Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .

 

Tập san Pháp Luân

PL.2548-No.9/ tháng 11 năm Giáp Thân

Mục Lục

 

Tứ Đế (tt) - TT. Thích Đức Thắng

Cuộc đời và ánh đạo của Tôn giả Sàriputta (tt) - Trí Lộc

Pháp môn Tịnh độ. Nguyên Liên

Lần chuỗi đúng pháp được tiêu tội. Thích Tâm Viên

Đối tượng của thiền quán. Thích Thái Hòa

Hoà thượng tạm trú. TT. Thích Hạnh Thiền

Chiến thắng ham muốn vượt thoát khổ đau. Lam Yên

Trung tâm Phật giáo Luy Lâu, sự hình thành và phát triển. Tâm Phương

Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại đồng bằng Bắc Bộ. Trần Lan Chi

Tâm đầy uế nhiễm chớ mặc cà sa. Quang Sơn 

Hoa Hồng Trong Mơ. Thiện Nguyên

Vọng mãi tiếng chuông chùa.  Thông Nhã 

Bồ tát Địa Tạng: Vị Bồ-tát Bảo vệ trẻ em trong Truyền Thống Phật Giáo Nhật Bản Tâm Hà

Bạn có biết. Tâm Minh 

PAKISTAN: Khai quật được di vật Phật giáo tại Taxila 

HAWAII: Hội thi họa hình tượng đức Phật dành cho thanh thiếu niên Phật tử để kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo 

Liên Hiệp Quốc: Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc gởi lời chúc mừng đến Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II.

Thơ: Niệm Phật-Vĩnh Thi .  Mộ sương. Mộng Yên Sinh. Hương nguyền. Quang Tuệ .Đời ẩn sĩ. Mặc Không Tử

 

 

TỨ ĐẾ ^

(tiếp theo)

TT.Thích Đức Thắng

II . SỰ THẬT VỀ TẬP (samudaya-satya) Còn gọi là nguyên nhân của khổ: Nhận thức đúng về tất cả nghiệp hoặc phiền não, chúng có khả năng nhóm họp tích chứa quả khổ sinh tử ba cõi luân hồi. Sự thật về Tập là sự thật chỉ cho quan hệ duyên khởi cùng căn nguyên nguồn gốc mọi thứ khổ của chúng sanh ở trong thế gian này. Sự thật thứ hai là sự thật tập khởi về sự phát sinh hay nguồn gốc của khổ (Dukkhasamudaya - ariyasacca). Định nghĩa về chân lý thứ hai, được đức Đạo sư giảng dạy cho đồ chúng rải rác trong ba tạng giáo điển; trong giáo lý khởi nguyên cũng như giáo lý phát triển sau này của các bộ phái, trong đó có cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa. Chúng ta tìm thấy sự thật này qua các văn bản được kết tập lại sau này. Trong rất nhiều bản kinh nguyên thủy cũng như phát triển sau này đều ghi nhận ái (Skr. tṛṣṇā, priya; Pāli. Piya, taṇhā) là đầu mối trực tiếp phát sinh ra sự tái sinh của tất cả chúng sanh trong ba cõi, sáu đường. Như trong kinh Tạp A-hàm 49, kinh số 1307, Đ. 2, tr. 259, đức Phật đã định nghĩa về sự thật thứ hai đối với sắc tập khởi: “Thế nào là sắc tập khởi? là tham ái đối với hữu vi vị lai câu hữu với tham, hỷ, mê đắm nơi này hay nơi kia. Đó gọi là sự tập khởi của thế giới.” Qua đó, tùy thuộc vào căn cơ của tất cả chúng sinh trong ba cõi mà ái được đức Đạo sư trình bày giảng dạy:

1 - Đầu tiên ái là một chi trong mười hai chi được đức Phật đề cập trong mười hai nhân duyên, chỉ cho lòng tham luyến chấp trước đối với tất cả mọi sự vật trên đời nói chung; ngay đến vấn đề yêu-ghét cũng đều từ gốc ái mà phát sinh, như Tăng-chi-bộ kinh đức Phật dạy: “Ái có thể sinh ra ái (yêu), cũng có thể sinh ra ghét; và ghét có thể sinh ra yêu, cũng có thể sinh ra ghét.” Do đó ở đây, ái phục vụ cho cả ba độc tham, sân, si, là nguyên nhân trực tiếp gây ra nghiệp nhân, khiến cho tất cả mọi chúng sanh luân hồi tái sinh trong ba cõi sáu đường theo chiều lưu chuyển của mười hai nhân duyên. Vì sự ham muốn, khao khát, thèm thuồng, xuất hiện dưới nhiều hình thức của ái, nên đã phát sinh không biết bao nhiêu hình thái khổ đau của sanh tử. Nhưng đấy chỉ là nguyên nhân trực tiếp chứ chưa phải là nguyên nhân đầu tiên; vì theo Phật, mọi sự vật đều tương quan, tương liên phụ thuộc vào nhau, nên không có bất cứ một nguyên nhân đầu tiên nào. Ngay cả ái được xem như nguyên nhân phát sinh hay nguồn gốc của đau khổ, nhưng nó cũng tùy thuộc vào một cái khác để phát sinh ra nó, đó là “thọ” (vedanā), và “thọ” muốn hiện hữu cũng phải tùy thuộc vào “xúc” (sparśa) và cứ thế nối tiếp nhau trên một vòng tròn mà thuật ngữ Phật học gọi là Duyên sinh (Skt: pratiya-samutpāda; Pāli: Paticca-samuppāda).

Tuy ái, không phải là nguyên nhân đầu hay nguyên nhân duy nhất của sự phát sinh ra khổ đau, nhưng nó là nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất mà chúng ta có thể nhận thấy trong chính cuộc sống của chúng ta, cũng chính là nguyên nhân chính yếu và phổ quát nhất. Trong những nguyên bản Pāli tạng, và Hán tạng của Phạn văn định nghĩa về Tập bao gồm cả những xấu xa bất tịnh, và kể cả những gì tốt đẹp trong sạch cũng được thêm vào “ái” lúc nào cũng được nêu ra trước như trong Tăng-chi-bộ kinh đã dẫn ở trên. Trong giới hạn bài này, ta chỉ cần nhớ rằng trọng tâm của “ái” này là ý niệm chấp thủ sai lầm về ngã và pháp phát sinh vì vô minh nên chúng ta phải chịu lưu chuyển tái sinh trong ba cõi sáu đường.

Và cũng từ ái này chuyển sinh ra thân ái (pema), dục lạc (rati), dục ái (kāma) tùy theo các duyên quan hệ mà ái phát sinh. Nếu quan hệ tình cảm thương yêu theo thân tộc huyết thống đối với cá nhân mỗi người thì gọi là ái; đối với tình cảm bạn bè thân hữu không phải là dòng họ bà con thì gọi là thân ái; đối với một ai đó mà mối quan hệ tình cảm yêu thương đặc biệt dẫn đến khoái lạc đam mê vật chất thì gọi là dục lạc; đối với những khát khao mong muốn về những khoái lạc giác quan nói chung trong tính quan hệ tình cảm thương yêu thì gọi là dục ái. Đó chính là những đầu mối đưa đến sự tái sinh của mọi chúng sanh trong ba cõi.

2 - Thứ hai ái là một trong chín kết (cửu kết) gọi là ái kết. Là kết đầu trong chín kết, hay còn gọi là tùy thuận kết. Theo định nghĩa trong Đại Tỳ-bà-sa luận thì: Ái kết chỉ cho lòng tham của ba cõi; nhưng lòng tham của ba cõi ở trong chín kết gọi chung là ái kết, và trong sáu tùy miên thì tùy miên đầu là tham. Tùy miên được phân ra làm hai: dục tham tùy miên (chỉ cho dục giới) và hữu tham tùy miên (chỉ cho sắc và vô sắc giới), nên còn gọi là bảy tùy miên. Nhưng theo một số kinh khác thì thiết lập tam ái: Dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Vì vậy cho nên lòng tham của ba cõi gọi chung là ái kết. Có kinh đức Phật còn dạy có ba ái như dục ái (kāma-tṛṣṇā) chỉ cho lòng khát khao ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm trong cõi dục; hữu ái (bhava-tṛṣṇā) chỉ cho lòng khao khát ham muốn, chấp giữ che dấu, tham đắm ái nhiễm các cõi sắc và vô sắc; và vô hữu ái (vibhava-tṛṣṇā) có nơi còn gọi là diệt ái chỉ cho lòng khát khao ham muốn pháp Niết-bàn chân không.

3 - Thứ ba chỉ cho hai ái: không nhiễm ô và nhiễm ô. Tâm không nhiễm ô là chỉ cho yêu thích pháp, yêu mến thầy và các bậc tôn trưởng, nơi mọi người đặt niềm tin vào đó để mong cầu đưa đến an vui hạnh phúc; tâm nhiễm ô là chỉ cho lòng ham thích vợ chồng con cái và các thứ dục lạc trên đời về tinh thần lẫn vật chất, mà chúng có thể kéo chúng ta đi đến khổ đau sau đó.

Đó là ba sự thể hiện trong sự có mặt của ái trong cuộc sống của chúng ta. Như vậy, từ “ái” không những chỉ bao gồm sự ham muốn, đam mê trói buộc nhau qua những khoái lạc giác quan, tài sản và thế lực thuộc về vật chất mà còn là sự ham muốn, ràng buộc về tinh thần với những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, lý thuyết, khái niệm và sự tin tưởng về những gì mà chúng ta ham muốn được sở hữu. Theo đức Phật, tất cả mọi thứ rắc rối xung đột và tranh chấp trên thế gian đều xuất phát từ những sự va chạm vụn vặt trong gia đình giữa cá nhân với cá nhân, phát sinh từ tự ái cá nhân cho đến tự ái tập thể về màu da, sắc tộc, tôn giáo, ý thức hệ chính trị; theo đó những cuộc khủng bố lẫn nhau về cả hai mặt vật chất và tinh thần cùng những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các quốc gia với nhau, đều phát sinh do lòng tự “ái” vị kỷ này. Tất cả mọi vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội đều bắt nguồn từ cội rễ do lòng tham vị kỷ mà ra. Và những thành tựu của chúng về mặt vật chất có những tiến bộ vượt bực, nhưng bên cạnh đó chúng nảy sanh ra những tệ hại và bất ổn khác về tinh thần càng ngày càng trở nên sâu sắc hơn, trong những mưu đồ bất chính qua những thủ đoạn càng ngày càng tinh vi về mọi mặt, chúng có thể giết người hàng loạt, có thứ tiêu diệt mọi thứ trong nháy mắt. Những tự ái cá nhân trước kia, bây giờ chúng núp dưới những chiêu bài tự ái tập thể, để có thể nhân danh chân lý này, chân lý nọ mà thực hiện những cuộc chiến tranh, những cuộc khủng bố đẫm máu về vật chất, cũng như những khủng bố về tinh thần, làm cho con người không còn tự làm chủ chính mình được nữa mà phải cúi đầu vâng dạ làm theo những dục vọng điên cuồng của bọn ma đầu trục lợi. Chúng nuôi lớn những dục vọng cá nhân của chúng qua dục vọng tập thể. Cho dù có những nhà đại chính khách muốn dàn xếp những tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia với các quốc gia, nhưng họ chỉ đứng trên mặt hiện tượng mà giải quyết và dàn xếp thì những việc làm này cũng chỉ đi phớt bên ngoài, trong lúc những di hại từ gốc rễ của chúng lại không giải quyết. Như đức Phật đã dạy Rattapàla: Thế gian thiếu thốn, khát khao và bị nô lệ cho dục vọng.(sđd, tr. 24)

Vậy, theo đức Phật, muốn giải quyết vấn đề này, là phải giải quyết ngay gốc rễ của chúng đó, chính là lòng khát ái dục vọng. Dầu cho vật chất của thế giới này tiện nghi tiến bộ đến đâu đi nữa, nhưng so với lòng dục vọng tham muốn khát khao, của con người vẫn không sao lấp đầy được, vì lòng tham này là lòng tham không đáy. Cũng do điều này mà mọi vấn đề rắc rối luôn luôn hiện hữu, những giải quyết như vậy lúc nào cũng đi theo sau đuôi chúng. Thật ra vấn đề này, nhìn vào những hiện tượng bên ngoài, ai cũng có thể đánh giá được mọi tệ nạn xấu xa hiện đã và đang tràn lan trên khắp thế giới. Chúng đều phát sinh từ lòng dục vọng ích kỷ mỗi người nói riêng và tập thể nói chung, điều này ai cũng có thể hiểu được không khó. Nhưng ở đây, làm sao lãnh hội được khát ái dục vọng, ham muốn ấy lại có thể phát sinh ra sự tái sinh luân hồi và giải quyết để chấm dứt nguồn gốc phát sinh ra chúng? Đây mới là vấn đề cốt lõi chính để chúng ta bàn về chúng. Ở đây, chúng ta muốn bàn về chúng cần phải đề cập đến khía cạnh triết lý sâu xa của sự thật thứ hai, và chúng phải tương ứng với khía cạnh triết lý của sự thật thứ nhất. Đó là sự quan hệ giữa nhân (sự thật thứ hai) và quả (sự thật thứ nhất) trong thuyết luân hồi nghiệp báo. Vì ở đây, việc tái sinh của khát ái dục vọng được bắt nguồn trực tiếp vào thức ăn nuôi dưỡng chúng, nên trong bốn loại thức ăn này, đoàn thực (kavaikārāhāra) là loại thức ăn vật chất thông thường như chúng ta dùng hằng ngày; xúc thực (sparśākārāhāra), thức ăn có được nhờ sự tiếp xúc giữa các giác quan, kể cả ý thức với ngoại giới; Tư niệm thực (mana-sacetanākārāhāra), và Thức thực (vijñānākārāhāra), ý chí hay ý muốn là thức ăn của tâm thức. Loại thức ăn thứ ba là loại thức ăn trực tiếp, chính là ý chí muốn sống, muốn tồn tại, tái sinh, tương tục, tăng trưởng nuôi lớn kế tục khát ái dục vọng đi vào tương lai của chúng ta, đó là Tư niệm thực.

Từ ý chí muốn sống, muốn hiện hữu, muốn tồn tại, muốn tái sinh tương tục này, mà qua thân khẩu ý, khát ái dục vọng đã tạo ra không biết bao nhiêu nghiệp thiện, ác (kusalàkusalakama). Nó cũng như ý chí (tư - cetàna), là nguyên nhân trực tiếp tạo ra nghiệp nhân khổ trong quá khứ, để trong hiện tại chúng ta nhận quả khổ của nhân quá khứ, và trong hiện tại chúng ta tạo nhân nghiệp cho quả khổ trong tương lai. Như đức Phật đã bảo chính ý chí là nghiệp, như chính đức Phật đã dạy trong Hành uẩn ở trên đã định nghĩa. Nói đến tư niệm thực vừa kể trên, đức Phật đã dạy: “Khi người ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu được ba thứ ái.” (sđd, tr. 24) Qua đây, chúng ta nhận thấy những từ ngữ ái, ý chí, tư niệm, hay nghiệp, tất cả chúng đều ám chỉ cho cùng một thứ dục vọng, ý muốn hiện hữu, tồn tại, tái sinh, trở thành, tăng trưởng, tích hợp, là nguyên nhân, là nguồn gốc trực tiếp phát sinh ra khổ đau. Chúng luôn hiện diện và được tìm thấy trong hành uẩn, một trong năm uẩn hình thành sự hiện hữu của một hữu tình chúng sinh.

Vậy quả khổ của chúng ta trong hiện tại có được, chúng phát xuất từ nhân khổ đã tập khởi trong quá khứ, do chính chúng ta tạo ra bởi những hành động chấp trước sai lầm. Chính khát ái dẫn dắt mà chúng ta đã tái sinh vào cuộc đời này để thọ quả khổ do nhân sai lầm trước kia mang lại. Vậy việc sinh ra trong hiện tại của chúng ta hay tái sinh trong tương lai, chúng đã và đang mang mầm mống của đau khổ ngay trong bản chất của chính nó (đau khổ), và cũng chính trong mầm mống khổ đau được sinh ra này, chúng cũng đều thuộc về bản chất của diệt, như chính đức Phật đã từng dạy: “Yam kinci samudaya dhammam sabbamtam nirodha dhammam - Bất cứ cái gì thuộc về bản chất của sinh đều cũng thuộc về bản chất của diệt.” (sđd, tr. 25) Vì bản chất của khổ đau là vô thường, vô ngã. Dù chúng có hiện hữu sinh ra đi nữa, thì sự hiện hữu phát sinh của chúng cũng chỉ là một sự hiện hữu do nhân duyên hòa hợp sinh ra. Vì vậy, chúng chỉ là một sự hiện hữu phát sinh giả hợp, không có thật. Chúng được sinh ra nhờ duyên thì chúng diệt đi cũng nhờ duyên để diệt. Bất cứ một vật nào hiện hữu được nhờ sự sinh khởi của các duyên, thì chính ngay trong bản chất của sự sinh khởi này đã có sẵn bản chất, mầm mống của sự chấm dứt và hủy diệt. Như vậy, đau khổ có trong nó, bản chất phát sinh ra nó, và cũng có luôn trong nó bản chất hủy diệt của nó. Theo đức Phật, chính điều này có được nên chúng ta mới có tu đạo, có đoạn trừ để chấm dứt những thứ vô minh sai lầm mang lại khổ đau cho chúng sinh. Và điều này chúng tôi sẽ trình bày lại trong sự thật thứ ba (nirodha-satya).

Như trên chúng ta đã đề cập đến ý chí có thể tạo ra nghiệp thiện hay ác tương đối. Và cũng từ đây phát sinh nghiệp lực thiện thì sẽ tùy theo sức mạnh của nghiệp nhân thiện mạnh hay yếu mà phát sinh thiện quả nhanh hay chậm, và nghiệp lực ác phát sinh quả ác nhanh hay chậm, chúng tùy thuộc vào năng lực này. Lòng tham dục, ý chí, nghiệp dù thiện hay ác đều có một năng lực đưa đến kết quả tùy thuộc vào độ chín mùi của nhân nghiệp đã thuần thục hay chưa mà thôi. Năng lực tiếp tục này chính là sức mạnh của nghiệp - tiếp tục trong chiều hướng thiện hay ác. Dù thiện hay ác, nó đều là tương đối, đều ở trong vòng luân hồi ba cõi sáu đường. Trong khi một vị A-la-hán, mặc dù có hành động như chúng ta, những chúng sanh hữu tình, nhưng vẫn không tạo ra nghiệp nhân, để rồi nhận lấy nghiệp quả như một chúng sanh hữu tình; bởi vì vị ấy đã thoát khỏi ý tưởng sai lầm về ngã, và pháp, thoát khỏi lòng tham muốn tiếp tục tái sinh và hiện hữu, nên thoát khỏi tất cả mọi sự trói buộc bất tịnh nhiễm ô khác. Đối với vị ấy không còn luân hồi tái sinh nữa.

Thuyết luân hồi nghiệp báo lệ thuộc vào luật tắt nhân quả trong hành động và phản ứng có điều kiện. Chúng không dính dáng can hệ gì đến ý tưởng công bằng hay thưởng phạt như quan niệm của một số tôn giáo nhất thần, cùng những giáo điều luân lý của một xã hội nào đó. Ở đây chỉ căn cứ vào hành động do ý muốn tạo ra để đưa đến kết quả hay hậu quả tốt, xấu của nó mà đánh giá. Như vậy, việc nhận lãnh hậu quả này không phải do sự thưởng hay phạt của một bàn tay nào ngoài bàn tay chúng ta quyết định về hậu quả của nó. Bởi vì những hậu quả tất yếu mà mọi người đang gánh chịu là do những hành vi tạo tác trước kia của chúng ta đã tạo ra chúng, chứ không phải là sự công bằng, hay thưởng phạt do một người nào hay một quyền năng nào ngồi phán xét hành vi của chúng ta, mà đó chính là bản chất nhân quả của riêng nó, và là luật lệ của chính nó. Khát ái, ý chí, sự ham muốn, dục vọng, lòng khao khát hiện hữu, tiếp tục tăng trưởng, là một năng lực có khả năng dời đổi toàn thể mọi đời sống cá nhân hay tập thể và ngay cả thế giới vũ trụ. Theo Phật giáo, sức mạnh này liên tục nối tiếp nhau như dòng chảy của thác nước, không dừng nghỉ, cho dù xác thân có bị biến hoại theo duyên diệt qua hình thức chết đi nữa; nhưng chúng lại tiếp tục thể hiện trong một hình thức khác, để tiếp tục phát khởi sự tái sinh mà chúng ta gọi là luân hồi ba cõi sáu đường của dòng sống.

Một đứa trẻ được sinh ra, ban đầu mọi khả năng vật chất, tâm linh đều yếu ớt non kém, nhưng trong chúng đã có sẵn tiềm năng để trở thành một người lớn đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần. Vì không có bất cứ một cái gì gọi là bất biến và vĩnh cửu nên một hữu thể hiện hữu, luôn luôn được thay đổi theo thời gian để trưởng thành biến đổi và đưa đến hoại diệt, trong một khoảng thời gian nào đó chúng tự cho phép theo sức mạnh của sức sống của một nghiệp lực. Bởi thế, vì hiển nhiên không có cái gì trường cửu hay bất biến nên tự chúng cũng có thể lưu chuyển trong luân hồi từ đời này đến một đời sau. Chúng là một chuỗi dài nối tiếp không gián đoạn, biến đổi từ sát na này sang sát na khác. Sự chuyển dịch đó giống như một dòng thác tiếp nối nhau liên tục không gián đoạn, do sinh diệt biến đổi tạo ra xuyên suốt từ vô thỉ cho đến vô chung, chuyển động xê dịch một vòng tròn mắt xích. Chúng không phải cùng là một giọt nước, nhưng chúng cũng không phải khác. Cũng vậy, một đứa trẻ lớn lên thành một người già tám, chín mươi tuổi, và hiện tại là một người già chín mươi tuổi, trên mặt hình tướng dĩ nhiên cụ không phải là một đứa trẻ chín mươi năm về trước nhưng cũng không thể bảo cụ là khác được. Cho nên một người chết ở nơi này tái sinh nơi khác vào kiếp kế tiếp đương nhiên chúng ta không thể bảo người chết kia với người tái sinh ra lúc này và nơi đây là người đó được, nhưng ở đây chúng ta cũng không thể bảo là khác được.

Tóm lại, qua những trình bày trên, Tập chính là ý chí muốn sống, tái sinh của một sinh mệnh như là một dòng chảy liên tục, lúc nhanh lúc chậm tùy theo sự chi phối sức mạnh của nghiệp, là hiện tượng sinh khởi: Niệm này có thì niệm kia có, niệm này diệt đi thì nọ cũng diệt đi, và cứ như thế niệm niệm sinh diệt biến đổi liên tục không dừng như một vòng tròn lửa. Ban đầu là một đốm lửa và sau đốm lửa đầu khởi lên làm tiền đề quyết định cho đốm lửa kế tiếp và cứ như thế trở thành một vòng tròn lửa liên tục không có sự gián đoạn. Mỗi ý nghĩ của chúng ta cũng vậy, niệm này khởi lên để quyết định cho niệm kế tiếp và như thế, sự sống đang hiện hữu như một dòng sống liên tục. Do đó, trong giáo lý của đức Đạo sư, vấn đề đời trước, đời sau không phải là một chuyện thần thoại huyền bí gì cả. Đối với người Phật tử hiểu biết chân chánh, họ sẽ không bao giờ băn khoăn vấn đề này. Khi mà chúng sinh còn sự khát khao hiện hữu trở thành, còn khát ái, muốn tái sinh thì vòng luân hồi vẫn tiếp tục. Chúng chỉ dừng lại khi nào sức mạnh dẫn dắt đó, sự khát ái, bị đoạn trừ nhờ vào trí huệ thấy rõ bộ mặt như thật của chính mình, thì sự chi phối và bị lệ thuộc vào vòng sinh tử luân hồi sẽ không còn trói buộc được nữa.

(Còn tiếp)

 


 

CUỘC ĐỜI và ÁNH ĐẠO của TÔN GIẢ SÀRIPUTTA (Xá-lợi-phất)  ^

Trí Lộc

(Tiếp theo)

 

10. Độ thân quyến:

Tìm trong kinh tạng hay trong các sử liệu viết về Tôn giả Sàriputta, chúng ta biết được Tôn giả có tất cả sáu người em: ba người em trai và ba người em gái. Ba người em trai tên là: Cunda, Upasena, Revata. Và ba người em gái tên là: Càlà, Upacàla và Sìsupacàlà. Đọc qua sử liệu về Ngài, chúng ta vô cùng khâm phục, kính ngưỡng và đồng thời cũng chúc mừng cho thân mẫu của Tôn giả là bà Sàri có được phước đức vô lượng. Bà sanh được bảy người con, dưới sự hướng dẫn của vị huynh trưởng tài đức vẹn toàn, tất cả đều được xuất gia trong giáo pháp của đức Phật và đồng chứng được thánh quả A-la-hán.

Sau khi xuất gia trong giáo pháp của đức Phật, đức hạnh và tài năng của Tôn giả Sàriputta ngày càng vang xa mãi. Tôn giả đã độ rất nhiều người, trong mọi thành phần từ vương tử, quý tộc, trưởng giả… cho đến những hàng ngoại đạo và những người nghèo khổ có địa vị thấp hèn nhất trong xã hội. Đặc biệt, Tôn giả đã độ được những người thân yêu nhất của mình, từ người cậu theo đạo lõa thể, người cháu thờ lửa tế thần, độ tất cả các người em mình xuất gia, chứng được Thánh quả cho đến người mẹ thân yêu nhất của mình: “Ta có một ông cậu có duyên với Chánh pháp. Ông cậu này thường cúng dường đến các đạo sĩ lõa thể, và ông ta nghĩ rằng làm như vậy là thực hành con đường cộng trú với Phạm thể. Ông cậu này ta đã dẫn đến đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn đã đặt ông vào đức tin Tam bảo. Ta cũng có một đứa cháu trai, tháng ngày chuyên giết thú và chăm sóc ngọn lửa tế thần. Y làm như vậy và tin tưởng rằng đấy là con đường dẫn đến cõi Phạm thiên. Ta đã dẫn cháu ta đến bên chân đức Thế Tôn, và đức Thế Tôn đã đặt ông ta vào đức tin Tam bảo từ ấy”.

Trong sáu người em của mình, đầu tiên là hai người em trai Cunda và Upasena, Tôn giả đã khuyên dạy và hướng dẫn hai vị này xuất gia trong Chánh pháp, hai vị đã theo gương vị huynh trưởng của mình nỗ lực tinh tấn tu tập và đã đạt được phẩm hạnh cao quý nhất của một vị Sa môn. Đó là chứng đắc Thánh quả A-la-hán.

Đến ba người em gái: Càlà, Upacàlà, Sìsupacàlà, tuy Tôn giả không trực tiếp hướng dẫn họ xuất gia tu tập nhưng khi nghe danh tiếng tài năng, đức hạnh cũng như sự an lạc, giải thoát của vị huynh trưởng, cả ba người em gái của Tôn giả thấy được sự giả tạm vô thường, đau khổ, ràng buộc của cuộc đời. Họ cũng noi theo gương vị huynh trưởng của mình, lần lượt xuất gia trong Chánh pháp giải thoát, nổ lực tu tập và thành tựu được quả vị Vô sanh (A-la-hán). Như vậy, tuy Tôn giả không trực tiếp hướng dẫn họ nhưng bằng con đường gián tiếp, Ngài cũng độ họ được giải thoát.

Trong sáu người em của Tôn giả Sàriputta, câu chuyện về nhân duyên xuất gia của cậu em út đã làm cho chúng ta thích thú nhất. Khi hay thân phụ của mình qua đời, Tôn giả Sàriputta đã xin đức Thế Tôn về quê hương để thăm viếng gia tộc và để tụng kinh siêu độ cho thân phụ. Được sự cho phép của đức Thế Tôn, Tôn giả đã dẫn theo năm trăm vị Tỳ-kheo để hoằng hóa độ sinh trên quê hương mình, đồng thời cũng tụng kinh hồi hướng công đức để siêu độ cho cha mình. Khi gặp lại được người anh khả kính mà xưa nay mình chỉ nghe danh mà chưa hề thấy được bóng hình, người em út Revata đã nhìn Tôn giả một cách sững sờ: “Đây là anh trai cả tôn quý của ta! Đâu đâu người ta cũng thán phục ca tụng ông anh vĩ đại này. Ồ! Mà sao anh trai ta đẹp quá, uy nghiêm quá, lại dễ mến nữa!”

Tôn giả Sàriputta đã quan sát và biết trước người em út, Revata bảy tuổi bé bỏng của mình cũng sẽ được xuất gia, chứng Thánh quả, nên đã dặn Revata khi nào muốn xuất gia thì hãy đến ngôi làng của khu rừng phía Tây, nơi có mấy mươi vị Tỳ-kheo đang tu hạnh Đầu-đà, nói là em trai của Tôn giả Sàriputta xin phát nguyện xuất gia thì họ sẽ nhận lời để em được xuất gia trong Chánh pháp.

Mẹ của Tôn giả Sàriputta là người rất ghét đạo Phật cũng như ghét cả đức Phật và chư Tỳ-kheo. Bà cho rằng, đức Phật đã dùng chú thuật cướp đi sáu người con thân yêu của bà. Lại nữa, gia đình bà là trưởng giáo Bà-la-môn có truyền thống tín ngưỡng thần linh sâu sắc. Giờ đây chồng bà đã mất, gia tài thì đồ sộ, giàu có nhất làng mà chỉ còn lại người con trai út mới bảy tuổi. Nhìn ánh mắt kính ngưỡng vào vị huynh trưởng sâu sắc của nó trong lúc đưa tiễn Tôn giả Sàriputta về lại tinh xá Kỳ Hoàn, bà sợ cậu út này sẽ xuất gia như các anh chị của nó thì kể như gia tài đồ sộ kia sẽ trở thành hoang phế, và nhất là bà sợ dòng dõi cao quý của gia đình này kể như không có người nối truyền tông hệ, không ai kế thừa huyết thống. Thế là bà quyết định theo chế độ tảo hôn, lo lập gia đình cho cậu con trai út Reveta. Nghĩ là làm, bà đã mời những vị Bà-la-môn trưởng thượng trong quyến thuộc đến để trình bày lý do, nguyện vọng của bà và nhờ họ mai mối tìm vợ cho người con cuối cùng ấy. Sau một thời gian tìm kiếm, họ đã tìm được một người con gái mười bốn tuổi xinh đẹp, môn đăng hộ đối và tiến hành làm đám cưới cho cậu con trai út. Lúc này, Reveta mới bảy tuổi tuy còn bé nhưng cũng rất khôn ngoan và có căn cơ xuất thế. Đám cưới diễn ra rất linh đình. Trong lúc về nhà gái để rước dâu với nhiều nghi thức trọng thể, trong ấy có tiết mục bà ngoại cô dâu là người giàu sang, cao tuổi (120 tuổi), có danh vọng trong gia tộc đứng ra chúc phúc cho hai trẻ được sống hạnh phúc đến ngày răng long, đầu bạc như bà. Nhìn cô dâu thì xinh đẹp, nhưng lại thấy bà ngoại cô thì già nua, tóc bạc, da dẻ nhăn nheo, lưng còng, đi đứng phải nương gậy... Cậu hiểu rằng rồi cô bé xinh đẹp, gọi là cô dâu, vợ mình cũng già và xấu như thế. Nhân duyên xuất trần đã đến, nhớ lại lời dạy của vị huynh trưởng của mình, cậu nghĩ cách thoát thân. Trên đường rước dâu về nhà, Reveta giả vờ đau bụng xin dừng xe để xuống, vào các lùm cây bên đường để đại tiện, xong rồi lên xe đi tiếp, đến ba lần như vậy. Lần thứ tư, khi còn cách nhà không bao xa, Reveta lại nói rất tự nhiên: “Rõ là cái bụng nó đang hành hạ tôi, nhà cũng sắp đến, vậy quý vị cứ chầm chậm cho xe đi trước, tôi sẽ theo kịp ngay tức khắc”.

Đám rước đang diễn ra linh đình, vì thế họ cũng không nghi ngờ gì nữa. Họ đánh xe chầm chậm đi, Reveta tìm vào một lùm cây kín, khuất tầm mắt mọi người và cố gắng chạy một mạch về hướng ngôi làng khu rừng phía Tây gặp các vị Tỳ-kheo đang tu hạnh Đầu-đà để xin xuất gia. Các vị Tỳ-kheo ban đầu không dám nhận Revata vào Tăng đoàn, vì nhìn thấy Revata ăn mặc sang trọng, con nhà quyền quí, và cũng chưa có sự đồng ý của cha mẹ, hay của huynh trưởng… sợ rằng cậu sẽ không kham nổi đời sống xuất thế. Nhưng sau khi biết Reveta là em của Tôn giả Sàriputta, đồng thời đã có sự dặn trước của Tôn giả Sàriputta, các vị Tỳ-kheo đã đồng ý thu nhận Reveta vào tu tập cùng Tăng đoàn. Sau một thời gian nỗ lực tiến tu, cậu bé Reveta đã chứng đắc Thánh quả A-la-hán trước sự kính phục của mọi người.

11. Độ thân mẫu hay hạnh hiếu của Tôn giả Sàriputta:

Khi so sánh về hai Tôn giả Sàriputta và Moggallàna, chúng ta thấy hai Tôn giả có rất nhiều điểm giống nhau một cách lạ kỳ: Giống nhau từ sự xuất thế, dòng họ, chủng tộc, về tài năng, về sự xuất gia và đồng trở thành hai vị Đại đệ tử của đức Thế Tôn. Đặc biệt là, hai Ngài đều thể hiện hạnh hiếu cao cả nhất trong hàng đệ tử của đức Phật, độ được thân mẫu của mình ra khỏi ngoại đạo tà kiến, an trụ vào Phật pháp, thoát khỏi khổ đau.

Cũng giống như của Tôn giả Moggallàna, thân mẫu của Tôn giả Sàriputta cũng ghét cay, ghét đắng đức Phật và chư Tăng. Càng về già bà càng ghét hơn, nhất là lúc này, ngay cả đứa con út bé bỏng của mình, niềm hy vọng nhỏ bé ấy cũng bị cuốn hút vào Tăng đoàn, làm đệ tử của Sa-môn Cù-đàm: “Và vì thế, dù rằng bà có bảy người con đều chứng Thánh quả nhưng bà Sàri vẫn không tin Tam bảo, vẫn xem thường đức Phật và Tăng chúng, vẫn đặt niềm tin mù quáng theo ngoại đạo cổ hủ của mình. Chính vì thế, bà luôn chửi mắng Tăng đoàn và Sa-môn Cù-đàm”.

Chúng ta dễ dàng thông cảm với nỗi khổ đau cũng như tâm tình của người mẹ già này, cả bảy đứa con thông minh, đẹp đẽ… biết bao ước mơ, tự hào, kỳ vọng về đàn con của mình đều dần dần tan theo mây khói. Giờ đây, bà đã gần một trăm tuổi, nhưng không còn một người con nào bên cạnh. Bà nhìn mọi vật vô cùng ảm đạm, cả gia tài “tiền rừng bạc biển” đều chẳng có nghĩa gì, chỉ đồng với cát bụi mà thôi. Nhìn ngôi nhà to lớn cổ kính, ruộng vườn mênh mông, càng làm cho bà thêm cô quạnh. Cả đám gia nhân kẻ hầu người hạ hay hàng thân quyến đông đảo và danh vọng, cũng đồng với nghĩa trống rỗng và khổ đau… làm sao sánh bằng những đứa con thân yêu dứt ra từ khúc ruột của mình.

Đã từ lâu, Tôn giả Sàriputta muốn độ thân mẫu của mình vào niềm tin với Chánh pháp an lạc, nhưng nhân duyên chưa đến nên không độ được. Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đã tám mươi tuổi, Tôn giả quán sát thấy nhân duyên trụ thế của mình sắp mãn, và nhân duyên độ thân mẫu đã đến. Ngài liền đi đến đảnh lễ xin đức Phật cho về nhập Niết-bàn ở quê nhà và để độ mẫu thân của mình.

Đức Thế Tôn đã chấp thuận, Tôn giả từ giã đại chúng và dẫn theo 500 Tỳ-kheo về quê hương mình. Trên đường về gần đến ngôi làng thuở xưa của mình, Tôn giả gặp đứa cháu trai và bảo người cháu về thông báo với bà (mẹ Ngài) rằng: Tôn giả Sàriputta đã trở về và xin ở lại căn phòng thuở xưa lúc Ngài chào đời. Người cháu vô cùng mừng rỡ, vội vàng chạy về báo tin. Dù rằng bà Sàri rất ghét Tăng đoàn, rất giận người con cả, nhưng lòng yêu thương con không bao giờ vơi cạn, bà đổi giận làm vui để tiếp đón Tăng đoàn. Tối đêm ấy, ở ngay căn phòng thuở xưa lúc chào đời, Tôn giả đã thị hiện bệnh tả lỵ, để nhập Niết-bàn và độ thân mẫu mình.

Lúc bấy giờ, có thị giả Ngài là Sa-di Quân Đầu đang hầu hạ, cứ vào ra với những cái bô trên tay. Bà Sàri rất quan tâm đến người con cả, nhưng vẫn còn đứng ở bên ngoài phòng của Tôn giả quan sát. Lúc ấy, Tứ đại thiên vương, Đế Thích (Thiên chủ cõi trời Đao Lợi), Đại phạm thiên vương và hàng thiên chúng, bằng thần lực, họ biết được Tôn giả đang bị bệnh và sắp nhập Niết-bàn. Với oai nghi, thần lực và hào quang rực rỡ, họ lần lượt hiện vào phòng để kính lễ và xin hầu hạ Tôn giả, bậc A-la-hán, Đại đệ tử của đức Thế Tôn lần cuối… làm cho cả căn phòng và khu vườn nơi Tôn giả Sàriputta đang ở sáng rực hào quang. Nhưng Ngài đã từ chối tất cả và họ đảnh lễ Tôn giả lần lượt trở về bổn quốc.

Bằng thần lực của mình, Tôn giả Sàriputta đã cho mẹ mình thấy được toàn bộ cuộc thăm viếng kỳ diệu ấy. Sau khi các vị Thiên chủ đã ra đi, bà Sàri vội vàng vào phòng của Tôn giả để hỏi thăm về những vị trời ấy. Tôn giả đã từ tốn giải thích đó là những vị trời nào, sự hộ pháp của họ ra sao, đã hầu hạ đức Phật trong lúc đản sanh, sự thưa thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân lúc mới thành đạo như thế nào, v.v… Nghe xong, vô cùng kính phục, bà không ngờ người con của mình cao cả đến độ các vị trời cao quí, ngay cả đến Đại phạm thiên, Brahma (vị trời cao cả nhất, tối thượng nhất mà cả dòng tộc bà cũng như bản thân bà luôn kính ngưỡng phụng thờ, cầu nguyện hàng trăm năm nay) lại chỉ là người hầu của con mình, là đệ tử của đức Thế Tôn. Trong tâm bà Sàri phát khởi tín tâm, suy nghĩ: “Nếu oai lực của người con trai mình như thế thì oai lực vô biên của đấng Bổn sư của con mình còn to lớn biết chừng nào!”

Bằng sự kính ngưỡng cao cả chưa từng có, đồng thời nghe xong bài pháp ngắn về công đức Phật, Pháp, Tăng của Tôn giả Sàriputta, toàn thể châu thân bà Sàri rúng động, niềm tin tối thượng về đức Phật, về người con vĩ đại của mình, cũng như về Tam bảo. Niềm hoan hỷ, an lạc bất tận phát sinh đến từng chân tơ kẻ tóc, bà đã chứng đắc được quả vị Tu-đà-hoàn, chính thức bước vào dòng Thánh, chắc chắn sẽ đạt đến giải thoát, an lạc. Quá xúc động, bà Sàri đã thốt lên với Tôn giả: “Này người con đáng kính của mẹ! Này ngài Upatissa, tại sao trong suốt những năm qua con không ban bố cho mẹ một sự hiểu biết bất tử này?”.

 Bằng sự thành tâm tột bậc, bà Sàri đã xin qui y Phật, Pháp, Tăng trở thành một trong những đệ tử tại gia thuần thành nhất. Tôn giả Sàriputta đã độ được mẫu thân của mình trong hoàn cảnh kỳ diệu như thế.

(còn nữa)


 

Pháp môn Tịnh độ ^

Nguyên Liên

 

Trong kinh Pháp hoa phẩm Phương tiện, đức Phật có dạy: “Chư Phật vị nhất đại sự nhân duyên, xuất hiện ư thế, dục linh chúng sanh khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến”, có nghĩa là: Các đức Phật vì một nhân duyên lớn xuất hiện ở thế gian, đó là khai thị tri kiến Phật cho tất cả chúng sanh, để chúng sanh ngộ nhập vào tri kiến Phật ấy. Câu nói đó đã xác định bản hoài của chư Phật thị hiện trong cuộc đời, là đưa tất cả chúng sanh đạt đến quả vị giải thoát và giác ngộ, thể nhập vào bản thể uyên nguyên, cái mà trong Thiền gọi là “Bản lai diện mục”, trong Tịnh độ gọi là “Tự tánh Di-đà”. Bản tánh ấy vốn không hình không tướng, vượt ra ngoài mọi ngôn ngữ và sự nhận thức của phàm phu, nhưng khi vọng tưởng lắng đọng thì bản thể hiện tiền.

Cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, tại vương quốc Ấn Độ, nước Ca-tỳ-la-vệ, dưới cội cây Tất-bát-la, bên dòng sông Ni-liên-thiền, thái tử Sĩ-đạt-ta sau bốn mươi chín ngày ngồi tư duy thiền quán, đã ca lên khúc hát khải hoàn, xác nhận Ngài là bậc đã thành tựu quả vị, bậc hoàn toàn chứng được thể tánh, bậc tối thắng trong cõi đời. Nương nơi thể tánh thanh tịnh ấy, trải qua bốn mươi chín năm hoằng hóa, thuyết pháp độ sanh, với hơn ba trăm hội đàm kinh, những lời dạy của Ngài đã được các hàng Thánh đệ tử kết tập thành ba tạng kinh điển, trong đó triển khai tám vạn bốn ngàn môn tu tập, khai mở cho chúng sanh con đường dứt vọng tưởng, thể nhập chân như. Một trong vô số pháp môn tu tập, với sự hành trì rất đơn giản nhưng thành tựu nhiệm mầu, đó là pháp môn Tịnh độ.

Tịnh độ là một trong mười tông phái của Phật giáo Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… là tông phái siêu việt, được các bậc cao đức liệt vào tông phái Đại thừa viên đốn. Nói “đại thừa”, bởi tông này lấy tâm Bồ-đề làm nhân, lấy quả vị cứu cánh Phật làm quả. Nói “viên”, bởi tông này lý sự vẹn toàn, tóm thâu bốn giáo trước (Tiểu thừa giáo, Đại thừa thể giáo, Đại thừa chung giáo, Đại thừa đốn giáo). Nói “đốn”, bởi tông này không luận bàn về pháp tướng, mà chỉ chuyên ròng về chân tánh, không cần trải qua nhiều thứ lớp, mà tu tập trong một đời có thể chứng lên quả vị Bất thoái chuyển (A-bệ-bạt-trí). Đây quả thật là điểm siêu xuất của tông Tịnh độ.

Hệ tư tưởng của tông Tịnh độ được y cứ và xiển dương trên ba bộ kinh, một bộ luận, làm cơ sở nồng cốt để phát huy, đó là Phật thuyết A-di-đà kinh, Vô lượng thọ kinh, Quán Vô lượng thọ kinh (còn gọi Thập lục quán kinh) và bộ Tịnh độ vãng sanh luận của Bồ-tát Thế Thân.

Nơi tinh xá Kỳ Viên thuộc nước Xá-vệ, đức Thế Tôn tuyên thuyết kinh A-di-đà, Ngài tóm lược giới thiệu về vị giáo chủ và y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, khuyên chúng sanh phát nguyện sanh về thế giới ấy, bằng phương pháp chuyên trì danh hiệu Phật, đồng thời dẫn lời tán dương và ấn chứng của mười phương chư Phật, để làm tăng tiến niềm tin của người niệm Phật. Ở núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương-xá, Ngài tuyên thuyến kinh Vô lượng thọ, diễn tả quá trình hành Bồ-tát đạo của Tỳ-kheo Pháp Tạng (tiền thân đức Phật A-di-đà) trong khi tu nhân, đã đối trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai, phát bốn mươi tám đại nguyện thù thắng cao cả, để trang nghiêm Phật độ, nhiếp hóa quần sanh, và trình bày công đức tu hành, trí tuệ thần biến của Thánh chúng cõi ấy, khiến chúng sanh sanh tâm khát ngưỡng phát nguyện sanh về. Tại vương cung của Tần-bà-sa-la thành Vương-xá, Ngài tuyên thuyết kinh Quán vô lượng thọ, đáp ứng sự khẩn cầu của hoàng hậu Vi-đề-hy, đức Phật chỉ dạy mười sáu pháp quán, làm nhân tố để cầu sanh về thế giới Cực Lạc, đây là những phép quán rất tinh vi và sâu thẳm. Sau này, Bồ-tát Thế Thân y cứ vào Vô lượng thọ kinh tạo bộ Tịnh độ vãng sanh luận, tán dương cảnh giới trang nghiêm thù thắng của cõi Cực Lạc, xiển dương pháp tu Ngũ niệm môn (lễ bái, tán thán, phát nguyện, quán sát, hồi hướng) làm nhân tố để cầu sanh Cực Lạc. Ngoài ba kinh và một bộ luận trên, còn có rất nhiều bộ kinh luận Đại thừa khác như Pháp hoa, Hoa nghiêm… Đại trí độ, Đại Tỳ-bà-sa… đều tán thán và đề cao tư tưởng Tịnh độ.

Khi Phật giáo mới truyền sang Trung Hoa, pháp môn Tịnh độ đã sớm hòa nhập vào dòng tư tưởng của người bản xứ. Trung Hoa quả thật là một mảnh đất màu mở, để tông Tịnh độ đâm chồi nảy lá. Sau Ca-diếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đem Phật giáo truyền vào Trung Hoa, kế tiếp có các Đại sư từ Ấn Độ sang, phụng sắc chỉ dịch các bộ kinh từ chữ Phạn sang Hán, kinh sách Tịnh độ cũng được theo đó mà truyền vào.

Thời Đông Tấn (317-419), pháp sư Đạo An (312-385) đã làm sách luận về Tịnh độ, mở trường pháp phái nêu rõ chánh tông, phát huy những điểm đặc sắc của Tịnh độ. Dưới thời Tào Ngụy (220-280), ngài Khang Tăng Khải (đến Trung Hoa năm 252) dịch kinh Vô lượng thọ. Đời Dao Tần (còn gọi Hậu Tần năm 354-417), bậc dịch kinh nổi tiếng Cưu-ma-la-thập (344-413) phụng dịch Phật thuyết A-di-đà kinh. Thời Lưu Tống (năm 420), ngài Cương-lương-da-xá (383-442) dịch Quán vô lượng thọ kinh. Từ đó, giáo nghĩa tông Tịnh độ đã hoàn bị. Vào đầu thế kỷ thứ V, hệ tư tưởng hình thành tông phái, tín ngưỡng Di-đà giáo đã chính thức khai nguyên. Bậc cao Tăng được đăng quang lên ngôi vị khai tổ là Huệ Viễn đại sư (344-416) ở chùa Đông Lâm Lô Sơn, lừng danh với hội “Bạch liên xã”, mà âm hưởng còn vang vọng đến ngày hôm nay.

Sau đó vào thời Tuyên Đế Bắc Ngụy (năm 508), Bồ-đề-lưu-chi (sang Tàu năm 508) dịch bộ Tịnh độ vãng sanh luận của Bồ-tát Thế Thân, đây là bộ luận căn bản, hoàn chỉnh hệ thống giáo nghĩa của tông Tịnh độ.

Pháp môn Tịnh độ còn gọi là pháp môn niệm Phật. Chữ “niệm” ở đây có nghĩa là đem tâm thanh tịnh mà tưởng nhớ đến Phật. Thông thường tất cả chúng sanh luôn đem tâm buông lung theo năm món dục lạc, nhận vọng tâm điên đảo duyên theo sáu trần làm tâm, luôn nhớ nghĩ về quá khứ, mơ mộng ở tương lai mà đánh mất thực tại, cho nên tâm thường xáo trộn. Còn chữ “niệm” ở đây là một tâm sở trong năm biệt cảnh tâm sở, ý nghĩa của nó là nhớ nghĩ vào hiện tại, buộc tâm vào một đối tượng, không rong ruỗi theo niệm trần, nhưng niệm này không hệ lụy vào một cảnh giới nào, mà thông suốt cả ba đời, thường hiện rõ trước mặt. Về chữ Phật là chỉ cho bản tánh bất sanh bất diệt, cái bản thể chân thật bình đẳng ở nơi Phật và chúng sanh. Hành giả niệm Phật là niệm danh hiệu Phật, danh này bao trùm tất cả công đức, trí tuệ, từ bi… của các đức Phật. Do đức lập danh, nhờ danh chiêu cảm đức. Lấy danh hiệu Phật làm cảnh sở niệm, tâm thanh tịnh làm năng niệm, thường trú vào bản tánh bất sanh bất diệt ấy, tất đạt đến cảnh giới an vui chân thật. Thường trụ vào câu Phật hiệu, hay quán tưởng thân tướng trang nghiêm của đức Phật, với tâm thanh tịnh sẽ tạo một năng lực tuyệt đối, khơi dậy tự tánh Di-đà bên trong của mỗi chúng sanh. Vọng tưởng quyết dứt trừ, cảnh giới nhiệm mầu sẽ hiển lộ, như trong Quán kinh có dạy: “Chư Phật Như Lai là thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, cho nên tâm của các người tưởng Phật, thì tâm ấy là ba mươi hai tương tốt, tám mươi vẻ đẹp, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh, vì thế các người phải nhớ nghĩ và quán tưởng kỹ thân của đức Phật kia”.

Lập trường của tông Tịnh độ được kiến tạo trên nền tảng của nhân quả, tức có gây nhân mới mong hưởng quả. Điều này xác định rằng hành giả nếu muốn mai hậu làm Thánh chúng ở cảnh giới Cực Lạc, thì ngày hôm nay phải có tư cách của bậc Thánh. Vì vậy trong cuộc sống hiện tại, hành giả cần phải thường xuyên cải hóa thân, khẩu, ý, hướng đến chiều hướng thanh tịnh. Ví như học trò, trong việc học tập phải có sự tiến bộ, từ lớp nhỏ tiến lần đến lớp lớn, có như vậy mới mong đỗ đạt. Người niệm Phật cũng thế, nếu ngày hôm nay cứ sống trong sự buông thả, không chịu nỗ lực tinh tấn tu hành, mà cứ van xin và tin rằng mai kia Phật sẽ cứu độ, nếu tin như thế thì thật là trái lý nhân quả, chẳng khác nào luận thuyết của ngoại đạo, và hoàn toàn không phù hợp với giáo lý nhà Phật.

Vẫn biết, pháp môn niệm Phật là pháp môn phương tiện siêu thắng, cho dù đến bậc Đẳng giác còn chưa thấu triệt rốt táo, và nguyện lực tối thâm của đức A-di-đà thật là vô tận, hàm nhiếp tất cả mọi nguyện lực của mười phương ba đời các đức Phật. Đối với nghiệp lực của phàm phu, ngay cả đến các bậc Sơ địa Bồ-tát, nếu không nương vào oai lực tiếp độ của Phật, chỉ nương nơi sức tự lực tu hành của mình cũng không thể vãng sanh. Nhưng tha lực ấy chỉ thành tựu trên cơ sở hành giả phải có sức tự lực. Ví như người mẹ luôn luôn nghĩ đến con, nếu con không nghĩ đến mẹ, thì mẹ dầu thương con cũng đành cam chịu. Tha lực của đức Phật cũng thế, mặc dầu là vô song, nhưng điều quan trọng ở điểm là hành giả có hội đủ tư cách tu trì, có chân thành chịu nhận sự tiếp độ ấy hay không. Có rất nhiều người tu Tịnh độ, không nhận ra được lý này, rồi quan niệm đức Phật như một đấng thần linh luôn ban ân cứu rỗi, và cảnh giới Cực Lạc chẳng khác nào thiên quốc của thần giáo. Để rồi từ đó có lắm kẻ thiển cận cho rằng pháp tu Tịnh độ là pháp ngoại đạo mê tín dị đoan, hoặc là hành môn của hạng hạ căn. Đây quả thật là những ngộ nhận sai lầm đáng tiếc đã xảy ra.

Tóm lại, người niệm Phật muốn vãng sanh Tịnh độ, ngoài lực hộ trì tiếp dẫn của Phật, cần phải có chánh nhân Tịnh độ. Theo kinh Quán vô lượng thọ hành giả phải hội đủ ba điều sau:

“Một là hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng thờ sư trưởng, giữ lòng từ không sát hại, tu tập mười nghiệp lành. Hai là thọ trì ba pháp quy y, đầy đủ các giới, không phạm oai nghi. Ba là phát Bồ-đề tâm, tin sâu lý nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người khác cùng tu…”

Trên đây là chánh nhân Tịnh độ, là điều kiện của người phát nguyện vãng sanh Tây phương. Ba điều này có thể tóm thâu vào hai việc, một là phát Bồ-đề tâm, hai là nghiêm trì giới luật.

Điều kiện cần thiết thứ nhất của người niệm Phật, là phải phát Bồ-đề tâm. Thế nào là phát Bồ-đề tâm? Là phát tâm trên mong cầu quả vị Phật, dưới mong hóa độ các loài chúng sanh. Người tu Phật nếu không phát Bồ-đề tâm, dẫu có tinh tấn tu trì, thực hành các hạnh lành, cũng chỉ là nhọc công vô ích mà thôi. Trong kinh Hoa nghiêm có dạy: “Vong thất Bồ-đề tâm, tu chư thiện pháp, thị danh ma nghiệp” (Quên mất tâm Bồ đề, dẫu tu các hạnh lành, cũng đều là nghiệp ma). Vì vậy, người tu Tịnh độ muốn thành tựu ước nguyện giải thoát, thì trước hết phải phát tâm Bồ-đề mà niệm. Đây là điểm vô cùng quan trọng, không thể thiếu đối với người tu Tịnh độ nói riêng và người tu Phật nói chung.

Điều kiện cần thiết thứ hai của người niệm Phật, là phải nghiêm trì giới luật tùy theo giới luật mình đã phát nguyện thọ. Bởi vì bất cứ tông phái nào trong đạo Phật, cũng đều không thể ly khai tinh thần giới luật. Vì giới luật là nền tảng của đạo, là thọ mạng của Phật pháp. Nếu không có giới thì định huệ không thể phát sanh, giới định huệ đã không thể phát sanh, thì Pháp thân biết nương vào đâu để thành tựu. Lại đối với tông Tịnh độ giới luật càng thiết yếu, chúng ta có thể nói Luật tông và Tịnh độ là hai tông phái hổ tương nhau và không thể tách rời nhau, hai tông này bao trùm toàn bộ tám tông phái khác của Đại thừa, như đại sư Thái Hư có nói: “Luật là nền tảng của Tam thừa, Tịnh độ là mái che chung của Tam thừa”. Hành giả giữ giới luật, trên nền tảng đó câu niệm Phật mới hiển lộ hết công năng mầu nhiệm, như trong kinh Quán vô lượng thọ có dạy: “Một câu niệm Phật, có thể tiêu trừ tám mươi ức kiếp sanh tử trọng tội”.

Nhưng muốn cho tâm Bồ-đề khỏi bị thối thất và tư cách thánh hạnh được vẹn toàn, tròn đầy chánh nhân vãnh sanh Tịnh độ, người niệm Phật phải hội đủ ba đức tính quyết định, ấy là tín sâu, nguyện thiết và trì chuyên.

Tín là đức tin, là yếu môn để nhập đạo, là cội nguồn của mọi công đức, người tu Phật nếu thiếu mất yếu tố này, thì sẽ không thể thoát ly sanh tử, đạt thành kết quả an vui giải thoát. Bởi vì tất cả mọi công đức vô lậu, đều nương vào tín mà lập, và do tín mà thành. Trong kinh có dạy: “Phật pháp như bể cả, do tín mà vào”. Hành giả ngoài việc có đức tin trong sạch tuyệt đối với Tam bảo, với sự tìm hiểu bằng kiến chiếu của trí tuệ Bát-nhã, kiên định không ngờ vực, trên nền tảng đó, gia thêm lòng tin kiên cố vào pháp môn Tịnh độ. Đức tin này được dựng lập trên ba điểm. Thứ nhất tin rằng đức Phật Thích-ca là bậc đã thân chứng Tịnh độ, những lời dạy của Ngài về cảnh giới Cực Lạc và khuyên chúng sanh vãng sanh là hoàn toàn thật có. Điểm thứ hai, hành giả tin rằng đức A-di-đà với bốn mươi tám đại nguyện độ sanh vĩ đại, nếu ai mong cầu sanh về thế giới của Ngài, thì người ấy sẽ được tiếp độ. Điểm thứ ba là hành giả tin vào tự tánh thanh tịnh, vào khả năng sẵn có của mình, nếu quyết tâm niệm Phật, thì quyết định vãng sanh.

Trên nền tảng của tín, hành giả cầu sanh Tịnh độ cần phải có đủ yếu tố thứ hai là khẩn thiết phát nguyện. Trong Phát Bồ-đề tâm văn của đại sư Tĩnh Am có dạy: “Nhập đạo yếu môn, phát tâm vi thủ, tu hành cấp vụ lập nguyên cư tiên, nguyện lập tắc chúng sanh khả độ, tâm phát tắc Phật đạo kham thành” (Cửa yếu vào đạo lấy sự phát tâm đứng hàng đầu, việc cấp thiết tu hành lấy sự lập nguyện làm bước trước, nguyện có lập thì chúng sanh mới độ nỗi, tâm có phát thì Phật đạo mới tựu thành). Lời dạy ấy cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của sự phát nguyện.

 Tâm nguyện cầu sanh Tây phương, theo Thiên Thai - Trí Giả đại sư phải hội đủ hai yếu tố là yểm ly và hạnh nguyện. Tâm yểm ly là tâm chán lìa, hành giả phải ý niệm rằng sắc thân năm ấm là hư tưởng, chỉ là sự tổ hợp của năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành thức và thế giới hiện tượng luôn nhuốm màu khổ đau và bất tịnh. Thân phận con người, so với chư thiên cũng chẳng khác nào bầy giòi chen chúc trong hầm phẩn. Mọi phiền não của cuộc đời luôn cấu xé tâm can, chẳng khác nào những mũi tên độc đâm vào da thịt, như những trận tra tấn cực hình. Nhờ thường xuyên quan sát như thế, hành giả sẽ nhàm chán, đối với mọi thú vui của dục lạc ở thế giới này sẽ không sanh tâm đắm nhiễm.

Tâm chán bỏ thế giới Ta-bà càng lớn, thì ý nguyện mong cầu vãng sanh về Cực Lạc càng mạnh, bởi người niệm Phật chỉ có một ước nguyện duy nhất là mong thoát khỏi lao tù Ta-bà hiện tại, nguyện thát sanh về thế giới Cực Lạc trong ngày mai. Tâm nguyện tha thiết đó ngàn trâu kéo không lại. Chẳng khác nào như kẻ tha phương trông ngóng cố hương, như kẻ xa cha mẹ mong ngày đoàn tụ. Trong Di-đà sớ có câu “Trông về Cực Lạc như nhớ cố hương, ngưỡng mến đức Từ tôn như cha mẹ”.

Tín nguyện đã đầy đủ nhưng thiếu phần hạnh, người tu Tịnh độ cũng khó thành tựu, vì vậy cần phải chú trọng về vấn đề hành trì. Đại sư Ngẫu Ích đã từng dạy: “Được vãng sanh cùng không đều do ở tín và nguyện, phẩm vị cao hay thấp là bởi chỗ hành trì có cạn hoặc sâu”. Tín và nguyện đã có tức đã chuẩn bị tư lương, nhưng muốn đạt mục đích, hành giả cần phải thực hành các sự nghiệp phước đức, trí tuệ, ấy là phải có hạnh. Đây là món tư lương thứ ba của người tu niệm Phật.

Ngoài việc tu tạo phước đức, trí tuệ và giữ gìn giới luật làm trợ hạnh để cầu sanh, hành giả cần phải thực hành chánh hạnh. Chánh hạnh ở đây là phát tâm thanh tịnh thường trì Phật hiệu. Theo tông chỉ của Tịnh độ thì pháp niệm Phật bao gồm bốn môn.

Một là Thật tướng niệm Phật, đây chính là nhập đệ nhất nghĩa đế, niệm tánh Phật bản lai của mình. Bản thể ấy xưa nay vốn thanh tịnh vắng lặng, không bị cấu nhiễm bụi trần, hành giả trụ tâm vào tánh Phật bản lai ấy, khiến tâm không vọng động, không chạy theo niệm trần, tâm lần hồi trong sáng, thể nhập vào cảnh giới nhất chân.

 Hai là Quán tưởng niệm Phật, hành giả quán tưởng chánh báo, y báo trang nghiêm của thế giới Cực Lạc, cho đến khi nhắm mắt hay mở mắt, cũng đều thấy cảnh giới Cực Lạc rõ ràng.

Thứ ba là Quán tượng niệm Phật, là người tu luôn nhiếp tâm vào hình tượng của đức Phật A-di-đà, đến khi có đối trước hay không đối trước tượng, hình tướng trang nghiêm của Phật vẫn hiện ra trước mắt.

Thứ tư là Trì danh niệm Phật, ấy là niệm thầm hay niệm ra tiếng sáu hay bốn chữ A-di-đà Phật, niệm với tâm tha thiết chí thành không xen lẫn tạp niệm, chỉ chú tâm vào danh hiệu Phật, hành giả lần hồi sẽ đi đến cảnh giới nhất tâm.

So với ba môn trước thì pháp Trì danh có phần giản dị và dễ thành tựu. Đây quả là phương tiện thù thắng trong các phương tiện, là đường tắt đứng đầu trong các đường tắt, kinh A-di-đà sớ có câu: “Ví như chim hạt tung mình, đâu bằng đại bàng cất cánh, ngựa ký ruỗi vó, đâu bằng rồng chúa tung bay”.

Bởi do căn tánh của chúng sanh có sự sai biệt, nên pháp niệm Phật được các bậc Cổ đức chia thành nhiều cách khác nhau, như Ký thập trì danh, Phản văn trì danh, Sổ châu trì danh, Tùy tức trì danh, Truy đảnh trì danh, Giác chiếu trì danh, Lễ bái trì danh, Liên hoa trì danh, Quang trung trì danh và Quán Phật trì danh. Trong ấy có thể nói pháp Ký thập trì danh là pháp tu rất dễ thành tựu, dễ đưa hành giả đi đến nhất tâm.

Sanh tiền đại sư Ấn Quang thường khuyên các liên hữu áp dụng cách thức này, đó là cách niệm ký số, cứ lấy mười câu làm một đơn vị, người hơi dài có thể niệm thành hai lượt, một lượt năm câu, người hơi ngắn có thể chia thành ba lượt, hai lượt đầu ba câu và lượt sau bốn câu. Sau khi niệm đủ mười câu, đều lần qua một hạt chuỗi. Niệm theo lối này, tâm đã niệm Phật, lại còn ghi nhớ số. Như thế dù không chuyên cũng bắt buộc phải chuyên, nếu không chuyên thì bị sai lạc số mục. Cho nên pháp này là một phương tiện cưỡng bức làm cho hành giả phải chuyên tâm, rất có công hiệu và đưa đến thành tựu cho người niệm Phật một cách nhiệm mầu.

Ngoài ra vấn đề quan trọng của pháp niệm Phật là trong khi niệm phải giữ tâm thanh tịnh, bởi tâm thanh tịnh là nhân tố quyết định cho sự thành tựu cảnh giới nhất tâm. Muốn đạt được điều này, cũng theo đại sư Ấn Quang thì: “Khi hành giả đề khởi câu Phật hiệu, tai phải nghe rõ ràng từng chữ, tâm phải trụ vào câu Phật hiệu, không chạy theo vọng trần, cứ niệm xoay vần và nhiếp tâm liên tục, hành giả sẽ tiến sâu vào chánh định”. Theo đại sư Liễu Nhất “khi tâm chuyên nhất vào câu niệm Phật, quên hết cả thâm tâm ngoại cảnh, tuyệt cả không gian, thời gian, đến lúc sức lực công thuần, ngay nơi niệm trần mà vọng hoặc tiêu tan, tâm thể bừng sáng, hành giả có thể chứng được niệm Phật tam muội”.

Trên đây là những điểm trình bày sơ lược về ba yếu tố Tín, Hạnh, Nguyện, quan trọng của pháp môn Tịnh độ, cho chúng ta thấy Tịnh độ có phần đơn giản, dễ thực hành mà kết quả lại cao tuyệt. Môn này quả là pháp môn phương tiện siêu thắng, là thuyền từ ra khỏi Ta-bà, là cửa mầu để vào Phật đạo: “Xuất Ta-bà chi bảo phiệt, thành Phật đạo chi huyền môn”. Sự thành tựu nhiệm mầu ấy được các bậc Cổ đức đánh giá rằng: “Tu các pháp môn khác, chẳng khác gì con kiến bò dọc theo ống tre, hành trì môn Tịnh độ, như con kiến đục thủng ống tre bò ra ngoài”.

Phải chăng, pháp môn Tịnh độ là pháp môn duy nhất trong thời Mạt pháp để cho chúng sanh y cứ tu tập, thoát ly sanh tử luân hồi. Như trong kinh Đại tập nguyệt tạng đức Phật có dạy: “Mạt pháp ức ức nhân tu hành, hãn nhứt đắc đạo, duy y niệm Phật đắc độ sanh tử” (thời Mạt pháp ức ức kẻ tu hành, song ít có người đắc đạo, chỉ nương vào pháp môn niệm Phật, mà thoát khỏi luân hồi). Đó có phải là mật ý vi diệu, là tình thương bao la của bậc trí tuệ bất tận, đối với chúng sanh căn cơ hèn kém, như trong kinh Vô lượng thọ, Phật dạy: “Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dữ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh chỉ trụ bách tuế. Kỳ hữu chúng sanh trị tư kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ” (trong đời tương lai, khi kinh đạo diệt hết, ta dùng sức từ bi thương xót, riêng lưu trụ kinh này một trăm năm. Chúng sanh nào gặp kinh này, tùy theo sở nguyện, đều có thể đắc độ).

Vì tính cách khế cơ ấy, mà từ trước đến nay, không biết bao nhiêu người niệm Phật, được kết quả vãng sanh. Sự mầu nhiệm ấy, như rồng bay phượng múa, ngọc chạm vàng khua, mà trong Tịnh độ thánh hiền lục đã thuật lại rõ ràng. Pháp môn này lại bao quát cả ba căn, trên từ các bậc Đẳng giác Bồ-tát, các bậc đại đức cao Tăng, dưới cho đến những kẻ cùng hung cực ác, nhẫn đến các loài súc sanh, như nhồng, sáo, uyên ương, se sẻ… nhờ niệm danh hiệu Phật A-di-đà đều được vãng sanh về Tịnh độ.

Trải qua bao thế hệ thăng trầm, dòng thời gian biến đổi, tất cả một số tông phái khác có nguy cơ bị hoại diệt, hoặc trở thành một triết lý hỗ tương. Riêng tông Tịnh độ có tính cách thiết thực, đã đứng vững và phổ cập, trở thành một trong hai tông phái tu tập căn bản của Phật giáo đại thừa là Thiền tông và Tịnh độ tông. Đây có thể nói là hai tông phái bao trùm toàn bộ tinh hoa, đường lối tu tập của Phật giáo Đại thừa.

Với sự tán dương và truyền thừa tông Tịnh độ, từ trước đến nay có biết bao vị cao Tăng thạc đức, các bậc văn nhân chí sĩ… đã làm các sớ giải, các luận văn, làm truyện, làm kệ, làm phú, làm thơ… để khen ngợi và cùng xiển dương tông phái này.

Ngoài ra, các bậc cao đức, chuyên tu tịnh nghiệp, cầu sanh Tây phương không sao xiết kể, như ngài Bách Trượng-Hoài Hải với bản Bách trượng thanh quy làm quy củ cho Thiền tông, cũng không ra ngoài ý nghĩa quy túc Tịnh độ. Các tổ bên Thiền tông như Vĩnh Minh-Diên Thọ, Thiên Như-Duy Tắc, Thiên Thai-Hoài Ngọc… bên Luật tông như các ngài Nguyên Chiếu, Hoài Tổ… bên Tam luận tông như các ngài Cát Tạng, Đạo Lăng… bên Duy thức tông như các ngài Khuy Cơ, Hoài Cảm… bên Mật tông như các ngài Bất Không, Hồ Đồ-Khắc Đồ… bên Hoa nghiêm tông như các ngài Đỗ Thuận, Trừng Quán… bên Pháp hoa tông như các ngài Trí Giả, Quán Đảnh... các bậc cao Tăng xướng lãnh các tông trên đây và vô số danh Tăng khác, cũng đều phát nguyện cầu sanh cảnh giới Cực Lạc.

Tại nước Việt Nam, tư tưởng Tịnh độ đã sớm hòa nhập và phát huy mạnh mẽ. Trong thế kỷ XI, có ngài Tĩnh Lực (thuộc phái Vô ngôn thông), là vị đã chứng được niệm Phật tam muội. Thảo Đường quốc sư, vị khai tổ dòng thiền thứ ba của Phật giáo Việt Nam (thế kỷ XIII ) đã khuyên đồ chúng nên tu Tịnh độ, với bài Pháp ngữ thị chúng tuyệt vời. Tôn giả Pháp Loa nhị tổ của phái thiền Trúc Lâm-Việt Nam cũng đã lập tháp Cửu phẩm liên đài để khích lệ tứ chúng cầu nguyện vãng sanh. Thời cận đại có các bậc cao Tăng như Hòa thượng Tâm Tịnh, Hòa thượng Phước Huệ, Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Hải Tràng, Hòa thượng Thiền Tâm… các Ngài đã tự tu và truyền bá pháp môn này, làm cho Phật pháp được bảo tồn và lan rộng, thịnh hành đến ngày nay.

Thiết nghĩ, trên bước đường tu tập người xuất gia lẫn tại gia ai cũng mong muốn đạt đến quả vị giải thoát, nhưng thành tựu sở nguyện đó là điều không phải dễ dàng. Khi trong tự thân chúng ta luôn tràn đầy những nghiệp lực chi phối, cộng thêm hoàn cảnh xã hội bên ngoài, luôn có năng lực tác động đưa con người đi vào trong quỹ đạo của dục vọng đê hèn. Chỉ một tập quán xấu nhỏ nhưng diệt trừ nó không phải đơn giản, hoặc một chút điều lành nhưng thực hiện không phải là một sớm một chiều. Để rồi trong âm thầm, cuộc sống của chúng ta cứ trôi lăn trong vòng sanh tử, trong sự chỉ đạo của phiền não, tồn tại với bao ước vọng ảo huyền, rồi một mai khi tấm thân tứ đại này tan rã, biết hướng về đâu mà nương tựa.

Chi bằng, đặt trọn tấm lòng thành hướng về với Tam bảo, mỗi niệm xả ly Ta-bà, mỗi niệm mỗi niệm cầu về Cực Lạc. Quyết chí nương nhờ Phật lực phát nguyện cầu sanh Tây phương, đến khi thành tựu quả vị Bồ-đề, trở lại Ta-bà tiếp độ chúng sanh. Có như vậy mới hợp với bản hoài thị hiện của đức Phật Thích-ca, đúng với hạnh nguyện tiếp dẫn của đức Phật A-di-đà và khỏi cô phụ tánh linh của mình.
 

 

LẦN CHUỖI ĐÚNG PHÁP ĐƯỢC TIÊU TỘI  ^

Thích Tâm Viên

 

Theo quan niệm thông thường của Phật giáo, lần chuỗi niệm Phật sẽ giúp hành giả đoạn trừ tiêu sạch tội chướng, và đạt được giải thoát. Cho nên trong kinh Niệm Châu có dạy: “Hành giả nếu muốn niệm Phật hãy để trên đảnh mà niệm thì tiêu sạch được tội vô gián địa ngục. Còn như thường đeo nơi cổ thì tiêu sạch được tội tứ trọng (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối). Như cầm trong tay thì tiêu sạch các tội chướng.”

Như vậy, chúng ta đã biết công đức và sự lợi ích của xâu chuỗi rất lớn, có năng lực khiến cho người tu hành đặng mau phản vọng quy chơn, mau đạt đến cảnh giới thanh tịnh. Sự cầm chuỗi, đeo chuỗi còn được lợi ích như vậy, huống gì chúng ta trong khi niệm Phật hay trì chú mà biết ứng dụng tay trái kiết ấn để ngang ngực còn tay mặt cầm chuỗi ghi nhớ số lần niệm thì công đức vô lượng vô biên.

Vừa rồi, quý vị đã thấy lợi ích của xâu chuỗi. Kế đây, chúng tôi xin hướng dẫn quý vị thực tập hành trì. Khi vào chánh điện, hay ở trước bàn Phật, quý vị nên tưởng bài niệm chuỗi như sau:

Thăng trầm tam giới thật khả thương

Luân hồi lục đạo khổ nan đương

Lục tự Di Đà thường quán tưởng

Duy tâm tịnh độ mạc tư lương.

Kế đó, quý vị nhìn vào tượng Phật Di Đà mà xưng tán. Xưng tán ở đây có nghĩa là tán dương công đức, khen ngợi ánh hào quang và y báo, chánh báo vô biên, vô lượng của Ngài. Vì vậy, bất cứ người  nào tu pháp môn Tịnh độ cũng đều phải tán thán.

A-di-đà Phật đức Y vương

Thọ mạng thân vàng sống không lường

Nguyện độ chúng sanh qua khổ ải

Dắt dìu vạn loại đến Tây phương.

Chín phẩm sen vàng làm Tịnh độ

Rước người niệm Phật hóa Lạc bang

Độ chúng Ta-bà quy An dưỡng

Đồng về cực lạc cõi Tịch Quang.

Thật vậy, quý vị đã từng đọc tụng kinh Di Đà, chắc còn nhớ rõ câu “thâm tín chi pháp” và bốn mươi tám lời nguyện của Ngài, nhất là lời nguyện thứ mười tám: “Nếu tôi thành Phật, chúng sanh mười phương hết lòng tin ưa, muốn vào nước tôi, cho đến niệm chừng mười niệm, nếu không được như thế thì tôi nguyện không thành Chánh giác, chỉ trừ những người nào tạo tội ngũ nghịch, bài báng Chánh pháp.” (kinh Vô Lượng Thọ, Đại 12268 thượng ghi). Vì thệ nguyện của đức Phật A-di-đà cao cả như thế, nên người nào xưng danh hiệu Phật có đủ tâm chí thành và phát nguyện hồi hướng thì người đó nhất định sẽ được Phật tiếp dẫn. Vì thế, chúng sanh nào nếu muốn không còn luân hồi sanh tử, thì phải nên nhất tâm niệm Phật.

Vì vậy, trong tiến trình tu học Phật, xâu chuỗi một trăm lẻ tám hạt hay mười tám hạt là những phương tiện không thể thiếu đối với người tu đạo giải thoát. Vì sao vậy? Bởi vì thân tâm phàm phu của chúng ta hiện nay duyên trần bận buộc, nghiệp chướng sâu dày, trong cuộc đời thường bị các trần cảnh làm nhiễm ô, vọng tưởng điên đảo chi phối, nên sự niệm Phật khó đạt được sự nhất tâm bất loạn, do đó cần phải nhờ đến xâu chuỗi làm phương tiện để nhắc chúng ta tấn tu đạo nghiệp.

Sau đây, chúng tôi xin trình bày về nguyên nhân có xâu chuỗi 108 và ý nghĩa của nó.

Nguyên nhân có xâu chuỗi 108 hạt:

Thuở xưa, khi đức Phật còn tại thế, có một vị quốc vương tên là Ba Lưu Ly, lãnh thổ nhà vua cai trị là một tiểu quốc thuộc nước Ấn Độ. Nhưng không may, gặp năm mất mùa, lúa gạo đắt đỏ, giặc cướp nổi lên, bệnh tật lan tràn cả nước; trước cơn thiên tai loạn lạc như thế, nhà vua vô cùng lo âu, không biết tìm cách nào để cứu vãng tình thế? Bỗng nhà vua nhớ đến đức Phật và thầm nghĩ: “Đức Phật là đấng Từ bi, Ngài có thể hiện thân cứu hộ tất cả chúng sanh, vậy chắc chắn Ngài có thể cứu khổ được nhân dân ta lúc này”. Vua liền cho sứ giả đến chỗ Phật ngự và trình bày tất cả những việc đã xảy ra trong nước đồng thời nhờ đức Phật tìm phương cứu độ.

Đức Phật dạy: “Nếu muốn thoát khỏi cơn hoạn nạn này cũng như để diệt trừ ba chướng thì phải tìm cho được 108 hột cây trai rồi xâu lại thành chuỗi để niệm cho hết một ngày một đêm như vậy, cứ niệm danh hiệu Tam bảo: Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng và một lần niệm thời lần qua một hạt, dần dần cho đến 108 hạt, nếu như niệm được 108 lần thì trừ được 108 kiết sử phiền não, khi được định tâm rồi sẽ chứng được bốn Thánh quả (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán) và cuối cùng sẽ thành Phật.” Sau khi nghe đức Phật dạy xong, sứ giả trở về thuật lại cho nhà vua nghe những gì đức Phật đã chỉ dạy. Nhà vua vô cùng mừng rỡ nên lập tức ra lệnh cho dân chúng trong nước tìm cho được hạt cây trai và xâu lại thành chuỗi để niệm Phật.

Thế rồi chính nhà vua, mặc dù quốc sự đa đoan nhưng Ngài vẫn rất siêng năng trì niệm trong những giờ rảnh việc. Bỗng một hôm, đức Phật hiện ra trước mặt và nói: “Nhờ nhà vua siêng năng niệm chuỗi cho nên trong nước được thoát nạn, dân chúng được an cư lạc nghiệp.”

Về sau, nhà vua phát tâm xuất gia học đạo, tu hành phạm hạnh cuối cùng được làm một vị Bích Chi Phật ở thế giới Phổ Hương.

Qua sự việc trên, chúng ta thấy được nguyên nhân xuất hiện xâu chuỗi 108 hạt và hiệu quả của sự lần chuỗi thật là to lớn.

Ý nghĩa của xâu chuỗi 108 hạt:

 Trong khi nhãn căn tiếp xúc với lục trần dễ khởi đắm say, từ chỗ đắm say nên sáu tên giặc phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến) có cơ hội phát sanh; nhĩ căn và các căn sau (tỷ, thiệt, thân, ý) cũng thế. Mỗi căn tiếp xúc với trần cảnh đều tạo ra sáu tên giặc nên sáu căn tạo ra cả thảy 6 x 6 = 36 tên giặc phiền não. Nếu cộng chung ba thời kỳ quá khứ, hiện tại, vị lai thì có ra một trăm lẻ tám giặc phiền não. Như vậy, một trăm lẻ tám hạt châu Bồ-đề ở đây nếu được ta dùng vào việc niệm Phật thì có công năng tiêu mòn hết các tội chướng, hay nói khác hơn là chuyển hóa một trăm lẻ tám giặc phiền não kiết sử, nhờ đó hành giả được an vui, giải thoát hoàn toàn. Khi cầm xâu chuỗi 108 hột chúng ta nên đọc câu kệ:

Thủ trì nhất bá bát

Diệt tội đẳng hà sa

Viễn ly tam đồ khổ

Xích sắc biến liên hoa.

Dịch nghĩa:

Tay cầm trăm tám Bồ-đề

Tiêu mòn các tội đặng về Tây phương

Khỏi nơi chốn khổ ba đường

Lửa hồng liền biến liên hương nhiệm mầu.

Nam mô Định Tâm Vương Bồ-tát

Tóm lại, mỗi chúng ta đều nên có một xâu chuỗi 108 hoặc 18 hạt để nhắc nhở chúng ta luôn luôn nhớ niệm Phật. Nhờ nương vào xâu chuỗi mà niệm Phật dần dần ta đạt được nhất tâm tức là niệm niệm liên tục không có niệm khác. Đó chính là vào chánh định và từ đó trí huệ sẽ phát sanh. Nhưng có một điều cần chú ý là muốn niệm Phật mau được định thì chúng ta cần phải nghiêm trì giới luật, chớ một mặt thì niệm Phật, một mặt thì buông lung phóng túng, phá trai phạm giới thì không biết đến bao giờ mới có kết quả. Việc này cũng giống như trong một gia đình, người vợ thì lo buôn tảo bán tần để tích lũy của cải gia đình, còn người chồng thì chỉ lo cờ bạc hút sách gây nợ nần chồng chất thì gia đình đó chỉ có tan nát mà thôi.
 

 

 ĐỐI TƯỢNG CỦA THIỀN QUÁN  ^

Thích Thái Hòa

 

Đối tượng của thiền quán là Sắc pháp và Tâm pháp hay thân thể và tâm thức.

Sắc pháp là những pháp thuộc về vật lý, bao gồm các thể tính không biểu hiện cụ thể, cho đến các hình sắc, âm thanh, mùi vị,… mà các quan năng có thể nhận thức được. Tất cả những Sắc pháp như thế, đều có thể là đối tượng của thiền quán.

Tâm pháp là những pháp thuộc về tâm lý hay tâm thức. Cảm giác, tri giác, ý chí, tư niệm; hiểu biết, phân biệt… đều là những thành phần của tâm pháp, hay tâm thức. Tất cả những yếu tố của Tâm pháp như thế, đều có thể là đối tượng của thiền quán.

Thiền là phương pháp làm cho tâm ngưng lắng hết thảy mọi thứ phiền não. Và Quán là nhìn sâu vào trong lòng của đối tượng để nhận rõ tác nhân, tác duyên, bản chất cũng như tác dụng của chúng.

Ở kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm này, đức Phật dạy bốn phương pháp thiền tập:

Phương pháp thứ nhất: Quán niệm về thân thể.

Thực tập theo phương pháp này, hành giả phải thấy rõ và làm chủ mọi động tác của thân thể. Phải biết một cách đích thực những gì đang diễn ra ở nội và ngoại cơ thể qua các hình thái đi, đứng, nằm, ngồi, co, duỗi, các yếu tố hình thành và các trạng thái hủy diệt của cơ thể.

Phương pháp thứ hai: Quán niệm về các cảm giác.

Thực tập theo phương pháp này, hành giả sử dụng mọi cảm giác làm đối tượng quán niệm. Tức là hành giả không đồng tình theo cảm giác dễ chịu, và cũng không đối kháng lại với cảm giác khó chịu, hoặc không để ý thức quán niệm bị quên lãng giữa những cảm giác không phải dễ chịu mà cũng không khó chịu. Trái lại, hành giả chỉ đưa ý thức tỉnh giác đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các cảm giác ấy, để nhận rõ tính chất như thật của chúng.

Cảm giác có thể có mặt từ nơi tâm, hoặc từ nơi thân, nhưng dù nó có mặt từ đâu đi nữa, thì hành giả thực tập theo phương pháp này, phải đưa ý thức tỉnh giác đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các cảm giác ấy, để mọi hạt giống tham ái, sân hận và si mê trong tâm thức của hành giả không có cơ hội tùy sinh và biểu hiện lên trên mặt ý thức.

Phương pháp thứ ba: Quán niệm về tâm ý.

Thực tập phương pháp này, hành giả sử dụng các yếu tố tạo nên tâm ý, làm đối tượng quán niệm. Khi các yếu tố như tham, sân, si… có mặt nơi tâm ý, thì hành giả đưa ý thức tỉnh giác, ý thức chánh niệm đi kèm và có mặt một cách đích thực ở trong các yếu tố tạo nên tâm ý xấu ấy, để nhận rõ sự có mặt và tính chất nguy hại của chúng. Do hành giả có ý thức chánh niệm như vậy, nên các yếu tố tạo nên tâm ý xấu ấy, không thể nào tiếp tục hiện hữu và phát triển một cách tự do trên mặt ý thức, và đương nhiên, chúng sẽ bị hạn chế, bị dừng lại và tự khử diệt.

Khi các yếu tố tốt đẹp như vô tham, vô sân, vô si, tàm, quý… có mặt nơi tâm ý, thì hành giả đưa ý thức tỉnh giác, ý thức chánh niệm đi kèm và có mặt một cách đích thực trong các yếu tố tạo nên tâm ý cao thượng, tốt đẹp ấy, để nhận rõ sự có mặt và tính chất an toàn của chúng, nhằm nuôi dưỡng và thăng tiến chúng trên mọi hoạt động của ý thức, và lẽ đương nhiên, chúng sẽ được biểu hiện ra trong mọi sinh hoạt hằng ngày, tạo nên những chất liệu tươi mát và an ổn trong cuộc sống.

Phương pháp thứ bốn: Quán niệm về pháp.

Thực tập phương pháp này, hành giả có thể sử dụng các pháp thuộc về nhân duyên như năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới làm đối tượng để quán niệm.

Hoặc có thể sử dụng các pháp thuộc về năm sự che khuất ở nơi tâm thức làm đối tượng quán niệm. Hoặc có thể sử dụng các pháp thuộc về giác ngộ hoặc giải thoát đang có mặt nơi tâm thức, như Bảy yếu tố giác ngộ, hay Bốn thánh đế làm đối tượng quán niệm.

Nhờ thực tập quán niệm các pháp thuộc về nhân duyên hoặc các pháp thuộc về vô lậu, mà các tham dục, sân hận, si mê, chấp ngã… đều bị đoạn tận, các thiện pháp vô lậu phát sinh và lớn mạnh, biểu lộ trọn vẹn trong mọi hình thái sinh hoạt hằng ngày.

Bốn phương pháp thực tập này, là căn bản của hết thảy mọi pháp môn thuộc về thiền quán. Không có hành giả Thiền tông nào mà không khởi hành đầu tiên bằng bốn phương pháp này.

Thực tập bốn phương pháp này trong đời sống hằng ngày, qua mọi động tác của thân thể, qua các cảm thọ, các tri giác, các tư niệm, qua sự tiếp xúc của các căn, trần và thức từ nội pháp, đến ngoại pháp, từ tục đế đến chân đế, là hành giả đang đi trên Thánh đạo, đang tiến dần đến đời sống giải thoát, an lạc và có thể đạt được Niết-bàn ngay trong đời sống hiện tại. Bởi vậy, đức Phật dạy: “Có một con đường đưa chúng sanh đến thanh tịnh, vượt qua sự lo lắng, sợ hãi, diệt trừ khổ não, chấm dứt khóc than, thành đạt Chánh pháp, đó là Bốn lãnh vực quán niệm.”

Đức Phật còn dạy: “Nếu thực tập bốn phương pháp này với tâm ý tha thiết, thuần nhất, thì buổi sáng thực tập, buổi chiều đã đạt được sự thăng tiến, hoặc buổi chiều bắt đầu thực tập, thì sáng mai đã đạt được sự thăng tiến.”

Đức Phật còn dạy: “Các đức Như Lai ở thời quá khứ, ở thời hiện tại, hay ở thời tương lai, các Ngài đạt được Bậc chánh giác, Bậc không còn bị mắc kẹt bởi điều gì, Bậc chặt đứt năm sự ngăn che, Bậc dứt sạch hết mọi cấu uế nơi tâm, Bậc loại trừ hết mọi yếu ốm của Tuệ, Bậc đạt được sự hiểu biết chơn chánh, Bậc đạt được địa vị giác ngộ cao nhất, chính là do các Ngài đã, đang và sẽ thiết lập tâm an trú vững chãi vào Bốn lãnh vực quán niệm này.”

Như vậy, qua lời dạy của đức Phật, chúng ta cần phải tinh chuyên thực tập bốn phương pháp quán niệm này hằng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây và do công năng thực tập như vậy, khiến cho các chi phần của thân và ngữ càng lúc càng trở nên thanh tịnh, khiến cho các quan năng nhận thức càng lúc càng trở nên trong sáng, khiến cho các niệm càng lúc càng trở nên thuần tịnh, và khiến cho sinh mệnh càng lúc càng lớn mạnh trong Thánh đạo.

Và hiển nhiên, đời sống an lạc đối với chúng ta không còn là một ước mơ, mà là một hiện thực.


 

 

Hoà thượng tạm trú ^

TT. Thích Hạnh Thiền

 

Sáng hôm nay sau giờ điểm tâm, thầy tri sự xin phép Sư ông để phân công đột xuất một số việc nhẹ trước khi cả chúng vào lớp học. Hòa thượng Sư ông chúng tôi đã vui miệng nhắn nhủ thêm: “Bất tác bất thực! Nhưng lao tác cũng phải chánh niệm, các chú đừng tưởng đó không phải là pháp tu đâu nhé!”. Cả chúng hân hoan chấp tay cúi đầu y giáo phụng hành. Bỗng có tiếng khóc thúc thít của điệu nhí (chú tiểu) từ cửa đi vào. “Sư ông ơi! Hu hu… chú Tâm Hỷ mắng nhiếc con, chú nói con là thứ ăn bám chớ đuổi quạ đuổi chim gì, chú còn chê con là thành phần tạm trú, không có hộ khẩu sẽ hậu khổ cho mà coi... hu… hu… mà Sư ông ơi! Con tu hành công khai, đi đứng đàng hoàng chớ có tu chui, tu lòn, tu cúi gì đâu mà chú Tâm Hỷ cứ nhạo báng con hoài... hu... hu”. Cả chúng đều cười rộ lên rất thương cảm câu nói ngây thơ của chú điệu, tuổi còn để chỏm.

 Sư ông cũng nín cười không được, kéo điệu nhí vào lòng an ủi: “Con nín đi, chú Tâm Hỷ thử con đấy, ai vào chùa bước đầu cũng bị thử thách dữ lắm để coi hành giả tí hon này có hạt giống nhẫn nhục không, có bi-trí-dũng không hay là sợ đói, sợ nhục, sợ chết”. Thấy điệu nhí còn ấm ức, Sư ông nói to thêm cho mọi người cùng nghe: “Đâu phải mình con tạm trú trong chùa này mà chính sư phụ đây và các thầy nữa cũng thuộc thành phần tạm trú. Có điều là chúng ta tạm trú ở trần gian đau thương này được bao lâu, giỏi lắm là 100 năm, sau đó lại tạm vắng!” Điệu nhí có vẻ còn ngơ ngác chưa hiểu, nó hỏi: “Tạm vắng là đi đâu hả Sư ông”? Hòa thượng phá lên cười: “Tạm vắng là đi nghĩa trang chớ đi đâu”. Cả chúng cười vang như bừng ngộ! Sư ông vò đầu điệu nhí, nói thêm: “Ra nghĩa trang rồi cũng chưa gọi là thường trú đâu mà vẫn gọi là tạm trú, nghĩa là đang trong giai đoạn tạm vắng tại chùa... để chờ ngài Địa Tạng xét xử thông qua lý lịch rồi mới bổ xứ đi nơi khác - tùy nghiệp thọ sinh. Con ma nào chơn chất thật thà thì hy vọng được khôi phục quyền làm người trở về nguyên quán, còn con ma nào ăn gian nói dối, đè đầu bóp cổ thiên hạ thì nhất định bị tạm giam cõi đọa xứ... và như vậy cũng vẫn là tạm nữa, Vô thường mà!”. (Một số chú cười vang thoải mái).

 Thật là nhân duyên kỳ thú, nhờ có điệu nhí khởi nghi tình mà Sư ông khai thị bài pháp rất vui và rất thấm. Sư ông dạy: “Điệu nhí còn bé như hành giả sơ cơ còn chấp vào thường trú hay tạm trú, đâm hoang mang lo sợ mất quyền lợi, vẫn bị xúc động bởi thế tình: được mất, khen chê, vinh quang, ô nhục, hạnh phúc và đau khổ. Còn các chú có hiểu biết hơn nên dễ nhận ra những mỹ từ, tước hiệu chỉ là giả danh (y tha khởi) mà thực thể là Không (vô ngã). Chấp vào phía nào cũng là khổ cả, do đó phải tùy thuận chúng sinh, tùy duyên bất biến. Nói vậy mà không phải vậy, nên tạm gọi là vậy”. Thấy điệu nhí hồn nhiên tươi tắn trở lại, Sư ông nói: “Đó! Hồi nãy con khóc, bây giờ con vui, đó là tâm thức vốn vô thường, sáng nắng chiều mưa trưa giận dỗi. Ngài Địa Tạng - miếng đất Tâm chứa đủ thứ hạt giống xấu tốt của ta. - Vẫn giữ mãi lời tuyên thệ nếu bản tâm địa ngục tham ác này mà chưa trống rỗng, ta nguyện chưa thành Phật. Tâm ta, nó hay thay lòng đổi dạ lắm. Khi thì ở thiên đường, khi thì ở địa ngục chỉ trong một thoáng giây. Chúng sinh đều tùy nghiệp mà thọ quả nơi đó, thiên đường địa ngục cũng đều là biểu hiện của tâm thức chúng sinh trong cõi nhân gian này. Thiên đường biểu trưng cảnh giới an lạc, nơi trụ xứ của chư thiên trường thọ, vô khổ; đồng thời cũng ám chỉ trạng thái tâm thức tĩnh lặng buông xả, giải thoát. Còn địa ngục biểu trưng cảnh giới tối tăm cực hình thống khổ. Nó cũng chính là bản tâm sân hận cực độ của chúng sinh khi khát vọng không được thỏa mãn”.

Đến đây, Sư ông có vẻ tâm đắc điều gì, vui miệng dẫn dụ thêm: “Thiên đường và địa ngục là hai trong sáu cảnh giới mà chúng ta vẫn đến tham quan hằng ngày. Đây nhé, thứ nhất là cõi chư thiên - Buổi sáng sớm không khí trong lành thanh tịnh, chúng ta thức dậy xông trầm, dâng hương tĩnh tọa, hay đi thiền hành ngoài vườn, thư giãn các tư thế dưỡng sinh, chánh niệm mỗi hơi thở, thấy lòng mình lâng lâng sảng khoái, thân tâm cảm thấy nhẹ nhàng thanh thoát. Đó là giây phút chúng ta đang sống trong cõi chư thiên an lạc. Thứ hai là cõi người - Trời sáng dần, ô nhiễm về môi trường, về âm thanh tiếng động, không khí bắt đầu nặng nề, chúng ta trở lại thế giới kiếp người, lo toan đời sống, ăn mặc, ở, sử dụng cái tập quán thế trí biện tài, tạo nghiệp thiện ác, khổ vui lẫn lộn. Thứ ba là cõi A-tu-la - Vì phải nhọc nhằn dấn thân đấu tranh căng thẳng với xã hội, gia đình, thường khi không được như ý, bất mãn sân si, tâm thức bắt đầu xuống cấp, tánh khí hung hăng. Đó là lúc chúng ta phải tạm trú nơi cảnh giới A-tu-la sân hận, khổ đau. Thứ tư là cõi Địa ngục - Cấp độ sân si càng bừng lửa, cuộc sống bị dồn ép, bức xúc, vì tranh chấp buộc phải dùng mọi thủ đoạn gian dối, phải giải quyết bằng bạo lực đao to búa lớn. Tâm trí đồng nhất với ác ma; ở đâu lúc nào cũng toàn thấy máu lửa hận thù. Đó là trạng thái của con người sống trong nhà tù địa ngục tối tăm nơi trần gian này. Thứ năm là cõi Ngạ quỷ - Năng lực phí tổn cho tham vọng hàng ngày, thân tâm trở nên mệt mỏi, ăn uống thiếu kém, lo đau sợ chết. Sự thèm khát tăng trưởng, liền bày mưu tính kế, hù dọa kẻ yếu, cướp giựt của cải dân lành, phẩm chất cô hồn xuất hiện, để cầu xin lẽ sống miếng ăn. Dù là đang mang thân người, mà lòng dạ quỷ đói. Thứ sáu là cõi Súc sanh - Bản tính loài vật bộc lộ, mất hết lương tri, sống u mê chụp giựt, hành xử theo luật rừng, mạnh được yếu thua, ăn uống tạp loạn không còn tình người, hiện tướng như con vật biết nói”.

Sư ông đứng phắt dậy cười vang: “À, mà các chú chớ có ham thường trú trong ba cảnh giới địa nguc, ngạ quỷ, súc sanh nhé! Chỉ tạm trú thôi rồi chánh niệm mà chạy ra mau, kẻo nó thành một tập khí như HIV thì vô phương cứu gỡ...!!!.” Đại chúng chắp tay: “A-DI-ĐÀ PHẬT”.

 

Chiến thắng ham muốn vượt thoát khổ đau  ^

Lam Yên

 

Bàng bạc khắp trong kinh điển Phật giáo kể cả hệ Nam truyền lẫn Bắc truyền, đức Phật đã chỉ bày cặn kẽ, cội nguồn của đau khổ là do dục vọng mà ra. Dục vọng theo nghĩa thông thường là lòng ham muốn về những gì mà mình cảm thấy không thỏa mãn. Thuật ngữ Kama, có nghĩa là ham muốn. Duy thức luận quyển 5: “Thế nào gọi là dục? Đó là lạc cảnh ham muốn thành tính, bám riết thành nghiệp”. Tạp A-hàm: “Dục sinh ra mọi phiền não, dục là cái gốc sinh ra khổ.” (Từ điển Phật học Hán Việt, tr. 348)

Đời người có nhiều ham muốn mạnh mẽ. Con người có cơ thể, có tính sinh lý nên sinh ra ham muốn về những nhu cầu như ăn, uống, vui chơi. Con người lại có lĩnh vực tinh thần nên sinh ra những khát vọng để theo đuổi như nghệ thuật hội họa, âm nhạc, thi ca... Con người sau khi kết thành xã hội lại sanh ra khát vọng như tài sản, địa vị, quyền thế, danh dự…

Làm thế nào để hiểu được bộ mặt thật của dục vọng?

Trong kinh Pháp Cú đức Phật có dạy: “Đánh thắng vạn quân không bằng tự thắng lòng mình”. Vì sao thế? Thắng vạn quân thì dễ, vì trận tuyến quân địch là đối tượng rõ ràng, ta có thể khách quan xem xét ưu khuyết điểm để tận dụng kỹ thuật tác chiến mà giành phần thắng lợi. Hơn nữa, trong trận tuyến ta không bị ràng buộc về tình cảm, đồng thời ta có nhiều binh sĩ giúp đỡ, những phương tiện để ứng dụng đối phó. Còn chiến đấu với kẻ thù ngay trong bản thân ta mới thật khó. Cái thói hư tật xấu về dục vọng thì muôn vàn khó khăn để nhận thấy và thường do lòng vị kỷ tự ái che đậy bởi những mặt giả tạo nên trận tuyến thì không rõ ràng. Đặc biệt, ta phải đơn độc đấu tranh, trong khi kẻ thù lại dẻo dai luôn theo sát và chờ cơ hội chểnh mảng mà tự do đột kích hoành hành làm ta luôn vất vả khó khăn vượt thoát đau khổ. Các Tôn giáo đã từng nhấn mạnh vào công trình đấu tranh nội tâm, như hình ảnh đức Phật bị ma ba tuần cám dỗ một cách dồn dập ngay thời điểm tìm ra con đường cứu khổ cho chúng sanh, chúa Jesu bị ma quỷ cám dỗ trước ngày dâng mình chuộc tội cho loài người. Vậy, ta có thể thấy bộ mặt thật của dục vọng là sự thấp hèn, làm cản trở bước tiến của con người trong xã hội nói chung và làm cản trở cho tiến trình tu tập của hành giả nói riêng hầu thể nhập dòng suối nguồn uyên nguyên giải thoát, thể chứng tâm linh mà đức Phật đã cố công dẫn dắt chỉ bày.

Dục vọng qua cái nhìn của thế gian.

Người ta nói chung đều cho rằng, trong đời người nếu thỏa mãn được một phần mong muốn cũng sẽ có thể được sung sướng một phần. Nếu người ta thỏa mãn hoàn toàn ham muốn đương nhiên sẽ được tất cả sung sướng. Theo người viết, có rất nhiều mong muốn và chúng thay đổi giá trị và tầm quan trọng theo thời gian. Có những ham muốn trường cửu, có những ham muốn thoáng qua. Một ham muốn của ngày hôm nay có thể tan biến vào ngày hôm sau, hoặc trở nên mãnh liệt hơn. Đối tượng của ham muốn có thể thay đổi khi chúng ta trưởng thành. Song, nó vẫn còn đó, sự thỏa mãn hay nỗi thất vọng vẫn luôn ở trong môi trường sống của chúng ta. Trên thực tế, có mấy ai bằng lòng với mong muốn của mình, có mấy ai bằng lòng với khát vọng của mình. Quan sát tỉ mỉ, con người trong thế gian, người ta thỏa mãn càng nhiều so với ham muốn của mình, lập tức có thể sanh ra ham muốn mới. Niềm sung sướng vừa nhận được rất nhanh chóng liền bị nhấn chìm bởi nỗi đau khổ sanh ra do ham muốn không đạt được, để rồi từng chuỗi đau thương chạy dài trên những chuỗi đau thương để đưa nhau về với bến bờ vô vọng. Hơn nữa, sự ham muốn của con người là vô hạn, bất kể lúc nào, nơi đâu trên thực tế đều không có khả năng thỏa mãn hoàn toàn, đời người vì thế trở thành đau khổ trong sự hành hạ, dày vò của ham muốn.

Phương pháp thiết thực nhằm thoát khỏi khổ đau do dục vọng dẫn đầu.

Schopenhauer nói với người đời rằng: “Hãy học tập Phật giáo, đức Phật dạy: Người sanh đau khổ, người lớn lên đau khổ, người chết cũng đau khổ. Nguyên nhân dẫn đến những khổ đau này của người đời là ở cái tham, cái giận, cái ngu, dục vọng tham lam quá mạnh, tính tình giận dữ cộc cằn, si mê không biết nghĩa tinh túy của thế gian. Do đó, muốn thoát khỏi khổ đau của đời người cần phải xem dục vọng là nước lũ, là thú dữ, trước hãy kiềm chế nó, sau bóp chết nó, khiến cho nó không còn đường đi lối về”. Để làm được điều đó hãy học tập kinh điển một cách thấu triệt, tu tập chuyển hóa, tuệ tri tận cùng tánh tướng của sự vật, hầu chặt đứt mọi ham muốn là động cơ bất thiện có thể dẫn đến đau khổ do ham muốn không đạt được. Suy cho cùng, sự ham muốn của con người không thể đem lại niềm vui và hạnh phúc chân chính mà là gây ra đau khổ.

Tóm lại, việc duy nhất mà những người học Phật có thể làm là phát huy năng lực lý tính vô ngã nơi tự thân, xem xét kỹ hoàn cảnh và môi trường mình đang sống, ước đoán mọi khả năng và điều kiện năng lực của bản thân, dùng phương pháp đúng đắn, tìm được sự thỏa mãn, những ham muốn của mình một cách hợp lý không vượt quá năng lực của mình và điều kiện xã hội cho phép. Chỉ có vậy đời người mới có thể thoát khỏi vấn vương của dục vọng, vượt qua đau khổ vươn tới an lạc, như kinh Pháp Cú 216, Phật dạy:

Dục ái sanh sầu ưu,

Dục ái sanh sợ hãi,

Ai thoát khỏi dục ái,

Không sầu, không sợ hãi.

 


 

TRUNG TÂM PHẬT GIÁO LUY LÂU ^

Sự hình thành và phát triển

Tâm Phương

(tiếp theo)

 

6.7. Sinh hoạt giáo học

Giáo học Phật giáo Giao Chỉ có mấy nét nổi bật như là: Bát Nàn, Thiều Hoa, Nàng Xuân, nền Giáo học Diệt bạo tướng Phật.

Có không ít những mô hình anh thư, liệt nữ đáng làm gương soi cho dân tộc Việt trong đấu tranh độc lập, giữ gìn đất nước. Một Bát Nàn, một Thiều Hoa, một Nàng Xuân, là những thần tượng lung linh ánh ngọc, rạng ngời núi sông. Sự nghiệp của những bậc anh thư, hương sắc không hề mờ phai theo cùng năm tháng trong việc tôn vinh, ca ngợi lên hàng anh hùng dân tộc. Trong số đó, đặc biệt là Nàng Xuân (Xuân Nương), một tùy tướng đã ẩn thân trong nhà chùa trước khi theo về dưới cờ của nhà Trưng để chống lại Thái thú Tô Định của Trung Quốc. Từ sự kiện trên đây cho thấy, Phật giáo Giao Chỉ đã được những nhà truyền giáo Ấn Độ “gieo hạt” niềm tin Phật trong dân gian từ trước nhà Trưng (40-43), để về sau mái chùa trở nên chốn dung thân cho anh hùng dân tộc trong việc chống ngoại xâm, như Nàng Xuân là một điển hình.

Từ việc toàn dân theo về dưới cờ nhà Trưng trong công cuộc chống ngoại xâm, việc nhà chùa liên hệ với phong trào tranh đấu cho độc lập dân tộc của nhà Trưng, đến việc Bà Triệu, dùng màu vàng làm màu cờ cho cuộc khởi nghĩa, đến việc tín ngưỡng dân gian tôn thờ Bà Trưng, Bà Triệu ngang hàng như một vị Phật, đã cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo vào trong dân gian rất lớn, điển hình nhất là nơi miếu thờ Nàng Xuân, tấm biển hoành được tôn vinh sự nghiệp của Bà lại ghi câu: Diệt bạo tướng Phật (vị trí chính giữa); nơi câu đối hai bên lại ghi: Thần tích hiển Nam bang (vị trí bên trái); Anh thư kinh Bắc địa (vị trí bên phải).

Một khi anh hùng dân tộc để lại sự nghiệp trong việc diệt trừ bạo tướng xâm lăng thì sẽ được con dân tôn vinh ngang hàng như Phật. Chính vì điều này mà ngài Khương Tăng Hội ở Lục độ tập kinh đã nói: “Bồ-tát là người xông vào nơi lửa dữ để cứu chúng sanh lầm than” (Lê Mạnh Thát, sđd). Bấy nhiêu điển hình cũng đủ cho thấy, cả nước, từ lãnh tụ đến con dân đều theo về dưới màu cờ: Diệt bạo tướng Phật. Từ đó cho chúng ta một nhận định: Phật giáo nhà Trưng được đánh giá là thời “bình minh” của nền Giáo học mang nội dung Diệt bạo tướng Phật, hay nói cách khác là: Phật giáo nhà Trưng (40-43), thời Giáo học Diệt bạo tướng Phật.

Phật giáo Mâu Tử, nền Giáo học “Câu minh … sở chiếu”

Thật vậy, Mâu Tử là người tạo ra sân chơi Giáo học có nội dung “Mặt trời, mặt trăng cùng sáng, mỗi vẻ có cái chiếu sáng riêng” (Nhật nguyệt câu minh, các hữu sở chiếu)6. Hay nói gọn lại là Giáo học “Câu minh… sở chiếu”. Có thể nói rằng, chính từ cương lĩnh Giáo học “Câu minh… sở chiếu” nầy đã chủ đạo tư tưởng Phật học Phật giáo Việt Nam qua suốt chiều dài 2000 năm lịch sử. Ở Phật giáo Mâu Tử, nó có màu sắc “Câu minh… sở chiếu”; lại trải qua 1000 năm Bắc thuộc, học lý Phật giáo Việt Nam cũng từ nền tảng cương lĩnh học lý “Câu minh… sở chiếu” nầy đã ứng hợp theo thời mà biểu hiện bằng nhiều tên gọi khác như: “Thâu hóa sáng tạo”. Rồi đến Quốc sư Vạn Hạnh (?-1018) thì cương lĩnh học lý ấy lại có tên là “Dung Tam Tế”, hay đó là “khéo giao việc theo từng người” (tri nhân thiện nhiệm)7, theo nhận định của tiên sinh Nguyễn Đăng Thục đó vậy.

Phật giáo Sĩ Nhiếp-Chu Phù-Khu Liên, một hướng đi Phật hóa Giao Chỉ

Sĩ Nhiếp (180+-226) làm thái thú Giao Châu hơn 40 năm (180+-226), được dân Giao Chỉ ca ngợi là Sĩ Vương. Sĩ Vương cùng với Khu Liên, Chu Phù là những lãnh tụ Giao Chỉ. Cả nhóm có mưu đồ Giao Chỉ tự trị trong vòng kiểm soát của Trung Quốc. Chu Phù đã dẫn đạo tư tưởng xã hội Giao Chỉ theo hướng “dùng Phật giáo trợ hóa chính sách An Dân”. Điều đó được biết qua lời của người đương thời đã phê phán Chu Phù khi họ nói: “(Chu Phù) vứt điển huấn của Thánh trước, bỏ pháp luật của nhà Hán, mặc áo đỏ, bịt đầu, đánh đàn, đốt hương, đọc sách đạo tà tục, bảo (là) để giúp trợ hóa”. Trong khi đó, Sĩ Nhiếp đã dựng chùa cho Nàng Mán, tạo thế lớn mạnh cho tín ngưỡng Phật-Việt Giao Chỉ, với hàm ý đưa xã hội Giao Chỉ thoát ra ngoài vòng ảnh hưởng của nền văn hóa phương Bắc, tạo thế tự trị rồi dẫn đến đấu tranh độc lập dân tộc. Sĩ Nhiếp còn dùng người Hồ (Tăng sĩ Ấn Độ) trong nghi vệ sinh hoạt lễ hội. Việc nầy sử kiện ghi rằng: “(Sĩ Nhiếp) ra vào đánh chuông khánh đầy đủ oai nghi, sáo thổi, trống gõ, xe ngựa đầy đường. Người Hồ đi sát bên xe, xông đốt hương, thường có mấy mươi, thê thiếp đi xe màn, con em theo lính kỵ, đương thời quí trọng”8.

Thông tin trên đây, theo sự giải thích của giáo sư Lê Mạnh Thát, đó là bối cảnh buổi lễ Phật đản ở Giao Châu đầu thế kỷ III. Điều mà ở Phật quốc ký, Pháp Hiển (399-418) mô tả lễ Phật đản ở Ấn Độ cũng giống như vậy.9.

Trong khi Giao Châu là một chư hầu nội thuộc Trung Quốc, việc gọi Sĩ Nhiếp là vua trong truyện của Man Nương, điều nầy cho thấy thế nước lòng dân Giao Châu bấy giờ muốn bày tỏ một ý chí độc lập dân tộc theo hướng: Một vua Sĩ Nhiếp trong một Giao Châu tự trị.

Chi-cương-lương-tiếp- Đạo Thanh-Na-liên-đề-da-xá, nền Giáo học phiên dịch

Truy nguyên nguồn gốc thì liên hệ đến tên Chi-cương-lương-tiếp (256+) có hai nhóm tên Sanskrit khác nhau. Một tên Kalyānśiva phiên âm là Chi-cương-lương-tiếp và một tên Kalyānaruci phiên âm là Cương-lương-lâu-chí. Chi-cương-lương-tiếp, dịch nghĩa là Chính Vô Úy, còn Cương-lương-lâu-chí dịch nghĩa là Chân Hỷ. Nhà chuyên môn cho rằng đó là 2 người khác nhau.

Chính Vô Úy cùng với Đạo Thanh (cũng gọi là Đạo Hinh) đã dịch Pháp Hoa Tam Muội kinh (Saddharmapundarika) tại Giao Châu vào năm 256 AD.

Về Đạo Thanh, có tư liệu gọi là Trúc Đạo Thanh. Có nhiều sử kiện ghi lại rằng, Trúc Đạo Thanh là đệ tử của Khâu-đà-la (Ksudra).

Về Na-liên-đề-da-xá, có sử liệu ghi Chi-cương-lương-tiếp cùng với Na-liên-đề-da-xá dịch 33 bài kệ tiếp nối tông thiền Ấn-Hoa10.

Trúc Đạo Thanh, Chi-cương-lương-tiếp, Khương Tăng Hội, đều là những lãnh tụ Phật giáo Giao Châu sống cùng thời; thế nhưng qua toàn bộ sách của Hội, không có một thông tin nào về Trúc Đạo Thanh cũng như về Chi-cương-lương-tiếp.

Trúc Đạo Thanh và Chi-cương-lương-tiếp hầu như đều bị sách sử bỏ sót. Điều may mắn là họ được Trúc Đạo Tổ (đệ tử của Huệ Viễn 334-416) ghi lại ở Ngụy thế lục.

Ma-ha Kỳ-vực (Mahajivaka), nền Phật giáo thần bí

Có 2 nguồn thông tin về Ma-ha Kỳ-vực:

Trong quyển Cổ châu Pháp vân Phật bản hạnh ngữ lục có ghi: “Cuối đời Hán Linh Đế (189)”. Còn trong Cao Tăng truyện, ngài Huệ Hạo nói “Kỳ-vực thuộc đời Tấn Huệ Đế (306)”.

Thời Phật, người thầy thuốc chữa bệnh cho Phật cũng tên là Kỳ-vực (Jivaka).

Kỳ-vực là tên gọi chung cho nhiều người, như Ca-diếp, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp, Già-da Ca-diếp,… Ở đây, chưa vội bàn về Kỳ-vực là 1 hay 2 người. Mặt khác thì Kỳ-vực không dừng bước giáo hóa trên đất Giao Châu, cho nên ở đây giới thiệu Kỳ-vực như là một nhà truyền giáo Phật giáo Viễn Đông trong cái nhìn tham khảo mà thôi. Phần còn lại, những gì được biết về Kỳ-vực đó là những liên hệ của ông với Phật giáo Đôn Hoàng, trung tâm Phật giáo Lạc Dương thuộc về Phật giáo Trung Quốc11.

Từ những trình bày trên:

Trong giai đoạn hơn 200 năm trước công nguyên đến 300 năm sau công nguyên, với chiều dài lịch sử hơn 5 thế kỷ, giai đoạn này được gọi là: Phật giáo Việt Nam thời mới vào.

Từ khi đạo Phật truyền vào Việt Nam, sau một thời gian trải rộng niềm tin Phật đến đời Hậu Hán (25-220) thì trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã đi những bước lớn mạnh, hưng thịnh rồi phát triển đến một đỉnh cao rực rỡ. Rằng, đất nầy có đủ nhân tố đào tạo nên những bậc Rồng-Voi trong cửa Pháp; những bậc Danh đức, Cao Tăng được liệt vào hàng những học giả lỗi lạc như: Mâu Tử v.v…; bên cạnh đó, những người có khả năng thông bác hai truyền thống văn học Sanskrit và Hoa văn, mang tầm cỡ một giảng sư quốc tế không chỉ có những đóng góp cho Phật giáo quê hương mà còn làm chiếc cầu nối liên tình hữu nghị thân thiện Phật giáo Việt-Hoa trong đời Tam quốc, trong đó Khương Tăng Hội là một điển hình. Rằng, trong giao lưu hữu nghị, Phật giáo Giao Chỉ có những đóng góp cho Phật giáo Trung Quốc nhiều hơn là đón nhận.

Sinh hoạt thời mới vào, kinh điển được chuyển ngữ ngày một nhiều hơn; bên cạnh đó, thời kỳ biên soạn Phật học cũng thấy xuất hiện mà Lý hoặc luận của Mâu Tử là một điển hình. Tu tập thiền quán được ngưỡng mộ; chùa-tháp được dựng lên, Tăng đoàn lớn mạnh; sinh hoạt Luật học định hình (vào những năm 168+), nền giáo học phát triển lớn mạnh có nhiều nét phong phú. Tín ngưỡng Phật, Bồ-tát, luân hồi, nhân quả, v.v… được phổ biến sâu rộng trong dân chúng bản xứ. Bên cạnh đó là những biểu hiện Phật học phong phú khác.

Trong bối cảnh một vùng-miền luôn chịu những đợt chinh chiến, can qua, máu lửa liên tục xảy ra trên một đất nước chư hầu của Trung Quốc như Giao Châu thì Phật giáo Giao Châu cũng theo đó mà trải qua những thịnh suy không thể nào tránh khỏi. Điển hình là thời kỳ Phật giáo sau nhà Trưng: “Dấu vết phong hóa còn sót lại của một thời hoàng kim đã đi qua”. Thật vậy, sau khi nhà Trưng mất ngôi (43), Mã Viện đã càn quét những lãnh tụ kháng chiến Giao Chỉ, một trong những hậu quả này là hơn 300 “cừ soái” của Giao Chỉ bị bắt và đưa đi đày sang Linh Lăng (Trung Quốc). Trong một bối cảnh xã hội Giao Chỉ như thế, hệ quả tất yếu là xã hội lại xảy ra một hiện trạng mới, đó là việc một số không nhỏ những lãnh tụ Giao Chỉ, những binh sĩ, những tùy tướng dưới cờ của Nhà Trưng, những người làm lại cuộc đời đã “tìm nương thân cửa Phật”, một Công chúa Bát Nàn đi tu, một Tùy tướng Thiều Hoa “ẩn dương nương Phật”; một Nàng Xuân (Xuân Nương) khoác áo sư nữ. Tất cả biến động xã hội nầy đã tạo nên một Phật giáo Giao Chỉ với bộ mặt mới mà bên cạnh đó bản thân nó lại phải “cưu mang” một bộ phận “lạm phát tăng đoàn” nữa.

Bộ mặt mới của Phật giáo sau nhà Trưng (40-43) này kéo dài cho đến thời Mâu Tử (168+). “Chân dung toàn cảnh” về một thế kỷ “lạm phát Tăng đoàn” Phật giáo sau nhà Trưng nầy, Mâu Tử đã phác họa lại mà nét gam màu nổi bật từ đó. Chúng ta có thể hình dung được qua lời tự than “Sa-môn ngày nay” của Mâu Tử: “Nay Sa-môn đam mê rượu ngon, nuôi vợ con, mua rẻ bán đắt, chuyên nghề dối trá”. (Kim Sa-môn đam hiếu tửu tương, hoặc súc thê tử, thủ tiện mại quí, chuyên hành trá đãi - Lý hoặc luận, 16).

Một khi đỉnh cao giáo học phát triển quá đà, vượt ngoài sự giám sát của Tăng đoàn thì tiếp sau đó hiện trạng lại rơi vào giai đoạn đi xuống và suy đồi. Trong một bối cảnh mà thời hoàng kim rực rỡ đã đi qua, Mâu Tử đã tìm về Giao Chỉ (Chiao Chih) vào những năm 168+, và ông học được những dấu vết phong hóa Phật giáo Asoka còn sót lại ấy; cũng chính trong bối cảnh của một nền giáo học Phật giáo Giao Chỉ như thế, Khương Tăng Hội ra đời. Ngài được xem như là ngọn đèn thiền sau cùng của nền giáo học Phật giáo Giao Châu, điều đó đã có lần Ngài tự khẳng định: “Tôi sinh ra như dấu tích cuối cùng…”.

Từ hiện trạng “trốn việc quan đi ở chùa” sau Phật giáo thời nhà Trưng (40-43) đến việc Mâu Tử nói về “Sa-môn ngày nay” (189+), đến việc Tăng Hội nói về “Ba bậc thầy” (247+), đến việc Thông Biện (?-1134) dẫn lời Đàm Thiên nói về Tăng đoàn Phật giáo Giao Châu: “Độ được hơn 500 vị Tăng” v.v… đã cho thấy mô hình sinh hoạt Luật học cũng như quá trình phát triển Tăng đoàn Phật giáo Giao Châu qua nhiều thế kỷ có thể suy biết về năm tháng Phật giáo Việt Nam thời mới vào như thế nào? Phật giáo vào nước ta có từ bao giờ? Không phải đến hôm nay chúng ta mới đặt vấn đề này. Mà vấn đề này gần 1000 năm trước đã có người đưa ra chất vấn. Vào năm 1069, Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã nêu lên và quốc sư Thông Biện12 trả lời. Những nhận định trên đây cũng chỉ mong góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu sự thật lịch sử, còn việc làm sáng tỏ trọn vẹn thì đang trông vào những nhà chuyên môn.

Nhìn chung, Phật giáo quyền năng trong thời mới vào đã trở nên là Phật giáo “thâu hóa sáng tạo” trong suốt 1000 năm từ thời giáo học đến thiền phái, đến giáo hội; từ du nhập đến hội nhập, đến hóa thân làm một với màu sắc bản địa. Rằng, Phật giáo Ấn Độ đã trở nên là Phật giáo Việt Nam, để rồi Phật giáo Việt Nam đi những bước song hành trong đấu tranh cho độc lập dân tộc.

Thời điểm ngã đường đạo Phật vào Việt Nam cũng như Phật giáo Việt Nam sinh hoạt thời mới vào là chủ đề đã được nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo trong và ngoài nước quan tâm, tốn nhiều công sức. Thế nhưng, mãi cho đến nay, vấn đề này tuy đã được soi sáng nhiều, cũng vẫn còn trong phạm vi công bố khiêm tốn, nhất là việc giới thiệu chủ đề này bằng tiếng nước ngoài cho các giới học giả.

Ở đây, một cố gắng được đưa ra để chứng minh đạo Phật đi vào Việt Nam trước Trung Hoa nhằm mục đích gì? Xét cho cùng, đó chính là nhằm nêu rõ bản sắc đạo Phật Việt và mô hình Quốc đạo Phật giáo Việt Nam, một mô hình năm vùng không gian: Từ Phật giáo Luy Lâu (189) đến Phật giáo Thăng Long (1010+), đến Phật giáo Thuận Hóa (1601+), đến Phật giáo Đất Phương Nam (1689+) và Phật giáo Sông Chín Rồng (1920+). Để qua đó, nêu bật tính Phật-Việt trong cuộc đối kháng chống âm mưu đồng hóa từ phương Bắc (Trung Hoa), đồng thời làm rõ vai trò đạo Phật Việt Nam trong cộng đồng dân tộc và vị trí Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng Phật giáo Viễn Đông. Điều này cũng là để khẳng định cái Có đáng tự hào của chính mình trong sự giao lưu hoằng pháp toàn cầu của cộng đồng, hầu khi hòa cùng cái “chung” của Phật giáo thế giới, ta sẽ không tự thấy mình xa lạ. Một “cố gắng trình bày” Phật giáo Việt Nam, sinh hoạt “thời mới vào” là nhằm hướng đến những bước đi như thế.

 

Chú thích:

6. Lý hoặc luận, Mâu Tử, sđd

7. Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, sđd, t2

8. “Xuất nhập ô chung khánh, bị cụ uy nghi, ca tiêu cổ suy, điền ế đạo lộ, Hồ nhân hiệp cốc, phần thiêu hương giả, thường hữu sổ thập. Thê cư truy trung, tử đệ thừa truy bình, đương thời quí trọng”. Lê Mạnh Thát, báo Tư Tưởng số 3, 1973. Số đặc biệt Phật giáo Việt Nam.
Xem thêm Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam T.1, tr.240.

9. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam T1. 240

10. Xem, Thiền luận, Suzuki q1, bản dịch Tuệ Sỹ.

11. Xem: Tăng già Việt Nam, Thích Trí Quang; Lê Mạnh Thát, Sơ thảo lịch sử Phật giáo Việt Nam, T.2, tr 9-10, xb. 1979).

12. Đàm Thiên dẫn lời Quyền Đức Dư, TUTA 20b7-21a7

 

Tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại đồng bằng Bắc Bộ ^

Trần Lan Chi

 

Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp là hiện tượng tín ngưỡng bản địa của nước ta mang đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước kết hợp với Phật giáo - tôn giáo du nhập từ Ấn Độ, tồn tại khá phổ biến ở đồng bằng Bắc bộ. Hình thái thờ thần Tứ Pháp là một trong những hình thái tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp cổ sơ khi mà đời sống nông nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên. Tứ Pháp bao gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho những thế lực thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp.

Đầu công nguyên, Phật giáo du nhập vào nước ta trong bối cảnh bị phong kiến Trung Quốc đô hộ (nước mất, văn hóa Đông Sơn bị tàn phá và phải cưỡng nhận văn hóa phương Bắc). Trong điều kiện đó, Phật giáo truyền trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam đã có một sự dung hợp kỳ diệu với các vị thần nông nghiệp bản địa tạo nên một hệ thống tư tưởng giáo lý và thờ cúng mang yếu tố riêng biệt. Thời gian đầu Phật giáo du nhập vào nước ta, văn hóa bản địa đã thẩm thấu một cách nhanh chóng văn hóa Phật giáo, tiếp thu trọn vẹn tinh thần bao dung và nhân từ truyền trực tiếp từ Ấn Độ và biến sự dung hợp giữa hai nền văn hóa này lại thành một thứ vũ khí chống lại sự đồng hóa một cách áp đặt của văn hóa Trung Quốc phương Bắc. Phật giáo, lúc đó đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp cứu nước, giữ gìn văn hóa Đông Sơn và duy trì những tín ngưỡng bản địa.

Như vậy, người Việt đã tự tạo ra một vị Phật cho riêng mình, cũng như hoàn chỉnh được tín ngưỡng Phật pháp. Các yếu tố bản địa (nội sinh) và Ấn Độ (ngoại nhập) đã kết hợp tài tình với nhau để tạo nên một thể thống nhất qua câu chuyện về nàng Man Nương. Sự tích Man Nương và tục thờ Tứ Pháp được lưu truyền từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên, và đã được ghi chép trong rất nhiều truyện sách cổ xưa như: Lĩnh Nam Chích Quái, Kiến Văn Tiểu Lục, Văn Hiến Thông Khảo, An Nam Chí Lược... với những chi tiết khác biệt nhau. Tuy nhiên, nguồn gốc của Tứ Pháp được nhiều người biết đến nhất được ghi lại trong truyện Man Nương - sách “Lĩnh Nam Chích Quái” (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh - Kiều Phú, 1492) và vào giữa thế kỷ XVII mới được in thành sách riêng. Hiện còn lưu lại qua bản “Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục” khắc gỗ tại chùa Dâu được khắc vào năm thứ 13 niên hiệu Cảnh Hưng (1752).

Chuyện kể rằng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh, có cô gái 12 tuổi Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm học đạo. Trụ trì chùa này là một nhà sư người Ấn Độ tên là Khâu-đà-la. Một hôm, nhà sư tình cờ bước qua người Man Nương lúc nàng nằm ngủ, và nàng thụ thai một cách thần kỳ. Sau 14 tháng, nàng Man Nương sinh hạ một bé gái, đứa bé được nhà sư Khâu-đà-la dùng phép chú đưa vào cây Dung Thụ già. Sau đó, nhà sư trao cho Man Nương một cây gậy thần có thể làm mưa cứu hạn hán cho dân làng. Khi Man Nương 80 tuổi, cây đổ trôi về bến sông Dâu thì không trôi nữa. Thái thú Sĩ Nhiếp nằm mộng phải tạc tượng Phật từ cây Dung Thụ đó nhưng bằng cách nào cũng không kéo được cây lên bờ, chỉ khi có dải yếm của Man Nương kéo vào bờ thì mới kéo cây lên được. Cây Dung Thụ được tạc thành 4 pho tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mang vào chùa thờ tự. Trong thân cây, con của Man Nương đã hóa thành đá và được gọi là “Thạch Quang Phật”, hiện được thờ tại chùa Dâu. Man Nương mất vào ngày mồng tám tháng tư, cũng chính là ngày đản sinh của thái tử Tất-đạt-đa (theo truyền thống xưa của Phật giáo). Sau khi mất, bà được người đời xưng tụng là Phật Mẫu Man Nương.

Câu chuyện này cho thấy bản chất của hệ thống Tứ Pháp Việt Nam, đó là sự dung hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian là thờ thần tự nhiên và thờ Mẫu. Đây có thể gọi là hiện tượng “tiếp biến văn hóa” (acculturation) từ Ấn Độ sang Việt Nam và mang một bản sắc riêng của một vùng văn minh nông nghiệp lúa nước. Hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp tại vùng châu thổ đồng bằng sông Hồng mang nặng yếu tố văn hóa bản địa trong quá trình tiếp xúc giao lưu với văn hóa ngoại lai, và cũng là minh chứng cho sự tác động ngược trở lại của văn hóa bản địa đối với văn hóa ngoại lai trong quá trình “Ấn Độ hóa”.

- Trước khi câu chuyện này xảy ra cả ngàn năm lịch sử, các di vật tồn tại trong văn hóa Đông Sơn và nhà nước Văn Lang cho thấy nhân dân ta đã có một số tín ngưỡng bản địa hình thành từ việc chinh phục đồng bằng và phát triển nghề trồng lúa nước. Do quan niệm vạn vật hữu linh, những hiện tượng thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp đối với những con người sơ sử là những thế lực siêu nhiên cần được thờ cúng để mong mưa thuận gió hòa, hạn chế thiên tai. Khi Phật giáo được tiếp nhận vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã nhận thấy Phật giáo muốn bén rễ vào mảnh đất này thì phải có sự dung hòa với tín ngưỡng dân gian. Cuộc hôn phối tinh thần giữa một người con gái bản địa (tượng trưng cho tín ngưỡng dân gian, đại diện cho cư dân văn minh nông nghiệp lúa nước) với một nhà sư Ấn Độ là Khâu-đà-la (đại diện cho triết lý và văn hóa Phật giáo Ấn Độ) đã ra đời. Các vị Phật Ấn Độ đã hóa thân với các vị thần tự nhiên của Việt Nam, tạo nên một vị Phật Việt Nam hoàn toàn riêng biệt. Các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Sét được Phật hóa để trở thành Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Ðiện. Đó là Tứ Pháp - Phật giáo dân gian Việt Nam.

- Thờ Mẫu là một hình thức thờ cúng tín ngưỡng đặc trưng của các cư dân nông nghiệp thể hiện sự kính trọng đối với quyền năng sinh sản và biết ơn tổ tiên. Trong nền nông nghiệp cổ sơ, giống cái giữ vai trò quan trọng trong sản xuất trực tiếp ra của cải, do đó các Thần - Phật Tứ Pháp cũng được tôn thờ dưới hình tượng của các nữ thần. Tôn thờ Mẫu Phật (Man Nương), người có công tái tạo ra một hình thức tôn giáo mới mang đậm tính bản địa, cũng đã đưa Phật giáo thiêng liêng và huyền bí gần gũi hơn với cuộc sống đời thường. Đây cũng là một triết lý sâu xa của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp trong đời sống tâm linh của người dân Việt.

Đầu tiên, Phật Tứ Pháp chỉ được thờ trong các chùa ở vùng Luy Lâu, Bắc Ninh. Nhưng ngày nay, tín ngưỡng thờ Tứ Pháp phổ biến tại nhiều vùng miền thuộc đồng bằng Bắc bộ. Có thể kể đến một số chùa như sau:

- Tại vùng Bắc Ninh có chùa Dâu (còn gọi là chùa Cổ Châu, Diên Ứng, Thiên Định) thờ Pháp Vân, Pháp Vũ. Chùa Tướng (chùa Phi Tướng thờ Pháp Lôi), chùa Dàn (chùa Phương Quang) thờ Pháp Điện. Ngoài ra còn có chùa Tổ Phúc Nghiêm (Mãn Xá) thờ Phật Mẫu Man Nương, và các chùa Tứ Pháp Dâu, Đậu, Dàn, Tướng đều quay hướng Tây chầu về chùa Tổ. Chùa Tứ Pháp rải rác tại các thôn Ngọc Trì, Thuận An, Đức Nhân và Nghi An thuộc xã Trạm Lộ (Thuận Thành, Bắc Ninh).

- Tại Hà Nội có một số hệ thống chùa thờ Tứ Pháp thờ Pháp Vân như chùa Keo (Dâu), chùa Nành (Gia Lâm), chùa Pháp Vân, Pháp Vũ ở Thanh Trì.

- Hà Tây có chùa Đậu (chùa Thành Đạo, chùa Vua, chùa Bà, chùa Pháp Vũ) thờ Pháp Vũ, chùa Pháp Vân.

- Tại Hưng Yên có chùa Thái Lạc (thờ Pháp Vân), chùa Hồng Cầu thờ Pháp Vũ, chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện, chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi (xã Lạc Hồng). Chùa Lạc Đạo (thờ Pháp Vân), chùa Hoằng (thờ Pháp Vũ), chùa Tân Nhuế (Pháp Điện), Hướng Đạo (Pháp Lôi) tại xã Lạc Đạo.

- Tại Nam Định chùa Quế Lâm, chùa Do Lễ, chùa Thôn Bốn (Kim Bảng) thờ Pháp Vân, chùa Bà Đanh (Kim Bảng), chùa Trinh Sơn (Thanh Liêm) thờ Pháp Vũ. Chùa Đặng Xá (Kim Bảng), chùa Nứa (Duy Tiên) thờ Pháp Lôi, chùa Bà Bầu thờ Pháp Điện (Phủ Lý).

Qua những kết quả khảo sát tại chùa Dâu và chùa Đậu cho thấy lớp kiến trúc khá độc đáo vào buổi đầu công nguyên. Đó là kiến trúc kiểu tu viện bao quanh một ngọn tháp ở trung tâm. Chùa thời Lý chưa thấy chùa nào có thờ hệ thống Tứ Pháp, mà phổ biến còn lại cho đến ngày nay là hệ thống chùa thời Trần (thờ Thánh thuộc dạng nhân thần) và thờ thần Tứ Pháp. Hiện nay, tại một số chùa Tứ Pháp vẫn còn các thành bậc cửa bằng đá chạm rồng và sấm mang đậm phong cách kiến trúc thời Trần. Một số bộ vì nóc và chạm khắc gỗ với các đề tài rồng, nhạc công, vũ nữ, phỗng, hoa lá, mây, sóng… phong cách thời Trần hiện còn tại chùa Dâu và chùa Thái Lạc. Nhìn chung, kiến trúc các chùa Tứ Pháp thường là chùa lớn kiểu chùa trăm gian, nội công ngoại quốc như chùa Dâu (Bắc Ninh), chùa Nành (Hà Nội), chùa Đậu (Hà Tây)...

Các ngôi chùa Tứ Pháp thường tọa lạc trên diện tích rộng, thoáng đãng, địa thế đẹp, tụ thủy. Kiến trúc mở để thu hút khách thập phương gần xa và tổ chức các lễ hội. Giữa các khối nhà bố trí vườn hoa, cây cảnh. Các khu vực nhà phụ làm nơi sinh hoạt của Tăng, Ni và thờ Tổ thường được bố trí xung quanh ẩn nấp vào cây xanh tạo nên cảnh sắc thiên nhiên giữa đạo với đời. Trong mặt bằng kiến trúc dàn trải như thế, có những công trình kiến trúc mang tính đột khởi tạo thành điểm nhấn, ví dụ như tháp Hòa Phong tại chùa Dâu (giờ còn lại là kiến trúc cao 3 tầng), gác chuông tại chùa Đậu, gác chuông gác khánh trên nóc nhà Tiền đường của chùa Nành…

Nếu như với các công trình kiến trúc Phật giáo thờ các nhân thần như Không Lộ thiền sư (Nguyễn Minh Không) thời Lý, Nguyễn Bình An thời Trần thì thường tồn tại kiểu thờ “Tiền Phật hậu Thánh”, Thánh được thờ sau điện thờ Phật… Thì ngược lại, trong các ngôi chùa thờ Tứ Pháp (những vị Thánh có nguồn gốc tự nhiên) thì hệ thống tượng thờ kiểu “Tiền Thánh hậu Phật”, đẩy hệ thống tượng Tứ Pháp lên trên hệ thống tượng Phật. Tuy nhiên, hiện nay, các công trình được trùng tu lại đều được bố trí theo kiểu “Tiền Phật hậu Thánh”. Vì vậy, ta gặp hầu hết các tòa cung cấm là nơi thờ Thánh, căn trước thượng điện mới là nơi thờ Phật

Tượng trong hệ thống Tứ Pháp đều rất cao lớn, (tư thế ngồi thiền cao khoảng 1,5m) thường tạc ở tư thế thân thẳng, tay phải giơ lên, tay trái để trên đùi cầm chuỗi ngọc. Các pho tượng có tóc xoăn màu đen, nhục khảo nổi cao, tai dài, tọa trên đài sen, gương mặt đẹp với những nét thuần Việt, đức độ. Những pho tượng tạc từ thế kỷ XVI đầu XVII mặc áo sát người (tượng Pháp Vân, chùa Dâu), còn muộn hơn thường để mình trần mặc váy (tượng Pháp Vân, chùa Nành). Thường các tượng Tứ Pháp sơn màu gụ bóng (tổng hợp màu đỏ của máu và màu đen của mây đen tượng trưng cho nguồn sống và sự huyền bí).

Những chùa Tứ Pháp trước kia thường được dân làng và dân trong vùng tổ chức các lễ cầu đảo mỗi khi hạn hán. Ở Tứ Pháp, tồn tại cả linh khí dân tộc và cả sức mạnh truyền thống, phù giúp cho xã hội hiện tại và góp phần làm nên bản sắc riêng biệt cho Phật giáo Việt Nam. Người dân tin rằng, những vùng miền nào rước chân nhang về thờ Tứ Pháp thì ở đó được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Với đức Phật Tứ Pháp, hình ảnh đức Phật Ấn Độ đã mang một nội dung mới, mang nặng yếu tố bản địa, một đức Phật quyền năng, gần gũi với nhân dân và phò trợ cho dân tộc. Có thể nói, tín ngưỡng Tứ Pháp là một trong những chỗ dựa về tâm linh của người Việt qua nhiều thời đại, và tồn tại cho đến tận ngày naỵ

Tóm lại, đạo Phật là đạo của hòa bình và con người, một tôn giáo không giáo điều và không hề phủ nhận các hệ tư tưởng khác. Đạo Phật truyền bá đến đâu lập tức được tiếp nhận mà không gặp sự chống đối từ các nền văn hóa và con người bản địa, mà lại hòa đồng và cộng sinh, mang đến sự khởi sắc và sinh lực mới cho các nền văn hóa. Phật giáo trở thành một yếu tố bản địa, chống lại sự đồng hóa của hệ tư tưởng Nho giáo của văn hóa phương Bắc. Vậy, không một tôn giáo nào, một hệ tư tưởng ngoại lai nào tồn tại được tại Việt Nam mà không tôn trọng sức mạnh và dung hòa với văn hóa bản địa.

Thời gian qua, Phật giáo được khôi phục, sự giao lưu quốc tế đã đẩy mạnh hoằng dương Phật pháp. Phật giáo chính thống đã được đề cao, tuy nhiên, trong tâm thức của người Phật tử Việt Nam luôn hiện hữu hai đức Phật. Một đức Phật biểu tượng cho trí tuệ, cho sự giác ngộ và một đức Phật quyền năng mà gần gũi, phò trợ cho đời sống của nhân dân và dân tộc, tạo nên một bản sắc khác biệt cho văn hóa Phật giáo tại Việt Nam. Phật giáo hội nhập với văn hóa Việt Nam trong hai ngàn năm qua đã từng bước khẳng định vai trò to lớn trong lịch sử, đáp ứng đời sống tinh thần của người Việt, phục vụ lợi ích của dân tộc và đời sống tâm linh bức thiết của con người.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

 

Viện nghiên cứu Hán Nôm, Di Văn chùa Dâu, Nguyễn Quang Hồng chủ biên, nxb. KHXH, Hà Nội 1997.

Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 (1999) tập 2 (2001) tập 3 (2002), nxb. Tp HCM.

Nguyễn Duy Hinh, Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, nxb. KHXH, Hà Nội 1999.

Nguyễn Duy Hinh, Chùa Đậu, suy nghĩ khảo cổ học Phật giáo, Tạp chí Khảo cổ học số 4/84

Trần Lâm Biền, Chùa Việt, NXB VH-TT 1996

Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa Tâm linh, nxb. VH-TT 2001

Chu Quang Trứ, Hệ thống chùa Tứ Pháp - đền thần trong chùa Phật, KTVN số 1/99


 

TÂM ĐẦY UẾ NHIỄM CHỚ MẶC CÀ SA     ^

Quang Sơn

 

Trong khi trú tại tinh xá Kỳ Viên (Jetavana), đức Thế Tôn kể câu chuyện về Đề-bà-đạt-đa.

Chuyện xảy ra tại thành Vương-xá (Rājagaha). Một thời, bậc Tướng quân Chánh pháp (Xá-lợi-phất) cùng với năm trăm Tỳ-kheo sống tại tinh xá Trúc Lâm, còn Đề-bà-đạt-đa cùng với một nhóm người xấu xa giống ông sống ở Tượng Đầu sơn (Gayāsīsa).

Bấy giờ, dân chúng thành Vương-xá thường họp lại với nhau chung làm việc bố thí. Một thương nhân đến đó buôn bán, mang theo một tấm y vàng ướp hương thơm rất đẹp và xin phép được gia nhập vào hội chúng bố thí, rồi sau đó trao tấm y này cho hội chúng xem như là một sự đóng góp. Dân chúng thị thành tổ chức một buổi đại thí. Tất cả những phẩm vật tùy nguyện do hội chúng đóng góp đều được cúng dường hết, chỉ còn lại tấm y này. Dân chúng tập trung lại và nói:

- Chỉ còn lại tấm y ướp hương rất đẹp này, nên cúng dường cho ai đây - Tôn giả Xá-lợi-phất hay là Đề-bà-đạt-đa?

Một số người ủng hộ Tôn giả Xá-lợi-phất, nhưng một số khác lại nói:

- Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ ở đây một vài ngày và sau đó tùy thời mà đi. Còn Đề-bà-đạt-đa luôn sống gần kinh thành chúng ta. Tôn giả là nơi nương tựa của chúng ta trong lúc may mắn cũng như rủi ro, vậy nên dâng cúng tấm y này cho Đề-bà-đạt-đa!

Họ đưa ra biểu quyết và những người biểu quyết cho Đề-bà-đạt-đa chiếm đa số, vì thế họ dâng tấm y cho Đề-bà-đạt-đa. Đề-bà-đạt-đa cắt may và nhuộm vàng, rồi sau đó đắp y ấy.

Bấy giờ, có ba mươi thầy Tỳ-kheo từ thành Xá-vệ đến đảnh lễ đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ xong, họ bạch lên Ngài tất cả sự việc này, rồi nói thêm:

- Bạch Thế Tôn, Đề-bà-đạt-đa khoác lên mình biểu tượng của một vị A-la-hán, trong khi ông ấy không xứng đáng như vậy.

Đức Thế Tôn nói:

- Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên Đề-bà-đạt-đa khoác lên mình chiếc áo của một bậc Thánh, thực hiện một sự ăn mặc không thích đáng, mà đời trước, ông ta cũng đã từng làm như vậy.

Nói xong, đức Thế Tôn kể cho họ một câu chuyện đời quá khứ.

* * *

Thuở xưa, khi Phạm Dự (Brahmadatta) là vua nước Ba-la-nại, Bồ-tát thọ sanh vào đời làm một chú voi sống ở vùng Tuyết Sơn, thủ lĩnh của một đàn voi tám mươi ngàn con sống trong một khu rừng.

Bấy giờ, có một người nghèo khó nọ sống ở Ba-la-nại. Ông ta nhìn thấy những người thợ làm ngà voi đang làm những chiếc vòng và các loại nữ trang tại tiệm làm ngà voi, bèn hỏi họ rằng họ có muốn mua những chiếc ngà voi hay không, nếu ông ta đem đến cho họ. Họ trả lời họ muốn mua.

Vì thế, ông ta mang vũ khí, khoác lên mình một chiếc cà sa, cột một dải vải quanh đầu, đội lốt hình thức một vị Bích-chi Phật, rồi đứng rình nơi con đường mà những con voi thường đi qua, dùng vũ khí giết chết một con và sau đó bán những chiếc ngà cho cửa hiệu ở Ba-la-nại. Ông ta kiếm sống bằng cách thức như vậy. Từ đó, ông ta thường ra tay giết lấy con voi đi cuối cùng của đàn voi do Bồ-tát làm chủ đàn. Ngày lại ngày, đàn voi càng trở nên ít đi. Vì thế, chúng đến hỏi Bồ-tát lý do tại sao số lượng đàn voi ngày càng hao mòn dần đi như vậy. Bồ-tát suy nghĩ: “Có một người giả dạng một vị Bích-chi Phật, thường đứng nơi con đường mà đàn voi đi qua. Phải chăng người này đã giết những con voi? Ta phải tìm hiểu manh mối mới được”. Vì thế một hôm, Bồ-tát để cho đàn voi đi trước còn mình đi theo sau cùng. Người kia nhìn thấy Bồ-tát, liền cầm vũ khí xông vào bắt. Bồ-tát xoay người đứng trụ, suy nghĩ: “Ta sẽ quật y xuống đất và giết chết y!” Nghĩ thế, Bồ-tát tung vòi của mình ra. Nhưng vào lúc ấy, Bồ-tát nhìn thấy chiếc y cà sa mà gã kia đang mặc, liền nghĩ: “Ta nên tỏ lòng tôn kính đối với chiếc y cà sa cao quý này!” Vì thế thu vòi lại, Bồ-tát hét lên:

- Này người kia! Chiếc y cà sa kia là biểu tượng của một bậc Thánh, nó không thích hợp với ngươi, sao ngươi lại mặc nó?

Rồi Bồ-tát đọc lên những dòng kệ này:

Nếu ai đầy uế nhiễm

Lại khoác áo cà sa

Không tự chế, bất tín

Không xứng mặc cà sa.

 

Người diệt trừ uế nhiễm

Đức hạnh, lòng thiết tha

Chế ngự dục, tin Pháp

Xứng đáng mặc cà sa.

Khiển trách người này như vậy xong, Bồ-tát bảo y đừng bao giờ đến đấy nữa, nếu không y sẽ mất mạng vì điều đó. Sau đó, Bồ-tát đuổi y đi.

* * *

Sau khi kết thúc pháp ngữ này, đức Thế Tôn nhận diện tiền thân:

- Thuở đó, Đề-bà-đạt-đa là người giết voi, còn Ta chính là con voi chủ đàn.

(Tiền thân Kāsāva, số 221, dịch từ bản tiếng Anh).

Lời bàn:

Khoác lên mình một biểu tượng, trong khi mình không xứng đáng để khoác biểu tượng ấy là một việc làm đáng chê trách. Trong một chừng mực nào đó, biểu tượng là vật được dùng để phản ánh chủ thể mang biểu tượng đó. Như khi Phật giáo dùng hoa sen làm biểu tượng cho tôn giáo của mình, vì nghĩ rằng hoa sen là một thứ hoa tượng trưng cho sự tinh khiết, sống trong bùn mà không bị ô nhiễm bởi bùn, dùng nó làm biểu tượng là muốn nói lên rằng Phật giáo cũng có những tính chất đó của hoa sen. Cũng như một vị tu sĩ, không phải chiếc áo của họ làm nên họ nhưng nó là biểu tượng phản ánh người đang mặc nó. Nếu người khoác lên mình một chiếc áo tu sĩ, trong khi mình không có những phẩm hạnh của một vị tu sĩ thì người đó đang tự đánh lừa mình và đánh lừa người khác. Ở lãnh vực thế gian cũng vậy: áo mão cử nhân, tiến sĩ được khoác lên một người là để chứng minh rằng người đó có được những kiến thức của một vị cử nhân, tiến sĩ. Nếu khoác lên mình biểu tượng đó trong khi mình không có đủ những kiến thức nhất định của một vị cử nhân, tiến sĩ thì người đó cũng đang dối mình, dối người.

Ở câu chuyện Tiền thân này, chúng ta có thể thấy được điều đó. Đề-bà-đạt-đa đã khoác lên mình chiếc áo cà sa - biểu tượng của một vị A-la-hán - một người có đủ giới đức phạm hạnh, nhưng trong khi bản thân ông không phải là một người đầy đủ phạm hạnh. Thế nên, đức Phật gọi đó là một sự ăn mặc không thích hợp. Cũng như gã thợ săn với tâm địa độc ác kia đã khoác lên mình chiếc y ca sa, biểu tượng của sự giải thoát, để đánh lừa kẻ khác.

Câu chuyện ngắn gọn, đọc lên có vẻ đơn giản, nhưng qua đó ta vẫn rút ra được một bài học bổ ích, đó là: hãy luôn luôn thành thật với chính mình và mọi người.  


 

 Hoa Hồng Trong Mơ ^

Thiện Nguyên

 

Tiếng chuông ngân nga thong thả, trời chiều bảng lảng cảnh thu. Xa xa đàn cò trắng di cư trú Đông như một tia sáng kẻ lên trên không gian sắc đỏ hoàng hôn. Tháng bảy lại về.

Thời kinh Vu Lan kết thúc, Tâm Hạnh lặng lẽ về phòng, mắc chiếc áo tràng trên giá, ra sau khu tháp ngồi một mình. Văn Kinh báo hiếu như khơi dậy trong chú một nỗi ưu tư là lạ, nó khiến chú buồn buồn và thích được ở yên sau mỗi lần tụng. Chú chưa mường tượng được tình cảm của mình, chưa đủ khả năng thấu hiểu hết ý sâu mầu của lời Phật dạy. Chỉ biết, khung cảnh chiều bao la của trời đất làm chú dễ chịu hơn.

Chùa ở trên đồi, tuy không cao nhưng biệt lập với dân làng. Trong năm huynh đệ chú là người nhỏ nhất, công việc thầy giao cũng nhẹ nhàng. Ngoài giờ đi học chú thỉnh hai thời chuông để quý sư huynh tụng niệm. Thầy không nhận đệ tử thêm nữa, đã mười tuổi rồi chú vẫn làm út. Chú thấy sung sướng được ưu tiên, nhưng cũng thèm có một tiểu đệ để thỉnh thoảng lên mặt sư huynh cho thỏa. Khi chú làm biếng vẫn bị đại sư huynh đánh cho mấy roi, nhẹ thì cũng bị các sư huynh khác rầy. Những lần như vậy, chú lại ra sau tháp ngồi nhìn mông lung cho đến tối có người gọi mới vào. Một hôm, đại sư huynh bắt gặp, vào thưa với thầy. Thầy không la mà chỉ dặn dò sư huynh điều gì đó thôi. Nhưng mỗi lần chú ra sau tháp các sư huynh chỉ nhìn ái ngại. Có hôm, chú thấy thầy đứng xa xa nhìn. Thì ra mỗi chiều thầy đều ra đây kinh hành, chú miên man suy nghĩ nên bước chân nhẹ nhàng của Ngài không kinh động chú. Chú đứng dậy vái, sư phụ bảo khẽ:

- Vào phòng đi con, đừng ở ngoài này tối quá.

Các sư huynh mỗi năm được về thăm nhà một lần. Riêng chú chẳng biết đi đâu, dù là út nhưng sống với thầy từ nhỏ, nói về tuổi xuất gia, chú đứng đầu. Chú chưa bao giờ biết cha mẹ mình ở đâu. Mỗi lần phụ huynh các sư anh lên thăm, chú có một phần quà, thầy đi Phật sự xa về chú được quà nhiều nhất, chú cảm thấy vui lắm. Thầy bao giờ cũng dễ dãi với chú, nếu bị đòn cũng luôn nhẹ hơn.

Chiều nay có chuyện không vui, chú lại ra chỗ thân quen của mình. Chú thấy ghét sư huynh Tâm Nhã quá, dám bảo chú mồ côi.

- Đệ không mồ côi, thầy là cha còn gì?

- Thầy là thầy chứ không phải là cha. Ai ở đây cũng có cha mẹ hết đúng không?

- Không đúng. Không đúng. Chú đuối lý hét lên rồi vùng vằng bỏ đi.

Thì ra, sắp đến ngày Vu lan, năm nay lần đầu tiên thầy làm lễ cài hoa cho các Phật tử. Đương nhiên huynh đệ chú cũng dự lễ này. Các sư huynh vui lắm, vì ngày đó song thân được thầy mời lên chùa, thầy đã dặn dò họ, riêng chú không thấy gì cả. Sáng nay thầy lại đi giảng sớm, lần đầu tiên chú thấy mình hụt hẫng. Hèn chi, sau mỗi lần tụng kinh Báo hiếu, các sư huynh thường hỏi nhau hồi ở nhà có làm phiền cha mẹ không, đại sư huynh thường bảo:

- Mình là phàm phu cả, lọt ra từ lòng mẹ, không tránh khỏi làm cha mẹ buồn, các sư em phải tự mình sám hối đi.

- Dạ. Cả bốn người cùng đáp.

Những buổi nói chuyện như thế, chú đều được dự, nhưng lòng rỗng không. Chú chỉ có sư phụ mà thôi. Chú nghĩ:

-Thầy là cha mẹ chứ ai, mình không làm phiền lòng là tốt rồi.

Chiều nay không phải là các sư huynh ác ý mà đó là sự thật. Chú ngồi mãi khi mặt trời khuất bóng mà chẳng muốn vào. Bây giờ, chỉ còn hòn đá và gốc tháp là giống chú mà thôi, im lặng không nói nhưng biết chú khi vui lẫn khi buồn. Ngọn gió từ cánh đồng thổi vào làm dịu bớt nỗi lòng của chú, đại sư huynh dỗ mãi chú mới vào.

Đêm thu trời khá mát mẻ, chú chẳng tài nào ngủ được. Chú nghĩ về cha mẹ, họ ở đâu? Chú muốn hỏi thầy nhưng ngại làm phiền, chú thương thầy lắm. Chú mãi nhìn ánh trăng ngoài cửa sổ, chú ao ước có cha mẹ đến thăm trong ngày lễ Vu lan để các sư huynh không còn nói chú mồ côi.

- Mẹ! Mẹ! Chú sung sướng hét lên.

Mẹ hiền từ đón chú vào lòng, chú mỉm cười mãn nguyện.

- Dậy. Dậy thỉnh chuông - Sao ngủ mê quá vậy? Giọng sư huynh kêu chú.

Chú lơ mơ ngồi dậy và cảm thấy thất vọng. Chú thầm nghĩ:

- Sư huynh xấu ghê làm mẹ đi mất rồi.

- Thôi rửa mặt đi cho tỉnh, đến giờ rồi đó.

Chú lẳng lặng làm phận sự, bữa ấy tiếng chuông của chú ngắt quãng và rời rạc. Thầy vào nhắc:

- Chánh niệm thì thỉnh chuông mới có hiệu nghiệm.

- Dạ. Chú vâng lời thầy nhưng lòng gởi tận đâu đâu.

Rồi ngày Vu lan đến, những cánh hoa hồng rung rinh trên áo của những người còn mẹ. Pháp thoại của thầy chiều nay làm cho buổi lễ thêm trang trọng. Các sư huynh thì khỏi nói, có gì bằng trong lúc đó lại có cha mẹ ở bên cạnh. Chú thấy mình lạc lõng quá. Ngọn gió chiều và chỗ ngồi đón chú như bạn cố tri. Chú bật khóc.

Thầy đã đứng sau chú từ bao giờ. Trên Tăng bào của thầy cũng có một cành hoa màu trắng. Thầy không ngăn chú khóc mà chỉ đứng nhìn bằng đôi mắt thật hiền, hình như trên khóe mắt thầy hơi ươn ướt.

- Thôi vào đi con.

- Con chẳng có cha mẹ, con không biết cài hoa màu gì, bạch Thầy? Chú ôm thầy nức nở.

- Có chứ, con cài hoa màu vàng, con là người xuất gia.

- Nhưng sư huynh có hoa hồng mà.

- Thôi lớn lên con sẽ hiểu. Thầy cũng đâu còn mẹ.

Chú như tìm được đồng cảm từ câu nói ấy. Chú lau mặt theo thầy vào dự buổi họp mặt giữa song thân các sư huynh với thầy. Chú được thầy cho ngồi bên cạnh mà không phải đứng hầu. Chú lại nhận được bốn phần quà, đứng dậy cám ơn mọi người và xin phép thầy đi ngủ sớm.

Đêm ấy giấc mơ lại về với chú. Chú thấy mình được mẹ bế bồng trong ngày Vu lan và trên áo có một đóa hoa hồng thật đẹp. Chú sung sướng mỉm cười thức giấc. Thầy nhẹ nhàng nhét lại góc mùng bị hở. Khi chú trở mình bóng thầy như đổ xuống che chở và bao dung cả tâm hồn của chú. Chú lại thiếp đi và giấc mơ an lành lại hiện về.  

 

VỌNG MÃI TIẾNG CHUÔNG CHÙA ^

 Thông Nhã

 

Chuông chùa điểm nhẹ từng đêm

Hoa cau rụng trắng bên thềm trăng xưa

Mõ kinh còn vọng sớm trưa

Lời kinh ngày cũ vẫn chưa nhạt nhòa.

 

Từ rất lâu, tiếng chuông chùa có một âm hưởng đặc biệt và thật thân quen trong kí ức tuổi thơ tôi. Tiếng chuông có một âm thanh huyền dịu. Nó như ngân qua lắng lại trong tâm thức; có lẽ nó còn là một phần hồn của làng xóm quê tôi. Hơn nữa, tiếng chuông chùa dường như đã nói lên bao nhiêu điều, bao nhiêu ước nguyện và nó như một nguồn năng lượng phấn khích đời sống tinh thần và thức tỉnh đời tôi.

Hằng đêm, tiếng chuông chùa khoan thai phát ngân từng tiếng rồi tan loãng vào cõi hư không. Tiếng chuông ấy vừa thi vị nhẹ nhàng và có một sức cảm hóa lạ lùng. Nó vừa hiện thực vừa huyền vi vừa vỗ về, khích lệ, cho nên suốt mãi cuộc đời tôi không thể nào quên được.

Kể từ lúc chưa xuất gia, tiếng chuông chùa đã giúp tôi mến đạo và thôi thúc đời mình hướng đến đời sống tâm linh. Tiếng chuông chùa vọng vào thôn xóm cũng như làn khói bếp bình yên làm ấm cúng lòng người.

Từ ngày vào chùa hành điệu, tiếng chuông chùa lại thân thiện hơn. Từng đêm, tiếng chuông như chiếc đồng hồ báo thức, vừa là thời khóa tu tập, vừa thức tỉnh đời tu. Hình ảnh chú điệu đêm đêm đi thỉnh chuông là hình ảnh của những tháng năm mà người sơ cơ luyện rèn sự thức tỉnh.

Tự thể tiếng chuông chùa như một thông điệp thiêng liêng thức tỉnh bao tâm hồn đang say trong cõi mộng. Tiếng chuông thức tỉnh cả âm cảnh lẫn dương trần.

Tiếng chuông mỗi tối ngân lên cùng với những câu kinh có sức khái quát vô biên cả đất trời như: “Vô biên thế giới, địa cửu thiên trường. Viễn cận đàn na, tăng long phước thọ. Phi cầm tẩu thú, la võng bất phùng, lãng tử cô tôn, tảo hườn hương tịch…”. Làm cho cõi hồn thanh tịnh như lãng tử gặp lại cố hương. Tiếng chuông như kêu gọi những ai còn rong ruổi nơi dặm đường xa hãy mau mau trở về kẻo lạc loài trong đêm tối. Nếu có ai đó vào một buổi chiều bị dồn dập đau thương trên mọi nẻo đường nhân thế thì tiếng chuông chùa là nguồn an ủi vô biên.

Mỗi đêm khuya vắng, tiếng chuông chùa cùng với những lời đọc siêu thoát ngân lên: “Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới, thiết vi u ám tất giai văn. Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành chánh giác…” nhắc nhở ta thêm sự chú tâm, tỉnh hồn, thận trọng dừng bao ý nghĩ lăng xăng; chuẩn bị cho một tâm hồn sảng khoái bước vào thời khóa tụng niệm sắp diễn ra. Mỗi tiếng chuông ngân một phần phiền não rơi rụng, vơi bớt đi bao ham hố dương trần.

Giữa chốn già lam tĩnh mịch, chuông chùa từng tiếng ngân lên vang xa dường thức tỉnh thế nhân. Cuộc đời là giấc mộng dài mà mấy ai biết được. Con người thường sống chết với tiền tài danh vị để cuối cùng rồi cũng trắng mộng hai tay, không có được một phút giây tỉnh táo của tâm hồn.

Tiếng chuông muôn đời vẫn thế - vẫn lặng lẽ, khoan thai vang vọng khắp hư không phổ vào lòng người và mọi hồn cây cỏ.

Trầm lặng nghe tiếng chuông, nghe âm hưởng thiêng liêng nơi chốn thiền môn, con tim mình dường rung lên, hòa nhập cùng với vũ điệu đất trời. Càng chú tâm lắng nghe, tiếng chuông dường có một âm ba rung hưởng xuyên suốt không gian, vọng sâu vào thế giới xa xăm huyền bí. Tiếng chuông vọng xoáy vào nơi sâu thẳm tâm hồn.

Nếu ai nghe tiếng chuông chùa dẫu bằng thinh âm mơ hồ trong tiềm thức hay một lần nào đó thoáng nhẹ qua hồn, thì biết rằng cội nguồn mình là thuần thiện Á Đông. Riêng tôi, tiếng chuông chùa còn có một giá trị rất lớn: nó trở thành linh diệu từ bi, của tu tập và thể hiện lý đạo nhiệm mầu qua công phu nơi thiền môn sớm tối.

Trải qua bao thế cuộc dâu bể thăng trầm, người nghe tiếng chuông có lúc trầm hùng, có lúc nhẹ nhõm khoan thai nhưng tự thể tiếng chuông vẫn dịu hiền thanh đạo.

Chiều nay, nơi tha hương đất khách, giữa phố thị người đông với vô vàn sắc thanh hỗn tạp, tôi vẫn nhớ mãi tiếng chuông chùa. Âm thanh đơn điệu trầm hồn nơi chùa vắng năm xưa gợi lại trong tôi một cảm giác yên bình trong lẽ đạo.  


 

BỒ TÁT ÐỊA TẠNG: Vị Bồ-tát Bảo vệ trẻ em trong Truyền Thống Phật Giáo Nhật Bản ^

Tâm Hà

(tiếp theo)

2. Bồ Tát Ðịa Tạng, Người Bảo Vệ Trẻ Con.

Theo niềm tin tưởng rất lâu đời của Phật tử Nhật Bản kể từ thời Trung cổ thì Bồ-tát Ðịa Tạng rất thương yêu trẻ con và vì thế Ngài là vị Bồ-tát có một sứ mệnh rất đặc biệt là bảo vệ trẻ con. Chính vì vậy mà đa phần những hình tượng Bồ-tát Ðịa Tạng tại Nhật Bản đều mang một khuôn mặt trẻ thơ rất đáng yêu. Trong các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Ðại thừa như Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, v.v... chỉ có Nhật Bản là có truyền thống độc đáo này. Người ta không biết rõ niềm tin này được phát xuất từ đâu, có thể là bắt nguồn từ cuốn kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện. Theo một phẩm ở trong cuốn kinh này thì vị quỉ thần cai quản về sinh mệnh và tuổi thọ của con người, Chủ Mạng Quỉ Vương, cũng là một vị Bồ-tát do lòng từ hóa hiện, trong khi cùng với các vua Diêm La câu hội về cung trời Ðao Lợi để nghe Phật thuyết pháp, đã bạch Phật:

“Người trong cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Ðịa vui mừng khôn xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi. Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui.” (5)

Trong một đoạn kinh khác, khi tán thán về công năng và oai lực của Bồ-tát Ðịa Tạng, Phật đã tuyên thuyết cùng Bồ-tát Phổ Quảng:

“Lại vầy nữa, nầy Phổ Quảng! Về trong thuở sau này, nơi cõi Diêm Phù Ðề, trong hàng Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, trưởng-giả, cư sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc dòng họ khác, như có người nào mới sanh đẻ hoặc con trai hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sanh đó mà tụng kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Ðịa Tạng Bồ-tát đủ một muôn biến. Ðược vậy, thời đứa trẻ hoặc trai hay là gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây ra tội vạ chi cũng đặng thoát khỏi cả, nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu. Còn như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn”. (6)

Chăm lo cho hạnh phúc trẻ thơ chưa đủ, Bồ-tát Ðịa Tạng còn chăm lo đến số phận của những trẻ thơ bất hạnh đã lìa đời ngay lúc còn thơ ấu, hoặc vì lý do nào đó đã chết khi đang còn là một bào thai ở trong bụng mẹ. Chết yểu, theo quan niệm của người Á Ðông là một điều bất hạnh. Càng bất hạnh hơn nữa theo quan điểm Phật giáo là vì trẻ thơ chưa có ý niệm về sự sống, chết; thế nên trong giai đoạn thân trung ấm, thần thức của chúng vẫn còn lảng vảng chung quanh những người thân yêu như cha mẹ anh chị em, không chịu rời bỏ căn phòng và ngôi nhà mà chúng đã từng sinh sống. Hàng ngày chúng tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ và cảm thấy rất đau khổ vì những người thân yêu này hầu như không ai nghe lời chúng, không có vẻ gì quan tâm đến chúng cả. Chúng thật là cô đơn, buồn tủi và rất đáng tội nghiệp. Chúng ta đừng vội nghĩ một cách đơn giản rằng vì trẻ con ngây thơ trong trắng, trong đời chúng chưa hề gây ra một ác nghiệp nào nên khi chết là có thể được sanh về những cảnh giới tốt đẹp. Sự thật không phải như vậy. Ðiều này đã được đức Thế Tôn giải thích một cách khá rõ ràng khi phản bác lập luận của một người ngoại đạo cho rằng, nếu một người nào đó, thân không làm những điều xấu ác, miệng không thốt những lời cay độc, không có những tác ý xấu xa, không kiếm sống bằng những nghề bất lương, người đó như thế đã hoàn tất những nỗ lực tu tập tinh thần cần thiết và trở thành một bậc thánh, một bậc giác ngộ trong kiếp sống này. Ðức Thế Tôn đã phản bác rằng:

“Một hài nhi còn nằm ngửa chưa hề có ý niệm thế nào là ‘thân’ làm sao chúng có thể có những hành động xấu ác khi thân chỉ biết bò và lật? Một hài nhi còn nằm ngửa ngay cả còn chưa biết ‘nói chuyện’ thì làm sao có thể thốt ra được những lời cay độc khi miệng chỉ biết khóc nhè?... (Chúng) không hề có ý niệm thế nào là ‘tác ý’ thì làm sao có thể có những tác ý xấu xa? (Chúng) không hề có ý niệm thế nào là ‘nghề nghiệp sinh sống’ thì làm sao chúng có thể hành nghề bất lương để kiếm sống ngoại trừ rúc vào vú mẹ? Nếu (tất cả những gì mà ông nói) như thế, thì một đứa hài nhi còn nằm ngửa là một bậc Thánh, và là (một bậc giác ngộ)”. (7)

Như thế những linh hồn trẻ thơ này sẽ đi về đâu trong và sau giai đoạn thân trung ấm và Bồ-tát Ðịa Tạng làm thế nào để cứu giúp chúng?

Bên bờ sông Nại Hà

Theo sự tin tưởng của người Phật tử Nhật Bản, lứa tuổi trẻ con vì trí óc còn non nớt chưa phát triển nên không thể phân biệt được phải trái cũng như không thể thấu hiểu được những giáo lý của đạo Phật. Dĩ nhiên vì không thông hiểu giáo lý, chúng không thể tu tập để đạt đến giác ngộ - như đoạn kinh Phật đã giải thích ở trên - vì thế nên tuy ngây thơ vô tội, sau khi từ giã cõi đời chúng không thể sanh vào cảnh giới Phật, kể cả cảnh giới Tịnh Ðộ. Ngược lại, chúng bị rơi vào cõi u minh mờ mịt. Huyền thoại Á Ðông thường đề cập đến một dòng sông mà người chết trong giai đoạn thân trung ấm cần phải vượt qua, đó là sông Nại Hà.

Theo truyền thuyết của Nhật Bản, những trẻ con yểu tử sau khi chết đều tụ tập ở bên bờ sông này. Do lòng thương nhớ khôn nguôi đến những người thân yêu, tại đây chúng nhặt những hòn đá cuội sắp xếp thành những ngôi nhà để tưởng nhớ đến cha mẹ, anh chị em. Khi hoàn tất xong một cái, chúng bảo rằng: “Cái nhà này là của mẹ, người bảo bọc tôi. Cái nhà này là của cha, người nắm tay tôi dẫn dắt tôi trên đường đời. Cái này là của anh, chị, em tôi...”

Một số huyền thoại cho rằng chính trong lúc này Bồ-tát Ðịa Tạng đã hiện ra để chơi với chúng, khuyến khích, tiếp tay xây dựng những ngôi nhà trẻ con này hầu giúp chúng tích lũy công đức để nhờ đó có thể vượt qua dòng sông Nại Hà, trong khi chờ đợi chúng lớn khôn với đầy đủ trí phán đoán để có thể đi đầu thai sang kiếp khác. Tuy nhiên trong số những truyền thuyết này, cũng có chuyện đã kể lại một cách thương tâm và ghê rợn hơn. Truyện mô tả là không khí bên bờ sông Nại Hà rất là đìu hiu và thê lương, trẻ con thì không ngớt khóc than vì không còn cha mẹ để nương tựa, bám víu. Trong lúc này, một mụ phù thuỷ độc ác tên là Datsuba với một con mắt cháy đỏ hung dữ hiện ra, lột hết áo quần của tất cả bọn chúng treo lên cành cây. Mụ không ngớt nguyền rủa chúng là do chết yểu nên chúng đã không hoàn tất bổn phận của người con là phải săn sóc, giúp đỡ cha mẹ lúc cha mẹ già yếu. Ðể bù lại, mỗi ngày mụ bắt chúng phải ở trần truồng xây những căn nhà bằng đá cuội như là một sự trừng phạt. Nhưng rồi cứ mỗi buổi chiều tối, khi những căn nhà đã sắp hoàn thành xong thì một bầy quỉ hung ác khác, đầu sừng răng nanh hiện ra, dùng gậy sắt đập phá hết tất cả những công trình xây dựng của bọn trẻ, miệng không ngừng la lối nạt nộ: “Khốn nạn cho tụi bây chết trước cha mẹ! Tụi bây đâu đã biết cầu nguyện là gì!”

Chính lúc này thì Bồ-tát Ðịa Tạng hiện ra và bọn trẻ trong lúc đang kinh hoàng vội vàng chạy đến chui vào Tăng bào của Ngài để tìm chỗ ẩn trốn. Những đứa nhỏ hơn vì chạy không kịp đến trễ thì vội đeo vào cánh tay hay thiền trượng của Ngài. Bồ-tát Ðịa Tạng liền an ủi vỗ về chúng: “Không có gì các con phải sợ hãi cả. Từ đây, ta là mẹ là cha của các con.” Bọn quỉ đã xúm lại đòi Bồ-tát Ðịa Tạng phải trao đám trẻ con lại cho chúng, nhưng Ngài đã dùng uy lực của mình phóng ra những vầng hào quang rực rỡ khiến bọn chúng đều khiếp sợ bỏ đi. Huyền thoại này của người Nhật đã mô tả lại những nỗi khổ đau mà ngay cả một đứa trẻ nhỏ bé ngây thơ vô tội cũng phải gánh chịu ở thế giới bên kia và chỉ có Bồ-tát Ðịa Tạng là người duy nhất đã cứu vớt những linh hồn bé nhỏ đó.

Người ta không biết nguồn gốc của huyền thoại về dòng sông Nại Hà được phát xuất từ đâu. Có thể là bắt nguồn từ truyện Thập Ðiện Diêm Vương trong các cuốn kinh Ngọc Lịch Minh Kinh của người Trung Hoa, xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VIII, nói rõ chi tiết cuộc hành trình về bên kia cõi chết mà mỗi người phải trải qua. Theo niềm tin của người Trung Hoa thì trong tuần lễ thứ hai của giai đoạn thân trung ấm, mỗi linh hồn đều phải vượt qua dòng sông Nại Hà này. Có ba cách để đi qua sông. Người nhiều công đức thì thong dong đi qua cầu. Kẻ ít công đức hơn thì được phép lội qua ở chỗ cạn. Kẻ không có chút công đức nào lại mang nhiều tội ác thì phải lội qua con sông với dòng cuồng lưu chảy xiết đầy sóng to gió lớn. Ða số đều bị chết đuối. Những người vượt thoát qua được dòng sông Nại Hà đều lần lượt tùy theo tội ác nặng nhẹ sẽ được Thập Ðiện Diêm vương phân xử, kết án và tống vào các cửa ngục. Ðến cửa ngục thứ mười tức là cửa ngục cuối cùng, cũng là nơi mà tội nhân phải gánh chịu những hình phạt nặng nề nhất, Bồ-tát Ðịa Tạng xuất hiện bảo với Diêm Vương cho tội nhân được giảm nhẹ tội. Bởi vì các vua Diêm Vương đều kính nể Bồ-tát Ðịa Tạng, thế nên nếu chỉ cần tìm ra một điểm tốt nhỏ nhất của tội nhân, vua Diêm Vương vâng lời Bồ-tát Ðịa Tạng sẵn sàng cho họ được hưởng án giảm nhẹ tội.

Chính vì tin tưởng vào dòng sông Nại Hà này cũng như vào Bồ-tát Ðịa Tạng mà người Nhật Bản trong hàng thế kỷ qua đã xây dựng lên rất nhiều đền đài, lăng tẩm để thờ phượng Ngài dọc theo các bờ sông hay các ghềnh đá bên cạnh bờ biển, mà một địa điểm nổi tiếng là “Sai (Nại Hà) no kawara of Numa no Uchi” được xây dựng từ thời Edo (Uế Thổ). Tại đây, những người cha mẹ đau khổ vì mất con đã đến sắp xếp những mộ tháp bằng đá cuội, hoặc đặt vào đó những viên đá nhằm tưởng niệm những đứa con đã qua đời trước bức tượng của Bồ-tát Ðịa Tạng. Có nơi người ta sắp xếp hàng trăm bức tượng nhỏ khuôn mặt của Bồ-tát Ðịa Tạng cùng với đồ chơi trẻ con xen kẽ bên cạnh những hòn đá tưởng niệm. Lâu ngày, những mộ tháp càng lớn dần lên do những người tin tưởng đến viếng thăm bỏ thêm vào những viên đá, không phải chỉ để tưởng nhớ đến những đứa con thân yêu của mình mà cho cả những linh hồn của những trẻ thơ bất hạnh đã đi qua cõi đời này kể cả những trẻ đã chết ngay từ lúc chưa sinh.

Bồ-tát Ðịa Tạng, như đã nói ở trên, không phải chỉ là vị Bồ-tát bảo vệ trẻ con mà theo truyền thuyết của Nhật Bản, đặc biệt là dưới thời đại Hean, đã xuất hiện dưới hình dạng của một đứa trẻ. Triều đại Hean có thể được coi như là một triều đại đen tối trong lịch sử Nhật bản. Chiến tranh, xã hội rối loạn, tai ương và dịch bệnh lan tràn khắp nơi tạo nên bao thảm cảnh đau thương khốn khổ cho mọi người. Những tín đồ Phật tử thuần thành tin rằng đây là giai đoạn mạt pháp đã đến và trước những thảm cảnh này, may ra chỉ có những năng lực thần linh mới có thể cứu vãn được. Thế là người ta dốc lòng tin tưởng vào năng lực cứu độ của Bồ-tát Ðịa Tạng, và câu chuyện đã được truyền tụng như sau:

Dưới triều đại của Hoàng đế Go-Ichido, bệnh đậu mùa bộc phát và lan tràn nhanh chóng. Lưỡi hái của tử thần đã cuốn đi không biết bao nhiêu là sinh mạng. Nó không chừa bỏ bất cứ ai, bất kể quan hay dân, người quý tộc hay kẻ bần hàn. Trước nỗi khổ đau lớn lao này của nhân sinh, với lòng từ bi vô lượng, một nhà sư tên Ninko không biết làm cách gì khác hơn là cầu nguyện đến sự giúp đỡ của Bồ-tát Ðịa Tạng. Ðêm đó trong giấc mơ, nhà sư Ninko trông thấy một đứa trẻ với khuôn mặt thanh tú xuất hiện, nói với Ngài: “Nay thì nhà ngươi đã thấy rõ sự vô thường của kiếp sống”.

Sư Ninko trả lời: “Vâng, những người tôi vừa mới gặp mới nói chuyện với họ hồi sáng đây, tối lại đã mất rồi. Ngay cả chúng ta đang hạnh phúc hôm nay nhưng ngày mai những khổ đau, thương tâm sẽ xảy đến. Không có gì là vĩnh cửu.”

Ðứa trẻ mỉm cười: “Không có gì để phải than trách trước những đau thương của kiếp sống. Có lúc nào mà con người lại không có những khổ đau? Nếu một người muốn giải thoát khỏi những nỗi khổ đau, họ nên nghe theo những lời dạy của Bồ-tát Ðịa Tạng”.

Sư Ninko tỉnh giấc và vội vàng chạy đến tìm Kojo, nhà điêu khắc tượng nổi tiếng ở địa phương và nhờ ông ta đúc một pho tượng Bồ-tát Ðịa Tạng. Khi bức tượng hoàn thành, sư Ninko tổ chức một buổi lễ khánh thành và thuyết giảng một thời pháp về giáo lý và công năng của Bồ-tát Ðịa Tạng. Tăng chúng và quần chúng Phật tử hoàn toàn chuyển động bởi thời pháp này và hết lòng quy ngưỡng vào Bồ-tát Ðịa Tạng. Tất cả những người có mặt tại ngôi chùa, và tất cả những ai đến tham dự buổi lễ khánh thành này đều thoát qua khỏi kiếp nạn đậu mùa. Những kẻ kiêu hãnh, không tin tưởng đều bị cuốn đi trong cơn dịch bệnh này. Bệnh đậu mùa cũng đã chấm dứt không lâu sau đó, những cư dân do lòng tin tưởng vì được cứu thoát trong tai ương vừa qua vẫn tiếp tục tôn sùng và thờ phượng Bồ-tát Ðịa Tạng.

Một câu chuyện nổi tiếng khác kể lại nỗi bất hạnh của một đứa trẻ lâm vào tình trạng mẹ ghẻ con chồng:

Nếu như trong kho tàng truyện cổ của Việt Nam, ta có chuyện Phạm Công - Cúc Hoa với bà kế mẫu Tào Thị như là một khuôn mẫu điển hình của những bà mẹ ghẻ độc ác nhất ở trên thế gian này thì Nhật Bản cũng có một câu chuyện tương tự như thế, nhưng được lồng trong bối cảnh hành hoạt của vị Bồ-tát chuyên cứu độ những trẻ thơ bất hạnh của Ngài. Truyện kể rằng khoảng một ngàn năm trước đây, tại một ngôi làng nhỏ tên là Anwa có một người phụ nữ rất hiền lương mộ đạo, hết lòng sùng kính Bồ-tát Ðịa Tạng. Vì nhà nghèo cho nên bà luôn luôn ao ước và vẫn thường cầu nguyện làm sao có được một pho tượng Bồ-tát Ðịa Tạng để thờ phượng ở trong nhà. Một ngày nọ, trong khi đang giặt giũ ở dòng sông trước mặt nhà, bà nhặt được một pho tượng Ðịa Tạng bằng gỗ trôi tấp vào chỗ mình đang đứng. Xiết đỗi vui mừng, bà vội vàng mang pho tượng về nhà và từ đó ngày hai buổi sớm tối công phu thờ lạy Ngài rất nghiêm chỉnh. Vì chưa có con thế nên mỗi lần cúng lạy bà cũng không quên khấn vái cùng với Bồ-tát Ðịa Tạng giúp cho bà có một đứa con trai. Không bao lâu, quả nhiên bà thọ thai và sanh được một đứa con trai. Nhưng bất hạnh thay, khi đứa bé tròn bốn tuổi thì người mẹ lâm bạo bệnh và qua đời. Chẳng bao lâu sau đó thì người cha tục huyền với một người đàn bà khác. Bà này là một người rất hung dữ và độc ác và đứa con chồng thường xuyên là nạn nhân cho những cơn thịnh nộ của bà kế mẫu hung ác này.

Ðứa bé ngay từ hồi nhỏ do đã chịu ảnh hưởng của mẹ trong việc thờ cúng Bồ-tát Ðịa Tạng, cho nên khi mẹ mất đi cũng không hề quên và xao lãng nghi lễ này, tuy nhiên do sợ bà mẹ ghẻ đánh chửi, nó đã phải làm trong âm thầm lén lút. Một hôm trong khi người cha có việc phải rời khỏi nhà đi ra tỉnh, nhân lúc bà mẹ ghẻ đang ngủ trưa, đứa bé vào bếp kiếm được một ít cơm nguội vội vàng đem dâng cúng lên bàn thờ của Bồ-tát Ðịa Tạng và mẹ mình. Quỳ trước bàn thờ, lòng nhớ thương mẹ không nguôi đã làm đứa bé bật khóc lên nức nở. Tiếng khóc của đứa trẻ làm bà mẹ ghẻ tỉnh giấc và khi trông thấy đứa trẻ đang cúng lạy mẹ nó, bà liền nổi cơn thịnh nộ và trong khi điên tiết lên vì giận dữ, bà đã túm lấy nó quẳng vào nồi cháo heo đang sôi sùng sục trên bếp lửa.

Trong lúc này, người cha đang đi đường bỗng dưng cảm thấy lòng dạ bồn chồn nóng lên như lửa đốt, khiến ông không thể cất bước được nữa và như có điều gì thúc dục buộc ông phải quay trở về nhà. Ðến đầu làng, ông bỗng gặp một nhà sư cõng một đứa bé ở sau lưng đang than khóc thảm thiết, tiếng khóc nghe rất quen thuộc. Không nghi ngờ gì nữa, đó là tiếng khóc của chính con ông! Tuy vậy, người cha vì chưa thấy mặt nên còn bán tín bán nghi hỏi nhà sư: “Thầy ơi, đứa trẻ nào đang khóc vậy?” Nhà sư trả lời: “Ta đã đổi mạng ta cho đứa trẻ này khi người mẹ ghẻ của nó đang tìm cách giết nó. Ngươi hãy tìm kẻ nào đáng tin cậy để nuôi dưỡng và giáo dục đứa bé này.” Nói xong nhà sư trao đứa bé vào tay của người cha đang kinh hoàng run rẩy. Mang ơn nhà sư, người cha vội hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đang trú trì ở chùa nào?” Nhà sư trả lời: “Ta ở gần đền thờ vua Thập Ðiện”, xong biến mất. Sau khi đem con gởi nhờ ở nhà ông bà nội, người cha quay trở về nhà và thấy bà vợ đang ra sức đun củi vào bếp, trên đó là một nồi nước đậy nắp đang sôi. Thấy chồng xuất hiện bất ngờ, bà ta có vẻ bối rối và tìm cách dập tắt ngọn lửa. Anh ta liền hỏi vợ: “Thằng con tôi đâu rồi sao không thấy?” Bà vợ gian xảo lúc này bèn giả bộ đau thương, sụt sùi kể lể: “Thấy không có ông ở nhà, thằng nhỏ bỏ chạy ra chơi ở cạnh bờ sông không may sẩy chân rớt xuống sông, nước cuốn mất xác rồi.” Người chồng không nói gì vội tiến đến cạnh nồi nước và mở nắp ra. Nổi ở trên mặt nồi cháo heo đang sôi sùng sục là pho tượng của Bồ-tát Ðịa Tạng, pho tượng ở trên bàn thờ mà người vợ trước của ông đã thờ cúng hằng ngày! Bây giờ thì anh ta mới hiểu hết ý nghĩa lời của nhà sư nói “Ta đã đổi mạng ta” và biết rằng nhà sư mà ông vừa mới gặp không ai khác hơn chính là Bồ-tát Ðịa Tạng đã hóa hiện ra để cứu con mình. Chán nản trước tình đời, cảm động trước sự linh ứng nhiệm mầu của Bồ-tát Ðịa Tạng, người đàn ông xuống tóc đi tu và trở thành một nhà sư suốt đời tận tụy thờ phượng Bồ-tát Ðịa Tạng.

(còn nữa)

 

Ghi chú:

 

(5) Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện, Phẩm Thứ Tám, “Các Vua Diêm La Khen Ngợi”, bản dịch của HT. Thích Trí Tịnh.

(6) Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện, Phẩm Thứ Sáu, “Như Lai Tán Thán”, bản dịch của HT. Thích Trí Tịnh.

(7) Xem “Jizo Bodhisattva, Modern Healing & Traditional Buddhist Practice”, Jan Chozens Bays, Tutle Publishing, 2002. P. 73.

 


 

 BẠN CÓ BIẾT ^

Tâm Minh

 

“Bạn Có Biết” là một chương trình trong đó các bạn trẻ đưa ra những câu hỏi thường thức về Phật pháp, đạo đức, luân lý của người Việt Nam nói riêng, người phương Đông nói chung, rồi trả lời để các bạn trẻ khắp nơi nắm được vấn đề. Qua đó, có thể học hỏi, hiểu biết thêm về Phật pháp, đạo lý làm người, phong tục tập quán v.v... của người Việt Nam chúng ta.

Ngoài ra, khi câu trả lời có một vài chữ lạ đối với người nghe thì những chữ đó cũng thành ra một “câu hỏi con” để các bạn trẻ có thể hiểu được lời giải đáp một cách trọn vẹn.

Đạo Phật là gì? Đạo Phật có phải là một triết học hay không?

Đã có rất nhiều bàn cãi về câu hỏi này: Đạo Phật là một tôn giáo, một triết học, một khoa học, hay một nền luân lý? Ở đây, chúng tôi xin trả lời một cách đơn giản đạo Phật là đạo Phật, bao gồm tất cả những định nghĩa mà bạn đã đặt ra.

Thật vậy, nếu tôn giáo được định nghĩa như là sự thờ phụng một đấng thiêng liêng, thì đạo Phật là một tôn giáo với sự thờ cúng chư Phật, chư Bồ-tát, chư Tổ v.v...

Đạo Phật có phải là một triết học hay không? - Phải, những lý thuyết về Duy thức, về Nghiệp, về Tái sinh v.v... đòi hỏi người muốn nghiên cứu đạo Phật như một triết học phải có trình độ nghiên cứu thâm hậu về triết học Đông và Tây phương.

Duy Thức là gì? - Là một môn học có thể gọi là khoa Tâm lý học Phật giáo (Buddhist Psychology).

Tái sinh là gì? (Reincarnation) - Đạo Phật cũng là một khoa học qua các lý thuyết Nhân quả, Nhân duyên sinh, Ngũ uẩn v.v...

Lý thuyết Nhân quả như thế nào? - Đó là lý thuyết thực tế nhất, không cần học nhiều cũng biết, bất cứ nước nào cũng đều có những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, thần thoại v.v... dạy về đạo lý nhân quả: ở hiền gặp lành, gieo lúa được lúa, gieo cà được cà.

Ngũ uẩn là gì? - Là 5 nhóm cấu tạo nên “con người” theo cách nhìn của Phật giáo; đó là: sắc (Body), thọ (Feelings), tưởng (Thoughts), hành (Mental Formation-intentions of body, mouth, mind), thức (Consciousness).

Đạo Phật cũng là Luận lý học, Giáo dục học hay Đạo đức học, có phải không? - Phải, là tất cả những thứ đó, vì sao? Những bộ luận của chư Tổ, bộ Giới luật của các vị xuất gia, những lời dạy của đức Phật Thích-ca về việc hiếu thuận trong gia đình, việc cai trị dân chúng, về tu học đạo tỉnh thức v.v... cho biết đạo Phật bao gồm mọi môn học đã nêu trên với đường lối tu tập thực hành có phương pháp, có lý luận, qua kinh nghiệm tu hành v.v...

Đức Phật còn hay đã mất rồi? Nếu Ngài đã mất rồi thì làm sao Ngài giúp đỡ chúng ta được?

Đứng về phương diện lịch sử thì đức Phật Thích-ca đã viên tịch lúc Ngài được 80 tuổi; nhưng Ngài dạy đệ tử rằng: “Sau khi ta viên tịch, thì Pháp (là những lời dạy của Ngài) chính là Thầy của các con”.

Đứng về phương diện bản thể, Phật không bao giờ mất, đức Phật chính là giáo lý của Ngài và ngược lại. Ngoài ra, đức Phật có dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Nói cách khác, trong mỗi chúng sanh đều có hạt giống Phật; nếu chúng ta tu tập tinh chuyên thì một ngày nào đó những hạt giống Phật ấy sẽ nở ra hoa giác ngộ, nghĩa là chúng ta cũng thành Phật như đức Phật Thích-ca vậy.

Tuy đức Phật lịch sử đã viên tịch nhưng giáo lý của Ngài để lại có thể giúp đỡ chúng ta chứ; ví dụ như Edison, nhà bác học phát minh ra điện tuy đã chết từ lâu nhưng những ánh sáng, điện lực mà chúng ta dùng hằng ngày, ứng dụng về điện không ngừng được cung cấp cho cuộc sống con người, nâng cao đời sống con nguời thì không chết theo thân xác của nhà bác học. Cũng vậy, đức Phật Thích Ca đã nhập diệt hơn 2500 năm nhưng giáo lý của Ngài không những không mất đi mà trái lại còn được lan truyền trên thế giới từ Á Đông sang Tây phương, có thể chữa lành thân bệnh và tâm bệnh của con người.

Đức Phật có phải là một vị thần linh, có thể ban phước giáng họa cho chúng ta không?

Đức Phật không phải là một vị thần linh và cũng không phải là con của một vị thần linh nào, cũng không phải là sứ giả do một vị thần linh nào gởi đến thế giới này cả. Ngài thuần túy là một con người đến cõi đời này với hình thức bình thường như tất cả chúng ta: có “cha sinh mẹ đẻ.” Ngài dạy cho chúng ta thấy rằng con người có thể hoàn thiện mình bằng chính khả năng của mình, nói cách khác tất cả chúng ta đây đều có khả năng giác ngộ như Ngài.

Đức Phật không có khả năng ban phước giáng họa cho ai cả và Ngài dạy rằng không có ai có thể ban phước hay giáng họa cho ai cả. Mỗi hành vi thiện của mình là một phước lớn và mỗi hành vi ác tự nó là một sự trừng phạt. Thật vậy, nếu ta làm ác mà pháp luật không biết (vì ta giấu giếm) thì chính lương tâm ta không để ta yên, cứ lo sợ ưu phiền, ăn không ngon ngủ không yên, tâm ta luôn ở trong âu lo, sợ hãi, bất an. Như vậy còn khổ hơn là thà bị ở trong tù nữa.

Bạn có thể tóm tắt giáo lý cơ bản của đạo Phật vào một vài câu thôi hay không?

Xin kể bạn một câu chuyện vui. Một người đến hỏi một nhà sư: Bí quyết để thành Phật là gì? Nhà sư đáp: Tránh tất cả các việc ác, làm tất cả các việc thiện, giữ tâm ý trong sạch (kinh Pháp cú). Người kia nói: Thật là dễ quá, ai mà không biết, một đứa bé lên ba cũng biết! Nhà sư đáp: Đúng vậy, một em bé lên ba cũng nói được nhưng một ông già 80 tuổi làm suốt đời cũng không được. Vậy nếu bạn muốn tóm tắt đạo Phật vào trong vài câu kệ thì đây là các câu bạn muốn:

Tránh tất cả việc ác

Làm tất cả việc lành

Giữ tâm ý trong sạch

Ấy lời chư Phật dạy.

Còn giáo lý cơ bản sâu hơn một chút là gì?

Đó là giáo lý Tứ diệu đế hay “Bốn sự thật cao quý”. Những nhà Phật học ví Tứ diệu đế xuyên suốt giáo lý Phật đà như một bánh xe nối các căm xe, niền xe và trục xe vậy. Tứ là bốn, Diệu là vi diệu, tuyệt diệu, quí báu, và Đế là sự thật.

Vậy “đế” thứ nhất là gì?

Đế thứ nhất (tức là chân lý thứ nhất) là khổ đế (dukkha = sufferings). Sống là khổ, nói cách khác, không ai có thể sống mà không có kinh nghiệm về sự khổ cả. Đức Phật dạy: “Nước mắt của chúng sanh chứa đầy trong bốn bể (đại dương)”.

Như vậy đạo Phật có yếm thế (chán đời, bi quan) không? - Không, đức Phật dạy “sống là khổ”, nhưng không nói “hãy lìa bỏ cuộc sống” hay “cuộc sống đáng chán”. Đây là một kinh nghiệm mà ai cũng phải trải qua: một đứa bé mới lọt lòng mẹ đã khổ rồi (vì ra khỏi bụng mẹ, nóng lạnh bất chợt v.v... Và một thi sĩ đã nói: Em bé mới chào đời đã thấy khổ vì “đời có vui sao chẳng cười khì”; già cũng làm ta khổ, bệnh, chết cũng vậy; nhưng những người thân của ta lại rơi lệ biệt ly! Nói tóm lại, con người ai cũng phải khổ vì sinh, già, bệnh, chết; chưa nói còn nhiếu thứ khổ nữa!

Có lý lắm, xin bạn nói tiếp tục về “đế” thứ hai?

Đế thứ hai là Tập đế (samudaya = the roots). Tập đế là nguyên nhân của Khổ, nguồn gốc của Khổ. Khi ta tiếp xúc với Khổ, ta hãy nhìn sâu vào nó để thấy gốc rễ của nó, ta sẽ thấy được cái gì đã nuôi dưỡng nó, nhờ vậy ta có thể tiêu diệt nó bằng cách không cung cấp thức ăn cho nó nữa.

Cái gì là thức ăn nuôi dưỡng cái Khổ hở bạn?

Đó là tham ái và chấp thủ. Tham lam, yêu ghét, lấy bỏ, v.v... là những thức ăn cung cấp cho Khổ! Thế nhưng con người luôn luôn chạy đi tìm khoái lạc trong những trạng thái tâm bệnh hoạn như thế! Thật vậy, khi thích thì nắm giữ say sưa, mất thì đau đớn, khổ sở; khi ghét thì tìm trăm phương ngàn kế để lìa bỏ, khi thấy người không giống mình, không ủng hộ mình thì sinh tâm thù hằn, tìm cách bôi nhọ, làm hại v.v... những cái đó chính là cái nhân của đau khổ phiền não tự mình chuốc lấy mà thôi. Nếu ta sống với cái tâm thanh tịnh, bình đẳng thì tham ái và chấp thủ không có cơ hội “vùng lên” đem Khổ đến cho ta nữa, mà vắng mặt Khổ tức là an lạc vậy.

Vậy còn “đế” thứ ba là gì?

Đế thứ ba là Diệt đế (nirodha = the cessation). Diệt đế là sự chấm dứt đau Khổ. Đức Phật dạy về Khổ nhưng không nói rằng không thể chấm dứt Khổ được. Diệt đế chính là sự chữa lành bệnh Khổ của chúng sanh. Diệt đế là sự vắng lặng hoàn toàn, tịch tĩnh hoàn toàn, còn gọi là trạng thái Niết-bàn.

“Đế” thứ bốn là gì?

Đế thứ bốn là Đạo đế (magge = the path): Đạo đế là con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Con đường đó đối với Phật tử chúng ta là Bát chánh đạo; đó là: Chánh kiến (Right view), Chánh tư duy (Right thinking), Chánh ngữ (Right speech), Chánh nghiệp (Right actions), Chánh mạng (Right livehood), Chánh tinh tấn (Right diligence), Chánh niệm (Right mindfullness), Chánh định (Right Concentration).

Xin bạn cho biết áp dụng Bát chánh đạo vào cuộc sống hằng ngày như thế nào?

Thiền sư Achaan Chah nói rằng Bát chánh đạo giản dị nhất nằm ngay trong chúng ta là: hai mắt, hai tai, hai mũi, một lưỡi và một thân. Nào, bạn nghĩ thử có phải không? - Đây là 8 cánh cửa vào Đạo, tâm chúng ta đi trên con đường ấy. Biết những cửa này và quan sát chúng thì tất cả giáo pháp sẽ hiện hành.

Tu hai con mắt:

Khi hai mắt ta tiếp xúc với sắc (cảnh vật bên ngoài) mà thiếu ánh sáng của chánh niệm thì ham muốn liền khởi lên và tâm dao động: ưa-ghét, lấy-bỏ liền hiện ra dưới đủ mọi hình thức. Nếu ta tu tập chánh kiến thì khi nhìn mọi sự vật hiện tượng, phải nhìn dưới ánh sáng của vô thường, vô ngã, không tham đắm cũng không xua đuổi. Từ cái nhìn của con mắt thịt, chúng ta tiến xa hơn một bước về cái nhìn hướng thượng để nhìn tất cả các sự vật hiện tượng trong cuộc đời này với tâm bình đẳng không ưa ghét, mong cầu, than trách v.v... Không chỉ thích mùa Xuân mà ghét nắng của mùa Hạ, không buồn khi mùa Thu đến, không ta thán khi mùa Đông tuyết đóng băng v.v... Sống thuận theo bốn mùa của thiên nhiên; mùa nào cũng tốt, ngày nào cũng vui như thi sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Đông ăn măng trúc, Thu ăn giá

Xuân tắm hồ sen, Hạ tắm ao...

Hay như thiền sư Vạn Hạnh, không lo âu sợ hãi trước những thăng trầm của cuộc đời:

Nhậm vận thịnh suy vô bố uý

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.

(Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi

Thịnh suy như hạt sương đọng nơi đầu ngọn cỏ)

Thế còn lỗ tai thì tu như thế nào?

Tai cũng là một cửa đi vào Đạo. Khi nghe khen ta không chấp vào lời khen mà sinh ra ngã mạn, khi nghe chê cũng không vì chấp vào lời chê mà chán nản, ghét người chê mình. Những lời khen, lời chê… tự nó không xấu nhưng nếu ta chấp vào chúng mà khởi tâm bất thiện thì cái nguy hiểm là ở chỗ này. Hãy quán sát âm thanh đơn thuần là âm thanh thì hiểu được Đạo. Khen hay chê đều không thể biến ta thành người khác: khi ta bình thản trước những lời chê bai, chưởi mắng của một người nào đó, tức là ta đã độ được tâm mình, độ được người ấy mà chính cũng là người ấy đã độ ta. Đức Phật nói không sai: “Tai cũng là một biển lớn mà ta phải vượt qua” . Vì vậy: giữ tâm bình thản trước mọi âm thanh thì chính là ta đã “tu hai lỗ tai” rồi.

Tu cái lưỡi:

Cái lưỡi cũng quan trọng trong việc ăn và nói. Tham ăn cũng có thể đưa đến những tai hại và sai lầm không sửa lại được. Ví dụ như ăn vào những chất độc làm hại cơ thể, hại dạ dày, hại gan v.v... Nguy hiểm hơn một chút là khi được ăn ngon, uống say có thể bị mua chuộc, bị ám hại, bị lợi dụng v.v... mà không thể đề phòng được. Vì vậy tu cái lưỡi là khi ăn, phải biết “ăn chánh niệm”, nghĩa là ta phải biết rằng “ăn để mà sống”, thức ăn có tác dụng như thuốc bổ, có thể nuôi sống thân mạng mình. Trước khi ăn phải khởi lên một niệm biết ơn những người gián tiếp hay trực tiếp lo cho ta bữa ăn này. Khi ăn phải nhai thật kỹ, không ăn quá no, không vừa ăn vừa lo nghĩ, giận hờn, phiền muộn... như thế thì thức ăn mới được tiêu hóa, dễ dàng nuôi dưỡng cơ thể.

Còn “nói” chính là thể hiện hay tu tập “Chánh ngữ”. Đó là lý do chúng ta thường được nghe câu “phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” vậy. Đánh răng và súc miệng mỗi buổi sáng là cần thiết và quan trọng như thế nào thì giữ gìn lời nói của mình “cho sạch nghiệp nói năng” còn quan trọng hơn nữa. Muốn nói cho “sạch nghiệp” thì phải nói lời chân thật, lời dịu dàng, lời đoàn kết, đem lại an vui lợi ích cho người khác. Đừng bao giờ nói trong lúc đang giận dữ, vì “giận thì mất khôn”. Cái lưỡi sẽ “phun” ra những nọc độc bắn vào người khác làm tổn thương họ và sau khi nguôi giận, có thể ta sẽ ân hận suốt đời. Đó là chưa nói: trong lịch sử nhân loại xưa nay không hiếm gì ví dụ một lời nói có thể làm sụp đổ một ngai vàng, cũng có thể đem lại hòa bình cho nhân loại, cũng có thể gây ra chiến tranh thế giới v.v... Những điều này nhắc ta sự quan trọng của lời nói tức là Chánh ngữ trong Bát chánh đạo.

Xin tặng Bạn bài thi kệ này để chúng ta tự nhắc nhở mình về cách nói năng của mình ngay lúc vừa thức dậy, đi đánh răng và súc miệng:

Đánh răng và súc miệng

Cho sạch nghiệp nói năng

Miệng thơm lời chánh ngữ

Hoa nở tự vườn tâm.

Tu hai lỗ mũi:

Tu hai lỗ mũi là “biết thở Chánh niệm”. Thở chánh niệm là “thở vào ta biết ta đang thở vào, thở ra ta biết ta đang thở ra” mà không chú ý đến gì khác ngoài hơi thở. Điều này nghe thì dễ nhưng làm thì khó. Ai đã từng thực tập đếm hơi thở (sổ tức quán) đều có kinh nghiệm này: nếu không có chánh niệm, ta sẽ đếm nhầm ngay (và phải bắt đầu lại!).

Năng lượng chánh niệm do hơi thở tạo ra sẽ giúp ta an trú trong hiện tại, không tìm về quá khứ, không mơ tưởng tương lai - những thứ này là nguyên nhân của đau khổ phiền não. Khi đã có khả năng kiểm soát hơi thở vững vàng, ta sẽ điều hòa được những ưa-ghét, lấy-bỏ của hai lỗ mũi; lúc đó mùi hôi không còn làm ta giận dữ, khó chịu cũng như mùi thơm không còn khả năng lôi cuốn, chiếm giữ hay sai sử tâm ta nữa; vì vậy mới nói rằng: an lạc sẽ đến với những người biết điều hòa hơi thở hay biết thở chánh niệm.

Tu Thân:

Ba nghiệp dữ (ác nghiệp) của thân là: sát sanh, trộm cướp và tà hạnh (nghiệp = những hành động cố ý, gây ra tội). Đức Phật dạy: nguyên nhân của những nghiệp dữ này là do ý (tâm) chủ động hết thảy:

Tâm dẫn đầu mọi Pháp

Tâm chủ, tâm tạo tác

Nếu với tâm ô nhiễm

Nói lên hay hành động

Khổ não sẽ theo sau

Như xe theo (con) vật kéo.

(kinh Pháp Cú 1)

Tâm dẫn đầu mọi Pháp

Tâm chủ, Tâm tạo tác

Nếu nói hay hành động

Với tâm tư thanh tịnh

Hạnh phúc sẽ theo sau

Như bóng không rời hình.

(kinh Pháp Cú 2)

Thật vậy, nếu mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với âm thanh... mà không có ý phụ họa thì đâu có tạo nghiệp? Thấy sắc, nghe tiếng rồi khởi lên ý niệm đẹp-xấu, hay-dở,  rồi khen-chê, ưa-ghét, lấy-bỏ; mới thành ra dính mắc, mới đâm ra ăn cướp, ăn trộm, giết người, cướp của v.v... Như vậy những nghiệp của thân chính ra là do ý dẫn dắt vậy. Chúng ta thấy rõ rằng: mắt, tai, mũi, lưỡi chính là ở trong thân rồi; nhưng nói về thân để còn nói đến thân thể, tay chân... nữa; nói chung, tất cả những bộ phận trên thân người đều có thể gây ra tội. Cho nên, đến đây chúng ta có thể thêm vào lời dạy của ngài A Chah Chaan: Bát chánh đạo trong ta gồm: hai mắt, hai tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Đạo Phật dạy nhiều giáo lý từ thấp đến cao, có ích lợi như vậy mà tại sao có những Phật tử vẫn đi vào chùa xin xăm, coi bói toán, xin bùa v.v... như vậy là họ có tin vào thuyết nhân quả không?

Trước hết, những người đi vào chùa xin xăm, đi coi bói v.v... chưa hẳn tất cả đều là Phật tử.

Thứ đến, cho dù họ là Phật tử nhưng xin xăm, coi bói v.v... là do tính hiếu kỳ chứ chưa hẳn họ đã tin.

Thứ ba, có nhiều người gọi là Phật tử là vì gia đình thờ Phật nhưng bản thân họ không nghe, không đọc kinh điển, không tu tập theo các phương pháp truyền thống như Thiền, Tịnh độ v.v... cho nên họ không hiểu đúng những lời dạy của đức Phật, đức tin của họ có thể lớn hơn trí huệ của họ.

Tại sao có một số chùa chủ trương cho Phật tử xin xăm và giải xăm cho họ?

Xin xăm không phải theo truyền thống Phật giáo nhưng có thể nói là một tập quán lâu đời của dân tộc ta; đặc biệt trong những ngày Xuân, ngày Tết, người ta thích coi bói, xin xăm để thử xem năm tới có tốt hơn năm rồi không; ngoài ra một số những thanh niên nam nữ tuy không tin nhưng cũng bắt chước hay chiều ý người bạn trai (hay bạn gái) của mình.

Các chùa tất nhiên là hiểu biết rõ ràng giáo lý nhân quả, nhưng cũng phải “tùy thuận chúng sanh”, cho họ cơ hội làm quen với chùa, làm quen với việc đi chùa, từ đó họ có thể tiếp cận với Phật pháp và hiểu được sâu hơn. Nhiều khi ban đầu họ đến chùa vì những chuyện “lãng xẹt” nhưng giúp họ lui tới chùa, quen được những thiện tri thức làm cho họ cảm mến, kính phục chẳng hạn, đưa họ vào Đạo một cách dễ dàng. Cái duyên đối với chùa, với Phật, với chư Tăng Ni nhiều khi rất đặc biệt, nên xin xăm cũng có thể đem họ đến với Đạo. Vì vậy, các chùa khó có thể bỏ tục xin xăm trong mấy ngày Tết.

“Bạn Có Biết?” đúng là một chuyện dài nhiều tập! Xin hẹn các bạn lần sau !


 

PAKISTAN: Khai quật được di vật Phật giáo tại Taxila ^

Viện khảo cổ của chính phủ Pakistan đã khai quật được tám di vật điêu khắc hình đức Phật Di Lặc và thần Indra cùng những cận thần của ông, có niên đại từ thế kỷ thứ I Tây lịch, ở Islama, Taxila, Pakistan vào hôm 22/11/2004 vừa qua.

Theo tờ báo Daily Times, những di vật quý giá này được phát hiện trong lúc các chuyên gia Viện khảo cổ và Cơ quan bảo tồn di vật đang xúc tiến công việc bảo tồn ngôi tháp Dharmarajika, cách khoảng 35 km về phía Đông Bắc của viện bảo tàng Taxila.

Taxila là trung tâm Phật giáo rất cường thịnh kéo dài từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V. Nổi tiếng thế giới là những ngôi tháp được xây dựng vào thời vua Asoka và vua Dharma Raja của triều đại Mauryan. Những ngôi tháp này đã bị một số vị vua kì thị Phật giáo tàn phá, nhưng được vua Kaniska tái tạo lại vào thế kỷ thứ II. Sau đó, khu vực này bị quân Hồi giáo xâm chiếm, và hầu hết kiến trúc nghệ thuật Phật giáo tại đây đã bị thiêu phá.

Các nhà khảo cổ đã xác nhận rằng, một trong những di vật được khai quật đã mô tả “ngày đản sinh của đức Phật Di Lặc theo kinh điển và lịch sử Phật giáo”. Các di vật được làm bằng diệp thạch nho đen và thạch đá màu xanh trong giai đoạn thế kỷ thứ I hay thế kỷ thứ II Tây lịch.

Ông Johan Marshall là người đầu tiên khám phá nơi này vào năm 1920. Từ đó đến nay, rất nhiều di vật được tìm thấy ở đây. Hiện nay, những di vật được khai quật tại Taxila thuộc nghệ thuật Phật giáo đang được lưu giữ tại những bảo tàng nổi tiếng trên thế giới.

Pakistan là quốc gia có dân số phần lớn theo Hồi giáo, nhưng Chính phủ rất quan tâm đến việc khảo cổ và bảo tồn những di tích về nghệ thuật kiến trúc Phật giáo. Vì những di tích này không những là bảo vật quý giá của Phật giáo mà còn là của quốc gia cũng như của thế giới.

Từ Quang

 


 

HAWAII: Hội thi họa hình tượng đức Phật dành cho thanh thiếu niên Phật tử để kỷ niệm ngày đức Phật thành đạo ^

 

Ngày 4/12/2004, bảy Hội đoàn Phật giáo tại Hawaii tổ chức nhiều chương trình mang đậm nét văn hóa Phật giáo để kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca thành đạo cách đây trên 2500 năm.

Chương trình gồm: hội triển lãm những bức tranh về nghệ thuật Phật giáo. Đặc biệt, cuộc thi hội họa dành cho thanh thiếu niên Phật tử trên đảo Hawaii. Chủ đề lần này là những hình ảnh về cuộc đời của đức Phật. Danh họa Hideo Okino, người huấn luyện cho các em vẽ, nói rằng: “Nếu các em hiểu biết về các đức Phật một cách sâu sắc thì các em sẽ có lòng tự tin khi tham gia, cũng như mang lại niềm an lạc trong cuộc sống cho các em.”

Buổi lễ bắt đầu lúc 9 giờ sáng tại Jodo Mission, Hawaii, Hoa Kỳ; có sự tham dự của Ông Jion Donald Prosser, một người Mỹ đã từng nghiên cứu đạo Phật ở Nhật Bản và đã thọ giới trong giáo phái Tendai. Hiện tại, ông là người chỉ đạo những chuyên đề nghiên cứu Phật giáo khắp nước Mỹ.

Hằng năm, kinh phí chương trình này được tài trợ bởi Hội đồng Phật giáo Hawaii, trong đó gồm các chùa Higashi Hongwanji, Honpa Hongwanji, Jodo, Nichiren, Shingon, Soto và Tendai.

Hiếu Tâm


 

Liên Hiệp Quốc: Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc gởi lời chúc mừng đến Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II. ^

 

Hôm thứ Tư, ngày 1/12/2004, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Anan đã gởi lời chúc mừng đến Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II tại Lumbini.

Ông nói rằng, đức Phật đã để lại cho nhân loại bức thông điệp hòa bình và từ bi - Đó là lời cảnh tỉnh nhân loại hãy đối xử với nhau bằng sự thật và công bằng; thay vì bằng lòng độc ác, chiến tranh xâm lược và giết hại lẫn nhau. Đặc biệt, ông đã nhấn mạnh rằng: “Tôi hy vọng tất cả mọi người hiện đang tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II này hãy cùng nhau bắt tay vào việc vận động toàn cầu thiết lập lại chân lý và niềm tin giữa những quốc gia, tôn giáo, dân tộc và văn hóa khác nhau thành một khối.”

Hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ II diễn ra từ ngày 30/11 đến 2/12 tại thành phố Lumbini, Nepal. Tham dự hội nghị có Thủ tướng Nepal, các quan chức Chính phủ và địa phương cùng với các nhà lãnh đạo Phật giáo trên 26 quốc gia. Hội nghị đã thống nhất dự án xây dựng thành phố Lumbini, nơi Đản sanh của đức Phật, trở thành thành phố hòa bình thế giới.

Thông Tánh

Thơ

NIỆM PHẬT  ^

- Vĩnh Thi

 

Đưa nhau qua phiền muộn

Hoan hỷ một câu chào

Chấp tay lòng thanh tịnh

Con kính niệm nam mô.

 

Vẩn đục đời bi thương

Người đưa nhau đoạn trường

Danh hiệu Ngài tỏa sáng

Như mùa sen ngát hương.

 

Trăm năm một kiếp người

Hờ hững ai dễ trôi

Quên nẻo về chốn cũ

Khi thấy mình chơi vơi.

 

Chấp tay con kính nguyện

Tha lực Ngài độ trì

Cho những kẻ lầm mê

Cũng thành người giải thoát.

 

Nam mô con chí thành

Nam mô câu an lành

Xin muôn đời vẫn nhớ

Trọn đời con quy y.

 

 


 

MỘ SƯƠNG ^

Mộng Yên Sinh

 

Bóng chiều trôi quạnh quẽ

Mộ ai sương phủ đầy

Chim vành khuyên nức nở

Mẹ ơi! Giờ ở đâu?

 

Sương chiều hay nước mắt

Giăng kín vòm hư không

Cõi lòng ai quặn thắt

Dâng lên niềm nhớ mong.

 

Mấy mùa thu cách biệt

Chim vành khuyên bơ vơ

Ôi tình thương bất diệt

Ấp ủ lòng ngây thơ.

 

Sương xuống chiều hoang lạnh

Mẹ ơi giờ ở đâu?

Cánh chim trời cô quạnh

Tìm Mẹ suốt đêm thâu.

 


 

HƯƠNG NGUYỀN ^

Quang Tuệ

 

Giữa rực sáng

và hương trầm ngào ngạt

Anh lung linh,

anh rực sáng huy hoàng,

Em quì xuống

cùng nhớ thương chất ngất

Cùng nỗi gì

ngập cả cõi hư không.

 

Em hòa trộn

luân hồi thành một cõi

Để tháng ngày

ta dong rủi vui chơi

Giữa mê tỉnh

ta say cùng cát bụi

Mà thời gian

vẫn xuyên suốt không rời.

 

Không gian nữa

sẽ không còn chia chẻ

Một con thuyền

lướt sóng đến vô biên

Đến cuối đường

vẫn còn ôm ước nguyện

Một chiều xưa

lầu tháp quyện hương nguyền.

 


 

 Đời ẩn sĩ ^

- Mặc Không Tử

(Tặng tác giả bài thơ “Trăng và đạo sĩ”)

 

Am tranh vắng

giữa đêm

sư thiền tọa

Cửa chẳng cài then

trăng gió mặc tình...

Thác núi vọng

âm vang miền hư ảo

 Đêm trở mình

chim bỗng hót lời kinh

Bên dòng nước

thả trôi mùi tục lụy

Sương lung linh

rửa sạch bụi ưu phiền

 Đời ẩn sĩ

non cao làm bạn lữ

Núi rừng khuya

huyền diệu một vầng trăng !

 

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 1-1-2005

 

Webmaster:quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Tập San Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au