Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tâm Lý Học Phật Giáo


...... ... .


 

NGHỆ THUẬT TẠO HẠNH PHÚC
THE ART OF HAPPINESS

Tác Giả: ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA và Bác Sĩ HOWARD C. CUTLER
Dịch Giả: Tỳ kheo THÍCH TÂM QUANG

Chùa Tam Bảo, Fresno, California, Hoa Kỳ
PHẬT LỊCH 2547 - D.L. 2003

---o0o---
 

MỤC LỤC

Lời người dịch

Lời Tác Giả
Dẫn Nhập

Vài nét về dịch giả

 

PHẦN I - MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC ĐỜI

Chương 1 - Quyền Hưởng Hạnh Phúc
Chương 2 - Nguồn Gốc Hạnh Phúc

Chương 3 - Rèn Luyện Tâm Để Có Hạnh Phúc
Chương 4 - Giành Lại Tình Trạng Hạnh Phúc Bẩm Sinh

 

PHẦN II - NHIỆT TÌNH VÀ TÌNH THƯƠNG CỦA CON NGƯỜI

 

Chương 5 - Kiểu Mẫu Mới Cho Sự Thân Thiện
Chương 6 - Làm Đằm Thắm Thêm Quan Hệ Của Chúng Ta Với Người Khác

Chương 7 - Giá Trị Và Lợi Ích Của Từ Bi

 

PHẦN III - CẢI ĐỔI SỰ KHỔ ĐAU

 

Chương 8 - Đối Đầu Với Khổ Đau
Chương 9 - Chuốc Lấy Khổ Đau

Chương 10 - Chuyển Đổi Cách Nhìn
Chương 11 - Tìm Ý Nghĩa Trong Đau Đớn Và Khổ Đau

 

PHẦN IV - VƯỢT QUA CÁC CHƯỚNG NGẠI

 

Chương 12 - Đường Dẫn Đến Quá Trình Thay Đổi
Chương 13 - Đối Trị Với Giận Dữ Và Sân Hận

Chương 14 - Đối Trị Với Lo Âu Và Xây Dựng Lòng Tự Trọng

 

PHẦN V - TÓM TẮT CÁC SUY TƯ VỀ CÁCH SỐNG CUỘC ĐỜI TINH THẦN

 

Chương 15 - Những Giá Trị Tinh Thần Căn Bản

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

Hạnh phúc. Một câu hỏi lớn trước nhân loại, chẳng phải thời nay mà đã có từ thời thượng cổ. Nhân loại đã đổ không biết bao xương máu, trải qua bao cuộc chiến tranh, ở đâu đó, ở góc độ nào đó, đều liên quan đến hạnh phúc. Hạnh phúc không từ trên trời rơi xuống. Hạnh phúc và gian khổ là hai mặt của một vấn đề.

Trong thế giới cận đại và hiện đại, người ta đã tốn không ít công sức, giấy mực viết về đề tài này, từ người bình dân tới văn nghệ sĩ, đến các nhà khoa học, các học giả, các nhà triết học và vân vân... Các tôn giáo cũng luôn đề cập đến đề tài này. Nhưng có lẽ đây là cuốn sách hiếm có, một góc độ lạ lùng nhìn vào vấn đề hạnh phúc. Và tôi phải thú thật rằng , đây là một sự kết hợp Đông-Tây tuyệt đẹp; một nhà tâm lý học Phương Tây - Bác sĩ Howard C. Cutler trình bày vấn đề hạnh phúc dưới lăng kính Phật Giáo Phương Đông mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đại diện.

Cuốn sách mang đến cho bạn đọc những suy ngẫm nghiêm túc về hạnh phúc mà đôi khi có thể chúng ta ngộ nhận hoặc lầm lẫn với niềm sung sướng. Cái ranh giới mong manh, vi tế ấy quả thật không dễ phân biệt. Nếu chúng ta không định nghĩa rạch ròi, làm sao chúng ta biết làm gì để đạt được hạnh phúc. Nhưng để phấn đấu giành cho được hạnh phúc, vấn đề đó lại liên quan mật thiết với tâm - hay đúng hơn là, tâm mới là nguồn hạnh phúc. Và tâm con người mới phức tạp, rối ren làm sao. Bạn sẽ kinh ngạc trước sự mổ xẻ tâm hết sức mạch lạc, sáng sủa dẫu rằng đó không phải là vấn đề dễ dẫn dắt. Tôi hoàn toàn tin rằng bạn sẽ bị thuyết phục và bắt tay vào rèn luyện tâm. Gian dị như là muốn khỏe thì phải tập tành, và để có hạnh phúc thì phải luyện tâm. Tất cả những điều đó đều được Đức Đạt Lai Lạt Ma so sánh với những thí dụ sát hợp, sinh động, khiến cho lý thuyết của Ngài trở nên giản dị, trong sáng, dễ hiểu. Rồi chúng lại được so sánh với những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại, vấn đề lại càng sáng tỏ, đầy sức thuyết phục.

Washington từng nói, "Ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc". Quả là đúng. Song để có quyền này cũng đã là không dễ rồi. Rồi thì không phải những người có cái quyền này là đạt được hạnh phúc.

Nào, chúng ta lên đường với một quyết tâm và niềm tin vững chắc vào hạnh phúc chân chính.

Chúc các bạn thành công.

Phật Đản 2547, Dương Lịch 2003
Tỳ Kheo Thích Tâm Quang
Chùa Tam Bảo, Fresno, California

 

 

LỜI TÁC GIẢ

Trong tác phẩm này, nhiều cuộc đàm thoại sâu rộng với Đức Đạt Lai Lạt Ma đã được kể lại. Những cuộc hội kiến riêng với Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Arizona (Hoa Kỳ) và Ấn Độ là nền tảng của tác phẩm này được tiến hành với mục đích cộng tác rõ rệt về một công trình nói lên quan điểm của Ngài để có một cuộc sống hạnh phúc hơn, mở rộng thêm những nhận xét và bình luận của riêng tôi từ cái nhìn của một thầy thuốc chuyên gia về tâm thần học Tây Phương. Đức Đạt Lai Lạt Ma hoan hỉ cho tôi đươc tùy ý lựa chọn bất cứ thể loại nào miễn sao tôi cảm thấy nó truyền đạt hiệu qủa nhất ý kiến của Ngài. Tôi cảm thấy thể loại kể truyện trong những trang sách này là loại dễ đọc nhất và đồng thời đem lại cảm nhận về việc Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đưa những tư tưởng của Ngài vào cuộc sống hàng ngày. của riêng Ngài như thế nào Với sự chấp thuận của Ngài, tôi đã biên soạn tác phẩm này theo như chủ đề, và vì thế đôi khi tôi chọn cách phối hợp và bổ sung tài liệu lấy từ nhiều những cuộc đàm thoại khác nhau. Ngoài ra được Đức Đạt Lai Lạt Ma cho phép, những chỗ tôi thấy cần phải làm sáng tỏ hoặc toàn diện tôi đã đúc kết lại thành tài liệu từ những cuộc nói chuyện của Ngài trước công chúng tại Arizona. Thông Dịch Viên của Ngài, Tiến Sĩ Thupten Jinpa, đã hoan hỉ duyệt bản thảo tác phẩm này để bảo đảm không có sự bóp méo vô ý tư tưởng của Ngài trong quá trình biên tập.

Một số trường hợp lịch sử và các giai thoại cá nhân đã được trình bầy để minh họa những tư tưởng đang thảo luận. Để giữ được tính bí mật và bảo vệ tính riêng tư cá nhân, trong mọi trường hợp tôi đã đổi tên và sửa lại một số chi tiết và một số các đặc tính khác để tránh sự nhận diện ra những cá nhân đặc biệt.

Bác Sĩ Howard C. Cutler

 

DẪN NHẬP

Tôi tìm thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi một mình trong căn phòng thay quần áo trống trải của học sinh chơi bóng rổ trước khi Ngài ra nói chuyện với sáu ngàn cử tọa tại Đại Học Đường Tiểu Bang Arizona. Ngài bình thản uống từng hớp nước trà, trong một phong thái hoàn toàn thư thái "Thưa Ngài, Nếu Ngài đã sẵn sàng ..."

Ngài đứng ngay dậy, và không chút do dự, Ngài ra khỏi phòng hòa vào đám đông dày đặc ở hậu trường của những ký giả địa phương, nhiếp ảnh viên, nhân viên an ninh, và học sinh - cùng những người cầu thị, người tò mò, và người hoài nghi. Ngài đi qua đám đông với nụ cười cởi mở và vừa đi vừa chào - cuối cùng đi qua một tâm màn, Ngài bước lên sân khấu, cúi chào, chắp hai tay và miệng mỉm cười. Tiếng vỗ tay vang như sấm chào mừng Ngài. Theo lời yêu cầu của Ngài, đèn chỗ thính giả không quá tối để Ngài có thể nhìn thấy cử tọa, và đôi lúc Ngài đứng đó, lặng lẽ nhìn thính giả với một biểu cảm nhiệt tình và thiện chí.không thể nhầm lẫn. Với những người chưa bao giờ được nhìn thấy Đức Đạt Lai Lạt Ma trước đây, chiếc y mầu nấu và vàng nghệ của tăng đồ của Ngài có thể tạo cho họ có phần nào cảm tưởng kỳ lạ, nhưng Ngài có khả năng khác thường trong việc thiết lập quan hệ với thính giả và nó được chứng tỏ ngay khi Ngài ngồi xuống và bắt đầu nói chuyện.

"Tôi nghĩ rằng đây là lần đầu tiên tôi gặp hầu hết quý vị. Nhưng với tôi, dù là bạn cũ hay mới, dù sao cũng không có gì khác biệt, vì lúc nào tôi cũng tin tưởng chúng ta giống nhau, tất cả chúng ta đều là con người. Đương nhiên có những khác biệt về bối cảnh văn hóa, hay đường lối sống, có thể có khác biệt về tín ngưỡng, hay có thể có khác biệt về mầu da, nhưng chúng ta đều là con người, gồm có thân thể con người và tâm trí con người. Cấu trúc thể chất cũng giống nhau, tâm trí chúng ta và bản chất cảm xúc của chúng ta cũng giống nhau. Gặp một người ở bất kỳ nơi đâu tôi lúc nào cũng có cảm nghĩ tôi đang gặp một con người giống như tôi vậy. Tôi thấy dễ dàng truyền thông với người ấy ở mức độ ấy. Nếu tôi nhân mạnh những nét đặc biệt khác, như tôi là người Tây Tạng hay tôi là một Phật Tử, thì có nhiều dị biệt. Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là hàng thứ. Nếu chúng ta có thể bỏ những dị biệt qua một bên, tôi nghĩ rằng chúng ta dễ dàng truyền thông, trao đổi ý kiến, và chia sẻ kinh nghiệm."

Bằng cách vào đề ấy, năm 1993 Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói chuyện với công chúng tại Arizona suốt một tuần lễ. Chương trình Ngài thăm viếng Arizona đã được trù liệu trên một thập niên trước. Chính lúc đó, tôi được gặp Ngài lần đầu trong cuộc viếng thăm Dharamsala, tại Ấn Độ bằng học bổng nghiên cứu ít ỏi về y học Tây Tạng truyền thống. Dharamsala là một làng đẹp và yên tĩnh trên sườn đồi ở chân dẫy núi Hy Mã Lạp Sơn. Gần bốn chục năm qua, nơi đây là trụ sở của chính phủ lưu vong Tây Tạng, từ khi Đức Đạt Lai Lạt Ma cùng với một trăm ngàn người Tây Tạng rời bỏ Tây Tạng sau cuộc xâm lược tàn bạo của quân đội Trung Hoa. Trong thời gian tôi ở tại Dharamsala, tôi được biết một vài thân nhân gia đình của Ngài, và do đó tôi được thu xếp để gặp Ngài lần đầu tiên.

Trong bài nói chuyện với công chúng của Ngài vào năm 1993, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về tầm quan trọng của sự liên kết giữa người này với người kia, và cũng đặc điểm ấy đã là đặc điểm nổi bật trong cuộc đàm thoại đầu tiên của tôi với Ngài tại nơi Ngài cư ngụ năm 1982. Dường như Ngài có một khả năng khác thường làm cho người đối thoại thấy thoải mái, nhanh chóng tạo ra mối quan hệ trực tiếp và đơn giản với con người đồng loại. Cuộc gặp lần đầu với Ngài kéo dài khoảng 45 phút, và cũng giống như những người khác, tôi ra về trong một tinh thần sung mãn, có cảm tưởng tôi vừa mới gặp được một người thật đặc biệt.

Các cuộc tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma ngày càng nhiều trong mấy năm sau đó, tôi dần dần cảm nhận thấy nhiều đức tính độc đáo của Ngài. Ngài có một trí thông minh sắc sảo, không một chút gian xảo, không đa cảm quá mức, hết sức hóm hỉnh nhưng không phù phiếm và như nhiều người đã phát hiện ra khả năng truyền cảm hơn là làm kinh sợ.

Qua một thời gian tôi tin rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã học được cách sống bằng ý thức hoàn thành nhiệm vụ và có một mức độ thanh thản mà tôi chưa từng thấy ở người khác. Tôi quyết tâm tìm hiểu những nguyên tắc khiến Ngài thành tựu được điều đó. Mặc dù Ngài là một nhà sư Phật Giáo có đời sống tu tập và nghiên cứu, nhưng tôi bắt đầu tự hỏi liệu người ta có thể nhận biết khuynh hướng niềm tin hay sự tu tập của Ngài có thể dùng cho những người không phải là Phật Tử không - cũng như sự tu tập có thể áp dụng trực tiếp vào đời sống của chúng ta dễ dàng giúp chúng ta trở nên sung sướng hơn, mạnh mẽ hơn và có lẽ ít sợ hãi hơn.

Cuối cùng, tôi đã có cơ hội thăm dò quan điểm của Ngài sâu xa hơn, gặp Ngài hàng ngày trong thời gian Ngài lưu lại Arizona và bám sát với những cuộc thảo luận bằng những cuộc chuyện trò sâu rộng hơn ở nhà Ngài tại Ấn Độ. Đàm luận với Ngài, không bao lâu tôi khám phá ra tôi và Ngài có những hàng rào ngăn cách mà chúng tôi phải khắc phục để dung hòa những cách nhìn dị biệt, Ngài là một nhà Sư Phật Giáo, còn tôi là một bác sĩ tâm thần Tây Phương. Ví dụ tôi bắt đầu một trong buổi hội ngộ đầu tiên, bằng cách hỏi Ngài một số vấn đề chung về con người, giải thích một số vụ việc lịch sử dài. Sau khi mô tả một phụ nữ cố chấp đòi quyên sinh bất chấp tác động tiêu cực khủng khiếp trong đời cô, tôi hỏi Ngài liệu Ngài có thể giải thích về hành vi này và Ngài có thể cho người ấy lời khuyên gì không. Tôi sửng sốt khi sau một hồi lâu suy nghĩ, Ngài đơn giản trả chỉ trả lời "Tôi không biết", vừa nói Ngài vừa nhún vai và cười hiền hậu.

Nhận thấy sự ngạc nhiên và thất vọng vì không nhận được câu trả lời cụ thể, Ngài nói: "Đôi khi rất khó giải thích tại sao người ta lại làm những việc đó ... ông thường thấy không có những lời giải thích đơn giản. Nếu chúng ta đi vào chi tiết đời sống cá nhân, vì tâm con người hết sức phức tạp, quả là khó hiểu được điều gì đang xẩy ra, chính xác điều gì đang diễn ra"

Tôi nghĩ rằng Ngài muốn thoái thác." Nhưng là một bác sĩ tâm lý liệu pháp, bổn phận của tôi là phải tìm ra lý do tại sao người ta làm những việc đó..."

Một lần nữa, Ngài bật cười mà nhiều người thấy rất lạ thường - một nụ cười đượm tính hài hước và thiện chí, không màu mè không ngần ngại, bắt đầu bằng ấm hưởng sâu và dễ dàng leo lên mấy quãng tám để rồi chấm dứt ở một đỉnh cao của niềm vui thích.

"Tôi nghĩ quả là khó khăn để cố gắng hình dung được tâm của năm tỷ người hoạt động ra sao", Ngài vừa nói vừa cười." Đó là một công việc không thể làm được: từ quan điểm Phật Giáo, có nhiều yếu tố góp phần vào bất cứ một biến chuyển hay tình thế nào... Có thể có rất nhiều yếu tố trong đó, thực ra, đôi khi chúng ta không bao giờ có thể có được sự giải thích đầy đủ về điều gì đang xẩy ra, ít nhất không phải trong những điều kiện thông thường".

Cảm thấy điều gì khó chịu nơi tôi, Ngài nhận xét: "Trong khi cố gắng xác định nguồn gốc vấn đề của con người, dường như cách đặt vấn đề của Tây Phương khác với Phật Giáo.ở một số khía cạnh. Nền tảng cho những phương thức lý giải của Tây Phương là khuynh hướng duy lý mạnh mẽ - cho rằng mọi sự đều có thể giải thích được là đúng. Hơn nữa có những hạn chế sinh ra từ một số tiền đề được cho là điều dĩ nhiên. Thí dụ, mới đây tôi gặp một số bác sĩ tại một trường đại học y khoa. Họ nói chuyện về bộ não và cho rằng suy nghĩ và cảm xúc là kết quả của những phản ứng hóa học khác nhau và những biến đổi trong bộ não. Cho nên tôi đã đưa ra câu hỏi: Có thể nhận thức được chuỗi biến chuyển ngược không khi suy nghĩ phát sinh ra chuỗi biến chuyển hóa chất trong bộ não? Tuy nhiên, tôi thấy phần đáng chú ý nhất là câu trả lời của khoa học gia đưa ra. Ngài nói: "Chúng ta bắt đầu từ cái tiền đề cho rằng tất cả suy nghĩ là kết quả hay chức năng của phản ứng hóa học trong bộ não ". Vậy thì điều đó hoàn toàn hầu như là cứng nhắc, một quyết định nghi ngờ chính cách suy nghĩ của họ"

Ngài im lặng một lúc rồi tiếp tục: "Tôi nghĩ rằng trong xã hội Tây Phương hiện đại, dường như có một trạng thái văn hóa mạnh mẽ dựa vào khoa học. Nhưng trong một số trường hợp, những tiền đề tham số căn bản do khoa học Tây Phương thiết lập có thể giới hạn khả năng giải quyết một số thực tại. của ông. Chẳng hạn, ông có những hạn chế khi quan niệm là mọi thứ đều có thể giải thích trong khuôn khổ con người có một kiếp sống, và ông phối hợp điều này với khái niệm là mọi thứ có thể và phải được giải thích. Nhưng khi ông chạm chán với các hiện tượng không thể giải thích được, hồ như căng thẳng phát sinh, hầu hết nó là cảm giác về sự thống khổ."

Dù vậy, tôi cảm thấy có sự thật trong điều Ngài nói, lúc đầu tôi cảm thấy khó chấp nhận " Trong tâm lý học Tây Phương, khi chúng tôi bắt gặp những cách ứng xử của con người bề ngoài rất khó giải thích, thì chúng tôi có một số giải pháp có thể áp dụng để tìm hiểu điều gì đang xẩy ra. Thí dụ, khái niệm về phần vô thức hay tiềm thức của tâm đóng một vai trò đắng chú ý. Chúng tôi cảm thấy đôi khi cách ứng xử có thể là kết quả của tiến trình tâm lý mà chúng ta không ý thức được- chẳng hạn, người ta có thể tìm cách nào đó để tránh nỗi sợ hãi ngấm ngầm trong lòng. Không ý thức được điều đó, một cách ứng xử có thể bị thúc đẩy vì không muốn để sợ hãi đó nổi lên trong tâm thức, cho nên chúng ta không cảm thấy khó chịu về chúng".

Trầm ngâm hồi lâu, Đức Đạt Lai Lạt Ma nói: Trong Phật Giáo có một khái niệm về tâm tính và dấu ấn ảnh hưởng sâu sắc đọng lại trong một số kinh nghiệm, một chút tương tự như khái niệm về vô thức trong tâm lý học Tây Phương. Chẳng hạn, một loại sự kiện nào đó có thể xẩy ra trước đây trong cuộc đời ta vẫn còn để lại những dấu ấn ảnh hưởng mạnh mẽ đây đó trong tâm, và sau này ảnh hưởng đến cách ứng xử của ta. Cho nên khái niệm về điều gì đó có thể là vô thức - những dấu ấn để lại mà người ta không ý thức được. Dù sao, tôi nghĩ rằng Phật Giáo có thể chấp nhận nhiều yếu tố mà các lý luận Tây Phương tìm được, nhưng thêm vào đó phải kể đến những yếu tố phụ. Thí dụ, phải thêm vào điều kiện và những dấu ấn từ kiếp trước. Trong tâm lý học Tây Phương, tuy nhiên, tôi nghĩ có một khuynh hướng nhân mạnh nhiều đến vai trò của vô thức bằng cách tìm kiếm nguồn gốc của vấn đề. Tôi nghĩ rằng tâm lý học Tây Phương đã khởi đầu bằng một số thừa nhận căn bản: chẳng hạn, không chấp nhận khái niệm về dấu ấn để lại từ tiền kiếp. Và đồng thời có một sự thừa nhận là mọi sự phải được giải thích trong phạm vi một đời người. Cho nên, khi ta không thể giải thích được điều gì là nguyên nhân của những cách ứng xử hay những vấn đề nào đó, thường có khuynh hướng đổ cho vô thức. Một chút giống như ta mất một thứ gì, và ta quyết định đồ vật đó ở trong phòng này. Và một khi ta quyết định như vậy tức là ta đã ân định những thông số của ta, ta đã loại trừ khả năng có thể đồ vật ấy ở ngoài phòng hay ở một phòng nào khác. Rồi ta cứ tìm kiếm và tìm kiếm, nhưng ta không tìm ra được, nhưng ta vẫn cứ cho rằng vật ấy vẫn còn bị che khuất đâu đó trong phòng này."

Lúc đầu khi tôi thai nghén tác phẩm này, tôi mường tượng một thể loại thông thường trong đó Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ tự trì nh bày những giải pháp dễ hiểu và đơn giản về tất cả những vấn đề cuộc sống. Tôi cảm thấy, dùng kiến thức về ngành tâm thần của tôi, tôi có thể hệ thống hóa quan điểm của Ngài thành một tập chỉ dẫn dễ thực hiện về cách sống hàng ngày. Sau một loạt các cuộc hội kiến với Ngài, tôi đã bỏ ý định trên. Tôi thấy phbuong pháp của Ngài chứa đựng một mô hình rộng mở và phức tạp hơn nhiều bao gồm tất cả sắc thái, tính phong phú, và phức tạp xảy ra trong đời sống.

Tuy nhiên dần dần, tôi bắt đầu nghe thấy một dấu hiệu luôn luôn vang vọng. Đó là dấu hiệu của hy vọng. Hy vọng của Ngài dựa vào niềm tin là không mấy dễ dàng trong khi đạt được hạnh phúc đích thực và trường cửu, tuy nhiên điều này có thể làm được. Nền tảng của tất cả những phương pháp của Đức Đạt Lai Lạt Ma, là một tập hợp niềm tin căn bản làm nền tảng cho tất cả hành động của Ngài: một niềm tin vào tính hiền hòa nhã và tính bản thiện của tất cả con người, niềm tin vào giá trị của từ bi, niềm tin vào cách xử sự tử tế, và ý thức cộng đồng giữa tất cả những sinh vật.

Như thông điệp của Ngài cho thấy càng ngày càng rõ ràng là niềm tin của Ngài không dựa trên niềm tin mù quáng hay giáo điều mà đúng hơn là trên lý luận đứng đắn và kinh nghiệm trực tiếp. Sự hiểu biết của Ngài về tâm trí và cách ứng xử của con người dựa vào sự nghiên cứu suốt cuộc đời. Quan điểm của Ngài bám chắc vào truyền thống đã được tôi luyện trên 25 thế kỷ qua qua lẽ phải thông thường và sự hiểu biết phức tạp về những vấn đề hiện đại. Đánh giá đúng những vấn đề đương thời của Ngài đã được tạo dựng do vị trí độc đáo của Ngài với tư cách là một nhân vật của thế giới, cho phép Ngài đi khắp thế giới nhiều lần, đứng trước nhiều nền văn hóa khác nhau và những người ở mọi tầng lớp xã hội trao đổi ý kiến với các khoa học gia hàng đầu và các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị. Điều chủ yếu nổi bật là phương pháp khôn ngoan, những vấn đề con người vừa lạc quan vừa thực tế.

Trong tác phẩm này, tôi đã tìm cách trình bày phương pháp bắt đầu giải quyết của Đức Đạt Lai Lạt Ma với cử tọa chủ yếu là người Tây Phương. Tôi đã gồm thấu những trích dẫn rộng lớn từ những giảng dạy với đại chúng của Ngài, và từ những cuộc hội kiến cá nhân với Ngài. Cố gắng giữ mục đích nhắm vào trong tài liệu này để người đọc có thể áp dụng vào đời sống hàng ngày, nên tôi thỉnh thoảng đã tự ý bỏ một phần về những cuộc thảo luận liên can nhiều đến những khía cạnh triết lý của Phật Giáo Tây Tạng. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết một số tác phẩm tuyệt vời trên nhiều khía cạnh về con đường Phật Giáo. Tên sách có thể tìm thấy vào phần cuối của cuốn sách này, và những ai muốn tìm hiểu sâu xa hơn về Phật Giáo Tây Tạng sẽ tìm thấy nhiều giá trị trong những tác phẩm ấy.

Bác Sĩ Howard C. Cutler

Vài nét về Dịch giả, Thượng tọa Thích Tâm Quang

THÂN THẾ

Thượng tọa có thế danh là Nguyễn Hữu Vũ, pháp danh Minh Phát, và pháp tự là Thích Tâm Quang, thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông thứ 45. Ngài sinh năm Giáp Tý (1924), nguyên quán ở Quận Hoàn Long, Hà Nội, là con trai trưởng trong một gia đình có sáu anh chị em, gồm ba trai ba gái.

Sinh trưởng trong một gia đình nề nếp theo đạo Phật, ngay từ thuở bé đã theo bố mẹ đi chùa lễ bái cúng Phật thường xuyên vào những ngày Rằm và mồng Một mỗi tháng. Lớn lên, Ngài theo học chương trình Pháp văn nên rất thông thạo tiếng Pháp.

Ngài cùng gia đình di cư vào miền Nam năm 1955; tham gia quân đội, phục vụ Cục Mãi Dịch và là sĩ quan đại diện Phật Giáo của Cục này. Năm 1965, giải ngũ với cấp bậc Đại Úy. Sau đó, Ngài làm việc cho một cơ quan Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Nhờ đó, Ngài được trau dồi thêm khả năng phiên dịch Anh ngữ.

Năm 1975, Ngài cùng gia đình sang định cư tại Hoa Kỳ, ở Quận hạt Fresno, Tiểu bang California. Vừa đến Fresno là Ngài được nhận vào làm việc với cơ quan tài chánh quận này cho đến ngày về hưu trí năm 1987.

Nhờ duyên lành, Ngài được gặp Hòa thượng Thích Đức Niệm năm 1979, và được Hòa thượng dìu dắt học Phật và làm Phật sự tại đây. Sau thời gian tu tập và làm Phật sự gần một năm, Hòa thượng Thích Đức Niệm nhận thấy Thượng tọa đã có cơ duyên với Phật Pháp nên hướng dẫn cho quy y Tam Bảo, với pháp danh là Minh Phát.

CÔNG TÁC PHẬT SỰ

Nhờ có tâm thành với Phật Pháp, lại được sự dìu dắt ân cần của Hòa thượng Bổn Sư, nên Ngài đã cùng với một số Phật tử tại quận hạt Fresno mua được một ngôi nhà cũ nhỏ để cải gia vi tự với tên là Chùa Tam Bảo. Khi còn là Phật tử tại gia, Ngài rất cần mẫn và nhiệt thành với Phật sự trong cương vị Hội Trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam vùng Central Valley, California. Vì không có trụ trì nên ban ngày thì đi làm, tối về ngủ luôn tại chùa, lo kinh kệ và hương đèn sớm hôm cúng Phật như một vị hộ tự. Người Việt định cư tại đấy đều mến mộ. Nhờ đó, ngôi chùa Tam Bảo ngày càng vững mạnh thêm.

Sau khi nghĩ hưu, Ngài đích thân đến Phật Học Viện Quốc Tế, đảnh lễ Hòa thượng Bổn Sư và xin được xuất gia đầu Phật. Tháng Sáu năm 1988, bổn sư nhận thấy có khả năng kham lãnh giới pháp nên cho phép đăng đàn thọ giới Cụ túc và Bồ Tát giới cùng một lần. Hòa thượng Thích Đức Niệm làm Đàn Đầu truyền giới, Hòa thượng Thích Trí Chơn làm Yết Ma A xa lê sư, và Thượng tọa Thích Tín Nghĩa làm Giáo Thọ A xà lê sư. Sau khi đắc giới, bổn sư cho trở lại Chùa Tam Bảo, vừa để trông coi ngôi già lam vừa cấm túc ba tháng tụng kinh và lạy Hồng Danh Bảo Sám. Mãn hạ, lại trở lại Phật Học Viện để đảnh lễ Bổn Sư và Đại Chúng là đã làm tròn bổn phận một phần nào trong sự bái sám theo sự chỉ dẫn của bổn sư.

Kể từ khi phát tâm xuất gia, cầu thọ giới pháp, Ngài không lúc nào là không để tâm cho Phật Pháp, từ những việc của Chùa Tam Bảo, Fresno, cho đến những đóng góp khiêm tốn theo hạnh nguyện của Thượng tọa với Giáo Hội.

Đầu năm 1995, Thượng tọa phát động xây cất chùa mới. Ngôi chùa Tam Bảo thật sự đã hình thành. Chùa Tam Bảo mới nầy được xây cất tuy không to lớn đồ sộ nguy nga, nhưng khang trang và đẹp đẽ, hợp pháp nơi xứ người, với những nét đặc thù văn hóa Việt Nam và Phật Giáo. Trong khuôn viên chùa, còn có Ngôi Bảo Tháp bảy tầng để thờ xá lợi Phật và Đài Quán Thế Âm lộ thiên.

Ngôi già lam này không những chỉ đáp ứng cho nhu cầu Phật Sự tại địa phương mà còn là một di tích lịch sử quý giá về việc hoằng pháp lợi sanh trong tương lai cho đàn hậu tấn ở xứ người. Đây là một thành quả đáng kể và xứng đáng với hạnh nguyện xuất gia của Thầy Tâm Quang.

HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA

Song song với công tác Phật Sự, như lo xây cất Ngôi Bảo Điện, Tháp thờ Xá Lợi, Đài Quán Âm Lộ Thiên, v.v..., Thượng tọa còn dấn thân vào công tác Phật Sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ. Ngoài nhiệm vụ Phụ Tá Đặc Biệt của Hòa thượng Thích Đức Niệm, Chánh Văn Phòng Hội Đồng Đại Diện, Thượng tọa Tâm Quang còn dành ra một số thời gian rất lớn cho các hoạt động văn hóa, nhất là về mặt dịch thuật kinh sách. Ngài chú tâm vào công tác dịch thuật những tác phẩm nổi tiếng của các bậc cao tăng chơn tu. Đa phần những dịch phẩm đều có dạng song ngữ Anh-Việt.

Phần chuyển ngữ từ Anh Văn sang Việt Văn:

* Ba Ngàn Năm Một Kiếp Luân Hồi
* Những Chuyên Luân Hồi Hiện Đại
* Người Chết Vẫn Sống

Phần Song Ngữ Anh-Việt:

* Nền Tảng Của Đạo Phật
* Hạnh Phúc Lứa Đôi
* Làm Sao Khỏi Sợ Hãi và Lo Lắng
* Đạo Phật và Đời Sống Hiện Đại
* Làm Sao Thực Hành Lời Phật Dạy
* Chết Có Thật Đáng Sợ Không
* Vì Sao Tin Phật, 3 tập
* Khoa Học Dưới Lăng Kính Phật Giáo
* Những Hạt Ngọc Trí Tuệ Phật Giáo, 3 tập
* Cây Giác Ngộ, 3 tập
* Nghệ Thật Tạo Hạnh Phúc, 2 tập.

Với hạnh nguyện, sự tu tập hành trì giới luật, và công tác Phật sự đã và đang đóng góp, vào tháng 9 năm 1998, Ngài được bổn sư tấn phong lên hàng Thượng Tọa trong Đại Hội Thường Niên Năm Thứ Hai, nhiệm Kỳ Hai, tại Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại. Thượng tọa đã được chư tôn giáo phẩm tán dương và hoan hỷ. Theo lời của Thượng tọa Thích Tín Nghĩa:

-- "Thượng tọa Thích Tâm Quang, xứng đáng có một chỗ đứng trong hàng ngũ Tăng Già tại Hải ngoại, đặc biệt là phần kiến tạo Ngôi Già Lam Tam Bảo tại Quận Hạt Fresno, Tiểu Bang California cũng như phần đóng góp tích cực về Văn Hóa Phật Giáo qua những dịch phẩm vô cùng quý giá để lại cho đời và đạo.

Tôi, Tỳ Kheo Thích Tín Nghĩa, đã từng hướng dẫn Thượng tọa trong thời gian chưa xuất gia khi còn là một cư sĩ thuần cẩn trong cương vị Hội Trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam Vùng Central Valley California và Chùa Tam Bảo, xin có đôi lời chúc mừng và tán dương Thượng tọa Thích Tâm Quang."

Bình Anson ghi chép,
Perth, Western Australia
Tháng 5-2003

 

---o0o---

 [Mục Lục][Phần 1][Phần 2][Phần 3][Phần 4][Phần 5]

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật : 01-1-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Tâm Lý Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544