TỔNG TẬP
VĂN
HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Mạnh
Thát
---o0o---
Tập II
=================
NHỮNG
ĐÓNG GÓP CỦA SÁU LÁ THƯ
Bây giờ, để kết luận về những
nghiên cứu trên, chúng tôi thấy cần nói sơ về những đóng góp có thể của
những văn kiện vừa nêu cho công tác tìm hiểu những vấn đề khác trong lịch
sử Việt Nam như nghệ thuật, âm nhạc, văn học, Phật giáo, chính trị và tư
tưởng.
I. VỀ NGHỆ THUẬT
Vấn đề lịch sử của nghệ thuật,
chúng tôi đã có dịp xác định là phải bắt đầu tối thiểu ở nửa đầu thế kỷ
thứ V với địa điểm là ngôi chùa Tiên Sơn của nền nghệ thuật Tiên Sơn. Đặc
điểm của nền nghệ thuật này nằm ở chỗ, đức Phật không bao giờ được nhân
cách hóa bằng một hình người, ngược lại luôn luôn được tượng trưng bằng
một cánh hoa sen đặt vào giữa lòng một trang trí theo dáng hình lá bồ đề.
Cơ sở lý thuyết cho cách tượng
trưng này, ngày nay vẫn chưa được giải minh một cách thỏa mãn. Nó rất có
thể xuất phát từ thái độ và tư tưởng chống ngẫu tượng của những Phật tử
thế kỷ thứ IV và thứ V ở nước ta, mà điển hình là những câu kiểu “chó rơm
đặt suông” hay “nghi tượng bày giả” của Lý Miễu chẳng hạn trong những lá
thư trên. Có lẽ vì thái độ chống ngẫu tượng và nghi tượng này, nên Vương
Diệm, qua kinh nghiệm của ông đã phải viết Minh tường ký, nhằm chứng minh
rằng, “soi nhân tình gần thì không gì hơn nghi tượng, điềm tốt ứng nghiệm
phát ra, phần lớn bắt nguồn từ chúng, cho nên kinh nói: Những loại hình
tượng đúc, đẽo, vẽ, dệt đều có thể hành động và phát ra ánh sáng”.
Cách tượng trưng ấy cũng rất có
thể xuất phát từ một quan niệm Phật thể, đặc biệt là khi Phật thể ấy lại
dựa trên cơ sở kinh Pháp hoa, như P. Mus đã có dịp vạch ra trong bản
nghiên cứu về nền nghệ thuật Barabudur của ông
. Căn cứ theo đấy thì đức Phật đồng nhất
với xác thân nhiệm thể. Nhưng với xác thân nhiệm thể, Ngài trở thành bất
khả tư nghì, vượt mọi diễn đạt tượng trưng hình ảnh, Ngài vượt lên hết mọi
thứ, và mọi thứ không thể tượng trưng Ngài, nên chỉ có thể diễn đạt bằng
ẩn dụ. Cái hoa sen nằm giữa lòng một ngọn lá bồ đề là ẩn dụ đó.
Điều này không phải là không có
thể, bởi vì kinh Pháp hoa trong lịch sử Phật giáo nước ta, từ ngày Đạo
Thanh cho dịch toàn bộ nó ra tiếng Trung Quốc vào năm 255 cho đến lần in
năm 1848 bản dịch tiếng quốc âm đầu tiên hiện còn của Pháp Liên
, đã là một bộ kinh quan trọng, mà hầu hết
những cao tăng Việt Nam còn lưu tên lại không một người nào không từng say
sưa đọc tụng. Từ Đạo Cao, Huệ Thắng cho đến những người đứng chủ in bản
tiếng quốc âm năm 1848, nó đã là một nguồn cảm hứng vô biên đối với niềm
tin của họ. Thêm vào đó, cái Phật thể quan ấy cũng đã được những tác giả
Sáu lá thư của ta quen thuộc, mà bằng cớ là câu viết sau đây của Pháp
Minh: “Rằng, pháp thân ngưng tịch, diệu sắc sáng trong, nên có thể ẩn hiện
theo thời, hành tàng khó biết.”
Như vậy, dù bằng cắt nghĩa nào đi
nữa, rõ ràng là những lá thư ấy đóng góp không ít cho sự hiểu biết của ta
về cơ sở lý thuyết nằm đàng sau những phát biểu nghệ thuật vĩ đại thần
tình của nền nghệ thuật Việt Nam và Phật giáo Việt Nam tại chùa Tiên Sơn.
Chúng đồng thời cũng là một chứng cớ dữ kiện khác làm vững thêm cái niên
đại thế kỷ thứ V, nếu không là sớm hơn, của nền nghệ thuật ấy mà chúng tôi
đã đó dịp nêu lên
.
II. VỀ ÂM NHẠC
Về vấn đề âm nhạc, những đóng góp
của Sáu lá thư ấy lại càng đặc sắc và quí giá hơn. Quí giá, bởi vì chúng
là những văn kiện xưa nhất và duy nhất nói đến sự hiện diện một cách không
chối cãi ở nước ta của những “ca tán tụng vịnh”. Từ đó, cho thấy tối thiểu
vào thế kỷ thứ V, âm nhạc Việt Nam và âm nhạc Phật giáo Việt Nam gồm những
thứ gì. Đặc sắc, bởi vì nếu phối hợp báo cáo âm nhạc vừa nói với những
hình ảnh nhạc cụ trên những bệ đá của nền nghệ thuật Tiên Sơn, chúng ta có
thể rút ra những kết luận rất lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và lịch
sử âm nhạc Phật giáo Việt Nam, đồng thời giải thích cho thấy, tại sao trên
những bệ đá ấy chúng ta chỉ có mười nhạc thần và chín thứ nhạc cụ tấu
nhạc, để ngợi ca cúng dường Người giác ngộ.
Thế thì, bốn chữ “ca tán tụng
vịnh”, đặc sắc và quí giá ấy, mà có bản viết thành “ca tụng ngôn vịnh”, có
ý nghĩa gì? Trả lời câu hỏi này, một bình luận khá dài của Huệ Hạo trong
Cao tăng truyện 13 tờ 414c21-415c7 đáng nên được mọi người đọc, bởi nó cho
ta biết một cách khá khúc chiết lịch sử của lễ nhạc Phật giáo ở Trung quốc
cho đến thời ấy. Vì thế chúng tôi cho dịch những đoạn chính yếu ở đây,
nhằm làm tài liệu một phần nào cho những nhà nhạc học nghiên cứu lịch sử
âm nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
“Rằng, tạo ra văn chương là vì
muốn nêu rõ bảo hoài, phô bày tình hướng; làm ra ca vịnh là vì muốn cho
ngôn vị lưu loát, từ vận nối nhau. Cho nên lời tựa Kinh Thi nói: Tình động
ở bên trong thì hiện ra ở lời nói, lời nói không đủ thì tất phải có vịnh
ca vậy. Song, ca của Đông quốc thì do kết vận để mà vịnh, tán của phương
Tây thì do làm kệ để mà hòa thanh. Tuy ca và tán là khác nhau, nhưng chúng
đều lấy sự hiệp hài với chung luật và sự phù mỵ với cung thương, thì mới
trở thành hay ho áo diệu được. Cho nên, tấu ca bằng đồ kim đồ đá thì gọi
là nhạc, chơi tán bằng đồ ống đồ dây thì đặt tên là bối...
Từ khi Đại giáo lưu nhập phía
đông, kinh dịch ra tuy đã nhiều, nhưng truyền thanh thì lại rất ít, lương
do Phạn âm trùng phức, còn Hán ngữ đơn kỳ. Nếu dùng Phạn âm mà vịnh Hán
ngữ, thì thanh rườm rà, mà kệ bị áp bức. Nếu dùng Hán khúc mà vịnh Phạn
văn, thì vận ngắn ngủi, mà từ lại dài dòng. Vì thế, lời vàng tuy đã có
dịch, Phạn hưởng không truyền. Tới khi có Trần Tư Vương nhà Ngụy là Tào
Thực, sâu học thanh luật, thuộc ý kinh âm, đã thông được cái hưởng hay của
Bàn già, lại cảm được nhạc thần chế ở Ngư Sơn, khi ấy bèn san trị Thụy ứng
bản khởi để làm tôn chỉ cho những học giả về sau, truyền thanh thì gồm hơn
3.000 bài, nhưng số còn lại thì chỉ đếm tới 42. Sau đó có Bạch Kiều, Chi
Thược, cũng nói tổ thuật theo Trần Tư Vương, nhưng đã ưa thích sự thông
linh và riêng cảm nhạc thần chế, chế biến thanh xưa, số còn lại nay chỉ có
10 hay 1000 bài mà thôi. Đến trong khoảng Bình Trung của Thạch Lặc có
thiên thần giáng xuống ở sảnh đường của ấp An, phúng vịnh kinh âm tới 7
ngày mới dứt; lúc bấy giờ có những bản truyền ra, nhưng đều là ngoa tác,
nên phải bỏ. Tới thời Tống Tề có Đàm Thiên, Tăng Biện, Thái Truyền, Văn
Tuyên v.v...
Nhưng theo tục lệ địa phương của
Thiên Trúc, hễ ca vịnh pháp ngôn thì đều gọi là bối. Tới khi ở xứ này thì
vịnh kinh gọi là chuyển đọc, còn ca tán thì gọi là phạn bối. Ban đầu, các
thiên thần tán bối thì đều lấy vận mà phổ vào đồ ống đồ dây. Vì ngũ chúng
đã trái với đời tục, nên phải lấy thanh khúc mà làm sự hay. Nguyên lai là,
Phạn bối bắt đầu, đến từ Trần Tư. Ông ban đầu làm những bài Thái Tử công
tụng và Diệm tụng v.v... nhân thế mà chế ra thanh. Sau ông, cư sĩ Chi
Khiêm cũng truyền lại Phạn bối ba bài, nhưng đều bị chôn vùi mất mát không
còn. Đời còn bàn đến một bài, e đấy là một bài còn lại của Khiêm vậy. Chỉ
Nê hoàn Phạn bối do Khương Tăng Hội làm ra là đang còn truyền tới cho đến
ngày nay, nó gồm có chỉ một bài, lời nó rút ra từ hai quyển Nê hoàn, cho
nên gọi là Nê hoàn bối. Đến thời Tấn có pháp sư Cao Tòa truyền ra Mích
Lịch. Hành địa ấn văn ngày nay tức là làm theo phương pháp của ông vậy.
Lục ngôn do Thược công làm ra tức là bài Đại từ ai mẫn, một kệ, cho đến
lúc này vẫn có người làm theo. Gần đây có Lương châu bối. Nó nguyên làm ra
ở Quan Hữu, mà truyền tới Tấn Dương, tức là bài Diện như mãn nguyệt ngày
nay vậy. Phàm những khúc dây đều do những danh sư chế tác ra. Sự chế tác
của người sau phần nhiều là ngoa dở, rồi có lúc chỉ những chú sa di và
những đứa con nít truyền thọ cho nhau, và điều này dần dà thành thói, nên
không còn lại một bài. Thật đáng tiếc thay”.
Dù đã lược dịch, đoạn bình luận
vừa thấy của Huệ Hạo đã tỏ ra khá dài dòng. Chúng tôi vì thế không thể bàn
cãi hết được những chi tiết và nhân vật lịch sử cùng những vấn đề xoay
quanh họ do ông nêu ra. Chẳng hạn, vấn đề phải chăng Tào Thực (192-232),
người con thứ tư của Tào Tháo và có tước Trần Tư Vương, là thỉ tổ của môn
Phạn bối tại Trung Quốc? Hay phải chăng Thái tử công tụng của ông không
phải là một bài tụng Thái tử Thụy ứng của Phật thuyết thái tử Thụy ứng bản
khởi kinh mà là về Hoàng thái tử Tào Phương, đứa con của người anh Tào
Thực là Tào Phi, như một vài người nghiên cứu đã chủ trương
.
Mặc dù, sự lôi cuốn của những vấn
đề này cũng như nhiều vấn đề khác trong đoạn bình luận vừa dẫn, chúng tôi
sẽ không bàn đến và xin gác lại cho một nghiên cứu tương lai, bởi vì giới
hạn không gian của bản nghiên cứu này không cho phép. Do thế, ở đây chúng
tôi chỉ bàn sơ qua những chi tiết và vấn đề liên quan tới bốn chữ “ca tán
tụng vịnh” trên với lịch sử âm nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
Căn cứ vào lời bình luận ấy, thì
bốn chữ “ca tán tụng vịnh” trên chỉ bốn thứ âm nhạc khác nhau, bởi vì “ca
của Đông quốc thì do kết vận mà thành vịnh, còn tán của phương Tây thì do
kệ mà hòa thanh”- Đông quốc chi ca giả, tắc kết vận dĩ thành vịnh; tây
phương chi tán giả, tắc tác kệ dĩ hòa thanh. Ca và tán như vậy khác nhau.
Tụng và vịnh cũng thế. Tụng cố nhiên không gì hơn là một dịch ngữ Trung
Quốc của chữ gàthà tiếng Phạn, mà người ta cũng phiên âm thành “kệ”. Câu
của Huệ Hạo do thế có thể đổi thành “đông quốc chi ca giả, tắc kết vận dĩ
thành vịnh, tây phương chi tán giả, tắc tán tụng dĩ hòa thanh”.
Vậy thì, ca vịnh và tán tụng khác
nhau như thế nào? Hạo viết tiếp: “Tấu ca vào đồ kim đồ đá thì gọi là nhạc,
chơi tán bằng đồ ống đồ dây thì đặt tên là bối”- tấu ca ư kim thạch tắc vị
chi dĩ vi nhạc, thiết tán ư quản huyền tắc xưng chi dĩ vi bối - Như vậy,
tối thiểu cho đến năm 519 sự khác nhau giữa ca và tán đã được xác định
trên cơ sở của sự khác nhau về những nhạc cụ dùng để phổ chúng. Hay ít
nhất đấy là cách hiểu của Hạo và những người thời ông về sự khác nhau giữa
ca vịnh và tán tụng, dựa vào những hiểu biết vào thời họ về âm nhạc Phật
giáo Ấn Độ.
Những hiểu biết này đôi khi tỏ ra
không được chính xác cho lắm. Chẳng hạn, Hạo viết về thứ âm nhạc gọi là
bối thế này: “Theo tục lệ địa phương của Thiên Trúc, hễ lời ca vịnh lời
kinh thì đều gọi là bối, còn ở xứ này, vịnh kinh thì gọi là đọc chuyển và
ca tán thì gọi là Phạn bối”. Bối cố nhiên là một phiên âm Trung Quốc của
chữ bhanna tiếng Phạn, và bhanna có nghĩa là đọc văn xuôi một cách đều
đều, trái với gàthà hay kệ, một cách vần văn với những nhịp điệu khác
nhau. Một khi đã thế, nếu bảo “tán của phương Tây thì do kệ mà hòa thanh”,
người ta tất không nói tiếp theo là “ca tán thì gọi là Phạn bối”, mặc dù
“ca vịnh lời kinh đều gọi là bối”, vì lời kinh thường thường là văn xuôi.
Sự không chính xác ấy phần lớn xảy
ra vì không có chính danh nhiều hơn là vì họ không có những kiến thức thực
sự về cái thứ âm nhạc, mà họ gọi là Phạn bối. Điều này tương tự như cái
chú thích gần đây cho hai chữ phù đồ và bảo tháp, theo đây phù đồ là stùpa
và bảo tháp là pagoda, trong khi chúng thực sự phải ngược lại, để bảo tháp
là stùpa và phù đồ là pagoda, bởi vì tháp đến từ stùpa qua trung gian
thùpa tiếng Pàli, còn pagoda đến từ buddha tiếng Phạn qua trung gian bud
tiếng Ba Tư, như phù đồ là phiên âm Trung Quốc của buddha.
Nói Huệ Hạo và những người thời
ông có một kiến thức thực sự về thứ âm nhạc, mà ông gọi là Phạn bối, bởi
vì một ghi chú trong Pháp uyển châu lâm 36 tờ 576a2-12 cho biết Phạn bối
không phải là một cách đọc văn xuôi đều đều, mà là một thứ âm nhạc gồm tới
những 7 thanh khác nhau và có thăng giáng. Nó viết: “Tào Thực mỗi khi đọc
kinh Phật, liền ròng rã thưởng ngoạn, cho đấy là tôn cực của đạo lớn, bèn
chế ra 7 thanh mới với những âm hưởng thăng giáng khúc chiết khác nhau.
Người đời phúng tụng, đều làm theo cách của ông”. Nói khác đi, cái mà
người Trung Quốc gọi là bối, không có liên quan gì hết với bhanna của Ấn
Độ, dù bối là một phiên âm của bhanna.
Căn cứ vào những phân tích sơ
lược vừa nêu, bây giờ ta có thể tạm thời xác định bốn chữ “ca tán tụng
vịnh” gồm có những nghĩa gì. Ca là bất cứ một lời gì, mà người ta có thể
hát được. Khi nó tấu bằng đồ kim đồ đá thì gọi là nhạc. Khi lời hát có vần
điệu thì gọi là vịnh. Khi lời hát ấy có vần có điệu và có thanh thì gọi là
tán. Và khi vịnh được viết theo vần điệu Ấn Độ thì gọi là tụng. Tụng có
thanh cũng gọi là tán. Tán như vậy có thể nói là cao nhất và phức tạp nhất
đối với ca, tụng và vịnh. Nếu tán được chơi bằng đồ ống đồ dây thì gọi là
bối, nên lúc “các thiên thần tán bối thì đều lấy vận mà phổ vào đồ ống đồ
dây”.
Bằng vào những xác định này, rõ
ràng là âm nhạc Phật giáo Việt Nam cho đến thế kỷ thứ V có đến bốn thứ
khác nhau, đấy là ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tấu nhạc - hay đúng hơn,
nhạc bối. Nó như thế không phải chỉ thường gồm có niệm, tụng và tán mà
thôi, như những mô tả từng có của ông Trần Văn Khê đã quan niệm
, và coi ca hát hay ngâm vịnh không phải
là thuộc loại lễ nhạc Phật giáo Việt Nam, mà là những du nhập mới của thế
tục Tây phương hay Đông phương. Ca hát và ngâm vịnh do đó là một thành
phần quan trọng trong lễ nhạc Phật giáo và ngày nay chúng ta có bổn phận
phục hồi lại địa vị chính đáng của chúng trong lễ nhạc Phật giáo nước ta.
Việc những thiếu sót và sai lầm đã
xảy ra trong quan niệm hay mô tả lễ nhạc Phật giáo, dĩ nhiên đến chính từ
sự bỏ rơi quên lãng của hàng ngũ Phật giáo, mà vào năm 519 Huệ Hạo đã phải
than vãn là “người về sau chế tác dở dang, rồi có lúc chỉ những chú sa di
và những đứa con nít truyền thọ cho nhau, lâu thành thói quen, đến nỗi
không còn có một bài hay bản nhạc”. Nó vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên
hết.
Điều may mắn là, ngày nay chúng ta
đang còn có được một đôi chữ kiểu những chữ trên, nhờ đấy một phần nào
sinh hoạt âm nhạc Việt Nam cũng như Phật giáo Việt Nam được biết, giúp ta
không những viết lại lịch sử âm nhạc Việt Nam và lễ nhạc Phật giáo Việt
Nam, mà còn mở đường cho thấy âm nhạc Phật giáo và lễ nhạc Phật giáo Việt
Nam ngày nay phải như thế nào, để đáp lại lịch sử âm nhạc và lễ nhạc vĩ
đại đó. Thí dụ, chúng ta phải đưa những bài hát và trường ca vào những
buổi lễ hiện nay, mà không sợ bị chỉ trích là “tân hóa” hay “hiện đại hóa”
hay “làm theo Tây phương” v.v... hay thiếu “cung kính”. Ngay cả việc tấu
nhạc hay đại hòa tấu tại những buổi lễ Phật giáo cũng có thể được đưa vào,
nếu ta đủ người, bởi vì “tấu ca bằng đồ kim đồ đá thì gọi là nhạc... và
phổ tán bằng đồ ống đồ dây thì gọi là bối”. Tấu nhạc và ca hát như thế là
những yếu tố quan trọng của âm nhạc và lễ nhạc Phật giáo, chứ không phải
chỉ có tán, tụng, hay những thứ như niệm hương, thỉnh hương v.v...
Một khi đã nói tới tấu ca và phổ
tán, dĩ nhiên phải có nhạc cụ. Trên cơ sở những báo cáo của Huệ Hạo thì để
làm những chuyện đó, người ta phải có những nhạc cụ bằng kim loại, bằng
đá, bằng ống và bằng dây. Bốn thứ nhạc cụ ấy, Hạo biết chúng ở Trung Quốc.
Ở nước ta, Sáu lá thư trên không cho ta một thông tin nào hết. Nhưng một
lần nữa, chúng ta may mắn có được bệ đá chùa Vạn Phúc với những nhạc thần
và nhạc cụ của chúng.
Như đã nói, những bệ đá ấy mỗi một
mặt được khắc với một hình hoa sen ở giữa nằm trong một trang trí theo
dáng lá bồ đề và hai bên gồm có 5 nhạc thần tấu nhạc mỗi bên. Ông Trần Văn
Khê là người đầu tiên phân tích cho thấy mười nhạc thần ấy chơi chín thứ
nhạc cụ khác nhau, đấy là phách, hồ cầm, sáo, kìm, hoàng sênh, tỳ bà, ống
tiêu, đàn nguyệt và trống cơm. Nhưng ông đã không phân tích tiếp theo nhằm
giải thích tại sao lại chỉ vỏn vẹn có 9 thứ nhạc cụ đó. Trong số 9 nhạc cụ
này, không cái nào có thể coi như làm bằng kim loại hay làm bằng đá, ngược
lại chúng hoàn toàn hoặc thuộc loại làm bằng dây như hồ cầm, kìm, tỳ bà
v.v... hay thuộc loại làm bằng ống như ống sáo, hoàng sênh v.v...
Tại sao lại xảy ra sự tình này?
Phải chăng vì vào thế kỷ thứ V người nước ta chỉ biết chín thứ nhạc cụ ấy
mà thôi? Cố nhiên là không phải, bởi vì họ đã biết tối thiểu là một hai
nhạc cụ khác, ngoài 9 nhạc cụ vừa kể, và thuộc về loại đồ kim đồ đá, đó là
trống đồng ghi lại trong Hậu Hán thư và khánh đá ghi ở Ngô chí cũng như
trong Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ, mà Sơ học ký 16 tờ 15b2 và Nguyên hòa
quận huyện đồ chí 38 tờ 15b10 đã cho dẫn.
Như vậy, trống đồng và khánh đá đã
xuất hiện ở nước ta vào cuối thế kỷ thứ IV đầu thứ V, căn cứ vào tình
trạng tư liệu vừa dẫn. Thế thì, nếu chín thứ nhạc cụ ấy đã được khắc ra,
đấy không phải vì người nước ta và Phật tử nước ta chỉ biết có 9 thứ đó mà
thôi.
Để giải thích sự hiện diện của
chúng, chúng ta phải trở về đoạn bình luận trước của Huệ Hạo. Theo Hạo “tự
nguyên ủy các thiên thần tán bối thì đều lấy vận mà phổ vào đồ ống đồ
dây”. Chín nhạc cụ của ta, như đã nói, đều thuộc đồ ống và đồ dây. Do vậy,
mười nhạc sĩ chơi chín nhạc cụ ấy là những thiên thần, và những nhạc thần
này đang tán bối. Tán bối từ đó phải nói là đã thông dụng và phổ biến ở
nước ta.
Điều này cũng không có gì lạ cho
lắm, bởi vì, nếu Tào Thực không phải là người khai sáng ra khoa Phạn bối
Trung Quốc, thì chính những Phật tử nước ta và miền Nam Trung Quốc đã phổ
biến nó, và họ không ai khác hơn là Chi Khiêm (180-257?) và Khương Tăng
Hội (190? - 280).
Về Khiêm, cả Cao tăng truyện 1 tờ
325b3 và Xuất tam tạng ký tập 13 tờ 97c12-13 đều cho biết Khiêm “hựu y Vô
lượng thọ trung bản khởi, chế tán Bồ tát liên cú Phạn bối tam khế “ - lại
dựa vào câu chuyện bản khởi trong kinh Vô lượng thọ làm ra ba lời tán phạn
bối Bồ tát liên cú. Còn Hội thì Cao tăng truyện 1 tờ 326a22-23 bảo “hựu
truyền Nê hoàn bối thanh chư mỵ ai lượng, nhất đại mô thức” - lại truyền
Nê hoàn bối, thanh vận lưu loát buồn bã trầm hùng, làm mô thức cho một
thời đại. Hội như đã nói, là một người xuất gia, tu học và thọ giới tại
nước ta. Nê hoàn bối do ông truyền cho Trung Quốc như thế rất có thể là
một xuất phẩm văn hóa của tập thể Phật giáo Việt Nam.
Lịch sử lễ nhạc Phật giáo Việt Nam
vì thế có thể nói là đã bắt đầu vào thế kỷ thứ II, nếu không là bắt đầu
với Nê hoàn bối và Khương Tăng Hội. Một khi đã nói bối, người ta phải có
chín nhạc cụ trên để tán nó hay phổ nó. Chín nhạc cụ ấy do đó rất có thể
xuất hiện trước thế kỷ thứ V, nếu không là vào khoảng thế kỷ thứ II hay
thứ III. Chúng giúp tạo nên nền lễ nhạc Phật giáo Việt Nam, và phân biệt
nó với những thứ âm nhạc khác.
Trong liên hệ này, cũng cần thêm
rằng một lý do khác cho những nhạc cụ bằng đồ đá và đồ kim không xuất hiện
trong chín thứ nhạc cụ ấy rất có thể là sự phân biệt của Hạo về nhạc và
bối. Bối là một thứ lễ nhạc do phổ tán bằng đồ ống đồ dây mà thành, còn
nhạc thì do “tấu ca bằng đồ kim đồ đá” mà nên. Vì chỉ do tấu ca bằng đồ
kim đồ đá mà nên, nên nhạc có thể là bất kỳ một thứ nhạc nào, từ nhạc sầu
nhạc oán cho đến nhạc vui nhạc cợt hay nhạc để cúng dường đức Phật. Theo
mô tả này, nhạc có thể nói là âm nhạc tổng quát, còn bối là lễ nhạc tổng
quát. Có lẽ vì phân biệt ấy, mà những nhạc cụ thuộc loại đồ kim đồ đá đã
không xuất hiện trong chín thứ nhạc cụ của ta.
Bằng những bản cãi sơ sài trên,
điều trở thành rõ ràng là, một phối hợp những thông tin về âm nhạc của
những lá thư với hình ảnh những nhạc cụ của nền nghệ thuật Tiên Sơn đã đem
lại cho ta những kết luận khá lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và Phật
giáo Việt Nam.
Đầu tiên, dĩ nhiên là những kết
luận về lịch sử âm nhạc Việt Nam một cách tổng quát. Theo ông Trần Văn
Khê, thì lịch sử âm nhạc nước ta có thể chia làm 4 giai đoạn, đấy là: Giai
đoạn từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ X, giai đoạn từ thế kỷ thứ thứ X đến
thế kỷ thứ XV, giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ thứ XVIII, giai đoạn từ
thế kỷ thứ XVIII cho đến bây giờ.
Về giai đoạn đầu, hay đúng hơn về
giai đoạn từ năm 111 tdl. cho đến năm 939, ông viết trong bản nghiên cứu
đầy khởi sắc và rất lôi cuốn của ông là, “không một thông tin về âm nhạc”
đã tìm thấy
. Bây giờ theo như những trình bày trên
của chúng tôi, chúng ta không thể lập lại kết luận ấy của ông Khê, bởi vì
chúng ta có khá nhiều “thông tin về âm nhạc” không những trên những bệ đá
chùa Vạn Phúc, mà còn trong những lá thư của Đạo Cao và ghi chú của những
người khác. Chúng ta biết sự có mặt của ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tấu
nhạc cũng như của những nhạc cụ đồ ống, đồ dây, đồ kim và đồ đá vào thế kỷ
thứ V tại nước ta.
Sự có mặt phong phú và đa dạng này
của âm nhạc Việt Nam thời đó không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm, để có
thể nghi ngờ. Viết giữa những năm 380-420, Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ,
dẫn theo bản do Tăng Đào tái kiến năm 1820 quyển 1 tờ 2a9-10 đã phải nhận
xét về tình trạng âm nhạc nước ta thế này: “Phong tục Giao Châu thích gảy
đàn, những đứa mục đồng cưỡi trâu ở đồng lạch cũng hát nghêu ngao những
bài ca xa xa, trẻ con nhóm lại ở dưới trăng, vỗ tay tạo nhịp rầm rộ để
khiến cho bài ca hay”- tục hảo cổ cầm, mục thụ ư dã trạch thừa ngưu, xướng
liêu liêu chi ca, đồng lệ ư nguyệt hạ, phủ chưởng phát lệ dao dĩ lịnh mỹ
ca.
Với những nhận xét đoạn phiến này,
rõ ràng là, không chỉ Phật giáo, mà còn cả nhân gian Việt Nam đã ưa đánh
trống gảy đàn, xướng ca hát bội. Chúng như thế chứng thực một cách không
chối cãi và độc lập những phân tích trên của chúng tôi về tình trạng âm
nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ V.
Sự ưa thích âm nhạc Phật giáo cũng
như không Phật giáo ấy giải thích cho ta không ít, tại sao từ sau năm 939
trở đi nhân dân ta từ vua cho đến dân ai ai cũng ưa nhạc và nhạc đã thường
là một vấn đề khá khó khăn cho những nhà cầm quyền về phương diện luật
pháp cũng như chính trị. Nó cũng giải thích không ít, tại sao người nước
ta lại hay thiên trọng về thơ và vận văn.
Cố nhiên, để lý giải một cách đầy
đủ và thấu triệt những vấn đề này cũng như lịch sử âm nhạc Việt Nam giai
đoạn từ năn 111 tdl. Cho đến năm 939 người ta phải nghiên cứu hết mọi tư
liệu thành văn và không thành văn hiện còn, một việc chúng tôi không thể
làm ở đây. Tất cả những trình bày cho tới lúc này nhằm cho thấy, không nên
kết luận một cách vội vã rằng, giai đoạn từ năm 111 tdl. Cho đến năm 939
không có những thông tin về âm nhạc của nó, như ông Khê đã làm, đồng thời
nêu lên một số những dữ kiện cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc nước ta ở
giai đoạn đó.
Tiếp theo là những kết luận liên
quan tới lễ nhạc Phật giáo Việt Nam và âm nhạc Phật giáo Việt Nam. Và
chúng có thể được nhìn từ hai khía cạnh khác nhau, đấy là khía cạnh lịch
sử và khía cạnh thực tiễn.
Về khía cạnh lịch sử, chúng ta
biết lễ nhạc Phật giáo Việt Nam bắt đầu với Nê hoàn bối “do Khương Tăng
Hội truyền” vào đầu thế kỷ thứ III, nếu không là sớm hơn vào thế kỷ thứ
II. Nó phát triển để trở thành tròn đầy vào thế kỷ thứ V với sự ra đời của
việc phân biệt ca vịnh ra khỏi tán tụng cũng như ca ra khỏi vịnh và tán ra
khỏi tụng, dựa trên thanh vận cũng như nhạc cụ. Vào thế kỷ ấy, tối thiểu
chín thứ nhạc cụ đã được coi như cần thiết cho việc thực hiện thứ lễ nhạc
Phật giáo được biết như là tán bối hay phạn bối. Những chuông và khánh
chắc cũng phải có mặt lúc đó. Còn về nhạc bản, thì ngoài Nê hoàn bối,
chúng ta chắc có nhiều bối khác. Nhưng ngay như cả thời Huệ Hạo, cái tình
trạng, “người về sau chế tác đã dở dang, rồi có lúc chỉ những chú tiểu hay
những đứa con nít truyền thọ cho nhau, lâu thành thói quen, đến nỗi không
còn lại được một bài”, đã xảy ra. Cho nên, ngày nay chúng ta không biết
một tí gì hết về nhạc bản của thế kỷ thứ V và trước đó trong tình trạng tư
liệu hiện tại. Dẫu sao đi nữa, lễ nhạc Phật giáo Việt Nam tối thiểu đã có
một lịch sử, và đây phải kể là một may mắn.
Về khía cạnh thực tiễn, việc
nghiên cứu những thành tố của lễ nhạc Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ V đã
mở ra cho ta những con đường mới dẫn tới việc xác định tình trạng lễ nhạc
Phật giáo nước ta hiện nay cùng những nhu cầu cần thay đổi của nó.
Chúng tôi đã dẫn ra là, cứ theo
ông Trần Văn Khê thì lễ nhạc Phật giáo Việt Nam ngày nay chỉ gồm có tán và
tụng. Ông không kể đến những loại âm nhạc khác, điển hình như bài Văn tế
thập loại chúng sinh của Nguyễn Du hay bài trường ca Hào quang máu lửa của
Nguyên Thông. Có lẽ ông nghĩ, loại âm nhạc của văn tế là một du nhập thế
tục Đông phương, còn thứ của trường ca là một du nhập của Tây phương hiện
đại; chúng vì thế không đáng được coi là thuộc loại âm nhạc Phật giáo, chứ
khoan nói chi tới lễ nhạc Phật giáo Việt Nam.
Bấy giờ, nếu từ thế kỷ thứ V Đạo
Cao đã phân biệt cho ta tối thiểu bốn thành tố khác nhau của nền lễ nhạc
Phật giáo Việt Nam, đấy là ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tán bối, thì ta
không có lý do gì mà không gồm những thứ như văn tế, trường ca v.v... vào
loại lễ nhạc Phật giáo Việt Nam hiện nay.
Kết luận này là sát hợp, không
những vì nó dựa trên tình trạng âm nhạc thực tiễn của Phật giáo nước ta,
mà còn vì muốn thay đổi cái khung cảnh thực tiễn ấy nhằm chính thức đưa
những bài văn tế đầy ý nghĩa và nhạc điệu trầm hùng kiểu bài Hào quang máu
lửa vào trong những buổi lễ cầu nguyện trước đấng từ phụ của Phật tử chúng
ta ngày nay.
Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam có một
dòng sinh mệnh đặc thù của nó, và việc đưa vào những bài ca như thế không
gì hơn là một phát triển của dòng sinh mệnh đó, mà từ thời Đạo Cao trở đi
đã được xác định một cách khá rõ ràng, như đã thấy. Và không cần phải nói,
cao điểm của nền lễ nhạc cũng như âm nhạc Phật giáo Việt Nam là tấu nhạc
hay tán bối, nghĩa là, “đem vận mà phổ vào đồ ống đồ dây”. Những nhạc sĩ
Phật giáo Việt Nam hiện nay có thể viết ra những bản hòa tấu dùng cho
những buổi lễ Phật giáo, như tổ tiên ta từ hơn một ngàn năm trăm năm trước
đây đã làm, mà không sợ bị phê bình là “làm theo Tây phương”.
Cuối cùng là những kết luận về âm
nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam một cách tổng quát. Âm nhạc Việt Nam
vào cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ V, như những mô tả đoạn phiến của
Lưu Hân Kỳ giữa những năm 380-420 trong Giao Châu ký cho thấy, là một thứ
âm nhạc khá phát triển.
Trước hết, người nước ta ưa “đánh
trống gảy đàn”. Nói vậy dĩ nhiên ta không thể biết trống gồm những thứ
trống gì và đàn gồm những đàn gì. Tuy thế, căn cứ vào những phân tích của
chúng tôi ở trên về âm nhạc Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là về những nhạc
cụ của nền nghệ thuật Tiên Sơn ta có thể khẳng định là, về trống nó phải
gồm những thứ trống cơm, trống đồng và trống da, còn về đàn nó phải gồm
tối thiểu hồ cầm, kìm, tỳ bà và đàn nguyệt. Ngoài ra, muốn đầy đủ, người
ta phải kể thêm chuông, mõ và khánh.
Tiếp đến, chuyện mục đồng hát
những “bài ca xa xa” và những đứa con nít vỗ tay dưới trăng “phát ra bài
dao đẹp để khiến cho bài ca hay”. Về chuyện mục đồng hát những “bài ca xa
xa”, trên phương diện cắt nghĩa không gặp một khó khăn đáng chú ý nào. Chỉ
đáng tiếc là, Thái bình ngự lãm trong khi cho dẫn “bài ca xa xa” này đã
tóm tắt nó thành “ca khúc nói về sức trâu mạnh yếu tùy theo đồ cầy nặng
nhẹ”, mà không chép nguyên văn nó ra. Dẫu sao đi nữa, đây là bài ca dao
đầu tiên được biết về niên đại và về nội dung. Nó là bài ca của những
người nông dân lao động.
Nhưng về chuyện những đứa con nít
v.v... chúng ta gặp một vài trở ngại cần nói. Nguyên văn chữ Hán trong
Thái bình ngự lãm 572 tờ 5b3-6a1 là: “Đồng lệ ư nguyệt hạ phủ chưởng phát
lệ dao dĩ lịnh mỹ ca”, mà ta có thể dịch thành “những đứa trẻ con dưới
trăng vỗ tay phát ra bài dao đẹp để khiến bài ca hay”. Dịch như thế, người
ta có thể cắt nghĩa nó theo nhiều cách, đặc biệt là đối với chữ “dao”. Dao
là một bài hát không có chương khúc, còn ca là một bài hát có chương khúc.
Với định nghĩa này, thì làm sao “phát lệ dao dĩ lịnh mỹ ca” hiểu như “phát
ra hay hát ra những bài dao đẹp để khiến cho bài ca hay” lại có thể được.
Dao và ca là hai thứ khác nhau. Vậy, cách cắt nghĩa kết nối hai vế “phát
lệ dao” và “dĩ lịnh mỹ ca” với nhau tỏ ra không xuôi cho lắm, dù nó vẫn có
thể. Cách thứ nhì là cắt chúng thành hai vế độc lập kết nối trực tiếp với
vế “vỗ tay”. Câu dẫn trên có thể hiểu thành: “Nô lệ trẻ con dưới trăng vỗ
tay làm phát ra vẻ đẹp của bài dao hay để làm hay bài ca của chúng”.
Nếu chấp nhận cách hiểu này, chúng
ta có thể thấy là, vào khoảng những năm 380-420 về phía âm nhạc bình dân,
ca và dao ít nhất là hai thứ được họ ưa thích nhất. Phải chăng vì tính
chất bình dân và ưa chuộng này, mà ca hát đã trở thành một phần của lễ
nhạc cũng như âm nhạc Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ V và là một đóng góp
đặc biệt của quần chúng Phật tử bình dân Việt Nam? Hay sự ưa thích và phổ
biến những thứ âm nhạc loại ấy là một thành quả của nỗ lực truyền bá và
đại chúng hóa của Phật giáo tại nước ta vào thế kỷ ấy? Những câu hỏi này,
ngày nay chúng ta không thể trả lời một cách chính xác đáng muốn, bởi vì
về một phía chúng ta không có tư liệu, và về phía khác những bài ca và
những bài ca dao được bảo tồn cho tới bây giờ đã không thể định tự thời
gian xuất hiện một cách chắc chắn.
Chắc hẳn một diễn trình hỗ tương
nào đấy đã xảy ra giữa âm nhạc Phật giáo và âm nhạc dân tộc ta cho sự ra
đời của thứ ca hát Phật giáo trong lễ nhạc Phật giáo Việt Nam, và đang chờ
đợi người nghiên cứu nó. Quan hệ giữa dân ca và dân nhạc, giữa giáo ca và
giáo nhạc đáng được chú ý một cách thấm sâu sắc.
Sau cùng, căn cứ vào những phân
tích dân ca và giáo ca vừa thấy, thì việc Đạo Cao liệt ra thứ tự “ca tán
tụng vịnh” không phải là không có ý nghĩa của riêng nó. Nếu Phật giáo là
nhằm cho hết mọi người và nếu ngay cả những trẻ mục đồng chăn trâu cũng
nghêu ngao “hát những bài xa xa”, thì ca hát phải là một phương tiện
truyền giáo đầu tiên nhằm diễn đạt nó. Âm nhạc Phật giáo Việt Nam mở ra
một phần nào cách thế truyền bá Phật giáo của những thế kỷ trước.
Mặc dù đã cố gắng sơ lược hết sức
trong việc trình bày giá trị của những lá thư đối với việc nghiên cứu lịch
sử âm nhạc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam bằng cách bỏ qua một số lớn vấn
đề và chi tiết, chúng tôi cũng vẫn không thể rút gọn một cách đáng muốn.
Có lẽ lịch sử âm nhạc nước ta trước năm 939 là quá phức tạp để có thể viết
gọn trong một vài dòng.
Bởi ngay lúc bấy giờ, chúng đã cho
thấy ít nhất là, lịch sử âm nhạc nước ta, thế nhạc cũng như giáo nhạc,
trước năm 939, không phải là không có những tư liệu của nó cho chúng ta
nghiên cứu.
Cố nhiên, nhiều vấn đề hiện đang
vây phủ nó, như đã nói, và chỉ một khảo cứu mới trong tương lai hoàn toàn
dành cho nó mới có thể soi sáng được, đặc biệt là vấn đề liên quan giữa
dân ca và dân nhạc nước ta với ca vịnh của Trung Quốc và tán tụng của Ấn
Độ. Đó là vấn là đặc biệt quan trọng, bởi vì nó sẽ giúp ta nhận ra âm nhạc
của dân tộc ta gồm những thứ gì trước khi chịu ảnh hưởng của âm nhạc Trung
Hoa và Ấn Độ.
Ở trên, chúng tôi nhấn mạnh đến
cái thứ tự “ca tán tụng vịnh” do Đạo Cao liệt ra, ấy là nhằm cho thấy âm
nhạc Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc chắc đã bị Việt hóa, trước lúc trở
thành lễ nhạc và âm nhạc Phật giáo Việt Nam, bởi vì ca hát đã được đặt vào
địa vị đầu tiên trên cả tán và tụng của Ấn Độ và vịnh của Trung Quốc. Hy
vọng rằng, những nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp giải quyết một phần nào
những vấn đề liên hệ vừa nêu. Qua tất cả những bàn cãi, kết luận và gợi ý
ấy, bốn chữ “ca tán tụng vịnh” của Đạo Cao trong lá thư trên quả thật là
bốn chữ đặc sắc và quí giá đối với lịch sử âm nhạc Việt Nam và Phật giáo
Việt Nam.
III. VỀ VĂN HỌC
Về khía cạnh văn học, Sáu lá thư
trên là những tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn học nước ta được phát hiện
cho tới ngày nay. Đây không phải là chỗ cho chúng tôi bàn cãi xem những
tác phẩm Hán văn do người nước ta sáng tác có nên coi là thuộc lịch sử văn
học nước ta hay không. Chỉ cần nói ngay lúc này, nếu như ta dựa trên tính
có thể hiểu được của những tác phẩm ấy, nghĩa là, tính thông đạt ngôn ngữ
học của chúng đối với người Việt Nam ngày nay, để chối từ địa vị của chúng
trong lịch sử văn học Việt Nam, thì xin nhớ cho rằng, có nhiều nền văn học
trên thế giới, ở đó người đọc trong một ngôn ngữ đã không có thể hiểu được
một tác phẩm viết trong ngôn ngữ đó, nếu nó được viết trước người đọc
khoảng năm bảy trăm năm.
Ngược lại, nếu như ta dựa vào tính
có thể hiểu được của những tác phẩm ấy đối với người Việt Nam sống vào
thời điểm chúng ra đời, để loại chúng ra khỏi văn học Việt Nam, thì một
lần nữa phải đưa ra tư liệu chứng minh rằng, người nước ta vào lúc bấy giờ
không hiểu thứ ngôn ngữ xuất hiện trong những tác phẩm ấy, đặc biệt là khi
ngôn ngữ ấy có nhiều liên lạc với ngôn ngữ của ta bây giờ. Thêm vào đó,
những người tham dự vào cuộc trao đổi thư từ giữa họ đã có thể hiểu nhau
một cách khá dễ dàng.
Lý luận như thế, chúng tôi không
phải là không ý thức sự khác nhau giữa ngôn ngữ ta và ngôn ngữ Trung Quốc.
Nhưng với những phức tạp của vấn đề nguồn gốc ngữ tộc của ngôn ngữ ta ngày
nay, người ta không thể đơn thuần khẳng định một cách vô bằng về nguồn gốc
của sự khác nhau vừa nói, nhất là khi nhiều ngôn ngữ trên thế giới đã
chứng tỏ có một khả năng biến tính hầu như ma quái, tạo nên những tình
trạng như tình trạng Chaucer đối với người Anh ngày nay.
Ai có thể bảo là, ngôn ngữ nước ta
và dân tộc ta không biến thiên trong hơn một ngàn rưỡi năm từ thời Đạo Cao
cho tới bây giờ? Do thế, chúng tôi nghĩ những tác phẩm Hán văn viết cách
xa ta như của Đạo Cao đáng lý phải coi như thuộc lịch sử văn học Việt Nam.
Bằng xác định niên đại 454-455 trên của chúng tôi, những lá thư ấy như vậy
có thể nói là những tác phẩm xưa nhất hiện còn của lịch sử văn học nước
ta.
Nếu lịch sử Việt Nam có thể chia
ra làm ba thời đại chính, đó là: Thời đại độc lập nguyên thủy từ khởi
nguyên cho đến năm 43, thời đại giải phóng dân tộc từ năm 43 cho đến năm
939 và thời đại hùng cứ đế vương từ năm 939 đến bây giờ, thì lịch sử văn
học nước ta ở giai đoạn thứ hai có thể vạch ra một cách sơ lược như sau:
Năm Tác phẩm văn học chính
16 tdl. Việt ca được ghi.
50-150 sdl. Kết tập các kinh Lục
độ tập, Cựu tạp thí dụ và Tạp thí dụ.
180 Sĩ Nhiếp viết Chỉ nam
phẩm vựng.
198 Mâu Tử viết Lý hoặc
luận và những bài thơ chữ Hán xưa nhất.
230-280 Khương Tăng Hội dịch Lục
độ tập kinh, Cựu tạp thí dụ kinh, viết chú giải An ban thủ ý kinh, Pháp
kính kinh, v.v...
259 Đạo Thanh dịch kinh Pháp hoa
tam muội với Chi Cương Lương Tiếp.
k.350? Chí Hàm viết Triệt tâm
ký.
390-404 Đạo Cao viết Tá âm và
Tá âm tự.
k.400 Xuất hiện truyện An Dương
Vương và Triệu Đà phỏng theo bản Anh hùng ca Mahàbharatà của Ấn Độ.
433-459 Sáu lá thư của Đạo cao,
Pháp Minh và Lý Miễu.
450-464 Đạo Cao pháp sư tập.
487-527 Đạo Thiền tham gia soạn
Giới quả trang nghiêm, Thọ giới tịnh hoằng giới thức, Chú ưu bà tắc giới,
v.v...
580-600 Những bài thơ của Tì Ni
Đa Lưu Chi và Pháp Hiền.
618 Văn bia đạo tràng Bảo An
660 Đại Thừa Đăng
viết Câu xá luận ký, Duy thức chỉ nguyên,
Đại thừa bách pháp minh môn luận thuật ký
675 Bài thơ thương Đạo Hy Pháp sư
của Đại Thừa Đăng.
780-805 Những bài thơ của Định
Không và những bài văn của Khương Công Phụ
với bài minh chuông chùa Thanh Mai.
815 Bài thơ của Liêu Hữu Phương
850 Bài thơ của Cảm Thành và
chuyện Tấm Cám lưu hành dân gian
860 Bài thơ của một cử nhân vô
danh
900 Những bài thơ của La Quí.
IV. VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
Về khía cạnh Phật giáo, những lá
thư trên đã đóng góp vào sự soi sáng nhiều phương diện khác nhau của những
vấn đề đa biệt của lịch sử Phật giáo nước ta từ nghệ thuật cho đến âm nhạc
như đã chứng tỏ. Do thế, chúng tôi ở đây chỉ đề cập thuần túy đến phương
diện lịch sử được quan niệm như một thiết lập thứ tự thời gian của những
nhân vật và biến cố lịch sử cùng phương diện tín ngưỡng được định nghĩa
như thái độ tin tưởng của tập thể quần chúng thời bấy giờ.
Về phương diện lịch sử, một số vấn
đề chúng tôi đã dài dòng bàn cãi trên, do thế không có gì để nói thêm ở
đây và chỉ chú trọng đến vấn đề thiết lập một bảng niên biểu sơ lược về
những nhân vật và biến cố Phật giáo cho đến khi Lý Bôn xưng đế năm 544.
Năm Biến cố nhân
sự
Tk III- I tdl.
Phật giáo thời Hùng Vương
43 Bát Nàn phu
nhân và Thiều Hoa đi tu
400 Người nước ta trồng
Uất kim hương trước để cúng Phật.
137
k.165 Mâu Tử sinh.
180-200 Lễ hành thành của Sĩ
Nhiếp
k.189 Khâu Đà La đến Việt
Nam
k.198 Mâu Tử viết Lý hoặc
luận. Khương Tăng Hội sinh.
k.215 Đạo Thanh sinh.
k.229 Khương Tăng Hội viết
An ban thủ ý kinh tự, Lễ nhạc Phật giáo Việt Nam phát triển.
k.240 Khương Tăng Hội dịch Lục
độ tập kinh
255 Đạo Thanh và Chi Cương
Lương Tiếp dịch kinh Pháp hoa tam muội. Khâu Đà La mất.
k.265 Vu Pháp Lan sinh.
280 Khương Tăng Hội mất.
k.290 Vu Đạo Thúy sinh. Ma Ha
Kỳ Vực đến nước ta.
300 Đạo Thanh mất. Ma Ha Kỳ
Vực về Ấn Độ.
k.320 Vu Đạo Thúy mất tại Giao
Chỉ
k.325 Vu Pháp Lan mất tại
Tượng Lâm
k.350 Chí Hàm viết Triệt tâm
ký
k.360-390 Hiền pháp sư, Pháp
Minh và Đạo Cao sinh.
k.390 Huệ Lâm sinh.
425 Đàm Hoằng đến chùa Tiên
Sơn, Nghệ thuật Tiên Sơn phát triển. Mười nhạc cụ xuất hiện.
439 Huệ Lâm viết Quân thiện
luận
k.440 Huệ Thắng sinh tại vùng Từ
Liêm.
k.445 Hiền pháp sư thọ giới cho
Vương Diệm.
k.434-455 Hiền pháp sư mất. Sáu
lá thư ra đời. Ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tán bối được kể đến.
454 Huệ Lâm đến nước ta.
455 Đạo Cao mất, Đàm Hoằng tự
thiêu.
457 Đạo Thiền sinh.
k.460 Pháp Minh mất.
465 Trí Bân bị đuổi ra nước
ta.
479 Huệ Đào ảnh hưởng Lý Thúc
Hiến.
485 Huệ Thắng bị bắt về Trung
Quốc.
487
Đạo Thiền đến giảng ở Nam
Kinh.
510 Huệ Thắng mất.
527 Đạo Thiền mất tại chùa
Tiên Châu Sơn.
Về phương diện tín ngưỡng, người
dân Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ IV cho đến cuối thế kỷ thứ V đã tỏ ra
phần lớn theo Phật giáo. Chúng tôi đã có dịp vạch ra việc “cận thôn thiết
hội, cử tự giai phó” trong bản tiểu sử Đàm Hoằng và ý nghĩa nó hàm ngụ đối
với tình trạng tín ngưỡng Phật giáo của nhân dân ta vào đầu thế kỷ thứ V.
Chi tiết này bây giờ có thể được kiểm thảo và làm vững thêm với hai dữ
kiện sau.
Thứ nhất là dữ kiện liên quan tới
chuyện thọ ngũ giới của Vương Diệm và gia đình Diệm vào khoảng năm 445-450
và chuyện Lý Thúc Hiến làm một thần ảnh của Bồ tát Trường Sinh bằng trầm
hương mà thờ. Bằng dữ kiện này người nước ta vào thời ấy không những là
Phật tử trên danh nghĩa, mà còn có những tập thể Phật tử thực hành chịu
thọ ngũ giới và tin tưởng thần linh. Dữ kiện thứ hai nằm trong một báo cáo
của Lưu Hân Kỳ ở Giao Châu ký, mà Thái bình hoàn vũ ký 170 tờ 7b10-8a2 đã
cho dẫn như sau: “Thạch cửu tử mẫu giả tọa cao thất xích, tại kim châu tự
trung; cửu tử tất phụ ứ thạch thể; truyền vân phù hải nhi chí; sĩ thứ đảo
kỳ cầu tử đa nghiệm, ư kim bất tuyệt”- Mẹ đá chín con, ngồi cao 7 thước,
nay ở tại trong ngôi chùa của châu; chín đứa con bám vào hình viên đá,
người ta bảo rằng viên đá trôi từ biển mà đến; sĩ phu và thứ dân đến cầu
đảo; xin có con trai, phần lớn đều có nghiệm, tới nay không dứt.
Dữ kiện ấy phải kể là lôi cuốn,
bởi vì lần đầu tiên nó nói tới sự hiện diện của hai lớp người tin Phật
giáo khác nhau ở nước ta, đấy là sĩ phu và thứ dân, và họ đã kết nối với
nhau qua trung gian của niềm tin Phật giáo. Viết giữa những năm 380-420 nó
như vậy cho thấy người nước ta và Phật tử nước ta không phân biệt trình độ
trí thức đã có những thái độ tín ngưỡng nào.
Kết nối những dữ kiện nêu ra trong
lá thư thứ tư của Đạo Cao, ở đấy Phật tử nước ta “có kẻ ngồi thiền trong
rừng rú, có người tu đức bên cạnh thành, hoặc cung kính chấp tay hoặc ca
hát tán tụng ngâm vịnh”, nó làm rõ thêm cái khía cạnh tín ngưỡng thực
tiễn, mà vẫn còn ảnh hưởng cho tới ngày nay. Từ đấy, ta có thể nói là, vào
đầu thế kỷ thứ IV đa số người nước ta đã chấp nhận Phật giáo hiểu theo
dưới khía cạnh thực tiễn của nó, nếu không là theo khía cạnh lý thuyết.
Thứ niềm tin thực tiễn ấy giải thích cho ta không ít, tại sao Đạo Cao đã
dùng những loại bằng chứng kiểu Phật Di Lặc hay Định Quang cho việc trả
lời câu hỏi của Lý Miễu.
Trong liên hệ này, cần chú ý là,
một số tín ngưỡng Phật giáo khác đã tương đối phổ cập trong quần chúng như
tín ngưỡng Long hoa và tín ngưỡng Tịnh độ. Bên cạnh đó, những trường phái
thiền cũng như luật đã hoạt động mạnh mẽ để sau này ta có những người đại
biểu như Huệ Thắng và Đạo Thiền. Ngoài ra, tình trạng trí thức nói chung
đã đạt đến một trình độ cao. Với những phân tích điển cố và thư tịch ở
trên, ta thấy những người viết Sáu lá thư đã có một sự giáo dục tương đối
toàn diện rộng rãi và chắc chắn về cả Phật giáo lẫn Nho giáo và các kiến
thức tổng quát khác. Kinh sách Phật giáo và ngoài Phật giáo tại nước ta
lúc bấy giờ tương đối khá nhiều. Ngoài những kinh điển tiêu chuẩn, ta còn
có các sách vở thi ca của tác giả đồng đại cũng như thuở trước. Đối với
Phật tử như Lý Miễu, họ đã có một sự giáo dục Phật giáo khá vững chãi. Đối
với các nhà tu hành như Đạo Cao và Pháp Minh, họ đã có một trình độ văn
hóa khá phổ quát. Họ đã biết chắc đến thơ văn của Phan Nhạc, dẫn tới cả
những sách vở của Nho gia, sử dụng những phạm trù của Lão Trang.
Giá trị của những lá thư dưới ánh
sáng của những dữ kiện ngoại tại vừa nêu càng tăng lên vì sự trung thực và
đúng đắn của chúng trong việc phản ảnh tình trạng tổng quát về niềm tin
của Phật tử Việt Nam vào thế kỷ thứ V và trước đó.
V. VỀ LỊCH SỬ CHÍNH TRỊ
Về khía cạnh chính trị, người đọc
chắc có thể thấy, những lá thư đã đưa ra những mập mờ và khó khăn nào.
Ngay cả cái tên Lý Miễu, chúng ta cũng không thể tìm ra một người nào mang
tên ấy trong lịch sử nước ta. Tuy thế, chúng ta không có lý do gì để nghi
ngờ về sự có mặt của một “Lý Giao Châu Miễu” và những pháp sư, mà Lý Giao
Châu này đã viết thư, trong khi chờ đợi gặp.
Tăng Hựu, cả trong Xuất tam tạng
ký tập lẫn Hoằng minh tập, xác định một cách rõ ràng là Lý Miễu đến từ
Giao Châu với cách xưng hô quen thuộc Lý Giao Châu, như ông đã làm ở
trường hợp Hà Thừa Thiên và Nhan Diên Chi với Hà Hoạnh Dương và Nhan Vĩnh
Gia. Và những người nghiên cứu sau như Nghiêm Khả Quân trong Toàn Tống văn
57 tờ 6b1-8b5 và 63 tờ 11b3-142b cũng đồng ý coi Miễu là “Giao Châu thứ
sử” và hai pháp sư Cao và Minh là “Giao Châu pháp sư”.
Vậy thì, căn cứ những phân tích
trên của chúng tôi, người ta có thể rút ra những kết luận nào về tình
trạng chính trị nước ta vào thế kỷ thứ V theo tác giả những lá thư? Trước
hết, những cụm từ thánh tư uyên viễn và cư đại bảo chi địa điểm chỉ một
cách tương đối đáng tin là, vào thế kỷ thứ V mặc dù người Trung Quốc không
ghi lại một nhà nước độc lập nào của Việt Nam đã xưng vương xưng đế, nhưng
sự tồn tại của một hoàng đế Lý Miễu là không thể chối cãi được. Điều này
cũng có nghĩa vào thế kỷ thứ V nước ta là một nước độc lập, đã xây dựng
thành công một nhà nước thực hiện chức năng quản lý dân tộc của mình và đã
được nhân dân ta chấp nhận và coi như chính quyền thiên tử của họ, ngay cả
khi có sự hiện diện của những tên mệnh danh thứ sử có danh không thực và
ngay cả khi họ chỉ được chính quyền Trung Quốc thừa nhận như những thái
thú hay tư mã hoặc những chức tương tự không hơn không kém.
Giả thiết này có thể đứng vững
được không? Cố nhiên, với sự thiếu thốn tư liệu hiện nay, một giả thiết
loại đó rất khó mà chối bỏ hay chấp nhận một cách dễ dàng trên cơ sở những
bằng chứng trực tiếp. Chúng ta do thế để có thể rút ra một kết luận nào,
phải dựa vào những chứng cớ trường hợp ngoại tại đặc biệt là những chứng
cớ thuộc về những thời kỳ sau, khi lịch sử nước ta được ghi lại một cách
tương đối minh bạch và đầy đủ.
Điểm đầu tiên liên quan với hai
cái nhìn khác nhau về người đứng đầu chính quyền nước ta. Đó là việc người
Trung Quốc coi vị ấy như một thứ quan chức của Trung Quốc và việc người
dân nước ta xem vị ấy như một thiên tử ngang hàng với thiên tử của Trung
Quốc. Cái cách nhìn nhị nguyên này, nếu đã xảy ra vào thế kỷ thứ V, thì
cũng không có gì đáng ngạc nhiên hết, bởi vì năm thế kỷ sau, nó vẫn tiếp
tục tồn tại. Thí dụ điển hình cho khẳng định này không gì hơn là việc vua
Tống phong chức cho Lê Đại Hành. Năm 980 Lê Hoàn phế Đinh Vệ vương và lên
thay, xưng hiệu là Hoàng đế Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân
Quảng Hiếu. Nhưng đến năm 985 vua Tống vẫn không cho một chức gì hơn là
Tỉnh hải quân tiết độ sứ. Giả như người nước ta không ghi lại những sự
việc của Lê Hoàn và chúng ta phải nghiên cứu lịch sử nước ta qua tư liệu
của người Trung Quốc, thì một đoán án đương nhiên phải xảy ra, đấy là Lê
Hoàn không xưng đế xưng vương hay đặt quốc hiệu lập xã tắc gì hết, ngược
lại chỉ là một tiết độ sứ, một quan chức của nhà Tống.
Điểm thứ nhì liên quan tới tên Lý
Miễu. Như đã nói, cái tên này không thể tìm thấy trong các sách sử Trung
Quốc - chúng tôi không nói đến sử sách hậu kỳ của ta như Đại Việt sử lược
hay Đại Việt sử ký toàn thư, vì phần lớn chỉ chép lại sử sách Trung Quốc
những sự việc của giai đoạn chúng ta đề cập tới. Sự tình này một lần nữa
cũng không có gì làm chúng ta ngạc nhiên, bởi vì nó không phải là một sự
tình duy nhất vô tiền khoáng hậu. Chúng ta có trường hợp những vua chúa
nhà Trần chẳng hạn. Giả như chúng ta không có Đại Việt sử ký toàn thư cùng
những hậu duệ của nó và lại tìm thấy một số những bức thư do người Trung
Quốc bảo tồn của một trao đổi giữa Trần Giao Châu Khâm với Tuệ Trung
thượng sĩ và phải dựa vào những sử liệu Trung Quốc cho việc nghiên cứu
chúng, thì hẳn nhiên chúng ta đã phải nói là, không thể tìm thấy một người
nào tên Trần Khâm giữa những sử liệu Trung Quốc ở giai đoạn liên hệ.
Chúng tôi đã có dịp vạch ra tính
không thể tin được một cách hoàn toàn của những sử liệu Trung Quốc. Vạch
ra điểm này là nhằm cho thấy, nếu ngày nay chúng ta không thể truy nguyên
được cái tên Lý Miễu là thuộc về ai, thì đấy không phải vì một người như
thế đã không hiện hữu, ngược lại vì đã hiện hữu trong một đất nước độc lập
nên sử liệu Trung Quốc không nói tới. Còn sách sử ta qua những cuộc thiên
tai địch họa đã bị thất thoát đi rất nhiều. Do thế, những tên tuổi như Lý
Miễu theo ký ức đã bị phai mờ cùng thời gian.
Hai điểm trên như vậy đã bổ túc
cho nhau một cách bất ngờ. Vì Miễu xưng thiên tử, nên thay đổi tên mình.
Vì sử gia Trung Quốc giận ghét kẻ xưng thiên tử, nên không chịu ghi chép.
Tình trạng nước ta như một nước độc lập và lãnh tụ nước ta như một lãnh tụ
độc lập vào thế kỷ thứ V này còn có thể làm vững thêm, khi chúng ta phân
tích bản thân cái nhìn của chính quyền Trung Quốc về tình trạng ấy.
Thứ nhất, chúng ta có tờ chiếu của
Tiêu Đạo Thành viết năm 479 phong chức thứ sử cho Lý Thúc Hiến, mà chúng
tôi đã cho dẫn ở trên, theo đó liên lạc giữa nước ta và Trung Quốc trước
thời nhà Tề không gì hơn là một liên lạc “thơ sóc”. Thơ sóc theo chú thích
của Hồ Tam Tỉnh trong Tư trị thông giám 135 tờ 4230
có nghĩa “Cổ giả Thiên tử thường dĩ quí
đông ban lai tuế thập nhị nguyệt thơ sóc vu chư hầu; chư hầu thọ nhi tạng
chi tổ miếu chí nguyệt sóc tắc dĩ đắc dương cáo miếu, thỉnh nhi hành chi”.
Liên lạc thơ sóc như vậy không gì hơn là một liên lạc chư hầu.
Và liên lạc này chỉ có thể thiết
lập khi chính quyền trung ương quá yếu và chính quyền địa phương quá mạnh.
Chính quyền trung ương có thể ra bất cứ lệnh gì và gửi đi bốn phương tới
bất cứ sứ giả và Thứ sử nào, nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn là chính
quyền tự trị địa phương. Điều này giải thích tại sao Lý Trường Nhân, Lý
Thúc Hiến và Phục Đăng Chi đã hành động, như họ hành động. Vì là chư hầu,
nhiệm vụ của họ không gì hơn là gửi cho chính quyền trung ương một số
nguồn lợi và hàng năm một số những trao đổi cần thiết cho việc chứng tỏ sự
thần phục và chấp nhận. Nhiệm vụ này có thể thấy một cách rõ ràng trong
khía cạnh thứ hai của tình trạng ấy, đó là khía cạnh kinh tế.
Phần trên, chúng tôi đã cho dẫn
tóm tắt lịch sử tài chính Trung Quốc từ thời Tấn Nguyên đế cho đến thời
Tùy của Tùy thư. Theo đó thì trong khoảng thời gian từ năm 317 đến 602 cái
chế độ mà ở đó “kẻ hào hùng giữa hương khúc, triều đình phần nhiều nhân
đấy mà giao chúng cho họ, nhằm thu lấy một phần lợi”, đã trở thành phổ
biến. Và ngay cả việc “thu lấy một phần lợi” này cũng không bao giờ được
thực hiện một cách đáng muốn, bởi vì “không một định lệnh lệ phép thường”
đã đặt ra. Cho nên, xứ nào muốn nạp gì thì nạp, dẫn đến sự ra đời của tiền
tệ và tình trạng lạm phát do nó đề cương, tạo nên những bất ổn chính trị
với sự thay ngôi đổi họ liên tiếp nhau từ năm 420 đến năm 618 ở Trung Quốc
và những vận động độc lập liên tiếp nhau từ năm 380 cho đến năm 602 tại
nước ta.
Chính dưới ánh sáng của thực trạng
kinh tế và chính trị này, ta mới có thể hiểu, tại sao Tề Vũ đế tố cáo Lý
Thúc Hiến không những không chịu nạp thổ sản, mà còn ăn gian và ăn bớt của
cống của những nước khác gửi cho triều đình qua trung gian Giao Châu, và
tại sao Lý Thúc Hiến, khi nghe tin Vũ đế cử Lưu Giai đem binh từ những địa
điểm Nam Khương, Lô Lăng và Thỉ Hưng tới đánh, liền gửi sứ “xin nạp thay
những đồ cống những năm qua, dâng hai mươi dãy mũ đâu mâu bằng bạc ròng và
lông chim sẻ”. Khi sứ không thành và Giai vẫn tiến quân, Hiến tự thân về
chầu, nhưng cũng không thành. Năm 485 Giai trở thành thứ sử Giao Châu.
Chúng ta phải đợi thêm ba năm nữa, lúc Phòng Pháp Thừa tới thế Giai, chính
quyền tự trị nước ta mới thành công thực hiện nhiệm vụ của nó trong con
người của Phục Đăng Chi.
Bằng những phân tích ấy, điều trở
thành rõ ràng là một chế độ chính trị nhị nguyên đã hiện diện ở nước ta
vào thế kỷ thứ năm, một bên gồm chính quyền người nước ta, mà người lãnh
tụ được dân ta gọi là “cư đại bảo chi địa”, và bên kia gồm chính quyền của
tên thứ sử cùng những “bắc lai bộ khúc” của nó. Chế độ thứ sử trong khoảng
thời gian ấy không gì hơn là một chế độ hữu danh vô thực
Tình trạng này bộc lộ ra rất rõ
trong trường hợp Lưu Giai. Nam Tề thư 58 tờ 7a10-13 nói Giai được cử làm
thứ sử vào năm 483 nhưng đến năm 486 Tiêu Tử Lương còn viết sớ tâu xin
đừng đi đánh Giao Châu vì sợ “sự toàn thắng khó mà tất yếu”, như Nam Tề
thư 40 tờ 3a13-b4 đã chép. Do thế, nếu Giai có tiến đánh Thúc Hiến cũng
không thể sớm hơn năm 486. Năm 485 Huệ Thắng bị ép mời về Trung Quốc có lẽ
do yêu sách của Lưu Giai.
Cuối cùng, cần nói sơ đến vai trò
Phật giáo trong những cuộc vận động độc lập thế kỷ thứ V. Như những liên
lạc giữa Lý Thúc Hiến và Huệ Đào cho thấy, Phật giáo chắc hẳn đã tham dự
một cách tích cực vào những cuộc vận động giải phóng dân tộc của nhân dân
ta vào thế kỷ thứ V. Có lẽ vì sự tham dự ấy, mà những người như Huệ Thắng
đã bị bắt ép về Trung Quốc, vào khoảng năm 485 khi Lưu Giai tiến quân đánh
Hiến.
Và việc Đạo Thiền đến giảng ở Nam
Kinh vào năm 483, thì như ta sẽ thấy là do chính chính quyền Lý Thúc Hiến
gửi đi để vận động ngoại giao cho mình. Nên khi tiến quân đe dọa chính
quyền Lý Thúc Hiến vào năm 485 Giai đã thành công và bắt được Huệ Thắng
đưa về Trung Quốc. Hai năm sau Giai lấy được “Một viên ngọc châu cao hai
tấc đủ làm một tượng Phật ngồi” dâng cho vua Tề, như Lịch đại tam bảo ký 3
ĐTK 2034 tờ 44a3 của Phí Trường Phòng ghi lại: “Vĩnh Minh ngũ niên chính
nguyệt, Giao Châu hiến nhất châu cao nhị thốn, cụ tác Phật tọa hình
tượng”.
Chi tiết Huệ Thắng bị bắt ép đây
như vậy giúp ta không ít trong việc hiểu tại sao Thắng, lúc ở Trung Quốc
đã “thao minh che kín, thường tỏ như ngu”, lại không ăn cơm chùa, mà chỉ
ăn đồ khất thực được.
Tình trạng người nước ta bị bắt
đưa về làm việc ở Trung Quốc, dù nhiều hay ít, cố nhiên không phải là một
tình trạng mới mẻ và chỉ xảy ra với nhà Tề. Nếu Ngô chí có thể tin được,
thì gần hai trăm năm, trước khi Thiền ra đời, hơn một ngàn công nhân nước
ta đã bị bắt đưa về Kiến Nghiệp cho việc xây dựng cung điện, tạo cơ hội
cho cuộc vận động độc lập có qui mô và thành công của nước ta sau Hai Bà
Trưng do Lữ Hưng lãnh đạo.
Không những thế, vào thế kỷ thứ V,
nước ta cũng là nơi trú ẩn cho những phần tử Phật giáo người Trung Quốc bị
bạc đãi hay bất mãn, mà điển hình nhất cố nhiên là trường hợp Huệ Lâm,
ngoài tăng chính Trí Bân. Chúng tôi đã phân tích khá kỹ về Lâm
, do thế không có gì để nhận xét thêm.
Chỉ cần nhấn mạnh là, với sự đổ
nát của một Trung Quốc thống nhất, tinh thần cát cứ trở nên mạnh mẽ, nhất
là dưới sự thúc đẩy của quan niệm xã hội Phật giáo, theo đấy người nước ta
không có một lý do gì mà phải trung thành và lệ thuộc vào Trung Quốc, bởi
vì mỗi người phải có trách nhiệm trước hành động của mình và trước tập
thể, mà hành động mình ảnh hưởng. Do thế, vào thế kỷ thứ V, việc tập thể
Phật giáo thừa nhận ở nước ta những người ở vào “đại bảo chi địa” không có
chi là lạ hết.
Nói tóm lại, cơ sở kinh tế, chính
trị và văn hóa tại Việt Nam trong khoảng thời gian ấy quả đã vững chắc cho
những cuộc vận động độc lập bắt đầu với Lý Tốn vào năm 370 cho đến tối
thiểu năm 602, khi Lý Sư Lợi thua hàng. Có thể nói, giai đoạn ấy là một
giai đoạn độc lập của nước ta. Năm chữ “cư đại bảo chi địa” của Đạo Cao
trong lá thư thứ tư do thế thật là quí giá cho việc nghiên cứu lịch sử
chính trị Việt Nam.
VI. VỀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
Về khía cạnh tư tưởng, những đóng
góp của Sáu lá thư càng trở nên khởi sắc, vì chúng là những văn kiện đầu
tiên còn sót lại với những ghi chú đáng quan tâm do người nước ta viết về
không những thực tế quan niệm của Phật tử Việt Nam vào thế kỷ thứ V, mà
còn về thực tế quan niệm của những người không theo Phật giáo nước ta lúc
bấy giờ. Chúng từ đó sẽ giúp đánh tan hết mọi khẳng định vô bằng về quá
trình phát triển của những trào lưu tư tưởng và văn hóa khác nhau tại Việt
Nam kiểu “Nho học chưa đào tạo được một nhân tài bác học nào” v.v... như
người đọc sẽ có dịp thấy.
Về thực trạng tư tưởng của những
Phật tử, họ đặt ra một số vấn đề, mà cho đến nay vẫn chưa được giải quyết
một cách thỏa đáng. Thứ nhất, đâu là cơ sở cho những thứ niềm tin như Tây
phương cực lạc hay ba hội Long Hoa? Thứ hai, đâu là cơ sở cho những giá
trị lịch sử của những khẳng định trong các kinh điển Phật giáo? Thứ ba,
Phật giáo có một địa vị tín ngưỡng và tư tưởng nào giữa những thứ tín
ngưỡng và tư tưởng khác? Ba vấn đề này, mặc dù được đặt ra từ hơn một ngàn
rưởi năm trước đây, vẫn đang có tất cả tính hiện đại của chúng đối với
những người Phật tử chúng hôm nay, bởi vì nếu hỏi tới, chúng ta phần lớn
tất không thể làm gì hơn là lập lại những câu trả lời tương tự kiểu của
Đạo Cao và Pháp Minh.
Về câu hỏi thứ nhất, Cao cho rằng,
sự chân thật của những thứ niềm tin như Tây phương cực lạc hay ba hội Long
Hoa nằm ở chỗ, nó sẽ hiện thực như những tiên đoán về Phật Thích Ca đã
hiện thực trong cá nhân của Phật Thích Ca. Trả lời thế này dĩ nhiên không
thể hoàn toàn thỏa mãn. Bởi vì giả như chúng đã hiện thực với Phật Thích
Ca, thì ta có gì bảo đảm là chúng sẽ hiện thực ở những trường hợp khác. Để
đánh tan nghi ngờ ấy, Đạo Cao lập ra thuyết cảm ứng của Khương Tăng Hội và
Pháp Minh quảng diễn nó vào một trường hợp cụ thể để nói rằng sự không
thấy hiện thực trong những trường hợp khác vì người ta đã “phó thác cho
đồng bóng, đầu thành với phù chú, ôm lấy điều bậy để hy vọng chuyện phải,
giữ chặt việc giả để chờ đợi sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ đôi ngả”.
Nói như vậy, Minh thật sự không khác gì mấy với một số người nước ta hiện
nay chủ trương cái thuyết “lãnh noãn tự tri”, theo đấy muốn hiểu Phật giáo
thì phải sống như lời Phật dạy.
Nhưng khẳng định thế, người ta
phải biết lời Phật dạy gồm những gì. Và đấy chính là chủ đề câu hỏi thứ
hai: đâu là cơ sở cho giá trị lịch sử của những khẳng định trong các kinh
điển Phật giáo? Trả lời câu hỏi này, một ngàn rưởi năm trước đây Đạo Cao
đã có một ý thức lịch sử và một quan niệm lịch sử cao và đáng ca ngợi.
Nói ý thức và quan niệm lịch sử
của Đạo Cao là cao và đáng ca ngợi, bởi vì đứng trước câu hỏi về giá trị
lịch sử của những kinh sách Phật giáo, Cao nêu lên một câu hỏi tổng quát
hơn, đó là, những dữ kiện của quá khứ có thể tin được tới mức nào, một câu
hỏi mà hai trường phái lịch sử quan đã không ngừng bàn cãi, trường phái
chủ lịch sử tương đối và trường phái chủ lịch sử tuyệt đối. Cố nhiên, nêu
lên câu hỏi tổng quát ấy, Cao muốn cho thấy rằng người ta không cần phải
tra hỏi về giá trị lịch sử Phật giáo, nếu họ đồng thời không tra hỏi về
giá trị lịch sử của những thứ sách vở khác, như sử sách Trung Quốc hay Chu
Khổng chẳng hạn.
Song, làm vậy tuy Cao tránh được
câu hỏi của Lý Miễu đã không đối diện trực tiếp với vấn đề. Cách xử ký này
của Cao đương nhiên không đáng trách cho lắm. Vì không đối diện trực tiếp
và chỉ dùng những bằng cớ ngoại tại, người ta tất phải hỏi Phật giáo và
những thứ bằng cớ ngoại tại ấy có những liên lạc gì? Lý Miễu vạch ra một
cách linh động, khi ông hỏi: “Nếu như dẫn chuyện tin bên này, nghiệm bên
kia, như đấng chí thánh không ra đời, Khổng Thích hai đường khác nhau, tức
sự mà bàn không phải là không mâu thuẫn, thì chúng có cái gì có thể chứng
nghiệm cho nhau ư?”.
Quả thật, giá trị lịch sử của
những khẳng định trong các kinh điển Phật giáo có thể coi như có cùng một
cơ sở như những thứ khẳng định của những văn kiện lịch sử khác hay không?
Chẳng hạn, người ta phải xác định giá trị lịch sử của những mô tả về cuộc
“leo thang chín tầng trời” của đức Phật trước lúc nhập diệt trong kinh Đại
bát niết bàn thế nào? Cuối cùng, người ta hình như bắt buộc trở lại thuyết
“lãnh noãn tự tri” của Pháp Minh. Những vấn đề tư tưởng liên quan đến Phật
giáo do Sáu lá thư nêu ra do thế có tất cả tính hiện đại và tất cả sự khó
khăn của chúng, mà những người nghiên cứu Phật giáo có ý thức hiện nay
đáng nên suy ngẫm.
Về những vấn đề tư tưởng ngoài
Phật giáo, chúng ta có một báo cáo tương đối khá tường tận, dù rất tổng
quát, trong lá thư thứ 3 của Lý Miễu. Theo Miễu, vào thế kỷ thứ năm “đại
nghĩa đã bị khó khăn, Nho Mặc đang giành nhau nổi lên, thì há lại để cho
chính tín bị lu mờ làm cho sự hủy báng hiểu lầm càng tăng hấn sao?”.
Câu hỏi này của Miễu cho ta biết
hai điểm. Điểm thứ nhất, các học thuyết Nho và Mặc đang nổi lên ở nước ta.
Điểm thứ hai, chúng đang tấn công hủy báng Phật giáo. Hai điểm này vạch ra
một cách không chối cãi không những Phật giáo đã phát triển trong những
tình cảnh và nghịch cảnh nào, mà còn Nho giáo và Mặc giáo đã có những vận
mệnh gì trong những thế kỷ trước thế kỷ thứ mười. Nho và Mặc không những
đã trưởng thành cho việc “đào tạo được một nhân tài bác học”, ngược lại,
đã thành côngtrong việc làm cho một số “nhân tài” ấy phê bình và theo Miễu
là “hủy báng” Phật giáo.
Vấn đề tại sao Nho giáo và nho sĩ
đã không đóng một vai trò đáng chú ý nào trong những cuộc vận động độc lập
của nước ta cũng như trong thời kỳ dân tộc ta lập quốc, như vậy không thể
giải thích bằng việc Nho giáo thiếu nhân tài hay tương tự. Ngoài khẳng
định của Lý Miễu và Đạo Cao, bằng chứng rõ rệt nhất dĩ nhiên là sự thành
công của anh em Khương Công Phụ ở tại sân vua Đường. Lý do cho sự vắng mặt
của Nho giáo do thế phải bắt nguồn từ một cơ sở sâu xa hơn. Và nó theo chỗ
chúng tôi nghĩ không gì hơn là sự liên hệ giữa Nho giáo và Nho sĩ với
người nước ta.
Chính dưới thời Sĩ Nhiếp, với sự
phá sản của quyền hành nhà Hán và sự xuất hiện của những chính quyền phân
tranh, mà Nho giáo và nho sĩ đã du nhập vào nước ta một cách đáng chú ý.
Một số tác phẩm do nho sĩ viết vào thời này tại nước ta ngày nay đang còn
được bảo tồn, nhờ đấy ta có thể thấy một phần nào quan niệm của họ về
người nước ta và giúp so sánh nó với quan niệm trong một số sách vở Phật
giáo viết cùng thời cùng chỗ.
Về phía nho sĩ, tác phẩm tiêu biểu
nhất cố nhiên là bộ Thích danh do Lưu Hy viết khoảng những năm 196-219
Ở đoạn Thích châu quốc, nó giải thích chữ
“việt” bằng những chữ sau: “Di man chi quốc, độ việt lễ nghĩa, vô sở câu
giả”. Thế có nghĩa, trong thời kỳ tự trị dân chủ từ năm 43-939 quan niệm
chính thống trong những sách vở Nho giáo về nước Việt, mà người nước ta
sau này đã đồng nhất vào, không gì hơn là một “nước mọi rợ, vượt khỏi lễ
nghĩa, không có câu thúc”
Bây giờ, nếu đem so sánh với quan
niệm trong các sách vở Phật giáo như Mâu Tử Lý hoặc luận chẳng hạn, thì ta
có một tình trạng trái ngược.
Lý hoặc luận không những dám cả
gan vào cuối thế kỷ thứ hai khẳng định Trung Quốc chưa chắc đã là trung
tâm của trời đất - Hán địa vị tất vi thiên trung - ngược lại còn dùng ngay
cả những “Ngô Việt chi tục” nhằm biện minh cho lối sống của những tu sĩ
Phật giáo. Nói cách khác, về một mặt nó vạch trần tính địa phương của tôn
giáo và học thuyết Trung Quốc, và về mặt khác ca ngợi những tục lệ địa
phương của người nước ta. Phật giáo như vậy ngay từ đầu những thế kỷ có
mặt của nó đã tự chọn đứng vào hàng ngũ dân tộc và xuất hiện như một chất
xúc tác cho dân tộc ta trong việc thâu nhập văn hóa ngoại lai, đồng thời
giữ lại bản sắc của mình. Thêm vào đó, nó tự xem như một khí cụ nhằm
khẳng định chính bản sắc ấy.
Nếu truyền thống thần phổ có thể
tin được về chuyện Bát Nàn phu nhân sau cuộc thất bại của Hai Bà Trưng đã
đi tu vào năm 43, và như vậy là một vị ni cô Phật giáo đầu tiên của nước
ta, thì điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên hết, căn cứ theo những
phân tích vừa thấy.
Chính hai quan niệm khác nhau về
người nước ta này của Nho giáo và Phật giáo, mà Nho giáo đã bị người nước
ta nhìn đến với một cặp mắt đầy nghi ngờ và thiếu tin tưởng trong thế kỷ
đầu của thời lập quốc, mặc dầu họ không ngừng dùng chính lý thuyết chính
trị Nho giáo cho việc biện minh những hành động chính trị thông thường của
mình. Và đấy là chưa kể đến việc nho sĩ thường có nhiều cơ hội để hợp tác
và đồng lõa với bọn xâm lược cùng quan liêu và chính quyền do Trung Quốc
dựng nên hơn là những tu sĩ Phật giáo. Có lẽ vì cả sự tình lý thuyết lẫn
thực tiễn ấy, mà qua lịch sử Phật giáo chùa chiền và hội hè Phật giáo cứ
tiếp tục mọc lên như nấm và diễn ra như hoa, không kể luật lệ cấm đoán gì
hết.
Điều đáng chú ý hơn nữa là thái độ
của tập thể Phật giáo trước những phê bình và hủy báng của các học phái
Nho Mặc. Căn cứ vào giọng điệu của Lý Miễu thì một mặt Miễu muốn dẹp bỏ
bọn Nho Mặc đi một cách miên viễn. Mặt khác, Miễu lại muốn dựa vào Nho Mặc
để tìm hiểu Phật giáo, để làm cơ sở cho niềm tin đó. Giọng điệu của Đạo
Cao, ngược lại muốn kết chặt Nho Mặc với Phật giáo, mặc dù ông cảnh cáo
Miễu đừng có “hấp tấp trong sự đồng qui”. Tại sao lại có một úp mở kiểu
như vậy? Tại sao bảo một đàng là, “đường không khác lối, họ chỉ thuật lại
mà không làm ra”, rồi đàng kia thì nói đừng vội “đặt giáo pháp Phật xuống
ngang hàng với Chu Khổng”. Câu hỏi này, nên đáng bàn rộng ra ở đây.
Lý do cho sự úp mở đó, chúng ta có
lẽ không phải tìm đâu cho xa. Nó nằm ngay trong cuốn Quân thiện luận của
Huệ Lâm. Lâm nói chuyện Nho giáo và Phật giáo “thù đồ nhi đồng qui”. Nhưng
trong khi xác nhận vậy, ông không quên vạch ra nhược điểm của cả hai, đấy
là về chuyện u minh thì “Chu Khổng nghi nhi bất biện”, còn “Thích Ca biện
nhi bất thật”. Có lẽ vì muốn cảnh cáo Miễu và những Phật tử nước ta về
những lập luận kiểu ấy, nên Cao đã phải bảo là đừng “hấp tấp trong sự đồng
qui”, nhất là thứ đồng qui kiểu của Lâm, dẫu ông thừa nhận “đường không
khác lối”. Đây có thể nói là một nỗ lực tiếp thu có ý thức, có phê phán
đầu tiên được ghi lại trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đặt vào những học
thuyết đương thời.
Bằng nỗ lực tiếp thu có ý thức có
phê phán này, mà khi người nước ta bắt đầu hùng cứ đế vương, tập thể Phật
giáo đã có thể đóng góp một cách tích cực vào việc giải phóng và bảo vệ
đất nước trước những tham vọng thôn tính của tập đoàn thống trị phong kiến
Trung Quốc. Cũng nhờ nỗ lực ấy, mà nó đã thẩm thấu đời sống thường ngày
của mọi người dân Việt Nam. Trong liên hệ này, cần nói thêm là, sự tiếp
thu đó không chỉ xảy ra ở một lãnh vực. Ngược lại, căn cứ vào những lá thư
trên, thì nó đã thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, mà một trong số đó
là âm nhạc, ở đây không chỉ tán tụng ngâm vịnh là Phật giáo mà ngay cả ca
hát cũng được Phật giáo hóa và trở thành một bộ môn của lễ nhạc Phật giáo,
như đã vạch ra ở trên. Đạo Cao cũng như Pháp Minh nhấn mạnh thêm là, nếu
sự tiếp thu đã xảy ra, thì đây chính là khả năng tiếp thu độc lập của Phật
giáo, chứ không phải tiếp thu vì những áp bức. Đối với họ, Phật giáo là
“mặt trời mặt trăng”, còn những thứ khác thì như những “bóng đèn leo lét”
hay những “ngọn đuốc leo lét”. Đây phải kể là một thái độ đáng chú ý, nhất
là trong giai đoạn mà ở đấy “đại giáo đã bị khó khăn” và “sự hiểu lầm và
hủy báng tăng hấn”. Nó vì vậy có thể nói là một thái độ tự tín của một
tình trạng Phật giáo đang lên và của một dân tộc đang tỉnh giấc.
Nhưng đồng thời với nỗ lực đồng
hóa ấy, họ phê bình một cách khá gay gắt về chuyện “phó thác cho đồng
bóng, đầu thành với phù chú”. Vào thời họ, hẳn nhiên Phật giáo không thiếu
những pha trộn của nó, mà sự thần dị của Huệ Đào là một thí dụ. Điều đáng
tiếc là, trong tình trạng nghiên cứu hiện tại chúng ta đang thiếu tư liệu
cho việc kiểm tra những phê bình ấy. Điểm lôi cuốn nằm ở chỗ, ngay vào thế
kỷ thứ V, những phê bình loại ấy về đồng bóng và phù chú lại đã có thể
được nêu lên. Đây có lẽ là một xác định giới hạn và mức độ có thể đồng hóa
của Phật giáo và phải đồng hóa theo chiều hướng nào. Ngoài ra, cùng với
những thí dụ lẻ tẻ như trường hợp Huệ Đào và Lý Thúc Hiến hay báo cáo của
Lưu Hân Kỳ, nó cho thấy một phần nào sự phổ biến của đồng bóng và phù chú,
một tình trạng không có gì đáng ngạc nhiên, và khuynh hướng muốn chấp nhận
một cách dễ dàng chung của những Phật tử. Thái độ tư tưởng của tập thể
Phật giáo do thế phải nói là đáng quan tâm.
Chính nhờ vào tình trạng tín
ngưỡng chung này, mà những nỗ lực cuối cùng của nền Phật giáo quyền năng
của Mâu Tử và Khương Tăng Hội đã thể hiện qua những con người như Đàm
Hoằng, Huệ Thắng và Đạo Thiền. Đàm Hoằng đã tự thiêu, để chứng minh cái
quyền năng cảm ứng là một sự thực. Đạo Thiền vẫn tiếp tục cố gắng đi theo
con đường tu thiền do Khương Tăng Hội mở ra. Nhưng họ là những ánh lửa
cuối cùng leo lét trước cơn gió đang lên của một thời đại Phật giáo mới.
BẢN DỊCH SÁU LÁ THƯ
Lá thư thứ nhất:
Lý Miễu của Giao Châu
viết cho Cao pháp sư
Rằng, chỗ đạo
trong vắng, bốn đại lẽ thường, nhưng giáo pháp nhiệm mầu lan khắp mọi cõi.
Nếu bảo lời dạy ấy khéo hay lợi vật, độ thoát nhiều người thì sao chân
hình nó lại không hiện ở đời? Ấy phải chăng chẳng qua là nói suông không
thật? Nay chính là lúc phải nên tìm nguồn gốc phương Tây của nó. Nguyện
xin đại Hòa thượng rủ lòng thương xót, nhận lấy lòng con, mà không tiếc
lời dạy thần tình.
Đệ tử Lý Miễu
cúi đầu đảnh lễ.
Lá thư thứ hai: Đáp lại thư
của Lý Giao Châu
Thích Đạo Cao
thưa rằng:
Nhận được câu
hỏi về dấu tích ẩn hiện của đấng Chí Thánh, lý vị đã sâu rộng, mà từ nghĩa
lại rõ ràng, trân trọng xem qua đọc lại, thì lời hay càng thêm. Sứ quân,
thành quách cao sâu, nhận được giáo pháp mà tự hỏi, thì xin đem hết ống
ngu của mình, để làm chuyện võng tượng đi tìm huyền châu.
Rằng, đức Như
Lai ứng vật, phàm có ba cách, một là hiện ra xác thân, phóng quang động
địa; hai là để lại chính pháp, như khi Phật còn tại thế; ba là để lại
tượng giáo từa tựa, Pháp tắc từa tựa. Pháp tắc ngày nay đang đáp lại nhân
tình, nhân tình đang cảm lấy tượng giáo thì ai làm cho Phật hiện ra ư? Cho
nên kinh Tịnh Danh nói rằng: “Khéo hiểu được pháp tướng thì biết được căn
cơ của chúng sinh”. Đến khi có ba hội Long Hoa ở thành Sí đầu mạt, nhân
tình cảm lấy sự hiện thân thì ai làm cho Phật ẩn đi ư? Cho nên kinh Pháp
hoa nói rằng: “Lúc bấy giờ đức Phật cùng chúng Tăng đều ra khỏi núi Linh
Thứu”. Cung vua Nhượng Khư đương nhiên có thể định kỳ như thế, thì nguồn
gốc phương Tây sao lại không thấy? Nhưng kẻ nghi ở đời phần nhiều nói lời
kinh không hợp, nên mắc phải sự ám muội thiếu tình, ấy là vì lấy chuyện
không thấy mà sinh trệ.
Rằng, Tam
hoàng Ngũ đế, Tam đại Ngũ bá, Cơ Đán Khổng Khưu san kinh Thi chế sách Lễ,
đều chỉ nghe ở sử sách, có ai thấy đâu? Họ Thích gióng trống Pháp tại vườn
Nai, đức Phu Tử dương lời đức ở Châu Lỗ, ấy đều là những việc tai mắt
không biết được và đều phải tin vào sách vở. Nếu không tin việc sau, thì
chẳng nhọc lòng nghi chuyện trước. Nhưng nếu đã hay rõ được việc sau thì
sao lại chỉ trệ ở chuyện trước?
Sứ quân nghĩ
suy sâu rộng, xem suốt ba đời, thì xin hãy tìm xem lời dạy của Thọ Lượng
chưa dứt, gần theo dấu Định Quang Nho Đồng, giữa suy tập Đại Thông Trí
Thắng, để cởi mở chỗ trệ mọi người. Như đem mây đùn che lấy thái dương,
lời cạn văn quê của bần đạo nói không hết lòng. Mong đến ngày gặp nhau,
thì sẽ nói rõ ràng hơn về vấn đề trên.
Kính bạch.
Lá thư thứ ba:
Thư của Lý Miễu
viết cho Pháp sư Đạo Cao
Lý con xin cúi
đầu đảnh lễ,
Con xem đi xem
lại lời bàn thanh nhã của thầy, vị thứ đã khu biệt, mà lời lẽ lại sâu đẹp.
Con mong đến ngày gặp rất nhiều. Cái gọi là “cảm hóa có lúc khác nhau,
chánh pháp và tượng pháp lời lẽ hơi khác”, thầy đã viện việc ngoài để rõ
nghĩa trong, trưng lấy văn để nghiệm sự thật, cẩn thận theo lối mà dẫn tới
đích, tất cả chúng không có chỗ nào hở hang hết.
Song rằng, căn
do của sự giác ngộ tất phải nhờ nhìn thấy, khi đã mắc vào ám muội thì phải
sinh nghi. Nghi ngờ không phải là cội nguồn của sự giác ngộ. Nếu sách vở
đang còn, thì những đời khác đều có thể hiểu được, và vạn thế về sau có
thể không đợi một bậc thánh để làm thầy. Nếu nay đã nhờ đến cả tiếng tăm
lẫn dấu tích, thì lời nói và hiện thân phải giúp đỡ cho nhau. Đạo nghĩa đã
bị khó khăn, bọn Nho Mặc đang tranh nhau nổi lên, thì há để cho chính tín
lu mờ, làm cho sự hủy báng hiểu lầm càng tăng hấn sao? Có thể nào không
thấy sự thị hiện và ấn ký để làm chứng nhằm giữ lấy mình sao? Đấng Đại
Thánh ban ra cái trí vô ngại, duỗi lòng thương không cầu, thì sao lại tiếc
cái ánh sáng rực rỡ của mình, để làm tăm tối hơn những tài năng đi tìm
hiểu, dứt hết cả hy vọng của mọi người sau khi nhập diệt và gia thêm tội
lỗi trước lúc có ba hội Long Hoa? Chó rơm suông đặt, thì ai mà có thể giác
ngộ được? Nghi tượng giả bày, thì ai mà có thể tin được?
Đến cái chuyện
đế vương Cơ Khổng, thì lời dạy của họ đều dừng lại ở đời này. Việc lai
sanh, họ để ra mà không bàn tới. Cho nên, sự ẩn hiện phế hưng quyền thật
của họ không cần phải nói. Nay đức Như Lai đạo nghiệp bao gồm cả ba đời,
lòng thương thấm nhuần khắp cả, thì không được lấy đời hiện tại mà làm
giới hạn. Mọi người mê muội đang tìm xin hiểu biết, thì không được lấy
việc nhập diệt mà cho là chỗ cùng. Vì thế, mà việc hóa độ không thể hạn
cục vào sách vở và việc Phật la liệt bày ra hàng vạn. Xin hỏi rằng, cái
gọi là việc Phật ấy ngày nay nằm ở đâu ư? Nếu như dẫn chuyện tin bên này,
nghiệm bên kia, nhưng đấng Chí Thánh không ra đời, Khổng và Thích hai
đường khác nhau, tức sự mà bàn không phải là không mâu thuẫn, thì chúng có
cái gì có thể chứng nghiệm cho nhau ư?
Vì chưa thể im
lặng bỏ đi, nên con lại phải mượn lời, xin thầy giải rõ thêm một lần nữa,
trong khi chờ đợi gặp nhau cho việc trình bày rõ ràng hơn.
Lá thư thứ tư:
Lại đáp thư của Lý Giao Châu
Thích Đạo Cao
thưa rằng:
Lại nhận được
lời dạy sâu sắc. Ý nghĩa đã đẹp đẽ, mà tôn chỉ lại cao xa, ba đọc chín suy
mới nắm hết chỗ uyên áo. Cho nên biết rằng, điều chí lý thì không phải
người tầm thường thiển cận có thể lường đo, lẽ vi tế ẩn khúc thì không
phải kẻ cạn cợt dốt nát có thể tham hiểu. Nay xin đem sự thường thiển mà
trình bày sơ cái sở hoài của mình.
Rằng, lấy muôn
điều lành làm lời dạy thì đường đi không phải là một. Có kẻ ngồi thiền
trong rừng rú, có người tu đức ở bên cạnh thành, hoặc cung kính chấp tay,
hoặc ca hát tán tụng ngâm vịnh, đều là những việc tai mắt cùng biết, và
người thực hành chúng cũng rất nhiều. Đó là bến bờ của sự thọ ngộ. Gọi
việc mắc sự ám muội, sao lại là nguồn gốc của sự thọ ngộ, ấy là vì nếu đã
nhìn thấy thì hà tất lại có sự mắc phải ám muội. Có mắc ám muội thì mới
sinh nghi. Nghi ngờ do thế cũng là cội gốc của sự giác ngộ. Xin đáng bàn
rõ điều này. Có nghi ngờ thì người ta đi tìm sự hiểu biết. Có hiểu biết
thì người ta có thể giác ngộ. Đã giác ngộ thì vào đạo. Nếu không phải gốc
thì nó là gì?
Tuy Nho Mặc đang tranh nhau nổi
lên, các học phái cãi cọ phải trái, ấy là vì ngọn đuốc cháy mãi không dứt,
chứ đâu phải trời trăng không sáng chiếu, thì sao lại phải gấp gáp trong
việc thị hiện và hấp tấp trong việc đồng qui? Nay không phải là giống lúc
đời mạt không chứng. Chứng nghiệm là để bày tỏ sự chân thành, đồng thời
cũng để tỏ ra nó không phải là lỗi của đấng Chí Thánh đầy dẫy ánh sáng rực
rỡ. Nhưng kẻ nghi cứ lấy việc không thấy bản thân Ngài, rồi dài mê trong
đại mộng, ngang ngạnh chìm trôi, để mà chết đắm trong sanh tử. Tiên Nho
vãng triết đều có nói sơ điều này từ lâu. Đường không khác lối. Họ chỉ
thuật lại mà không làm.
Rằng, quên mình mà đem hết lòng
thành thì tất có cảm. Có cảm tất phải có thấy. Không có cảm thì không
thấy. Người có thấy đem nói với kẻ không thấy, kẻ không thấy cuối cùng
cũng không tin sự thấy. Thánh nhân đâu phải là không thường ở với quần
sanh, đâu phải là không thường thấy ư? Nghe Pháp âm mà bảo là hay, thì chó
rơm không thể nói là đặt suông, thấy hình tượng mà cung kính thì linh nghi
há là bày giả.
Cơ Khổng cứu đời đọa lạc không
nổi, thì rảnh đâu mà bày tỏ sự việc của lai sinh? Nếu Khâu và Đán sinh gặp
thời kết nốt, họ đã nói rõ chuyện ba đời chẳng thôi. Ngài hỏi, nay việc
Phật nằm ở đâu ư, thì cúi đầu chắp tay, không gì là không phải việc Phật.
Chúng chỉ nhằm khiến người ta thâm ngộ một cách có phương pháp. Chúng thù
đồ mà đồng qui. Thư trước đã dẫn bên này bên kia, kẻ nghi người tin, ấy
chính vì người đời hễ không thấy thì cho là không có thật. Cho nên phải
nói chuyện không thấy của Chu và Khổng để làm mực thước vậy. Đấy là để dắt
dìu mà cùng theo nhau, há có thể gọi là mâu thuẫn sao?
Sứ quân sinh
ra đã biết sự không giả dối. Với tài năng phú bẩm, ở vào địa vị của một
đấng thiên tử, dùng lấy sự nghĩ suy dĩnh thoát, bơi lội trong rừng nghĩa,
đi lại tại vườn sách, thì ngài có thể nghỉ ăn búi tóc tiếp khách, có rỗi
bàn hay suốt ngày. Lời hay đã nói thì không thể không lắng nghe. Bần đạo
học nghiệp thô thiển, rất thẹn lá thư. Trả lời xằng gọn, sợ làm bẩn vẻ đẹp
của văn đầy. Nghĩ lại càng thêm thẹn thùng, mồ hôi lấm tấm.
Kính bạch.
Lá thư thứ năm:
Thư của Lý Miễu
viết cho Pháp sư Đạo Cao
Lý con xin cúi
đầu đảnh lễ,
Lời bàn thanh
nhã của thầy đã làm rõ bến bờ của sự thọ ngộ, ấy là sự tự nghi. Được mắc
ám muội có thừa, chứ không cần phải nhìn thấy, có cung kính tán tụng thì
đều đủ để dẫn vào đạo vậy. Xem đi đọc lại, con càng thấy sự sâu sắc của
nó.
Song, cái gọi
là tượng pháp và chính pháp trái nhau, nên đi tìm sự giác ngộ, vì lý thô,
phải mượn nơm để chỉ bày tôn chỉ mà không cần phải nhờ đến sự thị hiện,
điều này vẫn giống như lý do Cơ và Khổng đã ban ra lời dạy của họ và ánh
sáng đã tỏ ra sự chiếu minh của nó. Một khi đã bày tỏ thì ai cũng nhận
được. Điểm này, sách vở đời ghi chú cũng đã nhiều đủ. Thế thì phóng quang
động địa mà làm chi ư?
Nếu chính tín
không dừng lại ở sự lạy lục, và việc Phật gồm đủ cả sự thực hành lẫn giáo
hóa, thì nguyên do của sự đại giác phải làm thần diệu cái nét đẹp của nó,
để cho việc đi tìm có thể định được sự bắt nguồn. Cho nên, biết rằng,
người tin thì tất phải dùng đến Nho Mặc để giải quyết những nghi ngờ và kẻ
học thì sẽ do dự không chứng mà tự hối hận. Tam hoàng Ngũ đế, dù có bỏn
sẻn sự minh triết, cũng không phải là lỗi của họ. Mười hiệu của đức Phật,
tuy thầm lặng chiếu sáng, đã diễn hết mọi đạo đức. Chúng há lại không thế
sao?
Còn về chuyện
Cơ và Khổng chỉ chú trọng đến cứu đời đọa lạc, mà không rảnh để đề cập tới
lai sinh, và chuyện giả như họ sống vào thời kết nốt thì đã tự nói rõ cả
việc ba đời, những chuyện này lại cũng không phải thế. Bảy kinh trình bày,
ý nghĩa gồm cả tới những gì chưa đến. Sách Phật phu diễn sự việc thì dừng
lại ở duyên báo. Cho nên kinh Dịch nói rằng: “Chứa lành thừa vui, chứa dữ
thừa khổ”, và kinh Phật dạy: “Không có chủ thể làm, không có đối tượng
làm, không có kẻ bị làm, hành động lành và dữ cũng không mất”. Điều này
chứng tỏ lời dạy về duyên báo là một lẽ thường mà giáo huấn cả hai bên đều
đã truyền rộng, há có thể bảo bên này vụ điểm này, bên kia chú trọng điểm
kia ư?
Bàn lại những
điểm ấy càng hay, nên con xin nói lại chúng vậy. Hy vọng thầy lại đem điều
mới trình bày những chỗ khác để gột rửa cái trệ của xưa nay, khiến cho
đường cong thành thẳng, chướng ngại lại thông. Thầm nguyện Đại hòa thượng
duỗi lòng thương rộng nhận chút lòng con.
Đệ tử Lý Miễu
kính trình.
Lá thư thứ sáu:
Đáp lại thư của Lý ở Giao Châu
Thích Pháp
Minh thưa rằng:
Lá thư dài vừa
mới tới, trân trọng xem nó suốt ngày. Nó thơm tựa lan rừng, thanh như gió
huệ. Bần đạo tài năng không phải là của Sương Dĩnh, thời vận không phải là
của Bào Sinh, việc làm thì sai trái, lý luận thì hở hang, chỉ vấp phải
nghi ngờ từng đống, ấy đều vì lời dốt ý trệ. Song đã gắt hỏi thì xin trình
tỉ mỉ vụn vằn như sau:
Kẻ ngu này cho
rằng, nghi ngờ điều mờ ám, ghi nhớ sự lạ lùng, nhìn thấy việc thị hiện,
cung kính tán tụng, cảm động linh biến, đều là bến bờ dẫn về chỗ đạo, là
cơ hội đẹp đẽ cho sự thăng hoa. Cho nên thắc mắc và nhìn thấy đáng được
nêu đều, nghi ngờ và chứng nghiệm đáng phải đi đôi, thì há có thể quăng
phăng sự thị hiện, mau tiết lộ vỏ thần thái, để đặt đức Phật ngang hàng
với Cơ và Khổng, xếp giáo pháp cùng với lời dạy của đời được sao? Phóng
quang động địa đều là lời suông.
Rằng, pháp
thân ngưng tịch, sắc màu sáng trong, cho nên có thể ẩn hiện theo thời,
hành tàng chẳng biết. Hiển thì dựa theo sự thật mà ra. Ẩn thì khéo trôi mà
đi. Thế, đã nói đi tìm tôn chỉ, sao lại phải dòng dài về mười hiệu? Tia
lóe của một ánh thừa cũng đủ làm sáng rạng cả cái đời đồi trụy này thì
người tin há đi lấy một đốm lửa leo lét để làm tăng thêm nỗi nghi ngờ của
mình sao? Chỉ cần hướng đến mặt trời mới rạng thì trắng đen sẽ sánh vai
nhau. Tháp tượng kinh sách đầy khắp cả thế giới, kẻ học há lại đi lấy điều
không chứng để tự hối hận sao?
Ngài lại dẫn
đến bảy kinh, ý nghĩa gồm cả những gì thuộc vị lai như “chứa lành thừa
vui, chứa dữ thừa khổ”, thì tuy nói thế, chúng đã không nói đến việc sinh
diệt mỗi mới, đổi vai gánh thay, hành động lành dữ không thể không chịu
báo được. Điều này quả đã rõ cả ba đời, càng rộng rãi sâu sắc hơn cả bảy
kinh. Dù vậy, trưng văn để nghiệm lấy sự thật, điểm ấy vẫn được lắm. Thư
trước ngài nói rằng: “Đế vương Cơ Khổng lời dạy dừng lại ở đời này, việc
lai sinh họ để riêng ra mà không bàn tới, cho nên sự ẩn hiện phế hưng
quyền thật của họ không cần phải rõ”, thì tựa hồ như có vẻ mâu thuẫn.
Song, ý nghĩa nó bây giờ đã ổn ký thì đáng lòng thương không nên trách.
Chỉ xin nghe rõ hơn nữa điều sâu sắc.
Thơ đáp trước
có nói sơ đến đấng Chí Thánh và sự chìm nổi của chúng sinh, nhưng nghĩa cứ
chưa rõ ràng, lời lẽ chưa thông suốt, nên nay xin bàn rõ lại, để cùng nhau
rộng truyền đạo lớn.
Rằng, quần
sinh dài mê trong ba cõi, chúng thức tối mờ trước sáu trần, trôi chìm với
sinh tử là ông chúa của sự cấu xé ăn nuốt, tương tục ở tâm thức là bánh xe
của sự lăn lóc luân hồi, xác thân thì đầy dẫy quán trọ của nghịch lữ, tâm
hồn thì chỉ đáng cho khách khứa nghỉ chân, lui tới trong ba ác mà khổ sở,
qua lại trong tám nạn mà chua cay, hân lạc thì tạm vui mà lo sợ lại suốt
kiếp; một thân chết đi lại chịu một thân khác. Dẫu thế trí biện thông,
sách vở đầy bụng, trăm nhà thấu suốt, chín phái rõ qua, biết sống chết có
mạng, giàu sang tại trời, quỉ thần không thể đòi hỏi, thánh hiền không thể
dự tri, ấy cũng chưa thoát khỏi sự sai lầm để che lấp tâm tình hay sự nghi
ngờ từa tựa để lo nghĩ lông bông. Rồi phó thác cho đồng bóng, đầu thành
với phù chú, ôm lấy chuyện bậy để hy vọng điều phải, giữ chặt việc giả để
chờ đợi sự chân, chần chờ hai lòng, trù trừ đôi ngả, thì Phật dù có phóng
quang động địa, ai mà có thể thấy cho ư? Sở dĩ sách Phật lưu bố, ấy là
giống như bày nơm mà chờ cơ. Căn cơ động thì tất có cảm. Có cảm thì sau đó
tất có ứng vậy.
Tự khi đặt chí
vào nhà huyền, dốc hết lòng vào chỗ uyên áo, rõ được mạng người như giọt
sương mai, hiểu được ba đời là không giả, thì phải tung mở cái thuật thanh
chân, kiểm chận lấy con đường trược giả, gầy đức nhổ tà mà tà vẫn um tùm,
trồng phước vun chính mà chính vẫn thưa thớt, khổ tiết giành lấy thời gian
với tấc bóng, sạch mình tranh lại phút giây với già nua, ôm ấp lòng thành,
bảo hoài chí hướng, cho đến khi có cảm thì mọi việc liền thông. Há lại
không tự mình đem lấy ánh sáng quang minh mà thấy được sự linh biến của nó
đó hay sao? Hoặc qua sự chứng kiến rõ ràng của tai mắt hoặc qua sự mơ thấy
trong giấc mộng như Hán Minh đế nhơn mộng mà thấy được đấng Chí Thánh, đại
pháp do thế mà đã du nhập Trung Quốc, vua chúa đem hết lòng thành để trở
về với bậc đức, anh hào vén áo để được giáo hóa, sa môn sánh vai với vương
công, tăng ni trực cung trước thiên tử. Đối với 96 thứ ngoại đạo thì ai là
cao hơn?
Tống Vũ Hoàng
đế, khi mới lên ngôi, nằm mộng thấy một thầy tu mang bát đến xin, nhân thế
mà nói rằng: “Ông đời trước vì bố thí cho Phật Di Vệ một bát cơm, nên nay
mới được ở ngôi này”, bèn sai đến hỏi Nghiêm công giải bày thực giả.
Nghiêm công liền đưa kinh Bảy Phật cho xem. Chúa Ngô là Tôn Quyền ban đầu
nghi Phật pháp không nghiệm, đáng nên đình chỉ bãi bỏ, thì liền nhận được
ngọc xá lỵ, chiếu sáng rực rỡ, vàng sắt không thể đập nát, lò nung không
thể thiêu chảy, nay đang còn thấy ở chùa Kiến Sơ tại kinh đô. Ngô quận có
một tượng Phật đá, nổi trên nước biển, đạo sĩ đồng cốt, người theo hàng
trăm, ra vẽ phù đọc chú, đánh trống nhảy múa, không một tên có thể làm
nhúc nhích. Năm sáu thầy tu cùng Chu Trương và khoảng bốn người đã nhẹ
nhàng nâng lên và cùng nhau bưng đi một cách dễ dàng, tức nay thấy tại
chùa Ngô quận Bắc. Thuần thành chí đạo, thì không gì là không có cảm ứng.
Nhà Chu Trương suốt đời thờ Phật, do thế mà thấy được sự ứng nghiệm. Quách
Văn Cử sùng phụng Tam bảo, chính tín kiên minh, tay rờ họng cọp, rất biết
sự an nguy. Lan công phủi tuyết buốt cho thú dữ, Hộ công cảm suối khô
thành dòng nước lũ, họ đều là những bậc cao hạnh siêu quần, thanh trần
thoát tục mà hành tích khác thường đều có ghi lại ở đời vậy. Ngoài họ ra
còn không biết bao nhiêu nữa.
Bần đạo lúc
nhỏ học hành nhác nhớm, nên đến khi bạc đầu trở thành quê mùa cạn cợt; tỏ
rõ lòng thành của mình, thì lời thẳng văn vụn, vị tất có thể hoa mỹ nên sợ
không duẫn đáng. Suy đi nghĩ lại càng thêm thẹn thùng.
Kính bạch.
Hậu bút:
Tống cư sĩ ở Kinh Châu làm ra
quyển Minh Phật luận, bảo rằng, theo lời thuật của Bá Ích trong Sơn hải
kinh thì nước Thân Độc gần người mà thương người. Quách Phác chú thích là,
Thân Độc tức là Thiên Trúc, nơi Phù đồ đang nổi lên - Phù đồ tức Phật đó
vậy. Liệt tiên truyện của Lưu Hướng kể lại 47 người tiên trong kinh Phật.
Đó phải là do cái nhìn hẹp hòi về vấn đề ấy của những học giả, chứ không
phải là Phật giáo bắt đầu với Hán Minh đế. Nhờ sự nhân từ thánh thiện tên
Trừng vào thời Thạch Lặc và Thạch Hổ đã gọi Hổ bảo rằng: “Tại chỗ chùa vua
A Dư xưa trong thành Lâm Truy còn có cái tháp hứng sương có một bức tượng
ở dưới một gốc cây lớn tại rừng sâu cách đất khoảng hơn 20 trượng”. Hổ sai
sứ giả y theo bản đồ đào tìm thì được đúng như lời nói - Vua A Dư tức là
vua A Dục vậy. Chú của Diêu Lược là Tấn vương ở Phố Pha Hà Đông. Ở chỗ mà
những người già gọi là chùa vua A Dục, ông thấy có ánh sáng lóe ra, bèn
dục tìm được xương Phật trong một hộp bạc tại một tráp đá sáng tỏa lạ
thường, theo đường nghênh về kinh đô ở Nghiệp, dâng lên cho các Tỳ kheo,
nay thấy tại chùa Tấn. Do đó, thấy rằng, Phật sự có khắp đất Tấn đã lâu
vậy. Sở dĩ nó không được nói đến ở thời Tam đại, ấy cũng giống như các
cuốn sử của Can Bảo và Tôn Thạnh đã không nói đến sự diệu hóa thật rõ của
đức Phật đã có tiến bộ và thạnh hành ở Giang tả vậy.
NGUYÊN BẢN HÁN VĂN
1- Cựu tạp thí dụ kinh
2- Pháp kính kinh
3- An ban thủ ý kinh
4- Tạp thí dụ kinh
5- Sáu lá thư
P. Mus, Barabudur, BEFEO XXXIV (1934) 175-400, đặc biệt là chương 8 và
9.
Lê Mạnh Thát, Pháp Liên và Pháp hoa quốc ngữ kinh, Tu thư Vạn Hạnh,
1982.
Lê Mạnh Thát, Góp vào việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam thế
kỷ V, Tư tưởng 1 (1972) 69-88 và 2 (1972) 57.
Xem chẳng hạn K.P.K. Whitaker, Tsaur Jyr and the introduction of
Fannbay into China, Bulletin of the School of Oriental and African
Studies XX (1957) 585-587.
Trần Văn khê, Musique bouddhisque au Việtnam, trong Encyclopédie des
musiques sacrées, I.J. Porte chủ biên, Paris, 1968, tr. 222-240; Les
traditions musicales: Việt Nam 1967, Buchet Chastel, tr. 141-2.
Trần Văn Khê, La musique Vietnamienne traditionelle, 1962, Paris,
tr.15: “Pendant cette période obscure, aucun document ne nous permet
d’avoir une idée sur la musique Vietnamienne”. Về những bàn cãi rộng
hơn, xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh: NXB
Tp. Hồ Chí Minh, 2001.
Đấy là không kể đến chuyện Chu Phù “cổ cầm thiêu hương, đọc tà tục đạo
thơ” lúc ông nhậm chức thứ sử tại Giao Châu khoảng năm 189-198. Việc
“đánh trống gảy đàn” như vậy đã xảy ra khá sớm ở nước ta.
Việc đồng nhất Đại Thừa Đăng với Phổ Quang và Đại Thừa Quang cùng
những tác phẩm Câu xá luận ký, Duy thức chỉ nguyên v.v ... xem Lê Mạnh
Thát, Nghiên cứu về Đại Thừa Đăng. Bài thơ Thương pháp sư Đạo Hy của
Đại Thừa Đăng được chép ra đây, vì không một cuốn sách nào nói về Đăng
đã chép ra.
“Ta hỹ Tử vương
Kỳ lực di cường
Truyền đăng chi sĩ
Yếm dĩ vân vong
Thần châu vọng đoạn
Thánh cảnh hồn dương
Quyến dư trường nhi lưu thế
Khải bố tố nhi tình thương.”
“Khốn nỗi tử vương
Sức vẫn còn cường
Truyền đăng một đấng
Bỗng chốc vân vong
Châu trần vọng đoạn
Cảnh thánh hồn dương
Đoái trong buồn mà rơi lệ.
Nghĩ khổ cực mà tình thương.”
Lê Mạnh Thát, Khương Công Phụ và những bài đối phú đầu tiên, Cảo bản,
1970.
Lê Mạnh Thát, Về nhà thơ Liêu Hữu Phương, bản đánh máy, 1969.
Lê Mạnh Thát, Truyện Tấm Cám lưu hành ở nước ta vào lúc nào, Cảo bản,
1970.
Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào, Tư tưởng 3
(1973) 145-160, 5 (1973) 105-126, 7 (1973) 75-92, 8-9 (1973) 171-206
và Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999.
Tiêu điểm tư trị thông giám tiểu tổ hiệu đính, Bắc Kinh: Trung Hoa thư
cục cổ tịch xuất bản xã, 1956.
Lê Mạnh Thát và Lê Xuân Liêu, Thử viết lại lịch sử dân tộc, Cảo bản,
1968; Lê Mạnh Thát, Khía cạnh kinh tế của những cuộc vận động độc lập
thế kỷ thứ V-VI, Cảo bản, 1972.
Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam 1, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999,
tr. 626-747.
Kobayashi Toshio, Ryushi no shiseki ni tsuite, Shinagaku 15 (1946)
1-22; Hồ Sở Sanh, Thích danh khảo, Đài Loan tỉnh lập sư phạm đại học
quốc văn nghiên cứu sở tập san 8 (1964) 1-218; Lê Mạnh Thát, Lịch sử
manh động của Nho giáo tại Việt Nam, Cảo bản, 1970; Lưu Hy, Thích
danh, Vương Vân Ngũ in, 1936, Thượng Hải, tr. 90; N.C. Bodman, A
lingnistic study of the Shih Ming initial and consonant clusters,
Cambridge, Mass.: Harward University Press, 1954. Về việc Thích danh
chỉ nói đến cách phát âm địa phương Tề của miền Bắc Trung Quốc, đưa ra
một vài nghi vấn về nguồn gốc hoàn thành của nó. Xem G.E. Sargent, The
Intellectual atmosphère in Lingnan at the time of the Introduction of
Buddhism, trong Symposium on Historical, Archaelogical and Lingnistic
studies on Southern China, Southeast Asia and the Hong Kong region,
Hongkong: Hongkong University Press, 1967, tr. 161-171.
Về điểm này, xem Lê Mạnh Thát, Lịch sử manh động của Nho giáo tại Việt
Nam, Cảo bản, 1970; Miyakawa Hisayuki, The Confucianization of south
China, trong The Confucian Persuasion, A. Wright in, Stanford:
Stanford University Press, 1960, tr. 21-46.
---o0o---
[Mục Lục tập II ]
[Xem tiếp tập III ]
---o0o---
[ Tập I ] [
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
| Thư Mục
Tác Giả |
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-01-2003