Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Quốc Tế


...... ... .

 

 

PHẬT GIÁO TRONG TRIỀU ĐẠI HOÀNG ĐẾ ŚAŚAṄKA 
CỦA VƯƠNG QUỐC GAUḌA

Thích Thông Lý

 

 

Vua Śaśāṅka (Thuyết-thưởng-ca)(Shê-shang-ka) chiếm một vị trí quan trọng trong lịch sử xứ Bengal. R.C. Majumdar nói rằng, ông chính là vị vua được biết đầu tiên của xứ Bengal và ông đã mở rộng quyền lực thống trị của mình trên nhiều lãnh thổ vượt khỏi biên giới địa phận của xứ này"(1). Ngài Huyền Trang có đề cập đến vua Śaśāṅka là một vị vua thuộc vương quốc Karṇasuvarṇa nằm ở miền Đông Ấn Độ (2). Không bao lâu, vua Śaśāṅka chiếm được miền Bắc xứ Bengal và mở rộng quyền lực chính trị của ông (3). Ông còn lấy hiệu là Gauḍādhīpa (4). R.C. Basak cho rằng, “Trong suốt thế kỷ thứ VI và thứ VII TL, vương quốc Gauḍa đặt thủ phủ của nó tại vùng Karṇasuvarṇa mà các nhà học giả đều xác nhận đó là vùng Rāṅgāmāṭī, nằm ở mạn Bắc Rāḍhā và mạn Tây của bờ sông Bhāgīrathī, gần vùng Berhāmpur và nó còn bao gồm những vùng như Puṇḍravardhana-bhukti (thuộc miền Bắc Bengal) và Vaṅga-samataṭa nằm bên trong ranh giới của xứ này. Miền Nam và miền Đông Bengal vẫn còn duy trì hệ thống chính trị riêng của họ. Nhưng vào thế kỷ thứ VIII và chắc là trễ hơn, từ Gauḍādhīpa có nghĩa là, vị vua ấy không chỉ là vua của miền Bắc và miền Trung xứ Bengal mà còn là vị vua cho cả xứ Magadhanātha, Magadha (Ma-kiệt-đà), đây là nơi được hình thành từ một phần đất thuộc vương quốc Gauḍa vào trong khoảng thời gian đó"(5).

Những đồng tiền vào thời kỳ của vua Śaśāṇka cho chúng ta thấy rằng, vị vua này còn được biết với tước hiệu là Narendrāditya. Dường như, ông còn có một tên gọi thứ hai, đó là Āditya (6). Kinh Harṣacarita (7) ghi rằng, chính vì cá tính tầm thường và bản tính hèn nhát mà vị vua này không thể đạt được thành công lớn trong cuộc đời của ông.

Ban đầu, vua Śaśāṇka tự thiết lập quyền lực của ông tại vùng Karṇasuvarṇa (8). Nhưng sau khi chiếm được Puṇḍṛavardhana vùng đất phía Bắc, ông không chỉ muốn mở rộng quyền lực của ông tại đó mà còn mở rộng một số nơi thuộc mạn Nam Bihar như Gayā, Rohitāśvagiri (hoặc nhiều ngọn đồi Rhotā)….(9). Ngay cả những vùng Ba-la-nại (Benare) về hướng Tây, ông đem quân xâm chiếm và kiểm soát nơi đó (10). Ông còn chiếm giữ toàn bộ lãnh thổ ở mạn Tây trải dài từ Midnapore cho đến Koṅgoda nằm trong khu vực Ganjam, thuộc mạn Nam Orissa (11). Theo hai bản khắc bằng đồng của vua Śaśāṇka tại vùng Midnapore cho chúng ta thấy rằng, ông là một đại đế của miền Đông xứ này (12). Như thế, vua Śaśaṅka tự xưng ông như một vị đại đế và cho mình là giáo chủ của các vùng như mạn Nam Rāḍhā (có nghĩa là vùng Midnapore) và vùng Ganjam ở mạn Nam Orissa (14). Bảng khắc bằng đồng của vùng Ganjam được làm bởi vị vua Mahārāja Mahāsāmanta Mādhavarāja II thuộc xứ Śīlodbhavakula (15) đề cập tới vua Śaśaṅka với tước hiệu là Mahārājādhirāja và nó diễn tả rằng, vị vua này đang trị vì trên lục địa nhưng sau đó lại có tham vọng muốn gồm thâu cả bốn lãnh hải bao gồm nhiều hải đảo, đô thị và hải cảng"(16), vì vậy mà vua Śaśaṅka trở thành đại đế hùng mạnh và tự xưng tước hiệu hoàng đế Mahārājādhirāja (17).

Sau cái chết của vua Prabhākaravardhana thuộc vương quốc Thāneśwara, vua Śaśaṅka liền cấu kết với vua Devagupta thuộc vương quốc Mālwā với ý đồ nhằm lật đổ triều đại đương thời của vương quốc Thāneśwara để trở thành vua thống lĩnh toàn cõi Bắc Ấn Độ (18). Không bao lâu, thái tử Rājyavardhana con của vua Prabhākaravardhana và người anh ruột của vua Harṣavardhana bị vua Śaśaṅka phản bội giết chết. (19) Thái tử đi đến vùng Kanauj (Hàn-nhược) để giải cứu chị của mình là công chúa Rājyaśrī và đánh bại vua Devagupta thuộc vương quốc Mālwā trong cuộc chiến, nhưng trước khi cứu chị ông, thì thái tử đã bị vua Śaśaṅka giết chết vào năm 606 TL. Ngài Huyền Trang cho rằng, "Thái tử Rājyavardhana không bao lâu sau khi lên ngôi, ông đã bị vua Śaśaṅka, một vị vua độc ác thuộc vương quốc Karṇasuvarṇa ở miền Đông Ấn, người ngược đãi Phật-giáo, phản bội giết chết”(20). Vua Śaśaṅka dùng mọi cách để chiếm ngôi của vương quốc Thāneśwara, nhưng tham vọng của ông không thành công. Ông không thể nào giành được ngôi vua của vương quốc Thāneśwara và cũng không thể nào thiết lập quyền lực của ông tại vùng Kanauj (Hàn-nhược)(21).

Kinh Mañjśrīmūlakalpa (22) cho rằng, “Vua Harṣa đã đánh bại vua Śaśāṅka, một người luôn theo đuổi những hành động độc ác. Vua Harṣa buộc vị vua này chỉ ở trong địa phận thuộc vương quốc của ông. Vua Harṣa(Hạt-lợi-sa) còn ngăn chặn ông không được lấn chiếm xa hơn ở những vùng thuộc Tây Ấn”. V.A. Smith cho rằng, Vua Śaśāṅka "muốn phục thù " và "vương quốc của ông chịu sự lệ thuộc của vua Harṣa vào thời gian sau này"(23). Trong chiến dịch đầu tiên của ông chống lại vua Śaśāṅka, có lẽ vua Harṣa không thể thiết lập quyền lực của ông tại vương quốc Gauḍa, cũng có nghĩa là vương quốc Puṇḍavardhana và vương quốc Karṇasuvarṇa (24). Nhưng sau cái chết của vua Śaśāṅka xảy ra khoảng giữa năm 619 AD và 637 AD, vua Harṣa mới thật sự chiếm được vương quốc kẻ thù của ông và thiết lập quyền lực tại đó (25). Vua Harṣa chiếm lấy vương quốc mà suốt cả cuộc đời vua Śaśāṅka tạo dựng và sau đó vua Harṣa đã nhường ngôi lại cho vua Bhāskaravarman thuộc vương quốc Kāmarūpa (26). Một số học giả nghĩ rằng,Trong chiến dịch lần thứ hai với sự cộng tác giúp đỡ của bạn ông là vua Bhāskaravarman, vua Harṣa chiếm lấy vương quốc Karṇasuvarṇa mà suốt cả cuộc đời vua Śaśāṅka tạo nên (27). R.C. Basak nói rằng, "Với lòng tham vọng tột bực mà vua Śaśāṅka đạt được trong sự nghiệp quyền lực ban đầu của ông, cho nên ông đã thành công trong việc thiết lập để mở rộng quyền lực của vương quốc Gauḍa, nhưng nó chỉ tồn tại chỉ vỏn vẹn 17 năm vài tháng và mấy ngày (theo Kinh Mañjuśrīmūlakalpa, kệ số 748-49). Ông chết đi có lẽ không để lại một sự thành công nào cả, vương quốc chính của ông là Karṇasuvarṇa đã bị chiếm lấy trong tay của vị vua láng giềng thuộc vương quốc Assam. Những vua của vương quốc Assam không thể giữ vương quốc của mình lâu, vì như chúng ta biết rằng, Bengal và Magadha (Ma-kiệt-đà) dần dần phát triển thành một đế quốc hùng mạnh dưới sự trị vì của các vị vua Pāla (Ba-la) khoảng một thế kỷ sau đó”(28). R.C. Majumdar nói rằng, “Mặc dù dữ liệu không đủ để có thể hình thành một sự đánh giá đúng về đặc tính và sự đạt được của vua Śaśāṅka, nhưng ông vẫn được xem là một đại đế, một nhân vật đặc biệt trong suốt đầu thế kỷ thứ VII TL. Ông là vị vua lịch sử đầu tiên của xứ Bengal, ông không chỉ mơ tưởng những giấc mơ làm bá chủ mà còn tiếp tục trong việc thực hiện những ảo tưởng ấy. Ông đã đặt các nền móng cho việc thiết lập cơ cấu đế chế trong bóng dáng mờ ảo của những tham vọng.

Śaśāṅka là một vị vua ngược đãi Phật-giáo. Dựa trên những đồng tiền của vị vua này, hình tượng con bò và các sử ký của Ngài Huyền Trang chỉ cho chúng thấy rằng, vua này là một tín đồ của Ấn giáo (Siva)(30). Kinh Mañjuśrīmūlakalpa đề cập ông như dvijāhavayaḥ, có nghĩa là thuộc Bà-la-môn-giáo (31) và nó còn xác nhận ông là đệ tử của đạo Bà-la-môn. Ông là kẻ thù không đội trời chung với Phật-giáo và ông đã nỗ lực hết sức tiêu diệt Phật-giáo, bất cứ nơi nào ông đến và ông cũng đạt được nhiều chiến công huy hoàng của ông(32). Ngài Huyền Trang cho rằng, "tại Kuśīnagara, Ngài cảm thấy đau buồn vì sự huỷ diệt của vua Śaśāṅka đối với Phật-giáo, nhiều ngôi Chùa của Phật-giáo, tượng Phật và những nơi liên quan đến Phật-giáo đều bị phá đổ hoàn toàn"(33). Ngài còn đề cập rằng, “trong khoảng thời gian gần đây, Vua Śaśāṅka cố gắng xoá sạch các dấu chân của đức Phật nhưng không có kết quả, ông liền sai quân khiêng những tảng đá có in hình dấu chân liệng xuống sông Hằng (Gangas)”(34). Điều này cho thấy rằng, có thể đó là những dấu chân của đức Phật nằm tại vùng Pāṭaliputra (Hoa-thị-thành). Ngài Huyền Trang còn cho biết thêm rằng, "tại Bodh-gayā (Bồ-đề-đạo-tràng), vào khoảng thời gian gần đây(tức là gần với thời kỳ của Ngài Huyền Trang), vua Śaśāṅkak, người thù ghét và ngược đãi Phật-giáo, đã chặt cây Bồ-đề, tiêu diệt tận gốc rễ của nó bằng cách đào sâu xuống cho đến khi thấy nước và ông đã đốt tất cả những gì vẫn còn sót lại"(35) và Ngài còn nói rằng, vua Śaśāṅka đã chuyển tượng Phật đến nơi khác và thay vào đó là tượng Thần Śiva (36). Nhưng R.D. Banerjee và R.J. Chanda không đồng ý với nhà chiêm bái Trung-hoa và họ không tin vào các sử ký của Ngài Huyền Trang (37). R.P. Chanda nói rằng, "Nguồn gốc phát sinh sự bất mãn của vua Śaśāṅka đối với các tín đồ Phật-giáo sự thật có thể là do các tín đồ Phật-giáo tại những vùng như Magadha và một số nơi khác đã tham gia vào việc thông đồng cùng với vua Harṣavardhana để chống lại vua Śaśāṅka, do đó ông muốn trừng phạt họ bằng sự ngược đãi, đàn áp như thế"(38). Kinh Mañjuśrīmūlakalpa mô tả rằng, “vua Śaśāṅka sẽ là vị vua hùng mạnh tại nhiều vương quốc dọc theo bờ sông Hằng (Ganges) thậm chí cho đến những vùng Benares (Ba-la-nại ) và ông sẽ phá huỷ nhiều tượng Phật đẹp. Dựa theo nguồn tin từ những người ngoại đạo, ông sẽ còn thiêu đốt nhiều nơi, có một nơi tôn thờ xá lợi (dấu tích thiêng liêng). Kế đến, con người sân hận, tham lam, tự mãn và thiếu tình thương này sẽ đập đổ tất cả các tịnh xá, tu viện, vườn tược và chánh điện, và ông còn phá huỷ nhiều nhà nghỉ của các tín đồ thuộc Đạo-kỳ-na-giáo (Nirgrantha). Ông còn bắt buộc họ phải từ bỏ niềm tin của tôn giáo họ".

R. C. Basak cung cấp cho chúng ta một sử liệu về tình trạng của Phật-giáo vùng Bengal vào thời kỳ của vua Śaśāṅka. Ông cho rằng, "Tại Bengal, có cả những tu viện Phật-giáo và các đền thờ Bà-la-môn. Nhiều tín đồ Phật-giáo tại Bengal thuộc cả hai trường phái, Tiểu-thừa và Đại-thừa. Phía Bắc Bengal (còn được gọi là Puṇḍravardhana), dân cư ở đây rất thịnh vượng, họ có nhiều hồ cá, nhà nghỉ và những vườn hoa …. Ngoài các tín đồ Phật-giáo và các tín đồ Ấn-giáo sinh sống tại miền Bắc Bengal, còn có cả tín đồ Kỳ-na-giáo…. Miền Đông Bengal, lúc đó còn gọi là Samataṭa nằm gần cạnh bờ biển, bao gồm nhiều Tăng-sĩ Phật-giáo theo trường phái Thượng-toạ bộ (Sthāvira), nhiều tín đồ Kỳ-na-giáo (Ni-kiền-tử) (Digambara Nirgrantha) và còn có nhiều tín đồ của Ấn-giáo (Deva).... Trung tâm chính vương quốc của vua Śaśāṅka nằm giữa xứ Bengal, cũng chính là vương quốc Karṇasuvarṇa, vùng này được nói là có nhiều người định cư thuộc thành phần tốt và giàu có, và khí hậu ở đây rất ôn hoà. Người dân phần lớn thuộc những thành phần có bản tánh tốt và có trình độ cao về học vấn. Những người theo Phật-giáo hầu hết thuộc trường phái Sammītya. Người dân lại là những tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng đền Ấn-giáo lại chiếm đa số. Có ba ngôi Tu-viện trong số các Tu-viện Phật-giáo nằm trong địa phận thuộc xứ Bengal. Những thực phẩm thuộc về sữa thì không được dùng như là những thức ăn khác theo đúng lời chỉ dạy của Đề-bà-đạt-đa (Devadatta)(Vì ba Tu-viện này, hầu hết các Tu-sĩ tại đây đều thuộc Đệ-tử của Đề-bà-đạt-đa) . Nằm bên cạnh của thủ đô có một Tu-viện tên là Raktamrittika-Rangamati (Lạc-đa-vị-tri), đây là một tu viện rất trang nghiêm và nổi tiếng và là nơi tu tập của nhiều cao Tăng lừng danh"(40).

 

*Các tài liệu tham khảo :

(1)-Lịch sử về xứ Bengal, tác giả. R.C. Majumdar, chương. I, trang. 59.

(2)-Lịch sử về miền Đông Ấn và Bắc Ấn, tác giả. R.C. Basak, trang. 160.

(3)-Giống như trên.

(4)-Giống như trên.

(5)-Giống như trên, trang. 156-57.

(6)- Tương tự, trang. 163.

(7)- Tương tự.

(8)- Tương tự. trang. 166.

(9)- Tương tự. trang. 167.

(10)- Tương tự. trang. 167.

(11)- Tương tự. trang. 167.

(12)-Tương tự trang. 169.

(13)-Tương tự trang. 169.

(14)-Tương tự trang. 169.

(15)- Tương tự. trang. 170.

(16)-Tương tự, trang. 170

(17)- Tương tự, trang. 171.

(18)- Tương tự, trang. 171.

(19)- Tương tự, trang. 172-73.

(20)- Tương tự, trang. 183.

(21)- Tương tự, trang. 184.

(22)- Tương tự, trang. 186.

(23)- Tương tự, trang. 186.

(24)- Tương tự, trang. 186.

(25)- Tương tự, trang. 186.

(26)- Tương tự, trang. 187.

(27)- Tương tự, trang. 187.

(28)- Tương tự, trang. 188.

(29)- Lịch sử về xứ Bengal, tác giả. R.C. Majumda, chương I, trang. 68.

(30)- Lịch sử về miền Đông Ấn và Bắc Ấn, tác giả. R.C. Basak, trang 188-

89.

(31)- Tương tự như trên, trang. 189.

(32)- Tương tự như trên, trang. 189.

(33)- Tương tự như trên, trang. 189.

(34)- Tương tự như trên, trang. 189.

(35)- Tương tự như trên, trang. 189.

(36)- Tương tự như trên, trang. 189.

(37)- Tương tự như trên, trang. 189.

(38)- Tương tự như trên, trang. 190.

(39)- Tương tự như trên, trang. 190-91.

(40)- Tương tự như trên, trang. 191-94.

Trích dịch từ nguyên tác "Buddhism During the Reign of Śaśāṅka of Gauḍa” chương 9 trong tác phẩm "The Rise and Decline of Buddhism in India" của Kanai Lal Hazra (Delhi, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt. Ltd. 1998, pp. 226-229)
 

Dharamsala, ngày 23 tháng 12 năm 2001.

 

 

 

---o0o---


|
Danh  Nhân Phật Giáo Thế Giới | Tủ sách Phật Học |

---o0o---

Cập nhật: 01-04-02


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang PG Thế giới

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544