Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Giáo và Nữ Giới 


...... ... .


 

Ni Trưởng Như Thanh
CÂY ĐẠI THỤ TRONG RỪNG THIỀN
NI BỘ BẮC TÔNG VN

      Dương Kinh Thành 

--- o0o ---

 

Từ suy nghĩ ban đầu

 Thuở còn thơ ấu, qua những bước chân sáo hồn nhiên, ngây thơ đến chùa lễ Phật, hình ảnh đầu tiên được ghi vào tâm khảm tôi là chân dung một vị Sư cô hiền hòa đôn hậu. Từng được quý sư cô cho phép sa vào lòng, được vuốt đầu khen ngoan và được nghe những âm thanh hiền từ đó truyền cho tôi gương hiếu hạnh của Đức Phật và Tôn Giả Mục Kiền Liên. Lớn hơn chút nữa, tôi được vào sinh hoạt Gia đình Phật tử, rồi học sinh Phật tử. Chính vào những thời gian này, tôi đã biết phân biệt được thế nào là Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni qua màu y áo trang nghiêm trong những dịp lễ lớn. Dĩ nhiên ngoài một vị Sa Di chưa thọ Tỳ kheo với chiếc y vàng trơn, hình ảnh hàng chư Ni với hậu là chiếc áo tràng màu khói hương và y điều vàng tạo nên cái màu sắc hài hòa êm ả bình yên, càng làm tăng thêm nét đẹp hiền hòa vốn đã là dáng hình của một cô Ni. 

 Chỉ đơn giản vậy thôi, vì kiến thức lúc bấy giờ chưa cho phép tôi hiểu thêm gì hơn. Vả lại, thế hệ tôi lớn lên đã thừa hưởng được  phước báu của một một giáo đoàn vĩ đại, bình an tu học, ca ngợi tán dương cúng dường chư Phật mà để đối lấy niềm an lạc đó đã có biết bao công lao khó nhọc kể cả  máu xương chư liệt Tổ sư phải đổ ra từ thời chấn hưng rực rỡ. Trong đó có cả sự âm thầm khiêm cung của quý Ni sư khả kính mà người tiếp nốI lại là người khởi xướng một hình thức Ni bộ, để phù hợp với đà phát triển của đạo Phật thời đại mới. Đó chính là Sư trưởng Thích Nữ Như Thanh. Vâng! Những điều đó tôi chưa hề biết đến, kể cả khi cái màu khói hương, vàng y theo tôi vào các bức tranh vẽ, vẫn vô tình và dần quên đi theo năm tháng. Chẳng những vậy, lúc tư duy đã có thể phân định được Phật phápvà mon men bước vào ngưỡng cửa Duy Thức Học, thì cũng là lúc tôi phải phân vân trước nhũng lời đáng buồn của các vị gần gũi quen biết: nào là Tại mấy bà Ni mà chánh pháp lung lay; Mấy bà Ni chỉ có biết nấu đồ chay; Cỡ Sư bà mà gặp mấy chú Sa di cũng phảị..v.v.. và v.v..Diều khiến tôi thất vọng khi đi tìm những câu trả lời Tại sao vậy? của bản thân là: ở các tài liệu Phật pháp xác nhận đúng như vậy, nên mới có sự xem thường đó, nếu không muốn nói là sự khinh miệt của các vị kia. Nhưng sự tiếp nhận sẽ không tồn tại lâu trong tư duy và kiến thức ngày càng vươn tới, tất nhiên do không được minh giải thỏa đáng, càng là cơ hội động lực thôi thúc tôi đi tìm sự thật và đánh giá của tôi lúc này đã hoán ngược tầm nhìn, để rồi cái màu sắc đầu tiên đi vào tâm khảm tôi từ thủơ bé lại được dịp sống dậy nguyên màu tinh khôi, càng lung linh hơn bao giờ hết mà không phải cần đến một sự cố vấn nào, bởi vì nó nằm ngay nơi tâm thức tôi, một Vô sư trí của mình. 

 Người nữ tu Phật giáo luôn tuân chỉ giới luật Phật chế một cách nghiêm ngặt, luôn tự đặt mình ở vị trí khiêm cung để hanh thông Phật pháp. Tuy nhiên, bên cạnh đó  đứng về mặt tổ chức, nhất là ở vào những giai đoạn chấn hưng, việc tin tưởng vào hàng Ni Giới hãy còn đôi điều hạn chế, đôi lúc quá khắt khe. Từ đó, đã khiến hàng Ni giới trở về an phận, chỉ thuần tu học, không đặt trọng tâm mở mang kiến thức nội điển lẫn ngoại điển, hoặc chỉ là nội điển, khiến quan niệm về Ni giới đã không vững chắc lại thêm làm lung lay ý chí. Tữ thời chấn hưng (từ năm 1920), điều đó đã được cởi trói ít nhiều. Nhưng tư tưởng xem nhẹ hàng Ni giới chưa hẳn đã chấm dứt, nhất là về mặt tri thức. Cho nên việc đặt ra một Ni đoàn quả thật là điều không tưởng nối. Trong khi đó, ngay từ thời Đức Phật còn tại thế, hình thức đó đã được xác lập, đã đem lại lợi ích cho công việc hoằng pháp và đã có không ít vị trong hành Ni giới ngự trị trong sử liệụ 

 Đến nhìn xa quá khứ 

 Nhìn qua lăng kính lịch sử phát triển của Phật Giáo Việt Nam. Hình ảnh các vị Ni sư rất ít khi tìm gặp, huống là ở motip kiến thức thâm đạt và lại càng khó khăn để bắt gặp các vị đó ở hình thái tổ chức quy tụ. - đây xin được hiểu cho rằng lịch sử đã ghi vào công hạnh các vị, sẽ được lược nêu dưới đây, là sự phủ định, càng không phải ý nghĩa phủ định kiến thức nơi các vị đó. Vấn đề là ở chỗ qua các vị đó, phải được xem là một dấu hiệu để vươn tới, nhằm để củng cố Ni đoàn trong từ giai đoạn lịch sử nhất định; đồng thời là tiền đề cho hôm nay và mãi mãI về sau kế thừa phát triển. Và sẽ càng sai lầm khi so sánh tổ chức, hình thành Ni bộ thời đại ngày nay với điều kiện phát triển Phật giáo xa xưa ấyqua các triều đại. Vì đó là sự so sánh khập khểnh và bất cập. Đó là điểm lưu ý quan trọng, chúng tôi muốn nhấn mạnh để tránh tư tưởng sai lầm rất d- phát sinh dẫu là ngoài ý muốn. 

 Vâng! Hình ảnh các vị Ni không nhiều, thậm chí không có trên bình diện nối. Mãi đến thời Lý Thánh Tôn (1054-1072) mới có nàng Ngọc Kiều, trưởng nữ của Hoàng thân Phụng Càn Vương Nhật Trung, được nuôi dạy trong cung. Sau đó, lấy chồng là Quan Châu Mục, ở Châu Chân Đăng, khi chồng chết nàng mới xuất gia với ngài Chơn Không (1045-1100 - đời thứ 16 dòng Tỳ Ny Đa Lưu Chi) , được ban pháp danh Diệu Nhân và được tu tại chùa Hương Hải ở làng Phù Đổng. Bà viên tịch năm Hội Tường Đại Khánh thứ tư (1113) thọ 73 tuối, trở thành vị tổ đời thứ 17 dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Bà là một trong bốn vị đệ tử của ngài Chơn Không, thời gian đó ứng vào cuốI thế kỷ XI đầu thế kỷ XII. Qua sử liệu bà là người Ni duy nhất, nối bật nhất; ngoài ra trớc và sau đó nữa không thấy một ai khác. Tuy nhiên, bên dưới đó chúng ta vẫn có thể suy luận ra được rằng nếu đã có người nữ xuất gia ắt phải là chuyện phổ thông, bình thường mà tất cả các vị nữ xuất gia khác do vì nhiều nguyên nhân, kể cả điều kiện tri thức Phật học, chỉ tu để tìm nơi an dựa tinh thần v.v..nên đã không có được cơ hội tiến triển nối bật, và phải chăng đây là nguyên nhân mà người ta đã nêu lên hình ảnh Bà vãi với góc bếp sau hè? Dĩ nhiên cũng không loại trừ do thành kiến, do dựa vào giới luật quá cứng nhắc đã biến hàng Ni giới các thời này đã trở nên an phận và khuất lấp! Và do đó, vẫn không thể đặt vấn đề tốI thiểu là thành lập chúng Ni bên cạnh Tăng chúng. Một yếu tố quan trọng khác là bên cạnh các vấn đề trên, hầu hết các vị Ni xuất gia đều phải trực tiếp thọ giới với bên Tăn; đã góp phần tác động không nhỏ trong ý nghĩa bổn phận-an phận của hàng Ni giới. Trong điều kiện bốI cảnh lịch sử, các mặt hạn chế đó là điều tất nhiên và rất cần thiết, kể cả việc không được có chùa riêng, hàng Ni chúng cũng đã tuân thủ triệt để. 

- một khía cạnh khác chủ yếu do điều kiện xã hội, đã thấy xuất hiện vài vị Ni, qua lịch sử và cả truyền khẩu đã gắn liền tên tuối mình với một địa danh như:  

Ni cô họ Lê tên Thị Nữ, thuộc hàng gái lỡ thời, khi cha mẹ mất mới cưới chồng, khi chồng chết thề không tái giá, lại bị cường hào cậy mai mốI quấy nhi-u, nên bà vào núi tu và đắc quả. Núi đó gọI là Núi Nữ Tăng (tục gọI núi Thị Vãi) ở Đông Nam huyện Long Thành 12 dặm. 

Ni cô họ Tống tên Thị Lương, lập am Quan Âm tu tại núi Đại Kim (còn gọi là "Kim Dự Lan Đào" tức đảo Kim ngăn sóng) một trong mười cảnh đẹp trấn Hà Tiên. Dù vậy, an ủi phần nào khi được biết Ni Sư Tuệ Thông - đời Trần Nghệ Tông (1370-1372) có dính dấp đôi chút trong mục đích đang truy cập của bài viết này khi sử ghi "Kẻ đạo người tục xa gần đều kính mộ, danh tiếng Ni sư lừng lẫy, là bậc Tôn sư của Ni chúng cả nước, tên tuối ngang hàng với các bậc cao Tăng, được Vua ban hiệu "Tuệ Thông Đại Sư". Những nhân vật này đã được Hòa thượng Thanh Từ đưa vào bộ sách "Thiền Sư Việt Nam" có lẽ cũng chỉ là ý nghĩa "điểm xuyết" mà thôi bởi quá ít ỏi. Thậm chí, sử của những vị ấy cũng không sao tra cứu được tên họ, năm sinh, ngày mất và ngay cả thuộc tông phái nào, đời thứ bao nhiêu. 

Rõ ràng hàng Ni giới xưa nay, bởi do quan niệm cổ xưa của Tăng đoàn và hoàn cảnh tất yếu của lịch sử vô tình đẩy họ vào thế ngự trị ở... nhà trù! Biết đâu được lại có những vị xuất chúng, có đầu óc tổ chức tuyệt luân nhưng đã bị hàng rào ngăn cách đó đè bẹp, dập tắt tài ba và ý thức trách nhiệm của họ? Phải chăng hệ quả đó đã để lại cho đời những hình ảnh "Bà vãi"-"Cô vãi" lần mò quanh quẩn chu vi nhà trù Già lam an phận, làm Phật giáo mất đi cánh tay trái đắc lực mà lẽ ra đã được đem lại phần lợi lạc ngay từ buối đầu đã đặt chân đến xứ sở Giao Châu(Luy Lâu-Hà Bắc-năm 189-Thế kỷ thứ II), tính đến nay đã hơn hai mươi thế kỷ. 

Để nhìn vào cận đại

Bước vào thiên niên kỷ thứ XX, đáng kể nhất bắt đầu từ giai đoạn Phú Lang Sa xâm chiếm và đô hộ đất nước. Phật giáo lâm vào thế điêu tàn như vận mệnh non sông; vai trò Tăng sĩ trở nên  lạc lõng và bị đẩy lùi vào sâu trong quá khứ, biến Tăng đoàn trở thành những "Ông thầy chùa làng" với một ít vốn liếng Phật Pháp là hai đường công phu sớm tốI. Tăng đã vậy huống lại là Ni. Lúc này Phật Giáo bị khai thác triệt để những điểm yếu như trình độ kiến thức, xã hội và cả sự vô tổ chức của giáo đoàn (như một Giáo hội Gia Tô). Biến những người xuất gia Tăng lẫn Ni trở thành những kẻ "chán đời" thất tình" hòng giảm nhẹ ảnh hưởng đốI với quần chún, họa hoằn lắm mới có vài trường Hương, trường Kỳ mở ra lẻ loi và buồn thảm. 

Nhận thức được nguy cơ đó, năm 1920 Chư Tôn Đức Khánh Hòa, Khánh Anh Chí Thiền, Huệ Quang, Từ Phong, thiện Dư ... cùng các cư sĩ nhiệt tâm khác, đã dấy lên làn gió chấn hưng Phật giáo khắp ba miền đất nước, làm ngẩn ngơ các thế lực u minh và làm không ít vị Tăng Ni đã phải tự nhìn lại bản thân mình. Đây là một việc làm dõng mãnh, có giá trị tác động nhiều mặt, bởi hơn ai hết chư Tôn Đức chủ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo đã tự đặt nỗI ưu tư của mình vào tiền đồ Phật giáo mai sau, trong niên kỷ mà xã hội và Phật giáo cần phải được nhích lại gần hơn, kể cả hòa tan nhau mới có thể bắt kịp nhu cầu tiến hóa. Nhờ đó các trường Phật Học (thời bấy giờ gọI là Gia Giáo) ra đời, và điều quan trọng hơn hết là các trường Phật học dành riêng cho Ni giới cũng cùng lúc có mặt, như ở chùa Giác Hoa (Bạc Liêu, năm 1927), Phật Học Đường Lưỡng Xuyên (năm 1935- về sau dời về chùa Vĩnh Bụu ở Bến Tre), chùa Diệu Đức (Huế), chùa Bồ Đề , chùa Bút Tháp(miền Bắc), Phật Học Đường Phật Quang (tiền thân là Phật Học Viện Kim Sơn-Huế) ở Trà Ôn v.v... 

Từ các ngôi trường Phật học mang phong cách tiến bộ đó, hàng Ni giới bước đầu đã có điều kiện vươn vai, sánh bước cùng chúng Tăng làm vẻ vang tiền đồ Phật Giáo thời phát triển. Những vị tiên phong đầu tiên của Ni giới thời gian này đã thấy xuất hiện tư tưởng khai phóng như:  

- Bắc Kỳ có Ni Sư Thích Nữ Huệ Tâm, qua các báo Viên Âm (cơ quan truyền bá Phật Pháp của Hội An Nam Phật học Trung Kỳ), báo Đông Pháp, Trung Bắc Tân Văn; đã có những bài viết sâu sắc mang tinh thần chấn hưng Phật giáo, qua đó để tiến tới những hoạt động nhằm đáp ứng kịp thời với thời đại mới; trước hết cổ xuý sự hợp nhất của Phật giáo qua danh xưng Tổng Hội như Hòa Thượng Huệ Quang (Chủ nhiệm tạp chí Duy Tâm Phật Học) đã đề xướng. Qua Ni Sư Huệ Tâm, người được xem là một chân tài xuất sắc nhất thời bấy giờ, Ni giới đã được lưu tâm và luôn là kỳ vọng của chư Tôn Đức lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo thời bấy giờ. Như Ni chúng đã được phôi thai ở xứ Bắc, điều đó nói lên tinh thần hợp nhất là một tất yếu, một khi kiến thức được mở mang không phân biệt tông phái, địa phương. Hơn nữa sở dĩ Ni chúng sớm có được một Huệ Tâm như thế là vì Luật Tỳ Kheo Ni đã có mặt ở đất Bắc, trước Trung và Nam kỳ. Lý do ở Trung và Nam kỳ các vị Ni xuất gia rất ít, lẻ tẻ nên ý thức về một Ni chúng chưa là trọng tâm phát triển. 

- Trung kỳ, ngay từ đầu đã có lớp học Ni tại chùa Từ Đàm do bà cụ Ưng Đàm tổ chức (từ trước năm 1938) sau một khóa hạ phải dời về chùa Diệu Đức. Đảm trách giảng dạy có Ni sư Diệu Hương (Đốc giáo) và bà Cao Xuân Sang ( sau này là Sư Bà Diệu Không). 

- Phan Rang có Ni sư Diệu Hường (đệ tử cụ Khánh Hòa). 

- Nam Kỳ, tuy có khởi nguyên về Ni giới sớm hơn vài năm ( từ năm 1927) nhưng nhìn chung tất cả cũng chỉ mang ý nghĩa cá biệt và có chăng chỉ là nhằm phân biệt giữa Ni chúng và Tăng chúng. Tuy nhiên; việc làm của Ni chúng ở Nam kỳ lúc bấy giờ luôn ẩn chứa hoài bão tích cực, nhắm hướng đến lý tưởng chung nằm trong phong trào chấn hưng Phật giáo . Trong đó, ta có thể kể dến bà Hai Ngo (con ông Cả Trá) có tư tưởng tiến bộ, luôn hộ trì cho Ni giới đã tổ chức trường Gia Giáo đầu tiên dành cho Ni chúng và người được thỉnh làm Chủ giảng là Hoà Thượng Khánh Anh, khì ngài vừa từ Quảng Ngãi mới vô xứ Nam Kỳ. 

Cho lộ trình sự nghiệp hiệp chúng sáng dần. 

Tính chất Nam kỳ tác động không nhỏ vào ý chí tiến tu của quý Ni Sư có tâm huyết,  thiết tha cho sự nghiệp hiệp chúng Ni giới . Điều đó ban đầu được thể nhiện qua kiến thức và khả năng linh hoạt xã hội , bằng phương tiện báo chí . Ngoài ni sư Huệ Tâm ở Bắc Kỳ cho đến giữa thập niên 30 đầu những năm 40, các Ni sư có điều kiện thực hiện điều đó quả thật rất hiếm hoi, đủ nói lên sự an phận, thờ ơ bấy lâu nay trong hàng Ni giới, từ đó không tác động các mặt liên đới . Vì vậy noi theo Ni Sư Huệ Tâm , dù trong tình cảnh hết sức khó khăn, Ni sư Diệu Tịnh (1910-1942) đã đưa vấn đề trở lại với sự thôi thúc thời thế và quyết liệt hơn qua báo chí, nhờ sự giúp đõ ủng hộ của chư Tôn Đức lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo. Mỗi bài viết của Ni sư là mỗi nỗi niềm thao thức và đầy ý thức trách nhiệm, chỉ tựa đề mỗi bài báo cũng đủ nói lên tính chất quyết liệt như " Tiếng chuông một", " Tiến chuông hai". Và khi sự thờ ơ an phận, thủ phận muôn thuở chưa chịu thoái bộ thì lời cảnh báo của một" Tiếng chuông sắp bể " vẫn không lànm nhụt chí. Cảm kích trước nhiệt tâm to lớn đó của Ni sư, tạp chí Từ Bi Âm  số 73 đã có bài viết ca ngợi công lao và không ngần ngại đề tặng bài thơ cũng khẳng khái và khí phách như tâm nguyện Ni sư, trong đó có những câu như sau: 

"Hành vi ngôn luận hãn siêu quần 

vì cớ sao mà hiện nữ nhân 

 trăm kiếp rèn nên gươm trí tuệ 

 một tay tháo sổ cõi phong trần..." 

Cùng thời vớ ni sư Diệu Tịnh, có Ni sư Diệu Tấn(1910-1948)là một người từng ra Trung , Bắc vào Nam với bề dày công hạnh tu hành, đã hun đúc nên chí hướng cao cả đó. Nếu Ni sư Diệu Tịnh là người-theo chúng tôi-chủ trương xây cất Chùa dành riêng cho Ni giới; thì Ni sư Diệu Tấn đã có công rất lớn trong việc thành lập các Ni trường có phong cách tiến bộ của thời cận đại. Lúc nầy số Ni trẻ đã rất đông và trên đó còn là các vị Tôn Túc Ni với năng lực kiến thức đã đủ đầy, các vị thưà hiểu rằng đó là trách nhiệm tương lai mà người cầm chìa khóa khai mở không ai khác hơn là chính các vị . Tóm lại sức lực và kiến thức, kể cả chư Tôn Túc Ni có bản lãnh đã hiện hữu và ngày càng tăng lên theo cấp số nhân. Nhưng! ước nguyện to lớn nhất của Ni giới cho đến lúc này vẫn chưa được thực hiện, đó là một hiệp chúng Ni có lãnh đạo và có tổ chức một khi hàng ngũ ni giới đã phát triển 

Quy Luật Tất Yếu Của Thời Đại

 Năm 1951 tổng hội Phật Gịáo Việt Nam ra đời chấm dứt cảnh mạnh ai nấy tu, Chuà nào nấy quản, tất cả điều trực thuộc tổng hội phật giáo do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm hội chủ. Dưới sự tổ chức đó, giới Ni chúng ngay từ đầu đã có mặt trong hàng ngũ lãnh đạo, nhờ vậy những ước vọng bấy lâu nay đã được từng bước thực hiện. 

 Người còn lại trong số rất ít chư Ni có bản lãnh và kiến thức đương thời, có thể nhận lấy những trách nhiệm hoặc lèo lái tổ chức cho Ni giới, người đó không ai khác hơn là Ni sư Thích Nữ Như Thanh (Diệu Tánh). Ni sư là người đương thời với các Ni sư Diệu Tịnh, Diệu Tấn v.v...còn lại trong giai đoạn phát triển nàỵ Vì vậy Ni sư  gánh phần trách nhiệm nặng nề, thay mặt các Tôn Đức Ni xưa nay với hoài bão thiết tha đó, vai trò ấy bắt đầu được nhận lãnh khi Giáo Hội Tăng Gìa Nam Việt được hình thành 1952 do Hoà Thượng Thiện Hòa làm Trị Sự trưởng. Qua tại liệu ít ỏi chúng tôi có được, chưa đầy đủ để khẳng định dứt khoát . Nhưng qua điều 13,14, chương II của nội quy điều lệ Giáo Hội Tăng Gìa Nam Việt có thể mạnh dạn nói rằng đầu tiên tổ chức ni bộ được hình thành và được Giáo Hội công nhận bằng văn bản tổ chức hẳn hoi . Như vậy lịch sử đã trao tận tay Ni Sư Như Thanh niềm vinh dự to lớn, cũng là hoài Bão của bao thế hệ Ni chúng Việt Nam. Đạt được thành tựu đó vì Ni Sư là người trực tiếp đấu tranh và phấn đấu không mệt mỏi, nên đả trải qua vô vàn chướng duyên, đôi lúc tưởng chừng Ni sư phải ngã gục và tiếp tục sống một cuộc sống tương đồng như lịch sử vốn đã an phận thủ thân. Ngay cả chư Tôn Đức lãnh đạo Giáo Hội trước đó có vị vẫn còn không tin tưởng lắm về khả năng, kiến thức lãnh đạo, dẫu đó là một tổ chức nhỏ và nằm khiêm nhường ngay trong khuôn viên ni tự. Ni sư đã dùng hết khả năng và kiến thức của mình để chư tôn lãnh đạo giáo hội biết rằng khả nănh của tầng lớp Ni chúng thế hệ mới ngoài công tác từ thiện ra, còn có khả năng đạt thành sở nguyện nếu những mặt khác được giáo hội tin tưởng và giao phó. Bởi vì ngay trong giai đoạn đó do nếp nghĩ cổ xưa Giáo Hội chỉ dám giao phó công tác từ thiện xã hội cho Ni bộ đã là một vượt tiến lớn lao, mà hiện hữu chư Ni trong hàng lãnh đạo Giáo hội cũng tương đồng ý nghĩa "tháo khoán" khác xưa. 

Mặt khác ngay trong hàng ngũ Ni chúng, dù bất cứ tông phái nào và xa xôi vạn dặm đến đâu, cũng đều có bóng hình Ni Sư và bàn chân không ngại khó đến nơi thuyết phục, lý giải để tranh thủ sự đồng tình trực tiếp, góp thêm sức mạnh vào lý tưởng hiệp chúng Ni bộ. Điều đó nói lên nét nhạy bén cũng như khả năng nhìn xa thấy rộng của Ni sư, một hình thức tích cực mà trước đó nhiều Ni sư khác quên nghĩ tới và không làm đượcdù rằng qua báo chí, qua uy tín, đức độ các vị đã thể hiện hết tâm huyết của mình. Lý do đơn giản là hầu hết Ni chúng thời bấy giờ vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cũ kỹ, luôn lo sợ bước qua giáo luật, đồng thời tông môn (Bổn sư thọ giới) của Ni chúng hãy vẫn còn là các vị Tăng, như đoạn phân tích lịch sử phần trên chúng ta đã rõ. Cộng vào đó còn rất đông trong số Ni chúng, nhiều vị chưa được thoát nạn mù chữ do hệ quả thời thực dân với chính sách ngu dân còn để lại. Một lớp khác chỉ chuyên tâm dung nạp đơn điệu Hán văn v.v... cho nên tất cả cộng vào là một khối bê tông khá nặng nề, không chỉ bằng kiến thức văn hóa mà một sớm chiều có thể phá vỡ được. Như vậy đủ để thấy rằng công lao của Ni sư đã đổ ra rất lớn để mang về cho tổ chức Giáo hội một sự kết hợp vô cùng lợi lạc mà không vượt qua giới luật, thậm chí ngược lại còn có điều kiện để quản lý Ni chúng về mặt đạo lẫn đời. Duy chỉ có điều đáng tiếc là khi những nổ lực của Ni sư thành công lại ở vào giai đoạn đất nước bị chia đôi bởi hiệp định Geneve 1954, do vậy đã hạn chế phần nào hoài bão. Tuy nhiên ở phần đất còn lại mặc dù chiến tranh loạn ly, Ni sư vẫn hoàn thiện tổ chức Ni bộ rộng đều khắp hết sức tài tình, do hoàn cảnh lịch sử ấy của đất nước, tổ chức Ni bộ phải khiêm nhường bằng danh xưng Ni Bộ Nam Việt. 

 Đạt thành sở nguyện 

 Ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1956 sẽ đi vào khuôn sử tổ chức Phật giáo bằng Đại Hội thành lập Ni Bộ tại chùa Huê Lâm (Cholon), và đó là điểm mốc ngời sáng của Sư trưởng Như Thanh cùng với hàng Ni chúng cả nước sau hàng bao nhiêu thế kỷ trông đợi mỏi mòn. Sự kiện trọng đại đó đã được Hòa Thượng Thích Thiện Hòa, Trị sự trưởng Giáo Hội Tăng Già Nam Việt đã viết những giòng tán thán quý báu cho lịch sử hình thành Ni bộ. "Người ta thường tưởng rằng giới Ni lưu chỉ có khả năng tự tu chứ không có khả năng đảm đương những Phật sự lớn lao làm vẻ vang cho Phật pháp, nhưng trái lại ngày nay người ta đã thấy Ni lưu với ý chí mạnh mẽ, cương quyết đứng ra nhận lãnh một nhiệm vụ cùng với chư Tăng chia sớt gánh nặng, lo đào tạo Ni tài để suy trì gia phong của Từ phụ, thật là một điểm son đáng ghi trên lịch sử Phật Giáo Việt Nam". Cũng như các phần chúng tôi đã phân tích trong bài di-n văn ngày thành lập Ni bộ Hòa Thượng Thiện Hòa đã mạnh mẽ phát biểu "Trên một danh từ giả huy-n Nam Tôn, Nữ Ty có thể làm cho ngăn cản đường lối, chia rẽ rang giới, vậy chúng ta biết đó là do tập tục giả lập, chúng ta cần phải phá vỡ ranh giới, cùng nhau hòa hợp lực lượng sẵn có, cùng nhau đem hết khả năng đặc biệt của mình để tô đắp cho ngôi nhà Chánh pháp ngày càng thêm rạng rỡ".  

Cũng trong ngày ấy, những tiếng nói thiết tha của đại diện mỗI Ni chúng địa phương, đặc biệt là ý kiến của Ni sư Đàm Hương đại diện Ni bộ Trung Việt, đã xô bật được cánh cửa thế kỷ để ánh nắng thời đại tràn vào, để bù đắp lại phần nào bóng đêm phủ tràn làm hao tổn biết bao thế hệ Ni chúng tài ba mà ngày vinh quang này họ đã không còn trên cõi đời nữa. Những ai có nhiệt tâm với tiền đồ chánh pháp sao tránh khỏi chạnh lòng khi Ni sư Đàm Hương viết "Theo sở kiến riêng tôi, bấy lâu nay chúng ta không mấy quan tâm đến sự hộ trì Ánh đạo vàng bằng cách chung lực lượng, kết đoàn thể, gom cả tinh thần hùng hậu với ý niệm thiết tha của toàn thể, để đầy đủ phương tiện tôn nghiêm Ánh đạo vàng cao quý. Sự thờ ơ này làm cho trở ngại con đường tiến thủ mạnh mẽ mà kết quả đem lại cho Ni giới chúng ta hao mất những nguồn công đức tốt đẹp. Trên hai mươi năm nay, chúng tôi cũng như quý vị hằng ao ước chấm dứt tình trạng dở dang ấy, từng ấp ủ tâm niệm đoàn kết trong công cuộc xây dựng tương lai Ni giới. Giờ đây, có lẽ là ngày bắt đầu thực hiện ước vọng này ......" Các đại diện Ni chúng các tỉnh thành miền Nam cũng chung cùng những bộc bạch thiết tha đó mới hay ra công lao Sư trưởng Như Thanh quả đã là to lớn khi đáp ứng đúng nguyện vọng của hầu hết chư Ni khắp nơi. 

 Danh đã chánh, ngôn đã thuận giờ đây Sư trưởng Như Thanh lại phải tiếp tục trực tiếp đương đầu với nhiều thử thách mới không kém phần khó khăn đang chờ phía trước. Trong phần phát biểu của mình, Sư trưởng cho chúng ta thấy lý tưởng hợp nhất Ni bộ không chỉ là một ý nghĩ đơn thuần và dừng lại ở điều hoàn mãn ban đầu như sau "Ngày nay Ni giới đứng trước tân trào bồng bột, với những ý niệm của nhu cầu quần chúng, nhiêm vụ của ban quản trị chánh thức là: thay mặt và hướng dẫn bao nhiêu tâm hồn vị đạo của Ni giới, bước lên giai đoạn tiến hóa kịp trào lưu đủ duyên lành ứng phó ngoại cảnh. Đang buối giao thời, tất cả hai vấn đề đối nội, đối ngoại đều thắc mắc nan giải, trên bước đầu tiên của người lãnh đạo..." Với tâm tư một người lãnh đạo Ni bộ, sư trưởng cũng đã thể hiện niềm tiếc nuối quá khứ và đặt trọng tâm lo lắng cho thế hệ tương lai " Từ lâu Ni chúng là một nhóm ít ai quan tâm đến; mặc dù có đôi vị hữu tài hữu chí, tự cố gắng làm nhiệm vụ caoquý của một người Ni thì cũng được một số người trong các giới đạo đức tán thành. Ngoài ra, xã hội phần đông vẫn cho Ni chúng là một nhóm người không quan trọng đối với quần chúng hiện tại. Vì thành kiến không công bình như thế , nên Ni chúng phải bị ảnh hưởng không tốt, chìm vào trong bóng tối của nhân gian từ lâu ..." Với Chư Tôn đức lãnh đạo Giáo hội, Sư trưởng cũng bày tỏ nỗi lòng thiết tha của nI chúng khi mang gói hành trang nặng nề trách nhiệm bước vào tương lai: " .... Chúng tôi vẫn mong sao sự sáng suốt của quý Ngài soi xét tới nỗI lòng thắc mắc của chúng tôi mà thật dạ đỡ nâng, đủ lời khuyến mi-n cho chúng tôi hân hoan đạt đến trên con đường chân lý sâu xa vô tận trong cảnh giới Phật pháp vô biên." 

 Nhìn qua nội dung của bản Nội Quy Ni Chúng Bộ với 26 điều, 9 khoản mục, chúng ta sẽ thấy trong đó đầy đủ những tôn chỉ, mục đích của tổ chức lịch sử này. Tuy mang tầm vóc thời đại mà vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống Phật giáo nhiều mặt và không vượt quá công hạnh của một Ni chúng có giáo luật. Xin lược qua vài điều mục đáng lưu ý sau:  

Điều thứ 4, khoản: Phải chỉnh đốn và dung nhất về chùa, tháp, thờ tự, nghi l- và phẩm phục. Không được ở những nơi phụng thờ không phải Phật giáo như: am, miếu, đền , phủ .v.v... Sự tu hành, tuyệt đối không được có tính cách lập dị, hoặc chúng và tuỳ thuận phá Tăng luân. 

Là  một người Phật tử cùng lăn lộn xả thân từ thời tuối trẻ, phục vụ chánh pháp chúng tôi hiểu và cảm nhận được ý nghĩa điều lệ trích dẫn trên tưởng chừng là chẳng có gì quan trọng ấy, đó chính là nỗi đau không nhỏ, không chỉ là di chứng thời Phật giáo bị biến thoái mà ngay cả hiện nay, thời điểm thực hiên bài viết nàyvẫn còn nhan nhản đó đây những hình ảnh lố bịch, góp phần bôi đen tinh tuý Phật đạo. Mới hay ra nỗI lòng Sư trưởng và chư Ni sư lãnh đạo Ni bộ không vì chức danh suông và quyền lực mà là trách nhiệm trước lịch sử. Trách nhiệm đó được nêu bật nơi điều thứ 2 với 4 điểm cụ thể của tổ chúc Ni bộ là: 

1. Đoàn kết và chấn chỉnh Ni chúng đúng theo kỷ luật và giới pháp của nhà Phật. 

2. Nâng cao trình độ văn hóa của Ni chúng cho kịp với trào lưu tiến hóa của xã hộị 

3. Thực hành những công cuộc từ thiện xã hội để biểu dương tinh thần từ bi của Phật giáo. 

4. Thống nhất tất cả các lực lượng của Ni chúng để tiến đến thực hiên chế độ lục hòa của Giáo Hội Tăng Già. 

Phật giáo đã đi vào công cuộc chỉnh đốn toàn diên nhờ làn gió chấn hưng thúc giục, việc có mặt tổ chức Ni bộ đâu tiên như tăng thêm nguồn phúc lạc được nương thừa từ bao thế kỷ qua. Ni bộ càng phát triển, hình ảnh Sư Trưởng Như Thanh càng thêm rạng rỡ và là cột trụ vững chắc để Giáo Hội giao phó trọng trách. Với Ni chúng khắp nơi, uy đức ấy đã là chỗ dựa đầy hạnh lực tự hàọ Giáo Hội giao Chùa Dược Sư ở đường Lê Quang Định (Gò Vấp) cho Sư Trưởng dùng làm trụ sở Ni bộ, ngay khi vừa được kiện toàn tổ chức, đã nói lên sự thành công to lớn bởi nhiều nỗ lực của chính Sư Trưởng. Ni bộ phát triển như sức mạnh không gì ngăn cản nối, tác động cả đến cơ ngơi vật chất và chùa Dược Sư trở nên nhỏ bé so với tầm vóc hoạt động Ni bộ. Do đó, bằng uy đức của mình, Sư trưỏng mạnh dạn thành lập Ban Kiến Lập nhằm sớm có trụ sở mới tương đối hơn so với yêu cầu Phật sự lúc bấy giờ. Và ngôi Chùa Từ Nghiêm (Q.10) đã hình thành năm 1962 trở nên Tổ đình riêng của Ni bộ, Xứng đáng lưu ý thêm là nơi nào Sư Trưởng kiến lập hoặc phó chúc dựng xây các cơ sở vật chất dù là Chùa, tự viện, hoặc các cơ ngơi tương đối hợp yêu cầu v.v... thì hầu hết những nơi đó đều có Ni Trường, Phật học viện. Buốigiao thời nhận lãnh trách nhiệm, chứng tỏ Sư trưởng đã thành công nhiều mặt và dồn dập thêm các mặt Phật sự trước mắt còn dở dang. 

Với một tâm nguyện tha thiết vì Đạo, vì tương lai Phật giáo dài lâu, trong đó có gần nửa là hàng ngũ Ni chúng. Sư trưởng luôn thể hiện tinh thần tiên phong cao độ, tác động với thế lực u minh vẫn không chùn bước. Một mẫu người như thế, các mặt thể nhập xã hội vẫn là ý chí tích cực của Sư Trưởng. Dưới sự lãnh đạo của Sư trưởng năm 1963, lúc chánh quyền  Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo, hình thức đấu tranh của Ni bộ cũng được mang màu sắc riêng biệt, điều tưởng chừng tương phản, nhưng Sư Trưởng đã thể hiện được bản lãnh của mÌnh rất xuất sắc trước các thế lực, thậm chí ngay cả đến chư Tôn lãnh đạo phong trào đấu tranh lúc bấy giờ (Nhừng vị vì qúa đau xót trước vấn nạn thế kỷ của Phật Giáo, có vị đã nóng vội, muốn tất cả đấu tranh theo phương cách của họ mà quên rằng giới hạn nhiều mặt của Ni chúng sẽ là tác hại khôn lường nếu chỉ làm theo ý họ. Ngay cả vấn đề tế nhị của sự va chạm cũng đủ khiến Sư Trưởng vì giáo luật, vì thanh danh chư Tôn Đức lãnh đạo phong trào đấu tranh và vì nhiều ảnh hưởng tác động khác, đã phải cho phương thức đấu tranh riêng cho Ni bộ) mà vẩn không thẹn mặt cùng lịch sử Phật giáo qua giai đoạn dầu sôi lửa bỏng nàỵ Đọc lại lic.h sử đấu tranh của Phật giáo năm 1963, sẽ không khó khăn lắm để chúng ta thấy được rất nhiều gương sáng xả thân vì Đạo pháp, kể cả máu xương của NI giới.Đến đây người ta thấy thêm ở Sư trưởng ngoài tinh thần kiến thức thâm đạt, còn có cả ý chí sáng suốt mong sao đừng xúc xiểm và đánh bạt giới luật, oai nghi Ni giới mà ở nội quy Ni bộ luôn đặt để hàng đầu - nghĩa rộng qua đó là một bàn tay bao la, luôn muốn được che chở, bao bọc cho Ni chúng khắp nơi. Các thế lực chống đối Sư Trưởng trong quá trình phấn đấu hoài bão có được một tổ chức Ni bộ trước kia, luôn tìm cách, kể cả dẫn dụ giáo giới hòng đánh bạt được tâm nguyện đó. Nay nhân sự kiện đấu tranh này lại tỏ ra ngỡ ngàng và không tiếc lời thán phục tài lãnh đạo của Sư Trưởng. Tuy nhiên, các thế lực chống đối mới, lại bắt đầu manh nha, báo hiệu một vi-n cảnh không mấy thuận lợi cho Sư trưởng. Sự trong sáng rằng ước nguyện đã thành tựu, tổ chức Ni bộ đã trụ vững, còn lại các mặt thế lực, chức vụ với Sư trưởng là điều huy-n giả. Tinh thần đó khiến uy đức Sư Trưởng  càng được thêm kính trọng và thêm một lần nữa những thế lực chống đối xưa kia lại có dịp suy gẫm về sư quá lời của mình. 

Con đường tiến của Ni bộ

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được hình thành, một tổ chức hoàn hảo của Phật Giáo trước thời đại. Ni bộ được khoác lên mình chiếc áo mới, với trách nhiệm mới năng nề hơn qua danh xưng Ni Bộ Tông Vụ một trong năm vụ của tổng vụ  Tăng sự, có tầm hoạt động thêm rộng, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Như vậy, Chư Tôn Đức Ni Bộ Bắc Tông một lần nữa minh xác tính tất yếu mà sư trưởng cùng chư Ni tiền bối từng khổ nhọc vận động, đấu tranh mới có được. Vì vậy chúng ta hy vọng rằng Ni bộ sẽ luôn là một tổ chức cần thiết ở mọi thời kỳ giúp lợi ích không nhỏ và chia sớt trách nhiệm của chư Tăng trong cộng đồng Giáo Hội . 

Trong tổ chức Ni Bộ Bắc Tông Sư trưởng luôn giữ mình đúng khuôn phép, khiêm cung trước chư Ni lớn tuối nhiều đạo hạnh và hòa ái đùm bọc, chở che với chư Ni thế hệ đời sau, dù ở chức vụ nào Sư trưởng vẫn luôn mãn nguyện và sự kế thừa cũng là điều tự hào to lớn cho Ni bộ, Giáo hội và ngay với bản thân Sư trưởng. 

Có thể nói, Ni Bộ Bắc Tông là hình ảnh của Sư Trưởng, vì sư trưởng thừa hưởng chí nguyện chư Ni sư tiền bối, sư trưởng viết về các vị đó, lo lắng cho Ni bộ hình thành và phát triển cũng vì có bóng hình các vị. Nhưng rồi mai sau liệu hình bóng Sư Trưởng có mờ dần và ai sẽ là người viết cho Sư trưởng lịch sử. Vâng lịch sử vẫn luôn khắc ngiệt với thế lực đen tối nhưng lịch  sử vẩn còn là chuyện của ngày mai, hiện tại còn ngổn ngang bao nối niềm trăn trở và sẽ là một nỗi buồn to lớn nhất trong lòng Sư Trưởng là; liệu rồi Ni bộ Bắc Tông có còn hiện hữu! Ni bộ mất cũng đồng nghĩa mất cả Sư Trưởng, mất hết bao công ơn chư Ni Sư tiền bối khác nữa, trong khi lịch sử chỉ là những con chữ lạnh lùng để Ni bộ tồn tại trên trang giấy mà thôi. Sư trưởng có mặt với Ni Bộ từ khi còn trong trứng nước và với những lúc thăng trầm theo vận mệnh non sông. Điều này chứng tỏ bằng sự việc năm 1972, Sư trưởng lại được trở lại cương vị Ni Trưởng Ni Bộ Bắc Tông, giữa lúc chiến sự ngửa nghiêng, nhân tình thế thái, thế mà Người vẫn nhiệt tâm như thuở còn đi tranh thủ từng chữ ký, có cả nài nỉ, ỷ ôi để tranh thủ sự đồng tình cho tổ chức Ni bộ sớm hình thành. Sư trưởng đã triệu tập Đại hội Ni Bộ bắc tông vào tháng 12 năm 1972. Qua đó mục đích vẫn nói lên chí hướng thiết tha là củng cố tinh thần đoàn kết trong Ni giới, kiểm điểm công tác Phật sự từ thiện đã qua, chỉnh đốn và phát triển các tổ chức Phật sự Ni bộ. 

©! Áo hậu màu khói hương, y vàng sáng diệu, những gam màu đó bây giờ trong tôi lại càng đẹp thêm. Ai là người giúp tôi cảm nhận được màu sắc hài hòa ấy, để đến quá nửa đời người tôi vẫn còn mãi mãi mang theo trong tâm tư với cả sự kính trọng thiết tha . 

Mai sau dù có bao giờ, Hãy trở lại vấn đề muôn thuở 

 Nếu như xưa kia, khi đồng ý cho bà Di Mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm) cùng năm trăm người nữ xuất gia, để giáo đoàn có được thêm hàng Ni giới, đứng sau lưng hàng Tăng lữ, Đức Thế Tôn đã phải tuyên báo như một sự hoán đối rằng Chánh pháp vì vậy sẽ diệt vong sớm trước năm trăm năm. Ai biết được thời gian Chánh pháp được tồn tại là bao lâu, tính từ thời điểm nào đê làm bài toán trừ năm trăm năm đó, ngoài ba thời kỳ Tượng pháp, Hưng pháp và Mạt pháp đã được khắc họa, để rồi chúng sanh không khỏi nghĩ về một đức Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật như là một vị thiên sứ được cử xuống trần gianlàm công việc cứu rỗi! Vì vậy, bằng phương pháp Vị Tằng Hữu Đức Thế Tôn luôn muốn chúng ta nhìn sự việc bằng tâm thức để đạt đến giá trị chân như đó, chứ không bằng nhãn quang của một lối Biến kế sở chấp trần ai để lý giải. Vâng! Năm trăm năm sớm diệt vong kia là một điều có thật trên cơ sở nghiệp dĩ một người nữ ở thế gian này, mà đó đây rãi đều trong các thời thuyết pháp ròng rã 49 năm trời Đức Thế Tôn thường nhắc đến. Thì nay, nếu như tất cả người con Phật có tâm huyết, đầy đủ bản lãnh cả về mặt trí thức lẫn đạo hạnh, thực thi được những điều có ý nghĩa ý thức trách nhiệm như Sư trưởng Như Thanh, thì việc đối lấy năm trăm năm đáng buồn ấy sẽ là sự đền bù xứng đáng. Nói một cách khác, việc làm đó là những cố gắng trên thân phận nghiệp dĩ của mình để lợi lạc thiền lâm, củng cố Ni chúng hữu ích quần sanh, trước khi năm trăm kia đến không còn tự ti mặc cảm và hối hận. Còn lại chăng người viết bài này vẫn nghĩ rằng, từ con số năm trăm bất khả tư nghì đó hoặc là của tư tưởng Đại Thừa Vô lượng nghĩa, làm liên tưởng đến con số một ngàn năm Bắc thuộc, một trăm năm Phú Lang Sa đô hộ... Hơn nữa thời gian trong các con số đó cũng là thời gian Phật đạo lận đận, thậm chí mất hẳn theo dòng chiến chinh loạn ly điêu tàn, há chẳng phải là những thời kỳ Phật giáo đứng bên bờ vực mạt pháp ấy sao! Từ đó, suy theo dạng rộng phạm trù Tượng pháp, Hưng pháp và Mạt pháp nó nằm ngay trong thuận duyên, nghịch duyên ở mỗI quốc độ có bánh xe pháp lăn đến. Vì vậy ở nơi này đang Hưng pháp, nhưng ở nơi khác lại đang tượng pháp hoặc mạt pháp. Do đó mà mọi sự cố gắng tô chức, xây dựng nhằm trùng tuyên Chánh pháp ở vào giai đoạn nào của bất kỳ ai vẫn luôn là điều cao đẹp, đáng tuyên dương khâm phục. Huống lại đây là hàng Ni giới, điều đó càng tăng thêm giá trị cao đẹp đó. 

 Vâng, những điều đó Sư trưởng Như Thanh không nói, nhưng lịch sử Phật Giáo Việt Nam sẽ nói thay những điều đó, vì tất cả những gì Sư trưởng làm hiện đã đi vào sử sách cho khối Ni Bộ Bắc Tông. Chúng tôi là cư sĩ Phật tử, có lẽ nói lên những điều này cũng chỉ với tham vọng nhằm phần nào đóng góp chút ít tư liệu cho tập sách này và mong cũng sẽ được chư Tôn Đức, quý độc giả gần xa hoan hỷ. Và như vậy, nếu không vì kiến thức nhỏ hẹp chưa có đầy đủ sử liệu về một người nữ tu Phật Giáo Việt Nam nào khác, đầy đủ bản lãnh đức độ điều hành có tổ chức một Ni bộ; thì xin mạo muội kết luận một lời khiêm nhường rằng Sư trưởng Như Thanh là một người trong rất ít người đã làm được những điều to lớn ấy trong lịch sử phát triển của Phật Giáo Việt Nam. 

 

--- o0o ---

Vi tính : Nguyên Khai
Cập nhật ngày: 01-11-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang PG & Nữ Giới

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com