Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Mật Tông


...... ... .

 

MẬT TẠNG

PHẬT GIÁO VIỆT NAM

TẬP II

Ban phiên dịch:

Thích Viên Đức, Thích Thiền Tâm

Thích Quảng Trí, Thích Thông Đức

Cư sĩ Huỳnh Thanh, Như Pháp Quân

---o0o---

MẬT TẠNG VIỆT NAM SỐ 46

THIÊN CHUYỂN ĐÀ LA NI

BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM CHÚ

 

Mật Tạng Bộ 3  No.1035 ( Tr.17- Tr.18 )

 

Nước Đại Đường, Chùa Tổng Trì, Sa Môn Trí Thông dịch Phạn ra Hán văn.

Việt dịch : Huyền Thanh

        

         Nạp mộ hạt la đá ná đát la gia dạ (1) Ná ma a lị gia phạt lô chỉ đế thước phiệt la dạ (2) Bồ đề tát đá bà dạ (3) Mạc ha tát đá bà da (4) Mạc ha ca lỗ nễ ca dạ (5) Đá điệt tha (6) Xà duệ, xà duệ (7) Xà dạ bà ê nễ (8) Xà dụ đá lị (9) Ca la, ca la (10) Ma la, ma la (11) Giả la, giả la (12) Ỷ noa, ỷ noa (13) Tát la bàn yết la ma phạt la noa nễ mễ (14) Bạc già phạt đế sa ha tát la bạc yết đê (15) Tát la bàn bồ đà phạt lô chỉ đế (16) Giả sô (17) Thầu lỗ đát la (18) Yết la noa (19) Thị ha bàn (20) Ca dạ (21- Thân) Mạt noa (22- Tâm) Tỳ thâu đạt nễ (23) Tổ la, tổ la (24) Bát la tổ la, bát la tổ la (2 ) Tát la bàn bồ đà, a đề sắt hy đê, sa bà ha (26) Đạt la ma đà đổ yết la bệ, sa bà ha (2 ) A bà bàn (28) Sa bàn, sa bàn (29) Đạt la ma bàn (30) Bồ đà ni duệ (31) sa bà ha (32).

         Ấn Thiên Chuyển và Tâm Ấn Quán Thế Âm giống nhau (Chỉ có phần chân không giống ) Ngón trỏ cách bốn ngón, cài ngược hướng vào bên trong cùng đè áp nhau, co ngón cái trái vào trong ngón trỏ, duỗi thẳng ngón cái phải hướng vào bên trong đừng để cong quẹo, hai cổ tay cùng hợp nhau, hai bàn chân làm thành chữ Đinh, đứng thẳng chân phải, cong gối trái ra ngoài, co thân nỗ khóa. Lại hướng về bên trái, đem Tâm Ấn về phía trước vú phải, đừng cho chạm vú, mặt làm dung mạo cười tươi hướng về bên phải ( Tay Ấn và Tâm Ấn Quán Thế Âm  giống nhau, chỉ có thân cước pháp dùng khác ). Vào mỗi ngày 15 trong tháng, tắm rửa, ở tịnh thất, tay kết Tâm Ấn, tụng Chú sẽ diệt được bốn tội nặng và năm tội nghịch ( Ấn này xuất từ nhà Sư  A Địa Đa Chất Đa ).

         Thiên Chuyển ( Ngàn Chuyển ) nói rằng : “Vừa tụng Chú này xong thì nghiệp ác bị tiêu diệt, đến bảy biến thì diệt tội Ngũ Nghịch. Nếu mãn mười biến xong, thì không tội gì không diệt được. Mười vạn biến sẽ nhìn thấy Đức Quán Âm với mọi thứ trang nghiêm. Trong bảy ngày, lúc mới tác Pháp chỉ được ăn sữa, mè, tô, lạc, bánh bột nếp trắng, cơm gạo chứ chẳng được ăn nước tương, muối, rau. Ngày cuối cùng đừng ăn. Trong đêm của ngày 15 phải để bụng trống không, ở trước Tượng Phật, tụng Chú đều đặn không có định số, sẽ thấy Tượng lay động, xướng ra âm thanh “Lành Thay !” và phóng ra ánh hào quang sáng chói. Lại đem trân châu, vật báu đặt lên trên đỉnh đầu của Chú Sư, liền biết thành tựu. Khi thấy Đức Quán Thế Âm rồi, sẽ được tất cả Nguyện lành ( Thiện Nguyện ) .

         Lại trong lúc nằm ngủ, mộng thấy Đức Quán Âm với các thứ trang nghiêm, thì thành tựu tất cả việc lành, tiêu diệt tất cả nghiệp ác, truyền thẳng đến người đọc tụng cũng được diệt tội.

         Khi muốn đi Đông Tây, trước tiên Chú vào bàn tay bảy biến, rồi lau xoa trên mặt, thì mọi nơi đi đến không có tai hoạnh ( Tai nạn bất ngờ hay do người vật  ỷ thế làm ngang ). Nếu hay thanh tịnh như Pháp, thường tụng niệm chẳng cho gián đoạn, liền đắc  được Địa thứ nhất. Nếu có người Nữ hay trì tụng Chú này thì đời sau chuyển thành Nam tử, quyết chẳng thọ lại thân nữ  nữa.

         Trước tiên làm Đàn, đặt bày cúng dường đủ rồi, sau đó mới tụng Chú. Đàn đó có bốn mặt đều dài 16 khuỷu tay, bốn lớp làm đúng khuôn phép. Tướng của Viện là: Bên ngoài màu trắng, bên trong bốn màu đều một lớp giống như thế của bức vách, tức là tám lớp vậy. Hợp màu sắc năm phương, mở cửa bốn mặt tương đương với Đông, Tây, Nam, Bắc. Một trùng chánh giữa chẳng nên mở cửa. Tám cái lọ đất lớn ( Ngõa quán ), bốn cái Áng Tử chứa đầy nước, rồi đem cành cây với với cây Bách bỏ vào trong lọ áng chứa đầy nước ấy. Làm bánh bột gạo nếp màu trắng, sữa, lạc, tô, mật, hương, quả trái… cúng dường. Thắp 16 cây đèn, bên ngoài bốn cửa đều đặt 16 cây tre nhỏ chưa từng dùng qua, treo chỉ lụa Ngũ Sắc ở trên cây tre ấy. Lại,  lấy bốn cành cây Khư Đà La ( Cây Tử Đàn ), trong ấy hai cành dài năm ngón tay, hai cành dài sáu ngón tay, đính ở bốn góc của Đàn. Rải mọi thứ hoa: Thời hoa, phi thời hoa ở trên Đàn. Lại lấy cây Phả Gia ( tức cây Câu Vô Tử nhỏ ) gồm 1080 cây, đều dài một tấc. Hoặc dùng một cái bát bằng đồng , hòa tô sữa , bôi lên cành cây này, chú một cành một biến rồi ném liền vào trong lửa. Khi không có cây Khư Đà La thì thay bằng cây Táo đỏ cũng được. Nên vẽ một bức tượng Thánh Quán Thế Âm màu trắng, tùy theo khả năng mà làm lớn hay nhỏ.

         Lại trước tiên, niệm Pháp là : Nghiệp chướng tích chứa trong ngàn kiếp, chỉ một thời tụng niệm thảy đều diệt hết, được chứa nhóm căn lành của ngàn Đức Phật, được lìa thoát bến bờ sanh, lão, bệnh, tử trong ngàn kiếp lưu chuyển. Khi bỏ thân này, liền thấy một ngàn vị Chuyển Luân Thánh Vương, hằng giữ gìn mười điều lành (Thập Thiện)”.

         Nếu muốn sanh về Tịnh Thổ của chư Phật, thì ngày đêm ba thời tụng 21 biến. Mãn 21 ngày, sẽ được như ý muốn. Liền ở trong mộng hoặc thấy hình tượng màu vàng ròng của Đức Phật với hình tượng Bồ Tát (Đây là tướng đầu tiên để biết sẽ sanh vào Tịnh Thổ ).

         Trong phần trên thì câu Chú và công năng đều do Thầy Trí Thông của chùa Tổng Trì phiên dịch từ bản Phạn ra, còn Ấn Pháp thì do Thầy Quật Đa dịch thích.

         Bản khác ghi là: Về Pháp Thọ Trì. Lấy năm cân Đột Bà Hương với cây non gồm một ngàn cái, cây dài một tấc tẩm với Tô rồi chú một ngàn biến. Đến lúc muốn đốt, thì dùng Tô bôi lên cọng cây với hương, đều chú một biến rồi thiêu đốt. Vào ngày sáu tháng năm , lấy phân trâu mới, phơi ở chỗ râm mát, hòa với nước hương Đột Bà làm bùn, tạo thân của Đàn Trường, tròn hai khuỷu tay để làm Trường. Trên Trường, đặt mọi thứ hoa hương . Vào tháng mùa Đông, không có hoa thì khắc hoa mà đặt bày, đốt Huân Lục Hương để cúng dường. Chú Sư ngồi hướng mặt về phương Đông, tụng đủ một ngàn biến thì Pháp thành.

         Lúc chưa Chú, dùng Pháp này chú vào nước 21 biến hoặc 7 biến rồi đem uống. Chú vào nước để giải sự ô nhiễm nơi Đạo Trường, Phật Đường và rửa thân.

         Chú vào nhành dương liễu để trị bệnh. Chú vào nước để trị bệnh cũng được. Tất cả đều chú 21 biến. Nếu có thể một đời hàng ngày ba thời riêng biệt, mỗi thời tụng riêng 21 biến thì diệt tội chẳng thể nghĩ bàn, thông tất cả dụng.

 

 

19/04/1996


 

 KINH THIÊN CHUYỂN ĐÀ LA NI

 

Mật Tạng Bộ 3  No.1036 ( Tr.18 - Tr.19 )

 

Tây Thiên dịch Kinh, Tam Tạng Triều Tán Đại Phu Thí Hồng Lô Thiếu Khanh, Truyền Pháp Đại Sư Thi Hộ phụng chiếu dịch Phạn ra Hán văn.

                     Việt dịch : Huyền  Thanh

 

         Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ngự dưới cây Bà Lợi Chất Đa trong Trời Đao Lợi. Bấy giờ, Thiên Chủ Đế Thích cùng với tất cả Người Trời, quân chúng trước sau vây quanh đi đến chỗ Phật ngự, mỗi mỗi chí thành chắp tay quy y, chiêm ngưỡng Đức Như Lai, rồi an trụ theo thứ tự .

         Khi ấy Thiên Chủ Đế Thích đến trước mặt Đức Phật, bạch rằng : “Bạch Thế Tôn ! Con có Đà La Ni tên là Thiên Chuyển Đại Minh. Đà La Ni này ở nơi Thế Gian làm lợi ích lớn. Bao nhiêu hàng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Ngạ Quỷ, Cưu Bàn Trà, cho đến Nhân, Phi Nhân… nghe được Đà La Ni này thảy đều quy phục. Đối với chúng sanh, có bao nhiêu việc chẳng nhiêu ích thảy đều trừ hết. Nguyện xin Đức Thế Tôn Đại Từ Đại Bi cho phép con được tuyên nói”.

         Đức Phật bảo Thiên Chủ rằng: “Lành thay! Lành thay! Như ông đã nói Đà La Ni Đại Thiên Chuyển Đại Minh ấy hay ở thế gian làm nhiều việc nhiêu ích lớn. Nếu ông muốn nói, Ta sẽ tùy theo ý của ông”.

         Bấy giờ, Thiên Chủ Đế Thích liền nói Đà La Ni Thiên Chuyển Đại Minh là :

         - Đát nễ dã tha: Nẵng tứ đát tả bà  đế  Bà nga phạ đổ  Tam dã thể nan dã quá đổ.

         Tất cả Bộ Đa nghe nói Chú này đều kinh sợ, mê muội, điên cuồng, chạy lui tứ tán. Bảo Hiền Dạ Xoa Chủ với nhóm Luân Thành Tựu hiện ra mọi sắc tướng khiến cho các Bộ Đa, các nhóm Quỷ Thần với hàng Du Phương Không Hành ( Dạo mọi nơi trên hư không ) Khởi Thi ( Quỷ nhập vào xác chết đứng dậy đi ) Ngược tật ( Quỷ gây bệnh sốt rét ), các nhóm Quỷ Thần ác cho đến tất cả Tà Pháp căn bản, Hành Độc não hại chúng sinh, các việc chẳng nhiêu ích thảy đều được giải thoát.

         - A nẵng bát đế Ô bá nẵng bát đế Áng nga thương ca lị Nghị-lị hận-noa, sa-phạ ha. Nẵng mô bột đà dã Nẵng mô đạt lị-ma dã Nẵng mô tăng già dã. Nẵng mô a lị-dã phạ lộ chỉ đế thấp-phạ la dả  Mạo địa tát đỏa dã  Ma ha tát đỏa dã Ma ha ca lỗ ni ca dã. Nẵng mô a lị-dã ma ha tát sai ma ba-la bát-đa dã Đát nễ-dã tha : Mục ngật-đế, vĩ mục ngật-đế Tỵ na nễ, vĩ tỵ na nễ Nễ ly-ma lệ Vĩ ma lệ Tô mục khế, vĩ mục khế Tao nga lệ, tô tao nga lệ .

         Giải thoát tất cả sự sợ hãi về vua chúa. Giải thoát tất cả sự sợ hãi về Tinh Tú biến quái. Giải thoát tất cả sự sợ hãi về cuộc chiến đấu của quân mình và quân địch ( Tự tha quân chúng chiến đấu ) . Giải thoát tất cả sự sợ hãi về binh trượng. Giải thoát tất cả sự sợ hãi về : nước cuốn trôi, lửa thiêu đốt. Giải thoát tất cả sự sợ hãi về bệnh ác khổ não. Giải thoát tất cả sự sợ hãi về mọi thứ độc ác gây tổn hại như sư tử, voi, bi ( loài gấu lớn ), cọp, tất cả loài thú ác, khi lặn sâu trong biển lớn, hoặc một mình nơi núi cao, cho đến các nạn bên bờ nước. Các sự sợ hãi như vậy thảy đều được giái thoát.

         - Nẵng mô sa ngật-lị Thương ca trí, thương ca trí  ca lỗ trí, ca lỗ trí nễ duệ  Sa-phạ haï.

         Lúc vào cung Vua hoặc gặp các Đại Thần, trong khi hành quân gặp sự oán đối. Khi gặp rắn độc, rồng độc hay lúc gặp Dạ Xoa, Tỳ Xá Già, La Sát , Ô bát la-ma la.. gây ra điều si mị, cho đến lúc gặp hiểm nạn ở trong núi, biển. Tất cả sự sợ hãi như vậy thảy đều giải thoát.

         - Nẵng mô Đát-la bị bà phạ thất-la dã bị  Tứ lệ, tứ lệ  Tức lệ, tức lệ  Ca bá lệ  Ma đặng nghê, sa-phạ haï.

         Lại nữa, nếu bị phép Vua giam giữ hoặc thân bị giam trong lao ngục, bị gông cùm xiềng xích, tất cả hoạnh họa, buồn khổ bức thiết …thảy đều được giải thoát.

         - Nẵng mô Đa lị, đa lị  Ô đá lị  Đổ lị, sa phạ hạ.

         Lại nữa, nếu bị Tinh Tú chiếu hạn hoặc mộng ác biến quái khiến bị các bệnh khổ, Thiên hoạnh ( tai nạn do thiên nhiên gây ra ) có thể bị chết, cho đến đấu tranh luận lý cùng nhau khủng bách ( lo sợ áp bức ) … Các sự sợ hãi như vậy thảy đều được giải thoát.

         - Nẵng mô tả la tả la  Sa la, sa la Vĩ sa la, vĩ sa la Một-đà dã, một-đà dã Mạo đà dã di để, sa-phạ hạ. Lạc khất-xoa, lạc khất-xoa, hàm. Tát lị-phạ tát đát-phạ nẫm tả, sa-phạ hạ. A lị-dã thất-li  mãn lị-đà lãm  Bố sắt-trí câu lỗ, sa-phạ hạ. Ma ma bố-lị phạ la mãn lị-đà nẫm  Phiến để-dựng câu la, sa-phạ ha. Nẵng mô hạ đế nễ hạ đế Tát lị-phạ nỗ sắt-xiêm bát-la để-dựng nhạ nễ Mộ ha nễ, mộ khất-xoa ni, sa-phạ hạ. Nẵng mô ca trí nễ trí ca tra trí, sa-phạ ha. Nẵng mô a la ni phạ la ni Tát lị-phạ nệ lị-phạ la ni, sa-phạ hạ.

         Lại nữa, tất cả người ác làm việc chẳng lành, trì cấm chú tà, tác các thứ yểm đảo, khiến cho chúng sanh bị mê cuồng khờ dại. Các việc của loại như vậy thảy đều được giải thoát.

         - Lỗ lỗ kế  Lị lỗ kế  Đế sắt-xá mãn đà dạ nhĩ  Dạ phạ nga-phạ thiết  Vĩ mộng thệ để  Tứ lệ, tức lệ  Ca bá lệ  Ca sắt-chiêm nga tát lị-phạ đá  tát lị-phạ  bà duệ tỳ-dược, sa-phạ hạ.

         Bạch Thế Tôn! Thiên Chuyển Đại Minh này của con ví như vị Chuyển Luân Thánh Vương có báu Ma Ni tên là Như Ý. Phàm các điều mong muốn, tự nhiên hiện trước mặt. Thiên Chuyển Đại Minh này của con cũng lại như vậy, nếu có kẻ đắc được thì đều giải thoát các khổ não.

         Đức Thế Tôn ! Vào thời Mạt Pháp, chúng sanh kém phước chẳng biết quy y Tam Bảo, cứ để thân nuông chiều tâm, thường tạo các lỗi lầm ác. Chính vì thế cho nên các loài Quỷ Thần ác ở thế gian được dịp thuận tiện, ẩn dấu hình chất của mình, giả trá biến hiện ở trong ngày đêm, não hại chúng sanh khiến bị mọi thứ khổ não.

         Đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh gặp mọi thứ não loạn của loài Quỷ ác gây khổ não, cho đến tất cả những việc chẳng có thể suy nghĩ được trong thế gian, thì nên ở đất thanh tịnh, lấy bảy nắm đất, mỗi một nắm đọc tụng Đại Minh này gia trì bảy biến, hòa làm bảy viên  buộc ở góc áo sẽ khiến cho tất cả loại Quỷ Thần gây việc chẳng lành kia, không dám đến gần mà chúng còn sợ hãi chạy tán và khiến cho người ấy, ngày đêm được an ổn , tất cả việc chẳng lành thảy đều dứt hết”.

         Khi Thiên Chủ Đế Thích nói Đà La Ni Thiên Chuyển Đại Minh này xong, liền hớn hở vui mừng cùng với các Thiên Chúng lễ Phật rồi lui ra.

24/04/1996

 

---o0o---

Mục Lục Mật Tạng Tập II

19 | 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 | 30

31 | 32 | 33 | 34 | 35 | 36 | 37 | 38 | 39 | 40

41| 42 | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49 | 50

 51 52 | 53 | 54
---o0o---

 

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-05-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Mật Tông

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544