những người Rājput ở Bắc Ấn và mục đích của nó là để bảo vệ huyết thống của những người trong cùng dòng tộc. Các bộ Đảo Sử và Đại Sử Tích Lan có ghi lại rằng bộ tộc Thích Ca và bộ tộc Koliya có quan hệ hôn phối gắn bó nhau. Jayasena của bộ tộc Thích Ca có hai người con là Sīhahanu (nam) và Yashodharā (nữ), trong khi đó Devadahasakka của bộ tộc Koliya cũng có hai người con là Añjana (nam) và Kaccānā (nữ). Sīhahanu kết hôn với Kaccānā sinh ra năm hoàng tử (Sudhodana, Dhotodana, Sakkodana, Sukkodana và Amitodana) và hai công chúa (Amitā và Pamitā). Añjana kết hôn với Yashodharā sinh hạ hai hoàng tử (Daṇḍapāni và Suppabudha) và hai công chúa (Māyā và Pajāpatī). Sau đó, vua Tịnh Phạn (Sudhodana) đã cưới hai chị em Māyā và Pajāpatī, và hoàng hậu Māyā đã sanh thái tử Sĩ-đạt-đa; còn Suppabudha cưới công chúa Amitā và sanh ra Devadatta (nam) và Bhaddakaccānā (nữ). Về sau Sĩ-đạt-đa đã cưới công chúa Bhaddakaccānā và sinh La Hầu La. Song theo bộ Đại Sự (Mahāvastu) và Phật Sở Hành Tán thì vợ của Sĩ-đạt-đa là công chúa Da-du-đà-la (Yaśodharā). Trong khi đó lại có hai tên khác được dùng để chỉ cho vợ của Sĩ-đạt-đa là Gopā (Kinh Thần Thông Du Hý) và Gopī (Tu Hành Bổn Khởi kinh; Phật Thuyết Thái Tử Thụy Ứng Bổn Khởi kinh, quyển thượng; Phổ Diệu kinh, quyển 3). Tuy mỗi kinh ở trên đề cập đến những tên khác nhau như thế, danh hiệu phổ thông nhất để chỉ cho vợ của thái tử Sĩ-đạt-đa là Rāhulamātā (mẹ của La Hầu La). Thời bấy giờ, theo nguyên tắc chung của bộ tộc Thích Ca, người đàn ông chỉ được quyền cưới một vợ, song vua Tịnh Phạn được cưới hai chị em Māyā và Pajāpatī vì đó là một đặc ân dành cho nhà vua sau khi chinh phạt được Pādava, một bộ tộc thường đến cướp bóc nơi lãnh thổ của dòng họ Thích Ca.(còn tiếp)

 

Đại cương về học phái Phật giáo Việt Nam

trong học phái Phật giáo thế giới

Tâm Phương

Trên dòng chảy Phật giáo Việt Nam, tiếp theo những loạt bài trước, chúng tôi đã cùng với quí vị lần lược trải qua 1000 năm đầu Phật giáo Việt Nam. Đến đây chúng ta bước sang chặng đường thứ 2, trên dòng chảy nầy, chúng ta sẽ tìm hiểu về những chủ đề theo từng lãnh vực, đi từ tổng quát đến chuyên sâu.

Chúng tôi thiết nghĩ, một quan niệm sử học sẽ chủ đạo cho nghiên cứu sử học, và định hình cho trình bày sử học. Chính vì vậy, những công trình nghiên cứu sử học của những bậc thầy đi trước như HT. Thích Mật Thể, học giả Tâm Minh-Lê Đình Thám, HT. Thích Thiện Hoa, Thầy Thích Trí Siêu, v.v... Quí Ngài hầu như đều dựa theo quan niệm phân kỳ mà cho ra đời những tác phẩm đóng góp chung cho ngôi nhà sử học Phật giáo Việt Nam ngày thêm khởi sắc.

Ngày nay, thế giới trước sự phát triển của khoa học-thông tin đã tạo cho sinh hoạt xã hội một bộ mặt mới, rằng không gian được thu nhỏ lại và thời gian cũng ngắn hơn. Cho nên cách học ngày nay có khác cách học ngày xưa. Trong thời Phật giáo chấn hưng của những năm 1920, với cách học Gia giáo, đã đào tạo nên những hiểu biết đi từ chuyên sâu đến tổng quát thì ngày nay cách học kiêm cả hai mặt sâu và rộng tương tác lẫn nhau. Nội dung bài nầy, theo mô hình đã giới thiệu, chúng tôi sẽ đi từ tổng quát đến chuyên sâu, và sẽ trình bày Đại cương về Học phái Phật giáo Việt Nam trong Học phái Phật giáo thế giới bao gồm trong 2 phần chính với nội dung như sau:

1. Đại cương về Học phái

Chân dung toàn cảnh về Học phái Phật giáo cho chúng ta cái nhìn mà qua đó Phân kỳ Phật giáo có thể chia làm 3 thời kỳ, đó là Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Phát triển và Phật giáo Hội nhập. Rồi theo sự phát triển, mỗi nước lại có nét riêng của từng khu vực khác nhau. Ở đây giới thiệu 4 khu vực, đó là: Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng; Phật giáo Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia; Phật giáo Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; và Phật giáo Việt Nam, để qua đó tìm hiểu về tính chất đặc thù của  Học phái từng vùng-miền khác nhau.

a. Vấn đề tên gọi

Vấn đề tên gọi về học phái Phật giáo có vẻ như còn xa lạ với người mới bước vào lãnh vực nghiên cứu Phật học. Để có sự nhất quán về tên gọi cho chủ đề nầy, ở đây, chúng tôi đề nghị một hình thức tên gọi học phái Phật giáo như sau: Học phái là ngành học bao gồm những loại hình nghiên cứu về những hình thức tổ chức Phật giáo qua trình tự thành hình và phát triển của nó, chúng được ghi nhận như sau: Buổi đầu, chúng ta có hình thức Giáo đoàn rồi đến Bộ phái, đến Trường phái, đến Tông phái, đến Dòng phái, đến Chi phái, đến Hệ phái, đến Giáo phái, v.v… Như vậy, Học phái là ngành học nghiên cứu về việc tìm hiểu tính chất Phật học của Giáo đoàn, của Bộ phái, của Trường phái, của Tông phái, của Dòng phái, của Chi phái, của Hệ phái, của Giáo phái như đã trình bày ở trên. Tổng quan thì Học phái là tên gọi chung mà qua đó mỗi giai đoạn phân kỳ, mỗi khu vực, vùng-miền lại biểu hiện nét riêng của nó.

 b. Phân Kỳ Học phái

Từ trước, phân kỳ Phật giáo có nhiều hình thức thật phong phú, thế nhưng thuyết phân kỳ ấy lại được nhiều nhà chuyên môn sử dụng rộng rãi, đó là thuyết 3 thời: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa, Phật giáo Đại thừa. Khuôn mặt sáng giá thuộc nhóm nầy là Kimura Taiken (Bác sĩ Mộc-Thôn-Thái-Hiền), người Nhật Bản với tác phẩm Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận; Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận; Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận. (Xem bản dịch Thích Quảng Độ, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1972). Thuyết nầy dù được phần đông chấp nhận nhưng về tên gọi của ba thời kỳ thì việc nầy còn gây nhiều tranh cãi; thậm chí vấn đề tranh cãi nầy có lúc lên đến đỉnh cao và nó được đưa vào chủ đề tham luận của hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ 2, năm 1952 tại Tokyo, Nhật Bản. Hội nghị đã đi đến nhất trí là không dùng tên gọi Tiểu thừa Phật giáo, Đại thừa Phật giáo để tránh ngộ nhận mà thay vào đó là dùng tên gọi Phật giáo Phát triển để gọi cho hai thời kỳ nầy. Thuyết nầy được dùng rộng rãi trong giới Phật học. Nay bước vào thế kỷ 21, các hoạt động xã hội đều phát triển theo qui luật hội nhập toàn cầu, do đó Phật học thế giới cũng biểu hiện sự dung hợp rõ nét. Vì vậy, ba giai đoạn của thuyết phân kỳ Phật giáo trên đây được thay thế bằng tên gọi: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Phát triển, Phật giáo dung hợp. Với tên gọi như vậy dễ được chấp nhận hơn.

c. Phân thời Học phái

Có thể chia ra làm 5 thời kỳ cho dòng chảy Phật giáo thế giới. Một là từ thời Phật còn tại thế đến sau Phật vào Niết-bàn 100 năm, đây là thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy. Hai là từ sau Phật Niết-bàn 100 năm đến sau Phật Niết-bàn 300 năm, đây là thời kỳ Bộ phái phát triển. Ba là thời kỳ Trường phái Phật giáo mà ngài Mã Minh-Long Thọ và Vô Trước-Thế Thân của Ấn Độ là tiêu biểu. Bốn là thời kỳ Tông phái Phật giáo mà ngài Trí Giả (Trí Khải), Huệ Năng, Thần Tú của Phật giáo Trung Hoa là tiêu biểu. Năm là thời kỳ các tông dung hợp, nó được định hình từ thế kỷ thứ 6 TL và càng rõ nét hơn là vào những năm đầu của thế kỷ 20 khi phong trào Phật giáo thế giới chớm nở.

d. Phân khu Học phái

Theo tính chất địa lý từng khu vực văn hóa, Học phái Phật giáo thế giới cũng được phân bổ theo vùng-miền mà nhìn trên tổng thể ta thấy: Phật giáo Ấn Độ - Tây Tạng; Phật giáo Tích Lan - Thái Lan - Miến Điện - Lào - Cambodia; Phật giáo Trung Hoa - Hàn Quốc - Nhật Bản; Phật giáo Việt Nam; Phật giáo Thế giới. Sự phân khu, phân vùng như thế chỉ là hình thức, trong khi đó trong hoằng pháp thì sự phân vùng nầy mang tính mở rộng và luôn dung hợp.

2. Đại cương về Học phái Phật giáo Việt Nam

Nhìn về mặt tổng thể thì Học phái Phật giáo Việt Nam được biểu hiện qua những hình thức: Dòng phái, Chi phái, Giáo phái (hệ phái), v.v… Ngay từ buổi bình minh của thời mới vào, trên dòng chảy 2000 năm Phật giáo Việt Nam, ghi nhận thấy có dòng Thiền Khương Tăng Hội (280); dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi (594); dòng Thiền Vô Ngôn Thông (860); dòng Thiền Thảo Đường (TK 12); dòng Thiền Trúc Lâm (1308); phái Thiền Tào Động (TK 17); phái Thiền Lâm Tế (TK 17); chi phái Liên Tông (Bạch Mai-Hà Nội). Cho đến những năm 1920, nhiều hiệp hội Phật giáo ra đời, qua đó mở rộng con đường hoằng pháp khắp 3 miền: Bắc, Trung, Nam. Rồi từ Hiệp hội đơn lẻ, tổ chức Phật giáo dần chuyển mình sang hình thức Tổng hội rồi Giáo hội.

Bên cạnh đó cũng phải nói đến một Vu Đạo Thúy (TK thứ 4) là thành viên thuộc Trường phái Bát-nhã Phật giáo Trung Quốc tại Giao Châu, Đạo Thúy đưa ra một quan niệm mới về học lý Bát-nhã của thời bấy giờ.

Tính chất Học phái cho thấy: dòng Thiền Khương Tăng Hội có tính Phật giáo quyền năng; dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi mang tính Thiền-Mật; dòng Thiền Vô ngôn Thông biểu hiện tính triết học có màu sắc thi ca; dòng Thiền Thảo Đường có ý hướng Tam giáo đồng qui; dòng Thiền Trúc Lâm thể hiện tính dân tộc; phái Thiền Tào Động có nét Thần bí; phái Thiền Lâm Tế nổi bật nét Hạnh-Giải tương ưng; chi phái Liên Tông muốn thể hiện tịnh độ nhân gian.

Như vậy ngoài nét đặt thù riêng, mỗi Dòng phái, Chi phái, Giáo phái đều biểu hiện nét dung hợp trong “chân dung toàn cảnh” Phật giáo Việt Nam.

 

 

Chùa Dâu

Đức Dung

Chùa Dâu nằm trong thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội về phía Đông Nam khoảng 30 km, là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở nước ta được gìn giữ cho đến ngày nay.

Chùa nguyên có tên chữ là Pháp Vân. Đến đời Lý, chùa được đổi tên thành Cổ Châu. Sang đời Trần lại đổi thành Thiền Định và đến đời Hậu Lê, chùa lại có tên là Diên Ứng.

Chẳng rõ lý do vì sao chùa lại được đổi sang nhiều tên như vậy, chúng tôi chỉ biết chùa đã có mặt ở vùng đất Luy Lâu mà một thời là cố đô của Phật giáo này vào khoảng đầu thế kỷ thứ 3, Tây lịch. Lịch sử của chùa đã gắn liền với huyền thoại Man Nương, người con gái làng Mãn Xá ở bên kia sông Đuống, sang bên này bờ Bắc học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la, Ngài là người Thiên Trúc ở chùa Linh Quang, xã Phật Tích – Tiên Sơn, là người rất tinh thông trong việc kết hợp Mật Tông với tín ngưỡng dân gian để truyền bá Phật pháp và được cư dân vùng Luy Lâu mến mộ.

Tương truyền, một hôm sau giờ hành lễ, Khâu-đà-la đã bước qua người Man Nương trong lúc nàng đang nằm ngủ khiến nàng thụ thai. Một năm hai tháng sau, nhằm ngày Phật đản, Man Nương sinh hạ một bé gái và mang đến trả cho Thiền sư. Khâu-đà-la bồng đứa bé đến một gốc cây cổ thụ ven sông, niệm thần chú rồi dùng thiền trượng gõ vào gốc cây. Cây nứt ra, đứa bé được đặt vào. Cây khép lại và một mùi hương thơm ngát toả ra. Kỷ vật cuối cùng mà Khâu-đà-la trao cho Man Nương là cây thiền trượng với lời dặn “Khi nào gặp trời hạn hán thì cắm cây thiền trượng này xuống đất mà cầu nguyện, phép mầu sẽ hiện ra”. Man Nương làm theo, quả nhiên có sự linh nghiệm: trời đổ mưa.

Sau một đêm mưa to gió lớn, cây cổ thụ, nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương bỗng đổ xuống sông và trôi về làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương dùng dải yếm kéo được. Đem lên bờ, đêm ấy dân làng được thần báo mộng, khuyên nên đem cây tạc tượng để thờ. Từ đó ra đời bốn pho tượng nữ thần: thần Mây (tức Pháp Vân, còn gọi là Bà Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), thần Mưa (tức Pháp Vũ, còn gọi là Bà Đậu, thờ ở chùa Thành Đạo), thần Sấm (tức Pháp Lôi, còn gọi là Bà Tướng, thờ ở chùa Phi Tướng) và thần Chớp (tức Pháp Điện, còn gọi là Bà Dàn, thờ ở chùa Phương Quan).

Huyền thoại Man Nương, người con gái trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp đã khiến cho tín đồ Phật giáo và du khách thập phương hằng năm về chùa Dâu mở hội vào ngày Phật đản, như nhân gian có câu:

“Dù ai đi đâu về đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Nhớ ngày Phật đản thì về hội Dâu”.

Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để các Phật tử hành hương về chiêm bái Phật, Tổ, mà còn được tham dự các nghi thức cổ truyền của dân tộc. Hội diễn ra khắp cả tổng với các đám rước tưng bừng (gồm rước chào, rước đón, rước đưa), thỉnh các tượng Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn về qui tụ với chị cả là Bà Dâu ở chùa Diên Ứng.

*

Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh kể rằng, Khâu-đà-la lập am ở duới gốc cây đa, rất có thể ngôi chùa Dâu đầu tiên chỉ là một ngôi đền thờ các vị nữ thần nông nghiệp theo tín ngưỡng dân gian và người ta đã đem thờ Phật chung với các vị thần. Tại chùa Dâu, nhân dân vẫn thờ Pháp Vân, một trong 4 vị thần nông nghiệp của làng quê. Việc làm đó đã nói lên được rằng ông cha ta đã đón nhận Phật giáo một cách trân trọng, cởi mở nhưng không làm mất bản sắc truyền thống của mình. Việc Phật hóa các nữ thần của mình trở thành các Phật bà là một nét đặc sắc của Phật giáo nước ta.

Trải qua nhiều lần trùng tu, xây dựng nhưng chùa Dâu vẫn giữ được nét kiến trúc độc đáo cổ xưa. Qua các pho tượng đá, qua phong cách chạm khắc trên các kèo nhà, qua các hoa văn trang trí, chúng ta không chỉ nhận ra sự tinh tế, uyển chuyển trong nghệ thuật chạm khắc, mà còn thấy được tính tư tưởng qua quan niệm sống của người xưa. Chúng ta cũng được nhìn thấy bóng dáng người quân tử qua hình dạng cây trúc dưới mái chùa.

Qua thời gian quá lâu, bị xuống cấp rất nhiều, hiện chùa đang được Bộ Văn Hoá Thông Tin cho trùng tu lại. Khi chúng tôi đến, phía trước sân chùa là một đống đổ nát bao gồm gạch, ngói và nhiều vật liệu xây dựng khác đang còn bày biện ngổn ngang.

Hiện nay chùa còn lưu giữ nhiều tác phẩm văn hoá nghệ thuật khác nhau rất có giá trị về mặt lịch sử như tượng đá Thạch Quang, tượng bà Pháp Vân (cả bệ và tượng cao 2,8m) tượng Ngọc Nữ thế kỷ thứ 14, tượng bà chúa Trắng, tượng bà chúa Đỏ…. Trong đó, chùa còn giữ được bản khắc gỗ “Cổ Châu Phật Bản hạnh” rất có giá trị trong việc giúp ích cho việc nghiên cứu sử sau này.

Nằm trên một khu đất rộng ven sông Dâu, một nhánh của sông Đuống, chùa Dâu, tức chùa Pháp Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước: trung tâm Luy Lâu. Chính nơi đây đã chứng kiến và đào tạo nên các vị Thiền sư danh tiếng như: Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi (người Thiên Trúc, sang nước ta vào khoảng năm 580), Thiền sư Pháp Hiền và các Thiền sư danh tiếng khác như Trì Bát, Định Không, Thiện Hội… Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ và tâm truyền độc đáo giữa Thiền sư Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Thiền sư Pháp Hiền diễn ra ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của Thiền trong đời sống văn hoá dân tộc.

(Bài viết có tham khảo “Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam” của Võ Văn Tường)

 

Quá trình nhập thai, Trụ thai và xuất thai

Nguyên Liên

A. DẪN NHẬP.

Sau khi mạng chung, chúng sanh tùy theo nghiệp lực thiện hay ác lúc sanh tiền đã tác tạo, mà tái sanh vào một trong sáu cảnh giới luân hồi. Sáu cảnh giới luân hồi là thiên, nhân, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, và địa ngục. Theo đạo Phật, có bốn cách để thọ sanh một kiếp sống mới. Đó là noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh.

Noãn sanh là các loài hữu tình sanh ra từ trứng, như loài ngỗng, chim sẻ... Thai sanh là các loài hữu tình sanh ra từ thai mẹ, như con người, voi, ngựa... Thấp sanh là các loài hữu tình sanh ra từ nơi ẩm thấp, như trùng, mọt... Hóa sanh là các loài hữu tình sanh ra bằng cách tự nhiên hóa hiện, như chư thiên, chúng sanh cõi địa ngục...

Theo Du già sư địa luận (q1), tùy theo việc đoạn trừ phiền não có sâu hay cạn, phước báo nhiều hay ít, giữa kẻ phàm người thánh mà dẫn đến việc nhập thai, trụ thai và xuất thai của mỗi loài có hạnh phúc hay khổ đau sai khác. Trong phạm vi bài này, chúng ta thử tìm hiểu về quá trình nhập thai, trụ thai và xuất thai đầy đau khổ của phàm phu như thế nào.  

B. NỘI DUNG

I. Tiến trình nhập thai của phàm phu.

1. Điều kiện nhập thai.

Sự kết thai của chúng sanh là do ba yếu tố hỗn hợp là tinh cha, huyết mẹ và thần thức. Tuy nhiên dù có đủ ba yếu tố đó nhưng phải hội đủ các duyên, và không có một số chướng ngại sau mới hình thành được thai bào.

a. Sinh lý.

* Muốn hình thành thai bào phải hội đủ ba điều kiện.

- Người mẹ tâm ý điều hòa thuận thích, lại đúng thời kỳ rụng trứng.

- Cha mẹ quan hệ và cùng khởi ý niệm ái nhiễm.

- Thân trung ấm đang có mặt.

* Lại không có một số chướng duyên như sau.

- Khi hòa hợp tinh cha ra nhưng tinh mẹ không ra, hay ngược lại.

- Người mẹ có một số bịnh như tử cung lạnh, khí huyết thành cục, vàng võ nhiều đàm… hoặc một số bịnh của người cha, hoặc uống thuốc tránh thai.

- Cha mẹ tôn quý có phước đức, nhưng trung ấm ti tiện kém phước, hay ngược lại cha mẹ ti tiện kém phước, mà trung ấm tôn quý có phước đức thì cũng không thành thai.

b. Nghiệp báo.

Nghiệp báo giữa cha mẹ và con cái phải có nhân duyên với nhau mới thành thai. Hoặc có khi cha mẹ cùng con đều tôn quý hoặc ti tiện, nhưng nghiệp duyên giữa cha mẹ và con cái không hợp cũng không thể thành thai.

Mối quan hệ nghiệp báo giữa cha mẹ và con cái, không ra ngoài một trong bốn trường hợp sau.

- Vì trả ân sanh làm con: con cái đối với cha mẹ trong nhiều đời quá khứ đã mang ân nghĩa, đời này sanh làm con để trả lại những ân nghĩa xưa. Vì thế, có những người con khi nhỏ đã sống hiếu thảo với cha mẹ, chăm lo học tập, làm cho cha mẹ vui lòng, lớn lên thi cử đỗ đạt, thăng quan tiến chức, nhờ đó mà cha mẹ cũng được tiếng thơm với xã hội.

- Vì trả oán sanh làm con: cha mẹ đối với con cái trong quá khứ đã từng gây nhiều oan ức, oán thù, người con kiếp này sanh làm con để trả lại những oán thù xưa. Vì thế, có những người con khi còn nhỏ tuổi đã sanh lòng ngỗ nghịch, bất hiếu, đến khi lớn lại gây tai họa, ăn chơi đàng điếm, khiến cho cha mẹ khổ lụy phải mất danh tiếng với xã hội.

- Vì đòi nợ sanh làm con: cha mẹ đối với con cái trong nhiều đời quá khứ đã nợ nần tiền bạc, người con kiếp này sanh làm con để đòi lại những nợ nần xưa. Vì thế, có những người con, khi mới sanh ra đã mang nhiều tật bịnh, hoặc còn nhỏ tuổi cha mẹ dày công nuôi dưỡng, tốn nhiều tiền bạc cho ăn học, nhưng khi đỗ đạt thành danh thì lại chết, hoặc không giúp đỡ gì cho cha mẹ.

- Vì trả nợ sanh làm con: người con trong nhiều đời quá khứ đã từng nợ nần hay thiếu tiền bạc nơi cha mẹ, đời này sanh làm con để trả nợ xưa. Vì thế, có những người con khi còn nhỏ tuổi đã chăm lo làm lụng, dãi nắng dầm mưa đem tiền về nuôi dưỡng cha mẹ. Tùy theo số nợ nhiều hay ít, mà ở với cha mẹ thời gian dài hay ngắn, đến khi trả hết nợ rồi chết hoặc bỏ nhà đi.

2. Tiến trình nhập thai.

a. Tâm niệm vào thai.

Tâm lý của trung ấm khi vào thai mẹ vô cùng phức tạp, bởi do ái dục làm chủ thân trung ấm trong suốt quá trình tồn tại, vì thế tâm lý trung ấm trước khi vào thai luôn khao khát ái dục, và bị ái dục thiêu đốt làm cho tâm bức xúc, nóng nảy khổ đau bất tận.

Với tâm lý thèm khát những rung động dục tình, nhưng không đủ điều kiện để thỏa mãn (do thân trung ấm phần sắc chất rất vi tế), nên giữa không gian mênh mông, khi thấy đốm lửa dục lóe lên từ nơi cha mẹ giao hợp, trung ấm bèn duyên theo tâm dục của cha mẹ khởi lên vô số vọng tưởng và sanh ái tâm lẫn sân tâm.

Trung ấm nếu là con gái, liền đối với người cha khởi tâm tham muốn, sanh lòng ghét bỏ người mẹ. Nếu là con trai, liền đối với người mẹ khởi tâm tham muốn và sanh lòng ghét bỏ người cha. Ngay lúc trung ấm sanh ái tâm lẫn sân tâm cũng chính là lúc trung ấm chuẩn bị nhập thai.

b. Quá trình vào thai.

Khi cha mẹ quan hệ ở giai đoạn tham ái cùng cực, mỗi người xuất ra một giọt tinh huyết và hòa hợp lẫn nhau, ngay lúc đó trung ấm liền sanh ý niệm chấp thủ, muốn gá hợp vào giọt tinh huyết, mà nhập vào thai bào.

- Nếu trung ấm phước kém, sẽ sanh vào nhà hạ tiện. Bấy giờ trung ấm bỗng thấy toàn thân nóng lạnh, bức bách khó chịu, tai nghe vô số âm thanh hoảng loạn, chát chúa, lại thấy cảnh mưa gió mù mịt, người đông đảo, nhiều thú dữ đến rượt đuổi... Ngay đó trung ấm khởi lên ý niệm, ta phải chạy vào hang động, rừng rậm, núi đồi... để tránh các sự khủng bố này. Sau khi khởi ý niệm, trung ấm liền cố chạy ra xa, ngay đó liền nhập thai.

 - Nếu trung ấm có phước, sẽ sanh vào nhà tôn quý. Bấy giờ, trung ấm cũng cảm thấy toàn thân nóng lạnh, bức bách khó chịu, tai nghe vô số âm thanh hoảng loạn, chát chúa, lại thấy cảnh mưa gió mù mịt, người đông đảo, nhiều thú dữ đến rượt đuổi... Ngay đó trung ấm khởi lên ý niệm, ta phải chạy lên lầu cao, lên cung điện, vào tháp miếu... để tránh các sự khủng bố này. Sau khi khởi ý niệm trung ấm cố chạy ra xa, ngay đó liền nhập thai.

II. Quá trình trụ thai.

1. Tiến trình sinh trưởng.

Chúng phàm phu khi ở trong thai mẹ, thai nhi ở dưới can cách và trên đại trường. Trong thời gian ở trong thai, thai nhi phải chịu muôn vàn khổ sở…

Sau khi đầu thai vào loài nào, thai nhi phải trải qua thời gian tương đương với loài ấy rồi mới được sanh ra. Thai tạng khi sanh trưởng đều phải trải qua tám vị sai biệt.

- Yết la lam vị: lúc tinh huyết mới đọng lại còn hơi lỏng như mũi tên.

- Yết bộ đàm vị: lúc thai tạng chưa sanh thịt, trong ngoài như sữa đặc.

- Bế thi vị: lúc thai nhi mới tượng hình có dáng hai tay khép lại, thịt đã sanh nhưng còn rất mềm.

- Kiền nam vị: lúc khối thịt đã hơi cứng có thể xoa rờ được.

- Bát la xa khê vị: lúc thai nhục lớn lên, hiện ra tướng tay chân và đầu.

- Phát mao trảo vị: lúc tóc, lông, móng tay và chân hiện ra.

- Căn vị: lúc phát sanh tay, mắt, mũi, miệng và đường đại tiểu tiện.

- Hình vị: lúc các tướng nơi thân hiện ra đầy đủ.

2. Tâm lý thọ báo.

Trong thời gian trụ thai, tâm lý thai nhi trải qua những tướng dị biệt, hoặc có khi vọng tưởng điên đảo, như thấy mình đang ngồi trên xe ngựa, hay đi thuyền ở lầu cao, nằm trên giường, nghe tiếng suối chảy… có khi thai nhi sanh niệm buồn chán đến tột độ, đau đớn bức bách.

Giai đoạn này, tâm lý thai nhi do bị sự dày vò của ái tâm, sân tâm, nhưng không có đối tượng để thỏa mãn, khiến thai nhi sanh ra vô số niệm bất như ý. Lại thai nhi phải chịu sự tù túng của thai bào, như ở trong ngục tối; xung quanh bao bọc đầy những máu mủ bất tịnh, khiến thai nhi cảm thấy bức bách khó chịu vô cùng. Lại do ảnh hưởng của người mẹ, trong khi mang thai không biết giữ gìn, khiến thai nhi đã thống khổ lại càng thêm thống khổ.

Chung quy, tâm lý thai nhi không ngoài các tâm lý, như tâm lý điên đảo vì khởi lòng mong cầu nhưng không được đáp ứng, tâm lý sân nộ chán ghét vì sự bất tịnh, tâm lý buồn bực vì sự hôi hám nhơ bẩn, tâm lý bức bách vì trong ngục tối, tâm lý chán nản đeo đẳng vì không lối thoát... Tất cả những tâm lý sầu khổ đó đều không ngoài nghiệp nhân bất thiện trong quá khứ mà thai nhi đã tác tạo để biến hiện thành cảnh thọ dụng bất như ý khi ở trong thai mẹ.

3. Ảnh hưởng của người mẹ đối với thai nhi.

Trong thời kỳ mang thai, hoặc do năng lực của nghiệp, hoặc do năng lực những điều không quân bình bởi người mẹ không biết kiêng cử, khiến cho thai nhi hoặc là tóc, hoặc là màu sắc, hoặc là da, hoặc những chi phần khác bị biến dạng sau khi sanh ra.

Trong thời gian mang thai, chế độ dinh dưỡng, cũng như môi trường sống của người mẹ có ảnh hưởng rất lớn đến thể chất, hình sắc vóc dáng của người con.

Trong lúc mang thai, nếu người mẹ ưa hành dâm, thai nhi sẽ có làn da ghẻ chốc, sần sùi, hoặc người mẹ không khéo giữ gìn, thường chạy nhảy hoặc làm những việc nặng, do ảnh hưởng đó, có thể  các chi phần của thai nhi cũng bị xiên vẹo, không được hoàn chỉnh.

4. Sự khó khổ của người mẹ khi mang thai.

Người mẹ trong chín tháng mang thai, thân thể nặng nề mỏi nhọc, tợ như người mang đá nặng ngàn cân bên mình. Trong mỗi hành động đi, đứng, nằm, ngồi đều không được tự nhiên. Lại do sức nghiệp cảm của thai nhi tác động, người mẹ có những xáo trộn về ăn uống khác với lúc bình thường. Khi thai nhi vùng vẫy, người mẹ cảm giác tợ như có ai lấy cây đánh mạnh vào thành bụng. Khi thai nhi đói khát cấu xé, người mẹ dường như rách nát tâm can.

Kể từ khi mang thai, tâm người mẹ có những biến chuyển rõ rệt. Do tâm sân của thai nhi ảnh hưởng khiến người mẹ có những cơn nóng giận vô cớ. Lại do tâm tham dục của thai nhi, trong thời gian mang thai, người mẹ thích hành dâm nhiều hơn. Lại, có nhiều người mẹ trong khi mang thai ưa thích những cảnh ma quái, cảnh đâm chém lẫn nhau, và trong thời gian này thường có vô số ác quỷ đoanh vây phá hại người mẹ.

III. Quá trình xuất thai.

1. Tiến trình xuất thai.

Thai tạng nếu là con gái sẽ ở bên hông trái người mẹ, tựa lưng vào xương sống, hướng mặt ra phía bụng. Nếu là con trai sẽ ở bên hông hữu người mẹ, tựa lưng vào bụng và hướng mặt ra xương sống.

Khi thai tạng đủ tháng đủ ngày, người mẹ không còn kham giữ được nữa, lúc gió bên trong nổi lên, người mẹ đau đớn vô cùng. Lại bởi nghiệp báo của thai tạng phát khởi, gió sanh phần dấy lên, khiến cho đầu thai nhi hướng xuống, chân quay lên, xuôi hai tay như sắp muốn ra, vỏ thai bao bọc xung quanh hướng ra sản môn. Đúng lúc thoát ra, vỏ bọc thai bị xé rách phân ra hai nách. Lúc thai nhi ra khỏi sản môn mới thực sự gọi là sanh.

Nếu đứa bé đời trước có tạo nghiệp đọa lạc, thì tay chân ngang dọc không xoay trở được, chết trong bụng mẹ, làm cho người mẹ rất đau đớn khổ sở hoặc có thể mạng chung. Như đứa bé đời trước tạo những nghiệp lành hay gây nhân sống lâu, thì sanh nở dễ dàng, khi sanh ra mẹ con đều an ổn.

2. Nỗi khổ đau của thai nhi khi xuất thai.

Tâm lý thai nhi khi xuất thai thật hoảng loạn vô cùng, thai nhi phải lộn ngược đầu xuống để chun qua sản môn người mẹ mà ra. Trạng thái khổ sở lúc xuất thai của phàm phu cũng ví như người, đầu phải lộn xuống đất, hai chân đưa lên trời.

Lại khi chun qua sản môn, thai nhi cảm thấy như bị hai tảng đá nặng ngàn cân ép chặt vào thân… Cộng với máu mủ tuôn trào, sự thay đổi môi trường, thời tiết khi xuất thai, khiến thai nhi đau đớn hốt hoảng và đầy lo sợ.

Phải chăng tiếng khóc đầu đời của hài nhi, nhằm báo hiệu cho mọi người biết đã có một sinh linh xuất hiện trên trần thế, đó là tiếng khóc thét, ngõ hầu làm vơi đi bao nỗi buồn chán, nỗi bực tức, nỗi hằn học... của thai nhi khi ở trong thai mẹ, và nỗi đau đớn tột độ khi sanh ra, cũng như nỗi hốt hoảng tột cùng, khi gặp phải một cuộc đời đen tối đang đón chào.

 Thảo nào khi mới chôn nhau

 Đã nghe tiếng khóc ban đầu mà ra

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế

Ai bày trò bãi bể nương dâu

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.

(Cung oán ngâm khúc)

3. Nỗi nguy hiểm của người mẹ lúc sanh nở.

Mang thai đến tháng thứ mười, là lúc thai nhi lộn ngược, đầu hướng xuống sản môn, hình chất lần lần to lớn, thời gian này người mẹ luôn ở trong trạng thái hồi hộp khó thở, ăn không ngon miệng, ngủ không an giấc. Trước giờ chuyển bụng, người mẹ đau đớn vô vàn, khuôn mặt nhợt nhạt, mồ hôi tuôn trào, ruột gan cảm nhận dường như bị ai cấu xé, thân thể như bị ai phanh ra. Những cơn đau co thắt trong ruột, làm cho người mẹ đi, đứng, nằm, ngồi không yên.

Khi đứa con từ từ sinh ra, người mẹ cảm thấy như bị ai banh da xẻ thịt, đau đớn vạn trạng máu huyết dầm dề. Toàn thân người mẹ co giật, nghe trong người các cơ thịt co rút, lại mỗi lần sanh nở người mẹ phải mất biết bao nhiêu máu và tủy, khiến cơ thể yếu đi và các đốt xương đen và dễ gãy...

Trong khi sanh nở vô cùng nguy hiểm, thậm chí có trường hợp hy sinh người con để cứu sống mẹ, hay ngược lại hy sanh mẹ để cứu sống con, có trường hợp cả mẹ lẫn con đều chết trên giường sanh. Cảnh đau đớn vạn trạng và nhuốm đầy màu tang tóc lúc người mẹ sanh nở quả thật đáng kinh đáng sợ biết dường nào.

4. Giáo dục thai nhi.

Đạo Phật chủ trương giáo dục con người ngay khi còn ở trong thai bào. Việc giáo dục thai nhi trong đạo Phật được nhân gian đúc kết thành câu tục ngữ: “Đặt con vào dạ, mạ lo đi tu”.

Kinh Phổ Môn dạy chúng ta, muốn sanh được con cái hiếu thảo, trước và trong thời kỳ mang thai, người mẹ thường nên trì niệm thánh hiệu Quán-thế-âm Bồ-tát sẽ đạt được như sở cầu. Niệm Quán-thế-âm Bồ-tát, có nghĩa là chúng ta thường nhớ nghĩ đến tư tưởng thánh thiện trong nội tâm, tư tưởng thánh thiện là tư tưởng lắng nghe tiếng khổ đau của mọi người để tìm cách cứu giúp, đồng thời đừng để cho những ý niệm tạp loạn, ý niệm ác độc xâm nhập vào tâm trong thời kỳ này.

Do tư tưởng thánh thiện của người mẹ trước khi chuẩn bị mang thai, sẽ chiêu cảm các loại thân trung ấm là những bậc hiền thánh nhập thai vào làm con của mình. Cũng như trong thời kỳ thai nhi trụ thai, do tư tưởng thánh thiện của người mẹ, sẽ có tác động giáo dục rất lớn đối với thai nhi để sau này hình thành nhân cách thanh cao của người con.

 

C. KẾT LUẬN

Do nghiệp nhân đã tạo trong quá khứ, mà phần nhiều chúng sanh sau khi chết đều phải trải qua giai đoạn thọ thân trung ấm. Vì vậy, chúng sanh phải chịu vô vàn sự khổ khi ở trong giai đoạn trung ấm, rồi bao cảnh nhọc nhằn khi vào thai, ở trong thai và khi xuất thai. Để rồi dòng chảy cuộc đời cứ cuồn cuộn cuốn tất cả chúng sanh trôi nỗi dập dìu trong sông mê, biển ái đáng ngán đáng sợ dường nào.

Tất yếu đã có thân là có khổ, bởi khổ là do chúng ta có ý niệm chấp ngã về thân, như Lão tử nói : “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân” (ta có hoạn lớn vì ta có thân). Chúng ta chỉ có con đường “Thoát ly huyễn thân, chứng nhập pháp thân” mới chấm dứt sự khổ. Con đường đó chư Phật đã diễn bày rõ ràng trong kinh điển.

Nói tóm lại, chúng ta chỉ cần “Nói theo những gì Phật đã nói, làm theo những gì Phật đã làm, nghĩ theo những gì Phật đã nghĩ” tức chúng ta sẽ hoàn toàn thoát khổ. Khổ đau hay hạnh phúc, trói buộc hay giải thoát, việc đó hoàn toàn do mỗi cá nhân tự quyết định.

 

Đức Phật có phải là một Thượng đế hay không?

THANH TÂM

Từ trước đến nay, câu hỏi “đức Phật có phải là một đấng thượng đế hay không?” đã được đặt ra và được trả lời khác nhau trên nhiều phương diện. Vào thời đức Phật, có nhiều người đã tôn thờ Ngài như là Thượng đế hoặc là sự hóa thân của Thượng đế. Nhưng đức Phật không bao giờ đồng ý với sự tôn thờ này. Trong kinh Tăng Chi Bộ, đức Phật dạy rằng: “Quả thực Như Lai không phải là một thiên thần, không phải là một Càn-thát-bà, chẳng phải là quỷ thần, cũng chẳng phải là người. Hãy biết rằng Như Lai là một vị Phật”. Điều đó chứng tỏ Ngài chưa bao giờ tuyên bố Ngài là Thượng đế hay sứ giả của Thượng đế. Thế nhưng, trong quá trình học hỏi của giới bình dân cũng như một số nhà nghiên cứu hiện tại vẫn còn nhiều người lầm tưởng xem đức Phật là một vị thần linh tối cao, có quyền ban phước giáng họa như ở một số tôn giáo khác. Hoặc giả khi đọc vào tư tưởng triết học Ấn giáo (hóa thân của Bà-la-môn giáo), có quan niệm Phật là hóa thân từ “Đại ngã” thì chúng ta phải nhận thức thế nào? Chúng ta biết rằng, nền triết học của Ấn Độ giáo ra đời trước Phật giáo và trong một thời gian dài đã mất thế đứng trong lòng quần chúng do sự ảnh hưởng của Phật giáo quá lớn. Vì thế, họ đã gán ghép cho đức Phật là một vị thần linh biến thân của “Đại ngã”. Không chỉ tôn giáo đó mà các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác thỉnh thoảng cũng lầm tưởng đức Phật là một vị Thượng đế. Chính những quan niệm mơ hồ này khiến cho mọi người hoang mang, không biết nhận định thế nào là đúng là sai. Vậy, người con Phật làm thế nào để định hình được niềm tin; phải trả lời như thế nào khi có một người hỏi đức Phật có phải là một vị thượng đế hay không? Hay rồi không hiểu rõ lại đánh đồng cho rằng Phật là một đấng Thượng đế. Để giải trừ sự nghi ngờ và trả lời câu hỏi, chúng ta hãy đi sâu vào tìm hiểu đời sống của đức Phật từ khi Ngài xuất hiện trên thế gian cho đến lúc nhập Niết-bàn, thì sẽ hiểu và thấy Ngài có phải là một đấng Thượng đế hay không hay Ngài cũng  là một con người nhưng vượt qua những con người khác, đó là con người tỉnh thức, con người giác ngộ.

Đức Phật có cuộc sống của một con người nhưng cuộc sống đó thánh thiện hơn, cao thượng hơn. Cuộc sống của một người không còn vướng mắc vào ngũ dục trần gian. Tự thân vận động tu tập phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vô thượng của mình, không nương nhờ một ai. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Nhờ đó, Ngài đã mở được những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc Đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài, xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị. Ở đây, chúng ta nên đi vào tìm hiểu về lịch sử và hành trình thuyết pháp của Ngài để làm sáng tỏ vấn đề.

Đức Phật sinh ra trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt. Ngài có một cuộc sống vương giả quyền quý, rồi từ bỏ ngôi vị ấy để đi xuất gia tìm kiếm con đường chân thật, giải quyết những khổ đau của kiếp người cho đến lúc giác ngộ Bồ-đề.

Vào năm 624 BC, lúc Ngài mới sinh ra, có một vị tiên nhân tên là A-tư-đà đang tu hành ở trên núi, thấy tâm tư chấn động biết có bậc vĩ nhân ra đời nên đã rời núi để đến xem tướng. Khi gặp Thái tử Sĩ-đạt-ta, vị tiên nhân đã cúi lạy và tiên đoán rằng con người này trong tương lai sẽ đắc quả Chánh giác. Sau khi biết được lời tiên đoán của vị tiên nhân, vua cha lo lắng tương lai con mình rồi đây sẽ xuất gia tu hành và sự hoài vọng có người kế nghiệp lãnh đạo thay mình sẽ không còn nên đã cho xây dựng nhiều lâu đài tráng lệ để cột chân Ngài, đồng thời tuyển chọn những cung nhân mỹ nữ đẹp nhất trong hoàng thành về hầu hạ Ngài, và còn làm lễ chọn hoàng phi cho Ngài. Công chúa Gia-du-đà-la, một hoa khôi đẹp nhất thời bấy giờ, con của vua Thiện Giác đã trở thành vợ của Thái tử.

Mặc dù sống trong hoàng cung xa hoa lộng lẫy như vậy, nhưng hoài bảo về kiếp người, nỗi ưu tư về cuộc sống vẫn luôn khắc sâu trong tâm trí của Ngài. Một hôm, Ngài xin vua cha được ra khỏi hoàng cung đi dạo. Ngài đã tiếp xúc và thấy được kiếp sống thật sự của người dân, đặc biệt ba cảnh ấn tượng nhất: một người già, một người bệnh và một người chết với nhiều người khóc lóc đập vào mắt Ngài. Thái tử rất ngạc nhiên với những cảnh tượng này, bởi vì Ngài chưa bao giờ tiếp xúc và được biết đến cảnh con người rồi sẽ già, sẽ bịnh và sẽ chết đi bao giờ. Thấy được thực cảnh như vậy, lòng xúc cảm trào dâng về thân phận của kiếp người: “Tất cả rồi sẽ khổ đau giống nhau”. Điều đó đã đập mạnh vào trong tiềm thức của Ngài, làm sống dậy tình thương nhân loại trong vô lượng kiếp. Những thắc mắc dấy khởi: làm sao kiếp người hết khổ, được vui; làm sao con người không còn sự phân chia trong sắc tộc, không còn sanh già bệnh chết? Trong sự ưu tư thắc mắc đó, Ngài gặp được hình bóng một vị khất sĩ thong dong tự tại, liền đến hỏi và biết được con đường chấm dứt tất cả những đau khổ kia sẽ không còn hiện hữu khi chánh đạo hiển bày, và con đường đó nhất quyết cần phải khám phá ra ngay trong tự thân của mình.

Trở về hoàng cung, những ảnh tượng thấy được ở ngoài thành càng trổi dậy, nhưng Thái tử chưa quyết định được chuyện ra đi. Đến khi nhận được tin hoàng phi hạ sanh vị hoàng nam, Ngài thấy mình đã làm xong bổn phận của một người con, nên trong đêm tối gọi Xa-nặc thắng ngựa Kiền trắc ra đi, bỏ lại sau lưng sự xa hoa cám dỗ của hoàng cung, vợ đẹp, con thơ, quyết tâm sống đời sống không gia đình, mong sao tìm sự thật của cuộc đời. “Hỡi nhân loại đang quằn quại đau thương, hỡi đời sầu khổ! Vì các người mà ta đành bỏ tuổi măng tơ, bỏ ngôi báu, bỏ những ngày vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay bám víu của người vợ hiền, cắt ngang tình yêu mãnh liệt của phụ vương và xa lánh đứa con thơ đang nằm trong lòng mẹ. Hỡi phụ hoàng hiền thê bào nhi và xã tắc! Xin hãy gắng chịu sự chia ly này cho đến ngày tôi tìm ra Đạo.” (Ánh Đạo vàng, Võ Đình Cường) Ngài đã ra đi trong sự im lặng tịch tĩnh của đêm khuya khi mọi người đang yên giấc, để lại sau lưng bao sự nhớ nhung tiếc nuối của phụ hoàng, thân tộc, quần thần và dân chúng. Nhưng sự đau khổ của kiếp người mới chính là vấn đề đặt lên hàng đầu cho hành trình ra đi của Ngài. Sau khi đến bờ sông A-nô-ma, Ngài từ giả Xa-nặc, người cận thần thân thương để ra đi một mình, đi vào chốn thâm sơn cùng cốc tầm sư học đạo. Trải qua nhiều tháng, nhiều năm, Ngài đã học được tất cả các học thuyết của các trường phái tu học bấy giờ, chứng ngộ những cảnh giới khác nhau của các thiền dục giới, sắc giới và vô sắc giới, nhưng cánh cửa bất tử vẫn không thể nào hé mở, và những sở đắc đó vẫn nằm trong sanh tử nên Ngài tiếp tục từ bỏ nó để ra đi. Ngài bắt đầu thực hành nếp sống khổ hạnh ép xác, trở thành vị tinh chuyên khổ hạnh đệ nhất trong nếp sống khổ hạnh, nhưng vẫn không đạt được giải thoát. Sau 6 năm  khổ hạnh, Ngài kết luận rằng: khổ hạnh chỉ làm cho con người kiệt sức, làm cho tinh thần bạc nhược mà không đem lại kết quả gì. Ngài liền từ bỏ và tiếp tục ra đi. Ngài đã đến vườn Lộc uyển, bên dòng sông Ni-liên-thuyền. Tại đây, Ngài quyết định thiền định dưới gốc Bồ-đề với lời thề sống chết: “Dù thịt nát xương tan quyết không rời khỏi gốc Bồ-đề này cho đến lúc thành Chánh giác”. Lời khuyến tấn đó khiến cho Ngài thêm tinh tấn. Ngài đã nỗ lực tinh chuyên trong 49 ngày đêm tư duy thiền định, đến khi sao mai vừa mọc, mọi lậu tận rơi rụng, đã chứng ngộ Vô thượng Bồ-đề, trở thành đức Phật Thích-ca, mặc dù đã bị Ma vương quấy nhiễu trong giai đoạn cuối cùng, nhưng nội ma và ngoại ma phải khuất phục trước ánh sáng của tuệ giác và bóng tối vô minh phải được đẩy lùi khi ánh sáng chân lý bừng khởi.

Sau khi thành đạo, với tri kiến thanh tịnh, với chân lý vừa chứng ngộ được, Ngài lên đường vận chuyển truyền trao giáo pháp. Trong suốt 45 năm truyền đạo cho đến lúc sắp nhập Niết-bàn, đức Phật truyền trao giáo lý giác ngộ không lúc nào ngừng nghỉ. Ngài đã để lại cho cuộc đời một kho tàng giáo lý sống, đem lại cho con người sự an tịnh hỷ lạc nội tâm và cho cuộc đời một lộ trình tỉnh thức. Giáo lý đó ngày càng thâm nhập vào quần chúng, chẳng những nó được giai cấp cao sang của xã hội như Sát-đế-lợi, Bà-la-môn tiếp nhận và tu tập mà giáo lý ấy còn được triển khai áp dụng trong các giới bình dân, giới cùng đinh của xã hội. Cả mọi giới đều bình đẳng trong Phật tánh và sự giác ngộ, không có sự phân biệt trong giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. Qua việc tìm hiểu cuộc đời của Ngài, một lần nữa nói lên được tính chất thiết thực về đức Phật và giáo pháp của Ngài. Ngài không phải là Thượng đế hay hóa thân của một Thượng đế. Ngài là một con người tối thiện trên mọi phương diện, hiện hữu trong giác ngộ bản thân rồi đem sự giác ngộ của bản thân truyền dạy lại cho nhân sinh lợi lạc. (Giáo lý được đức Phật triển khai không căn cứ vào giai cấp mà căn cứ vào giới hạnh và trí tuệ của con người, người nào có phạm hạnh thì được xã hội tôn thờ, quý trọng, còn không có thì dù sống trong một cộng đồng nào cũng đều không được tôn kính). Thế nên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định rằng, cả cuộc đời từ lúc đản sanh cho đến lúc nhập Niết-bàn, đức Phật chỉ là một con người, nhưng bằng nỗ lực tự thân, Ngài đã liễu ngộ được sự thật đau khổ của kiếp người, Ngài đã ra đi tìm đạo và cuối cùng giác ngộ chân lý, rồi đem chân lý ấy truyền trao cho nhân sinh. Như vậy, đức Phật không phải là một Thượng đế. Và việc cầu xin của người đệ tử đối với đấng giáo chủ là điều không cần thiết. Điều đó đã được Ngài dạy trong kinh: “Hãy làm hòn đảo cho chính mình, hãy nương tựa vào chính mình, lấy giáo pháp làm nơi nương tựa”. Giáo pháp là kim chỉ nam cho hành động, là phương châm để hướng dẫn con người đi những bước đi không có ưu sầu, không có lo lắng khổ đau. Vấn đề cần đặt ra là, một người muốn hiểu được Phật giáo cần phải học và hành, còn không thì việc học Phật đó chỉ là tiếp thu một kho tàng lý luận mà không đem lại lợi lạc gì cho tự thân và tha nhân.

 

 

 

Chuyện Tiền Thân:

Hại Thay Uống rượu

Quang Sơn

Một lần, sau khi trải qua kỳ an cư mùa mưa tại thành Xá-vệ, đức Thế Tôn đến khất thực tại một thị trấn có tên là Bạt-đà-việt (Bhaddavatika). Ở đó, những người chăn bò, chăn dê, nông dân và người đi đường đã đảnh lễ đức Thế Tôn và chặn Ngài lại. Họ nói:

- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không nên đến bến nước Cây Xoài, vì tại trú xứ của các đạo sĩ Lõa thể ở bến nước Cây Xoài ấy, có một con rắn thần rất độc. Nếu Ngài đến đó, nó sẽ làm hại Ngài.

Không để tâm đến lời họ nói - mặc dù họ lập lại lời cẩn báo này ba lần - đức Thế Tôn vẫn cứ lên đường đến đó. Rồi trong khi đức Thế Tôn trú tại một khu rừng gần Bạt-đà-việt, Trưởng lão Bà-kiệt-đà (Sāgata), một thị giả của Ngài, người có đủ các thần thông, đã đi đến trú xứ của các đạo sĩ Lõa thể, trải nệm cỏ tại chỗ rắn thần sống và ngồi kiết già ở đấy. Không thể che giấu  được bản chất xấu ác của mình, rắn thần phun khói ra ngùn ngụt. Thấy thế, Trưởng lão cũng phun khói ra. Thế rồi rắn thần liền phun lửa ra. Và Trưởng lão cũng phun lửa ra. Nhưng trong khi ngọn lửa của rắn thần không làm hại được Trưởng lão thì ngọn lửa của Trưởng lão đã gây hại cho rắn thần. Và vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, Trưởng lão đã nhiếp phục được rắn thần, khiến cho nó quy y Tam bảo và thọ trì năm giới. Nhiếp phục rắn thần xong, Trưởng lão trở lại chỗ đức Thế Tôn. Và đức Thế Tôn, sau khi trú một thời gian theo ý muốn tại Bạt-đà-việt, đã lên đường đi đến Kiều-thương-di (Kosambi). Bấy giờ, câu chuyện Trưởng lão Bà-kiệt-đà nhiếp phục rắn thần được lan truyền khắp xứ ấy. Thị dân xứ Kiều-thương-di đi đến nghênh đón đức Thế Tôn và đảnh lễ Ngài. Sau đó, họ đến đảnh lễ Trưởng lão Bà-kiệt-đà và thưa:

- Thưa Tôn giả, Tôn giả có thiếu thứ gì thì nói cho chúng tôi biết để chúng tôi cung cấp.

Trưởng lão giữ im lặng, nhưng nhóm Lục quần Tỳ-kheo đã trả lời như sau:

- Này các vị, đối với người xuất gia, rượu trắng là thứ rất được yêu thích. Các vị có thể kiếm cho Trưởng lão một ít rượu trắng được không?

- Chắc chắn là kiếm được. Các thị dân nói.

Rồi họ thỉnh đức Thế Tôn ngày hôm sau đến đó thọ trai. Sau đó, họ trở về thành, và người nào cũng chuẩn bị sẵn trong nhà rượu trắng để cúng dường cho Trưởng lão. Hôm sau, hết nhà này đến nhà khác, họ mời Trưởng lão vào uống rượu. Trưởng lão uống say túy lúy nên trên đường ra khỏi thành đã ngã gục nơi cổng thành và nằm ở đấy lảm nhảm những lời mê sảng. Sau khi thọ trai ở thành xong và trên đường trở lại tịnh xá, đức Thế Tôn bắt gặp Trưởng lão ở trong tình trạng như vậy, liền bảo các Tỳ-kheo mang Trưởng lão về tinh xá. Các Tỳ-kheo mang Trưởng lão về và đặt nằm xuống, để đầu Trưởng lão nơi chân đức Thế Tôn. Thế rồi đức Thế Tôn hỏi:

- Này các Tỳ-kheo, bây giờ Bà-kiệt-đà có còn biết kính trọng ta như trước đây không?

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Này các Tỳ-kheo, hãy nói cho ta biết, ai là người đã nhiếp phục rắn thần ở bến nước Cây Xoài?

- Bạch Thế Tôn, chính Trưởng lão Bà-kiệt-đà.

- Với tình trạng hiện giờ, các thầy có nghĩ là Bà-kiệt-đà có thể nhiếp phục được một con rắn nước vô hại không?

- Không thể nhiếp phục được, bạch Thế Tôn.

- Này các Tỳ-kheo, như vậy có thích hợp không khi uống một thứ gì đó mà nó làm cho ta mất đi lý trí?

- Không thích hợp, bạch Thế Tôn.

Sau khi nói với các Tỳ-kheo lời khiển trách Bà-kiệt-đà như vậy xong, đức Thế Tôn chế định học giới:

- Từ này về sau, ai uống chất gây say, người ấy phạm tội cần phải thú nhận và cầu xin sám hối.

Nói vậy xong, Ngài đi về hương thất của mình.

Thế rồi các Tỳ-kheo tập trung lại trong Chánh pháp đường và bàn luận về sự nguy hại của việc uống rượu:

- Thưa các Pháp hữu, uống rượu thật quá nguy hại, ngay cả một người có trí và thần thông như Trưởng lão Bà-kiệt-đà, mỗi khi uống rượu vào thì không thấy được công đức của đức Thế Tôn.

Lúc ấy, đức Thế Tôn đi vào và hỏi các Tỳ-kheo đang bàn luận điều gì. Khi nghe họ thưa lại vấn đề, Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, không phải chỉ nay người xuất gia này mới uống rượu và đánh mất lý trí, mà đời trước, sự việc tương tự như vậy cũng đã từng xảy ra.

Nói vậy xong, đức Thế Tôn kể câu chuyện quá khứ dưới đây.

* * *

Thuở xưa, khi vua Phạm Dự trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sanh vào một gia đình Bà-la-môn ở phía Bắc nước Ca-thi (Kāsi). Khi đến tuổi trưởng thành, Bồ-tát xuất gia làm vị tiên nhân ẩn sĩ. Ngài chứng được Thần thông và Thiền định, an trú trong hỷ lạc thiền định, sống cùng với năm trăm đệ tử ở Tuyết sơn (Himalayas). Một lần, khi mùa mưa đến, các đệ tử thưa với Ngài:

- Thưa Tôn sư, chúng con xin đến những nơi có dân chúng sống để kiếm muối và giấm.

- Này các con, ta sẽ ở lại đây một mình. Các con hãy đi và giữ gìn sức khỏe, rồi khi nào hết mùa mưa thì quay trở lại.

- Thưa vâng. Họ nói.

Rồi họ cung kính đảnh lễ Tôn sư của mình và đi đến Ba-la-nại. Ở đấy, họ chọn nơi cư trú trong ngự uyển của vua. Vào sáng hôm sau, họ đến một ngôi làng bên ngoài kinh thành để khất thực và nhận được nhiều đồ ăn ở đấy. Rồi ngày kế tiếp, họ trở về lại kinh thành. Dân chúng ân cần cúng dường thực phẩm cho họ và sau đó thưa với nhà vua:

- Tâu hoàng thượng, có năm trăm ẩn sĩ từ Tuyết sơn xuống đang trú trong ngự uyển, họ là những nhà khổ hạnh, tu hành tinh tấn, vô dục và giới hạnh.

Nghe đức hạnh của họ như vậy, nhà vua liền đi đến ngự uyển, ân cần mời họ ở lại đó bốn tháng. Họ chấp nhận lời mời của vua. Từ hôm đó, họ được mời ăn ở trong hoàng cung và cư trú ở trong ngự uyển.

Nhưng rồi một hôm, một lễ hội rượu được tổ chức ở kinh thành. Nhà vua nghĩ rằng những người xuất gia thì khó kiếm được rượu nên đã cúng dường cho năm trăm ẩn sĩ rất nhiều những thứ rượu ngon nhất. Các ẩn sĩ uống rượu và sau đó trở về ngự uyển. Ở đấy, phấn khích vì say rượu, một số người nhảy múa, một số người ca hát. Rồi sau khi chán ngán múa hát, họ đá tung những cái thúng đựng gạo cùng những vật dụng khác và nằm lăn ra ngủ. Sau khi hết say rượu, họ tỉnh dậy, nhìn thấy cảnh tượng do vì say rượu gây ra, họ khóc than và nói:

- Chúng ta đã làm điều không nên làm. Chúng ta làm điều xấu xa này bởi chúng ta ở xa Tôn sư.

Rồi ngay lập tức, họ rời khỏi ngự uyển và trở lại Tuyết sơn. Đem bình bát và các vật dụng cất đi, họ đảnh lễ Tôn sư và ngồi xuống. Tôn sư hỏi:

- Này các con, các con có an lạc tại những nơi có dân chúng sống không? Các con có mệt mỏi khi đi khất thực không? Các con có sống hòa hợp với nhau không?

- Thưa Tôn sư, chúng con an lạc, nhưng chúng con đã uống thức uống không được phép uống, để rồi chúng con mất hết lý trí, dẫn đến làm trò múa hát, không còn biết mình là ai.

Chúng con đã uống rượu

Múa hát và khóc than

Uống rượu mất lý trí

May chưa thành khỉ hoang!

 Nghe thế, Bồ-tát nói:

- Sự việc xảy ra như vậy là do các con không được sống dưới sự săn sóc của Tôn sư.

Sau khi quở trách các ẩn sĩ xong, Bồ-tát khuyến giáo:

- Từ này về sau, các con không bao giờ được làm điều như vậy nữa.

Rồi Bồ-tát trọn đời tu tập thiền định không ngưng nghỉ, và về sau được sanh lên Phạm thiên giới.

* * *

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Thuở đó, đệ tử của ta là nhóm các ẩn sĩ, còn ta chính là Tôn sư của họ.

(Tiền thân Surāpāna, số 81, lược dịch từ bản tiếng Anh)

 

Lời bàn:

Nói đến tác hại của việc uống rượu, kinh Trường A-hàm viết: “Uống rượu có sáu việc không tốt: một là đánh mất tài sản, hai là sinh bệnh, ba là gây gỗ đánh nhau, bốn là tiếng xấu đồn đãi, năm là dễ sinh nóng giận, sáu là trí tuệ ngày càng giảm.”

Đoạn kinh trích dẫn trên đây đã đề cập đầy đủ những nguy hại do việc uống rượu đem lại. Trong cuộc sống, có không ít những trường hợp, chỉ vì say rượu mà anh em, bạn bè đã ẩu đả đâm chém lẫn nhau; chỉ vì say rượu mà gây ra những tai nạn đáng tiếc; chỉ vì say rượu mà gia đình đỗ vỡ, thanh danh tan nát... Chúng ta thấy, một người dầu có tư cách đạo đức đến đâu, mỗi khi đã quá chén thì không thể làm chủ được bản thân, mỗi khi đã say rượu thì có thể làm đủ mọi điều sai quấy.

Không riêng gì hạng người phàm phu như chúng ta, ngay cả những người đã đắc được thần thông, có đủ giới đức như những nhân vật ở câu chuyện trên đây, mỗi khi đã uống rượu vào thì cũng không còn làm chủ và kiểm soát được những hành vi của bản thân.

Bởi vậy, dù Phật tử hay không phải Phật tử, chúng ta cần phải lấy câu chuyện trên đây làm bài học để đừng bao giờ dấn thân vào một việc làm mà ta biết chắc rằng nó đem đến nguy hại nhiều hơn là lợi ích.


 

Giấc mộng vàng son

Lam Khê

Kinh thành Kosambi đang trải qua những ngày chấn động kinh hoàng. Hoàng hậu của nhà vua vừa bị ám hại, còn bà thứ phi xinh đẹp sắp lên giàn hỏa. Dân chúng sống trong nỗi khoắc khoải lo âu. Họ sợ cả tiếng trống sang canh giữa đêm khuya im vắng, tưởng chừng như đó là hồi chuông báo tử đang giáng xuống đất nước lâu nay vốn rất yên bình hoà nhã.

Một bóng người lầm lũi bước đi trong đêm. Kinh thành hoa lệ cứ lùi dần phía sau. Người ấy cố đi nhanh như thể trốn chạy, nhưng thỉnh thoảng ngoảnh đầu nhìn lại ra vẻ hối tiếc. Làn sương lạnh thấm đẫm đôi vai gầy, hai gót chân trần nhói đau lên từng chặp, người thiếu phụ khẻ rên rỉ, rồi quỳ gục xuống bên đường.

 Có bàn tay ai đó lay nhẹ… một giọng nói mang theo hơi gió thoảng về lạnh buốt:

- Tiểu Liên! Mau đứng dậy rời khỏi đây ngay, trời sắp sáng rồi.

Nàng giật thót mình ngẩng lên. Bóng người chập chờn mờ ảo trong ánh sao đêm, nhưng giọng nói nghe thật quen thuộc. Cái tên Tiểu Liên chỉ người trong hoàng cung mới biết. Sợ hãi, nàng cất tiếng run run:

- Hoàng Hậu, người còn sống à. Hay hồn ma bóng quế của người dõi theo tôi đến đây để báo oán?

- Đừng sợ Tiểu Liên, chẳng phải ta đã xin Hoàng thượng tha chết cho em đó sao. Ta là người hiểu đạo, biết rõ nhân quả cùng nghiệp lực trả vay, nên đã đón nhận cái chết một cách an lành, tuyệt không có lòng nuối tiếc, oán hận. Vì nghĩ còn chút duyên nợ nên không nỡ nhìn em sa vào con đường lầm lạc khổ đau. Em nên đi theo hướng này mới mong gặp được Phật và cầu xin sám hối. Oan trái bao đời từ nay rũ bỏ, giấc mộng vàng son có đó rồi lại không, sao bằng hướng tới một con đường hoàn thiện an vui vĩnh cửu.

Không gian lặng lẽ chừng như nghe rõ từng chiếc lá cây rụng từ cánh rừng xa xa. Chỉ mới hôm qua thôi, ngọn lửa bùng phát lên nơi phía hậu cung. Ngọn lửa nung nấu vì lòng ganh ghét và ý muốn chiếm hữu ngôi vị chánh cung cao tột, Tiểu Liên đã không ngần ngại mưu tính việc sát hại Hoàng hậu, người luôn được nhà vua và quần thần kính phục vì tính cách nhân từ đoan chánh. Ngọn lửa được dập tắt nhưng Hoàng hậu chỉ còn chút hơi thở thoi thóp. Kẻ chủ mưu bị bắt liền sau đó. Nhà vua nổi giận truyền đem lên giàn hỏa, nhưng Hoàng hậu cố lấy hết sức tàn can ngăn:

- Hoàng thượng… xin hãy tha cho Thứ phi, xin đừng gây thêm cảnh tang thương nơi chốn hậu cung nữa. Đây là nghiệp chướng nhiều đời mà thần thiếp phải trả. Thiếp không oán hận gì, xin Bệ hạ gia ơn lần cuối…

Trước phút lâm chung, gương mặt Hoàng hậu không hề lộ vẻ đau đớn mà phảng phất ánh lên một niềm tin, một sự mãn nguyện như sắp đi đến một nơi nào đó thật an nhiên hạnh phúc. Bà chắp tay mỉm cười ra đi thanh thản. Mọi người nghe có tiếng niệm Phật, tiếng nhạc du dương lắng dịu từ thinh không. Theo di nguyện của Người, nàng được nhà vua phóng thích và buộc rời khỏi hoàng cung ngay. Đêm đó kinh thành tổ chức lễ tang Hoàng hậu trong nỗi tiếc thương và trân trọng thần phục. Đêm đó nàng chạy khỏi cung cấm mà như chạy trốn cả chính mình.

Những tia nắng đầu tiên trong ngày chiếu xuống con đường đầy bụi mù cát gió. Tiếng chim hót, tiếng người nói chuyện râm ran qua lại làm cho Tiểu Liên chợt bừng tỉnh. Nàng chua xót khi thấy mình đang ngồi trà trộn cùng đám dân hạ tiện. Những con người lam lũ nghèo khổ mà sao ánh mắt họ vẫn ngời sáng thế kia. Họ an phận, điều đó chắc hẳn rồi. Mọi người quỳ xuống bên đường và hình như đang chờ đợi điều gì đó. Trên tay họ cầm vài gói thức ăn… một gói xôi, một chiếc bánh, một nắm cơm vắt, dăm trái cam quýt. Những gương mặt thành kính trang nghiêm, thoáng trên môi ẩn kín một nụ cười bình an tin tưởng. Tiểu Liên ngồi bệt xuống đất, nàng chẳng có điều gì để chờ đợi ở đây cả. Đói lả, nhưng nàng không muốn làm một kẻ ăn mày. Ngày còn dài mà đôi chân thì đã mỏi lắm rồi. Con chim ở chốn lồng son bất chợt được thả ra, chưa thể định vị được ngay hướng bay giữa cảnh trời đất bao la thăm thẳm này.

Mọi người bỗng hướng cặp mắt nhìn về cuối con đường, nơi có khu vườn cây xanh lẩn khuất trong đám sương mù chưa tan hết. Một đoàn người đang khoan thai bước tới. Tiểu Liên chợt nhận ra đó là đoàn Sa-môn đệ tử đức Cù Đàm vào làng khất thực. Hình ảnh này nàng từng thấy khi còn trong cung. Mấy mùa hạ liền Phật về trú mưa ở kinh thành này. Nhà vua chưa bao giờ thỉnh Phật vào cung cúng dường, bởi lẽ vua là người còn ham trần thế, nên không thích nghe những bài giảng đạo mang tính triết lý và thoát tục của Phật. Nhưng Hoàng hậu hiền thục thì rất mến đạo. Bà thường tự tay làm thức ăn rồi sai người mang đến tinh xá dâng cúng cho Phật và chúng Tăng. Thứ phi thường thấy bà đi dạo trong vườn mỗi buổi sáng, và quỳ xuống khi Phật cùng Tăng chúng đi khất thực ngang qua với dáng vẻ hết sức thành tâm ngưỡng mộ.

Muốn lấy lòng sủng ái của vua, Thứ phi bèn tâu với Hoàng thượng là Chánh phi mỗi ngày cứ đứng ngắm Phật đi khất thực một cách rất say sưa ngây dại. Vua cho xây kín hết mọi cánh cửa sổ trong khu vườn. Hoàng hậu không còn dịp đảnh lễ đức Thế Tôn nữa, nhưng Tiểu Liên cũng chẳng đạt được gì hơn. Từ ấy lòng ganh tức đố kỵ của nàng ngày một sâu sắc. Rắp tâm tìm mọi cách để hãm hại, nàng mua chuộc những người hầu cận của Hoàng hậu, nhân lúc đêm khuya nổi lửa đốt cung thất của bà. Hoàng hậu chết đi. Ân oán bao đời… người đã trả xong. Tiểu Liên lại vừa mới vay thêm món nợ ân tình. Trong cuộc vay trả trả vay này, người mất vẫn như còn đó, mà người còn thì lại đánh mất tất cả.

Đoàn Sa-môn hành hóa đi vào làng và thọ nhận vật thực của những người đang quỳ lạy bên đường. Tiểu Liên vẫn ngồi yên, khoảnh khắc thời gian cứ trôi qua, rồi nàng nhìn thấy Phật đang đi tới. Bước chân của Ngài sao tự tại, vẻ mặt của Ngài sao thanh cao thánh thiện quá. Tiểu Liên chợt nghe lòng dâng lên niềm xúc cảm của người vừa tỉnh giấc mơ hoa, một người đã trót gây ra nhiều tội nghiệp, đã ôm ấp biết bao điều xấu xa đen tối. Ngay lúc này đây, nàng muốn lạy xuống chân Phật, muốn nói những lời sám hối mà vẫn không thể. Tiểu Liên ngồi chồm dậy trong tư thế quỳ. Nàng nghe mặt đất dưới chân mình đang chuyển động. Màu vàng y của đức Tôn Sư luôn tỏa sáng, ánh bình minh từ phía chân trời cũng toả sáng. Mọi người quanh nàng thì mãi lo tận hưởng niềm vui đạo lý bất diệt, chỉ riêng nàng là kẻ lạc loài… một con người mang đầy mặc cảm tội lỗi…

Có vị Sư nữ đang đi trên đường và hướng về phía nàng. Dung nghi đỉnh đạc, phong thái uy nghiêm thanh thoát làm Tiểu Liên ngắm nhìn không chớp mắt. Vị Ni sư đến bên đưa cho nàng một gói cơm và bảo:

 - Tiểu Liên, cô hãy dùng lấy chút thức ăn này để đỡ dạ.

Ngạc nhiên, nàng không dám đón nhận, mà chỉ khẻ khàng hỏi:

- Bạch Sư… Con không dám. Con chẳng có gì để cúng dường Người cả. Nhưng sao Người biết tên con. Người là ai…?

Vị Sư nữ đưa cánh tay xoa nhẹ lên đầu nàng, Tiểu Liên nghe một luồng hơi ấm tuôn chảy vào tâm não, lòng nhẹ như bước vào một thế giới mới lạ. Một thế giới thật sự bình yên, không còn tranh chấp theo vòng danh lợi phù hư. Thoáng chốc, giòng nước mắt tuôn dài trên gương mặt hốc hác bơ phờ. Nàng không hiểu mình khóc vì mừng vui hay buồn tủi nông nổi. Có một sự sống khác thường đang đến mà nàng chưa bao giờ nghĩ tới, nó như giọt nước cam lồ ngấm dần vào lòng đất làm lắng dịu hết mọi thứ vẩn đục trầm mê.

Vị Sư nữ vẫn nhỏ nhẹ:

- Con cứ khóc cho dù những giọt nước mắt kia chưa thể xóa sạch bao tội lỗi của kiếp người. Nhưng đó là dấu hiệu của sự hối, của lòng mong muốn được trở về sống trong ánh từ bi pháp lạc. Còn bây giờ con ăn tạm nắm cơm này cho cơ thể tươi tỉnh lại khi vừa trải qua một đêm dài thao thức. Sau đó sẽ là một ngày dài để cho con suy gẫm những sự việc đã qua và những gì sắp đến. Bến giác bờ mê chính là lúc biết ngoảnh đầu nhìn lại. Ngày hôm qua và hôm nay đã là một kiếp đời khác. Quá khứ vinh hoa của một thời cũng sớm trở thành giòng nước chảy mây trôi. Cởi bỏ hết thì con mới tìm ra được giá trị thiết thực cho đời sống hiện tại của mình. Nhận chân con đường thoát khổ, thì con mới tìm ra chân lý giải thoát. Con hỏi ta là ai ư? Ngày xưa, ta cũng từng sống trong cảnh lầu son nhung gấm, rồi cũng bao lần gặp nỗi tân toan khổ lụy. Sự đời nếm trải nhiêu khê, ta đã nuôi ý định trả thù đời bằng thứ vũ khí mà người phụ nữ vốn có. Nhưng ta đã sớm gặp đấng Từ Phụ. Ta tinh tấn tu niệm trong đạo và chứng quả vô sinh bất diệt ngay nơi cõi đời sanh diệt này. Thôi bây giờ ta phải vào thành khất thực đây. Đến trưa, đức Thế Tôn trở về tinh xá dùng ngọ rồi thuyết pháp. Con nên đến nghe Ngài giảng, ta sẽ chờ con nơi đó. Biết đâu chẳng gặp được duyên lành tỏ ngộ.

Quay đầu nhìn lại là bờ. Đơn giản như thế mà đôi khi con người ta tìm cầu suy nghiệm cả đời vẫn không thể nắm bắt được. Tiểu Liên ngỡ như mình nhận ra chơn lý ấy từ lâu lắm. Con đường trở về không xa, chỉ vì lâu nay nàng mãi sống trong cõi mộng, yêu thương buồn giận, tìm cầu danh vọng, gặt hái khổ đau cũng trong mộng. Mộng đời đã tan, đường đạo thì hãy còn xa với kẻ lạc lầm. Cơ duyên đến… và giờ đây khi trong tay có được nắm cơm pháp vị thì cơn đói khát mệt mỏi không còn nữa. Nàng đứng dậy đi nhanh về khu tinh xá, nơi có dấu chân bậc Đại giác, có cả hình bóng vị Sư nữ khả kính và Hoàng hậu quá cố. Tất cả cứ hiện dần ra trên lối mòn tâm thức, để đón nhận bao cánh chim đời lạc lối quê xưa.

 

Thiền Bây giờ và ở đây

Tâm Minh

Kính thưa quí vị và các bạn,

Xin kính chào tái ngộ quí vị và các bạn, xin mời quí vị và các bạn cùng tham dự cuộc hội thoại của 3 anh em huynh trưởng trẻ A, B, C tản mạn về “Thiền bây giờ và ở đây” (The Here & Now Meditation).

A: Hôm nay theo như đã hứa, anh sẽ nói chuyện với các em về phương pháp Thiền bây giờ và ở đây; nhưng trước hết, anh muốn các em nói cho anh biết tại sao người ta thiền? (meditate)

C: Để tìm sự an ổn nội tâm (inner peace) để chấm dứt đau khổ, phiền não, để nâng cao tâm hồn và khí chất (to improve one’s heart and behavior), để mở mang trí tuệ (to develop wisdom)…

B: Để chứng nghiệm chân lý (to realize the Truth), để chữa trị (to heal)? để thăng tiến về phương diện tâm linh (to evolve spiritually); để đạt đến giác ngộ (to attain enlightenment)?

A: Đúng vậy, các em đã nói rất đúng về những mục đích từ nhỏ đến lớn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của việc tu thiền. Nguyên nhân của phiền não bất an là do cái tâm (mind) lăng xăng của ta; nó không ngừng chạy nhảy tứ tung, liên tục lải nhải, không phút nào ngừng nghỉ, ngay trong giấc ngủ của chúng ta.

B: Dạ, em hiểu rồi, cái tâm mình nó luôn bận rộn với những hồi tưởng về quá khứ.

C: Và những lo lắng, sợ hãi, toan tính về tương lai, phải không anh?

A: Phải đó, và nó còn dày vò chúng ta với những quan điểm và cái nhìn “méo mó” của con người vì quen phê phán, phân tích, lý luận, để dựng lên những yêu-ghét, lấy-bỏ. Từ đó mới phát sinh ganh tị, hận thù, bạo lực, v.v…

B: Như vậy làm sao Thiền có thể đương đầu với cái tâm như vậy hở anh?

A: Trước hết, mục đích chính của Thiền là làm cho cái Tâm lắng dịu xuống (“lying down” that “mind”); trong Thiền phương Ðông, người ta thường nói là “giữ cho Tâm ở cùng với Thân”.

C: Nghĩa là sao hở anh?

A: Nghĩa là tùy thuộc vào mục đích khác nhau, dùng những phương pháp tập cho tâm dừng lại (stopping), hoặc giữ tâm hoàn toàn tĩnh lặng (complete stillness), hay vắng bặt tư tưởng (absence of thoughts), hay tỉnh giác về chuyển động của tư tưởng, hay ngăn chặn sự khởi lên của tư tưởng (prevention of arising thoughts)…

B: Còn “Thiền bây giờ và ở đây” thì làm sao?

A: “Thiền bây giờ và ở đây” không chỉ có nghĩa ngồi khoanh chân lại hằng giờ; cũng không phải tham thiền hay thiền định như chư Tăng Ni… Tất cả chúng ta đều có thể thực hành một cách dễ dàng.

C: Chúng ta ngồi Thiền sau giờ lễ Phật hay trước giờ lễ Phật có phải là loại Thiền này không?

A: Đúng vậy! Chúng ta ngồi thiền với tâm bản nhiên, không mong cầu, không sợ hãi điều gì, cũng không thấy mình chứng đắc một cái gì.

B: Anh nhắc lại kỹ thuật cho chúng em đi (“here and now” meditation technique) – kỹ thuật của mức thứ nhất đó (level one technique).

A: Có 3 bước :

Bước 1, hít vào thật chậm qua mũi, thở ra bằng miệng, cảm thấy như có một làn sóng quét sạch từ đầu đến chân làm toàn thân thư giãn (relax) hoàn toàn. Mắt nhắm hay mở cũng được nhưng nhớ đừng chú mục vào đâu cả và cũng đừng tập trung tư tưởng vào bất cứ gì.

Bước 2, biết rằng “thân đang ở đây”, tâm đang đi đến vùng trái tim; để cho thân tâm thư giãn, nhất là thư giãn tất cả những cơ bắp (muscles) quanh mắt và trán dù mắt nhắm hay mở. Mơ hồ biết rằng tâm đang ngự tại vùng trái tim (vaguely know that the mind is sitting at the heart area).

Giữ nguyên trạng thái không suy nghĩ, không tập trung đó tối thiểu là 1 phút và tối đa là 30 phút. Có thể nhắm mắt lại nếu thiền lâu hơn một phút.

B: Thường anh cho chúng em ngồi 15 phút nhưng chỉ vài phút là tâm “chạy nhảy” rồi anh à!

A: Anh biết chứ! Nếu tâm bắt đầu lang thang, chúng ta lập tức im lặng nhắc nhở nó “thân đang ở đây” thì nó sẽ trở về chỗ cũ, còn chúng ta cũng thả lỏng thân tâm như lúc mới bắt đầu.

C: Còn bước thứ 3 thì sao anh?

A: B thử nhắc lại bước thứ 3 đi, chắc em còn nhớ?

B: Dạ, bước thứ 3 là hít vào một hơi thật sâu và thở ra chậm rãi, thư giãn thân thể để kết thúc thời thiền tập.

A: Chúng ta có thể thiền bất cứ lúc nào chúng ta muốn: khi đi dạo, khi ngồi trên xe bus, khi sắp hàng đợi đến phiên mình, v.v… thời gian dài ngắn tùy hoàn cảnh, có thể chỉ là vài phút.

C: Mục đích để thư giãn, tinh thần bớt căng thẳng, tránh được stress phải không anh?

A: Phải rồi, nhưng mục đích chính của chúng ta là để luôn sống trong hiện tại, trong sự kiểm soát của tâm và giữ tâm tĩnh lặng và cân bằng (quân bình - equanimity) giữa cuộc đời huyên náo này.

B: Vậy hằng ngày, ta phải thường tự nhắc nhở “thân đang ở đây” thở thật sâu và giữ sự yên tĩnh trong 30 giây, sau đó trở lại công việc bình thường và giữ tâm ở vùng trái tim càng lâu càng tốt, phải không anh?

A: Đúng vậy, hãy thực tập thật tốt, thật nhuần nhuyễn bước 1 để có thể kinh nghiệm tình trạng tĩnh lặng trong một thời gian kha khá rồi mới nên qua mức thứ 2. Nhớ rằng “dục tốc bất đạt” (rushing may hinder successes).

C: Anh nói lại cho chúng em, đặc tính của Thiền “bây giờ và ở đây” là gì hở anh?

A: Đặc tính của thiền bây-giờ-và-ở-đây là không bị kiềm chế: Hành giả giữ hoàn toàn trong trạng thái không làm gì cả (inaction) không tập trung (unfocused), không chú mục (unwatchful), không kiềm chế (unrestraining) và không chú tâm (un-contemplative).

B: Lợi ích của Thiền “bây giờ và ở đây” là gì?

A: Trước hết là đơn giản và dễ thực hiện. Thứ nữa là sau khi kinh nghiệm được sự tĩnh lặng của tâm, hành giả có thể tiến xa hơn dù thực tập theo phương pháp khác cũng được.

Hơn nữa, chúng ta không thể thực hiện “thế giới hòa bình chúng sanh an lạc” nếu chúng ta không có sự bình an trong tâm hồn.

C: Phải rồi, em nhớ hôm bữa anh nói còn phải thay đổi cách nhìn của mình về những sự việc chung quanh mình sao cho “tích cực” nữa phải không?

A: Đúng vậy! Ðau khổ phiền não thật ra đến từ trong lòng ta, không phải do bên ngoài! B này, em hãy nói xem chúng ta phải thay đổi cách nhìn như thế nào trong những trường hợp nào?

B: Dạ, trước hết là phải thay đổi thói “lải nhải của tâm”. Ví dụ mẹ em rầy oan cho em một lần; nhưng em cứ nhớ hoài và lâu dần thì tưởng ngày nào mẹ em cũng la em như vậy! Ta nói tâm ta hay “lải nhải” là vậy; những lúc đó ta phải tỉnh giác kéo tâm lại cho nó biết việc ấy không có, đừng có lải nhải nữa.

A: Còn gì nữa? Bây giờ em đã nhớ chưa C? Nói tiếp đi!

C: Dạ nhớ rồi! Chúng ta thường hay dùng chữ “phải” mà không biết dùng chữ “nên”. Vì vậy, chúng ta bực tức khi mọi người không vâng lời ta, vì họ đâu có suy nghĩ giống ta! Tại sao ta “bắt buộc” họ phải đồng ý? Đó chính là nguyên nhân đem lại phiền não cho ta.

A: Còn nữa, chúng ta thường “muốn” rất nhiều mà không được toại nguyện, thế là đau khổ phiền não! Làm sao để đối trị? Chúng ta hãy cân nhắc “ta MUỐN cái này hay là CẦN cái này?” Nếu câu trả lời là “cần” hãy tiến tới, nếu câu rả lời là “muốn” thì hãy quên nó đi!

B: Hay quá! Còn nữa, hãy sống trong hiện tại! Như mẹ em, thường đau khổ vì những việc đã xảy ra trong quá khứ! Còn ba em thì trái lại, không ngừng lo lắng vì những chuyện chưa xảy ra. Như vậy ba mẹ em quên mất là họ đang sống trong hiện tại! Và sự lo lắng đau khổ của họ thật là… một bên là vô duyên, một bên là vô cớ và không thay đổi được cái gì cả, ngoại trừ tự làm khổ mình !☺!☺!

A: Các em rất giỏi, bây giờ anh đưa ra những tiêu đề sau đây, các em xem thử làm như thế nào, nghĩ như thế nào, thay đổi cách nhìn như thế nào mới là tích cực, góp phần vào việc ổn định nội tâm nha:

Tin vào nghiệp

Sự tương quan giữa người và người

Rút ra được bài học gì?

Về đúng-sai, thiện-ác v.v…

Hạnh phúc và đau khổ

Thay đổi người khác

Thay đổi hoàn cảnh

Sự tha thứ

Sự tin tưởng

v.v…

Các em có thêm vấn đề gì nữa, mình sẽ cùng nhau thảo luận trong lần họp mặt tới đây nha!

B&C: Dạ! Dạ! Tạm biệt anh!

 

NHẬT BẢN:  

Nhiều tác phẩm nghệ thuật Phật giáo đang được triển lãm tại Hội chợ thế giới Aichi

Tại Hội chợ thế giới Aichi 2005 ở Nhật Bản, nhiều tổ chức đang triển lãm những tác phẩm mang tính nghệ thuật, lịch sử, văn hóa Phật giáo. Đặc biệt, Tổ chức Nepal Pavilion đang triển lãm tác phẩm một ngôi chùa phỏng theo các tự viện Nepal thế kỷ 14, 15 và chiêu mãi với giá 200 triệu Yen.

Ngôi chùa có mái vàng cao khoảng 8.5 mét, rộng 16 mét vuông. Dùng loại gỗ được lấy từ vùng Hy-mã-lạp-sơn, khoảng 200 tay thợ thủ công đã trải qua thời gian hơn một năm để xây dựng ngôi chùa bằng tay, hoàn tất với hoa văn phù điêu chạm trổ và dát vàng trên các đẵn gỗ. Không có một cây đinh nào được dùng vào việc được lắp ráp ngôi chùa, và 8 tượng Phật chạm trổ trên cột kèo có khuôn mặt khác nhau. Ông Shakya nói rằng đã tốn ít nhất là 100 triệu Yen cho việc xây dựng ngôi chùa.

Tổ chức Nepal Pavilion không có kế hoạch di chuyển ngôi chùa này về Nepal sau khi cuộc triển lãm kết thúc. Roshan Shakya, trưởng ban tổ chức, nói: “Chúng tôi muốn người Nhật giữ lại một phần văn hóa chúng tôi”. Ông nói thêm: “Chúng tôi muốn tiết kiệm phí tổn tháo gỡ và phí tổn di chuyển ngôi chùa trở lại Nepal”.

 Theo ông Shakya, phí tổn cho việc tháo gỡ và di chuyển ngôi Phật tự trở lại Nepal là khoảng 8 triệu đồng Yen. Và vì vứt bỏ những phần vụn vặt khi tháo gỡ ngôi chùa là việc lãng phí nên những vị có trách nhiệm đồng ý phát mãi. Ông Shakya nói: “Nghệ thuật thủ công của ngôi chùa thuộc vào hàng thượng đẳng, chúng tôi ấn định giá trị của nó trên phí tổn xây dựng, di chuyển và một vài yếu tố khác, nhưng chúng tôi có thể hạ thấp trị giá của nó xuống khoảng 150 triệu đồng Yen”.
Một vài ngôi tự viện ngoại quốc tham gia hội chợ đã trưng bày nhiều vật kỷ niệm đắt giá để bán như: tấm thảm Ba Tư 10 triệu Yen hoặc nhẫn bích ngọc 3 triệu Yen, nhưng một viên chức của Hiệp hội Chợ phiên Nhật Bản 2005 nói: “Ngôi Phật tự này là món hàng cao giá nhất tại đây”.

Hội chợ thế giới Aichi dịch Việt là Ái Tri 愛知 ( huyện Ái Tri, Nhật Bản ) đang diễn ra tại Nagoya Eastern Hills (Nagakute Town, Toyota City và Seto City) từ ngày 25 tháng 03 đến 25 tháng 09 năm 2005, với sự tham dự của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội chợ triển lãm vật thể trong nhiều lãnh vực khác nhau từ lịch sử đến văn hóa, tôn giáo, kỹ thuật qua kiến trúc, phong cảnh, v.v… trong đó có một khu vực trưng bày các ngôi tự viện kiến trúc cổ từ nhiều quốc gia trên thế giới, được xây dựng với kích thước bằng kích thước tự viện thật, mà Nepal là một trong những quốc gia đã góp mặt với ngôi tự viện trị giá 200 triệu Yen nói trên.

Ái Tri là sinh quán của ba nhà lãnh đạo quân sự Tokugawa (1542-1616) Ðức Xuyên Mạc Phủ (徳川幕府), Oda Nobunaga (1534-1582) Chức Ðiền Tín Trường (織田 信長), Toyotomi Hideyoshi (1536-1598) Phong Thần Tú Cát (豐臣秀吉), đã hình thành lịch sử tiền cận đại Nhật Bản. Nối dài văn hóa từ Đông sang Tây của Nhật Bản, khu vực Ái Tri đã phồn thịnh lên như là một trong những thị trấn dẫn đầu về lâu đài trong suốt thời kỳ Edo (江戶時代) và ngày nay vẫn hãnh diện với nhiều di tích lịch sử tại đó. Du khách thăm viếng Hội chợ sẽ có cơ hội thưởng ngoạn nhiều kiến trúc cổ của các ngôi tự viện lâu đời Nhật Bản cũng như của những quốc gia tham dự triển lãm.

Nguyên Anh

 

LIÊN HIỆP QUỐC :  

Cơ quan văn hóa của Liên Hiệp Quốc sẽ viếng thăm và khảo sát tháp Đại Bồ-đề 

Các chuyên gia văn hóa của Unesco sẽ viếng thăm và khảo sát tháp Đại Bồ-đề vào tuần lễ cuối tháng 4 năm 2005, sau khi nhận được báo cáo của một nhóm chuyên gia viếng thăm tuần rồi đã phàn nàn rằng, các kiến trúc bất hợp pháp mọc như nấm trong và chung quanh ngôi chùa.

Nhóm chuyên gia này sẽ đến nghiên cứu tình trạng vật chất của ngôi chùa, nơi được xem là cái nôi khai sinh Phật giáo, để xem những điều kiện duy trì, bảo tồn có bị vi phạm nguyên tắc hay không?

Cơ quan Unesco đã báo động hơn hai năm trước rằng, những ngôi chùa chung quanh sẽ làm hư hoại di sản của ngôi Đại bảo tháp nếu các tiêu chuẩn, nguyên tắc duy trì tiếp tục bị xem thường. Cơ quan Unesco năm vừa qua đã yêu cầu chính phủ Ấn Độ phải chấm dứt những vi phạm.

Chính quyền trung ương và địa phương của Bihar đã bảo đảm với Unesco rằng, các nguyên tắc - kể cả sự tăng cường nghiêm ngặt cấm đoán các công trình xây dựng trong vòng một km bán kính chung quanh ngôi chùa - được tuân thủ chặt chẽ. Nhưng các công trình xây dựng mới vẫn xảy ra trong khu vực bị cấm đoán. Vấn đề này được báo chí địa phường tường trình mỗi ngày.

Một nguyên tắc khác cũng được báo cáo là vi phạm luật của Unesco, là giới hạn chiều cao 11 mét của những công trình xây cất gần ngôi bảo tháp. Một phong trào xây dựng bùng lên tiếp theo, mặc dầu chính quyền đã đồng ý không cho phép bất cứ công trình nào trong khu vực kể trên.

Tháp Đại Bồ-đề (còn gọi là tháp Đại Giác hay Đại Tháp Bồ-đề) tọa lạc gần địa điểm nơi đức Phật thành đạo tại tiểu bang Bihar, cách đây hơn 2500 năm. Ngôi bảo tháp này được xây dựng trên 1500 năm và được Unesco công nhận di sản văn hóa thế giới vào tháng 6 năm 2002, là kiến trúc lịch sử đặc biệt thứ 23 tại Ấn Độ.

Thạch Thảo dịch

(Theo Indo-Asian News Service)

 

THÁI LAN : 

Thủ tướng Thaksin Shinawatra mời Phật giáo đồ  khắp nơi trên thế giới về tham dự Lễ hội Visakabucha  

Ngày 16 tháng 4, năm 2005, Thủ tướng Thaksin Shinawatra chính thức gởi lời mời đến Phật tử khắp nơi trên thế giới về tham dự Lễ hội Visakabucha tại Thái Lan vào tháng tới.

Lễ hội Visakabucha là một trong những Lễ hội rất quan trọng đối với người con Phật. Lễ hội này còn gọi là Lễ hội Tam hợp được diễn ra vào ngày 22 tháng 5, để tưởng niệm ngày Phật đản sanh, thành đạo, và Niết-bàn. Theo dự định của chính phủ Thái, Đại lễ năm nay được tổ chức trọng thể và trang nghiêm nhất từ trước đến nay, sẽ là sự kiện quan trọng của quốc gia.

Ông Thaksin nói rằng, trong một năm ít nhất một lần, người con Phật nên cùng lắng nghe thuyết pháp, cùng tham gia vào Phật sự và cùng an tĩnh tâm trí. Đại lễ năm nay, ngoài mục đích đáp ứng nhu cầu tâm linh cho dân chúng Thái và Phật tử các nước trong khu vực; ông còn hy vọng hằng năm Thái Lan sẽ học hỏi được những điều tốt đẹp của Phật tử khắp nơi trên thế giới.

Từ Quang

Theo MCOT NEWLS

 

---o0o---

Trình bày: N.Tường

Cập nhật: 1-6-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au