Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Ðản


...... ... .

 


 

TUYỆT THỰC NĂM 63 TẠI CHÙA TỪ ĐÀ M

Trích hồi ký Bác sĩ ERICH WULFF (Đức ngữ)
MINH NGUYỆN dịch

--o0o---

 

Lời người dịch : Đây là bài thứ hai trích dịch  từ quyển Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp  Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, trang 150 đến 157, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã trình bày sự kiện này trước uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.

 Bài thứ hai này nói về cuộc tuyệt thực tại chùa Từ Đàm và các cuộc biểu tình của Phật tử Huế đòi nhà cầm quyền thực thi 5 nguyện vọng của Phật giáo (1).

  ---o0o---

  

Sau thời hạn tối hậu thư 14 ngày đối với chính quyền ông Diệm trôi qua, các nhà sư  tại Huế bắt đầu tuyệt thực. Họ đã yêu cầu vị bác sĩ giám đốc bệnh viện trung ương Huế theo dõi sức khoẻ trong khi họ tuyệt thực, nhưng vị này, cũng như tất cả các bác sĩ khác của thành phố, đã từ chối, ngay cả việc đặt chân đến cổng chùa. Ba ngày sau đó khi một vài vị sư lớn tuổi bắt đầu bị hôn mê, họ đã cầu cứu đến chúng tôi. Tôi đến tiếp xúc lần nữa với bác sĩ khoa trưởng y khoa để yêu cầu ông ta thi hành nhiệm vụ thầy thuốc của mình, nhưng ông ta vẫn lắc đầu từ chối. Do đó tôi đã đi cùng với Hans đến chùa Từ Đàm.

 Tại cuộc thăm viếng chùa Từ Đàm lần đầu này tôi mới làm quen với Thượng tọa Thích Trí Quang. Thân hình mảnh khảnh, nhỏ nhắn của ông ta chỉ như là được dùng để mang một  đầu tượng người La mã được đẻo bằng cẩm thạch. Vần trán cao, vòm cong, cặp mắt to, với cái nhìn xuyên thâu, lổ mũi rộng và đôi môi đầy đặn bày tỏ một sự hài hòa trong sự cấu trúc của con người ông ta. Toàn khuôn mặt đã lôi cuốn cái nhìn đến độ người đối diện không có cơ hội để ngắm ông ta. Tình cảm hăng say và lòng nôn nóng vẫn còn ngự trị nơi con người ông ta, trái với điều mà tôn giáo của ông ta đòi hỏi. Trong khi nói chuyện Sư Trí Quang chứng tỏ một sự thông minh tuyệt vời, nắm hiểu rất nhanh điều cốt yếu ; Sư  cũng có một vốn kiến thức dồi dào về văn hóa và lịch sử của vùng Đông Á châu. Nhưng ông ta rất  ít  quan tâm đến nền chính trị và khung cảnh văn hóa của Tây phương và có ít nhiều thành kiến về các vấn đề này. Sư  ý thức được sức mạnh lôi cuốn của chính mình đối với đám đông và biết cách để sử dụng. Bằng những cuộc vận động đám đông quần chúng trong các thành phố và với áp lực của dư luận quốc tế, Sư hy vọng có thể giành phần thắng trong cuộc đụng độ này với chế độ ông Diệm. Đây không phải chỉ là chuyện lật đổ gia đình họ Ngô hay trả lại cho Phật giáo những quyền lợi từ xưa. Một người giảng nghiệm viên đại học Huế sau này đã kể lại cho tôi nghe rằng trong cuộc họp quan trọng với các thủ lãnh thanh niên Phật tử vào sáng ngày 9 tháng 5 1963, Sư Trí Quang đã tuyên bố rằng cuộc tranh đấu bắt đầu hôm nay sẽ chấm dứt với sự vãn hồi hòa bình cho đất nước. Tất cả mọi người phải ý thức những ngày cam ngo sắp tới và đôi lúc phải chấp nhận những sự thất bại tạm thời.

 Sư Trí Quang đã bày ra trước mặt những bản dịch tiếng Việt của các bài báo tờ Le Monde và New York Times tường thuật về các biến cố tại Huế. Những lời kêu gọi của Sư đến Tổng thư ký Liên hiệp quốc U Thant và Tổng thống Kennedy cũng được nhắc nhở trong các bài báo đó. Những chuyến đi của chúng tôi qua Căm bốt hay vào Saigòn như thế đã không  đến nỗi hoài công. Tuy nhiên sự việc này cũng vẫn chưa trở thành những hàng tít lớn trên các báo chí thế giới, mà vẫn còn phải nằm một cách khiêm nhường ở trang 3, 4  hay 5. Chưa ai thấy được tính cách bùng nổ của cuộc khủng khoảng này.

 Trong thời gian các nhà sư tuyệt thực, lần đầu tiên tôi thấy một cuộc biểu tình lớn của quần chúng phật tử. Hai đoàn người dài vô cùng từ hai phía khác nhau đã đến tập trung trước tòa Tỉnh trưởng. Dẫn đầu mỗi đoàn là các vị tu sĩ Phật giáo bận áo vàng nghiêm trang. Theo sau là các gia đình phật tử, công nhân, sinh viên, học sinh, tiểu thương cũng như phụ nữ đủ lứa tuổi. Có khoảng  7000 đến 8000 người biểu tình. Không có gì đáng tiết xảy ra. Cuộc biểu dương lực lượng diễn ra trong sự im lặng trang trọng. Thỉnh thoảng đám đông cất lên lời niệm Phật đồng điệu. Trên các biểu ngữ có ghi những điều đòi hỏi và phản đối của họ bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

Sau đó chúng tôi được biết rằng viên tỉnh trưởng, vì có cảm tình với Phật giáo nên đã ra lệnh cho cảnh sát phải tự chế. Và cũng vì điều đó mà ông đã bị cách chức sáng sớm ngày hôm sau cùng lúc với vị Đại biểu chính phủ Trung nguyên Trung phần. Một viên chức thân tín của ông Diệm đã được cử ra Huế  với nhiều quyền hành mới và đã đến nhận nhiệm sở tại Tòa Đại biểu chính phủ. Ông ta tên là Nguyễn văn Khương (2). Một ngày sau khi nhậm chức ông ta mời tất cả bác sĩ người Đức đến dự buổi trà đàm ban sáng.

 Tôi chỉ biết rằng tôi đã được mời đến gặp riêng nửa giờ trước các bạn đồng nghiệp khác khi tôi cùng ngồi với ông ta trên chiếc ghế bành bọc lụa tại phòng khách giữa các độc bình bằng sứ và các ngà voi to tướng. Ông ta tìm cách thuyết phục tôi, rằng ông ta muốn biết rõ hết tất cả sự thật để về trình lại cho Tổng thống Diệm và cũng để thỏa mãn các đòi hỏi của Phật giáo. Với tư cách là một người phật tử, ông phải có nhiệm vụ ngăn cản các cuộc đổ máu khác. Ông ta có đầu tóc ngắn cúp ca-rê và khuôn mặt hơi thô, không phải là không thông minh nhưng nét mặt có vẻ đầy bí ẩn đã tìm cách nói như rót mật vào tai tôi. Tôi có mất mát gì đâu ? Tôi đã kể cho ông ta nghe tất cả những gì tôi biết về đêm 8 tháng 5, điều mà ông ta hẳn đã biết, vì nếu không tại sao ông ta lại mời tôi đến sớm hơn các người khác. Ông Khương chăm chú lắng nghe tôi kể chuyện và làm như là ông ta cám ơn tôi vô cùng. Tôi cũng kể với ông ta rằng tôi và Hans đã phải chăm sóc các tăng sĩ Phật giáo đang tuyệt thực, sau khi không có một bạn đồng nghiệp người Việt nào nhận làm công việc đó. Ông ta tỏ ra rất cảm động vì hành vi này của chúng tôi và hầu như ra lệnh chúng tôi phải tiếp tục công tác y tế đó. Ông ta còn hứa sẽ cấp cho tôi giấy phép để được phép đi ngang qua các hàng rào chắn của cảnh sát, trong trường hợp tôi bị gặp khó khăn. Tất cả những lời hứa hẹn và vỗ về này của ông ta thật ra chỉ là ở đầu môi chót lưỡi, và chính ngay lúc đó có lẽ ông ta đã quyết định bắt giam tôi vào chiều hôm ấy. Điều này cũng không làm cho tôi sau này bực mình.

 Vào cuối cuộc nói chuyện của chúng tôi thì có các đồng nghiệp Đức xuất hiện, những người này đã ở trong nhà vào buổi tối đặc biệt nói trên. Họ không muốn bàn thảo gì cả và nói rằng những chuyện gì xãy ra tại đây không dính dấp gì đến họ cả. Họ cũng không biết gì nhiều. Nhà cầm quyền ở đây nên làm những gì cần thiết. Chỉ có bác sĩ nội thương người Thuỵ sĩ bật ra lời tiên đoán rằng người nào dùng bạo lực, sẽ chết dưới tay bạo lực. Ông Khương tức thì trả lời một cách nhã nhặn rằng ông ta không bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ dùng bạo lực. Ngược lại ông ta đã ra lệnh tháo gỡ các hàng rào chắn ngăn cản các lối đi đến các chùa. Vấn đề Phật giáo chỉ được giải quyết bằng thương lượng và lý trí ; những gì đắng cay chỉ làm cho sự việc trầm trọng thêm lên. 

Rất tiếc là tôi đã tin vào những lời hứa hẹn của ông Khương vào lúc đó. Những lời nói này làm tôi chùn bước và cảm thấy bối rối. Trong lúc ông Khương đang còn nói chuyện, những lời tụng kinh của các phật tử lọt vào đến tận phòng khách, xen lẫn với những lời hô hào càng lúc càng lớn. Các vị đồng nghiệp có gia đình từ từ xin phép ra về trước ; vì trong tình trạng hổn loạn trên đường phố hiện nay, chúng tôi không thể để gia đình một mình được, họ nói với ông Khương như thế. Sau rốt chỉ còn lại Hans và tôi. Ông Khương đưa chúng tôi ra cửa.  Khoảng 150 đoàn viên gia đình phật tử đang ngồi trước hàng rào kẽm ngai ngăn không cho lên phía chùa Từ Đàm. Họ đang ngồi xếp bàn thế hoa sen và thầm niệm Phật. Xung quanh họ gần hàng rào và vườn trồng hoa, có khoảng 500 học sinh và sinh viên hô các khẩu hiệu lên án chế độ. Khi Hans và tôi xuất hiện thì đám đông hò reo vang dậy. Những lời hô hào là do một trong những người sinh viên trò y khoa của tôi tên là Phan (3) khởi xướng. Phía bên kia đường là một đoàn lính trang bị bằng mặt nạ chống hơi ngạt và khiên chống bằng sắt. Họ đã nhắt lưỡi lê lên nòng súng và trông giống như những người máy tự động trong các phim khoa học giả tưởng. ‘Trời ơi, các ông phải kêu gọi các sinh viên này im đi chớ, có thể họ chỉ nghe lời các ông mà thôi’. Có lẽ sự lo sợ đã xâm chiếm tâm hồn ông ta, vì giữa tòa nhà của ông ta và các người biểu tình không có một toán lính hay hàng rào chắn nào cả. ‘Ông hãy bảo đoàn lính không được đâm chém ai cả’, Hans đề nghị như thế. Ông ta vội hứa liền. Có thể lúc đó ông ta cũng sẽ hứa nhiều điều khác nữa. Ông ta vội chạy lui vào trong tòa nhà và lẫn vào trong đám người cộng sư viên của ông ta đang đứng tại phía sau.

 Đoàn lính đã không đâm chém ai cả, nhưng đã quăng nhiều bình lựu đạn màu nâu có chứa một chất lỏng mau bốc khói vào phía các sinh viên. Những người nào đứng xa như  Hans và tôi, thì cảm thấy như là các chất cay mắt. Ông Khương và các cọng sự viên của ông đứng phía trong cũng chảy nước mắt tràn xuống má. Họ chạy đến chúng tôi hỏi phải làm gì để bớt cay. ‘Quí vị nên đi rửa mắt ngay liền’, tôi khuyên như thế. Nhưng đối với những người khác thì đã quá trễ. Vì ngoài kia, trước tòa Đại biểu, trên những con đường dẫn đến chùa Từ Đàm cũng đã xãy ra tình cảnh tương tự. Các phật tử, phần nhiều là giới trẻ đã biểu tình ngồi trước các hàng rào chắn, chung quanh là đám quần chúng bất bình bắt đầu la ó và do vậy lính đã quăng các bình khí cay kia về phía họ.

 Đến tối hôm đó tôi mới thấy đước hậu quả tai hại : độ chừng 70 phật tử, phần lớn đang còn trẻ, đã bị phỏng nặng vì chất khí lỏng màu nâu kia. Toàn thể thân họ đã bắt đầu nổi lên những hạt bong với một  vài vạc da như bị lột tróc. Vài người trẻ đã bị mù mắt một thời gian ngắn, vài người khác thì bị bất tỉnh, và chỉ hồi tỉnh lại sau khi được tiêm nước biển hằng giờ. Nếu không có sự chăm sóc y tế tức thời, có lẽ đã có vài người bị bỏ mạng. Đây là những thương tích và biến chứng lạ kỳ của loại lựu đạn cay kia. Cho nên Hans vì có nhiều bệnh nhân như vậy nên đã tìm cách liên lạc với ông Khương và viên đại tá Chỉ huy trưởng tên là Đỗ cao Trí đề hỏi về thành phần hóa học của loại khí lỏng cay kia, hầu tìm cách chửa trị thích ứng. Nhưng anh ta chỉ nhận được những câu trả lời vu vơ : Vâng nhà chức trách sẽ tìm hiểu thêm, nhưng chắc chắn đây chỉ là loại đạn cay ‘thông thường’ mà thôi.

 Một tháng rưỡi sau đó, tại Tokyo, nơi bà Lily Abegg làm phóng viên cho tờ Frankfurter Allgemeine đã tìm ra một phần nào lời giải đáp. Bà đã đọc trong một bài báo từ Đông Âu cho biết rằng người Mỹ đang thí nghiệm một loại khí độc mới để chống Việt cộng. Những vết thương và bệnh tình được tả giống y hệt như những gì chúng tôi đã thấy ở Huế. Bà Abegg, vốn là người Thuỵ sĩ rất can đảm để bênh vực cho sự thật, trước đây đã có ý xem đó là những tuyên truyền vu khống của phe cộng sản. Nhưng sau khi nghe những lời thuật của chúng tôi thì bà liền đổi ý. Mặc dầu vẫn còn lập trường chống côïng kịch liệt, bà ta là người phóng viên Tây phương đầu tiên đã đưa tin vào tháng 7 -1963  về sự sử dụng các chất độc hóa học của chính quyền ông Diệm và các cố vấn người Mỹ và đã lên án nặng nề việc này trong một bài bình luận.

 Vài giờ sau khi tham dự buổi tiếp tân của ông Khương, tôi ngồi trên một chiếc xe xích lô để đi đến bệnh viện theo một con đường nhỏ. Các con đường lớn đều đã bị chận cả rồi. Đột nhiên có tiếng rít  của một chiếc xe cảnh sát chạy nhanh đến chấn đường trứơc chiếc xe chở tôi. Một người cảnh sát ốm o, có màu da nâu đậm và mặc áo thường dân nhảy đến với khẩu súng lục chỉ vào tôi và hét to rằng : ‘Nhân danh luật pháp tôi bắt ông’. Tôi bị lôi lên xe Jeep mất cả giày dép và chiếc xe lại vội phóng đi.

 Tôi bắt đầu lo sợ thật sự và tìm kiếm những khuôn mặt quen ở hai bên đường nhưng không thấy ai. Dầu vậy thỉnh thoảng tôi vẫn giơ tay ra ngoài xe để vẫy một người quen giả tưởng nào đó. Chiếc xe Jeep chạy nhanh qua cầu với còi hụ và hình như hứơng về phía đường đi ra Quảng Trị. Có lẽ người ta muốn dẫn tôi đến một chỗ vắng vẻ nào đó để bắn chết tôi và đổ vấy cho Việt cộng chăng ? Tôi hỏi tên cảnh sát mật vụ kia về giấy phép bắt giam tôi ; một tên mật vụ chính hiệu với chiếc áo sơmi đen, đeo kính râm và tóc chải dầu láng cón. Tên mật vụ trả lời, tôi bắt ông đâu cần phải có giấy tờ gì. Tôi lấy lại bình tĩnh và từ tốn nói với anh ta rằng, các bạn bè quen biết đã thấy tôi bị bắt khi nãy và đang trên đường đi để đến báo động tòa Lãnh sự Mỹ ; cả thế giới sẽ được thông báo tức khắc về việc tôi bị cảnh sát bắt cóc. Nếu sau ba tiếng đồng hồ tôi không được thả về, các tờ báo lớn tại Aâu châu và Mỹ sẽ lên án việc bắt bớ bất hợp pháp này. Tôi hỏi anh ta không lo sợ về các khó khăn ngoại giao quốc tế sẽ do vụ này gây ra hay sao ? Có lẽ nổi lo lắng của tôi cũng hơi thái quá; cũng có thể các lời nói của tôi đã làm anh ta suy nghĩ lại. Chiếc xe Jeep lại đổi hướng và đi vào trong Thành nội, nơi có Tổng hành dinh của Sư đoàn 1. Ở đó, tôi bị đưa vào trong một căn phòng nhỏ.

 Tôi ở đó một mình không lâu. Khoảng nửa giờ sau một người trẻ tuổi mặt mày hơi bạc nhược và có đeo kính bước vào. Những vết thâm quần đen quanh đôi mắt, các ngón tay run rẩy, được che dấu một cách e thẹn dưới gầm bàn và nụ cười ngượng ngạo đã tiết lộ sự thất bại của anh ta trong cố gắng giữ gìn đạo đức và sạch sẽ mà tôn giáo của anh ta và bà Nhu đã biểu anh ta phải tuân theo. Mặc dầu đeo một chiếc thánh giá nằm phía sau chiếc áo, anh ta vẫn tự giới thiệu là một phật tử và là một đồ đệ trung thành của Thượng tọa Trí Quang. Anh ta chỉ muốn nghe tôi ‘‘giảng’’ cho anh ta về các chuyện đã xảy ra sáng hôm nay ; anh ta mong tôi nói ra tên của các người sinh viên đã tổ chức cuộc biểu tình. Anh ta muốn tìm cách cứu các người đó để không bị cảnh sát bắt và muốn làm việc chung với họ. Anh ta cảm phục tôi đúng theo truyền thống Khổng giáo là một vị Thầy đáng kính. Anh ta chắc chắn đã chờ đợi rằng tôi không tin tưởng ở các lời nói của anh ta. Nhưng với những lời lẽ đón rào và tâng bốc như thế, anh ta muốn tôi nói mà không bị mất mặt. Tôi chờ đợi anh ta nói xong hết rồi tôi mới nói lời khuyên anh ta rằng hãy điện thoại cho ông Đại biểu Khương để xin phép thả tôi ra, nếu không ngày mai đài BBC và các đài quốc tế khác sẽ đưa tin về sự bắt bớ trái phép người ngoại quốc ở tại Việt Nam. Điều này hẳn đã gây ấn tượng mạnh lên anh ta. Anh ta đi ra ngoài và để cửa phòng mở. Sau một giờ điện thoại huyên thuyên đi khắp nơi từ phòng bên cạnh, anh ta trở lại, nói lời xin lỗi đã bắt ‘lầm’ tôi và mời tôi lên một chiếc xe Jeep để được đưa về nhà, nhưng lần này người hộ tống không có mang súng ống. Tôi có gặp lại tên mật vụ này sau đó vào tháng 7-1964 tại phi trường Sài gòn, lúc tôi chuẩn bị lấy máy bay để đi Hồng công và Đài Bắc. Như thế sau khi ông Diệm đổ, anh ta vẫn tiếp tục hành nghề như cũ. Anh ta nóng lòng muốn biết tên những người mà tôi sẽ tìm gặp tại Hồng Kông. Lần này anh ta tự giới thiệu làm nghề ký giả tự do. Vì vào thời gian đó tôi có năm người bạn là thành viên của nội các chính phủ, nên tôi đã dễ dàng cho anh ta ra rìa. Tôi hỏi tên anh ta là gì và nói rằng, Thủ tướng Phan huy Quát và Bộ trưởng Bùi tường Huân sẽ để ý đến tài năng đặc biệt của anh ta. Anh ta liền vội vàng từ giã tôi.

 Sau khi được thả ra,  tôi đi đến bệnh viện, Hans  chỉ cho tôi những người nạn nhân của chất lựu đạn cay và sau đó tôi lên chùa Từ Đàm để thăm các bệnh nhân khác của chúng tôi. Thượng tọa Trí Quang vừa cười vừa chào đón tôi. Chỉ nửa giờ sau khi tôi bị bắt, Thượng toạ đã được thông báo và dự định tổ chức một cuộc biểu tình vào ngày mai. Và nay thì cuộc biểu tình đó được bãi bỏ.

 BS ERICH WULFF
(Minh Nguyện trích dịch, Tây Đức tháng 8-2001)

 ____________

 Ghi chú của người dịch :

 (1)     Năm nguyện vọng là : 1. Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cọng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ giáo kỳ Phật giáo ; 2. Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa giáo đã được ghi trong đạo Dụ số 10 ; 3. Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo ; 4. Yêu cầu cho tăng ni Phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo ; 5. Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ chết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại phải đền tội xứng đáng.

Bản tuyên ngôn ngày 10-5-1963 mang chữ ký của Hoà thượng Thích Tịnh Khiết, hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Thượng tọa Thích Mật Nguyện, đại diện Giáo hội Tăng già Trung phần, Thượng tọa Thích Trí Quang, đại diện hội Phật giáo Việt Nam tại Trung phần, Thượng tọa Thích Mật Hiển, đại diện Phật giáo Thừa thiên và Thượng toạ Thích Thiện Siêu, đại diện Tỉnh hội Phật giáo Thừa thiên (Xem Việt Nam Phật giáo sử luận quyển III, Nguyễn Lang, Nhà Xuất bản Lá Bối , San José, CA-USA, 1993, trang 346-347 và Lịch sử tranh đấu Phật giáo Việt Nam tập I, Kiêm Đạt, Phật học viện quốc tế xuất bản , Los Angeles, CA-USA,1981, trang 86 và128).


 (2)
   
 Trùng tên với vị tiền nhiệm là ông Hồ Đắc Khương.

 
(3)     Tức Hoàng phủ Ngọc Phan, nay là một nhà thơ và nhà báo tại Sàigòn.

 

 

TƯỜNG TRÌNH TẠI LIÊN HIỆP QUỐC (9/1963)

 

Hồi ký BS WULFF

Minh Nguyện (Việt dịch)

 

Lời người dịch : Đây là bài thứ ba trích dịch  từ quyển Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp  Taschenbuch Nr. 73, Frankfurt a.M., Germany, 1972, trang 186 đến 202, với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Erich Wulff. Ông này là một bác sĩ người Đức dạy tại trường Đại học Y khoa Huế từ năm 1961 đến 1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã trình bày sự kiện này trước Uỷ ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.

 

Bài thứ ba này nói về các hoạt động của tác giả tại New York và Hoa thịnh đốn.

 

 

xxxxxxxxxxxxxxxxx

 

 

 

Sau khi đến New York vào giữa tháng 9/63, bên cạnh những buổi gặp bạn bè, tôi dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho cuộc tường trình trước Uỷ ban điều tra của Liên hiệp quốc (LHQ) về biến cố ngày 8 tháng 5 và những biện pháp đàn áp sau đó. Ba phái đoàn thành viên của Ủy ban muốn ghi lại những lời khai của tôi và yêu cầu cung cấp tài liệu cho mỗi đoàn. Rất may là tôi có mang theo đầy đủ các bản sao. Phái đoàn Campuchia vô cùng hổn tạp. Khi tôi đến Sứ quán của họ, họ không biết tôi là ai và cũng không muốn tiếp tôi nữa. Khi tôi muốn bước ra khỏi cửa, thì một tùy viên hối hả chạy theo vội nói rằng: Ông Ngoại trưởng hiện đang có mặt tại New York để tham dự phiên họp Đại hội đồng muốn nói chuyện tức khắc với ông. Trước mặt ông Ngoại trưởng tôi đã kể hết mọi sự việc và người thư ký bên cạnh ghi lại từng chữ. Ông Ngoại trưởng là một người đang còn trẻ,  thông minh, ăn mặc rất bảnh bao. Sáng hôm sau tôi lại phải kể đầu đuôi câu chuyện tại phái đoàn Tích Lan, nhưng không chắc được họ có hiểu vấn đề không. Kiến thức của họ thật là nông cạn về cuộc chiến tại Việt Nam, về các chính sách khủng bố của chế độ, cũng như về lịch sử và các hình thái tổ chức của Phật giáo Việt Nam.

 

Khi tôi đến Sứ quán của  An-giê-ri, sau khi gặp ông Đại sứ, tôi làm việc với một cô thư ký .  Cô ta nhận biết ngay những điểm quan trọng chính yếu trong bảng tường trình của tôi: Vụ thảm sát tại Huế trong ngày đại lễ Phật giáo, một đại lễ tương tự như ngày lễ Chúa Giáng sinh bên Thiên chúa giáo, sự khước từ công nhận tổ chức chính thức của một tôn giáo quy tụ đa số quần chúng, việc bắt giam toàn bộ thành phần lãnh đạo Phật giáo, việc sử dụng những chất độc hóa học để đàn áp các cuộc biểu tình bất bạo động của thanh niên. Tất cả những biện pháp đàn áp và khủng bố này có thể bị xem là vi phạm các nhân quyền căn bản về tự do tín ngưởng và tôn giáo được ghi trong Hiến chương LHQ. Đa số các thành viên LHQ có thể sẽ lên án chế độ ông Diệm vì những lý do đó. Tuy nhiên về mặt chính trị thì tốt hơn là không nên nói đến những chính sách khủng bố khác của chế độ như: chính sách áp bức nông dân, sự đàn áp và giết hại những người kháng chiến Việt minh cũ, việc dẹp tan phe đối lập không cộng sản. Rất nhiều các nước thuộc thế giới thứ ba cũng có những chính sách đàn áp tương tự nên họ sẽ không dễ dàng bỏ phiếu thuận vì sợ đụng chạm đến uy thế của mình và xem như là xen vào nội bộ của các nước đó.

 

Tôi cũng có những cuộc vận động bên ngoài LHQ. Người ta đã tổ chức một cuộc họp báo không thành công cho lắm, trong đó tôi được giới thiệu là một Giáo sư khoa Giải phẩu (thay vì khoa Phân Tâm học)! Tôi cũng nói chuyện tại nhà thờ Harrington và tiếp xúc với vài Thượng nghị sĩ  tại Hoa thịnh đốn. Ông Frank Church đã tiếp tôi và yêu cầu nêu ra những lý do để Mỹ cần phải tách rời khỏi ông Diệm. Ông ta đã vận động khoảng 30 Thượng nghị sĩ (TNS) sẵn sàng lên tiếng đòi  cắt giảm viện trợ Mỹ. Ông Kattenberg, người phụ trách phòng Việt nam vụ tại bộ Ngoại giao cũng đã tiếp tôi hơn một tiếng đồng hồ.

 

Cuộc vận động chống chế độ ông Diệm như thế đang tiến triển tốt đẹp. Tuy nhiên trong các cuộc tiếp xúc tôi thấy có một sự đắng cay nào đó về điều phải được gọi là chính sách thực dân Mỹ. Ngay cả một người thuộc phe cấp tiến như TNS Church mỗi khi nói đến ông Diệm hay những bạn bè của tôi tại Việt nam đều xem họ như là những con cờ trong những ván cờ của nước Mỹ, và hẳn nhiên xem tôi như đã đồng ý với ông ta (vì tôi là dân da trắng hay vì cùng đứng trong khối quân sự NATO, ai mà biết được). “Nếu chúng ta thay ông Diệm bằng…” hay “Nếu chúng ta thay bằng ông này, ông nọ v.v…” , những câu nói đó tôi nghe đến nhàm chán, tôi có cảm tưởng các nhân vật đó như là những  đồ vật trong hộp đồ chơi mà chủ nhân của nó có thể lấy ra hay bỏ vào bất cứ lúc nào cũng được. Không một chính khách Mỹ nào có thể nghĩ rằng một ngày nào đó những người Việt nam có thể tự chọn lựa chính phủ của mình. Các danh từ tốt đẹp như “dân chủ, quyền tự quyết” thật ra chỉ là nơi đầu môi chót lưỡi của người Mỹ mà thôi. Khi tôi kể lại tình trạng đó cho một vài người Việt Nam quen biết của tôi đang ở tại Hoa thịnh đốn thì người nào cũng bất bình.

 

Qua sự giới thiệu của ông Nguyễn Xuân Oánh, một nhân viên của Tổ chức Quỹ tiền tệ Quốc tế, tôi đến gặp ông Walt Rostow (cố vấn Tổng thống Mỹ) tại bộ Ngoại giao. Ông ta cũng không đếm xỉa đến các vấn đề truyền thống đạo đức, nhân văn hay xã hội Việt nam. Ông ta chỉ muốn biết một điều:”Chúng ta có thể thắng với ông Diệm không?” – và khi tôi trả lời rằng không, ông ta hỏi liền: “Chúng ta có thể thắng mà không có ông Diệm không?”. “Chúng ta” ở đây không phải là chúng tôi và những người Việt Nam , mà đó là một nước Mỹ đi hàng đầu trong công cuộc chống Cọng…Tôi cũng phải vào hùa với ông ta, vì việc quan trọng hiện nay là phải làm thế nào để lật đổ ông Diệm. Tôi nêu lên sự thiếu khôn ngoan chính trị và tính tự cao của ông Diệm và gieo những sự nghi ngờ về chính sách chống Cọng của ông Diệm. Tôi cảnh báo với ông ta rằng các ông Diệm và Nhu sẵn sàng bắt tay làm hòa với ông Hồ chí Minh còn hơn là nộp mình cho người Mỹ. Điều này đã đánh động được ông ta…

 

Trong khi đó, những cuộc bàn thảo tại hậu trường Liên hiệp quốc về một nghị quyết Việt Nam vẫn tiếp tục. Đại sứ nước An–giê-ri đã đưa ra một bản dự thảo nghị quyết được sự biểu đồng tình của đại đa số tại Đại hội đồng LHQ, mặc dầu chính phủ Mỹ cương quyết chống lại. Chúng tôi rất phấn khởi. Lời kết án chế độ ông Diệm của tổ chức LHQ sẽ giúp sức cho các thế lực trong chính giới Mỹ từ lâu muốn bỏ rơi ông Diệm. Nhưng một tuần trước cuộc biểu quyết, ông Diệm đã cử Giáo sư Bửu Hội làm Đại sứ tại LHQ. Ông này có nhiệm vụ tìm đủ mọi cách ngăn cản một sự lên án chế độ, hay ít nhất cũng phải làm trì hoãn điều đó. Ông Bửu Hội là một nhà bác học nổi tiếng trên thế giới, một chuyên viên về ngành Sinh hóa học và bệnh Cùi. Ông đã làm việc tại Trung tâm nghiên cứu khoa học Paris, và trước đó là Đại sứ tại Marốc và một vài nước khác tại Phi châu. Vài lời đồn đại cho rằng ông ta nhận lời cọng tác với chế độ ông Diệm là vì thiếu tiền để chi viện cho bốn người tình nhân . Đi cùng với ông ta bao giờ cũng có cô nhà báo Mỹ Ellen Hammer, cao hơn ông ta một cái đầu. Tôi đã gặp ông ta một lần tại phi trường Phú Bài - Huế. Dáng người không cao cho lắm, khuôn mặt tròn đầy và đeo một đôi kính thật dày, đến nỗi hai đôi mắt chỉ hiện ra như hai vạch nghiêng trên mặt. Từ bề ngoài như vậy toát lên một vẻ buồn tự tâm can và thái độ trịnh trọng của một vị quý tộc hoàng phái gốc người Huế.  Ông ta nổi tiếng ở Việt Nam vì sự thông minh và tài ứng đối nhanh nhẹn.

 

Ông Bửu Hội không cần phải mất thì giờ để biết tình hình rất khó khăn để chống lại những lời tố giác chế độ ông Diệm. Do đó phải dùng kế hoãn binh, kéo dài thời gian. Nếu ông Nhu thành công trong việc giữ yên lặng trong các thành phố bằng những biện pháp đàn áp của cảnh sát từ tháng tám sau khi ốp các chùa,  Mỹ và cả thế giới lần lần quên lãng đi vụ “khủng khoảng Phật giáo”. Đại hội đồng LHQ không thể kéo dài vô hạn kỳ, cho nên chỉ cần ngăn cản một nghị quyết được đưa ra để bỏ phiếu trong kỳ họp lần này. Do đó ông Bửu Hội đề nghị nên gởi một phái đoàn điều tra LHQ đến Việt Nam; ông tuyên bố rằng với việc điều tra tại chỗ, các lời cáo buộc sẽ không còn đứng vững. Ngón đòn này khó mà chống lại được. Cuộc thảo luận tại LHQ bị đình hoãn lại.

 

Vài ngày trước khi tôi rời New York, một người bạn của tôi tên Trân, một chuyên viên về nguyên tử lực đang dạy tại trường Đại học Columbia mời GS Bửu Hội tham gia một buổi hội thảo với cộng đồng người Việt. Ông ta không thể nào từ chối lời mời của một khoa học gia gốc Việt cũng nổi tiếng như ông. Ông ta nhận lời, nhưng với điều kiện không một nhà báo nào có mặt. Một ngày trước đó, ông ta đã tuyên bố trước Đại hội đồng LHQ rằng không còn vấn đề khủng khoảng Phật giáo nữa; chính phủ đã giải quyết xong với sự hài lòng của mọi phía, bằng cớ là hiện nay không còn những cuộc biểu tình trên đường phố hay những cuộc tự thiêu của các nhà sư.

 

Khi tôi đến sớm hơn 15 phút tại điểm hẹn nhà anh Trân, tôi gặp anh bạn sử học Stanley Karnow đang nói chuyện với Josepth Buttinger. Ông này khoảng 60 tuổi, trước đây vào những năm 1954 đến 1959 là người ủng hộ hết mình và cố vấn cho ông Diệm, nhưng nay lại là người chống đối mãnh liệt nhất. GS Bửu Hội đến trễ nửa giờ và có thái độ bối rối vì sự có mặt của ông Buttinger và thầy Nhất Hạnh. Ông ta đưa mắt nhìn nhanh về phía cử toạ và cảm nhận được thái độ chống đối và lạnh lùng sau lời chào mừng nồng nhiệt của ông ta. Qua sự yêu cầu của ông ta, tôi là người phát biểu đầu tiên; ông ta sẽ có lợi thế khi phát biểu liền sau đó. Với những lời lẻ từ tốn, tôi trình bày về những biện pháp áp bức từ mấy năm qua của chế độ ông Diệm đối với Phật giáo, về biến cố ngày 8 tháng 5 tại Huế và các sự kiện trước đó, về những cuộc biểu tình bị đàn áp bởi những chất độc hóa học và các đàn chó béc-giê. Tôi cũng tường thuật những điều tai thấy mắt nghe về tình trạng các nông dân, về chế độ công lý phân biệt, về thái độ hách dịch của các công chức cũng như thói quen của ông Nhu đổ vấy cho “Việt cọng” những tội ác của chính mình.

 

GS Bửu Hội chăm chú lắng nghe và gật đầu đồng ý càng lúc càng nhiều vào phần cuối bài phát biểu của tôi. Dư luận trong phòng họp rõ ràng đứng về phía tôi, cho nên rất khó cho ông ta chối từ những sự thật do tôi trình bày. Ông ta cũng xác nhận việc Phật tử bị biệt đãi, ông ta cũng công nhận trách nhiệm về những người bị sát hại đêm 8 tháng 5 là thuộc về anh em ông Diệm. Nhưng thay vì chống chế độ, ông ta biện minh cho mộ t “đường lối thực tế” (Realpolitik). Ông Diệm đã chứng tỏ qua các biện pháp cứng rắn hồi tháng 8 vừa qua rằng ông đang nắm quyền bính trọn vẹn trong tay, mặc cho Phật tử, người Mỹ hay dư luận thế giới muốn hay không. Phật tử phải bằng lòng chấp nhận trong tương lai một số sinh hoạt hạn chế, giống như các tín đồ Thiên chúa giáo bên phía Đông Âu vậy và không nên dính đến các cuộc tranh đấu chính trị. Vấn đề là phải giàn xếp nhanh chóng tranh chấp hiện nay hầu tránh thêm những thiệt hại trong tương lai. Ông ta nói Thượng tọa Trí Quang là một người thánh thiện, nhưng không hiểu gì về chính trị. Ông ta cũng là một phật tử thuần thành và  đau khổ hơn ai hết vì tình hình hiện nay. Ông ta tâm sự đã nhận công tác tại LHQ vì biết rằng tất cả những sự phản kháng sẽ không thay đổi tình hình tại Việt Nam. Khi mọi chống đối tại Sàigòn và trên thế giới lắng dịu xuống, các vị tu sĩ Phật giáo bị bắt sẽ được trả tự do và trở về lại chùa để tiếp tục tu học hay tiến hành các nghi lễ tín ngưởng. Không có thể đòi hỏi thêm gì được nữa và nên bằng lòng với những gì mình có thể có được. Ông ta chấm dứt bài phát biểu với một thái độ tự đắc.

 

Thầy Nhất Hạnh nói tiếp sau đó. Thầy kể lại về những khó khăn mà Phật giáo gặp phải từ khi nước Pháp xâm chiếm Việt Nam và lên án ông Diệm là người tiếp tục các chính sách đàn áp và truyền đạo của thực dân Pháp. Nhưng nếu trước đây dân tộc Việt đã không chịu ách đô hộ của Pháp nên đã vùng lên đuổi quân Pháp ra khỏi nước thì nay dân Việt cũng không chấp nhận sự áp bức và đe dọa của chế độ ông Diệm. Tuy nhiên người phật tử không cầm súng trong tay để chiến đấu, mà chỉ vận dụng các phương pháp bất bạo động. Họ không sợ chết. Với sự tự thiêu, một hình thức chết đau đớn nhất, người phật tử đón nhận trước cho mình tất cả những đau khổ và tra tấn mà quyền lực nhà nước có thể đem đến cho họ. Tất cả mọi quyền lực của nhà nước như thế đã chứng tỏ vô hiệu. Cái chết và tra tấn không đe dọa được người phật tử. Do đó các biện pháp đàn áp của cảnh sát không còn tác dụng nữa. Rồi đây các cuộc biểu tình và tự thiêu lại sẽ tiếp tục, điều này không những sẽ đánh động lương tâm của thế giới mà ngay cả đối với rất nhiều công chức và sĩ quan tại Sàigòn. Đường lối thực tế (Realpolitik) của GS Bửu Hội như vậy chỉ là một điều vô ý nghĩa. Một người phật tử nổi danh không nên đưa tên mình để che đậy một điều bất công, mà phải có bổn phận lên tiếng phản kháng, không những nhân danh tôn giáo của mình mà còn phải nhân danh toàn thể cả dân tộc, để chống lại một cuộc chiến vô ích mà ông Diệm đang đưa cả dân tộc đến bên bờ vực thẳm.

 

Tiếp theo là một lúc im lặng. Cuối cùng anh Trân đứng lên và nói rằng trong nhiều năm qua anh đã ngưỡng mộ GS Bửu Hội như là một vị thầy và một khoa học gia, nhưng nay anh thấy đã lầm. Với “đường lối thực tế” như vậy, thật ra GS Bửu Hộ đã phản lại sự thật và ngay cả tinh thần khoa học. Các bạn tôi và tôi đã vội làm dịu lại những lời trực ngôn của anh Trân và anh Trân sau đó đã xin lỗi về những lời lẻ nóng giận như vậy. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên vì chưa bao giờ tôi thấy một người trí thức Việt Nam công kích trực tiếp một đồng nghiệp trước mặt nhiều người khác như thế. Sau lời xin lỗi của anh Trân không khí cuộc hội thảo đã dịu lại. Ông Buttinger kể lại về những kinh nghiệm cá nhân đối với ông Diệm; ông ta bày tỏ nghi ngờ về tình hình ổn định của chế độ mà GS Bửu Hội đã đưa ra trước LHQ để biện minh cho sự chọn lựa của mình. Trước khi chấm dứt buổi gặp, thầy Nhất Hạnh có nói thêm vài lời để yêu cầu GS Bửu Hội hãy nói sự thật trước LHQ về biến cố ngày 8 tháng 5 và xác nhận tính cách độc lập chính trị của Phật tử. Anh Trân cũng khẩn khoản yêu cầu như vậy. Sau đêm hội thảo các người Việt đều rõ rằng GS Bửu Hội đã biết hết chi tiết sự thật và công nhận là đúng. Dư luận dân chúng Việt Nam và nhất là giới trí thức trẻ sẽ đánh giá con người ông ta có đủ can đảm dám nói lên sự thật hay không. Nếu bị chính phủ cấm đoán thì ông ta hãy từ chức và nhường lại công tác tuyên truyền đó cho một người bù nhìn nào khác. Trước khi từ giả, GS Bửu Hội có hứa sẽ “không nói dối”: Điều này có nghĩa ít hơn những gì anh Trân và thầy Nhất Hạnh yêu cầu, nhưng mà nhiều hơn những gì chúng tôi chờ đợi sau bài phát biểu của ông ta.

 Nhưng ngày tiếp theo chúng tôi đọc một bản tin trên tờ New York Times, nói rằng ông Bửu Hội đã tuyên bố tại LHQ TT Trí Quang là đặc viên của một tổ chức cọng sản trá hình và những người bị thảm sát đêm 8 tháng 5 là nạn nhân của “Việt cọng”; cũng như không hề có việc các phật tử bị kỳ thị, ngược đãi. Những lời hứa hẹn đêm hôm trước của ông ta như thế chỉ là hảo huyền. Chúng tôi vô cùng phẩn nộ. Nhưng tôi cũng lấy làm thương hại cho ông ta…Vài tháng sau đó, trên đường trở lại Việt Nam sau khi chế độ ông Diệm bị lật đổ, tôi tình cờ gặp lại ông ta tại văn phòng hãng Air France tại công trường Invalides ở Paris, ông ta tha thiết yêu cầu tôi hãy nói cho bạn bè biết rằng ông ta không bao giờ phản bội tổ quốc và bao giờ cũng muốn làm điều tốt cho đất nước. Ông ta nhớ quê hương, gia đình và nhớ Huế (1).

 

Dịch để tưởng niệm 8 vị bị thảm sát tại đài phát thanh Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963.

 Minh Nguyện

Tây Đức, tháng 5/2003.

 

 

(1)   Ghi chú của người dịch: Theo sự tiết lộ của TT Trí Quang, chính GS Bửu Hội lại là người đem các tài liệu đàn áp Phật giáo ra khỏi nước để giao lại cho Thầy Nhất Hạnh sử dụng khi phát biểu trước LHQ (Xem Tiểu truyện tự ghi, Thích Trí Quang). Điều này cũng được thầy Nhất Hạnh thừa nhận (Xem Vietnamese engaged Buddhism -The struggle movement of 1963-1966, Quán Như Phạm văn Minh, Văn Nghệ 2002, USA, trang 258).  Xem trang nhà:

http://quangduc.com/Danhnhanvn/09triquang.html

 

 

 

---o0o---

Cập nhật : 01-05-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Phật Đản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544