Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Quốc Tế


...... ... .

 

Phật Giáo  Khắp Thế Giới

Thích Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
---o0o---


Kinh Pháp Hoa Được Dịch Sang Tiếng Nga

 

Kinh Pháp Hoa (Sadharma Pundarika Sutram/The Lotus Sutra) một bộ kinh theo tư   tưởng Bắc Truyền được nhiều dân tộc trên thế giới tán ngưỡng. Tính đến nay bộ kinh   này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như : Trung Hoa, Tây Tạng, Mông   Cổ, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Anh, Pháp, Đức, Thổ Nhỉ Kỳ và hiện tại bộ kinh nổi tiếng này được chuyển ngữ sang tiếng Nga. 

Người đang làm công việc phiên dịch này là giáo sư Alexander Ignatovich, người đang phụ trách kho lịch sử Đông Nam Á châu thuộc Viện Nghiên cứu Á - Phi Trực   thuộc với Đại Học Moscow. Ông đã in sang nhiều sách về Phật học và Sử học về văn  hóa và tôn giáo ở Trung Hoa và Nhật Bản bằng tiếng Nga. Ông đọc Kinh Pháp Hoa từ   năm 1971 và quyết định đưa vào công trình nghiên cứu của mình. Sau đó ông để tâm nghiên cứu các bản dịch Kinh Pháp Hoa của ngài Chih-i và ngài Nichiren ( Nhật Liên   Thánh Nhân ) và một số sớ giải bằng tiếng Nhật hiện đại và phát nguyện chuyển ngữ  bộ kinh này sang tiếng Nga. Trong chuyến viếng thăm Nhật Bản gần đây, ông đã cho  phóng viên tờ DHARMA WORLD biết về công việc phiên dịch kinh điển của mình.  

Khi dịch Kinh Pháp Hoa (KPH) ra tiếng Nga ông có nghiên cứu các tài liệu liên  quan không ? 

Có chứ. Tôi đặc biệt chú ý đến các KPH trong ngôn ngữ Châu Âu và tiếng Nhật

hiện đại. Nói như vậy không có nghĩa là tôi không quan tâm đến các bản dịch và các   bản sớ giải cổ điển khác, tiếc thay những bản dịch và sớ giải như thế có quá ít ở Nga.  Từ khi đến Nhật Bản tôi có dịp nghiên cứu thêm sáu bộ sớ giải cổ điển và tôi sẽ trích  dẫn từ những tác phẩm này cho bản dịch tiếng Nga của tôi như bộ của Chih-i và bộ "   Pháp Hoa Nghĩa Sớ " của Thái tử Shòtoku. 

Các bộ kinh sớ giải Kinh Pháp Hoa của các học giả Nhật Bản ở thế kỷ hai mươi rất  hữu ích. chẳng hạn như các bộ "Những Bài Giảng Nổi Tiếng Về KPH", 12 quyển của   Ichiro Kobayashi Yoshiro, Kinh Pháp Hoa, 3 quyển của Yukio Shamoto và Kinh Pháp  Hoa, 2 quyển của Yoshiro Tamura và Kyòkò Fujii. Tôi chắc chắn rằng với sự giúp đỡ  của những bộ sớ giải này tôi sẽ có thể tạo ra được một bản dịch tiếng Nga chính xác.   Ví dụ, đầu phẩm Tín Giải (Faith Discernment) thứ tư, có nói đến các tôn giả Tu Bồ  Đề, Ca Chiên Diên, Đại Ca Diếp và Mục Kiền Liên. Bản dịch này cho rằng từ "  wisdom-destined" (Huệ Mạng) áp dụng cho cả bốn vị. Tuy nhiên theo ngài Ichiro  Kobayashi thì " wisdom-destined" chỉ liên quan đến Tu Bồ Đề và "Maha" (Đại) là từ   dùng cho các vị kia. Tôi sẽ theo cách đọc này. 

Cái gì đã đặc biệt gây sự chú ý của ông khi ông dịch KPH và đọc các bản dịch cổ  cũng như các bản dịch của các học giả Nhật Bản ở thế kỷ hai mươi này ? 

Tôi tình cờ đọc được một quyển sách có tựa là " Kinh Pháp Hoa và Vật Lý Nguyên  Tử " ( The Lotus Sutra and nuclear Physics ) của một nhà Vật Lý học người Nhật    Bản. Ông ta viết rằng một số vị Phật được kể trong KPH là tương tự như những nguyên  tố được khám phá ra bởi các nhà Vật lý học hiện đại và ông kết luận rằng mỗi vị Phật    này phải phù hợp với một nguyên tố đặc biệt. Chính điều này làm cho tôi để ý đến các  bản dịch hiện đại của KPH. Theo kinh nghiệm của tôi thì họ thường đi xa và xem nhẹ   những điểm quan trọng của kinh. Vì thế tôi thích tạo ra một bản dịch nặng ký hơn các   bản dịch cổ điển và truyền thống. Tôi cũng chú ý đến một số xu hướng hiện đại hóa   trong các bản dịch khác nhau về KPH mà chúng có thể tiếp tục được dịch sang các   ngôn ngữ Châu Âu. Khi tôi nghĩ về lời phát biểu rằng mỗi nguyên tố là đại diện cho  mỗi vị Phật, tôi cho rằng những khuynh hướng như vậy là không cần thiết cho người Nhật. 

 Thông thường, người ta đồng ý rằng KPH được viết tại miền Tây Bắc nước Ấn độ Trong khoảng thế kỷ thứ I và thứ II, sau đó Kinh được truyền bá sang Trung Hoa,Triều Tiên rồi đến Nhật Bản. Trong lễ kỷ niệm lần thứ hai mươi của Hội Phật Giáo  Rissho Kosei-Kai, khi một thành viên lãnh đạo phát biểu rằng đó là thời gian để tuyên bày một giáo lý mới cho tổ chức. Ông Nikkyo Niwano ( Chủ tịch hội ) liền trả  lời : " Đó là sự phỏng đoán thêm vào lời dạy của KPH, một bộ kinh đã tồn tại một   thiên niên kỷ, tự nó đã có trọng lượng rồi cần thêm chi nữa",ý kiến ông thì sao ?  

Tôi vinh hạnh được đọc bộ sớ giải KPH bằng tiếng Anh của ông Nikkyo Niwano.  Tôi cảm thấy rằng ông ta không tạo ra một bộ luận mới mà đưa ra nhiều lời di-n giải trong những thuật ngữ mới và cố gắng giải thích bộ Kinh bằng một phương cách mà con người trong thế kỷ hai mươi có thể hiểu được. Tôi thấy không có lý do gì để đọc lại hoặc sữa lại bản gốc.   

Người Tây phương có thể chia sẻ những hiểu biết thông thường về giáo lý cơ bản  của KPH như " Phật, Pháp, Tánh không, Thật tướng của các pháp" không ? 

Bản dịch của tôi sẽ được chia thành năm phần, bao gồm một phần khá lớn về bản chú giải thuật ngữ Phật học. Tôi muốn giải thích các thuật ngữ liên hệ đến Phật Giáo  và KPH được sử dụng trong bản dịch của tôi. Khi giải thích về "Pháp" và "Tánh   Không" tôi dựa vào các phẩm của Otto Rosenberg và Theodore Stcherbatsky ( Sáng  lập viên Hội Thư Mục Phật Học ). Chẳng hạn, khi gặp các từ pháp (law/Dharma), tùy   theo trường hợp mà tôi dịch theo hai cách. Thứ nhất, pháp là "Pháp môn", thứ hai,   Pháp là "các pháp" nói chung. Để phân biệt hai nghĩa này trong bản dịch tiếng Nga,    tôi viết hoa từ "Pháp môn", còn chữ không viết hoa là " các pháp". 

Người Nhật hiểu giáo lý vô thường của vạn hữu như là một chuyện bình thường, còn  người Nga sẽ như thế nào? 

Trong tiến trình lịch sử lâu dài của người Nhật Bản, Phật giáo đã đi sâu vào trong   cuộc sống của người dân Nhật và KPH vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng trên nền văn   hóa Nhật Bản. Kết quả là người dân Nhật có những quan niệm, có những hiểu biết về  Pháp Hoa Kinh trong máu của họ. Còn đối với người Nga, tiếc thay, ở Nga chỉ có một  vai người đọc được KPH qua bản dịch tiếng Anh hay tiếng Trung Hoa. Do đó, thật   quan trọng và hết sức bức thiết cho tôi hoàn thành tốt đẹp và chính xác bộ KPH bằng tiếng Nga cho người dân của chúng tôi. 

 Hầu hết mọi người đều cho rằng nước, không khí và ánh sáng là chuyện tự nhiên. Tôi e rằng nhiều người cho rằng KPH và đạo Phật cũng thế. Tôi nghĩ sự quan sát của  ông sẽ khách quan hơn ?  

Tôi nhìn thấy sự nguy hiểm cho chính bản thân tôi. Tôi được lớn lên và học hành  trong xã hội nói tiếng Nga và văn hoá phương Tây, những cái tương tự như thế đã ảnh hưởng tôi. Như Goethe đã nói, để hiểu ngôn ngữ của bạn một cách chính xác, bạn nên  học một ngoại ngữ. Trong thời gian này, tôi đang trải qua kinh nghiệm đó. Tuy nhiên,  nhiều người không phải học ngoại ngữ để hiểu văn hóa và truyền thống của họ. Khi tôi   tiếp xúc một cái gì đó khác với truyền thống của tôi, tôi có thể nhận ra một lãnh vực mới ngay chính trong tôi.  

 Kinh Pháp Hoa đã hấp dẫn ông điều gì ?  

Hai điều. Thứ nhất, lời dạy của KPH dường như ứng dụng một cách bình đẳng cho  tất cả mọi người. Cái hấp dẫn tôi nhất là nội dung của phẩm " Bồ Tát Thường Bất Khinh" (The Bodhisattva Never Despise). Chúng ta biết rằng một vị Bồ Tát cuối cùng sẽ thành Phật, chúng ta phải nhận ra rằng chính chúng ta là người phải đạt được Phật quả. Vị Bồ Tát Thường Bất Khinh nói với bất cứ ai khi ngài gặp : " Tôi không dám khinh quý vị, quý vị đều sẽ thành Phật". Mặc cho họ ném đá và chế nhạo ngài, ngài vẫn giữ một khoảng cách an toàn và lập lại lời chúc tụng những kẻ khinh rẻ, hành hạ ngài như là những vị Phật tương lai. 

Thứ hai, là chín ẩn dụ của KPH. Dụ nhà lửa, dụ dược thảo, dụ hoá thành, dụ cùng tử,   dụ hạt châu chéo áo, dụ hạt châu búi tóc, dụ ông thầy thuốc, dụ cha trẻ con già và dụ  đào giếng, đó là những ẩn dụ độc đáo của KPH đã thu hút tôi.  

Tôi đọc kinh lần đầu tiên vào năm 1971 bằng bản dịch tiếng Anh do nhà xuất bản  Kosei ấn hành. Tôi đọc kinh và liền nghĩ đến việc phiên dịch bộ kinh này ra tiếng  Nga. Đó là thời điểm Liên Xô còn mạnh, sách ngoại quốc khó tìm thấy ở tiệm sách.  Bộ kinh tôi đọc chỉ là một bản photocopy có nhiều vấn đề nảy sinh bởi vì đó là một  bộ sách tôn giáo. Tôi chưa hề đọc thánh kinh. Cuối cùng tôi mới kiếm được một bản gốc của KPH và tôi bắt đầu nghiên cứu. Tôi viết luận án tốt nghiệp của tôi về ba tác phẩm chính của ngài Nichiren. Khi tôi đọc những tác phầm của ngài, tôi thích nhất là bộ KPH. Tiếc thay, tôi không có bản chính văn mà chỉ là bản chú giải và một bản dịch hiện đại. Rồi một vài năm trước đây, tôi nhận một bản gốc và một lần nữa tôi lại  bị thu hút bởi KPH.  

 Khi tôi hoàn tất bản dịch KPH tôi hy vọng sẽ chuy-n ngữ thêm năm tác phẫm chính  của ngài Nichiren Thực tế, cách đây hai năm tôi đã in một phần sách dịch của tôi về   quyển Kaimokusho (Khai nhản) của ngài Nichiren. Nhưng đó là một quyển sách in  vội vã và tôi phải đính chính lại rất nhiều chỗ . Tôi rất biết ơn sự nghiên cứu và các  bộ sớ giải của các giáo sư thuộc Đại Học Rissho, những yếu tố đã giúp cho sự hiểu  biết của tôi về di sản tinh thần của thánh nhơn Nichiren, cũng như vô số những lời phê  bình, đánh giá hữu ích mà tôi nhận được.  

 Ông có quan tâm đến ý kiến cho rằng nhà văn Tolstoy (1828 - 1910) rất gần gũi với kinh điển Phật Giáo không?  

Tôi nghĩ mọi người ở Nhật Bản đánh giá cao và hiểu biết nhiều về Tolstoy (Nhà văn  nổi tiếng người Nga). Điều đó chứng tỏ rằng người Nga và người Nhật chia sẻ cho   nhau nhiều đức tin về đời sống nội tâm. Chính Tolstoy có một sự quan tâm sâu sắc  đối với tôn giáo và triết học Phương Đông, đặc biệt là đạo Phật và Lão. Lúc bây giờ,  những hiểu biết về đạo Lão rất hạn chế ở Châu Âu, nhưng đã có một số sách viết về  Đức Thích Ca bằng tiếng Châu Âu rồi. Tolstoy biết thông thạo nhiều thứ tiếng như    Pháp, Đức, Anh, Ý.... do đó ông đã đọc nhiều bản dịch từ Kinh Tạng Pàli và Kinh Tạng   Đại Thừa do các học giả Anh và Đức phiên dịch. KPH được dịch sang tiếng Pháp và  tiếng Anh trong khoảng thời gian ông còn sống và rất có thể ông đã đọc được bộ kinh   này. Phật Giáo Đại Thừa được biết đến ở Nga, nhưng chỉ có một số ít người nghiên   cứu. Do đó rất khó xác định được mức độ ảnh hưởng của Tolstoy đối với KPH và kinh  Phật nói chung. Tôi nghĩ rằng rất có thể là ông ta đọc được nhiều kinh điển Phật  Giáo. Điều đó hoàn toàn có lý, vì trước năm ông mất 1910, ông đã đọc một số kinh   Phật được phiên dịch bởi học giả người Nga I.E.Minayev. 

 Chúng tôi mong muốn nhìn thấy thành quả dịch phẩm KPH của ông. 

          Theo DHARMA WORLD, tháng 10/1996. 

 

 ---o0o---


| Mục lục | Xứ Sở | Sự kiện | Nhân Vật | Phụ Lục|

 

---o0o---


|
Danh  Nhân Phật Giáo Thế Giới | Tủ sách Phật Học |

---o0o---

Kỹ thuật vi tính:
 Hải Hạnh, Ðàm Thanh, 

Diệu Nga, Tâm Chánh, Nguyên Tâm
Trình bày: Nhị Tường


Cập nhật: 01-04-02


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang PG Thế giới

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544