Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học


...... ... .

 
 

Căn Bản Pháp Hành Thiền

Thiền sư Panyapatipo
(Phra Acharn Plien Panyapatipo)
Chiang-Mai, Thái Lan

Phạm Kim Khánh dịch Việt
Seattle, Hoa Kỳ - 1994


Giới thiệu Tác giả:

Đại Đức Acharn PLIEN PANYAPATIPO ra đời vào ngày 16 tháng 11, năm 1933, trong gia đình Wongsachandra, quận Sawang-Dan-Din, tỉnh Sakon Nakorn, miền Đông Bắc xứ Thái. Lúc còn thơ ấu Ngài sống với ông bà, cho đến năm lên 11 tuổi thì trở về phụ giúp cha mẹ buôn bán tiệm trong làng.

Khi lên 18 Ngài tỏ ý muốn theo học ngành y khoa, do đó bắt đầu phụ tá cho vị bác sĩ trong xứ, vốn là người trong họ. Nhưng rồi Ngài gác lại dự định đi Bangkok học nghề y sĩ để vâng lời cha mẹ ở nhà phụ giúp gia đình.

Mặc dầu từ lúc thiếu thời lúc nào ý nguyện cũng hướng về đời sống tu sĩ nhưng mãi đến năm 1959 Ngài mới xuất gia tại Wat Dhat' Mechai, thuộc tỉnh Sakon Nakorn và sau đó ba năm, đậu bằng Giáo Pháp cấp Một.

Sau mùa An Cư Kiết Hạ năm ấy Ngài lên đường tìm minh sư để học pháp hành và gặp được nhiều vị Thiền Sư nổi tiếng vào thời bấy giờ tại miền Đông Bắc, miền Nam và miền Bắc xứ Thái, quan trọng nhất là Ngài Acharn Luang Pu Brohm Jirapunno, Acharn Luang Pu Thet Desaransi, Acharn Luang Pu Teur Achaladhammo và sau cùng Ngài Luang Pu Waen Suchino (theo Thái ngữ, danh từ "Acharn" -- Ajahn, A-chàn -- có nghĩa là Thầy. Luang Pu là Đại Đức Ông, hay Sư Ông, bao hàm ý niệm vừa tôn kính vừa quý mến).

Trong hiện tại Acharn Plien là Tăng Trưởng Wat Aranyavivake, trong quận Mae Taeng, tỉnh Chieng Mai, miền Bắc xứ Thái.

-- o0o --

Dưới đây là một thời Pháp của Acharn Plien về "Căn Bản Pháp Hành Thiền":

* Tính chất cốt yếu của pháp hành thiền Định (Samàdhi) là học hỏi nhằm hiểu biết cái tâm.

* Tâm hay biết và suy tư , nghĩ ngợi điều này rồi nhảy sang điều kia, quây quần theo những vấn đề khác nhau. Lơ đểnh buông lơi, lợi dưỡng trong giả tưởng và những ý niệm ấy là làm cho tâm luôn luôn khuấy động, không bao giờ ngừng nghỉ.

* Hay biết, theo dõi, ghi nhận cái tâm suy tư, được gọi là niệm (sàti).

* Thấu hiểu cái tâm đang suy tư là sampajanna, tức hiểu biết rõ ràng và sáng suốt.

* Chúng ta cần phải rèn luyện chú niệm (sàti) và hiểu biết rõ ràng (sampajanna) đủ bén nhạy để kịp theo dõi tâm.

Nếu chú niệm còn yếu ắt không đủ lanh lẹ để theo kịp cái tâm vốn phóng chạy đầu này, xẹt nhảy đầu kia vô cùng nhanh chóng, và do đó pháp hành vắng lặng (samàdhi) không thể tiến triển tốt đẹp, ta không thể gom tâm vào đề mục đã chọn, không thể chăm chú vào hơi thở-vào và thở-ra. Thay vì thế, tâm cứ tiếp tục trôi chảy theo con đường thiên nhiên của nó, niệm bị bỏ rơi lại, mãi chạy theo sau không bắt kịp. Chúng ta cố gắng đem nó trở về. Vừa gần đến nơi thì nó đã lẫn thoát nhảy vọt sang "Hoa Kỳ", và trong khi theo dõi, ta thấy nó đã về Thái… hoặc sang Đức. Chúng ta chỉ có thể đuổi chạy theo sau nhưng không bắt kịp vì niệm vẫn chưa được phát triển đầy đủ, chưa thuần thục. Niệm không theo kịp tâm. Đó là căn nguyên của những vấn đề khó khăn mà hành giả gặp phải trong khi trau giồi thiền vắng lặng (cũng gọi thiền định, hay thiền chỉ). Vì lẽ ấy, điều chánh yếu là phải gia công chuyên cần trau giồi niệm (sàti).

* Pháp hành nhằm phát triển chú niệm khởi đầu bằng cách hay biết oai nghi (tư thế) của thân trong giây phút hiện tại.

Đứng, hay biết mình đang đứng. Đi, hoặc nằm, ngồi, luôn luôn theo sát sự di chuyển và oai nghi của thân vào lúc ấy. Tắm, ăn, hoặc đi giải, luôn luôn hay biết đầy đủ những gì đang xảy ra. Sự hay biết không gián đoạn những tác động của thân đem niệm (sàti) và hay biết rõ ràng (sampajanna) lên hàng đầu.

Một khi chú niệm và giác tỉnh đã thuần thục, quý vị sẽ hay biết sự thay đổi oai nghi ngay vào lúc tác động xảy diễn: đang làm việc, giặt quần áo, rửa chén, đọc hay viết, may vá hay thêu thùa, bất luận việc gì mà quý vị đang làm, quý vị sống trong đó, ngay trong hiện tại, trong tác động. Ngay trong lúc đang làm, trong công việc đang làm. Không để phóng tâm, chớ nên lơ đểnh để tâm xẹt nhảy. Đó là phương cách trau giồi niệm trong cuộc sống hằng ngày.

Quý vị sẽ thấy rằng niệm trở nên nhanh nhẹn, sắc bén hơn, có thể nhận ra và bắt kịp cái tâm luôn luôn trôi chảy. Bất luận nơi nào mà tâm phóng đến, niệm sẽ theo sát và kịp thời đem trở về đề mục (cũng gọi là công án). Đã điêu luyện hơn trong pháp hành, quý vị có thể thành công gom tâm an trụ vào hơi thở-ra thở-vào. Mỗi khi tâm phóng, quý vị sẽ có thể bắt lại và đem trở về hơi thở.

Giờ đây niệm (sàti) đã thuần thục và sắc bén, quý vị hãy đưa tâm cùng với chiều hướng suy tư của nó an trụ vào hơi thở cho đến khi cảm nhận luồng hơi thở ra vào. Vào lúc quý vị thật sự cảm nhận hơi thở, tâm cũng hiện hữu cùng với hơi thở. Nếu không thấy rõ ràng hơi thở, ắt tâm đã phóng đi đâu khác. Chừng khi đem tâm trở lại, quý vị phải có thể hiểu biết như vậy. Dầu sao, nếu không còn ở với hơi thở tâm sẽ phóng đi bất định và không còn hay biết.

Quý vị hành giả nào có thể gom tâm quán niệm ở hơi thở một cách tương đối dễ dàng sẽ thấy rằng tâm mình trở nên an tĩnh, vắng lặng, cùng với hơi thở-ra thở-vào. Có sự hay biết rõ ràng từng hơi thở-ra, thở-vào, nặng hay nhẹ, dài hay ngắn, luồng hơi này tiếp theo luồng hơi khác. Trạng thái hay biết như vậy chỉ rằng tâm đã cùng ở với hơi thở.

Nên hiểu biết như thế này: Nếu tình trạng gom tâm như vậy chỉ phát sanh yếu ớt và tồn tại trong một thời gian ngắn thì được gọi là "tạm định" (khanika samàdhi, định, samàdhi, một cách tạm thời, khanika). Tâm phóng đi, ta kéo về, quán niệm hơi thở trở lại. An trụ như vậy một thời gian, hơi thở hình như trở nên ngày càng vi tế hơn nhiều, hầu như không còn nữa. Quý vị không còn thấy hơi thở ở đâu hết ! Đến lúc bấy giờ vài người sợ chết, "Hơi thở của tôi đâu mất rồi? Vừa mới thấy ở đây tức thời mà!…", và rồi họ xuất thiền, ra khỏi trạng thái định (samàdhi). Họ xuất thiền vì sợ chết.

Không nên sợ và bỏ cuộc như vậy. Hơi thở vẫn còn đó, chỉ vì nó vô cùng vi tế, vô cùng tế nhị. Không cần phải tìm nó ở đâu khác. Hãy hướng chú niệm và giác tỉnh vào tâm, và đưa nó trở về đề mục. Hãy quán chiếu và khảo sát: "Một cách chính xác, tâm phát xuất từ căn nguyên nào? Những suy tư của tâm phát sanh từ đâu? Cảm giác thỏa thích và hạnh phúc được chứng nghiệm lúc bấy giờ như thế nào?". Ngay vào khoảnh khắc ấy quý vị tìm thấy tâm mình. Giờ đây, hãy hướng nó về trước ngực hoặc một điểm nào khác trong thân. Hãy đặt cảm giác thỏa thích mà tâm đang chứng nghiệm trên điểm ấy và giữ lại đó, cùng với niệm và giác tỉnh, hay biết rõ ràng. Giữ quán niệm của quý vị lại đó, để nó ở nơi mà "suy tư" phát sanh. Làm như thế ấy ít lâu sẽ phát triển một trạng thái vắng lặng thâm diệu và vững vàng sâu sắc hơn, dần dần cho đến khi tâm đạt đến "cận định" (upacàra samàdhi -- "upacàra" là gần kề).

Đến đây vài người có thể chứng nghiệm ánh sáng tỏ rạng (định tướng, nimitta). Nhưng nếu không có gì xảy ra, chớ nên nản lòng. Pháp hành thiền không hề liên quan đến ý muốn trông thấy bất luận hiện tượng nào. Quý vị chớ nên chế tạo những ấn chứng, trông chờ ánh sáng hoặc cái gì tương tợ. Không nên nghĩ đến điều gì có thể sắp xảy ra. Trạng thái vắng lặng sẽ tự nó phát triển theo đường lối của nó, và bất cứ gì xảy ra sẽ xảy ra. Không nên vọng móng, nóng lòng muốn thấy cảnh trời hay cảnh địa ngục, bởi vì chính loại suy tư có tánh cách ham muốn ấy sẽ gây trở ngại, chận đứng con đường dẫn đến vắng lặng.

Quý vị hành giả nào đã an trụ tâm dễ dàng, chắc chắn sẽ chứng nghiệm tình trạng thoải mái hoan hỷ ngay lúc tâm vừa an tĩnh và vắng lặng. Lần đầu tiên quý vị sẽ tự mình nhận thức hạnh phúc của an lạc là như thế nào. Tâm tự tại và thoải mái, vắng lặng và thỏa thích. Trạng thái này cũng bao hàm chi thiền "phỉ" (pìti), mặc dầu phỉ lạc có thể phát hiện dưới những hình thức khác nhau cho mỗi người. Tóc của quý vị có thể dựng đứng lên; hay quý vị chứng nghiệm một loại cảm giác már mẻ nhẹ nhàng trong tâm hoặc quý vị có thể nghe như có một lớp bông gòn mịn màn bao trùm cơ thể mình; hoặc thân người hình như nhẹ nhàng đến đổi tưởng chừng như có thể bay trôi như mây.

Vị Thiền Sư không thể điều khiển hay kiểm soát những loại chứng nghiệm tương tợ, được gọi là "thân an khinh", và "tâm an khinh". Tại sao tâm vắng lặng lại an khinh, tức nhẹ nhàng thơ thới, như vậy? Là bởi vì nó đã được phóng thích, nó đã phá vỡ mọi chướng ngại tinh thần (nìvarana, pháp triền cái) và đã đặt xuống mọi gánh nặng. Quý vị hãy cố gắng duy trì và bảo tồn trạng thái an khinh này.

Nơi đây Sư muốn phớt qua, không đề cập đến những âm thanh mà hành giả có thể nghe khi ở trạng thái này. Nghe văng vẳng như có tiếng nói trong điện thoại từ xứ xa đến. Có thể hình như quý vị thật sự nghe và thấy những cuộc đàm thoại, xa và gần, liên quan đến quý vị. Tuy nhiên, các âm thanh ấy chấm dứt liền khi tâm quý vị an trụ sâu hơn, hoặc rút ra khỏi từng lớp vắng lặng ấy. Cái tâm lúc bấy giờ chỉ tình cờ lọt vào đúng tần số. Vì lẽ ấy, chớ nên khoe khoang rằng mình đã có "thiên nhãn" hay "thiên nhĩ". Vài người có thể không thích chứng nghiệm những hình ảnh tương tợ, nhưng bất cứ gì xảy diễn cũng đều tùy thuộc nơi bản chất của tâm an trụ.

Khi hành giả để những ấn chứng kể trên trôi qua, và tiếp tục gia công chú niệm, hiểu biết rõ ràng, thì trạng thái vắng lặng càng thâm sâu, thâm sâu hơn từng giờ. Cơ thể vật chất hình như dần dần biến dạng. Không tay, hay không chân: quý vị cảm nghe như không còn tay, hay không còn thân mình. Đâu mất rồi? Quý vị nghe lòng thúc giục muốn mở mắt nhìn xem, nhưng rồi thôi, không màn để ý đến việc ấy. Hãy nhìn tận tường tâm mình, xem mình đã đặt nó vào điểm nào, và giữ nó lại đó. Một loại hạnh phúc phi thường phát hiện nổi bật rất linh động. Đó là trạng thái "nhập định" (apanà samàdhi, toàn định -- tức là tâm định kiên cố vững chắc, không lay chuyển), trạng thái tâm vô cùng an lạc, nhẹ nhàng mát mẻ và thơ thới, đã vượt qua mọi chướng ngại tinh thần. Không còn no hay đói, không còn ham muốn bất cứ gì ở ngoài, chỉ muốn ở lại trong tình trạng thỏa thích này mà trước đây chưa bao giờ chứng nghiệm. Hạnh phúc tinh thần này, mà hành giả thành đạt do nhờ tâm định, đẩy lui ra khỏi tâm tất cả những sự việc và những ham muốn của cuộc sống phàm tục hằng ngày.

Nếu tâm định tiếp tục tiến triển đến hạnh phúc cao cả tuyệt vời, buông trôi tất cả mà chỉ sống trong đó, thì đó là nhập Thiền (jhàna, thiền-na). Trạng thái tĩnh lặng này chỉ khác đôi chút với tâm xả (upekhà). Đến giai đoạn này những câu hỏi về người khác phát sanh đến hành giả: "Có ai khác chứng nghiệm giống như ta vậy không?". "Họ đã làm thế nào để đạt đến?". Đây là lúc mà hành giả phải cực kỳ thận trọng để khỏi rơi vào tình trạng khoe khoang sự hiểu biết của mình. Tới đây quả thật rất dễ sai lệch con đường chân chánh. Vậy, phải giác tỉnh, luôn luôn sẵn sàng tự cảnh giác trong vấn đề này. Nhiều người lạc lối và trở nên điên cuồng, khoác loác khoe khoang cùng tất cả mọi người, "Quả thật là hạnh phúc thật sự… Phải thực hành đi !… Hành như thế này !… như thế kia !". Quý vị hãy chú niệm, hiểu biết rõ ràng, và cẩn mật đề phòng. Chớ nên đi đầu nầy đầu kia để phô trương -- đến giai đoạn này quý vị chưa giác ngộ đâu !

Hãy khảo sát và ghi nhớ từng bước tiến mà quý vị đã thực hiện để thành tựu mức độ định (samàdhi) này. Đến khi ngồi xuống, quý vị có thể lặp lại dễ dàng và nhuần nhã hơn. Hãy chú tâm hồi nhớ quý vị đã làm thế nào để củng cố chú niệm và hiểu biết rõ ràng, ngay từ đầu. Đặt cái tâm như thế nào? Cái gì đã được phát triển và cái gì đã được loại bỏ? Khi tâm đạt đến mức an trụ cao, làm thế nào để giữ tâm lâu dài ở mức ấy?

Mỗi khi hành thiền quý vị sẽ có thể đối phó với bất luận gì xen vào, gây trở ngại cho tâm định. Những phiền toái khuấy rối ấy cũng giống như trước và quý vị cũng khắc phục nó giống như trước, để củng cố trạng thái an trụ trở lại. Người đã thuần thục thực hành sẽ hành thích ứng trong mọi trường hợp, dầu đang đi xe, đi tàu hay đi phi cơ, bất luận ngồi ở đâu, hay đang ở xứ nào. Một khi đã tinh thông trong pháp hành thì hành giả có thể nhập thiền hay xuất thiền dễ dàng và nhanh chóng. Các pháp triền cái không còn gây trở ngại nữa.

Tuy vậy, vài người cảm thấy rất khó mà gom tâm được. Dầu cố gắng mấy, tâm cũng cứ phóng nhảy đầu này đầu kia, vô định. Hãy bám sát theo dõi cái tâm bay nhảy ấy cho đến khi nó mệt mỏi. Thật sự nó không thể trốn thoát tình trạng phóng dật, bởi vì đã kẹt dính trong những suy tư về tiền của, xe cộ, nhà cửa, hay con cái, cháu chít và bạn bè.

Vừa khi tâm bị vướng mắc trong một đối tượng như vậy thì niệm và hiểu biết rõ ràng (sàti và sampajanna) phải theo bắt nó tại đó. Hãy tức khắc gạn hỏi, "Tại sao ta bám níu và giữ chặt… (thí dụ như) cái nhà này? Có chắc nó là của ta không?". Câu trả lời sẽ trở lại, "Chắc như vậy, nó là của ta". Chừng đó, niệm và trí tuệ can thiệp vào, thăm dò và khảo sát, "Chừng ta chết, nó có đi theo với ta không?". Nếu chấp nhận rằng nó sẽ không theo ta, thì tiếp theo, "Vậy, tại sao ta mãi bận lòng vì nó; cái nhà đã được xây cất vững chắc, nó sẽ còn đó chớ không chạy mất đi đâu!".Ta phải quở rầy cái tâm và kéo nó trở về, khép vào khuôn khổ kỷ cương. Quán xét và suy tư như vậy làm cho tâm giựt mình tỉnh thức và vâng lời để ta đưa về đề mục hành thiền (công án), an trụ theo hơi thở. Đó là phương pháp dùng trí tuệ phát triển tâm định (samàdhi) của người cảm thấy rất khó gom tâm. Tức là xử dụng phương tiện tinh xảo và hữu hiệu nhất, thích ứng với hoàn cảnh.

Một khi tâm đã trở về với đề mục thì phải kềm giữ nó lại đó, cột vào, không để nó chạy vuột thoát. Tuy nhiên, đôi khi tâm cũng đáng được nuông chiều và ngợi khen, ban thưởng. Thí dụ như có lúc, ta đang mắc bận việc gì, bỗng nghe phát tâm muốn ngồi xuống hành thiền. Hãy cố gắng nuôi dưỡng loại ý định tương tợ bằng cách nhanh chóng sắp xếp công việc để chiều theo nó. Thông thường ta không thể hoàn tất tất cả công việc ở đời. Hết việc này đến việc khác, không bao giờ viên mãn hoàn thành tất cả. Thừa đúng lúc lòng sẵn sàng lắng dịu, hãy ngừng nghỉ, ngồi lại giữ tâm tĩnh lặng. Chính những lúc tâm muốn an trụ, đức tin trở nên dõng mãnh nhiệt thành ta mới dễ dàng phát triển trạng thái vắng lặng, an tĩnh và tự nhiên gác qua một bên những bận bịu của cuộc sống hằng ngày.

Tâm tĩnh lặng đưa đến hạnh phúc không thối chuyển, không lo âu. Đó là trạng thái mãn nguyện. Cũng giống như ta thích khí hậu và cảnh vật ở một động đá, một khu rừng, hay bóng mát của một cội cổ thụ nào. Khi được ngồi xuống, một làn gió mát nhẹ nhàng thoảng qua làm cho ta khỏe khoắn và sớm cảm nghe thoải mái dễ chịu vô cùng. Trạng thái tâm muốn hành thiền đáng được ngợi khen và phải được khuyến khích như vậy. Vào ban đêm, nếu nghe tâm tĩnh lặng dễ chịu thì hãy cố gắng tiếp tục ngồi đến khuya. Và nếu nghe trạng thái an tĩnh ngày càng vững chắc, thâm sâu, thì chớ nên vội ngưng thiền. Phải trau giồi trạng thái vắng lặng ấy cho đến toàn hảo. Nó sẽ ngày càng yên tĩnh thâm sâu và càng lúc càng kiên cố vững chắc hơn, trên một từng lớp ngày càng sâu. Không nên ngừng. Đây là lúc mà ta sẽ biết được công phu hành thiền của mình đã phát triển đến mức độ nào.

Giờ đây, đã thành tựu một giai đoạn tiến bộ, ta có thể đi nghỉ. Sau khi đảnh lễ Phật, ta nằm xuống và hồi nhớ lại những giai đoạn vắng lặng vừa trải qua và an nghỉ với tâm niệm ấy. Khi tỉnh giấc, tức thì nhớ đến đề mục hành thiền và tầng vắng lặng ấy. Chính Sư (Acharn Plien) thực hành như vậy. Lúc bấy giờ tâm tự nhiên sẽ gom lại và an trụ ngày càng thâm sâu, thâm sâu hơn mức độ đã đạt đến trong đêm qua. Với tình trạng phát triển đều đặn không ngừng và với tâm thật sự an trụ, tuyệt đối sẽ không chiêm bao mộng mị trong giấc ngủ. Đến khi tỉnh giấc trở lại, tâm liền hiểu biết nhiệm vụ của nó và đó là trạng thái mà chúng ta gọi là chú niệm và hiểu biết rõ ràng. Niệm (sàti) và hiểu biết rõ ràng (sampajanna) sẽ được duy trì tại đó để nâng đỡ, trông nôm và chăm sóc tâm.

Quý vị đã thông hiểu về phương cách rèn luyện tâm. Khi cần phải khiển trách, quý vị hãy quở rầy nó. Khi cần phải khép nó vào khuông khổ kỷ cương, hãy khép nó vào, và khi cần phải nâng đỡ bảo trì, hãy nâng đỡ nó. Và khi nó đáng được khen ngợi, hãy ngợi khen, tán thưởng nó. Cũng như đối xử với một đứa trẻ cứng đầu, không biết vâng lời. Ta nắm giữ tay nó lại, không buông ra, cho đến khi nó vâng lời. Khi nó biết nghe lời dạy bảo, biết chăm lo học hành và trở nên ngoan ngoãn hiền lành thì ta phải khen ngợi và ban thưởng nó. Tâm ta cũng dường thế ấy. Nếu ta mãi luôn luôn dùng sức để cưỡng bách, nó sẽ kháng cự lại. Vậy ta phải ngọt dịu, dỗ dành và khuyên bảo. Vì bẩm tánh ngoan cố, có thể nó từ chối không chịu học, không chịu làm việc, và trở nên yếu ớt, lười biếng. Nhưng nếu ta ôn tồn khuyến khích và dỗ ngọt, nó sẽ siêng năng làm việc suốt ngày. Người làm công với ta cũng phải được đối xử như thế. Người phụ giúp ta buôn bán, trông nôm chăm sóc hàng hóa và tiếp đón khách hàng để cho cuộc thương mại làm ăn của ta được thạnh vượng, chớ nên gắt gao ngược đãi, gây khó khăn cho họ. Họ cũng cần ta chăm sóc và chú ý đến, cũng cần ta đối xử dịu hiền nhã nhặn. Tuy nhiên, khi họ lầm lỗi, ta phải nêu lên để sửa sai. Hành động cộc cằn thô kịch sẽ xua đẩy họ ra xa, bỏ ta lại làm việc một mình để sinh sống.

Trẻ con yên lặng và không ồn ào khuấy phá là nhờ cha mẹ sáng suốt khéo dạy. Không phải chỉ rầy la quở quắng và hình phạt, làm cho con mãi lo sợ, tinh thần luôn luôn căng thẳng, không thể chăm học. Tâm tĩnh lặng cũng cần phải được niệm và tuệ thận trọng canh chừng và sửa sai. Chú niệm với trí tuệ -- đó là nguyên liệu phải xử dụng, càng nhiều càng tốt.

Niệm cũng trông chừng lời nói. Ô nhiễm phát sanh dưới nhiều hình thức, và chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, hay biết mình đang nói gì. Lời ăn tiếng nói cẩn trọng có lợi ích chăng? Có đáng cho ta cố gắng chăng? Thí dụ lời nói của Sư (Acharn Plien) trong hiện tại có lợi ích gì cho ai không? Có đem lại hạnh phúc, có làm cho ai hoan hỷ và có đáng được nói không? Thuyết giảng mà không có niệm và tuệ trông chừng lời nói ắt phải lỗi lầm sai lạc. Lúc ban sơ, tất cả chúng ta đều phải lầm lỗi. Vậy, trước tiên, phải nhận ra lỗi mình, và sau đó hãy sửa sai.

Sau khi đề cập đến lời nói, giờ đây đến tư tưởng. Hãy chú niệm, hay biết suy tư bất thiện khi nó phát sanh. Và nếu là ý nghĩ tốt, hiểu biết đúng như vậy. Một suy tư theo chiều hướng sai lại phải được chận đứng lại. Phải kéo nó về con đường chân chánh. Tiến trình tư tưởng cần phải được thận trọng theo dõi và nếu cần, phải chấm dứt. Hãy buông bỏ, để cho những tư tưởng bất thiện trôi qua. Trong mọi oai nghi -- đi, đứng, nằm, ngồi -- hãy chú tâm vào thiện ý nghiệp, những suy tư tạo thiện nghiệp. Tức nhiên sẽ có hạnh phúc. Một khi quý vị đã nhận thức đúng như vậy tâm sẽ chuyên cần tự nó hướng về thiện nghiệp, trau giồi đức hạnh và tích trữ phước lành. Quý vị thử so sánh điều này với một hiện tượng hoàn toàn vật chất. Như ta xây đắp đường lộ, chế tạo xe hơi, máy bay, tàu bè hay vải sồ v.v… Nếu thận trọng và sáng suốt suy tính trước, thành quả sẽ khả quan, sản phẩm sẽ tốt đẹp, và công việc làm ăn sẽ tiến triển phát đạt.

Với cái tâm cũng vậy. Tư tưởng hiền lành sẽ làm cho tâm nhẹ nhàng thơ thới và an vui. Suy tư hung dữ thiêu đốt tâm can và đưa đến đau khổ. Nếu quý vị làm ra những sản phẩm không tốt ắt không bán được. Nếu quý vị nói điều không lành, sớm chầy sẽ phải gây gỗ và tranh chấp. Rồi chắc chắn đau khổ sẽ đến vì sân hận và thù oán chỉ đem đến phiền muộn và thất vọng sâu xa.

Hành thiền mỗi ngày sẽ được an vui vì ta luôn luôn hay biết sinh hoạt --vật chất và tinh thần -- của mình. Hãy trông chừng: trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, đi giải, rửa tay, bất luận gì đang làm, hãy ghi nhận, hay biết mình đang làm việc ấy. Phải luôn luôn hành thiền. Dầu nấu ăn hay rửa chén, hãy hay biết mỗi tác động -- đó là hành thiền. Vị hành giả sáng suốt sẽ có thể hành thiền bất luận lúc nào. Đó là điều mà Sư khuyên quý vị nên làm. Không nên mãi chờ đợi cho đúng ngày, đúng giờ, đúng thời gian, mới hành. Hãy trau giồi pháp hành. Khi quý vị đang đọc sách này, đang viết hay đang thêu thùa, may vá hay đang cắt móng tay đi nữa, luôn luôn hay biết mình đang làm gì. Hãy giác tỉnh chú niệm, gom tâm vào những gì đang xảy ra và an trụ nơi đo. Nhưng hãy thận trọng tránh xa điều bất thiện, vì tư tưởng bất thiện sẽ đưa đến đau khổ phiền muộn. Người chuyên cần giác tỉnh, người luôn luôn canh chừng tâm mình như trên, hay biết tâm mình trong từng khoảng khắc -- ngoại trừ lúc ngủ -- người ấy lúc nào cũng tĩnh lặng và an lạc.

Các bậc Thánh Nhân (ariya) và những vị Cao Tăng, Thiền Sư của chúng ta, đều hành như thế. Tâm các Ngài luôn luôn an trụ. Các Ngài nói chuyện, nhưng tâm luôn luôn ở trong trạng thái vắng lặng và an lạc, luôn luôn có trí nhớ và hay biết mình. Niệm và tuệ của các Ngài luôn luôn hiện hữu để trông chừng toàn thể tiến trình sinh hoạt, do đó, dầu trong lúc chuyện trò, tâm vẫn an tĩnh vắng lặng. Quý vị Đại Đức bị tử nạn máy bay cách đây mấy năm [1], đã sẵn sàng để ra đi. Lúc bấy giờ tâm các Ngài an trụ vững chắc và sẵn sàng để tịch diệt, không mảy may sợ hãi. Trí tuệ luôn luôn sắc bén, thâm sâu và luôn luôn hiện hữu để giữ tâm an tĩnh trong mọi trường hợp. Các Ngài sẵn sàng để bỏ lại cái thân xác này bất cứ lúc nào, luôn luôn giác tỉnh.

Những ai chưa từng hành thiền, chưa quen thuộc với pháp hành để trau giồi tâm vắng lặng (samàdhi), ắt khó có thể tin những sự việc như kể trên có thể xảy ra. Nếu không bao giờ họ thật sự hiểu biết cái tâm của chính họ là như thế nào, thì làm sao có thể trông chờ họ tin tưởng. Đối với các vị ấy, không ai có thể rèn luyện cái tâm, bởi vì tâm luôn luôn biến chuyển. Khi tâm bám vào đau khổ, ta khổ đau sầu muộn. Khi tâm nắm lấy hạnh phúc, ta hoan hỷ thỏa thích. Nhưng đối với các vị Đại Đức Thiền Sư, dầu hạnh phúc hay đau khổ, tâm buông bỏ tất cả. Do đó, các Ngài luôn luôn tĩnh lặng, thanh bình.

Nếu tâm ở trong trạng thái vắng lặng (samàdhi) thì lúc nào ta cũng hành thiền. Sư đã suy nghiệm về điều này và thật sự nhận thức rằng giáo huấn của Đức Bổn Sư quả thật thâm sâu, vô cùng vi tế và huyền diệu. Rõ ràng trạng thái tâm hoàn toàn trong sạch của các bậc cao tăng đã thực hành Giáo Pháp đến mức độ tuyệt đối cao thâm, thấm nhuần cơ thể vật chất, tràn ngập vào tận xương tủy. Tại sao xương của Ngài Acharn Mun [2], sau khi hỏa táng đã trở thành Xá Lợi trong sáng như thủy tinh? Trạng thái trong sạch chẳng những chỉ ở tâm, mà cũng ảnh hưởng đến xương cốt. Xương là xương, nhưng ở đây còn có thêm gì nữa. Phải chăng có chi liên quan đến Niết Bàn? Quả thật là thâm sâu! Quả thật mầu nhiệm!

Phật giáo vô cùng thâm diệu. Các tôn giáo khác, mỗi tôn giáo đều cao quý theo đường lối của mình. Ai muốn theo tôn giáo nào là việc của người ấy, ta không thể nói gì. Chúng ta nên biết những tánh chất khác nhau (parisannutà) của mỗi tông phái để có thể đi từ đoàn thể này sang đoàn thể khác, trong những quốc gia khác nhau, mà không tranh luận hay có những lời lẽ bất hòa với bất cứ ai, về bất cứ vấn đề nào [3]./.

-----------------------------

Chú thích:

[1] Lời người dịch (PKK): Vào năm 1979, một chiếc phi cơ của hoàng gia Thái cung thỉnh tám vị cao tăng, từ các tỉnh miền Bắc xứ Thái, về triều để tham dự một cuộc lễ tại Hoàng Cung ở Bangkok. Không may, giữa đường máy bay lâm nạn và cả tám vị đều chết. Hiện nay, tại chân núi Puthork có đền thờ Ngài Luang Pu Choun, một trong tám vị. Dịch giả được duyên may đến viếng đền thờ đồ sộ và rất trang nghiêm trong khung cảnh núi non hùng vĩ này. Ngay trước pho tượng của Ngài, trên bàn thờ, có tủ kiếng tôn thờ Xá Lợi Ngài, đựng từng nhóm theo cỡ lớn nhỏ trên lối mười cái dĩa, để khách thập phương chiêm bái.

[2] Acharn Mun (đọc là A-chàn Manh) là vị Thiền Sư nổi tiếng nhất ở Thái Lan, trong thời hiện đại.

[3] Bài nầy ghi lại một thời Pháp do Ngài Thiền sư Acharn Plien Panypatipo thuyết giảng bằng Thái ngữ. Dr. Chalerm-Sri Janorn dịch sang Anh ngữ tựa đề "The Fundamentals of Meditation". Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang Việt ngữ với tựa đề "Căn Bản Pháp Hành Thiền".

Mọi thơ từ về quyển sách này xin liên lạc với địa chỉ:

Acharn Plien Panyapatipo
Aranyavivake Monastery
Mae-Taeng District
Chiang-Mai, Thailand

---o0o---

Vi tính: Hải Hạnh

Trình bày: Linh Thoại

Cập nhật: 01-12-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@tpg.com.au.
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544