Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Tâm Lý Học Phật Giáo


...... ... .




THỨC THỨ TÁM
Tiến Sĩ Lâm Như Tạng

---o0o---

-o0o-





Phần thứ nhất

THỨC THỨ TÁM là gì ?

Trong luận ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP của ngài Thế Thân (Vasubandhu) Bồ Tát có hai bài kệ đầu như sau :

"Như Thế Tôn ngôn : "Nhứt thế pháp Vô Ngã". Hà đẵng nhứt thế pháp. Vân hà vi vô ngã". (Như lời Đức Thế Tôn nói : "Tất cả pháp Vô Ngã". Vậy cái gì là "Tất cả pháp". Và sao gọi là "Vô Ngã"?).

Bài kệ thứ hai :

"Nhứt thế pháp giả, Lược hữu ngũ chủng: Nhứt giả Tâm Pháp, nhị giả Tâm Sở Hữu  Pháp, tam giả Sắc Pháp, tứ giả Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp, ngũ giả Vô Vi Pháp". (Nói tất cả pháp có năm món :  1/ Tâm Pháp (có 8 món). 2/Tâm Sở Hửu Pháp (có 51 món).  3/ Sắc Pháp  (có 11 món).  4/ Tâm Bất Tương Ưng Hành (có 24 món).  5/ Vô Vi Pháp (có 6 món). Tổng cọng tất cả là 100 pháp.  (1)

Theo định nghĩa cổ điển về chữ PHÁP (nhậm trì tự tánh quỉ sanh vật giải) là tất cả những gì có đặt tính riêng và có khuông khổ riêng của nó để có thể làm phát sinh trong tâm thức ta một khái niệm phân biệt hiểu biết về nó. (2)

Thế nào gọi là VÔ NGÃ ?

Khi nói VÔ NGÃ gồm có hai món đó là NHƠN VÔ NGÃ và PHÁP VÔ NGÃ. 
Người đời thường cho rằng thân , tâm nầy  thật là MÌNH, là TA, như thế là NHƠN NGÃ, tất cả những vật quanh ta như núi, sông, đất, nước v.v... là thật có như thế là PHÁP NGÃ. Thế nhưng theo luật vô thường chi phối là kể cả NHƠN và PHÁP đều có đó nhưng sẽ băng hoại, không trường tồn vĩnh viễn nên trong Duy Thức Học nói "Tất cả Pháp Vô Ngã" tức là Nhơn Vô Ngã và Pháp Vô Ngã. 

Ở đây xin liệt kê tám món Tâm Vương hay còn gọi là Tâm Pháp (Citta, Mind):

1/ Nhãn Thức (Consciousness dependent upon Sight). 2/Nhĩ Thức (Consciousness dependent upon Sound). 3/Tỷ Thức (Consciouness dependent upon Smell). 4/ Thiệt Thức (Consciousness dependent upon Taste). 5/Thân Thức (Consciousness dependent upon Touch). 6/ Ý Thức (Consciouness dependent upon mentation).  7/ Mạt Na  Thức (Klista-mano vijnana) (Soiled mind consciousness). 8/ A Lại Gia Thức (Alya vijnana) (Repository consciousness). (3)

Theo sự trích dẫn ghi trên THỨC THỨ TÁM còn gọi  là A Lại Gia Thức trong Tám Món Tâm Vương.
Tùy theo  tính chất và công năng  rất phức tạp của thức nầy nên nó có rất nhiều tên. Sau đây xin lược kê một số tên của THỨC THỨ TÁM nầy : 

I/ NHỮNG TÊN GỌI CỦA THỨC THỨ TÁM

1/ TÂM : Trong Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ: "Nhược nhơn dục liễu tri. Tam thế nhứt thế Phật. Ưng quán pháp giới tánh. Nhứt thiết duy tâm tạo".

Nhiều kinh luận còn nói : "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức", cũng không ngoài ý nghĩa của bài kệ trên. Và như thế thức thứ tám nầy có nghĩa là TÂM vì công năng của nó là chứa đựng tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian.

Từ phàm phu, Nhị thừa,  đến Bồ Tát và Phật đều có cái TÂM nầy.

Ngoài ra chử tâm còn có những nghĩa như : 

    a/ Chứa nhóm các tập khí chủng tử, và sau đó cho các chủng tử phát khởi ra hiện hành. 

    b/ Nhận xét đối tượng và khởi lên sự phán đoán phân biệt.

    c/ Những chủng tử tập khí sanh diệt tương tục nhưng không gián đoạn.

Ngoài ra TÂM cũng có thể ví như mãnh đất gieo trồng những hạt giống :

     "Tâm là đất gieo hạt. Mọi hạt giống chứa đầy. Tâm địa cũng chính là, Toàn thể hạt giống ấy" (hạt giống nghĩa là tập khí và chủng tử) (Thích Nhất Hạnh).
Trong phần đầu của kinh Địa Tạng cũng nói đến TÂM như là mãnh đất (Địa là bền chắc, Tạng chứa đủ) gieo trồng tất cả những hạt giống.

2/ A LẠI GIA THỨC 

Trong tác phẩm THE VINAPTIMÃTRATÃSIDDHI-TRIMSIKÃ của  Vasubanddhu tức là DUY THỨC TAM THẬP TỤNG của ngài Thế Thân Bồ Tát có đọan như sau:

"Trước là A Lại Gia, (cũng gọi là) Dị thục, Nhứt thế chủng. Không thể biết hết sự giữ gìn và thâu nhận của nó(chấp thọ), kể cả thế giới (xứ), và sự phân biệt (liễu). Tương ưng với năm móm biết hành tâm sở đó là Xúc, Tác Ý, Thọ, Tưỡng, và Tư. Trong năm món Thọ (là Khổ thọ, Lạc thọ, Ưu tho, Hỷ thọ, Xã thọ) thì Thức Thứ Tám chỉ tương ưng với Xã thọ. Thức nầy và các món tâm sở kể trên đều có tánh vô phú và vô ký. Các chủng tử trong thức nầy luôn luôn biến chuyễn như thác nước.  Đến địa vị A La Hán mới xã bỏ (cái tướng hay còn gọi là cái tên của thức nầy, nhưng cái thể của thức nầy về phần tịnh sẽ chuyễn thành Đại Viên Cảnh Trí)".  (4) 

Bản tính của thức nầy trong suốt như tấm gương không bị các món phiền não như tham, sân, si... che lấp nên gọi là tính vô phú (không bị che lấp hay làm dơ bẩn), đồng thời khi có người đến trước miếng gương thì ảnh người ấy liền hiện lên nhưng khi người ấy đi nơi khác thì miếng gương cũng không ghi lại hình ảnh gì đó là hình ảnh có thể ví dụ cho  bản tính "vô ký " trong suốt của thức nầy.

Alaya là nguyên gốc chữ Sanskrit ngài Huyền Trang dịch là Tàng Thức. Về tự tướng của Tàng Thức có ba nghĩa:

    a/ Thức nầy có công năng chứa đựng các hạt giống thiện ác, cũng như cái kho có công năng chứa lúa (gọi là Năng Tàng).

    b/ Thức nầy chính là cái kho, chổ chứa đựng tất cả các hạt giống (gọi là Sở Tàng).

    c/ Thức nầy được thức thứ bảy luôn luôn có mặt bên cạnh để canh giữ. Thức thứ bảy xem thức nầy như là một người chủ khả ái không bao giờ muốn rời xa (gọi là Ngã Ái Chấp Tàng) .

3/ DỊ THỤC THỨC

Trong đoạn văn trên  có từ DỊ THỤC. Vậy Dị Thục là gì ?  Dị là khác thời gian, còn Thục có nghĩa là chín.

Đứng về Quả Tướng nghĩa là khi thọ quả các nghiệp lành, nghiệp ác và không lành không ác  mà nói thì chữ Dị Thục có ba nghĩa :

    a/ Khác thời mới chín : ví dụ quả ổi từ khi sinh ra đến khi chín phải cần một thời gian.

    b/ Biến đổi bản chất mới chín : Ví dụ quả ổi khi xanh thì chát, khi chín thì ngọt, tức là bản chất của nó đã biến đổi. Như vậy cũng cùng là ổi nhưng loại ổi xanh chát đã biến đổi thành  loại ổi chín ngọt.

    c/ Biến đổi hình thái khi chín : cũng cùng một ví dụ ổi nói trên, khi còn non thì ổi nhỏ có màu xanh đậm, đến khi chín thì trái ổi lớn hơn mà màu lại trắng ửng hồng. Hay như trái xoài khi còn non thì màu xanh, đến khi chín màu của nó biến đổi thành vàng chẵng hạn.

Ba trạng thái nói trên để chỉ cho các loại hạt giống trong Tạng thức khi khởi ra hiện hành phải trải qua những giai đoạn biến đổi tất yếu của nó.  Đó là sự phối hợp tất cả các nghiệp nhân đã tạo ra trong quá khứ của chúng ta để thọ thân hiện tại. Jean Paul Sarte (1905-1980)  cũng có nói rằng con người là tổng thể của các hành động của mình. Câu nầy rất trùng hợp với trường hợp đã nêu trên của Duy Thức Học. 

Khi chứng đến quả vị Phật thì xã bỏ thức nầy (Kim Cang đạo hậu Dị thục không).

4/ NHỨT THẾ CHỦNG THỨC

Trong đoạn văn trích dẫn trong Duy Thức Tam Thập Tụng nêu trên còn có từ NHỨT THẾ CHỦNG. Nghĩa là Nhứt Thế Chủng Thửc. Vì thức thứ tám nầy có công năng chứa đựng tất cả các hạt giống hửu lậu, vô lậu của thế gian và xuất thế gian...

Trong Nhiếp Đại Thừa luận của ngài Vô Trước có phân tích 6 loại hạt giống như sau:

    a/ Sát Na Diệt : Có những hạt giống sanh rồi diệt đi rất nhanh từng giây phút. Ví dụ trong tâm ta có lúc  niềm vui  sinh khởi nhưng lại biến mất liền sau đó...

    b/ Quả câu hửu: Trong khi quả sinh ra cái nhân vẫn còn hiện diện đó. Ví dụ đứa con tôi vừa làm bễ cái bình trà thật quí nên tôi liền buồn bực trong lòng...

    c/ Hằng tùy chuyễn : Các hạt giống trong thức thứ tám luôn luôn biến chuyễn như một thác nước. 

    d/ Tánh quyết định : Tánh thiện hay ác của  hạt giống nó quyết định sự khởi ra hiện hành cũng thiện hay ác. Ví dụ người có chủng tử thiện tụng kinh niệm Phật thì lúc nào cũng thích tìm đến chùa hoặc tìm nơi yên tịnh để tịnh tu...Còn người đã có chủng tử nghiện thuốc phiện thì lúc nào cũng tìm đến nơi hút xách bất tịnh... 

    e/ Đãi chúng duyên : Hạt giống Phải đợi điều kiện thuận tiện mới khởi ra hiện hành. Ví dụ ta có hạt giống thiện muốn lập chùa nhưng phải đợi đến khi vận động đủ một số tiền tối thiểu mới có thể thuê công ty xây cất được...

    f/ Dẫn Tự Quả : Đem lại cái kết quả của chính hạt giống đó.  Ví dụ hạt đậu chỉ sinh ra cây đậu,  hạt ổi chỉ sinh ra cây ổi...

Trong Thành Duy Thức Luận ngài Huyền Trang dùng từ Nhứt Thế Chủng Thức để chỉ cái "Nhơn Tướng" của thức A Lại Gia. Khi chứng đến quả vị Phật có thể gọi là :"Nhứt Thế Vô Lậu Chủng Thức".

5/ SỞ TRI Y : 

Tên nầy xuất phát từ Nhiếp Đại Thừa Luận của ngài Vô Trứớc. Vì thức nầy là nơi y chỉ của các Pháp nhiểm và tịnh bị nhận thức (sở tri) hay còn gọi là đối tượng phân biệt. Nghĩa của nó rất rộng  kể cả phàm phu và Thánh nhân đều có Thức nầy. Các pháp "sở tri" chính là chỉ cho ba tánh : Biến kế sở chấp tánh, Y tha khởi tánh và Viên thành thật tánh trong Duy Thức Học (sẽ giải thích các từ nầy ở các bài viết kế tiếp). 

6/ SƠ NĂNG BIẾN THỨC:

Trong bài tụng đầu của Duy Thức Tam Thập Tụng có nói đến thức năng biến thứ nhứt nầy. Thức nầy chứa các chủng tử  của các pháp rồi biến hiện ra tướng phần là căn thân và thế giới. Vì sợ chúng phàm phu và hàng Nhị Thừa không hiểu chấp là có thật ngã và thật pháp nên luận sư nói : "Các Ngã và Pháp đều giả, vì chỉ do Thức biến hiện ra mà thôi". Thức năng biến đó có ba loại. Thức Thứ Tám đứng đầu nên gọi là Sơ Năng Biến Thức. (Thức năng biến thứ hai là Thức Thứ Bảy (tức Mạt Na thức), Thức năng biến thứ ba là sáu thức còn lại (Tức là Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức và Ý Thức).

7/ VÔ CẤU THỨC:

Còn gọi là Bạch Tịnh Thức hay Yêm Ma La Thức nghĩa là thức thanh tịnh không cấu nhiễm. Vì Thức nầy chứa giữ các pháp hoàn tòan vô lậu thanh tịnh. Thức nầy chỉ Phật mới có, từ Bồ Tát trở xuống không có thức nầy. Vì Bồ Tát còn có vô minh hiện hành và các chủng tử tạp nhiểm nên không thể có Vô Cấu Thức. 

8/ CĂN BẢN THỨC:

Các pháp nhiễm tịnh và bảy thức trước đều nương nơi thức nầy mà phát khởi hiện hành và tác dụng. Do đó nên thức nầy còn được gọi là căn bản thức.  Cả phàm lẫn thánh đều có thức nầy.

9/ NHƯ LAI TẠNG:

Tên nầy hàm chứa ý nghĩa là tất cả chúng hửu tình đều sẵn có "Trí huệ đức tướng, pháp thân thanh tịnh Như Lai". Nhưng vì bị vô minh tạp nhiễm che lấp (chỉ cho chữ Tạng là bao phủ ngăn che). Như vậy ghép hai cụm từ "Như Lai thanh tịnh pháp thân" (lấy chữ Như Lai) ghép với "vô minh tạp nhiễm" (tức là Tạng) tành tên Như Lai Tạng. 

10/ A ĐÀ NA THỨC: 

Trong kinh Giải Thâm Mật có bài kệ : "Thức A Đà Na rất thâm sâu và tế nhị. Các tập khí chủng tử của nó sanh diệt tương tục như thác nước. Ta (đức Phật) đối với chúng phàm phu và Nhị Thừa không giảng nói thức nầy; vì sợ chúng phân biệt chấp làm Ngã". 

Trong kinh Đại Phật Đãnh Thủ Lăng Nghiêm nói: "Thức A Đà Na rất là vi tế. Các tập khí chủng tử biến chuyễn như thác nước. Vì sợ chúng phàm phu và Nhị thừa chấp Thức nầy là "Chơn" hoặc "Phi Chơn", nên Ta (đức Phật) chẵng hề giảng nói thức nầy".

Thức nầy là thức căn bản của chơn và vọng nên nó là thức căn bản của phàm phu cũng như của hàng nhị thừa. Do đó Duy Thức Tôn rất chú trọng đến thức nầy. Trong hai bài kệ trên đại ý nói là thức nầy rất thâm sâu và tế nhị. Nó gồm chứa các tập khí chủng tử từ vô thỉ đến nay. Nó là chủ nhân ông giữ gìn báo thân (tức là thân thể hiện tại) của chúng hửu tình. Nó hằng còn mãi nên xem chừng như chơn nhưng không phải chơn vì nó hư vọng sanh diệt rất là vi tế. Cũng như thác nước khi đứng xa trông thấy giống như một giải lụa trắng đứng yên nhưng khi đến gần mới thấy nó gồm vô số những  giọt nước từ trên cao rơi xuống rất mạnh và liên tục. Hoặc có thể ví như dòng sông chảy mạnh không bao giờ đứng yên một chỗ.

Do đó Đức Phật không giảng nói thức nầy vì sợ chúng phàm phu chấp làm "chơn ngã" mà rơi vào chỗ vọng chấp sẽ đọa lạc mãi trong vòng sanh tử luân hồi.  Còn hàng nhị thừa nếu chấp thức nầy không phải chơn cũng không được vì như thế  sẽ mãi mê tìm cầu cái  "thật ngã"  ngoài thức nầy mà sẽ bị rơi vào những mê chấp cũng không thể chứng quả cao hơn được. Như thế chấp thức nầy là chơn cũng không được mà chấp thức nầy không phải chơn cũng không xong. Do đó Đức Phật không giảng nói là có nghĩa như vậy.

Trong Du Già Sư Địa Luận (của ngài Di Lặc Bồ Tát truyền cho ngài Vô Trước) hoàn toàn căn cứ vào kinh Giải Thâm Mật mà giải nói thức nầy. Trong Nhiếp Đại Thừa Luận của ngài Vô Trước cũng như trong Thành Duy Thức luận của ngài Huyền Trang cũng giải thích nhiều về thức nầy. 

A Đà Na là tiếng Phạn ngài Huyền Trang dịch là "TRÌ" (tức là giữ gìn).
Trong Thành Duy Thức luận của ngài Huyền Trang  ở quyển ba có bài kệ như sau:   "Thức nầy có ba công năng nên gọi là  A Đà Na. Ba công năng đó là :

           (1) Giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp

           (2) Giữ chịu (chấp thọ) căn thân và thế giới

           (3) Giữ lấy (chấp thủ) việc nối tiếp đời sau

Xin lược giải từng điểm ghi trên :

    (1) GIỮ GÌN (chấp trì) CHỦNG TỬ CỦA CÁC PHÁP: 

Khi nói các pháp tức là chỉ cho hai loại : "Hửu lậu hửu vi" là các pháp tạp nhiễm của tất cả hàng phàm phu kể cả các loài động vật , và "Vô lậu hửu vi" là các pháp thanh tịnh của bậc thánh hiền.

Chủng Tử tức là hạt giống đã nói ở phần trên, đây xin thêm, hạt giống có thể thiện , ác, hoặc không thiện không ác. Hạt giống do đời trước đã tạo ra hoặc do đời nầy mới tạo, hoặc là do công phu tu tập đã tạo ra các hạt giống vô lậu v.v... Hạt giống có thể thường còn hoặc có thể bị hạt giống đối lập triệt tiêu làm mất đi. Ví dụ hạt giống ác trộm cắp chẵng hạn nếu người nầy được giáo dục lại và có công ăn việc làm tốt họ trỡ thành người tốt không trộm cắp nữa. Như vậy tức là hạt giống ác đã bị hạt giống thiện triệt tiêu. Thế nhưng ngược lại cũng có những trường hợp hạt giống ác làm triệt tiêu hạt giống thiện.

Thức nầy có công năng giữ gìn tất cả hạt giống và khi có những điều kiện thuận lợi các hạt giống đó sẽ phát khởi ra hiện hành. Có thể ví dụ Thức nầy như mãnh đất gieo trồng các hạt giống. Các hạt giống nằm trong đất cũng giống như chủng tử nằm trong THỨC nầy. Khi các chủng tử khởi ra hiện hành cũng giống như các hạt giống nãy nầm thành cây con mọc lên khỏi mặt đất...
Tóm lại giữ gìn chủng tử của các pháp nghĩa là thức nầy có công năng giữ gìn tất cả các loại hạt giống do hàng phàm phu và các bậc thánh đã tạo ra. 

    (2) GIỮ CHỊU (chấp thọ) CĂN THÂN và THẾ GIỚI : 

Thức nầy có công năng giữ gìn thân thể của con người và kể cả loài động vật trong thời gian sinh vật ấy còn sống khiến cho họ biết cảm giác và nhận thức sự vật chung quanh. Có những người vì bịnh tật hoặc tai nạn v.v... bị chết đi trong một thời gian ngắn, thời gian nầy thân thể còn đó bộ não vẫn còn đó nhưng không biết cãm giác và nhận thức gì những hiện tượng chung quanh vì thức nầy đã rời khỏi thân xác. Đến khi người nầy sống trở lại nghĩa là Thức nầy đã trở lại với thân thể họ, họ có thể kể lại những gì đã xãy ra cho họ trong thời gian chết hụt đó. Điều đó có thể nói lên được sự hiện diện của thức nầy. Vì nếu nó lìa khỏi thể xác thì con người sẽ chết và xác thân nầy sẽ tan rã. Vì lẽ đó nên nói Thức nầy có công năng duy trì thân thể của ta. 

Ngoài ra Thức nầy còn có công năng biến hiện ra cảnh vật, thế giới quanh ta theo nguyên tắc TỰ BIẾN và CỌNG BIẾN và nó  có công năng duy trì thế giới nầy nữa. Ví dụ có một thầy muốn thành lập một ngôi chùa chẵng hạn việc đó  bắt nguồn từ tâm thức của vị sư ấy. Vị sư tưỡng tượng ra kế hoạch thành lập ngôi chùa và thảo luận kế hoạch ấy với nhiều người khác để thành lập ra đồ án, vận động tài chánh, mướn công ty xây cất... Trãi qua nhiều năm gốp ý kiến, gốp công và của của nhiều người cuối cùng trên miếng đất trống khi trước đã có một ngôi chùa khang trang. Qua việc xây chùa đó đã nói lên sự TỰ BIẾN (ý kiến riêng và công sức của vị sư muốn biến miếng đất trống thành một ngôi chùa) và  CỌNG BIẾN (tức là những ý kiến và công sức của những người khác đã đóng góp vào công trình xây cất đó) mà thành. Từ thí dụ đơn giản nầy ta có thể hiểu rằng tất cả cảnh vật và thế giới quanh ta đều do sự Tự Biến và Cọng Biến của thức mà thành. Chẵng những thức biến hiện ra thế giới mà còn giữ gìn sự hiện hửu của thế giới.

Do những lý do kể trên nên chúng ta có thể hiểu là Thức nầy có công năng duy trì thân thể (căn thân) và thế giới là nghĩa như vậy. 
Những điều khó hiểu trên đây sẽ dùng phương pháp khoa học  để dẫn chứng và chứng minh ở những phần sau.

    (3) GIỮ LẤY (chấp thủ) VIỆC KẾT NỐI ĐỜI SAU :

Thức nầy có công năng duy trì và tiếp nối từ đời nầy với đời sau của con người  và mãi mãi như thế không đoạn diệt trong kiếp sinh tử luân hồi. Sở dĩ có sự sinh tử luân hồi đời nọ nối tiếp đời với đời sau là vì do phiền não (ví dụ tham lam, sân giận, si mê...) tạo ra các nghiệp chướng, do các nghiệp lực đã tạo ra nó sẽ là động lực chính dắt dẫn con người đến đời sau để chấp nhận những gì đã tạo ra từ đời trước. 

Từ đời nầy đến đời sau con người phải trải qua bốn giai đoạn đó là : thân hiện sống, thân đang chết, trạng thái sau khi chết, đến thân đời sau, phải có cái gì duy trì tất cả các hạt giống từ nhiều kiếp trước. Cái đó chính là Thức nầy vậy.
Nhưng vấn đề khó tin đối với nhiều người và cần phải tranh luận đó là có thật có tiền kiếp và hậu kiếp không ?

II- KHẢO SÁT SỰ HIỆN DIỆN CỦA THỨC THỨ TÁM 

Nhiều nhà khoa học thực ngiệm chú trọng nghiên cứu cơ năng não bộ của con người, họ cho rằng tất cả những sự ghi nhớ và tạo tác về khoa học, văn chương... cũng như mọi công năng hoạt động khác đều do não bộ điều khiển.  Thế nhưng họ không thể giải thích được tại sao thần đồng Blaise Pascal (1623-1662), người Pháp, mới lên bảy tuổi, chưa học đến những công thức toán khó bao giờ nhưng đã giải nỗi những bài toán kỷ hà học rất khó của các nhà bác học. Những gì chưa học đến tức não bộ chưa ghi nhận được từ trước, như thế khả năng và kiến thức ấy do đâu mà có được ? Chỉ có thể hiểu được khi giải thích như nhà duy thức học rằng đó là khả năng và kiến thức tích tập từ nhiều kiếp trước do Thức Thứ Tám  giữ gìn và đem đến cho đời nầy vậy.

Sau đây là những dẫn chứng về sự luân hồi tái sinh của người thường và sự hóa thân của chư vị Bồ Tát để nói lên sự hiện hửu và cơ năng của Thức Thứ Tám là huân tập, duy trì tiếp nối những kiến thức, chủng tử thiện ác từ nhiều đời trước và khởi ra hiện hành trong đời hiện tại. 

1- NGƯỜI ĐỌA XUỐNG LÀM NGỰA VÀ TÁI SINH LÀM NGƯỜI TRỞ LẠI

Một quan võ người tỉnh Giang Nam (Trung Quốc), có đùi chân trái lông mọc ra dài như ngựa khiến ông nhớ lại kiếp trước. Vì trước kia ông đã từng ngồi ghế chánh án xử oan ức một tội tử hình nên đời kế đó bị đọa làm kiếp ngựa.
Kiếp ngựa đã đền trã xong nợ trước, không gây nên nghiệp ác lại có lòng hối lỗi xưa nên kiếp sau đó được sinh trở lại làm người, tuy thế vết tích lông ngựa mọc đài ở đùi đó chính là vết tích luân hồi tái sinh từ loài ngựa. 

Điều nầy đã được kiểm chứng một cách có khoa học nhận biết đó là sự thật hiển nhiên cho ta thấy trong kiếp luân hồi con người có thể trở thành thú vật và ngược lại thú vật có thể tiến hóa làm người như Đức Phật đã dạy trong nhiều kinh điển do Ngài thuyết giảng. Chúng ta có thể suy ra rằng Thức Thứ Tám vẫn hiện hửu nơi lòai vật và nó vẫn có những công năng như đã ghi ở phần trên.
(tài liệu trích trong "Tín Trừng Lục" do Thượng Tọa Thích Bảo Lạc dịch)   (5) .

2- TRƯỜNG HỢP EDGAR CAYCY

Về tiền kiếp xin dẫn chứng trường hợp Edgar Caycy để chứng minh. E.Caycy sinh tại Christian Country, Kentucky Hoa Kỳ vào năm 1877, ông bị bịnh mất hẵn tiếng nói,  các bác sĩ đã chịu thua không chửa trị được. Thế nhưng sau khi ông tự "thôi miên truy hồn" chỉ cách tr¸ liệu cho thân nhân giúp ông đã bình phục, nói lại được như xưa. Sở dĩ có sự thành công đó là nhờ ông tự tìm về bệnh tiền kiếp của mình và tìm ra được nguyên do để chửa trị thành công nói trên. Sau đó E. Caycy đã dùng "thuật thôi miên truy hồn" để tìm ra những căn bệnh kiếp trước  của nhiều người và đã chửa lành bệnh cho họ, những trường hợp chửa bệnh của ông còn rất nhiều hồ sơ lưu lại tại Hoa Kỳ. (6)

Rất nhiều tác giả đã viết sách nghiên cứu về cách chửa trị của ông.  Gần đây có Mary E. Carter và Dr. William A. McGarey nghiên cứu E. Caycy trong tác phẩm "Edgar Caycy On Healing". (7)

E. Caycy còn có năng lực chẫn đóan cho bệnh nhân ở cách xa ông hàng trăm cây số... 

Câu chuyện nầy cho ta nhận thức rõ ràng về công năng nối kết và duy trì những nghiệp lực từ nhiều đời của Thức Thứ Tám hoàn tòan ngòai tầm hiểu biết và lối giải thích của các nhà khoa học thực nghiệm.

Hiện nay khắp nơi trên thế giới rất nhiều nhà khoa học đã dùng phương pháp thôi miên để tìm hiểu tiền kiếp của nhiều người khi thấy cần để tìm hiểu nguyên nhân bịnh tật của người đó rồi tìm ra phương pháp chửa trị hết sức hửu hiệu...

3-TỪ ĐÀN ÔNG SINH LÀM ĐÀN BÀ

Câu chuyện sau đây do  Bác sĩ Ian Stevenson, giáo sư đại học Virginia Hoa Kỳ sưu tầm và thuyết trình tại đại học Virginia (8).

Một cô gái Miến Điện (nay đã có gia đình) lúc sinh ra các ngón tay trên bàn tay mặt bị cụt gần sát bàn tay. Cô thường nhớ về tiền kiếp kinh hòan đã thuật lại cho người nhà nghe như sau : kiếp trước cô là một người đàn ông đã tạo nhiều đau khổ cho người vợ khiến người vợ phải tự tử. Người mẹ vợ rất căm giận quyết lập kế để trả thù cho con gái mình. Một hôm bà thuê một tên giết mướn dùng một thanh kiếm chận đường chém người rể độc ác kia, anh ta sợ hải quá liền đưa tay phải ra đỡ và la lên : Trời ơi! Đừng giết tôi ! Nhưng tên giết mướn vẫn không dừng tay, đưa một dường kiếm cắt đứt các ngón tay mặt và đâm anh ta chết ngay tại chỗ. 

Giáo sư Ian Stevenson đã cho cử tọa xem hình chụp bàn tay phải bị cụt các ngón tay và gải thích đó là dấu tích của sự luân hồi, bị chặt đứt ngay từ kiếp trước.
Câu chuyện trên cho ta kết luận được hai diều : Một là trong kiếp luân hồi vô tận con người có thể chuyển kiếp từ đàn ông thành đàn bà và ngược lại. 

Hai là chức năng mang những vết tích luân hồi đó không phải là chức năng của não bộ hay một cơ quan vật chất nào khác có thể thực hiện được vì sau khi chết cơ thể đã thành tro bụi rồi. Chức năng đó chỉ có thể hiểu được là của Thức Thứ Tám vô hình nhưng nối tiếp không đoạn diệt từ đời nọ sang đời kia, và có như vậy con người mới có thể nhớ lại kiếp trước của mình, đồng thời đem những vết tích từ đời trước đến thân hiện tại.


| Xem tiếp phần 2 |

---o0o---

| Thư mục Tác Giả |

Cập nhật : 01-01-2002


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Tâm Lý Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544