Kinh Trung bộ
HT. Thích Minh Châu dịch
-
- KINH
KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG
- (Apannakasuttam)
Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn du hành giữa
dân chúng Kosala với Đại chúng Tỷ-kheo và đến tại Sala, một làng
Bà-la-môn của dân chúng Kosala. Các Bà-la-môn gia chủ ở Sala được nghe tiếng
đồn như sau: "Sa-môn Gotama, giòng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc
Thích-ca, đang du hành giữa dân chúng Kosala với Đại chúng Tỷ-kheo, đã đến
Sala". Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Sa-môn
Gotama: "Đây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ
thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời, loài Người. Khi đã chứng ngộ.
Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp, sơ thiện,
trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh
hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị
A-la-hán như vậy". Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Sala đi đến chỗ Thế
Tôn, sau khi đến, một số người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên; có người nói lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; có người
chắp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên
và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; có người yên lặng ngồi xuống một
bên. Thế Tôn nói với các Bà-la-môn gia chủ ở tại Sala đang ngồi xuống
một bên:
– Này các Gia chủ, các Ông có vị
Đạo sư khả ý nào mà các Ông có lý do đặt được lòng tin không ?
– Bạch Thế Tôn, chúng con không
có vị Đạo sư khả ý nào để chúng con có lý do đặt được lòng tin.
– Này các Gia chủ, nếu các Ông
không có một vị Đạo sư khả ý nào, thời hãy lấy pháp không gì chuyển
hướng này mà thực hành. Này các Gia chủ, pháp không gì chuyển hướng này
được khéo thọ trì, khéo thành tựu, sẽ đưa đến hạnh phúc an lạc
lâu dài cho các Ông. Và này các Gia chủ, thế nào là pháp "không gì
chuyển hướng" ?
Này các Gia chủ, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn có những lập thuyết như sau, có những quan điểm như
sau: "Không có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ
hy sinh, không có (kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của
các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ,
không có cha, không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị
Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và những vị
này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã tự chứng ngộ với
thắng trí". Nhưng này các Gia chủ, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn
nói đối nghịch với các vị Sa-môn, Bà-la-môn kia, những vị này nói như
sau: "Có (kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết
quả của) tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có
đời này, có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có
những vị Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thực hành, và
những vị này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng
ngộ với thắng trí". Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào, có phải
những vị Sa-môn, Bà-la-môn ấy nói những lời đối nghịch với nhau ?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
– Ở đây, này các Gia chủ, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
có (kết quả của) bố thí, không có (kết quả của) lễ hy sinh, không có
(kết quả của) tế tự, không có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện
ác, không có đời này, không có đời sau, không có mẹ, không có cha,
không có các loại hóa sanh, trên đời không có những vị Sa-môn,
Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị này
tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng
trí". Đối với những vị này sự kiện này sẽ chờ đợi xảy ra:
Sau khi từ bỏ ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện
hành, và sau khi chấp nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý
ác hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy ? Vì những vị Tôn giả
Sa-môn, Bà-la-môn ấy không thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế
của các bất thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của
các thiện pháp. Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng
không có đời sau, thời đó là một tà kiến. Vì rằng có đời sau, nếu
có ai suy tư rằng không có đời sau, thời đó là tà tư duy. Vì rằng có
đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời đó là tà ngữ. Vì
rằng có đời sau, nếu có ai nói rằng không có đời sau, thời tự mâu
thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì
rằng có đời sau, nếu có ai thuyết phục người khác là không có đời
sau, thời sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục
ấy chống lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước
khi thiện giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp
trì. Và tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc
Thánh, sự thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người,
như vậy các ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, vị có
trí suy nghĩ như sau: Nếu không có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại
mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có đời sau, thời vị này sau
khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Nếu muốn đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn,
Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại bị những
người có trí quở trách: "Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ
trương hư vô luận". Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt
đều gặp bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở
trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạn xứ,
địa ngục. Như vậy pháp "không gì chuyển hướng" này bị chấp
trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía,
và bỏ phía thiện pháp.
Ở đây, này các Gia chủ, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có
(kết quả của) bố thí, có (kết quả của) lễ hy sinh, có (kết quả của)
tế tự, có kết quả, quả báo của các nghiệp thiện ác, có đời này,
có đời sau, có mẹ, có cha, có các loại hóa sanh, trên đời có những vị
Sa-môn, Bà-la-môn chơn chánh hành trì, chơn chánh thành tựu, và những vị
này tuyên bố về đời này và về đời sau, sau khi đã chứng ngộ với thắng
trí". Đối với những vị này, sự kiện này sẽ chờ xẩy ra: Sau khi
từ bỏ ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi
chấp nhận ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện
hành, các vị này thực hành theo. Vì sao vậy ? Vì những vị Sa-môn,
Bà-la-môn này thấy sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất
thiện pháp, sự thoát ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện
pháp. Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói rằng có đời sau,
thời đó là một chánh kiến. Vì rằng có đời sau, nếu có ai suy tư rằng
có đời sau, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng có đời sau, nếu có ai
nói rằng có đời sau thời đó là chánh ngữ. Vì rằng có đời sau, nếu
có ai nói rằng có đời sau, thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các
vị A-la-hán đã biết được có đời sau. Vì rằng có đời sau, nếu có
ai thuyết phục người khác là có đời sau, thời sự thuyết phục ấy thuận
với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy
không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được
từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục
thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện
pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, vị có
trí suy nghĩ như sau: Nếu có đời sau, thời vị này sau khi thân hoại mạng
chung sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn
cho đời sau không có đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn, Bà-la-môn
ấy là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những
người có trí tán thán: "Người này theo thiện giới, có chánh kiến,
chủ trương hữu luận". Còn nếu có đời sau, thời vị này cả hai mặt
đều gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán
thán; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi
đời này. Như vậy, "pháp không gì chuyển hướng" này được chấp
trì, được thực hành đúng đắn bởi vị này chấp nhận cả hai phía, bỏ
qua hai phía bất thiện pháp.
Này các Gia chủ, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tự làm
hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu
hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền
muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây ra sợ hãi,
hay khiến người gây ra sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà
mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt,
tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu
lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành
một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy có tội ác,
có gây ra sự tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam
sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt
nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, có gây ra sự
tiếp tục của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố
thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì
vậy có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo".
Này các Gia chủ, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói những lời đối nghịch
với các Sa-môn, Bà-la-môn kia. Các vị này nói như sau: "Tự làm hay khiến
người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến
người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây
ác não hay khiến người gây ác não, tự mình gây sợ hãi, hay khiến người
gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc,
đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người,
nói láo, hành động như vậy của tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén
giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành
một chồng thịt, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục
của tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại,
tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu khiến người đốt
nấu, thì do nhân duyên này có tội ác, có gây ra sự tiếp tục của tội
ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng, bố thí, khiến người
bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, thì do nhân duyên này, có phước
báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước báo. Bố thí, điều phục, tự
chế, nói thật, đều có phước báo, có tạo thành sự tiếp tục của phước
báo".
Vì sao vậy ? này các Gia chủ, có
phải những Sa-môn, Bà-la-môn này nói lời đối nghịch với nhau ?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
– Ở đây, này các Gia chủ, có những
Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tự làm
hay khiến người làm,... (như trên)... không đưa đến phước báo". Đối
với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba
thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp
nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này
thực hành theo. Vì sao vậy ? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự
nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát
ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Vì rằng có tác dụng,
nếu có quan điểm nào nói rằng không có tác dụng, thời đó là một tà
kiến. Vì rằng có tác dụng, nếu ai có suy tư rằng không có tác dụng, thời
đó là tà tư duy. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng không có tác
dụng, thời đó là tà ngữ. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng
không có tác dụng, thời tự mẫu thuẫn đối nghịch với các vị
A-la-hán đã biết được có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai
thuyết phục người khác là không có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy
chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống lại diệu pháp,
người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện giới của người
ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và tà kiến, tà tư
duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục chống
lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những ác bất thiện
pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, người có
trí suy nghĩ như sau: Nếu không có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại
mạng chung, tự ngã cảm thấy an toàn. Nếu có tác dụng, thời vị này sau
khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Nếu muốn không có tác dụng đi nữa, nếu lời nói của các vị Sa-môn,
Bà-la-môn ấy là đúng sự thật, thời vị này, ngay trong hiện tại, bị
những người có trí quở trách: "Người này theo ác giới, có tà kiến,
chủ trương không tác dụng". Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả
hai mặt đều gặp sự bất hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có
trí quở trách; sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. Như vậy pháp "không gì chuyển hướng" này
bị chấp trì, bị thực hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một
phía, và bỏ qua phía thiện pháp.
Ở đây, này các Gia chủ, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Tự
làm hay khiến người làm... (như trên)... có đưa đến phước báo". Đối
với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba
ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận
ba thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị
này thật hành theo. Vì sao vậy ? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự
nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát
ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Vì rằng có tác dụng,
nếu có quan điểm nào nói rằng có tác dụng, thời đó là chánh kiến.
Vì rằng có tác dụng, nếu có ai suy tư rằng có tác dụng, thời đó là
chánh tư duy. Vì rằng có tác dụng,, nếu có ai nói rằng có tác dụng, thời
đó là chánh ngữ, vì rằng có tác dụng, nếu có ai nói rằng có tác dụng
thời không tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được
có tác dụng. Vì rằng có tác dụng, nếu có ai thuyết phục người khác
là có tác dụng, thời sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, và vì
sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy không khen mình chê người.
Như vậy trước khi ác giới của vị ấy được từ bỏ, các thiện giới
đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, sự không đối
nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục thuận với diệu pháp, sự
không khen mình chê người, như vậy những thiện pháp sai biệt này khởi
lên, do duyên chánh kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, vị có
trí suy nghĩ như sau: Nếu có tác dụng, thời vị này, sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn
tác dụng không có đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy
là đúng sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại được những người
có trí tán thán: "Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương
có tác dụng". Còn nếu có tác dụng, thời vị này cả hai mặt đều
gặp sự may mắn: ngay trong hiện tại, được những người trí tán thán;
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời
này. Như vậy, pháp "không gì chuyển hướng" này được chấp trì,
được thực hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía, và bỏ
qua phía bất thiện pháp.
Này các Gia chủ, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân vô
duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các
loài hữu tình được thanh tịnh, vô nhân vô duyên, các loài hữu tình được
thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có
sự cố gắng của người. Tất cả loài chúng sanh, tất cả loài hữu
tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng đều không tự tại, không lực,
không tinh tấn. Các chúng sanh ấy bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh,
bởi sự tình cờ, bởi bản tánh của họ. Các chúng sanh ấy hưởng thọ
khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ". Này các Gia chủ, lại
có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với những
Sa-môn, Bà-la-môn ấy. Những vị này đã nói như sau: "Có nhân có
duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô ; không có nhân, không có duyên các
loài hữu tình bị nhiễm ô. Có nhân, có duyên, các loài hữu tình được
thanh tịnh. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh.
Có lực, có tinh tấn, có nhân lực, có sự cố gắng của người. Tất cả
loài chúng sanh, tất cả loài hữu tình, tất cả sanh loại, tất cả sanh mạng
đều không phải không tự tại, không có lực, không có tinh tấn. (Không
phải) các chúng sanh ấy bị dẫn dắt, chi phối bởi định mệnh bởi sự
tình cờ, bởi bản tánh của họ. (Không phải) họ hưởng thọ khổ lạc
y theo sáu loại thác sanh của họ".
Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế
nào ? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này nói lên những lời mâu thuẫn,
đối nghịch nhau ?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
– Ở đây này các Gia chủ, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
có nhân, không có duyên... (như trên)... họ cảm thọ khổ lạc..". Đối
với những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba
thiện pháp thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, và sau khi chấp
nhận ba ác pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, các vị này
sẽ thực hành theo. Vì sao vậy ? Những Sa-môn, Bà-la-môn này không thấy sự
nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát
ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Vì rằng có nhân,
nếu có quan điểm nào nói rằng không có nhân, thời đó là một tà kiến.
Vì rằng có nhân, nếu có ai suy tư rằng không có nhân thời đó là tư
duy. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời đó là tà
ngữ. Vì rằng có nhân, nếu có ai nói rằng không có nhân, thời tự mâu
thuẫn, đối nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng
có nhân, nếu có ai thuyết phục người khác là không có nhân, thời sự
thuyết phục ấy chống lại diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy chống
lại diệu pháp, người ấy khen mình chê người. Như vậy, trước khi thiện
giới của người ấy bị từ bỏ, các ác giới đã được chấp trì. Và
tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, sự đối nghịch với các bậc Thánh, sự
thuyết phục chống lại diệu pháp, sự khen mình chê người, như vậy những
ác bất thiện pháp sai biệt này khởi lên do duyên tà kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, người có
trí suy nghĩ như sau: Nếu không có nhân, thời vị này, sau khi thân hoại mạng
chung, tự cảm thấy an toàn. Nếu có nhân thời vị này, sau khi thân hoại
mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Nếu muốn
không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy là đúng
sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở
trách. "Người này theo ác giới, có tà kiến, chủ trương không
nhân". Còn nếu có nhân, thời vị này, cả hai mặt đều gặp sự bất
hạnh: ngay trong hiện tại, bị những người có trí quở trách; sau khi
thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Như vậy, pháp "không có chuyển hướng" này bị chấp trì, bị thực
hành sai lạc, bởi vị này chỉ có chấp nhận một phía, và bỏ qua phía
thiện pháp.
Ở đây, này các Gia chủ, những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có
nhân, có duyên... (như trên)... họ cảm thọ hưởng lạc". Đối với
những vị này, sự kiện này chờ đợi sẽ xảy ra: Sau khi từ bỏ ba ác
pháp này, thân ác hành, khẩu ác hành, ý ác hành, và sau khi chấp nhận ba
thiện pháp này, thân thiện hành, khẩu thiện hành, ý thiện hành, các vị
này thực hành theo. Vì sao vậy ? Vì những Sa-môn, Bà-la-môn này thấy sự
nguy hiểm, sự hạ liệt, sự cấu uế của các bất thiện pháp, sự thoát
ly, sự lợi ích và sự thanh tịnh của các thiện pháp. Vì rằng có nhân,
nếu có quan điểm nào nói rằng có nhân, thời đó là chánh kiến. Vì rằng
có nhân, nếu có ai suy tư rằng có nhân, thời đó là chánh tư duy. Vì rằng
có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời đó là chánh ngữ. Vì rằng
có nhân, nếu có ai nói rằng có nhân, thời không tự mẫu thuẫn, đối
nghịch với các vị A-la-hán đã biết được có nhân. Vì rằng có nhân, nếu
có ai thuyết phục người khác là có nhân, thời sự thuyết phục ấy thuận
với diệu pháp, và vì sự thuyết phục ấy thuận với diệu pháp, vị ấy
không khen mình chê người. Như vậy, trước khi ác giới của vị ấy được
từ bỏ, các thiện giới đã được chấp trì. Và chánh kiến, chánh tư
duy, chánh ngữ, sự không đối nghịch với các bậc Thánh, sự thuyết phục
thuận với diệu pháp, sự không khen mình chê người, như vậy những thiện
pháp sai biệt này khởi lên, do duyên chánh kiến.
Ở đây, này các Gia chủ, vị có
trí suy nghĩ như sau: Nếu có nhân, thời vị này sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Nếu muốn
không có nhân đi nữa, nếu lời nói của các Sa-môn; Bà-la-môn ấy là đúng
sự thật, thời vị này ngay trong hiện tại, được những người có trí
tán thán: "Người này theo thiện giới, có chánh kiến, chủ trương có
nhân". Còn nếu có nhân thời vị này cả hai mặt đều gặp sự may mắn:
ngay trong hiện tại, được những người có trí tán thán, sau khi thân hoại
mạng chung, sẽ sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Như vậy,
pháp "không gì chuyển hướng" này được chấp trì, được thực
hành đúng đắn, bởi vị này chấp nhận cả hai phía và bỏ qua phía bất
thiện pháp.
Này các Gia chủ, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
thể có một vô sắc toàn diện". Lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn
nói lời mâu thuẫn, đối nghịch với các Sa-môn, Ba la môn ấy. Các vị
này đã nói như sau: "Có thể có một vô sắc toàn diện". Này các
Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào ? Có phải những vị Sa-môn, Bà-la-môn này
nói những lời mâu thuẫn, đối nghịch nhau ?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
– Ở đây, này các Gia chủ, một
người có trí suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập
thuyết như sau, có quan niệm như sau: "Không thể có một không sắc
toàn diện", ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có
lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một không sắc
toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết, không thấy
mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: "Đây là sự thật, ngoài ra
đều là mê lầm," thời như vậy không xứng đáng với ta. Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
thể có một không sắc toàn diện", nếu lời nói của những Sa-môn,
Ba la môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ
tái sanh tại chỗ các chư Thiên có sắc do ý sở thành. Còn nếu những
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có
thể có một không sắc toàn diện", nếu lời nói của những Sa-môn,
Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta chắc chắn sẽ
tái sanh tại chỗ các chư Thiên không sắc, do tưởng sở thành. Do duyên với
cái gì có sắc, chấp gậy, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh,
kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ đều được thấy. Những sẽ không có
những sự việc này trong một không sắc toàn diện". Do suy tư như vậy,
vị ấy thành tựu sự yểm ly, sự ly tham, sự diệt tận các sắc pháp.
Này các Gia chủ, có một số
Sa-môn. Bà-la-môn có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
thể có một sự hữu diệt (Bhavanirodha) toàn diện". Này các Gia chủ,
lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn nói lời mâu thuẫn đối nghịch với các
Sa-môn, Bà-la-môn. Các vị này đã nói như sau: "Có thể có một sự hữu
diệt toàn diện". Này các Gia chủ, các Ông nghĩ thế nào ? Có phải những
Sa-môn, Bà-la-môn này nói những lời mâu thuẫn đối nghịch nhau ?
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
– Ở đây, này các Gia chủ, một
người có trí suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập
thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không thể có sự hữu diệt
toàn diện", ta không có thấy như vậy. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào có
lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có một sự hữu
diệt toàn diện", ta không có biết như vậy. Và nếu ta không biết,
không thấy mà chỉ chấp nhận một bên và tuyên bố: "Đây là sự thật,
ngoài ra đều là mê lầm", thời như vậy không xứng đáng với ta. Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào, có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau:
"Không thể có một sự hữu diệt toàn diện", nếu lời nói của
những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy ra: Ta
chắc chắn sẽ tái sanh chỗ các chư Thiên không sắc do tưởng sở thành.
Còn nếu những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm
như sau: "Có thể có một sự hữu diệt toàn diện", nếu lời nói
của những Sa-môn, Bà-la-môn ấy đúng sự thật, thời sự kiện này xảy
ra: Ta chắc chắn sẽ nhập Niết-bàn ngay trong hiện tại. Những Tôn giả
Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Không
thể có một sự hữu diệt toàn diện", thời quan điểm này của các
vị ấy gần với tham ái, gần với kiết sử, gần với ái lạc, gần với
chấp trước, gần với chấp thủ. Còn những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lập
thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Có thể có sự hữu diệt toàn
diện", thời quan điểm này của những vị ấy là gần với ly tham, gần
với không kiết phược, gần với không ái lạc, gần với không chấp trước,
gần với không chấp thủ". Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu sự
yểm ly, sự vô tham, sự diệt tận đối với các hữu.
Này các Gia chủ, có bốn hạng người
này có mặt ở trong đời. Thế nào là bốn ? Ở đây, này các Gia chủ,
có người tự hành khổ mình chuyên tâm tự hành khổ mình. Ở đây, này
các Gia chủ, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở
đây, này các Gia chủ, có người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm tự
hành khổ mình, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Ở đây,
này các Gia chủ, có người vừa tự không tự hành khổ mình, không chuyên
tâm tự hành khổ mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành
khổ người. Vị này không hành khổ mình, không hành khổ người, ngay
trong hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh,
cảm giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể. Và này các Gia chủ, thế
nào là người tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình ? Ở đây, này
các Gia chủ, có người sống lõa thể, sống phóng túng không theo lễ nghi,
liếm tay cho sạch... (như kinh Kandarakasuttam số 51)... Như vạy người ấy
dưới nhiều hình thức, sống chuyên tâm hành khổ thân mình. Như vậy, này
các Gia chủ, được gọi là hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự
hành khổ mình. Và này các Gia chủ, thế nào là hạng người hành khổ người,
chuyên tâm hành khổ người ? Ở đây, này các Gia chủ, có người là người
đồ tể giết trâu bò, là người đồ tể giết heo... (như trên)... và những
người làm các nghề ác độc khác. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi
là người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Và này các Gia chủ,
thế nào là người vừa tự hành khổ mình, chuyên tâm hành khổ mình, vừa
hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người ? Ở đây, này các Gia chủ,
có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh...
(như trên)... vì sợ đòn gậy, vì sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy nước
mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Gia chủ, được gọi
là hạng người vừa tự hạnh khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình, vừa
hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người. Và này các Gia chủ, thế
nào là hạng người vừa không tự hành khổ mình, không chuyên tâm hành khổ
mình, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay
trong hiện tại không có tham dục, không có khao khát, tịch tịnh, cảm thấy
mát lạnh, cảm giác lạc thọ, thân trú vào Phạm thể ? Ở đây, này các
Gia chủ, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri... (như
trên)... sau khi từ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm
trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng
và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm
với tứ... Thiền thứ hai.... Thiền thứ ba... chứng và trú Thiền thứ tư,
không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc,
định tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm hướng tâm đến túc mạng minh. Vị
ấy nhớ đến các đời sống quá khứ như một đời, hai đời... (như trên)...
như vậy vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, cùng với các nét
đại cương và các chi tiết. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu
nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, định tĩnh
như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của
chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống
và sự chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ
liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất
hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không
cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc định
tĩnh như vậy, vị ấy dẫn tâm hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết
như thật: Đây là khổ,... (như trên)... biết như thật: Đây là con đường
đưa đến sự đoạn trừ các lậu hoặc. Nhờ hiểu biết như vậy, nhận
thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu,
thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân giải thoát như vậy, khởi lên
sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã
diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm, đã làm sau đời hiện tại không
có đời sống nào khác nữa". Như vậy, này các Gia chủ, được gọi
là hạng người không tự hành khổ mình, không chuyên tâm tự hành khổ
mình, không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ người; ngay trong
hiện tại, không có tham dục, không có khao khát, cảm thấy mát lạnh, cảm
giác lạc thọ, tự ngã trú vào Phạm thể.
Khi được nói vậy, các Bà-la-môn,
gia chủ trú ở Sala bạch Thế Tôn:
– Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Thưa Tôn giả Gotama, như người
dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị
che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được
Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Chúng con xin
quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả
Gotama chấp nhận cho chúng con làm những người cư sĩ. Từ nay cho đến mạng
chung, chúng con xin trọn đời quy ngưỡng.
|
Mục
Lục
||Chương
kế
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
Tổ
chức đánh máy: Hứa Dân Cường
Chân thành cảm ơn Cư sĩ Bình Anson đã gởi tặng phiên bản điện
tử bộ Kinh này.