Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.13

Mục Lục

 

   - Phật pháp cơ bản

T đế (tt) TT. Thích Đức Thng

 

  - Thánh Hạnh 

Thn thông và nghip lc ca Tôn gi Mc-kin-liên – Thích Trí Lc

 

 - Tưởng niệm

 

Mt li ca, mt hun th - Như Tâm 

Ôn Trí th, mt hóa thân k diu - TT. Thích Hnh Thin  

Hành trình sơ chuyn Pháp luân ca đức Pht - Thanh Tâm

 

 - Giảng luận

 

Thin Ba-la-mt -Tâm Như Trí Th 

Chỉ̀n Một Đ̉m Loé Vô Minh Luyện Thành Con Người Đại Trượng Phu - Thiền Lâm Cụ́p 40 

Trng thái con người sau khi chết - Nguyên Liên 

Hc theo hnh ca bin c - Chánh Nim

 

 - Lịch sử 

Pht giáo 1000 năm đầu… - Tâm Phương

 

 - Truyện tiền thân 

Tiếng hú ca sói gia đàn sư t - Quang Sơn

 

 - Truyện ngắn 

Sâu kiến tranh hùng  

Li v - Qunh Sa

 

  - Văn học 

Ý thc bình minh – Hnh Phương  

Chân thường gia dòng biến dch - Mc Không T

 

 -  Phật pháp với tuổi trẻ:  

Bước đầu làm quen vi Thin - Tâm Minh

 

 - Tin tức

 

Thái Lan: Tăng sĩ và Pht t biu tình phn đối hãng bia The Elephant bán c phiếu ra th trường 

Rm tháng Giêng, ngày l k nim Đại hi Thánh Tăng ti tinh xá Trúc Lâm

 

 - Thơ 

Hunh Khi Nguyên Ninh Giang Thu Cúc Thông Nhã

 

 ---o0o--- 

Tứ Đế ^

TT. Thích Đức Thắng

(tiếp theo và hết)

Ngoài ra, lý Tứ đế còn phân ra làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có bốn hành tướng gọi là tam chuyển thập nhị hành tướng:

a) Lần chuyển ban đầu gọi là Thị chuyển: “Đây là sự thật về Khổ, đây là sự thật về sự tập khởi khổ, đây là sự thật về diệt khổ, đây là sự thật về con đường đưa đến sự diệt khổ.”

b) Lần chuyển thứ hai gọi là Khuyến chuyển: “Đây là sự thật về khổ chúng ta nên biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ chúng ta nên đoạn trừ, đây là sự thật về diệt khổ chúng ta nên chứng, đây là sự thật về con đường đưa đến diệt khổ chúng ta nên tu tập.”

c) Lần chuyển thứ ba gọi là Chứng chuyển: “Đây là sự thật về khổ Ta đã biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ Ta đã đoạn, đây là sự thật về diệt khổ Ta đã chứng, đây là sự thật về con đường đưa đến sự diệt khổ Ta đã tu tập.” Đó gọi là mười hai hành tướng.

Và như thế, cứ trong mỗi sự thật (đế) đều có ba lần chuyển thành mười hai hành tướng. Như vậy tất cả cộng lại là mười hai lần chuyển thành bốn mươi tám hành tướng. Ở đây, chúng ta dùng sự thật về khổ mà nói thì: “Đây là sự thật về khổ” chỉ cho “Thị tướng chuyển”, và “Nên biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho “Khuyến tướng chuyển”, còn “Đã biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho “Chứng tướng chuyển”. Đó là ba lần đức Đạo sư nói về ba lần chuyển về sự thật thứ nhất tức Khổ đế. Cũng vậy, trong ba đế còn lại như tập, diệt, đạo thì cũng lại chuyển mỗi đế cũng ba lần như vậy, cộng tất cả lại thành bốn mươi tám hành tướng. Trong ba lần chuyển này cứ theo thứ tự mà chúng ta phối hợp đối với kiến đạo, tu đạo và vô học đạo. Trong mỗi một lần chuyển như vậy có đầy đủ sự hiện diện bốn hành tướng của nhãn, trí, minh và giác. Như trong kinh Chuyển pháp luân của Luật tạng, Tứ phần quyển 32, đức Đạo sư đã dạy:

“Bốn Thánh đế. Thế nào gọi là Thánh đế? Là khổ Thánh đế, khổ tập Thánh đế, khổ tận Thánh đế, khổ xuất yếu Thánh đế.

Những gì gọi là khổ Thánh đế?

Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thù ghét tụ hội khổ, ái biệt ly khổ, muốn điều gì không được là khổ. Nói một cách ngắn gọn, năm thạnh ấm là khổ. Đó gọi là khổ Thánh đế. Lại nữa, khổ Thánh đế cần được biết thì Ta đã biết. Đây nên tu đạo tám chánh: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ tập Thánh đế?    

Ái lạc vốn được phát sinh từ trước do duyên nơi ái và tương ưng với dục. Đó là khổ tập Thánh đế. Lại nữa, diệt khổ tập Thánh đế cần diệt thì Ta đã diệt và tác chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ tận Thánh đế?

Ái kia đã vĩnh viễn đoạn tận, vô dục, tịch diệt, xả, xuất ly, giải thoát, vĩnh viễn diệt tận, tịnh chỉ, không còn hang ổ. Đó gọi là khổ tận Thánh đế. Lại nữa, khổ tận Thánh đế cần được chứng đắc Ta đã tác chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ xuất yếu Thánh đế?

Con đường của Hiền thánh có tám chánh này: chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định. Đó là khổ xuất yếu Thánh đế. Lại nữa, khổ xuất yếu Thánh đế này cần được tu tập thì Ta đã tu tập.

Khổ Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ, đắc chứng. Lại nữa, nên biết khổ Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã biết khổ Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Đó gọi là khổ Thánh đế.

Khổ tập Thánh đế đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Lại nữa, nên diệt khổ tập Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã diệt khổ tập Thánh đế nầy, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Đó gọi là khổ tập Thánh đế.

Khổ tận Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên tác chứng khổ tận Thánh đế nầy, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tác chứng, khổ tận Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ.

Khổ xuất yếu Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên tu khổ xuất yếu Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tu khổ xuất yếu Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ.

Đó là bốn Thánh đế. Nếu Ta không tu bốn Thánh đế nầy, với ba lần chuyển thành mười hai hành tướng, mà không biết như thật thì nay Ta không thành đạo Vô thượng chánh chơn. Song ta đối với bốn Thánh đế, với ba lần chuyển thành mười hai hành tướng, như thật đã biết, nên nay Ta thành đạo Vô thượng chánh chơn, không còn gì nghi ngờ.” 

Tóm lại, bốn sự thật mà đức Đạo sư đã từng kinh qua chứng đắc và đem nó ra để dạy lại cho chúng đệ tử, nên thực hành như chính Ngài nếu muốn thoát khỏi khổ đau. 

Sự thật thứ nhất là khổ đau, đó là kết quả bản chất của chính sự sống mà chúng sanh hữu tình đang gánh chịu, nỗi khổ đau này, những buồn vui của nó chính trong cuộc sống của mỗi hữu tình chúng sanh về tâm và vật, chúng luôn luôn mang bộ mặt bất toàn giả tạm và không làm vừa lòng mỗi chúng ta, do vô thường và huyễn hóa. Về sự thật này, thì chúng ta phải hiểu và biết nó như một sự kiện như thật, một cách chính xác và đầy đủ (parrinneyya). 

Sự thật thứ hai là Nguồn gốc tập khởi của khổ đau, tức chỉ cho nguyên nhân mọi thứ dục vọng, mọi khát khao của ái, và tương ưng với tất cả những đam mê xấu xa bất tịnh khác câu hữu với vô minh, đưa chúng ta đến kết quả đau khổ, trôi lăn trong sinh tử luân hồi ba cõi. Ở đây, chúng ta không những chỉ hiểu sự kiện này một cách như thật chính nó thôi, mà chúng ta còn phải nỗ lực từ bỏ, loại bỏ nó, bằng cách diệt trừ và nhổ tận gốc rễ (pahàtabba) để nó không còn là nguyên nhân trực tiếp đưa chúng ta đến hậu quả khổ đau, trong hiện tại và tương lai nữa. 

Sự thật thứ ba là sự Chấm dứt khổ đau, đạt Niết-bàn, chân lý tuyệt đối, hay là thực tại tối hậu, là kết quả sau khi chúng sanh hữu tình thực hiện con đường Trung đạo. Ở đây, việc thực hành của chúng ta là phải thực chứng nó (sacchikàtabba), bằng vào những nỗ lực cả thân và tâm trong việc thực hiện thanh tịnh hóa ba nghiệp. 

Sự thật thứ tư là Con đường đưa đến thực chứng Niết-bàn. Ở đây, chúng ta nói đến vấn đề con đường đưa đến thực chứng, tức là nói đến con đường thực hành qua Thánh đạo tám nghành, không chỉ hiểu biết về con đường, dù có thấu triệt bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không ích lợi gì. Trong trường hợp này, việc của chúng ta là phải đi theo con đường ấy và tuân giữ nó (bhàvetabba) về hai mặt thân và tâm, làm cho ba nghiệp thanh tịnh. Có như vậy, chúng ta mới đạt được mọi sự an lạc ngay trong cuộc sống này, mà không cần tìm đâu xa ngoài thế gian này.

 

Thần thông và nghiệp lực của Tôn giả Mục-kiền-liên

 Thích Trí Lộc

“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

Đó là một câu trong “Tứ hoằng thệ nguyện” của người con Phật. Đến với Phật Pháp là đến với kho tàng kinh điển mênh mông, được mệnh danh là “Tam tạng kinh điển”. Tam tạng kinh điển gồm có: Kinh tạng, luật tạng và luận tạng, trong ấy chứa đựng vô lượng pháp môn tu học để hành giả áp dụng tu tập vượt thoát khổ đau. Suốt một đời người bỏ công ra đọc (chưa cần hiểu nghĩa) cũng chưa chắc là đọc hết được, nhưng người con Phật với chí nguyện cao cả phải phát nguyện học tập không nản lòng “thệ nguyện học”.

Trong Tam tạng kinh điển, chúng ta bắt gặp rất nhiều thuật ngữ Phật học, thần thông và nghiệp lực là hai trong những thuật ngữ phổ thông nhất, hầu như người con Phật nào cũng hiểu và biết được. Cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên, ngoài thể hiện hiếu tâm cao cả, Ngài còn là một vị Thánh đệ tử có thần thông bậc nhất, bên cạnh ấy nghiệp lực của Ngài cũng được thể hiện rất rõ nét. Hai yếu tố thần thông và nghiệp lực diễn ra trong cuộc đời Ngài một cách rõ ràng và sâu sắc; đôi lúc như có phần mâu thuẫn nhau, điều này gây ra những thắc mắc không nhỏ cho những người sơ cơ mới tìm hiểu về Phật giáo. Trong bài này, người viết xin giới thiệu đôi nét về thần thông và nghiệp lực qua cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên.

A. Thần thông qua cuộc đời của Ngài

Trong những đấng giáo chủ sáng lập ra những tôn giáo lớn, hay những bậc đạo sư sáng lập nên những triết lý, học phái… chắc chắn không có một đấng giáo chủ hay đạo sư nào có được chúng đệ tử xuất gia cũng như tại gia nhiều như đức Phật. Chỉ cần nhìn vào hình ảnh đức Phật mỗi buổi bình minh cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo theo sau, từng bước khất thực trang nghiêm trên xứ Ấn, thì không một vị giáo chủ nào, đạo sư nào có được diễm phúc như vậy. Trong số hàng ngàn vị Tỳ-kheo, bậc A-la-hán, đệ tử đức Thế Tôn ấy thì tôn giả Mục-kiền-liên được đức Phật và Thánh chúng khẳng định là bậc có thần thông vĩ đại nhất, và thường được gọi là bậc có thần thông đệ nhất.

1. Nguyên nhân cầu thần thông

Theo từ điển Phật học, thần thông được giải thích như sau: Thần có nghĩa là không lường được, thông có nghĩa là không trở ngại. Không thể lường được lại có sức lực không gì trở ngại được thì gọi là thần thông. Với năng lực thần thông siêu tuyệt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên có thể dời non, lấp bể, biến hóa tự tại… tùy duyên giáo hóa, cứu độ chúng sanh.

Không phải vô tình hay ngẫu nhiên mà hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trở thành hai vị Đại đệ tử của đức Thế Tôn, mà nhờ vào nhân duyên từ vô lượng kiếp trong quá khứ hai Ngài đã từng quì dưới chân đức Phật Anomadassi thành tâm phát nguyện trở thành những Đại đệ tử của đức Phật trong kiếp sau cùng (đức Phật Thích-ca). Cũng như thế, không phải vô tình mà tôn giả Mục-kiền-liên trở thành bậc Thánh có thần thông đệ nhất. Nguyên nhân có được năng lực thần thông siêu việt ấy là nhờ trong tiền kiếp Ngài đã phát nguyện: Thuở ấy, Ngài là một ngư phủ làm nghề đánh cá; hằng ngày đánh bắt hàng trăm con cá để đem ra chợ bán. Cho đến một hôm, chàng ngư phủ chợt ý thức về những việc làm sát hại sinh vật của mình là tàn nhẫn, không lương thiện và chàng quyết định bỏ nghề đánh cá để lên thành thị chọn một nghề lương thiện để sinh sống. Cũng chính nhờ nhân duyên đổi nghề, tại thành thị ấy chàng đã gặp một vị Bích Chi Phật, và chàng đã thỉnh vị Bích Chi Phật về nhà cúng dường trai phạn. May mắn thay cho chàng, vị Bích Chi Phật này có năng lực thần thông siêu phàm, sau khi thọ trai xong, cảm động trước tấm lòng thành của chàng thanh niên trẻ, vị Bích Chi Phật đã hóa hiện những năng lực thần biến siêu phàm: trên thân nước chảy, dưới thân lửa cháy, bay lượn du hành tự tại trên không trung… Chứng kiến được diệu cảnh hy hữu ấy, chàng thanh niên đã đem tất cả lòng thành phát nguyện cầu chứng được thần thông siêu việt ở đời sau. Nhờ nhân duyên ấy, cộng với quyết tâm tu tập của Ngài, trải qua vô lượng kiếp và đến thời đức Phật Thích-ca, Ngài xuất gia nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ trong vòng bảy ngày đã chứng được thần thông bậc nhất không ai so sánh được. Cũng nhờ năng lực thần thông ấy đã giúp Ngài rất nhiều trong việc đem Phật pháp giáo hóa độ sanh, hàng phục ngoại đạo…

2. Thần thông với sự nghiệp hoằng pháp

Đức Thế Tôn không khuyến khích hàng đệ tử Ngài sử dụng thần thông để hoằng pháp, bởi vì thần thông nếu không được sử dụng một cách đúng đắn thì dễ sanh ra tự cao ngã mạn… rơi vào tà đạo. Hơn nữa các loài phi nhân hay ma ba tuần thường sử dụng thần thông để gạt người. Chính vì thế mà đức Thế Tôn không cho hàng đệ tử Ngài sử dụng thần thông để hoằng pháp lợi sanh. Trường hợp tôn giả Mục-kiền-liên có lẽ là một ngoại lệ. Đức Phật không cấm tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng thần thông để độ sanh vì đấy là hạnh nguyện của tôn giả đã gieo trồng trong vô lượng kiếp, hơn nữa tôn giả Mục-kiền-liên là một vị A-la-hán đã đoạn tận tham sân si, và có lòng đại bi, hiếu hạnh; do vậy trong hàng đệ tử đức Thế Tôn, chỉ có mình tôn giả Mục-kiền-liên được cho phép sử dụng thần thông tự tại để giáo hóa mọi người.

Đọc qua sự nghiệp giáo hóa của tôn giả Mục Kiền Liên, ta thấy có nhiều điều nổi bật đáng cho ta ca ngợi và kính ngưỡng: Dời núi độ phạm chí ngoại đạo, hàng phục ác quỉ, chúng ngạ quỉ thưa hỏi nhân duyên nghiệp báo, sắc đẹp không cự nổi thần thông…

a. Dời núi độ Phạm chí: Thuở đức Phật còn tại thế, có rất nhiều ngoại đạo phạm chí, họ cũng có những năng lực tu luyện chứng đắc thần thông, nhưng vì họ chỉ lo tu luyện cầu chứng đắc thần thông để tìm cầu lợi danh và sự cung kính của người đời. Tại biên giới phía nam Ấn Độ có nhiều ngoại đạo Phạm chí cũng tu luyện chứng đắc thần thông, họ có khả năng hô mưa, gọi gió, dời núi, lấp sông… làm cho vua, quan và dân chúng nước này đều tuân phục, thờ kính họ, vì họ không tu tập từ tâm nên khi được cung kính họ càng tỏ ra ngã mạn, tự cao, chìm đắm trong danh lợi, không hề tin tưởng đến Phật pháp.

Vâng lời dạy của đức Phật, tôn giả vận dụng thần thông đến nước ấy để giáo hóa. Khi đến nơi thấy một ngọn núi đang chuyển động, Ngài quan sát biết được những ngoại đạo Phạm chí đang vận dụng thần lực để dời ngọn núi đi nơi khác làm con đường cho vua. Ngài liền bay lên đứng trụ trên đỉnh núi, làm ngọn núi đang di chuyển bỗng đứng yên không hề nhúc nhích, các Phạm chí sử dụng tất cả năng lực thần biến của mình cũng không sao di chuyển được. Trong lúc các ngoại đạo đang hoang mang chưa biết cách nào để di dời ngọn núi, trước mặt vua và thần dân, tôn giả Mục Kiền Liên đã dùng thần thông làm ngọn núi biến thành một khu đất bằng phẳng để vua làm đường và dân chúng sinh sống. Bọn ngoại đạo Phạm chí vô cùng kính phục, cùng với vua quan và thần dân chắp tay cầu xin tôn giả thâu nhận làm đệ tử, tôn giả Mục-kiền-liên từ chối và hướng dẫn họ về qui y với Chánh pháp, qui y với đức Thế Tôn, cả vua quan và thần dân nước này trở thành những vị Phật tử thuần lương sống an lạc trong giáo pháp của đức Phật.

b. Chúng ngạ quỉ thưa hỏi về nhân duyên nghiệp báo:

Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên không những du hành thăm viếng các cõi Phật, xuống các địa ngục quan sát khổ báo chúng sanh… mà Ngài còn quan sát biết được mọi nhân duyên tiền kiếp của các chúng sanh khác. Chính vì thế mà Ngài là một trong những chứng nhân vĩ đại để đức Phật thuyết các kinh về ngạ quỉ, chư thiên, địa ngục… Đặc biệt, Ngài thường dạy cho các ngạ quỉ biết về tiền thân của chúng:

“Một hôm, tôn giả hành cước bên bờ sông Hằng, lúc ấy ánh sáng nhạt dần như rút theo con nước, màu hoàng hôn hoang vắng, Tôn giả thấy ban đêm đi hành hóa không tiện, bèn ngồi tịnh lự bên bờ sông.

Gió chiều nhẹ thổi, không trung lác đác vài vì sao. Bên bờ sông Hằng các loài ngạ quỉ lắm phen tụ tập, muốn tìm nước uống để trừ đói khát, nhưng gặp phải một con quỉ hung ác giữ mé sông, tay cầm gậy sắt xua đuổi, do đó các quỉ đói không dám đến gần bờ nước. Mục-kiền-liên ngồi ngay thẳng chánh niệm, thấy các loài ngạ quỉ thọ tội không đồng, bèn gọi chúng lại. Nhân cơ hội ấy, chúng quỉ thưa hỏi về nhân duyên tội nghiệp.

Quỉ thứ nhất hỏi: Tôn giả! Đời trước chúng tôi là người nay bị đọa làm thân quỉ đói, thường bị khổ khát, nghe nói nước sông trong mát, mà khi đến lấy nước uống, nước liền nóng sôi, chỉ cần hớp một miếng, lục phủ ngũ tạng liền cháy tiêu, còn bị quỉ giữ nước sông cầm gậy đánh đuổi. Xin hỏi tôn giả chúng tôi do nghiệp gì mà thọ khổ báo này?

Mục-kiền-liên dùng sức định thần thông quan sát nhân quả ba đời và nói cho ngạ quỉ này nghe: Đời trước ngươi làm thầy toán số, khi nói tướng kiết hung cho người, nói dối nhiều hơn nói thật, tùy ý khen chê, tự xưng mình thông suốt mà thật là dối láo, vì muốn cầu lợi dưỡng không thương người mê muội nên mới thọ nghiệp báo như vậy.”

Cứ như thế từng ngạ quỉ lần lượt thưa hỏi về nhân duyên nghiệp báo của mình, vì lòng từ bi, Ngài tận tình quan sát trả lời, làm cho các ngạ quỉ kính phục Ngài, lo ăn năn, sám hối tội nghiệp của mình, Ngài hướng các ngạ quỉ qui ngưỡng về chánh pháp tu tập, dần dần thoát khổ.

c. Thần thông với sắc đẹp:

Trong các giai thoại về thần thông của tôn giả Mục-kiền-liên, câu chuyện Ngài hóa độ nàng Liên Hoa Sắc là câu chuyện để lại trong ta nhiều ấn tượng nhất: Nàng Liên Hoa Sắc là một người con gái rất đẹp, lại là con gái duy nhất của gia đình trưởng giả ở thành Đức-xoa-thi-la. Khi nàng lên mười sáu tuổi, cha nàng kén rể lập gia thất cho nàng. Không bao lâu cha nàng qua đời, bà mẹ góa bụa của nàng bèn tư thông với chồng nàng, lúc ấy nàng đã có một người con gái với người chồng này. Khi hay biết được việc này, nàng quá đau khổ và quyết định bỏ nhà ra đi. Một thời gian sau, nàng được một thương gia cưới về làm vợ. Có một lần, người chồng thương gia này đi buôn bán từ Đức-xoa-thi-la trở về lén lấy nàng một ngàn đồng tiền vàng để mua tiểu thiếp. Sợ nàng biết, ông đưa tiểu thiếp mới mua qua giấu ở nhà một người bạn. Khi nàng hay tin, lòng ghen và tức giận nổi lên, liền tìm đến nhà người bạn ấy để đánh ghen kẻ cướp chồng nàng. Khi đến nơi, nàng không thể chịu đựng được sự trớ trêu của kiếp người nên té xỉu xuống đất, vì người con gái ấy chính là đứa con của nàng với người chồng trước.

Quá uất hận trước hoàn cảnh éo le của thế thái nhân tình, nàng chán ghét tất cả mọi người, chán ghét cả thế gian… và bỏ nhà ra đi dấn thân vào con đường thanh lâu, tửu điếm, làm kẻ mua vui cho thiên hạ, lúc này nàng mới ba mươi tuổi. Với nhan sắc diễm lệ, cộng với lòng căm hận cả thế thái nhân tình, nàng đã làm không biết bao gia đình tan nhà nát cửa, phát triển mọi sinh hoạt tội lỗi của mình.

Tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng năng lực thần thông hàng phục các ngoại đạo, phần lớn những ngoại đạo này đều kính ngưỡng quay đầu về với Chánh pháp, nhưng có một số không chịu khuất phục, tuy thế không làm sao hại được Tôn giả, họ bèn thuê nàng Liên Hoa Sắc dùng sắc đẹp của nàng để quyến rũ tôn giả Mục-kiền-liên, hằng mong hạ uy tín và làm nhục Ngài. Không còn phân biệt thiện ác, vốn dĩ đã hận đời, nàng đã đồng ý ra sức cám dỗ Ngài.

Một buổi sáng đẹp trời, nàng chọn một khu đồi vắng đẹp, nơi tôn giả Mục-kiền-liên thường khất thực đi ngang qua; đợi Ngài đến gần, nàng dùng lời đường mật, dáng điệu mê hồn ngỏ lời cám dỗ: “Thưa Tôn giả, Ngài có bận đi đâu không? Ngài có thể dừng chân nói chuyện với em không ạ!”.

Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả biết được mọi động cơ, suy nghĩ của Liên Hoa Sắc, Ngài liền cảnh tỉnh nàng:

“Bần đạo kinh tởm cái chòi bằng nhiều khúc xương, chằng chịt bằng những sợi dây gân, chứa đựng toàn những vật ô uế, mùi hôi xông lên khó ngửi. Những uế vật ấy được bài tiết theo cửu khiếu thường trực. Nhờ lớp da bao bọc, bằng không cái thân nhơ uế của tín nữ còn đáng kinh tởm hơn nhiều. Nếu mọi người đều thấy rõ thực chất ấy đáng gớm trong cơ thể tín nữ, thì họ sẽ tránh xa tín nữ như tránh xa hầm phẩn vậy.”

 Vừa kính, vừa sợ vì chưa từng gặp được một người nào phát ngôn với một tư duy sâu sắc như thế; nhưng vẫn có chút tự ái và sân giận trong lòng, Liên Hoa Sắc vẫn cố gắng khiêu khích: “Thưa Ngài Sa-môn, thưa người hùng! Những lời Ngài nói hoàn toàn đúng sự thật. Nhưng người đời đa số đều thích nhào xuống hầm phẩn ấy, như bò già bị sa lầy.”

Trước những lời khiêu khích của Liên Hoa sắc, vì  tưởng mình như những thế nhân thường tình, Ngài đã nhấn mạnh tâm định của mình:

“Này tín nữ, người lấy chàm hoặc nước sơn để nhuộm hoặc tô màu hư không sẽ hoài công vô ích. Tâm hồn của bần đạo như hư không, tín nữ chớ đem cái tâm niệm dục nhiễm của tín nữ mà đánh giá tâm vô cấu, vô nhiễm của bần đạo. Nếu tín nữ không kịp thời tỉnh ngộ, đình chỉ dục niệm bất chánh thì cầm bằng như con thiêu thân lao đầu vào lửa tự sát.”

Bằng năng lực thần thông hiểu biết mọi tâm niệm của người khác (tha tâm thông), tôn giả Mục-kiền-liên đã nói lên mọi suy nghĩ, động cơ cũng như những khổ đau, tư tưởng hận đời… của nàng, vì sao nàng đến đây… Khi nghe những lời của Tôn giả dạy, Liên Hoa Sắc vô cùng kính phục và hoảng sợ, nàng quì xuống, chắp tay cầu xin sự cứu giúp của Tôn giả, vì nàng nghĩ rằng tội nghiệp của nàng đã gây ra quá nặng khó lòng cứu được. Ngài từ bi chỉ dạy:

“Cô không nên tự làm khổ mình, cũng đừng thất vọng, tội nghiệp dù nặng đến đâu chỉ cần một phen sám hối thì đều có thể cứu vãn, y phục dơ có thể giặt giũ, thân thể ô uế có thể dùng nước tẩy trừ, tâm không thanh tịnh có thể dùng Phật pháp rửa sạch. Trăm dòng sông nhớp nhúa một phen chảy vào biển cả, nước biển lớn thảy đều làm sạch nước trăm sông. Lời dạy của đức Thế Tôn đủ sức khiến thanh tịnh lòng người ô uế, có thể cho sám hối những tội nghiệp quá khứ.”

Nghe những lời dạy của Tôn giả, nàng Liên Hoa Sắc vô cùng mừng rỡ cúi đầu đảnh lễ sám hối Tôn giả và xin phát nguyện xuất gia. Tôn giả Mục-kiền-liên chấp thuận lời cầu xin sám hối của nàng và hướng dẫn nàng trở về tinh xá diện kiến đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp cho nàng nghe và gởi nàng sang xuất gia tu học trong giáo đoàn Ni giới. Không còn bận tâm quyến luyến bất cứ điều gì trong cõi hồng trần, nàng Liên Hoa Sắc đã nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ sau một thời gian ngắn nàng đã chứng được quả vị vô sanh.

(còn nữa)

Một lời ca, một huấn thị

Như Tâm

Bài viết về một kỷ niệm của Hòa Thượng Thích Trí Thủ đối với Gia Đình Phật Tử. Ngài là một bậc ân sư luôn luôn quan tâm lo lắng cho thế hệ mầm non tương lai của đạo pháp.

Đã gần một phần tư  thế kỷ rồi mà mỗi lần nhớ đến Ôn, tôi cứ tưởng rằng các sự kiện mới xảy ra ngày hôm qua.

Vào khoảng đầu tháng 6 năm 1963, chùa Từ Đàm bị chính quyền Ngô Đình Diệm vây kín. Lúc đó, cuộc vận động cho bình đẳng tôn giáo và công bằng xã hội của Phật giáo trọng tâm còn ở Huế, nơi phát xuất. Ôn là Tổng thư ký của ban lãnh đạo gồm 5 thành phần: Tổng Trị sự Hội PGVN tại TP, Tổng Trị sự Giáo hội PGVN tại Trung Phần, hai Ban Trị sự hội và Giáo hội tỉnh Thừa Thiên và Đại diện cho Tổng hội PGVN. Vì là Tổng thư ký của Hội PGVN tại thời ấy nên tôi là thư ký chung, có mặt thường xuyên bên cạnh quý Ôn, quý Thầy lúc đó tập trung tại chùa Từ Đàm. Cũng trong những ngày đó, Hoà thượng Hội chủ, quý Ôn, quý Thầy đang tuyệt thực. Trong chùa có đến gần 500 người đủ mọi giới: tiểu thương, sinh viên, học sinh, hướng đạo, Gia đình Phật tử, v.v… đoàn thể nào cũng có trách nhiệm riêng.

Ngày 4.6.1963, chùa Từ Đàm bị đặt trong tình trạng nội bất xuất, ngoại bất nhập – các con đường dẫn vào chùa bị những vòng rào dây thép gai vây kín. Sau hàng rào kẽm gai là lính rằn ri, chen lấn với lớp đạo hữu chỉ biết đứng lặng nhìn vào. Có người sụp xuống lạy, vì đã 7 ngày rồi, quý Ôn, quý Thầy tuyệt thực. Không phải chỉ có lính, có kẽm gai mà có cả những chiếc xe phát thanh suốt ngày chĩa loa vào chùa đọc thông báo của chính phủ rồi những bản nhạc liên tục.

Qua ngày thứ tư, sau loạt thông báo thường lệ thì chiến dịch thay đổi: Lời kêu gọi con em ở trong chùa trở về với gia đình. Anh em khóc với nhau: “Chiêu hồi… chiêu hồi”. Chiều hôm ấy, Ôn ngồi trên tam cấp chùa, vẫy tôi lại ngồi bên. Im lặng, bỗng bên ngoài có tiếng gọi tên một người ra để gặp mẹ. Đó là một em thiếu niên Gia đình Phật tử. Em ấy xin phép ra gặp mẹ. Mới đến cổng chùa 4, 5 chú cảnh sát vọt lên ôm chầm em bỏ lên xe. Hành động thật bất ngờ làm ai nấy sửng sốt. Ôn nhìn tôi bùi ngùi. Tôi vụt đứng dậy. Ôn kéo tôi lại ngồi xuống bên, nhấn vào vai tôi. Lúc đó anh em Gia đình Phật tử, sinh viên Phật tử, học sinh Phật tử tập trung trước giảng đường, la ó. Tôi ra lịnh im. Phía ngoài lại kêu một tên khác và có thân sinh đến gặp. Không có tiếng đáp lại. Sau khi lục danh sách biết rằng không có tên ấy, chúng tôi trả lời là tên ấy không có ở đây. Thân sinh xin vào nhìn mặt, chùa chấp nhận. Người ấy đi vào nhìn hết em nầy đến em khác, khi đến gần Ôn bèn nói nhỏ: Con nói láo để được vào thăm quý Ôn, quý Thầy. Nói xong, người ấy vội vã ra đi.

Tên một em nữa lại được gọi lên và thân sinh em ấy xuất hiện ở cổng chùa, gần gốc Bồ đề. Gọi đến tên, em ấy bước ra, đến trước sân chùa hướng vào điện Phật lạy ba lạy từ tốn. Cả sân chùa im lặng, hồi hộp. Đó là một huynh trưởng. Em ấy đến xá Ôn ba xá và nghiêm chỉnh đứng chào tôi theo lối Gia đình Phật tử. Song em đó là em được giao phó cầm biểu ngữ trong ngày Phật đản. Tôi còn nhớ rõ, tôi đã trao cho em câu khẩu hiệu:

“Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh”.

Sân chùa im phăng phắc, phía bên ngoài cũng im phăng phắt. Khi đến cách chùa khoảng 10 thước, em cúi xuống lạy cha hai lạy. Tôi liếc mắt nhìn Ôn. Mắt Ôn sáng lên, không khí thật ngột thở. Thân phụ em ấy đứng lặng như trời trồng. Lạy xong, em ấy tiến đến trước micro pile để ở giữa sân chùa: “Thưa Ba, Ba thấy rõ ràng đó, chùa không ép buộc chúng con ở lại trong chùa như lời rêu rao của chính quyền. Chính những dây kẽm gai kia và đoàn lính ở bên ngoài vây hãm chùa, không cho ai ra vào được đấy chứ! Xin Ba về yên tâm. Ngày nào những dây kẽm gai kia được dẹp đi, đoàn lính vây chùa không còn nữa, chúng con sẽ về. Kính lạy Ba và Mẹ. Em lạy hai lạy nữa rồi từ tốn bình thản bước vào hàng ngũ. Một tràng pháo tay nổi lên. Tôi ra hiệu im. Khi em đến xá Ôn và chào tôi. Ôn kêu lại và bảo tôi cho Ôn mượn chiếc hoa sen. Tôi cởi huy hiệu vì tôi lãnh hội được ý của Ôn rồi. Tôi mở chiếc hoa sen từ túi tôi và Ôn đứng dậy, nghiêm chỉnh không một lời, cài chiếc huy hiệu hoa sen vào túi em. Một tiếng hô vang lên: Phật tử - Tinh tấn!

Bài ca Sen Trắng được vang lên trầm hùng và tiếp sau đó là bài “Kính mến Thầy”.

Tất cả sự kiện diễn tiến rất đột ngột, nhưng lại rất thích hợp. Ôn cũng đứng im, cảm xúc hiện rõ. Nước mắt tôi ràn rụa vì sung sướng và cảm động. Không đầy năm phút, nhưng thời gian như lắng đọng lại. Ôn kéo tay tôi vào văn phòng. Trên đường đi, Ôn thầm nhắc lại đến hai, ba lượt lời ca: “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.

Mười ba năm sau, năm 1976, trong lễ Hiệp kỵ do Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Gia Định tổ chức tại Quảng Hương Già Lam, trong lời huấn thị, Ôn cũng dùng lời ca trên để làm đề tài nhắn nhủ: “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.

Chưa bao giờ tôi thấy lòng rung động đến thế. Từng lời, từng chữ như thấm biến vào máu, vào xương, vào từng hơi thở, từng nhịp tim. Khi Ban Hướng Dẫn Gia Định mời tôi phát biểu, tôi xin im lặng - Im lặng như Chánh pháp.

Dù Ôn còn hay không còn ở lại với chúng tôi nữa, nhưng mỗi khi chúng tôi hát lên bài hát bất diệt ấy là để dâng lên Ôn và cũng để tự nhủ mình.

Một lời ca, chỉ là một lời ca, nhưng khi phát ra từ Ôn đã biến thành một lời huấn thị có giá trị đến muôn đời

 

Ôn Trí thủ, một hóa thân kỳ diệu

TT. Thích Hạnh Thiền

Hình ảnh một vị Hòa thượng uy nghi đôn hậu ngồi trên lưng ngựa vô cùng an nhiên thoát tục quả là hiếm có trong giới Tăng-già thời cận đại.

Đó là bức hình của Ôn Già Lam, một trong vô số các bức ảnh nhiều loại khác nhau: Ôn đứng trước cảnh chùa, đứng gần bảo tháp, Ôn ban đạo từ nơi lễ đài, ảnh Ôn chủ tọa trong các phiên họp v.v… Mà phải nói, chắc có thiện duyên từ kiếp nào tôi mới được ưu ái dành cho bức ảnh Ôn đang ngồi trên lưng ngựa, thực là ấn tượng gây phấn khích cho tôi vô cùng. Các huynh đệ pháp hữu, hình như cũng ganh tỵ với tấm ảnh đặc biệt đó, đã vội chúc mừng tôi một câu cảnh cáo: “Coi chừng Ôn nhắc nhở cái tánh phóng động tâm viên ý mã của huynh đấy! Lo mà giải công án đi, đừng vội cho mình được tặng vật hơn người”. Ý của tổ sư cưỡi ngựa là gì? (Như hà tổ sư kỵ mã ý?)

Lẽ ra, theo phong cách của Tổ sư thiền, tôi phải tham công án, phải hỏi và nhìn câu thoại đầu. Giữ mãi cái không biết, không hiểu, không suy nghĩ, không ghi nhớ thì một thời điểm nào đó hành giả sẽ chín muồi và bừng ngộ chân lý. Đằng này vẫn theo tập khí xa xưa, tôi cứ để cho vọng tưởng mặc sức tự do tự ý bay cao: Ôi! Ôn đẹp làm sao, dung mạo uy nghi tự tại làm sao. Ôn có khác gì Quan Vân Trường, vị tướng nước Thục thời Tam Quốc là bậc đại nhân trung hậu, khí tiết hiên ngang bất khuất trước thế lực hung ác của tập đoàn Tào Tháo đa nghi đầy nham hiểm. Khi chết được thần hóa gọi là Quan Đế. Dân chúng kính mộ xây dựng miếu thờ Quan Công (Quan Thánh) - là đối tượng cao quí trong lòng nhân dân Trung Quốc mãi cho đến hôm nay. Có điều, Ôn Hòa thượng Quan Thánh Việt Nam không sát thủ bằng cây thanh long đao trên lưng con Xích Thố như tướng Quan Vân Trường lấy oán báo oán, mà trên tay của Ôn mình là cây tích trượng từ bi trí tuệ, lấy đức báo oán, lấy tình thương hóa giải hận thù.

Mắt tôi bỗng sáng lên ý nghĩ, Ồ! Hòa thượng mình có khác gì ngài Huyền Trang đời nhà Đường đâu, cũng xông pha cùng đệ tử đi tìm chân kinh để chuyển mê khai ngộ chúng sinh. Tôi vẫn tiếp tục phóng nghi tình: À hay là Ôn nhắc nhở chúng ta thà ngồi trên lưng ngựa còn thoải mái bình yên hơn ngồi trên lưng cọp (thuật ngữ này muốn nói leo lên lưng cọp đã khó mà xuống cũng không phải dễ, tiến thối lưỡng nan là tâm trạng của hành giả thiếu công phu mà lại thích đuợc trọng vọng trên lưng cọp để vạn loại chúng sinh nghiêng mình bái lạy) và khi muốn nhảy xuống cũng không xong vì không có chủ quyền và bản lãnh. Rõ ràng là thân phận của nạn nhân ngồi không yên ổn, xuống không vững vàng. Ôi chao! Hòa thượng thương tình trao cho hậu sinh một công án vô cùng thâm diệu. Thế rồi tôi cứ hỏi, cứ nghi, cứ biết, cứ suy nghĩ mãi, vẫn bị kẹt trong cái vòng điên đảo của thế trí biện tài. À! Hay là Ôn dạy mình: “Tâm viên bất định, ý mã nan truy”.

Vượn lòng nhảy nhót không yên

Ngựa ý rong ruổi thoáng liền khó theo.

Tôi như cảm nhận được lời khai thị về hành giả muốn tu tập thiền định, bước đầu phải cột lại cái tâm ý, không cho nó nghĩ ngợi lung tung. Việc kềm giữ tâm ý ở yên một chỗ không phải là dễ nếu như không có quá trình công phu tới mức. Phải thận trọng thân khẩu ý và triệt để cảnh giác tham sân si trong mọi tình huống.

Tôi còn nhớ chùa Già Lam có hai câu dạy chúng rất hay:

Nói năng như Chánh pháp

Im lặng như Chánh pháp.

Nói năng dễ hiểu lầm, dễ đụng chạm cho nên lời nói phải chân chánh như là Pháp, là chân lý, nói sự thật để giáo hóa chúng sinh nghe vui thoát khổ.

Còn nếu im lặng thì phải vô ngôn trong chánh niệm để lắng sâu vào định, nhờ vậy mới phát tuệ, mới có đủ năng lực phẩm hạnh Bi Trí Dũng; là ngọn đèn tỏa sáng ánh hào quang chân lý, soi rọi bước chân hành giả dấn thân vào đời với oai lực nghìn mắt nghìn tay để diệu kế lương y cứu thoát đàn con thơ.

Chúng tôi còn nhớ mãi ngày Ôn Trí Thủ cùng phái đoàn về chứng minh đại hội bầu Ban Trị Sự Phật giáo Tỉnh. Theo chương trình, lễ khai mạc sẽ long trọng diễn ra lúc 8 giờ sáng hôm đó. Nào ngờ mới có 3 giờ sáng, Ôn gọi thầy thị giả thư ký thức dậy viết lại bản văn mà Ôn sẽ đọc trong đại hội, chỉ còn 5 tiếng đồng hồ nữa. Chúng tôi nghe thật rõ lời Ôn đọc và thầy thư ký viết, rồi đọc lại cho Ôn nghe rất lâu mới xong.

Anh em học Tăng chúng tôi vô cùng xúc động trước hình ảnh này, càng quý kính bậc Thầy cao cả của mình đã vì tiền đồ vận nghiệp Phật giáo mà chẳng ngại tuổi già đêm khuya không giấc ngủ ngon, chỉ sợ đàn con mình số phận lênh đênh nghiệt ngã. Dĩ nhiên là chúng tôi đã nêu thắc mắc về cách làm việc của Trung ương vào sáng sớm trước giờ khai mạc buổi lễ với thái độ giận chay: “Tội quá! Sao Trung Ương không chuẩn bị cho Ôn bài đọc để Ôn đỡ vất vả đêm khuya. Lẽ ra, Ôn cần ngủ ngon giấc để đủ sức khỏe làm việc chứ?” Hai vị trong BCH/TƯ cũng không kém phiền não hơn chúng tôi, nhíu mày với câu đáp mặn như chao: “Chúng tôi hiểu điều đó chứ! Nhưng Ôn không chịu đọc nguyên văn bài của Trung Ương đã bố trí sẵn, Ôn muốn viết lại theo ý của Ôn. Chúng tôi lặng người, nhưng vô cùng phấn khởi tự tin; vì từ đây Phật giáo Việt Nam đã có những vị lãnh đạo sáng suốt và lòng đại bi vô lượng. Ôn quả là một hóa thân kỳ diệu, một gốc tùng vĩ đại, vươn cao đứng thẳng tỏa bóng mát từ hòa cho đàn con nương trú:

Ôn nằm xuống nghìn năm ngửng mặt

Chúng con soi bóng lạ suốt cơn mê.

Có người hỏi, những nhân tố nào đã hun đúc nên một bậc thầy đạo hạnh, trí tuệ vô song như vầng trăng sáng ngời, như dãy Hy-mã-lạp sơn hùng tráng muôn đời, tồn tại mãi trong từng trái tim yêu thương của những người con Phật. Ta hãy nghe Ôn tâm sự (*Tra Am và sư Viên Thành ): “Thầy tôi khuất bóng nay đã 46 năm, tôi cũng trải qua mấy chục năm trường đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ tuổi gần 70 mà âm hưởng của thầy tôi ngày nào vẫn thấy còn đầm ấm bên lòng. Tình thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức được xông ướp trong mùi hương đạo ra còn có nghĩa của một thứ tình gắn bó do túc duyên không sao nói hết được.

Tôi xuất gia theo thầy năm 17 tuổi, cũng là số tuổi đời mà thầy tôi xả vọng tầm chơn. Đến năm 20 tuổi, tôi được thiện duyên thọ Cụ túc giới. Trong giới đàn này, tôi đỗ thủ Sa-di, và lúc trở về chùa, tôi cảm thấy niềm hoan hỷ sâu xa nơi thầy tôi đối với con đường đạo tương lai mà tôi đã bước được một bước đầu. Niềm hoan hỷ đó ngày nay hồi tưởng lại cũng còn thấy tình thầy như đám mây lành phủ bóng trên người. Tôi không khỏi bùi ngùi tưởng tượng Thầy đã không được như tôi, mà đơn độc một mình một bóng trở về chùa lặng lẽ sau khi đỗ thủ Sa-di và thọ Cụ túc giới. Bấy giờ, thầy đã 22 tuổi mà sư Tổ thì đã thị tịch trước đó rồi.

Có lẽ nhờ túc duyên hiếm có, nên mỗi bước đường đạo của tôi đều gần như bước trùng lên dấu bước của thầy, khiến cho mỗi lần nghĩ nhớ thời gian quá khứ của đời mình, tôi thấy bóng dáng của mình lồng trong bóng dáng vĩ đại của Thầy”.

 

Hành trình sơ chuyển Pháp luân của đức Phật

Thanh Tâm

Cuộc hành trình miên viễn của kiếp sống trầm luân sáu nẻo luân hồi đã thôi thúc rất nhiều người đi tìm những phương pháp để thoát ly khổ não. Hạnh phúc và khổ đau là hai thực trạng của cuộc sống mà con người luôn đề cập tới. Nhưng để biết được hạnh phúc là gì thì con người phải trực nhận ra được bản chất của khổ đau như thế nào rồi mới bàn tới phương pháp giải quyết khổ đau.

Xã hội Ấn Độ là một trong những quốc gia sản sinh ra nhiều nhân tài, nhiều triết gia, và cũng là nơi rất phức tạp trên các lãnh vực kinh tế chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, triết lý và tôn giáo… Chính vì sự đa dạng như vậy, nên khổ đau và hạnh phúc sẽ được đề cập đến nhiều hơn. Khổ đau như một sự thật hiển nhiên của cuộc đời mà bất cứ một thời đại nào, một quốc gia nào, một con người nào không biết và không cảm nhận, khổ đau đó không chỉ đúng với ngày xưa mà còn đúng cả hôm nay và mai sau.

Cũng ở nơi đây, cách đây trên 2500 năm, xã hội hình thành nên những giáo phái, những học thuyết với những chủ trương khác nhau để lý giải về hai nhu cầu bức thiết, không định hình được đâu là chân là giả, khiến khổ đau vẫn hoàn là khổ đau và nó mãi vây lấy kiếp người chưa một lúc nào ngừng nghỉ. Chính trong thời điểm đó, trong bối cảnh tàn khốc đó, mọi người ai cũng mong chờ có một bậc vĩ nhân xuất hiện để giải thoát họ ra khỏi sự nô lệ của kiếp người. Đức Phật đã ứng hiện. Cả cuộc đời của Ngài luôn đi sâu vào quần chúng, tìm hiểu nỗi đau của chúng sanh rồi tìm ra cho mình một hướng đi đúng đắn, quyết định bỏ lại sau lưng tất cả mọi cám dỗ của dục lạc trần gian, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan. Ra đi với nhiều thao thức mong sao chính bản thân mình tìm ra một con đường bất tử cứu nhân độ thế. Suốt cuộc hành trình ra đi trong tịch tĩnh, cuối cùng Ngài đã tìm ra được đạo lộ của cánh cửa vô sanh, cánh cửa mà từ đây chư thiên và loài người sẽ không còn bơ vơ lạc lõng hay sống trong sự lo sợ của sanh già bệnh chết, thay vào đó là sự sống trong an lành và giải thoát. Ngài đã giác ngộ sau quá trình tư duy bằng tuệ quán, suy nghiệm và không ngừng nỗ lực tu tập. Chính sự quyết định này đã mở con mắt tuệ cho chúng sanh, đập tan đi mọi thành kiến mê lầm chấp ngã đã hằn sâu trong vô lượng kiếp, khẳng định lại giá trị hạnh phúc, nhân bản của một con người từng đánh mất đi giá trị có trong tầm tay của mình.

Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, đức Thế Tôn băn khoăn: rằng nên hay không nên vận chuyển bánh xe pháp, hay là sẽ nhập Niết-bàn, bởi vì Giáo pháp Ngài vừa chứng ngộ không phải là một giáo pháp bình thường mà giáo lý vừa chứng ngộ đó là một giáo pháp thật thâm áo, khó thấy, khó hiểu, dựa trên thực nghiệm, tuyệt diệu, không thể do lý luận có thể giải thích, tế nhị, chỉ người trí mới thấu hiểu được. Một giáo lý chỉ có người trí mới thấu hiểu, chỉ có những con người ly trần diệt nhiễm mới liễu ngộ thì thử hỏi ở thế gian được bao nhiêu người. Điều này khiến cho Thế Tôn, bậc Vô thượng Chánh đẳng giác, đã khởi lên tâm niệm muốn nhập Niết- bàn. Trong các kinh điển Pàli, chúng ta thấy có ghi lại tâm trạng này dưới hình thức một cuộc đối thoại với Phạm thiên Sahampati. Rõ ràng, đức Phật muốn dấy lên sự xung đột giữa các tư tưởng nội tâm của Ngài trở thành dễ hiểu nên đã sử dụng hình ảnh vị Phạm thiên lừng danh xuất hiện để trình bày những tư tưởng tranh luận cuối cùng trước khi quyết định có nên vận chuyển bánh xe pháp hay không. Chính sự vận động đấu tranh tư tưởng cuối cùng này đã mở ra một con đường thênh thang cho chúng sanh sau này nương nhờ, khai mở con đường bất tử đang đợi chờ ở phía trước. Đức Phật bảo: “Thế giới này thích thú dục lạc, song giáo pháp của ta hướng đến viễn ly, ly tham, ái diệt. Giả sử ta thuyết giảng giáo pháp này, tức phải đi ngược dòng, và người đời không hiểu được ta, điều ấy sẽ gây khó nhọc lòng cho ta”. Vị Phạm thiên trả lời: “Thế giới sẽ hủy diệt nếu đấng Toàn giác không quyết định thuyết pháp. Do vậy, cầu xin đức Thế Tôn hãy thuyết pháp. Có những người ít nhiễm bụi trong mắt, nếu không được nghe Pháp, chúng sẽ sa đọa. Song nếu chúng nghe Pháp, chúng sẽ đạt giải thoát”. Qua lời đối thoại ngược trở lại đó, vị Phạm thiên đã làm sanh khởi lòng từ bi và tâm nguyện độ sanh nơi đức Phật. Ngài nhận ra được mục đích ra đời của Ngài, sự tu tập của Ngài trải dài từ vô lượng kiếp đến nay không phải chỉ tu cho riêng mình, cho cái thân thể nằm trong một trượng sáu này của mình mà sự ra đời đó vì an lạc cho chư thiên, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Giữa một xã hội rối ren, rối ren như một đống tơ vò, bao đau khổ triền miên quấn chặt trải trùm trên tâm tư kiếp người không thể nào vượt khỏi, chưa có một hình thái nào để định hướng, dẫn dắt chúng sanh đoạn trừ hay dứt khoát như vậy, thì ngay nơi đó, ngay chính trong sự  khổ đau cùng cực đó, sự hiện hữu của Ngài là một khởi điểm của ánh sáng chân lý, ánh sáng giải thoát giác ngộ, mở ra một chân trời thoáng đãng, thanh thản, nhẹ nhàng, khai triển hiển bày một thông điệp hòa bình nhân bản, tình thương và trí tuệ. Sự hiện hữu của Ngài đã rống lên tiếng rống sư tử, cảnh tỉnh cho những ai đang sống trong dục vọng ý thức được rằng, mọi huyễn tướng của ràng buộc, mọi bóng tối của vô minh đang hiện bày từ đây sẽ đi lụi dần vào bóng đêm và sẽ chuyển hóa trong ánh sáng nhiệm mầu. Vì thế, Ngài đã tuyên dương Pháp thoại: “Cánh cửa bất tử sẽ rộng mở cho những ai muốn nghe pháp”. Ngài đồng ý với lời thỉnh cầu của Phạm thiên và sẽ lên đường thuyết pháp. Phạm thiên hân hoan vui mừng đi nhiễu xung quanh ba vòng rồi biến mất.

Sau khi nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, đức Phật dùng tri kiến thanh tịnh quan sát khắp cả thế giới. Bằng tuệ nhãn, Ngài thấy chúng sanh có nhiều căn tánh bất đồng, có người cấu nhiễm, có người thanh tịnh, cũng như Hoa sen mọc từ trong bùn, có cành hoa vươn lên khỏi mặt bùn, có cành hoa đang nằm trong mặt nước không vươn lên mặt bùn, có cành sen nằm sâu dưới đáy. Căn cơ của chúng sanh cũng như những cành sen này, có người không ô nhiễm, có người ít bụi nhiễm, có người bụi nhiễm rất nhiều, có cao có thấp khác nhau. Qua hình ảnh hoa sen đó, Ngài khởi ý niệm nên đi đến giáo hóa cho người nào. Ngài liền nghĩ ngay đến những vị từng là đạo sư của Ngài: Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Khi biết rằng cả hai đều từ trần, Ngài liền nghĩ ngay đến năm vị đồng tu khổ hạnh với Ngài thuở trước hiện đang trú tại vườn Lộc Uyển gần Ba-la-nại (Benares). Ngài thầm nghĩ, nếu năm vị ấy khi nghe được những lời dạy này sẽ có thể  thấu hiểu được một cách dễ dàng.

Trong niềm hân hoan đó, Ngài liền rời cội Bồ-đề đi đến thành Ba-la-nại. Sự quyết định giảng pháp này đã đánh dấu con đường chuyển giao giữa mê và ngộ, giữa khổ đau và hạnh phúc. Như vậy từ đây, chánh pháp được bậc giác ngộ chuyển khai sau khi đã hành trì tu tập, thế gian từ đây không còn sống trong ngục tù, không bị ràng buộc bởi bọn ma vương cám dỗ, tài, sắc, danh, thực, thùy, không sống trong vòng kiềm tỏa câu thúc của khát ái, lệ thuộc vào khổ đau. Ánh sáng giác ngộ sẽ phá tan màn vô minh u tối đã bao trùm từ vô lượng kiếp.

Sau đó, Ngài khởi hành đi đến Benares, trên đường đi Ngài gặp một du sĩ ngoại đạo theo trường phái cực đoan. Vị này thấy trên khuôn mặt Ngài lộ vẻ hân hoan, thanh thoát nên đã chú ý và hỏi bậc Đạo sư của Ngài là ai, và giáo Pháp mà Ngài vừa chứng ngộ được học như thế nào? Đức Phật đầy lòng tự tin tuyên bố Ngài đã được giải thoát nhờ ái diệt, hữu diệt, thủ diệt. Ngài là vị thắng giả trên chiến trường. Vì vậy, Ngài không có Đạo sư, mà chính Ngài là bậc Đạo sư. Nghe điều này, Upaka tuy cảm phục nhưng vội lắc đầu và rẽ vào con đường khác. Vậy tại sao đức Phật lại lạc quan như thế, dám tuyên bố với vẻ đầy tự tin như vậy, mới nhìn vào ai cũng có thể dễ hiểu lầm, nhưng thực tế đó mới là điều mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Đối với một bậc đã giải thoát khỏi ái nhiễm, đã thoát ly mọi triền phược, thì không còn e ngại khuất phục hay sợ hãi trước một thế lực nào, vì người này đã làm chủ được tâm mình, làm chủ được tư tưởng của mình thì còn ai là người có thể điều khiển được tâm tư an tịnh đó. Một bậc giác ngộ tượng trưng cho một hạng người độc nhất, trên thực tế tuy có hình dáng bề ngoài như mọi người, vẫn chịu biến hoại về thể chất, nhưng vị ấy không còn bị chi phối trong vòng sanh tử luân hồi, đã thực sự thoát ly mọi ái nhiễm. Hình tượng oai nghi này đã đập mạnh vào trong tiềm thức của năm anh em Kiều-trần-như, phá vỡ những thành kiến cống cao ngã mạn và niềm tin không tốt về con đường mà Ngài đã chọn trước đây. Năm vị này đã đến cầm lấy những y bát, soạn chỗ ngồi, lấy nước rửa chân và xưng gọi Ngài là bậc Hiền giả như trước đây đã từng xưng gọi. Đức Thế Tôn không chấp nhận điều này và tuyên bố: “Này các ông, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Này các ông, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác”.

Lời tuyên bố ấy đã mở đầu một pháp thoại, hé lộ con đường bất tử. Con đường khước từ  thái độ cực đoan tham đắm vào cuộc sống sung túc để hướng tâm đến việc tìm ra chân lý. Chân lý chỉ khai mở khi tâm hồn con người biết quay về, biết nhìn lại chính mình, cùng tu tập và gọt giũa tất cả những cấu uế đã định hình trong tâm từ xưa đến nay. Chân lý đó được Ngài khai mở trong thời điểm thích hợp, làm sáng tỏ thêm mọi việc thông qua bài pháp thoại đầu tiên, khởi đầu sự nghiệp hoằng pháp của Ngài mà đời sau gọi đó là thời pháp “sơ chuyển Pháp luân”. Bài pháp này được đức Thế Tôn trình bày trên phương diện, bác bỏ hai lối sống cực đoan đó là con đường khổ hạnh ép xác và con đường hưởng thọ dục lạc, rồi Ngài khuyến tấn hành giả hãy thực tập theo con đường Trung đạo, đồng thời Ngài trình bày về hệ thống bốn chân lý, đó là một giáo lý căn bản, hàm tàng những yếu nghĩa xuyên suốt về bản chất của cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau, chứa đựng sự tinh vi am tường một cách rốt ráo:

“Có hai cực đoan, này các Tỳ-kheo, mà người xuất gia không nên hành trì. Đó là hai lối sống cực đoan? Những gì là hai. Một là đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầm thường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không lợi ích. Hai là chuyên tâm khổ hạnh ép xác, gây đau khổ cho thân tâm, không xứng đáng bậc Thánh, và cũng không có lợi ích. Này các Tỳ-kheo, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra con đường Trung đạo, con đường này chính là con đường khiến cho ta thấy và biết, con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”

Sau khi tuyên bố hai lối sống cực đoan đem lại tai hại, đức Thế Tôn thuyết giảng con đường Trung đạo thông qua bốn hành tướng chân lý nhiệm mầu:

“Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; gần gũi những gì ta không thích là khổ, cầu không được là khổ, xa lìa những gì ta thích là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về nguyên nhân đưa đến đau khổ. Đó chính là khát ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm kiếm lạc thú chỗ này chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái và vô hữu ái.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Khổ diệt, chính là sự đoạn trừ, diệt tận hoàn toàn khát ái đó, sự quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xả ly nó, không chấp thủ nó.

Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Đó là thánh đạo tám ngành, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”.

Năm Tôn giả chăm chú lắng nghe lời Ngài dạy. Chẳng bao lâu, năm Tôn giả Kiều-trần-như đoạn tận mọi ái nhiễm, chứng đắc các Thánh quả, trở thành các vị đệ tử đầu tiên trong giáo đoàn của đức Phật. Sau bài pháp đầu tiên, đức Phật tiếp tục giảng bài kinh Vô Ngã tướng, phủ nhận sự hiện hữu của tự ngã. Đây là giáo lý mang một ý nghĩa hết sức thiết thực, chỉ cho con người thấy rõ sự hiện hữu của mình trong cuộc thế nhân sinh là một tập hợp của năm uẩn. Chính điều này đi ngược lại ý tưởng đương thời, gây kinh ngạc trong hệ thống các giáo lý thần linh, đánh ngã mọi học thuyết chủ trương tự ngã là trường cửu hay đoạn diệt lúc bấy giờ.

Qua bài kinh Vô ngã, đức Phật đã mở ra một cái nhìn mới về con người, về cuộc đời. Con người không phải là một thực thể bất biến mà nó là duyên sinh. Con người chỉ là một tập hợp của năm thành tố, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nên không có một cái ngã thực hữu, thường hằng. Con người là sự kết hợp trọn vẹn hai mặt vận hành đó là thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý mà không có một linh hồn-thực thể hằng biến như chủ trương của các học phái ngoại đạo lúc ấy. Mặt khác, con người sở dĩ đau khổ là do con người không hiểu rõ được bản chất của đau khổ, không hiểu rõ nguồn gốc đưa đến đau khổ. Đó là không thấy rõ sự biến chuyển, hoại diệt của năm uẩn; không thỏa mãn trước sự thay đổi của những tâm lý vọng cầu tham lam đắm nhiễm vào trong khoái lạc nhục dục lục trần, chấp chặt cho rằng cái thân năm uẩn này là thực có, là thường hằng, một khi nó mất đi thì tâm niệm đau khổ hiện ra.

Khi năm vị Tỳ-kheo nghe xong bài pháp thoại này, tâm của các vị ấy hoàn toàn ly nhiễm, thoát khỏi mọi lậu hoặc, và ngay lúc đó trở thành A-la-hán. Tri kiến hoàn toàn thanh tịnh, mênh mông sâu thẳm và hiểu các pháp một cách rốt ráo.

Qua bài pháp đầu tiên và bài pháp thoại thứ hai, chúng ta thấy sự thành công của đức Phật ngay buổi thuyết giáo đầu tiên. Ngài đi vào lòng quần chúng, đi vào tâm niệm đệ tử với việc phá vỡ tất cả khúc mắc của họ và trình bày lại những sở chứng của mình, chia sẻ cho mọi người cùng hiểu, cùng nắm bắt, cùng thực hành, chứ không phải là những lời dạy mang tính mơ hồ viễn vông. Giáo lý giác ngộ từ đó được vận hành soi sáng trên thế gian, hướng dẫn con người đi những bước đi an tịnh, chắc chắn, hỷ lạc, không ưu tư sầu muộn, đưa đến giải thoát cho bất cứ ai trong khi thâm nhập, tu tập, hành trì giáo lý với tuệ quán thấy được sự thật của khổ đau và nguồn gốc của khổ đau, rồi hướng tâm tới tìm cầu con đường thoát khỏi khổ đau và thực hành phương pháp thoát ly khổ đau. Cuộc hành trình ấy đã thể hiện hai phương diện khổ đau mà thế gian đang phải gánh chịu, và đằng khác là sự thoát ly khổ đau của các bậc Thánh sau khi hành trì Bát thánh đạo, thoát ly hai lối sống cực đoan. Điều này có thể hiểu rằng, bài pháp đầu tiên này mang một ý nghĩa hết sức thiết thực cho kiếp sống nhân sinh, đã mở ra một thông điệp nhân bản cho con người, định hướng cho con người thấy rõ khổ đau và hạnh phúc nằm trong tầm tay của mình, trong cuộc sống hiện hữu của mình chứ không nằm ở đâu xa xôi như thiên đường hay cảnh giới ảo tưởng nào đó. Chỉ khi nào con người biết dừng lại, với tuệ quán nhìn thấy rõ bản chất của nó, biết quay trở lại với bản tâm của mình, thấy rõ thực tướng của năm uẩn tạo nên khổ đau, nguyên nhân khổ đau, khổ đau biến mất và con đường đưa đến đoạn diệt khổ đau thì con người mới đi được những bước đi thảnh thơi, tự tại trên mãnh đất tâm an lạc giải thoát. Bài Pháp đầu tiên và bài pháp thứ hai đã mở một lối đi cho những ai đang còn đắm chìm trong ngục tối vô minh, đang bị ràng buộc trong lệ tình dục nhiễm, hãy ý thức để quay về. Giáo pháp của đạo Phật từ nay sẽ rộng mở cho những ai biết quay đầu phản tỉnh, thiết tha mong cầu thoát khổ để được an vui.

 

Thiền Ba-la-mật

Tâm Như Trí Thủ

Thế nào là tu tập thiền định?

Tu tập thiền định, nếu vì tự lợi, lợi tha và tự tha đều lợi, thiền định như thế mới trang nghiêm được đạo Bồ-đề. Bồ-tát sở dĩ tu tập thiền định là vì muốn điều phục chúng sanh, khiến chúng sanh xa lìa khổ não. Người tu tập thiền định khéo thâu nhiếp lòng mình, hết thảy loạn tưởng không cho quấy động. Đi đứng nằm ngồi, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, ngược xuôi quán sát, từ đầu đến cổ, xương sống, cánh tay, ngực, bụng, hông, rún, bàng quang, bắp vế, đầu ống chân, gối, bàn chân, hơi thở ra vào, tuần tự rõ ràng không còn chao động. Như vậy gọi là Bồ-tát bắt đầu tu tập định tâm.

Nhờ tu định tâm nên không thọ các điều ác, mà tâm thì được thường vui vẻ; như vậy gọi là tự lợi. Giáo hóa chúng sanh, khiến chúng sanh tu tập chánh niệm; như vậy gọi là lợi tha. Đem pháp tam muội thanh tịnh đã lìa khỏi ác giác ác quán của mình đã tu tập được mà hóa độ chúng sanh, khiến chúng sanh cũng đồng được lợi như mình; như vậy gọi là tự tha đều lợi.

Nhân tu thiền định, thu hoạch được tám món giải thoát, cho đến Thủ lăng nghiêm, Kim cang tam muội; như vậy gọi là trang nghiêm đạo Bồ-đề.

Thiền định sanh ra là nhờ có ba pháp: một là văn huệ, hai là tư huệ, ba là tu huệ. Nhờ thực hành ba pháp ấy mà lần lần phát sanh hết thảy tam muội.

Thế nào gọi là Văn huệ ?

Như đối với giáo pháp đã được nghe sanh tâm ưa thích. Lại phải như thế này: Tất cả các Phật pháp như vô ngại, giải thoát v.v... cần phải nghe nhiều mới được thành tựu. Có được quan niệm như thế thời bất cứ lúc nào cũng học chánh pháp, lòng mình cũng càng thêm tinh tấn, ngày đêm thường thích nghe chánh pháp, không khi nào nhàm chán. Như vậy gọi là Văn huệ.

Thế nào gọi là Tư huệ ?

Suy nghĩ quan sát hết thảy các pháp đúng như thật tướng. Đúng như thật tướng nghĩa là các pháp hữu vi đều vô thường, khổ, không, vô ngã và bất tịnh. Chúng vốn niệm niệm sanh diệt, tồn tại không lâu và rất chóng hư hoại. Chúng sanh không biết như thế để lòng bị trói buộc trong yêu ghét cầu lo theo các pháp ấy, chỉ vì lửa tham, sân, si thiêu đốt khiến tăng trưởng thêm nhiều khổ não, chồng chất cho kiếp sống vị lai. Nếu biết được rằng các pháp hữu vi chỉ là huyễn hóa không có thật tánh, thời đối với bất cứ pháp hữu vi nào, lòng mình cũng sanh nhàm chán, xa lìa càng thêm tinh tấn và xu hướng về trí huệ Phật. Xu hướng về trí huệ Phật bằng cách tư duy: trí huệ ấy bất khả tư nghì không thể đo lường, trí huệ ấy có một đại thế lực không ai hơn nổi. Nhờ tư duy như thế mà tự xây dựng được cho mình một thành trì an ổn lớn lao, khiến tâm không lo sợ, không thối chuyển, lại cứu độ được vô lượng chúng sanh khổ não. Biết và thấy trí huệ Phật vô lượng như thế, thấy các pháp hữu vi vô lượng như thế, chí nguyện cầu vô thượng đại thừa mới càng phấn chấn thêm lên. Như vậy gọi là Tư huệ.

Thế nào gọi là Tu huệ ?

Từ khi bắt đầu quán sát cho đến khi đạt được quả vị A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề , gọi là Tu huệ .

1. Bắt đầu xa lìa các pháp bất thiện về dục giới, còn có giác, có quán ly sanh hỷ lạc, đi vào định sơ thiền.

2. Diệt hết giác và quán, bên trong được tâm thanh tịnh duy nhất, không còn giác và quán nữa nhờ thiền định và hỷ lạc, tức đi vào định nhị thiền.

3. Muốn xa lìa tâm hỷ lạc thô trọng nên tu hành xả; thân tâm an hưởng niềm vui tế nhị không thể mô tả, các bậc Hiền thánh có nói ra cũng xả bỏ. Thường niệm thọ lạc, tức đi vào định tam thiền.

4. Đoạn hết khổ và lạc, trước hết phải diệt sạch niệm mừng và lo, không còn khổ, không còn lạc, tu theo niệm hành xả được thanh tịnh, tức đi vào định tứ thiền.

5. Vượt qua hết thảy sắc tướng; diệt trừ hết thảy các tướng đối đãi; không nhớ nghĩ hết thảy các tướng sai biệt; thấy được hư không vô biên, tức đi vào định sắc vô hư không.

6. Vượt qua hết thảy các tướng hư không, đến một cõi không còn thức nữa, tức đi vào định thức vô sắc.

7. Vượt qua hết thảy thức tướng, đến một cõi không còn sở hữu nữa, tức đi vào định vô sắc vô sở hữu.

8. Vượt lên một tầng qua các cõi vô sở hữu, đến một cõi không còn tưởng hay phi tưởng; an ổn trong cõi ấy tức đi vào định phi tưởng phi phi tưởng.

Trải qua các giai đoạn tu định trên đây, hành giả chỉ tùy thuận tu hành theo các pháp, tâm không đắm trước sự an vui của thiền định mà chỉ quyết cầu nguyện đạt đến vô thượng thừa để hoàn thành quả tối chánh giác. Như vậy gọi là Tu huệ.

Bồ-tát theo ba pháp Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ mà tinh tấn điều nhiếp lòng mình, thời thành tựu được “Thông minh tam muội” tức là Thiền Ba la mật.

Lại nữa, Bồ-tát tu định còn phải thực hành thêm mười pháp không chung với hàng Thanh văn và Bích Chi Phật. Mười pháp ấy là những pháp nào?

1. Tu thiền định vì muốn đủ các thiền định của Phật trước hết phải dẹp bỏ ngã chấp riêng biệt.

2. Tu thiền định vì muốn xả bỏ tâm ô nhiễm, không cầu vui riêng cho mình nên không say đắm cảnh vui trong thiền định.

3. Tu thiền định vì muốn biết tâm hạnh của chúng sanh nên đầy đủ các hạnh nghiệp thần thông.

4. Tu thiền định vì muốn độ thoát chúng sanh nên cần phải biết tâm niệm của chúng sanh.

5. Tu thiền định vì muốn dứt trừ sự phiền não ràng buộc cho chúng sanh nên phải tu hạnh đại bi.

6. Tu thiền định vì muốn thiện xảo thấy biết sự nhập định, xuất định vượt ngoài tam giới, nên phải tu hết các thiền tam muội.

7. Tu thiền định vì muốn đầy đủ tất cả các thiện pháp, nên thường được tự tại.

8. Tu thiền định vì muốn thắng hơn các thiền tam muội của nhị thừa nên tâm thường vắng lặng.

9. Tu thiền định vì muốn thoát ngoài thế gian đến bờ cứu cánh nên thường trau dồi trí huệ.

10. Tu thiền định vì muốn hưng thạnh Tam bảo khiến không đoạn tuyệt, nên thường tuyên dương chánh pháp.

Mười loại thiền định như vậy, không chung cùng với hàng Thanh văn và Bích Chi Phật.

Lại nữa, để biết tâm phiền não của hết thảy chúng sanh cho nên tu tập các pháp thiền định, giúp thành tâm an trú, khiến thiền định ấy an trú trong tâm bình đẳng; vì thế nên gọi là Định.

Các loại thiền định bình đẳng như thế, thời bình đẳng với không, vô tướng, vô nguyện, vô tác. Không, vô tướng, vô nguyện, vô tác bình đẳng thời chúng sanh bình đẳng. Chúng sanh bình đẳng thời các pháp bình đẳng. Vào trong chỗ bình đẳng như thế cho nên gọi là Định.

Lại nữa, Bồ-tát tuy hành động thiệp thế nhưng không nhiễm theo đời. Bồ-tát bỏ đời bước vào chánh pháp, cắt đứt sợi dây trói buộc, xa lìa những cảnh huyên náo, ưa thích nơi vắng lặng. Tu hành thiền định như vậy, nên tâm Bồ-tát an ổn bình lặng, luôn luôn xa lìa mọi tác động phiền não của thế gian.

Lại nữa, Bồ-tát thiền định, có đầy đủ thông trí và phương tiện huệ.

Thế nào gọi là thông trí?

Hoặc được thấy sắc tướng, hoặc nghe được âm thanh, hoặc biết được tha tâm, hoặc nhớ được quá khứ, hoặc soi khắp được các thế giới chư Phật, như vậy gọi là Thông. Còn nếu biết sắc tướng tức là pháp tánh, nếu biết rõ âm thanh là do tác động của tâm, nếu thấu suốt tánh tướng đều tịch diệt, ba đời thảy bình đẳng, nếu rõ các cõi Phật đồng với tướng hư không mà không bao giờ thiên về diệt tận; như vậy gọi là Trí.

Thế nào gọi là phương tiện huệ?

Khi vào thiền định, khởi đại từ bi, không xả bỏ thệ nguyện, tâm rắn như kim cương, quán sát thế giới chư Phật trang nghiêm Bồ-đề đạo tràng; như vậy gọi là Phương tiện. Bấy giờ, tâm ấy vĩnh viễn vắng lặng, không còn tướng ngã và tướng chúng sanh, tư duy các pháp bản tánh vốn bất loạn, thấy thế giới chư Phật đồng với hư không, quán đạo tràng đồng với trang nghiêm đồng với tịch diệt; như vậy gọi là Huệ.

Các pháp tu như thế gọi là pháp tu thiền định thông trí và phương tiện sai biệt của Bồ-tát. Thực hành một loạt tất cả bốn việc ấy, tức là đã gần được A-nậu-đa-la Tam-miệu-Tam-bồ-đề.

Bồ-tát tu hành thiền định, vận dụng pháp bất động nên không còn sót lại các tâm. Như vậy tức là đã hoàn thành đầy đủ các pháp Thiền-na Ba-la-mật

 

 

Chỉ Cần Một Điểm Loé Vô Minh Luyện Thành Con Người Đại Trượng Phu - Thiền Lâm Cú Tập

Câu nầy có nghĩa rằng nếu như khai mở con mắt tâm và chuyển tâm cơ thì vô minh cứ như vậy trở thành diệu tướng của chơn Phật.

Có hôm nọ, Tây Hữu Mục Sơn (西有穆山, Nishiari Bokuzan, 1821-1910), bậc cự tượng nghiên cứu về bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng, được người ta nhờ viết bài tán cho bức tranh Đạt Ma và nàng du nữ sắc nước khuynh thành, ông hí hoáy mấy câu sau:

“Chín năm quay vào tường có gì đâu? Ta đây mười năm ưu sầu. Ta đây với tấc lòng thành. Qua tháng ngày với cây đàn. Đàn mà đứt dây ta thành Phật. Làm bạn với khách niệm Di Đà. Độ được hay không nào ai biết. Ấy là chuyện của ông. Ngoài ra chẳng còn gì khác hơn.

Khi Hòa thượng Tiên Nhai (仙厓, Sengai) đi ngang qua khu làng vào ngày đầu năm, có đám người tụ tập rất đông để xem hai vợ chồng đang gây lộn nhau. Sau đó, người chồng mắng vợ rằng:

- Thôi, không chịu nỗi nữa rồi.

- Cứ giết tôi đi còn hơn đánh đập tôi như vậy.

Khi ấy Hòa thượng nhảy ra bảo rằng:

- Nè, nè, cứ giết chết nhau đi! Có gì ta sẽ tiếp độ cho mà.

Nghe vậy hai vợ chồng thôi không gây nhau nữa. Khi ấy truy tìm nguồn gốc vì sao gây ra cuộc cãi vã như vậy, mới biết được rằng do vì nấu thức ăn quá độ, nên bỏ đi hay ăn đã trở thành câu chuyện gây gỗ giữa hai vợ chồng kia.

Ngay lúc ấy, Tiên Nhai viết ngay mấy câu rằng:

“Tuyết trắng núi Phú Sĩ sáng mai tan. Sáng nay nấu đồ ăn cũng tiêu tan. Vợ chồng gây nhau nằm ngủ vẫn mơ màng.”

(Trích trong tập Mỗi ngày một câu Thiền)

Tàn Mộng Tử

biên dịch và chú giải.

 

Trạng thái con người sau khi chết

 Nguyên Liên

Theo quan điểm của Phật giáo, đời sống của một con người chỉ hoàn toàn chấm dứt khi toàn thân lạnh hết. Lúc đó là thời điểm mà thần thức rời khỏi thể xác, giai đoạn này mới được tính là chết. Nếu khi người bịnh vừa mới chấm dứt hơi thở, nhịp tim vừa ngưng đập, nhưng hơi ấm xác thân vẫn còn, lúc này vẫn chưa tính là chết. Bởi thời điểm này, mọi sự cảm thọ của họ vẫn đồng như người đang còn sống, chỉ có điều họ không thể nói năng được mà thôi.

Con người từ đâu đến và chết rồi đi về đâu, luôn là một câu hỏi lớn của nhân loại từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, như trong kinh Lương hoàng sám nói: “Không biết sanh ra từ đâu đến, chết rồi đi về đâu, chỉ biết ngậm ngùi đưa nhau đến đáy huyệt, một lần chia ly là từ biệt vạn đời”. Như vậy, thần thức con người sau khi lìa khỏi xác thân đi về đâu? Quá trình thọ dụng của thần thức trước khi chưa tìm ra chỗ thọ sanh như thế nào? Tâm lý của thần thức trong giai đoạn này ra sao? Đó là những vấn đề chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu.

I. BA TRƯỜNG HỢP SAI KHÁC SAU KHI CHẾT.

Tất cả chúng sanh sau khi chết, tùy theo nghiệp lực sanh tiền tạo tác của mỗi người là  thiện hay ác, mà chết rơi vào một trong ba trường hợp sau.

1. Chết với tâm lành.

Người nào sanh tiền có tín tâm với Tam bảo, tạo nhiều thiện căn công đức, khi sắp mạng chung sẽ tự nhớ nghĩ lại những công đức của mình đã tạo, hoặc do người khác làm cho nhớ lại. Người sắp chết lúc bấy giờ các thiện pháp như tín, tấn, niệm, định, tuệ sẽ hiện hành trong tâm, khiến tâm vô cùng hoan hỷ, an lạc.

Người chết với tâm lành, tâm hoan hỷ, liền thấy những cảnh tượng khả ái, cảnh tượng không rối loạn. Tâm lành, tâm hoan hỷ, khiến thân có những biểu hiện như tinh thần ổn định, sắc mặt vui vẻ, miệng mỉm cười... Nghĩa là khi người đó chết, không có những khổ thọ bức bách nơi thân. Người sắp lâm chung với tâm lành, tâm định tỉnh như thế, sẽ tái sanh về một trong các cảnh giới an lạc.

2. Chết với tâm ác.

Người nào sanh tiền phỉ báng Tam bảo, bất tín nhân quả, tạo nhiều ác nghiệp, khi sắp mạng chung sẽ tự nhớ nghĩ lại những ác nghiệp của mình đã tạo, hoặc do người khác làm cho nhớ lại. Người sắp chết lúc bấy giờ, những ác pháp như tham, sân, si, mạn, nghi sẽ hiện hành trong tâm, khiến tâm vô cùng hoảng hốt, lo âu đầy sợ hãi.

Người chết với tâm ác, tâm rối loạn, liền thấy những cảnh tượng bất như ý, cảnh tượng quái dị, cảnh tượng rối loạn, như thấy các ngạ quỷ cầm dao gậy đến đe dọa... Tâm rối loạn, khiến thân có những biểu hiện hoảng hốt, đau khổ như sắc diện bầm tím, tay chân run rẩy, người xuất đầy mồ hôi, không làm chủ đại tiện, tiểu tiện... Nghĩa là khi người đó chết, phải chịu những cảm thọ đau khổ, những bức bách nơi thân. Người sắp lâm chung với tâm ác, tâm mất định tĩnh sẽ tái sanh vào một trong bốn ác thú.

3. Chết với tâm vô ký.

Người nào khi sanh tiền không tạo nghiệp lành cũng không tạo nghiệp ác, hoặc tạo nghiệp thiện ác ngang nhau, người này lúc sắp mạng chung tâm không nhớ, hoặc không có người khác làm cho nhớ lại nghiệp lực đã tạo. Lúc đó tâm người chết, chẳng phải thiện chẳng phải ác. Do vậy thân thể cũng không có biểu hiện an vui hay đau khổ khi chết.

Bấy giờ, chủng tử trong tàng thức sẽ hiện khởi, nếu chủng tử nào mạnh hơn, hoặc chủng tử nào hiện khởi đầu tiên, thì tâm sẽ nhớ đến, và tùy thuộc vào chủng tử lành hay dữ hiện khởi, mà người chết sẽ tái sanh về một trong các cảnh giới khổ đau hay hạnh phúc, tương ưng với chủng tử thiện hay ác hiện khởi.

Tóm lại, người sắp mạng chung, nếu người tạo nghiệp ác, thức nương tựa sẽ bắt đầu xả từ phần trên, có nghĩa là từ trên đỉnh đầu, cảm giác lạnh theo thân mà khởi, như thế lần xả cho đến chỗ tim rồi xuống dưới. Nếu người tu nghiệp thiện, thức nơi chỗ nương gá sẽ bắt đầu xả từ phần dưới, tức từ dưới bàn chân, cảm giác lạnh theo thức mà khởi, như thế xả cho đến chỗ tim lần lên. Đến khi cảm giác lạnh lan khắp toàn thân, tức thần thức đã lìa ra khỏi thể xác.

II. KHÁI QUÁT VỀ THÂN TRUNG ẤM.

1. Thân Trung ấm là gì?

Tìm hiểu về trạng thái con người sau khi chết là tìm hiểu quá trình sanh hoạt về tâm sinh lý của thân Trung ấm.

a. Ba loại thân.

Mỗi con người chúng ta đều có ba thân, đó là thân Tiền ấm, thân Trung ấm và thân Hậu ấm. Thân Tiền ấm là thân hiện đời chúng ta đang có, là thân vật chất năm hay bảy chục ký lô này. Thân Trung ấm là thân sau khi chết, đang ở trong khoảng thời gian tìm kiếm một thân khác tương ứng để nương gá. Thân Hậu ấm là thân đời sau, tức là thân đã tái sanh vào một cảnh giới khác.

b. Tại sao Trung ấm được gọi là thân?

Đúng theo ý nghĩa của chữ thân là “tích tụ” thì sau khi thân này đã chết và chưa tìm ra chỗ đầu thai, trong giai đoạn này không thể gọi là thân được. Vì trong giai đoạn này chỉ có thần thức mà thôi, chưa có tinh huyết của cha mẹ hòa hợp, và chưa có những nguyên chất khác để tạo thành. Tuy nhiên, trong giai đoạn này có thể tạm gọi là thân, vì nó có đủ sự thấy, nghe, hay, biết… nhưng đó chỉ là cái ảo ảnh do thần thức biến hiện, trong kinh Phật có chỗ gọi là “sắc công năng”, là cái thân do nơi chủng tử của thần thức hiện hành.

c. Các tên gọi sai khác.

Thân Trung ấm còn gọi là thân Trung hữu, Kiền đạt phước (Hương hành), Ý hành, Thú sanh...

Gọi là thân Trung hữu, vì thân này là thân quả báo ở khoảng giữa đời này và đời sau; nghĩa là sau khi rời thân Tiền ấm nhưng chưa thác sanh vào thân Hậu ấm, trong khoảng trung gian đó gọi là Trung, do vì quả báo thân này vốn có chẳng phải không, mà con người ai cũng phải gánh trả nên gọi là Hữu.

Hoặc gọi là Hương hành, do thân này luôn lần theo mùi hương mà đi, ngửi mùi hương để tồn tại, vì vậy đối với người chết khi cúng họ chỉ hưởng mùi hương mà no đủ. Gọi là Ý hành, do thân này lấy ý làm nương gá, để đi tìm chỗ đầu thai. Gọi là Thú sanh, do thân này ở một trong sáu cảnh luân hồi mà có.

2. Trường hợp nào thọ thân Trung ấm?

Thân thể con người vốn do tứ đại hợp thành, do vậy sắc thân khi “chết” là quá trình phân tán của tứ đại, còn phần tinh thần thì không mất mà tùy nghiệp thọ báo. Thần thức của con người sau khi lìa khỏi xác thân sẽ rơi vào một trong hai trường hợp sau.

a. Trường hợp không thọ thân Trung ấm.

Đối với người khi sanh tiền hay tạo các nghiệp nhân cực ác (như ngũ nghịch, thập ác), hoặc người khi sanh tiền đã tu rất nhiều công đức lành (tu mười điều thiện), hoặc người khi sanh tiền có tâm tín sâu, nguyện thiết, một lòng niệm Phật cầu vãng sanh Tây phương, hoặc người có công phu thiền định sâu mầu đã đoạn trừ được Kiến tư hoặc, những người đó sau khi chết không phải thọ thân Trung ấm.

Sở dĩ họ không phải thọ thân Trung ấm, bởi tội phước của họ đã xác định rõ ràng. Những hạng người này ngay khi vừa chấm dứt hơi thở, họ sẽ trực chỉ đọa vào địa ngục A-tỳ, hoặc sanh lên cung trời, hoặc vãng sanh về Tịnh độ của mười phương chư Phật, hoặc chứng đắc các Thánh vị.

b. Trường hợp thọ thân Trung ấm.

Đối với hạng người phổ thông bình thường, khi sanh tiền tuy tạo nghiệp nhưng không rơi vào một trong hai nghiệp cực thiện hay cực ác kể trên. Với hạng người trong tâm họ có nghiệp thiện ác lẫn lộn nên không thể xác định họ thuộc nghiệp ác hay nghiệp thiện, để định sẵn cảnh giới tái sanh tương ưng. Trong trường hợp này, thần thức của những chúng sanh đó phải trải qua giai đoạn thọ thân Trung ấm.

III. CẢNH GIỚI THỌ DỤNG CỦA THÂN TRUNG ẤM.

Chúng ta tìm hiểu cảnh giới thọ dụng của thân Trung ấm qua hai phần là sắc thân thọ báo và tâm lý thọ báo.

1. Sắc thân thọ báo.

a. Hình dáng.

Trung ấm có hai loại là hình sắc xinh đẹp và dung mạo xấu xa. Trung ấm có loại  hai tay hai chân, có loại bốn chân, có loại nhiều chân, hoặc không chân. Đại để Trung ấm chuẩn bị tái sanh về loại nào thì có hình dáng tương đồng với chúng sanh loài đó.

Thân Trung ấm của hàng nhân thiên cõi dục, hình dáng bằng đứa bé năm bảy tuổi. Thân Trung ấm của chúng sanh cõi sắc lớn bằng thân bản hữu và có y phục, vì do có nhiều chủng tử tàm quý. Chúng sanh ở cõi vô sắc không có Trung ấm thân, bởi cõi này không có hình sắc.

Trung ấm chư thiên đầu hướng lên, Trung ấm người, bàng sanh và quỷ nằm ngang mà bay đi, Trung ấm của chúng sanh ở địa ngục đầu chúc xuống.

b. Ánh sáng và màu sắc.

Với người nào có thiên nhãn, nhìn vào ánh sáng phát ra của mỗi người, họ có thể đoán định được tánh chất của người đó là thiện hay ác. Trung ấm cũng thế, tùy theo nghiệp thiện hay ác, mà mỗi loài đều có những ánh sáng phát ra hoàn toàn không giống nhau. Đại để Trung ấm của kẻ tạo nghiệp ác ánh ra sắc đen hay xám như đêm tối, Trung ấm của kẻ tạo nghiệp thiện ánh ra sắc trắng như điện trong sáng.

Còn về màu sắc, Trung ấm của địa ngục sắc đen như than. Trung ấm của bàng sanh sắc nám như khói. Trung ấm của ngạ quỷ sắc đạm như nước. Trung ấm người và trời Dục giới sắc như vàng ròng. Trung ấm của chư thiên Sắc giới rất đẹp, màu tươi trắng sáng tỏ như ánh trăng rằm.

c. Thần lực.

Trung ấm có rất nhiều thần lực. Mắt của thân Trung ấm nhìn suốt xa như thiên nhãn không bị chướng ngại, thấy các Trung ấm khác và chỗ mình sẽ thọ sanh. Tai của Trung ấm rất thính, có thể nghe được những âm thanh cực nhỏ. Mũi của Trung ấm có thể ngửi được những mùi hương xa vạn dặm...

Trong giây phút, Trung ấm có thể bay vòng quanh giáp núi Tu di, lại có thể xuyên qua tường vách núi non không bị chướng ngại. Chỉ trừ hai chỗ Trung ấm không thể vượt qua được: một là bào thai mẹ vì nghiệp lực, khi Trung ấm đã vào rồi thì không thể đi ra được; hai là tòa Kim cang của Phật, do thần lực của Phật, Trung ấm không thể vượt qua được.

d. Thọ mạng.

Thọ mạng tối đa của thân Trung ấm là bảy ngày, nếu quá thời hạn bảy ngày mà chưa tìm được chỗ thọ sanh, Trung ấm sẽ chết đi rồi sống lại. Nhưng trong vòng 49 ngày, Trung ấm cũng sẽ tìm được chỗ thọ sanh. Trung ấm khi chết, do nghiệp lành hay dữ chuyển biến mà đổi thành thân Trung ấm loài khác.

Đại để Trung ấm khi sắp chết, tùy theo nghiệp thiện ác mà trong tâm thấy những tướng sai khác, khiến tâm thức mơ màng dường như trong mộng, bấy giờ khởi lên ý niệm muốn chết để sống lại. Khi chết tùy theo nghiệp mà có cảm thọ khổ vui, và sau đó tiếp tục sanh làm thân Trung ấm khác, để nối tiếp công việc tìm thân nào vừa ý để thọ sanh.

2. Tâm lý thọ báo.

Trong thời gian này, Trung ấm luôn ở trạng thái mờ mịt phiêu phiêu không định. Các ý tưởng buồn vui lẫn lộn làm cho thân Trung ấm luôn từ khổ đau sang hạnh phúc, thay đổi liên tục. Nói chung, thời điểm này tâm thức Trung ấm vô cùng thống khổ và bất ổn. Tựu trung tâm lý của thân Trung ấm có những sự diễn tiến như sau.

a. Hoài nghi, không biết mình đã chết hay chưa.

Thông thường con người sau khi tắt hơi thở, thần thức mới lìa khỏi thể xác, nếu chưa được giải thoát, đều phải trải qua một giai đoạn tối tăm, mịt mù từ ba đến bốn ngày, sau đó mới có cảm giác minh mẫn trở lại.

Trong thời điểm tối tăm, thần thức luôn ở trong trạng thái hoài nghi xen lẫn mơ màng, đắn đo tự hỏi: “Giờ phút này không biết ta đã chết hay chưa?” Đây là trạng thái đối chọi, giằng co giữa hai ý niệm tham sống và sợ chết của con người mà có. Sau khi qua khỏi giai đoạn tăm tối, mới xác định rõ mình đã chết.

b. Hoảng hốt, khi đi vào một thế giới xa lạ.

Khi sống con người đã có sự sinh hoạt với các cảnh quen thuộc, nhưng sau khi chết thọ thân Trung ấm, con người lại tiếp xúc với một thế giới hoàn toàn xa lạ với cuộc sống thường nhật. Ở đó lại có những cảnh tượng quái dị, những âm thanh chát chúa... khiến thân thể bất an, tâm thức hoảng loạn...

 Do vậy, tâm lý Trung ấm luôn sống trong trạng thái hoảng hốt, khi lạc lõng vào một cảnh giới mà mình không biết thực hư như thế nào. Chính sự hoảng hốt này là yếu tố làm cho con người rất dễ đọa lạc vào cảnh giới khổ đau.

c. Sanh lòng quyến luyến.

Trong Di-đà sớ sao dạy: “Ái bất trọng bất sanh Ta bà, niệm bất nhất bất quy Tịnh độ” (ái không nặng không sanh Ta bà, niệm Phật không nhất tâm thì không thể vãng sanh Tịnh độ). Chung quy, tất cả chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay, đều sanh ra từ ái dục, sống trong sự chi phối của ái dục, và cũng từ ái dục mà phải luân hồi trong các cảnh giới. Do ái dục chi phối, con người khi chết thường sanh các tâm niệm quyến luyến.

Hoặc do cảm thương thân phận của mình đã chết, mà sanh tâm đau buồn thương cảm. Hoặc nhân tham luyến vợ con, tài sản mà khó dứt trừ tâm thương yêu trói buộc. Hoặc do các tâm nguyện chưa thành đột nhiên cái chết lại đến, khiến bứt rứt ngồi đứng không yên. Hoặc do oan ức chưa kịp bày tỏ, khiến lòng đè nén bực tức mà không chịu nhắm mắt lại… Tất cả những tâm lý đó đã giày vò, làm cho Trung ấm vốn đã thống khổ lại chồng chất thêm không biết bao nỗi thống khổ khác.

d. Cảnh nghiệp hiện khởi.

Bấy giờ lại do nghiệp lực quá khứ chiêu cảm, lại có những luồng gió nghiệp cực mạnh thổi nát Trung ấm, lại có những ánh sáng chớp lòe như giông tố, khiến cho Trung ấm hoảng hốt sầu lo, lại có những âm thanh vô cùng chát chúa, khiến Trung ấm đinh tai nhức óc, lại có vô số loài ác quỷ hình thù kỳ dị, cầm giáo mác đến đe dọa mạng sống…

Tất cả những cảnh tượng rùng rợn ấy, đều do nghiệp lực chiêu cảm, khiến cho thân Trung ấm sợ muốn ngất, hoảng hốt không nơi nương tựa. Bấy giờ, Trung ấm chỉ mong cầu bà con người sống, tạo phước để cứu giúp mà thôi.

e. Nhận định hào quang.

Lúc đó lại có những luồng hào quang của chư Phật, và ánh sáng của lục phàm phóng đến. Hào quang chư Phật với những đại hào quang rực rỡ và mạnh mẽ, như hào quang sắc xanh chói lòa, hào quang sắc trắng trong sạch, hào quang sắc vàng trong như bóng ngọc, hào quang sắc đỏ mãnh liệt. Còn ánh sáng lục phàm thì yếu ớt hơn.

Ánh sáng của cõi trời thì hơi trắng, ánh sáng của cõi người thì hơi vàng, ánh sáng của cõi A-tu-la thì hơi lục, ánh sáng của cõi địa ngục thì như khói đen, ánh sáng của cõi ngạ quỷ thì hơi đỏ, ánh sáng của cõi súc sanh thì hơi xanh. Trong đó thân Trung ấm tùy nghiệp duyên với cõi nào thì ánh sáng của cõi ấy sẽ rực rỡ hơn. Nhân vì nghiệp duyên bất thiện của kẻ chết, thân Trung ấm phần nhiều chỉ thích ánh sáng của lục phàm hơn.

g. Phán xét minh ty.

Con người khi còn sống, mọi việc làm của mình lành hay dữ đều có ác thần hay thiện thần ghi chép. Thiện thần chuyên ghi các việc lành, ác thần chuyên ghi các việc ác. Sau khi chết, quỷ vương Chủ mạng sẽ tùy theo các việc ghi trong sổ mà tra xét, để xác định tội trạng của người chết.

Khi bị quỷ vương Chủ mạng tra xét tội, phần nhiều con người thường hay chối cãi: “Tôi khi sống không làm những việc đó”. Quỷ vương liền đem gương chiếu nghiệp ra, cho người tội nhìn vào, trong đó mọi việc làm lành hay dữ lúc sanh tiền đều hiện rõ trong gương, tội nhân phải cúi đầu nhận tội. Để rồi quỷ vương Chủ mạng căn cứ vào phước hay tội của người đó, mà đưa đi thác sanh vào cảnh giới khổ đau hay hạnh phúc.

Cổ thi có câu: “Cổ nhân bất kiến kim thời nguyệt, kim nguyệt hà tằng kiến cố nhân”. Người xưa không thấy được vầng trăng ngày nay, người nay cũng không thể thưởng thức được vầng trăng ngày xưa, song vầng trăng đã chứng kiến được bao sự đổi thay của kim cổ. Và nếu gương trăng có được mối suy tư, chắc cũng sẽ tự hỏi: “Không lẽ đời người sanh ra, rồi chỉ biết lo giành giật mưu sinh để rồi chết trong đau khổ, vậy đâu là niềm hạnh phúc chân thật của kiếp người?”

Ưu tư của vầng trăng cũng là nỗi ưu tư ngập tràn của người nào có chút trí tuệ, của người nào không chấp nhận thân phận bọt bèo kiếp người, chỉ sanh ra để đấu tranh sanh tồn, và cuối cùng hoảng hốt mà chết. Tất cả những niềm khắc khoải về thân phận con người và đâu là hạnh phúc cứu cánh của đời người, đều được giải bày dưới ánh sáng trí tuệ của đạo Phật.

Hiểu được trạng thái con người chết như thế nào, và sau khi chết đi về đâu, để thiết lập cho bản thân một cuộc sống có ý nghĩa, có định hướng, là điều chúng ta cần phải tranh thủ làm trong những ngày còn lại ngắn ngủi trên cõi dương thế này.

 

Học theo hạnh của biển cả

 Chánh Niệm

Người khôn ngoan là người luôn thấy được cái hay cái đẹp của mọi thứ để mà học tập. Trên đời này, mọi thứ đều có những cái hay để chúng ta học theo. Biển cả cũng vậy, nó có nhiều đặc tính quý báu mà chúng ta cần phải học. Những đặc tính đó là gì?

Đặc tính thứ nhất là biển cả xuôi dần, nghiêng dần và không có vực thẳm thình lình.

Chúng ta học theo hạnh này bằng cách lần lượt học các pháp từ cạn đến sâu. Có những người chưa chi đã muốn học những pháp rất cao, trong khi những pháp căn bản thì chưa hề biết đến. Trừ chư Phật, Bồ-tát thị hiện nên có thể học thẳng những pháp cao mà không có gì trở ngại, còn phàm phu chúng ta thì tốt hơn hết là phải đi theo thứ tự từ thấp lên cao, từ cạn đến sâu. Chúng ta cần phải học và thực hành những pháp nền tảng trước, rồi mới học và thực hành những pháp cao hơn.

Khi mới vào đạo, chúng ta cần học và thực hành cho trọn vẹn năm giới. Khi năm giới đã được giữ một cách trọn vẹn, không lậu rỉ; lúc ấy chúng ta mới thọ tiếp giới thập thiện, và khi việc giữ giới thập thiện đã được thuần thục thì lúc này ta mới thọ giới Bồ-tát.

Những người xuất gia cũng vậy, khi mới xuất gia thì tập hành trì năm giới, khi năm giới đã được thọ trì một cách chu toàn thì mới nên thọ Sa-di giới, và khi giới Sa-di đã được giữ một cách hoàn thiện thì lúc này ta mới nên thọ trì giới Tỳ-kheo.

Đối với việc học giáo pháp cũng vậy. Lúc mới bắt đầu, ta chỉ nên học những pháp căn bản như nhân quả, nghiệp báo; kế đó chúng ta học sang pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, và sau đó chúng ta mới học tiếp về kinh Bát-nhã, Pháp hoa, Niết-bàn... Có học tuần tự như vậy thì ta mới có thể dễ dàng nắm bắt được nghĩa lý của kinh và tránh được những sự hiểu nhầm tai hại.

Khi giảng dạy cũng vậy, chúng ta nên tùy theo trình độ của thính chúng mà giảng những pháp tương ứng. Đó là chúng ta học về đặc tính xuôi dần, nghiêng dần không có vực thẳm thình lình của biển cả.

Đặc tính thứ hai của biển cả là biển cả luôn cố định và không vượt quá bờ.

Bờ của chúng ta chính là giới luật. Để học theo đặc tính này, chúng ta cần phải giữ gìn giới luật một cách nghiêm chỉnh, không chút tì vết, không bị rách, bị lủng hoặc bị hoen ố. Dù cho phải mất sinh mạng đi nữa chúng ta cũng không nên phạm giới, bởi vì nếu phạm giới thì chúng ta phải chịu khổ sở vô cùng trong hiện tại cũng như vị lai. Làm được như vậy, tức là ta đã học theo hạnh luôn cố định không vượt quá bờ của biển cả.

Đặc tính thứ ba là các sông lớn khi đổ vào biển cả thì liền mất tên trước kia của chúng và đều được gọi là đại dương. Để học theo đức tính này, chúng ta cần đối xử bình đẳng với mọi người trong xã hội. Chúng ta đừng nên thấy người nào giàu có, quyền uy thì tiếp đãi rất ân cần, quỳ lụy, khúm núm trước mặt họ; còn thấy người nào nghèo khổ, cơ hàn thì coi khinh, không thèm nói chuyện. Dù là ai đi nữa, một khi họ đã đến với chùa, đến với chúng ta thì chúng ta đều nên tìm cách giúp đỡ cho họ được giải thoát khổ đau. Chúng ta nên đem hết khả năng của chúng ta ra mà giúp đỡ họ. Nếu họ cần tiền thì ta tùy theo khả năng của mình mà cho họ tiền, nếu họ cần cơm áo thì ta cho họ cơm áo, nếu họ cần ta chỉ cho phương pháp tu tập để giải thoát khổ đau, đạt được an lạc hạnh phúc thì ta giảng giải giáo pháp và chỉ cho họ phương pháp thực tập. Chúng ta phải nên nhớ rằng tất cả mọi người đều có tánh giác, đều có khả năng thành Phật, đều là những vị Phật sẽ thành. Làm như vậy tức là ta đã học theo đặc tính thứ ba của biển cả.

Đặc tính thứ tư của biển cả là tất cả các dòng sông chảy vào biển cả, tất cả các cơn mưa từ trên trời rơi xuống đều không ảnh hưởng gì đến tính đầy vơi của biển cả. Để học đức tính này, chúng ta cần học và tu tập một cách miệt mài, đừng bao giờ có ý nghĩ học như vậy, tu như vậy là quá đủ rồi. Trên thế gian này, không có thứ gì mà chúng ta không phải học. Có học chúng ta mới biết pháp nào tốt nên theo và pháp nào xấu nên tránh. Về việc tu hành tích đức cũng vậy, ngay cả đức Phật tuy đã thành Phật rồi mà cũng vẫn không ngừng làm việc để tích chứa công đức, huống gì là chúng ta. Để học theo đức tính này, chúng ta còn cần phải vượt thắng sự khen chê, không để tâm bị chao đảo bởi sự khen chê, bởi sự thành công hay thất bại, bởi sự được hay mất. Vì sao vậy? Bởi vì tất cả mọi thứ trên đời chỉ là huyễn hóa, giả tạo, thay đổi không thường. Cùng một việc, nay thì có thể được khen nhưng ngày mai lại có thể bị chê. Sự thành công và thất bại cũng vậy, một người hôm nay thành công rực rỡ nhưng ngày mai thất bại là chuyện thường tình ở thế gian này. Ngược lại cũng có rất nhiều người hôm nay tuy thất bại nhưng hôm sau lại thành công. Do đó, người khôn ngoan không dại chi chạy theo chúng mà buồn, mà vui một cách vô ích như vậy. Nếu ta làm được như thế tức là học theo đặc tính thứ tư của biển cả.

Đặc tính thứ năm của biển cả là biển cả chỉ có một vị là vị mặn. Để học theo đặc tính này chúng ta cần phải hồi hướng tất cả các công đức của mình về quả vị giải thoát. Hàng ngày dù làm bất cứ việc gì: từ việc bố thí, phóng sanh, cúng dường Tam bảo cho đến lạy Phật, tụng kinh, tọa thiền, xây chùa, đúc tượng... chúng ta đều hồi hướng công đức của mình đến quả vị Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao vậy? Bởi vì nếu chúng ta không hồi hướng như vậy thì do phước báo mà chúng ta tạo được, chúng ta có thể sanh lên trời, và khi hưởng hết phước mà mình đã tạo thì chúng ta lại phải trở lại làm người hay súc sanh chịu khổ vô cùng. Chỉ khi nào chúng ta được thành chánh quả, tức là thành một vị Phật thì chúng ta mới được thong dong tự tại, muốn đến đâu thì đến, không bị thứ gì ràng buộc và vĩnh viễn thoát khỏi mọi khổ đau. Vì thế chúng ta nên hồi hướng hết thảy các công đức của mình đến quả Vô thượng Bồ-đề, không nên cầu quả vị khác dầu đó là quả trời, người hay Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát. Làm được như vậy tức là chúng ta học theo đặc tính thứ năm của biển cả.

 Đặc tính thứ sáu của biển cả là biển cả chứa đựng rất nhiều châu báu khác nhau như trân châu, lưu ly... Để học theo đặc tính này, chúng ta cần nắm vững tất cả các học pháp như Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát thánh đạo... để khi cần sử dụng một pháp nào cho chính bản thân mình hay cho người khác thì ta đã có sẵn, giống như thọc tay lấy đồ vật trong túi áo của mình. Làm như vậy chính là ta đã học theo đặc tính thứ sáu của biển cả.

Đặc tính thứ bảy của biển cả là biển cả là trú xứ của nhiều loài hữu tình lớn như cá voi, cá mập, A-tu-la, Long xà, Nhạc thần... Để học theo đặc tính này, chúng ta cần mở tấm lòng ta cho thật rộng rãi để bao dung hết thảy mọi người. Dù là người tốt hay người xấu ta đều thương tưởng đến. Chúng ta không nên ghét bỏ kẻ xấu bởi vì những kẻ ấy là những kẻ rất đáng thương. Vì vô minh che lấp, vì tà kiến dẫn dắt mà những kẻ ấy gây ra bao nhiêu việc rất là xấu xa, bỉ ổi để rồi phải chịu quả khổ vô cùng trong một ngày không xa, thật là đáng thương xót. Học theo đặc tính thứ bảy này, chúng ta còn cần có tâm tùy hỷ, không ganh ghét những người tài giỏi hơn ta mà luôn tìm cách hỗ trợ cho những người ấy ngày càng tài giỏi hơn. Làm như vậy tức là ta đã học theo đặc tính thứ bảy của biển cả.

Tóm lại, mỗi người chúng ta đều nên học theo những  đặc tính của biển cả mà chúng tôi vừa trình bày bên trên. Có học như vậy, chúng ta mới có thể mau chóng đạt đến sự an lạc giải thoát trong hiện tại và vị lai.

 

Phật giáo 1000 năm đầu…

 Tâm Phương

Theo thuyết Phân kỳ Phật giáo Việt Nam, 1000 năm đầu là thời kỳ “Câu minh… sở chiếu” trên dòng chảy 2000 năm Phật giáo Việt Nam. Qua đó, nhiều mặt sinh hoạt như dòng phái, văn học, đã góp phần tạo nên chân dung toàn cảnh Phật giáo đương thời. Bên cạnh đó, những chủ đề như liệt kê sự kiện, thuyết phân kỳ, chuyên đề tham luận cũng như thống nhất về cách đặt tên văn bản cũng được nói đến. Nay nhằm giới thiệu cho học chúng Tăng Ni và cũng là tư liệu đóng góp cho việc thực hiện biên soạn khoa giáo lịch sử Việt Nam Phật giáo cho các trường tiểu, trung, đại học Phật giáo. Chúng tôi trình bày chủ đề trên đây gồm những nét chính như sau:

1. Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu, nhìn qua chân dung Dòng-Phái

Có hai thiền phái lớn trên dòng chảy 1000 năm đầu Phật giáo Việt Nam đó là thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và thiền phái Vô Ngôn Thông (Bất ngữ Thông). Ngoài ra còn có thiền phái Khương Tăng Hội (qiàng Sèng Huì) mà người tiếp nối đời thứ 11 của thiền phái nầy là Lôi Hà Trạch, Thầy của Không Lộ (họ Dương) [1]. Tuy nhiên, thông tin nầy cho dù có nhiều sức thuyết phục nhưng chủ đề bàn cãi về nó, cho đến nay vẫn còn chưa ngã ngũ.

Truyền thừa Thiền phái.

- Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi thành hình năm 580 (Canh Tý, Đại Tường 2) 

Tổ mở đạo đầu tiên là Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

Bản doanh buổi đầu của Thiền phái là chùa Pháp Vân.

Tổ thứ hai tiếp nối Tổ đạo là Pháp Hiền (626).

Thiền phái truyền xuống được 19 đời.

- Thiền phái Vô Ngôn Thông thành hình năm 820 (Nguyên Hòa 3). 

Tổ mở đạo đầu tiên là Vô Ngôn Thông.

Bản doanh buổi đầu của Thiền phái là chùa Kiến Sơ.

Tổ thứ hai tiếp nối Tổ đạo là Cảm Thành (860).

Thiền phái truyền xuống được 17 đời.

Tư tưởng Thiền phái

Tư tưởng thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi có tính Thiền-Mật.

Tư tưởng thiền phái Vô Ngôn Thông có tính Thiền thi ca.

2. Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu, nhìn qua chân dung văn học

Bảng thống kê văn học

Tên sách

Tên tác giả

Giải thích thêm

An ban thủ ý kinh chú giải

Khương Tăng Hội

 

An ban thủ ý kinh tự

Khương Tăng Hội

 

Cựu tạp thí dụ kinh

Khương Tăng Hội

 

Đạo thọ kinh

Khương Tăng Hội

 

Đạo thọ kinh tự

Khương Tăng Hội

Đã mất

Đạo thọ kinh chú giải

Khương Tăng Hội

 

Đạo phẩm kinh. Cũng gọi là Ngô phẩm (Tiểu phẩm Bát-nhã)

Khương Tăng Hội

Tiểu phẩm Bát-nhã là loại thành hình sớm nhất trong nhóm Sanskrit Bát-nhã, nó được dịch ở Giao Châu

Lục độ tập kinh

Khương Tăng Hội

Văn hệ  kinh Bát-nhã

Pháp kính kinh

Khương Tăng Hội

 

Pháp kính kinh chú giải

Khương Tăng Hội

 

Pháp kính kinh tự

Khương Tăng Hội

 

Soạn tập bách duyên kinh

Khương Tăng Hội

 

Tạp thí dụ kinh

Khương Tăng Hội

 

Lục độ yếu mục

Khương Tăng Hội

 

Nê hoàn phạm bối

Khương Tăng Hội

 

Sáu lá thư

Thích Đạo Cao + Thích Pháp Minh

420-470

Tá Âm

Thích Đạo Cao

 

Đạo Cao pháp sư tập

 

Đã mất

Tượng đầu tinh xá kinh

Tỳ-ni-đa-lưu-chi

 

Nghiệp báo sai biệt kinh

Tỳ-ni-đa-lưu-chi

 

Tổng trì kinh

Tỳ-ni-đa-lưu-chi

 

Duyên sinh luận

Đại Thừa Đăng

 

Bài Từ Ngọc Lang Qui

Chân Lưu

 

Câu đối với sứ Tống, Lý Giác

Pháp Thuận

 

3.Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu, nhìn qua chân dung sự kiện

Bảng thống kê sự kiện

Năm-tháng

Sự Kiện

247-232 BC

Nhà truyền giáo Phật giáo Asoka có mặt ở Viễn Đông.

200+ BC

Phật giáo có mặt ở Đồ Sơn (Hải Phòng), điều mà cho đến nay còn để lại dấu tích.

Vua Hùng thứ 3

Sư Phật Quang truyền đạo cho Chữ Đồng Tử với Tiên Dung tại núi Quỳnh Vi (cửa Sót).

8-25 AD

Loạn Vương Mãn Trung Quốc, Giao Châu đón nhận làn sóng di cư lớn từ phương Bắc xuống, Giao Châu có bộ mặt trí thức mới.

43+AD

Tùy tướng dưới cờ nhà Trưng (40-43) tìm ẩn thân nương cửa Phật.

180+

Khâu-đà-la (Ksudra-Mecha) đến Giao Châu.

168-189

Cuối đời Linh đế nhà Hán, các bậc “dị nhân phương Bắc lánh nạn chiến tranh tìm sang Giao Châu”.

168+

Mâu Tử học Phật ở Giao Châu.

192

Nhân mùa hạn năm 192, Man Nương giúp Sĩ Nhiếp cầu được mưa, ông đã làm chùa cho Man Nương.

200

Lý Hoặc Luận, một tác phẩm xưa nhất của Phật giáo Viễn Đông.

207

207 Viên Huy-Trần Đức Huy (người Hán) sống ở Giao Châu, gởi lá thư về Hán cho thượng thư lệnh là Tuân Húc, ông ca ngợi Sĩ Nhiếp, nội dung thư có chứa thông tin sinh hoạt Phật giáo Giao Châu.

210+

Chu Phù với Sĩ Nhiếp (195-226) trong việc mở rộng nước Phật qua sinh hoạt đời thường.

200+

Khương Tăng Hội sinh ở Giao Châu.

230+

Khương Tăng Hội dịch kinh ở Giao Châu.

247

Khương Tăng Hội truyền giáo Đông Ngô (Nam Kinh).

247+

Khương Tăng Hội dịch kinh ở Đông Ngô.

248

Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) khởi nghĩa chiếm lại Giao Châu.

251+

Khương Tăng Hội dịch Đạo phẩm kinh (Ngô phẩm).

255

Cương-lương-lâu-tiếp dịch kinh Pháp Hoa ở Giao Châu.

280

Khương Tăng Hội mất

251+

Sự gặp gỡ hai dòng chảy Phật giáo Lạc Dương, Bành Thành với Luy Lâu nhìn qua An Thế Cao, Chi Khiêm, Trần Tuệ với Khương Tăng Hội.

326

Tôn Xước làm bài tán cho bức tranh trước tháp của Tăng Hội.

580

Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Giao Châu.

580 -

Tỳ-ni-đa-lưu-chi dịch Tượng đầu tinh xá kinh. Dịch Tổng trì kinh.

594

Tỳ-ni-đa-lưu-chi mất.

820

Vô Ngôn Thông đến Giao Châu.

981

Đinh Tiên Hoàng bảo trợ thành lập Giáo hội Phật giáo đầu tiên.

986

Thiền sư Pháp Thuận nhận chức Giang lệnh, cải trang làm người chèo đò tiếp sứ Tống Lý Giác đến Đại Việt.

986

Thiền sư Chân Lưu làm bài Từ tiễn sứ Lý Giác nhà Tống về nước.

 

4. Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu, nhìn qua chân dung chuyên đề tham luận

Những bóng mây mờ nghi vấn còn bao phủ trên nền trời giáo sử Phật giáo Việt Nam, thì qua đó, việc trình bày những chuyên đề tham luận về chủ đề liên hệ đã góp phần rút ngắn khoảng cách dã sử với chính sử; truyền sử với lịch sử; khoảng cách sự kiện với sử kiện. Một bản liệt kê chuyên đề tham luận sau đây giúp làm rõ gam màu chân dung toàn cảnh Phật giáo đương thời.

Bảng liệt kê chuyên đề tham luận

Từ “Bách tử đồng sản duyên” đến truyền thuyết “Trăm trứng” về nguồn gốc dân tộc Việt Nam, thời điểm và con đường hội nhập.

Lục độ tập kinh, một kho tàng thông tin Phật giáo Việt Nam thời mới vào chưa được khai thác đúng mức.

Nội hàm Mâu Tử, Lý Hoặc Luận, với phương pháp luận, biện chứng luận, tính chất giáo học, quan niệm Phật học, chân dung chính trị, xã hội Giao Châu thời Tam Quốc, một cái nhìn tham chiếu.

Hiện tượng “trốn việc quan đi ở chùa” sau thời Nhà Trưng 43+.

Tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, một dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa Việt Nam với tín ngưỡng Phật giáo Ấn Độ.

Thiền phái Khương Tăng Hội, những người tiếp nối.

Khương Tăng Hội, chiếc cầu thân thiện kết nối tình hữu nghị Phật giáo Việt-Hoa.

Khương Tăng Hội, người đặt nền tảng pháp lý cho Phật giáo Đông Ngô.

Thiền học Khâu-đà-la, Tu Định với thiền học Giác Hiền [2]-Huệ Viễn (ở núi Lô) trong cách nhìn tham chiếu.

“Phật Tứ Pháp - Phật Nàng Mán - Phật Pháp Vân - Phật Việt Nam” trong tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam.

Từ tính giao lưu trên dòng chảy Phật giáo Luy Lâu, Lạc Dương với Bành Thành đặt lại thời điểm, ngả đường Phật giáo vào Giao Châu.

Ma-ha Kỳ-vực, bậc Thượng nhân đắc đạo trong cái nhìn của Phật giáo Đôn Hoàng.

Phật giáo Trung Quốc từ du nhập đến hội nhập nhìn qua giai thoại “Dĩ hỏa thí kinh” (dùng lửa thử kinh).

Từ thông tin “xuất nhập ô chung khánh, bị cụ uy nghi, ca tiêu cổ xuy, xa kỵ mãn đạo, Hồ nhân hiệp cốc, phần thiêu hương giả, thường hữu sổ thập, thê thiếp thừa truy bình, tử đệ tùng binh kỵ, đương thời quí trọng.” (Sĩ Nhiếp ra vào thì đánh chuông, khánh, đầy đủ uy nghi, sáo thổi, trống gõ, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát theo xe, đốt hương, thường có vài mươi, thê thiếp đi xe màn, con em theo lính ngựa, đương thời quí trọng). Tìm hiểu về quan niệm viết sử của những cây bút quốc sử triều đình.

Tên gọi họ Thích dùng cho người xuất gia có mặt ở Việt Nam từ thời nào.

Từ một sử kiện “Sơ liên Tống cảnh Nam Việt hựu độ chi ngụy” (buổi đầu Ngài đến Nam Việt thuộc biên thùy nước Tống, sau đó vượt sông sang đất Ngụy) ở truyện Bồ-đề-đạt-ma đặt lại vấn đề vị tổ Thiền TôngViệt Nam là ai?

Ảnh hưởng chính trị, tôn giáo chung quanh việc Cao Đế nhà Tề tặng “năm hòm Xá-lợi” cho Pháp Hiền  thiền viện Pháp Vân (Giao Châu).

  

5. Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu, nhìn qua chân dung Phân Kỳ

 (Xem lại bài: Một thuyết phân kỳ cho Phật giáo Việt Nam) [3]

Nhìn chung:

Vài nét lớn tạo thành chân dung toàn cảnh Phật giáo Việt Nam 1000 năm đầu như thế nhằm cung cấp một mô hình cương yếu để qua đó có thể triển khai rộng hơn, phong phú hơn và chi tiết hơn. Một giới thiệu như thế còn cần giúp bổ sung, chỉ dạy từ những bậc thầy, từ những chuyên gia có thẩm quyền mà một trong những bậc thầy, giới chuyên gia, đó là giáo sư Lê Mạnh Thát, người đã giúp chúng tôi có được hiểu biết sử học Phật giáo Việt Nam như hôm nay.

 

[1] Thiền uyển Tập Anh, truyện Không Lộ.

[2] Giác Hiền (Buddhabhadra_Phật-đà-bạt-đà-la) 359-429.

[3] Xem TS Pháp Luân số 4…, tra.

 

Tiếng hú của sói giữa đàn sư tử

Quang Sơn

cao nguyên Hùng Hoàng (Manosilā) có rất nhiều Tỳ-kheo quảng học đa văn và tiếng nói thì lớn như tiếng rống của sư tử. Trong khi giảng pháp ở trước Tăng chúng, giọng nói của họ rất lớn, như thể làm cho sông Ngân hà ở trên trời cũng phải rơi xuống. Khi nghe họ giảng pháp như vậy, Câu-ca-lợi (Kokālika) vì không biết mình là một kẻ bất tài thiểu trí nên mong muốn được giảng pháp như họ. Thế rồi, Câu-ca-lợi đi vào giữa hội chúng Tỳ-kheo, nhưng dẫu có đi vào thì cũng không có ai chấp nhận cho thầy giảng kinh cả, vì thế thầy nói:

- Không ai yêu cầu tôi giảng kinh cả. Nếu có người yêu cầu, tôi sẽ làm việc đó.

Tăng chúng nghe thế thì nghĩ sẽ thử thầy. Họ nói:

- Thưa Pháp hữu Câu-ca-lợi, hôm nay thỉnh thầy giảng cho Tăng chúng một vài bài kinh.

Vị này đồng ý mà không biết sự ngây ngô của mình, và ngày hôm đó thầy đã giảng kinh cho Tăng chúng.

Đầu tiên thầy dùng hết số cháo nấu theo ý muốn, ăn một ít thức ăn và dùng một ít súp mà mình ưa thích. Sau đó vào lúc hoàng hôn, khi tiếng chuông báo hiệu thời giảng kinh được điểm và tất cả Tăng chúng tập họp lại, Câu-ca-lợi mặc hạ y có màu xanh như cây hoa chuông, đắp thượng y màu trắng bạch và đi vào hội chúng, đảnh lễ các Trưởng lão, bước lên pháp tòa đặt bên trong một Chánh pháp đường được trang sức bằng đá quý rất đẹp, tay cầm một cái quạt được trang trí tao nhã rồi ngồi xuống bắt đầu giảng kinh. Nhưng ngay khi đó, mồ hôi bắt đầu đổ ra khắp thân và thầy cảm thấy vô cùng bối rối. Thầy đọc được câu đầu tiên của bài kệ thứ nhất nhưng những câu tiếp theo thầy không thể nhớ được. Thế rồi trong trạng thái bấn loạn, thầy đứng dậy rời khỏi pháp tòa, đi băng qua hội chúng và trở về phòng riêng của mình. Một Tỳ-kheo khác, một người quảng học đã lên thay thầy giảng kinh. Từ hôm đó, tất cả các Tỳ-kheo đều biết Câu-ca-lợi là một người trống rỗng.

Một hôm, các Tỳ-kheo bắt đầu bàn luận việc đó trong Chánh pháp đường:

- Thưa các Pháp hữu, trước đây thật khó biết được Câu-ca-lợi là người thế nào. Giờ đây, thầy ấy vì muốn giảng kinh đã tự thể hiện sự trống rỗng của mình.

Đức Thế Tôn đi vào và hỏi họ đang cùng bàn luận điều gì. Họ bạch sự việc với Ngài. Ngài nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Câu-ca-lợi đã để lộ chân tướng của mình qua việc giảng kinh, mà đời trước sự việc tương tự như vậy cũng đã từng xảy ra.

Nói như vậy xong, đức Thế Tôn kể cho các Tỳ-kheo câu chuyện Tiền thân dưới đây.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) trị vì xứ Ba-la-nại (Benares), Bồ-tát thọ sanh làm một con sư tử, là vua của một đàn sư tử đông đúc. Bồ-tát sống cùng với đàn sư tử ở trong một cái hang Bạc, và gần đó, có một con chó sói sống trong một cái hang khác.

Một hôm, sau trận mưa rào, cả đàn sư tử tập trung lại trước cửa hang của sư tử vương, rồi rống lớn, đùa nhảy như thói quen mà loài sư tử thường làm. Khi chúng rống lên và nhảy nhót như vậy, con sói kia cũng bắt chước cất lên tiếng kêu của mình.

- Đây là tiếng con sói hú lên khi nghe chúng ta rống! Những con sư tử nói.

Rồi cảm thấy xấu hổ, chúng lặng im không rống nữa. Khi cả đàn sư tử im lặng như thế, sư tử con của Bồ-tát hỏi cha:

- Thưa cha, cả đàn sư tử này đang rống lên và đùa nhảy, đã vội im lặng vì quá hổ thẹn khi nghe tiếng con vật kia. Con vật gì mà bằng tiếng kêu của mình đã để lộ chân tướng như vậy?

Và nó đọc lên bài kệ:

Kẻ nào kêu lớn tiếng

Vang dội Đạt-đà-la?

Sao tất cả sư tử

Không rống lại, thưa cha?

Nghe con hỏi vậy, Sư tử vương đọc lên bài kệ khác:

Sói, kẻ cất tiếng kia

Là loại thú đáng khinh.

Sư tử ghét hèn hạ,

Nên ngồi giữ lặng thinh .

* * *

Sau khi kể xong câu chuyện, đức Thế Tôn nói thêm:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Câu-ca-lợi đã để lộ chân tướng của mình qua việc giảng kinh, mà đời trước sự việc tương tự như vậy cũng đã từng xảy ra.

Kết thúc pháp thoại, đức Thế Tôn nhận diện Tiền thân:

- Vào kiếp đó, Câu-ca-lợi là chó sói, La-hầu-la (Rāhula) là sư tử con, còn ta chính là sư tử vương.

(Tiền thân Daddara, số 172, dịch từ bản tiếng Anh)

 

Lời bình:

 

Không ai dám cho rằng mình là một người thông thái biết đủ mọi thứ trên đời. Và cũng không ai dám cho rằng mình là một người tài năng có thể làm được mọi việc. Con người vốn hữu hạn, hữu hạn trong sinh mệnh cũng như trong tri thức và tài năng.

Nhưng đáng tiếc thay, cuộc đời này vẫn có những người không hề nhận ra được điều đó. Họ chưa bao giờ biết mình là ai, chưa bao giờ thấy được sự hữu hạn trong tri thức và tài năng của mình nên cứ lầm tưởng mình là người đầy đủ tài trí, biết đủ mọi thứ trên đời. Cái dốt của con người không hẳn ở chỗ họ biết ít mà ở chỗ họ không thấy rằng mình biết ít. Trong kinh Pháp cú đức Phật dạy: “Người ngu biết mình ngu, nhờ vậy thành có trí, người ngu tưởng mình trí, thật xứng gọi chí ngu.” Vì vậy, khiêm tốn, biết được khả năng thật có của mình là cách sống của một người khôn ngoan, hữu trí.

Trong cuộc sống, đời nào cũng có những kẻ kém tài nhưng lại tưởng mình đa năng, và mỗi khi nghĩ mình tài năng thì họ lại cố khẳng định cho người khác biết. Mỗi khi vô tài mà muốn khẳng định có tài thì việc làm đó trở thành một trò cười cho thiên hạ, nếu không muốn nói là làm cho người khác phải xấu hổ thay. Cả hai phần của câu chuyện Tiền thân trên đây cho ta thấy được điều đó.

Câu-ca-lợi là một người bất tài vô trí. Sự bất tài vô trí đó sẽ không trở thành trò cười cho người khác nếu thầy nhận ra được nó và không có cái “tham vọng” vượt quá sức mình là “thăng tòa giảng kinh”. Cái đáng trách là ở chỗ này chứ không phải ở chỗ thầy bất tài. Cũng như con sói kia, tiếng kêu của nó dầu khó nghe thì cũng không có ai trách cứ gì nếu nó biết an phận đừng bắt chước rống lên tiếng rống sư tử.

Nhưng dẫu sao ở đây, thầy Câu-ca-lợi vẫn còn đáng quý là khi gặp “sự cố” ở trên pháp tòa, thầy đã biết bước xuống để nhường chỗ cho người khác giảng kinh và lòng vô cùng hổ thẹn khi trở về phòng riêng. Chừng đó thôi thầy cũng đã hơn rất nhiều người vì cuối cùng thầy nhận ra được mình là ai. Còn trong cuộc sống thực tế, có những người không thể được như thầy. Có những kẻ bất tài vô trí nhưng cứ nghĩ rằng mình thực tài hữu trí, để rồi dương dương tự đắc, xem trời bằng vung. Thiên hạ có chê cười cũng không hề thấy, hoặc có thấy cũng bất chấp. Rồi mỗi khi họ có cơ may được “thăng tòa”, dù chẳng làm được gì khi ngồi trên tòa đó, vẫn cứ ngồi ì như thế, không thèm biết người ta có nghe mình, phục mình hay không. Những người như thế mới thật đáng thương làm sao!

Qua câu chuyện trên, chúng ta rút ra được bài học: hãy khiêm hạ và biết lường sức mình trước khi làm một công việc gì.

 

Sâu kiến tranh hùng

Những chú sâu tha hồ tự tung tự tác với những chiếc lá non mà không bao giờ chú gặp bất cứ một sự đối kháng nào, bởi vậy những chú sâu luôn luôn kiêu hãnh về sức mạnh tàn phá của mình và có cảm giác rằng, mình là đấng anh hùng trong thiên hạ. Một hôm những chú sâu ăn chơi bất kể đối với những chiếc lá non, bất chợt lại có những chú chim sẻ xuất hiện làm cho những chú sâu khiếp đảm, bò vội vã tìm những chỗ ẩn khuất, nhưng chẳng có chỗ nào để cho những chú sâu ẩn núp cả, vì những chiếc lá non đã bị những chú sâu tàn phá sạch, chỉ còn lại những cọng xương khô mà thôi, bởi vậy mà những chú sâu chẳng còn bất cứ chỗ nào để nương thân và cũng chẳng có sức mạnh gì để chống trả lại với những chú chim sẻ. Những chú chim sẻ tha hồ tự tung tự tác đối với những chú sâu và hết sức kiêu hãnh về sự có mặt và sức mạnh của mình, những chú chim sẻ reo mừng, hát ca và tha hồ nhảy nhót với những chiến thắng, bất chợt đang vui trong chiến thắng, những chú chim sẻ nhìn xuống, thấy đôi mắt của những chú mèo đang rình rập và mở thật to, chuẩn bị nhảy tới vồ lấy mình; rồi phía sau lưng của những chú mèo là những chú chó đang rón rén rình rập; và sau lưng của những chú chó lại là những chú người chuyên gia ăn thịt chó đang rình rập; rồi sau lưng những chú người lại là những chú cọp đang rình rập và sau lưng những chú cọp thì có mặt của những chú chó sói, và sau lưng những loài lang sói là những con quỷ dữ hữu hình và vô hình. Cứ như vậy, những chú chim sẻ thấy từ đời sống của những chiếc lá non, những chú sâu cho đến đời sống của những chú chó, chú mèo và ngay cả đời sống của con người và quỷ dữ đều chẳng có loài nào an toàn cả, loài nầy đang rình rập những sơ hở của loài kia, và loài kia đang tìm cách chống đỡ để thoát khỏi những nanh vuốt hãi hùng của loài nầy, loài nào cũng đầy lo âu và sợ hãi, nhưng loài nào cũng tìm cách tranh nhau để sống, thanh toán nhau để tồn tại, mạnh được yếu thua, mà sự thiệt hại nhất là những chiếc lá xanh non vô tội, chúng đã bị cột chặt ở nơi những cuống lá; những cuống lá lại bị cột chặt nơi những cành cây; những cành cây bị cột chặt ở nơi thân cây; thân cây bị cột chặt bởi những rễ cây và những rễ cây bị cột chặt bởi những sinh chất mầu mở trong lòng đất, chúng đã bị cột chặt nhau với sự sống liên hệ chằng chịt như thế, làm sao những chiếc lá non có được tự do để quyết định lấy vận mạng sinh tồn của mình, khi gặp phải những sự tấn công từ những phía khác! Chao ôi, những chú chim sẻ đã có những suy nghĩ như vậy, sau những chiến thắng lẫy lừng của mình đối với những chú sâu!

Những chú sâu đã tự tung tự tác với những chiếc lá non, nhưng khi những chú chim sẻ xuất hiện, các chú sâu loáy hoáy bò tìm chỗ trốn, những lá non giờ chỉ còn là những cọng khô trơ trụi, những chú sâu không còn chỗ ẩn trốn bị những chú chim sẻ xé xác, banh thây và có những xác chú sâu rơi xuống đất, các chú  kiến gọi nhau báo tin mừng, rồi nào là kiến to kiến nhỏ, lập đội, lập đoàn tạo thành mặt trận kéo đến banh xác chú sâu, con thì cắn trên đầu, con thì cắn giữa bụng, con thì cắn hai bên hông, con thì cắn dưới chân, chúng ăn thịt chú sâu một cách thỏa thích, no nê. Sau đó, các chú kiến chung nhau kéo xác chú sâu còn lại về tổ của mình để cất giữ làm lương thực cho ngày mai, nhưng sáng mai tất cả những chú kiến trong ổ, từ kiến cha đến kiến mẹ, từ kiến ông đến kiến bà, từ kiến chồng đến kiến vợ, từ kiến thầy đến kiến thợ, từ kiến nam đến kiến nữ, từ kiến dân đến kiến quan cho đến kiến vua đều ngã lăn ra chết, vì môi trường của chúng đã bị nhiễm chất độc của sâu. Tất cả vua quan dân chúng của kiến đều bị chết sạch, chỉ vì chúng tham lam chiến thắng và muốn hưởng thụ sự chiến thắng trên xác chết của một chú sâu.

Than ôi! Sâu chết thì kiến cũng chết, lá non chết thì sâu cũng chết… mọi loài tranh nhau để làm anh hùng, nhưng chưa có loài nào tranh nhau để chiến thắng sự chết và sự khổ đau; mọi loài đang tranh hùng với nhau, nhưng thần chết và thần khổ đau, chẳng thèm tranh hùng với mọi người và mọi loài, thế mà mọi người và mọi loài đều đến quỳ gối và cúi đầu trước thần chết và thần khổ đau một cách run rẫy và hèn mọn!

 

Lối về

Quỳnh Sa

- Chào cô!

Nghe có tiếng người, cô xếp sách lại, nhìn lên.

- Cô có nhận ra con không?

Cô đưa tay đẩy gọng kính, ngước nhìn người thanh niên đang đứng trước mặt. Cô cố lục tìm trong kí ức nhưng rồi không hề nhớ ra một nét gì quen thuộc ở con người này.

- Con là Quân, “Anh Hai xóm Chợ”, hôm trước chận đường cô đi học về, cô nhớ không?

Cô giật thót người và nhìn quanh cố tìm một ai đó đi qua. Cô rất sợ khi nghe hai tiếng “Anh Hai xóm Chợ” nổi tiếng quậy phá nhất vùng, đàn anh của một nhóm chuyên lục lọi các ngõ ngách để cướp phá, trêu chọc đám con gái, hăm he dọa nạt những khách vãng lai nếu họ không đưa tiền cho chúng. Mắt cô hoa lên, tay chân run rẩy. Người thanh niên dường như đọc được suy nghĩ của cô, anh giải thích :

- Thưa cô! Hôm nay con đến là để xin lỗi cô. Hôm đó trời tối quá, con tưởng là “đối tượng” đã đến, không ngờ lại làm cô sợ!

Nghe giọng người thanh niên có vẻ thành thật. Những “kí ức” xưa lại hiện về.

Hôm đó cô đang dắt xe dò tìm để khỏi đụng ổ gà vì chùa cô nằm sâu ở phía trong, từ đường lộ đi vào phải qua một khoảng đất trống. Trời tối om, cô đang loay hoay dắt xe qua mấy ổ gà, bỗng:

- Đứng lại!

Có tiếng la lớn, giọng khàn khàn. Cô ngước nhìn lên! Một đám thanh niên lớn có, nhỏ có đang chặn trước đầu xe. Cô sợ điếng người, không kêu lên được. Chúng đi vòng quanh quan sát một hồi, đoạn một đứa nảy giờ vẫn đứng từ xa, lên tiếng:

- Cho nó đi!

Được “trả tự do”, cô dắt xe chạy như ma đuổi. Đến chùa, cô mở cổng dắt xe vào, khóa cổng vội vã và chạy nhanh lên phòng. Thấy mặt cô tái nhợt, môi run lên, cô bạn chung phòng cuống lên hỏi dồn :

- Có chuyện gì vậy chị? Nói em nghe đi!

Nhưng hình ảnh đám thanh niên và nỗi lo sợ đã làm miệng cô cứng lại, không nói được lời nào. Mãi đến sáng hôm sau cô mới hoàn hồn…

Nay “Anh Hai xóm Chợ” lại đến tìm cô, có chuyện gì đây? Cố nén sự sợ hãi, cô lấy bình tĩnh và hỏi.

- Thế chú đến đây có việc gì?

- Con muốn về chùa cô à! Người thanh niên đáp. Con chán cảnh quậy phá cướp giật lắm rồi! Mấy hôm nay ngày nào con cũng đến chùa, thấy lòng vui lắm. Con muốn quên đi thân phận đọa đày của đời mình và được đến đây hằng ngày. Nghe người ta nói vào chùa không được nói dối nên con mới trình bày với cô như vậy!

Người thanh niên nói một hơi dài như sợ cô sẽ bỏ đi. Nhưng không, cô đã lắng lòng và nghe rất rõ, rất sâu những gì anh ta nói. Tự dưng cô cảm thấy tội nghiệp cho anh ta, định nói một vài lời gì đó để chia sẻ nhưng lại thôi. Cô im lặng một lúc rồi nói:

- Cửa chùa luôn từ bi và rộng mở. Nếu chú thấy đến chùa đem lại điều hay lẽ phải cho bản thân thì hãy đến.

- Dạ! Con cảm ơn cô.

Vậy là đã gần một năm từ ngày Quân quy y. Anh đến chùa làm công quả thường xuyên, đều đặn và hình như không vắng hôm nào, dù trời nắng hay mưa. Quân thực tập giỏi, anh biết ngồi thiền, niệm Phật, biết lắng nghe và nói lời hòa ái thương yêu, thay vì nói cộc lốc khô khan, không đầu không đuôi như ngày nào. Nhìn Quân thay đổi như một con nhộng xấu xí đang lột xác để hóa thành một chú bướm xinh xắn, cô thấy vui lây và thầm cầu nguyện cho Quân luôn sống được như thế. Nhưng việc đời không đơn giản như ta nghĩ, tất cả mọi chuyện không thể kết thúc êm ả nếu chúng ta chưa được giải quyết ổn thỏa, và với Quân cũng vậy. Quân chưa thể sống bình yên nếu cái quá khứ ngày xưa vẫn còn đeo bám anh. Quân không thể trốn chạy thực tế khi sự thật vẫn đang diễn ra trước mắt…

Thế rồi cái ngày Quân không mong đợi cũng đã đến. Hôm đó cô đang soạn bài, nghe có tiếng chân người đến, cô nhìn lên. Quân đang đứng đó với vẻ mặt ưu tư lo nghĩ.

- Thưa cô! Con muốn hỏi cô chuyện này, có được không cô?

Cô đặt viết xuống :

- Chuyện gì thế Quân?

Quân ngập ngừng :

- Bọn nó không tha cho con cô ạ! Chúng vừa phát hiện con đến chùa, chúng không chấp nhận và hẹn tối nay gặp con. Bây giờ con phải làm sao hả cô? Con có nên đến nơi hẹn không? Con có nên đụng mặt với bọn nó không hả cô?

Quân nói trong nước mắt. Quân khóc thật nhiều, những giọt nước mắt hệ quả của một đoạn đường đày ải trong quá khứ! Quân nghẹn lại, không thể nói tiếp được. Nhìn Quân, cô thấy thương cảm vô cùng! Cuộc sống quả thật không đơn giản chút nào, cây muốn lặng mà gió chẳng chịu ngừng. Nhìn Quân khóc đồng thời chứng kiến sự quay đầu và khát vọng lương thiện của Quân, cô thấy mình nên giúp Quân trong lúc này. Im lặng vài phút, cô nói:

- Quân à! Cô biết Quân khó xử trong lúc này, nhưng quý cô đã dạy Quân nhiều về hạnh nhẫn nhục và thương yêu, bây giờ cô muốn Quân thực hành. Cô tin Quân sẽ làm được điều đó! Quân không bị thiệt thòi đâu!

Quân dạ rồi đi nhanh ra cổng. Cô nhìn theo, thầm cầu nguyện cho Quân được bình an.

Tối hôm đó, Quân đã bị đánh gần như liệt. Chúng cột hai tay Quân vào hai gốc cây. Quân im lặng và chịu đựng mặc cho bọn chúng hành hạ đánh đập thỏa thích. Chúng lại dùng dao khứa lên người Quân, máu chảy thành từng hàng dài. Nhìn anh Hai bị xử tệ, một vài đứa đàn em của Quân không chịu nên báo công an. Công an đến và kịp thời đưa Quân vào bệnh viện.

Vậy là cuối cùng Quân cũng đã có được một lối về. Cuộc đời không bao giờ đưa con người ta vào chỗ bế tắc nếu chúng ta luôn khát khao tìm đến những điều lương thiện. Có những người đôi lúc họ sống mặc cảm và liều lĩnh, nhưng bên trong sự lạnh lùng chán đời ấy vẫn có hạt giống của khát vọng thương yêu, hạt giống của lương thiện. Hãy thương yêu và tha thứ cho nhau để cuộc đời này vơi bớt đi sầu khổ

 

Ý thức bình minh

Hạnh Phương

Mỗi sớm mai khi vừa trở giấc, trong trạng thái bâng khuâng mơ màng giữa mộng và thực, giữa sự sống và cái chết, giữa lãng đãng chiêm bao và trần trần hiện thực…, ngay giây phút đầu tiên ấy của một ngày, chúng ta hãy bắt đầu lôi kéo tâm thức chúng ta, quy hướng sáu căn, tám thức chúng ta vào một đường hướng rõ ràng, cụ thể, dứt khoát. Đoạn tuyệt với phân vân, nghi tình, huyễn hoặc; rướn người duỗi thẳng hai chân, trở mình nằm ngửa, hai tay chấp lên giữa ngực, tư thế hoa sen đang nở, đánh thức dậy lòng khát khao ngưỡng mộ chào đón ánh bình minh huy hoàng, chào đón rạng đông rực rỡ đang ùa tới quanh ta. Nàng công chúa Bình Minh với đôi tay mầu nhiệm đang ban phát ánh sáng, đang chan rưới nguồn hồng ân sự sáng và sức sống dạt dào cho ta và tất cả vạn vật muôn loài chung quanh ta.

Quán chiếu hiện tại, trước mắt chúng ta đang có từng giây, từng phút, trong veo, an lạc, hạnh phúc. Sự sống, sức sống tưởng chừng tê liệt, im lìm trong giấc đông miên lung linh mầu ảo đang hồi sinh nhịp nhàng, nguồn sinh lực trong veo thuần khiết của vũ trụ đất trời cuồn cuộn trào dâng, ùa về… dâng hiến chúng ta.

Ngay giữa từng phút giây trong lành, óng ánh, thơm tho, những giây phút đẹp nhất trong ngày của đời người, chúng ta cần đánh thức dậy lòng biết ơn vô tận, lòng ngưỡng mộ vô biên đối với Tam bảo: với Phật, với Pháp, với Tăng.

Việc cụ thể cần làm ngay, làm lập tức không chậm, không trễ là quán niệm quy- y Tam bảo, trở về nương tựa Ba ngôi tối thượng. Chúng ta chí thành chí thiết đọc những câu kinh Pháp Cú này từ ba đến mười lần, càng nhiều hơn nữa càng tốt:

“Nương dựa vào Phật

Nương dựa vào Pháp

Nương dựa vào Tăng

Nương dựa như vậy

Thì có một sự

Thấy biết chính xác

Thấy biết chân lý

Gồm đủ bốn chi

Của lời Phật dạy”.

(PC 190 - Trí Quang thượng nhân dịch)

Điều quan trọng nhất là chí thành chí thiết bày tỏ cho được lòng quy kính ngưỡng mộ cao rộng vô biên, sâu đậm vô cùng đối với Tam bảo. Khởi lên được tâm niệm nương dựa Tam bảo như vậy chúng ta thấy ngay được hiệu ứng tức thì, thành quả tất yếu của  việc chúng ta đang làm:

"Nương dựa Tam bảo

Mà được như vậy

Thì là an toàn

Thì là tối thượng

Vì sự nương dựa

Tam bảo như vậy

Thì làm cho ta

Thoát khỏi lo phiền"

       (PC 192 - Trí Quang thượng nhân dịch)

Chúng ta ý thức lập tức lòng quy kính vô biên đối với Tam bảo. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng và nhận thức rõ ràng, thấy rất rõ ràng hồng ân Tam bảo trong từng sát na, từng giây phút bao trùm phủ khắp chung quanh sắc thân ngũ uẩn chúng ta, tâm thức chúng ta.

Chúng ta phát khởi niềm tin chân chánh tuyệt đối rằng không có hồng ân Tam bảo chở che thì mình đã khó có nhân duyên tốt đẹp, chẳng có đủ công đức để được đầu thai làm người.

Không có túc duyên tốt đẹp, không có công đức có thể chúng ta đã là trâu ngựa rắn rít, có thể đã là sâu bọ côn trùng, có thể đã là cánh phù du mỏng manh, con đôm đốm lập lòe giữa trường dạ vô minh, hằng hà sa số kiếp biết đâu là bến bờ giác ngộ.

Thân người khó được, nhờ hồng ân Tam bảo ta có được thân người, được sống đến hôm nay, được sống đến bây giờ, được thực tập hạnh từ bi, mở lòng thương yêu vô tận đến muôn vật muôn loài. Rồi mai kia ngước nhìn trời xanh mây trắng, nhắm mắt ra đi, chúng ta sẽ được chết trong sự trong sáng, nhẹ nhàng, thanh thản, không lo âu sợ hãi, không ma đưa lối, không quỷ đưa đàng… Chỉ có hào quang chư Phật trùm phủ lấy ta.

Thắp sáng ý thức bình minh như thế từ giây phút đầu tiên của mỗi một bình minh, chúng ta đã có một thứ hành trang cụ thể cho chúng ta cất bước lên đường thể hiện cuộc sống. Đi vào ngay với hành trang mầu nhiệm ấy, mỗi 24 giờ từng ngày của chúng ta sẽ là 24 giờ tinh khôi, 24 giờ trong veo, óng ánh như kim cương, như châu ngọc. Và ta có quyền vốc lấy từng vốc đầy ắp trong hai bàn tay chúng ta

 

Chân thường giữa dòng biến dịch

Mặc Không Tử

Bốn mùa luân chuyển, hoa nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết… Dòng biến dịch đẩy xô con người đến tận cùng hoang vu, thinh lặng. Người lữ khách mãi lang thang, ruổi rong muôn vạn nẻo, lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa, xem sông núi mây ngàn là tri kỷ tri âm, chợt một ngày bước chùn gối mỏi, ngẩn ngơ bên quán trọ trần gian. Ôi! Áo sờn vai bạc đầu.

Biển đời vẫn lặng lờ trôi. Từng con sóng nhấp nhô, rì rào, vỗ về bờ cát trắng đã cuốn đi biết bao hạt cát vào lòng bể khơi. Có bao giờ ta tự hỏi: Sóng sẽ về đâu? Hạt cát còn hay mất giữa đại dương mênh mông? Còn điều gì lung linh, mầu nhiệm bên trong lớp áo vô thường, biến dịch?

Kiếp người, với khoảng thời gian bất định 60 năm-một cuộc đời, có thể hơn thế nữa và cũng có thể chỉ 20 năm, 10 năm… Có người chưa một lần nếm đắng cay bùi ngọt mà cuộc đời ban tặng đành chịu vùi xác thân dưới lòng đất sâu, đêm đêm nghe côn trùng rả rích.

Với con  mắt Tuệ, các vị Thiền sư đã nhìn vào lòng vạn vật. Bằng âm sắc thi ca, bằng hình tượng nghệ thuật, các Ngài đã thức tỉnh chúng ta, chỉ cho chúng ta biết sự mong manh của kiếp người. Thân người chỉ như bóng chớp, như lá cỏ:

“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn vật xuân vinh thu hựu khô”.

(Thân như bóng chớp chiều tà

Cỏ Xuân tươi tốt, thu qua rụng rời)

(Vạn Hạnh Thiền sư)

hay:

“Thân như tường bích dĩ đồi thì

Cử thế thông thông thục bất bi”.

(Thân như tường vách thuở lung lay

Ai chẳng thương tình cuộc đổi thay)

(Viên Chiếu Thiền sư)

Chúng ta cứ mãi lo tô điểm cho cái thân giả hợp này. Đâu biết rằng, thân thể chúng ta giống như tường vách lung lay, xiêu vẹo, không biết sẽ sụp đổ cuốn đi lúc nào trước cơn lốc vô thường.

Thân người vô thường, lúc còn là một Thái tử, đức Phật đã nghĩ đến vô thường khi nhìn Da-du-đà-la: “Chúng ta rồi sẽ già yếu và xấu xa. Thời gian sẽ phủ lên đầu những lớp tro bạc. Ôi! Mắt trong của em rồi sẽ mờ đục. Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu. Ta nghe trong ta, trong em và trong tất cả mọi người mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian. Chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng, như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt một làn hương”.

Về hoàn cảnh vô thường, gợi cho ta nhớ câu “thương hải tang điền”. Biển xanh một ngày nào đó trở thành bãi dâu. Mọi việc, được-mất, hơn-thua, phải-trái, ở đời rơi rụng theo hoa buổi sớm, lợi danh cũng như trận mưa rào qua đêm.

“Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn”.

(Phải trái rụng theo hoa buổi sớm

Lợi danh lạnh với trận  mưa đêm)

(Trần Nhân Tông)

Tất cả các hiện tượng, hành động tạo tác, tập hợp bởi sắc và tâm không thường còn. Chúng không đứng im nhất định mà luôn ở trạng thái biến động, dịch chuyển vô tận. Sinh diệt diễn tiến mãi. Tâm ta thay đổi không ngừng, mỗi niệm mỗi khác theo dòng chảy của thời gian. Một Thiền sư có viết:

“Tâm như chàng họa sĩ

Vẽ ngũ ấm thế gian

Tất cả thế giới kia

Do tâm mà tạo tác”.

Chung quy, tất cả đều tuân theo định luật hòa hợp - ly tán vô thường. Vì chúng là huyễn chất, giả hợp, duyên hợp. Đây là một định luật bất biến, một chân lý hiển nhiên “Tất cánh như thị vô thường”. Dù đức Phật nói hay không nói, giác ngộ hay chưa giác ngộ, nó cũng hiện hữu trên cuộc đời mãi mãi, bởi vì bản tính nó vốn như vậy.

Khi ta hiểu vô thường trong giáo pháp tương tức tương nhập thì đích thực vô thường là vô ngã. Chúng tuy hai mà một. Khi đứng về phương diện thời gian là vô thường - sanh, trụ, dị, diệt; khi đứng về không gian là vô ngã-thành, trụ, hoại, không. Ngã tính là đồng nhất. Vô thường là tính thay đổi. Một khi cái gì thay đổi thì nó không còn tính đồng nhất của nó. Do đó, nó vô ngã. Nhận chân được điều này nên các Thiền sư thong dong, tự tại giữa cuộc đời:

“Nhược đạt tâm không vô sắc tướng

Sắc không ẩn hiện nhiệm suy di”.

(Thấu lẽ tâm không, không sắc tướng

Sắc-không ẩn hiện mặc vần xoay)

(Viên Chiếu Thiền sư)

Mặc dù, sống trên thế gian đầy rẫy những cạm bẫy, cám dỗ bởi danh lợi, tài sắc… nhưng tâm các Ngài vẫn bình lặng, không vướng mắc trần lụy:

“Tâm khôi ra giác mộng

  Bộ lý đáo thiền đường”.

(Nguội ngắt lòng danh lợi

 Am thiền rảo gót qua).

(Trần Quang Triều)

Các Thiền sư vẫn lặng yên nhìn ngắm cuộc đời lắng nghe một sự hòa điệu sâu xa giữa ta và vạn vật:

“Như kim khám phá đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng”.

(Chúa xuân nay đã từng quen mặt

Nệm cỏ ngồi yên ngó rụng hồng)

(Trần Nhân Tông)

Khi dùng chìa khóa vô thường và vô ngã để mở cửa thực tại thì chúng ta có cơ hội tiếp xúc được bản thân thực tại nhiệm mầu, đó là Niết-bàn. Niết-bàn có mặt ngay bây giờ, chứ không phải là một đối tượng tìm kiếm ở tương lai. Ngay trong ta, trong mọi vật đều có bản tính thanh tịnh. Bên trong lớp áo vô thường vốn chứa sẵn cái chân thường. Đó chính là:

“Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”.

(Đêm  qua sân trước một cành mai)

(Mãn Giác Thiền sư)

Hay:

“Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn”.

(Xuân cỗi còn dư một tiếng chim)

(Trần Nhân Tông)

Vận dụng Tam pháp ấn hay Tam giải thoát môn vào trong đời sống, ta tiếp nhận và hành trì kinh điển, dùng trí tuệ để quán sát và phân biệt. Từng bước cởi bỏ ái nhiễm, đoạn tận khổ đau thì đó là Hữu dư y Niết-bàn. Diệt hết phiền não, bỏ xả thân này không còn tái sanh, đây là Vô dư y Niết-bàn

Bởi vì Niết-bàn không hạn cuộc, nó vô tướng, vắng lặng và tịch tĩnh, biến khắp cả pháp giới, nên gọi là vô trụ xứ Niết-bàn. Vô trụ, vô sở trụ là cõi pháp vô tận của Như Lai “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.

 

Phật pháp với tuổi trẻ: Bước đầu làm quen với Thiền

Kính thưa quí vị và các bạn,

Ðối với các bạn trẻ, đạo Phật rất hấp dẫn vì tính cách khoa học và khai phóng của nó; không giáo điều, thần bí và “độc tài” như ở vài tôn giáo khác. Tuổi trẻ luôn tìm hiểu Phật pháp bằng cách tham gia vào những sinh hoạt tu học, cũng như tham dự những khóa tu do các vị Thiền sư hướng dẫn. Tuy nhiên, mấy chữ “tu Thiền”, “tu Tịnh độ”, “Tu Mật tông”… đối với họ vẫn còn mới mẻ và cao siêu quá, cho nên những người Huynh trưởng có bổn phận giải đáp những câu hỏi rất cần thiết nhưng đôi khi hơi ngây ngô của các em - cũng là huynh tưởng nhưng HTr. trẻ, chưa thông hiểu những ngôn ngữ Thiền, Tịnh, Mật, v.v…

Hôm nay chúng tôi xin mời quí vị và các bạn cùng chúng tôi tham dự một buổi hội thoại bỏ túi giữa anh chị em Huynh trưởng GÐPT, tạm gọi tên là A, B, C (A là H.Tr lớn, thông hiểu danh Phật pháp hơn hai em B và C). 

B: Thưa Anh, kỳ vừa rồi, em nghe mấy bác nói “tôi tu Thiền” hay “tôi tu Tịnh Ðộ”… em không hiểu; vì anh chị dạy chúng em “tu là sửa”. Vậy thì các bác sửa Thiền và Tịnh Ðộ sao?

C: Thiền và Tịnh Ðộ thật ra là gì? Tại sao phải sửa? Ai thì có thể sửa được?

A: Thong thả đã, anh trả lời B trước rồi mới đến câu hỏi của C nha!

B&C: Dạ, dạ!

A: Ðúng vậy, Thiền và Tịnh Ðộ là hai cách tu, nói đúng hơn là hai pháp môn trong rất nhiều pháp môn tu của Phật giáo; nói nôm na là hai cánh cửa trong rất nhiều cánh cửa để vào Ðạo, vào Phật pháp. Như vậy, các bác đã nói “tắt”, đáng lẽ ra phải nói: “tôi tu theo pháp môn Thiền”, hay “tôi tu theo pháp môn Tịnh độ”. B, em hãy nói cho C biết Thiền là gì?

B: Thiền là thiền định (Meditation, Concentration - Zen) là tập trung tư tưởng, chú tâm về một đề mục nào đó, một việc gì đó. Ví dụ em tập trung tư tưởng vào việc đếm hơi thở hay vào việc quan sát tượng đức Phật Thích Ca (hay đức Phật A-di-đà, đức Quán Thế Âm, v.v...). Còn Tu là gì? Bạn (C) hãy nói đi!

C: Tu là sửa, sửa những thói hư, tính xấu như tính tham lam, tính hay giận dữ, hay nổi nóng… Những tính xấu đó làm cho chúng ta trở nên khổ sở, bất an, phiền não; và đó là những hạt giống xấu đã được huân tập từ muôn ngàn kiếp trước rồi. Bây giờ chúng ta tu là để loại trừ những hạt giống xấu đó và gieo vào tâm ta những hạt giống của sự vui vẻ, hiền hòa, bình tĩnh, từ bi…

A: Như vậy là các em nắm được vấn đề chính yếu. Tu là sửa những thói hư tật xấu, và tu Thiền hay tu Tịnh độ là sửa theo cách dạy, theo phương pháp của Thiền tông hay của Tịnh Ðộ tông.

B: Em nghe anh nói tu có nghĩa là “sửa” và cũng có nghĩa là “chuyển hóa” phải không? Xin anh cho chúng em ví dụ để hiểu rõ hơn.

A: Như chúng ta đã biết, phiền não hay giận dữ không phải ở luôn trong tâm chúng ta. Chúng chỉ là “những đám mây đen” hay “những cơn mưa giông” kéo ngang qua “bầu trời Tâm yên tĩnh”. Như vậy, khi ta biết dùng trí tuệ để xua tan phiền não hay dẹp cơn giận dữ thì cũng như mặt trời hiện ra sau cơn mưa hay xua tan mây đen vậy. Lúc đó, giận dữ hay phiền não đã được chuyển hóa thành bình yên và an lạc. Tuy nhiên hết nắng lại mưa đấy! Không phải phiền não không trở lại đâu!☺☺!! Vì vậy mà chúng ta phải tu hoài!

C: Anh có nói rằng mục đích của sự tu hành là sửa những thói hư, tánh xấu (gọi chung là phiền não) còn tụng kinh, ngồi thiền,… đều là phương tiện; có phải vậy không? 

A: Ðúng vậy! Anh xin nói thêm về Thiền. Thiền hay “thiền na” tiếng Sanskrit là dhyãna còn tiếng Pali là jhãna, tiếng Trung Hoa là tĩnh lự, tiếng Anh như các em đã biết là meditation, tiếng Nhật là zenna hay zen. Thiền là gồm những phương pháp tu tập khác nhau nhưng với mục đích chung là đạt được kinh nghiệm của sự tỉnh giác, giác ngộ, chứng ngộ, giải thoát, v.v...

Thiền gồm có hai: Thiền chỉ và Thiền quán. “Chỉ” là dừng lại, giữ tâm thức an tịnh, không tán loạn, đình chỉ mọi ý nghĩ lăng xăng. “Quán” là xét, soi rọi kỹ về một vấn đề gì, tìm cách “thấy” rõ hơn… ví dụ quán về thân tứ đại, về khổ, về vô thường, v.v...

Ðó là những định nghĩa và ý niệm tổng quát về Thiền ở trình độ của anh chị em chúng ta; bây giờ chúng ta hãy nói về thực tập Thiền trong đời sống mà GÐPT chúng ta đã và đang áp dụng đi!

C: Dạ, em xin anh nói thêm cho chúng em về mục đích và phương tiện như câu hỏi trên của em mà anh mới trả lời một nửa!☺☺!!

A: Phải rồi, xin lỗi em! Mục đích tu là sửa những thói quen xấu, sai lầm, chữa những “bệnh” tham lam, ganh tị, độc ác,… những bệnh làm cho tâm mình dao động, điên đảo, bất an… trả lại cho tâm những giây phút tĩnh lặng, trong sáng. Thế nhưng nhiều người nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích. Họ chỉ lo ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, v.v… mà quên kiểm chứng xem tính xấu của mình có bớt không? Tính tốt có tăng thêm không? Những thói quen xấu ác có hoạt động mạnh không?

B: Sao vậy hở anh? Em tưởng hễ mình siêng năng ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật thì nhất định phải tiến bộ chứ!

A: Em nói cũng đúng nhưng đúng một phần thôi, không phải “nhất định” như em nói đâu, bởi vì có người tụng kinh, trì chú, v.v… mà trong bụng lại có ý hại người hay ngồi thiền để giữ tâm được định trước tiếng rên la của đồng loại!

B: Thật vậy sao anh? Cái gì mà lạ vậy? Như vậy sao gọi là tu được?

C: Cái này em có biết vì đã đọc trong sách đó! Như trong truyện dịch từ một cuốn sách của Nhật - “Shogun” - có ông tướng gì đó, tra tấn tù binh của ổng bằng cách đun người ấy trong một thùng nước sôi; nạn nhân rên la thảm thiết, những người dân ở gần đó phải dọn đi hết mà ông ta cứ “ngồi thiền” để “định tâm” và “an nhiên tự tại” ăn uống, tẩm bổ, hưởng thụ cuộc sống sung túc của mình.

B: Thật là kinh khủng quá! Tu cái gì kỳ vậy?

A: Ðó không phải là tu mà họ chỉ lợi dụng phương pháp định tâm của Thiền để dùng vào mục tiêu riêng của họ mà thôi! Còn có một chuyện nữa làm các em ngạc nhiên hơn. Đó là chuyện trước khi sư Từ Ðạo Hạnh xuất gia; ông ta luyện chú Đại Bi để có phép rồi trở về giết pháp sư Ðại Ðiên để trả thù cho cha.

C: Em cũng có đọc qua chuyện đó trong cuốn Thiền Sư Việt Nam của Thầy Thanh Từ, phải không anh? Rõ ràng phương tiện là trì chú nhưng mục đích lại là giết người thì đâu có phải là tu theo Phật anh hở?

A: Đúng vậy đó, các em! Những người như vậy là tu theo Ma chứ không phải tu theo Phật rồi! ☺☺!! Các em có nghe nói “Phật cao một thước, Ma cao một trượng” không? Ý nói về phương tiện thì Ma không thua Phật đâu, nó chỉ thua Phật ở mục đích, cứu cánh của sự tu hành mà thôi, còn tâm Ma và tâm Phật trong chúng ta thì chỉ cách nhau trong gang tấc. Riêng về thiền sư Từ Ðạo Hạnh; sau khi trả thù cha, ông ta đã ăn năn và bỏ tất cả để thật sự tu hành và sau này đã trở nên một thiền sư Việt Nam nổi tiếng  vào thế kỷ thứ 12 đó các em ạ.

B: Như vậy người ta gọi là “bỏ đồ đao xuống là thành Phật” đó phải không anh?

C: Không phải vậy, ông này đâu có phải là chuyên môn giết nguời đâu mà bạn nói như thế?

A: C nói đúng, trường hợp vị sư này là do một phút nông nổi, bất giác, bị lòng thù hận xâm chiếm, bị mối thù giết cha khống chế, bị quan niệm sai lầm cố chấp và hẹp hòi về chữ Hiếu thúc đẩy nên mới dấn thân vào sự trả thù và tư tưởng trả thù đã che mờ lương tri, không còn nhớ lời Phật dạy “lấy oán báo oán, oán không bao giờ dứt” và cũng không còn nhớ bài học của ngài Ngộ Ðạt trong kinh Thủy Sám nữa!

B: Anh nói “bất giác” có phải là trái nghĩa với tỉnh giác không?

A: Phải đó, trong một phút bất giác, ta có thể nói hay làm những điều tệ hại không thể tưởng tượng được, có thể khiến ta phải hối hận, đau khổ… về sau này. Vì vậy, Thiền áp dụng trong cuộc sống của GÐPT chúng ta là nhằm cho các em tập tỉnh thức (mindful), ý thức rõ ràng mình đang làm gì, đang nói gì, đang nghĩ gì; biết được những ý nghĩ, lời nói ấy, việc làm ấy không gây đau khổ cho mình và cho người khác, mà nếu tích cực hơn thì còn đem lại an vui hạnh phúc cho mình và người chung quanh nữa.

C: Em biết rồi, đó là “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” phải không anh?

B: Em cũng biết rồi, như các anh chị dạy chúng em phải học thuộc các thi kệ và khi thấy cái gì, làm cái gì… đều nghĩ đến người khác và nguyện cho mọi người được an lạc có phải không?

C: Ví dụ như khi đi ra đường thấy đường sạch sẽ ta liền nhớ bài kệ:

Thấy đường sạch sẽ

Nguyện rằng chúng sanh

Thường hành đại bi

Tâm luôn tươi mát.

Còn thấy đường bụi bặm thì đừng có phàn nàn, “đường gì mà dõm vậy!” mà phải nhớ đến bài kệ này nha!

Gặp đường đầy bụi,

Nguyện rằng chúng sanh

Rời xa bụi bặm

Giữ lòng thanh tịnh.

Hễ gặp đám đông hãy nghĩ đến bài kệ:

Khi thấy đám đông

Nguyện rằng chúng sanh

Nói lý thậm thâm

Hòa hợp tất cả.

Và bản thân mình thì áp dụng bài kệ này để khi hội họp thì nói lý lẽ để xây dựng, không nổi nóng, không cố chấp… đó là những phương pháp để mình thực tập về sự tỉnh thức phải không anh?

A: Đúng vậy! Các em rất giỏi, đã thuộc nằm lòng những bài kệ để “phòng hộ” tâm như lời dạy của chư Tổ về Thiền:

Khi sáu căn tiếp xúc sáu trần

Đem ý thức tinh chuyên phòng hộ.

B: Tại sao phải “phòng hộ” tâm hở anh? Khi tiếp xúc với cảnh, tâm bị nguy hiểm chăng?

A: Phải đó! Ví dụ như khi mắt thấy của cải, vàng bạc, v.v... thì tâm sinh ham muốn, ý muốn ăn cắp khởi lên, người ăn trộm sẽ tìm cách để cướp của, kể cả giết người… rồi sau đó anh ta có thể bị tù tội, xử tử, v.v... các em thấy có phải không những tâm gặp nguy hiểm và thân cũng gặp nguy hiểm nữa hay không?

Có người nói rằng nếu đối cảnh mà không sinh tâm thì không cần phải học Thiền nữa.

C: Như vậy, Thiền dạy cho ta làm những gì từ thấp lên cao hở anh?

B: Bạn hỏi gì mà nhiều vậy? Bộ bạn muốn thành Phật liền sao?

A: Câu hỏi của C đúng thật là nhiều đó, nhưng anh sẽ trả lời một phần theo hiểu biết của anh và chương trình học của GÐPT chúng ta thôi nha!

Trước khi tu tập Thiền, chúng ta đều được dạy phải hội đủ ba điều kiện: phát Bồ đề tâm, xa lìa tham sân chấp ngã và hiểu rõ tánh Không; nếu thiếu một trong ba yếu tố đó thì dù luyện thần thông cao đến đâu cũng chỉ là hành Ma đạo mà thôi! ☺☺!!

C: Chúng em đã học về phát Bồ-đề tâm, tham sân chấp ngã rồi, còn tánh Không có phải là thực tánh duyên khởi của các Pháp không anh?

B: Nghĩa là mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ này, ở thế giới ta-bà này đều không có thực tánh và không có cái gì độc lập tồn tại? “Cái này có vì cái kia có, cái này sinh vì cái kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt...” phải không?

A: Đúng vậy, và chúng ta phải thường quán sát để thấy như thế. Như vậy thì trong khi tu thiền, hay bất cứ tu theo pháp môn nào, tâm ta cũng không có mong cầu, mà chỉ thực hành theo lời dạy của Kinh, của Thầy mà tu tâm sửa tính; vì đã biết duyên khởi, đã tin nhân quả, nghiệp báo… thì không còn gì để mong cầu hay van xin ai cả; chính mình là người sẽ ban ân hay giáng họa cho mình, tùy vào những hành vi của mình qua ba ngỏ thân, miệng, ý là thiện hay bất thiện mà thôi.

C: Như vậy, xin Anh tóm tắt lại cho chúng em GÐPT chúng ta tu Thiền như thế nào?

B: Em đâu thấy chương trình có tu thiền đâu anh?

A: Tuy không ghi rõ là tu Thiền nhưng những bài về “Chánh niệm và Tỉnh thức”, “Ăn cơm trong chánh niệm”, “Hạnh lắng nghe”, “Nghệ thuật nghe Pháp thoại” hay 5, 10 phút ngồi tĩnh tâm trước hay sau buổi lễ Phật hằng tuần, hay những bài thi kệ, v.v… tất cả đều nằm trong nội dung của giáo dục Thiền đấy các em ạ!

C: Xin anh trở lại câu hỏi của em!

A: Về lý thuyết, chúng ta học cho biết về các phương pháp Thiền, về thực hành chúng ta chú trọng hai phần: Sám hối (tu tâm dưỡng tánh) và tập ngồi thiền (tại Chùa cũng như ở nhà hay ở những khóa tu học). Ðó là lý do tại sao dù ở ngành nào, bậc nào chúng ta cũng đều tụng bài sám hối đầu tiên hết trong các buổi lễ Phật. Tụng và thực hành sám hối chân thật về các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, v.v...), chúng ta phải soi rọi lại mình, từ cái thấy, cái nghe, v.v… Ví dụ: Mắt thấy sắc (vật chất: cái hoa, của cải, con người, v.v…) có sinh tâm tham lam muốn chiếm hữu không? Tai nghe lời khen tiếng chê có sinh tâm ngã mạn hay giận dữ, ganh ghét không? v.v... Nếu thấy mình có lỗi thì phải biết sửa lỗi.

Về thực hành Thiền thì tùy theo trình độ, ngồi thiền, tĩnh tâm, tham dự những khóa tu học, v.v... Nhưng dù bất cứ dưới hình thức nào cũng không xa rời mục đích giữ gìn chánh niệm và cần nhất là áp dụng Thiền trong đời sống, luôn nhìn lại mình từng giờ, từng phút chứ không phải chỉ trong thời gian 5 phút, 15 phút hay 1 giờ… của thời khóa tu tập hằng ngày mà thôi đâu!

B: Thưa anh, còn những điều chúng ta học trong bài Lục độ Ba-la-mật thì sao? Chúng ta mới áp dụng “sổ tức quán” và “niệm Phật quán” trong thiền định thôi, phải không?

A: Phải, chúng ta chỉ mới bước đầu làm quen với Thiền mà thôi. Nói đúng hơn, chúng ta chỉ áp dụng phép đếm hơi thở để giữ tâm tĩnh lặng, để tập dừng lại các tư tưởng lăng xăng… Tâm có lặng thì mình mới có dịp soi rọi lại mình, để “thấy” được những tư tưởng khởi lên như thế nào, tồn tại và lặn xuống như thế nào, v.v... Ðó là một trong những cách để chuyển hóa tâm giận dữ, tâm đố kỵ… Còn về pháp quán thì chúng ta chỉ mới tập “quán vô thường” bằng cách trầm tư suy gẫm về vô thường trong đời sống, trong trời đất, trong lịch sử nhân loại, và trong chính tâm ta.

Câu chuyện cũng đã dài rồi. Hôm nay chúng ta tạm dừng đây nha!

C: Cảm ơn anh đã giải thích cho chúng em rất nhiều về chữ “tu” nhất là những điều lý thú về tu Thiền.

B: Lần sau anh sẽ nói thêm và kể cho chúng em nhiều mẫu chuyện ý nghĩa về Thiền nữa chứ?

A: Được! Tạm biệt các em!

B&C: Tạm biệt! Tạm biệt!

 

Thái Lan: Tăng sĩ và Phật tử biểu tình phản đối hãng bia The Elephant bán cổ phiếu ra thị trường

 

Hôm 18 tháng 3, tại Bangkok, hơn hai ngàn Tăng sĩ Phật giáo Thái Lan đã biểu tình phản đối trước trụ sở chính của Công ty Mua bán Cổ phiếu Thái Lan về việc đưa cổ phiếu của hãng bia The Elephant (bia Con voi) vào thị trường cổ phiếu.

 Tăng sĩ biểu tình phản đối việc này với lý do rằng, bia này rất rẻ tiền và đang ngày càng lan rộng khắp vương quốc của những chiếc áo cà sa, hậu quả sẽ không tốt cho xã hội nếu cổ phiếu của hãng bia này tung bán ra thị trường.

Sự kiện này đã được sự hưởng ứng và ủng hộ mạnh mẽ của hơn 194 tổ chức phi chính phủ và nhân dân trong thành phố Bangkok. Chính phủ Thái đã ra quyết định ủng hộ sự phản đối này. Sau khi có quyết định ngưng không chấp thuận cổ phiếu của công ty bia The Elephant vào thị trường cổ phiếu quốc gia, hàng ngàn người tham gia biểu tình tổ chức lễ thân thiện để chúc mừng quyết định của chính phủ.

Hãng bia The Elephant (Chang Beer) do ông  Sirivadhanbhakdi sáng lập, ông được xem là một tỷ phú giàu nhất Thái Lan. Trụ sở Tổng công ty đặt tại Bangkok, là một tập đoàn doanh nghiệp rất lớn, sản phẩm tiêu thụ không những trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước trong khu vực.

Trong những năm gần đây mức tiêu thụ sản phẩm rượu bia của Thái Lan tăng đáng kể, đã đến mức báo động. Theo thống kê của chính phủ từ năm 1996 đến 2003 mức tiêu thụ tăng 600%, tức tăng gấp sáu lần. Đây là vấn đề cấp thiết và bức bách, đang gây ảnh hưởng không tốt đến xã hội, chính phủ  cũng như Phật giáo đã nhiều lần lên tiếng lo ngại.

Cũng cần nói thêm rằng, người dân Thái Lan quan niệm rằng: Tăng sĩ chỉ quan tâm đến những vấn đề tu tập và vấn đề liên quan đến Phật giáo. Vì vậy, tiếng nói Tăng sĩ rất quan trọng trong những lãnh vực trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến Phật giáo. Cũng trong thời gian này, chư Tăng viện Luanta Maharua Yannasamrano đã triệu tập hàng ngàn Tăng sĩ trong toàn quốc dùng ảnh hưởng đề nghị quốc vương ngưng chức vụ của hai nhân vật cao cấp, phó thủ tướng Visannua Krue-ngarm đặt trách văn phòng Tôn giáo và ông Somdej Phra Buddhajam Chủ tịch Hội đồng tối cao Tôn giáo. Vì hai ông đã soạn thảo một dự luật “Vùng kinh tế đặc biệt” làm thiệt hại tài sản, đất đai của Giáo hội và ảnh hưởng xấu đến sự thanh tịnh của nhiều tu viện trong khu vực. Ngài Thongkon Wongsamut, trưởng ban giáo pháp của viện Luangta Maharua, nói với báo giới rằng: “Sự kiện này sẽ đưa đến một rạn nức vô cùng trầm trọng đối với Phật giáo và những giới luật của nhà Phật.”

 

Rằm tháng Giêng, ngày lễ kỷ niệm Đại hội Thánh Tăng tại tinh xá Trúc Lâm

Hằng năm vào ngày trăng tròn tháng Magha, tức Rằm tháng Giêng âm lịch, Tăng đoàn Phật giáo các quốc gia theo truyền thống Nam tông đều tổ chức đại lễ kỷ niệm ngày đức Phật thuyết kệ Ovada-patimokkha (Giải thoát giáo) cho 1250 vị Tỳ kheo trong khu vườn Trúc Lâm, thành Vương Xá.

Khi đức Phật còn tại thế, có 1250 vị Tỳ-kheo không hẹn mà cùng đến đảnh lễ Ngài tại tinh xá Trúc Lâm vào ngày trăng tròn tháng Magha theo lịch Ấn Độ (tức ngày Rằm tháng Giêng, Âm lịch). Các vị Tỳ-kheo đó đều là Thánh Tăng A-la-hán. Nhân đây, đức Phật thuyết giảng kệ Ovada-patimokkha, là giới luật căn bản và giáo pháp giải thoát của người xuất gia. Chư Phật quá khứ, đức Phật hiện tại và đương lai Phật Di-lặc cũng chỉ thuyết bài pháp này khi hội đủ bốn điều kiện: Đúng vào ngày trăng tròn tháng Magha, chư Tỳ-kheo không hẹn mà cùng lúc đến đảnh lễ đức Phật, các vị đó đều là Thánh Tăng A-la-hán, và các vị đó thọ Tỳ-kheo giới bằng phương pháp truyền giới “Thiện lai Tỳ-kheo”.

Vì thế, ngày Rằm tháng Giêng được xem là ngày lễ kỷ niệm Đại hội chư Thánh Tăng tại tinh xá Trúc Lâm. Ngày lễ này được cử hành với nhiều nghi lễ khác nhau như: Lễ hội đặt bát cúng dường chư Tăng, lễ thọ giới, thuyết pháp, nhiễu Phật; đặc biệt Lễ thọ đầu-đà, là lễ mà Phật tử đến chùa phát nguyện thọ trì Bát quan trai giới một ngày một đêm, tham thiền, nghe pháp, đàm đạo…

Tại vương quốc Thái Lan,  ngày lễ Đại hội chư Thánh Tăng là ngày lễ của quốc gia, toàn quốc được nghỉ lễ. Vì vậy, Phật tử có điều kiện về chùa tham dự những chương trình tu học và những lễ hội. Ngoài những nghi thức nêu trên, Phật giáo Thái Lan còn tổ chức hội thắp nến, gọi là hội “Wien Tien” vào ban đêm khắp vương quốc Thái Lan.

Đại lễ này là một trong ba đại lễ của Phật giáo Nam tông: Rằm tháng Giêng, Đại lễ kỷ niệm Đại hội chư Thánh Tăng; Rằm tháng Tư, Đại lễ Tam hợp: Phật đản, Thành đạo và Đại Niết-bàn; Rằm tháng sáu kỷ niệm ngày đức Phật giảng kinh Chuyển pháp luân.

Thông Tánh

BÌNH MINH LÊN ĐẠI LỘ

Huỳnh Khải Nguyên

Con đường đất vẫn hai mùa mưa nắng

Ta bước đều sỏi đá cũng trời mây

Nắng chiều về rưng rức lệ hương bay

Nhìn lá rụng thu gầy khô điểm tuổi.

 

Con đường đất lênh đênh ngày hai buổi

Gió xuân về tình hóa đá rong rêu

Đứng mơ màng vò võ mắt đăm chiêu

Bếp lửa đỏ nhà bên ai thầm gọi.

 

Con đường đất thắp lên tình nguồn cội

Buồn lên cao mây cứ vậy-phiêu diêu

Nghe tim run mắt sáng vỡ muôn chiều

Sầu chợt khóc bình mình lên đại lộ.

 

Ta cứ đứng nhìn non cao sóng vỗ

Ngàn hóa thân giữa non nước trời không

Chút buồn nào lơ lửng giữa mênh mông

Màu mắt ngọc cứ xa nguồn lạc điệu.

 

Tình dân tộc ngọn nguồn sao kỳ diệu

Mắt Việt Nam là điểm tựa bao la

Rồi muôn đời non nước sẽ hoan ca

Tình kết chặt, nghĩa đồng bào xuôi, ngược.

 

Xuân Vô lượng

Ninh Giang Thu Cúc

Vào chơi với hội xuân nầy

Chào nhau nửa nụ cười say đạo tình

Dừng chân nửa cuộc phiêu linh

Rùng mình gác trọ buồn tênh cuối ngày

Quay về cố quận chiều nay

Giữa mơ tỉnh giữa nước mây trùng phùng

Vô thường giữa cuộc thủy chung

Từ vô lượng kiếp thong dong đi về.

Đi về

Thông Nhã

 

---o0o---

Trình bày: Jacinta & Anna

Cập nhật: 1-5-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au