Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

 Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Phật Học Cơ Bản


...... .

 

 

 

KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ NIỀM TIN PHẬT GIÁO

 

Biên Soạn: Pháp Sư Quảng Tịnh

Việt dịch: Thích Ðạo Cơ

 

--- o0o ---
 

 

Chương II

 

GIÁO CHỦ PHẬT GIÁO

LỊCH SỬ ÐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

(Từ đản sanh đến thành đạo)

Dẫn Nhập

Tín ngưỡng tôn giáo, không chỉ phải hiểu rõ giáo lý mà còn phải nhận thức về giáo chủ, tìm hiểu nhân cách của Ngài có vĩ đại hay không? Tôn chỉ truyền dạy có chính xác không? Như vậy mới là tín ngưỡng chân chánh, còn không thì mê tín.

Trong bài này sẽ kể về cuộc đời giáo chủ của Phật giáo là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì sao Ngài đi xuất gia? Khi xuất gia Ngài làm gì?

 

Chánh Ðề

I. Cha mẹ và thời thơ ấu của đức Phật Thích Ca Mâu Ni

1. Vua Tịnh-phạn và phu nhân Ma-da

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh cách đây trên hai ngàn sáu trăm năm. Ðương thời, Ấn Ðộ phân làm nhiều quốc gia. Phụ thân của Ngài là vua Tịnh-phạn (Shuddhdara) trị vì vương quốc Ca-tỳ-la-vệ (hiện nay ở phía nam nước Nepal, lúc bấy giờ thuộc lãnh thổ Ấn Ðộ). Vua hiệu Kiều-đạt-ma (Gautama), thuộc dòng tộc Thích Ca anh dũng nhân từ, siêng năng chăm lo việc chính trị, thương dân. Mẫu thân là phu nhân Ma-da – công chúa thành Thiên Tý (Devadaha), thuộc dòng tộc Câu-lợi (Koliya) xinh đẹp lại hiền lương, là chị em cô cậu với vua Tịnh-phạn. Sau khi kết hôn, họ sống cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, nhưng lại không có con. Mãi đến khi phu nhân Ma-da bốn mươi tuổi, một hôm bà nằm mộng thấy có một con voi trắng sáu ngà từ  trên trời cao giáng xuống, nhập vào hông bên phải của bà, không bao lâu bà có mang. Mọi người trong cung cho đến dân chúng trong cả nước đều hi vọng phu nhân sanh thái tử.

2. Thái tử đản sanh

Thời gian trôi qua, trong sự vui mừng chờ đợi sắp đến ngày phu nhân Ma-da khai hoa nở nhụy, theo phong tục của người trong nước, bà phải về nhà mẹ chờ ngày sanh nở. Vua Tịnh-phạn sai nhiều thị vệ, người hầu hộ tống phu nhân Ma-da về thành Thiên Tý. Trên đường đi ngang qua vườn Lâm-tỳ-ni (Lumbini) thuộc vùng ngoại ô nước Ca-tỳ-la-vệ, phu nhân Ma-da muốn nghỉ một lúc, bèn dừng chân dưới bóng cây Vô ưu (Asoko) trong vườn; bà đưa tay bẻ một cành hoa, lúc ấy liền đản sanh thái tử. Bấy giờ là năm 624 trước Công nguyên, âm lịch nhằm ngày rằm tháng tư1. Vua Tịnh-phạn và tất cả bá tánh nghe thái tử đản sanh, vui mừng hớn hở, đều đến chúc mừng. Có một vị tiên nhân tên A-tư-đà (Asita) yêu cầu được xem tướng thái tử. Vua Tịnh-phạn liền cho thỉnh vào cung. Sau khi xem tỉ  mỉ  dung mạo kỳ vĩ của thái tử, thầy tướng A-tư-đà rất lấy làm cảm động, phấn khởi, đoán rằng: “Thái tử  tướng mạo xuất chúng, tương lai nếu ở tại gia nhất định sẽ dùng đức để thu phục người, thành bậc Chuyển luân thánh vương thống nhất thế giới. Còn nếu xuất gia tu đạo thì nhất định sẽ thành tựu trí huệ vô thượng triệt ngộ chân lý vũ trụ nhân sinh, thành vị cứu tinh của nhân loại. Ðáng tiếc tuổi ta đã cao không thể sống lâu đến khi Ngài thành chánh giác để nghe và thọ nhận giáo pháp của Ngài”. Vua Tịnh-phạn nghe xong lời tiên đoán của tiên nhân, buồn vui lẫn lộn. Một mặt, vui mừng vì thái tử sẽ làm được việc phi thường, mặc khác buồn vì không nỡ để cho thái tử xuất gia tu đạo.

3. Thời thơ ấu của thái tử

Vua Tịnh-phạn triệu tập các học giả nổi tiếng trên toàn quốc để đặt tên cho thái tử. Mọi người cân nhắc cẩn thận, cuối cùng đặt tên là Tất-đạt-đa (Siddhatha), hàm ý tất cả nguyện đều thành tựu.

Sau khi thái tử sanh được bảy ngày, phu nhân Ma-da chẳng may lâm bệnh qua đời. Em của phu nhân là Ma-ha-ba-xà-ba-đề tình nguyện nhận trách nhiệm nuôi nấng thái tử trưởng thành. Về sau, bà trở thành chánh cung của vua Tịnh-phạn.

Lúc nhỏ, thái tử được sự chăm sóc ở trong cung rất tốt. Ðến khi lên bảy tuổi, vua Tịnh-phạn cho mời các danh sư trong nước chỉ dạy cho thái tử những môn học như: văn học, nghệ thuật, y học, tôn giáo, bắn cung, binh pháp. Thái tử thông minh hơn người, tiến bộ rất nhanh, học các môn kỹ thuật chỉ cần chỉ qua một lần là có thể lãnh hội thông suốt; nhất định sẽ trở thành một thiếu niên văn võ song toàn.

II. Thời thanh niên của thái tử

1. Kết hôn

Thái Tử học nghề ở đời tỏ ra hơn mọi người và cuộc sống vinh hoa phú quý trong cung chẳng khiến cho thái tử thấy đó là nơi an vui cứu cánh. Ngài vui thích nơi thanh vắng, thường ngồi một mình trầm tư dưới gốc cây, tuệ căn ngày trước ngày càng được hiển lộ một cách sâu rộng. Chân lý của thế giới sâu kín, rộng lớn đang nung nấu kêu gọi bên trong Ngài.

Một hôm, theo vua cha quan sát ruộng vườn của hoàng tộc, thái tử thấy trong đất ruộng xới lên có nhiều côn trùng nhỏ lút nhút giữa những đường cày bị đàn chim bay lượn xuống tranh nhau mổ ăn. Con mạnh ăn thịt con yếu. Cuộc sống trước mắt điêu đứng, tàn khốc. Người bình thường trước cảnh tượng này không động lòng nhưng với thái tử thì từ trong sâu thẳm tâm hồn, Ngài rất xúc động... Vua Tịnh-phạn thấy dáng vẻ u buồn, trầm tư của thái tử, nghĩ đến lời tiên đoán của tiên nhân A-tư-đà, bèn tận lực dùng các thứ  dục lạc vinh hoa của cuộc đời để ràng buộc tâm tư thái tử. Ðến năm thái tử mười bảy tuổi, vua Tịnh-phạn hỏi cưới công chúa Da-du-đà-la (Yasodhara), con vua Thiện Giác (Suppabubdha) cho thái tử làm vợ, và xây dựng ba tòa cung điện, bên trong trang hoàng đẹp đẽ, có cung nữ ca múa... Vua Tịnh-phạn hy vọng cuộc sống trong cung của thái tử sẽ được hoàn toàn đầy đủ.

Cuối cùng, Da-du-đà-la hạ sanh vương tôn La-hầu-la rất đáng yêu. Vua Tịnh-phạn có được vương tôn, trong lòng nghĩ: “Lòng thương con, ai ai cũng đều như nhau. Thái tử yêu con mình chắc cũng giống như ta thương thái tử, có lẽ sẽ không còn ý bỏ tục xuất gia nữa!”. Nhưng, thái tử sanh ra vốn là vị thánh ứng thế, lẽ nào Ngài chìm đắm trong tình cảm riêng tư hay sao?!

2. Những lần du ngoạn ngoài thành

Nhân duyên đã chín mùi, cuộc sống trong cung của thái tử quá đầy đủ, thái tử xin phép vua cha cho phép dạo chơi vườn rừng ở ngoài thành. Vua Tịnh-phạn bất đắc dĩ hạ lệnh: “Tất cả những người già, người bệnh, người ăn xin, không được phép ra ngoài. Ðường cái phải quét dọn khô ráo, sạch sẽ”. Trên đường dạo chơi, thái tử nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng xã hội mà ởû trong cung chưa từng thấy. Ngài thấy một người già tóc bạc, lưng gù, gầy gò ốm yếu, lại thấy một người bệnh, thân thể tàn tật, hình hài tiều tụy. Sau cùng, Ngài thấy một người chết được khiêng đi chôn cất, thân quyến theo sau khóc lóc thảm thương. Ngài biết sự sanh, già, bệnh, chết không phân biệt người giàu, kẻ nghèo. Ðó là một quy luật bình đẳng không có ngoại lệ. Ngài nghĩ, sự phồn hoa trong cung, tuổi trẻ, sức khỏe, đến sự sinh tồn cuối cùng, tất cả lẽ nào chẳng có ý nghĩa gì ư?!

3. Xuất gia học đạo :

Nếu chúng sanh vĩnh viễn trầm luân trong luân hồi, thì rốt cuộc vận mạng sẽ xoay vần nhiều kiếp, phải trở lại tiếp tục cam chịu sự sanh, lão, bệnh, tử. Mà không cầu giải thoát cứu cánh. Như thế, đời người có trí tuệ không? Thái tử trăn trở, trầm tư mãi... Vào một lần ra khỏi thành, thấy một vị xuất gia an lành tự tại, thái tử liền đến trước chào hỏi: “Vì sao ngài xuất gia tu hành?” Vị tu sĩ trả lời: “Tôi lìa xa mọi ràng buộc, xuất gia tìm cầu hạnh phúc thật sự trong nhân loại”. Lời vị tu sĩ vừa dứt, tâm ý thái tử giải tỏa mọi ràng buộc, lòng quyết tâm xuất gia cầu đạo. Ngài muốn khám phá ra cái mê lớn từ ngàn xưa, vì mình mà cũng là vì chúng sanh, đi tìm nghĩa lý sâu kín của cuộc sống.

Vào một đêm khuya thanh vắng, khi mọi người đều ngủ say, thái tử thức dậy, lặng lẽ đến nhìn Da-du-đà-la và La-hầu-la lần cuối một cách thâm tình nhưng rất kiên định. Nhìn xong, Ngài ra khỏi tẩm điện (phòng ngủ) đến chỗ ở của người hầu Xa-nặc (Chamdaka), bảo dắt ngựa Kiền-trắc (Kanthaka), rồi nhảy lên ngựa, cùng với Xa-nặc đi nhanh ra khỏi thành. Nữa đêm yên tĩnh, hai thầy trò đi đến rừng rậm gần chân núi. Thái tử cởi bỏ khăn mũ trên đầu và chuỗi ngọc quý trên mình, giao cho Xa-nặc. Xa-nặc đau khổ nuốt lệ can ngăn, ngựa Kiền-trắc dường như xét biết chủ bỏ nó mà đi, hý lên một tiếng dài bi thảm. Thái tử rút thanh bảo kiếm cắt đứt mái tóc đen huyền mềm mại thể hiện lòng quyết tâm xuất gia; lại chỉ dẫn Xa-nặc trở về thưa báo với phụ vương. Xa-nặc buồn rầu, một mình lên ngựa Kiền-trắc trở về thành. Lúc này, ác ma đứng chờ hai bên Ngài từ sớm, nói: “Hãy quay về cung đi! Tất cả những gì của thế giới này đều thuộc về ông, nên sớm tìm cách trở về cung đi!”. Thái tử cứng rắn trả lời: “Ác ma hãy tránh ra. Tất cả những sở hữu trong thiên hạ chẳng phải sự mong cầu của ta”. Thái tử đuổi ác ma đi rồi, tay cầm bình bát đi về phía nam khất thực.

III. Tìm thầy học đạo

1. Tiên nhân Bạt-già-bà (Bhagava) :

Có rất nhiều người tu khổ hạnh trú ở trong rừng sâu, vị tiên nhân lãnh đạo họ tên là Bạt-già-bà. Tuy không biết thân phận của thái tử, nhưng khi trông thấy phong cách cao quí của Ngài, họ đều tự động đứng dậy chào đón. Thái tử  thiết tha hỏi phương pháp và tông chỉ tu tập một cách cặn kẽ; hỏi về nguồn gốc các thứ khổ hạnh2 kỳ lạ, quái dị để cầu lên cõi trời mà họ phụng hành. Thái tử hiểu rõ mục đích của họ chẳng phải là con đường cứu cánh. Ngài ở lại một đêm, sau đó từ biệt ra đi. Có một vị tu khổ hạnh trong rừng bảo Ngài, ở nước Ma-kiệt-đà tại núi Tằng-đa có vị tiên nhân là A-la-la-a-lam có thể đáp ứng đầy đủ nguyện vọng của Ngài.

2. Vua cha truy tìm

 Xa-nặc một mình cỡi ngựa về bẩm báo với nhà vua là thái tử đã vượt thành xuất gia. Vua Tịnh-phạn kinh hãi, ưu sầu không nguôi, lập tức sai đại thần và binh sĩ tìm kiếm đón thái tử  trở về. Họ vội vã đến rừng khổ hạnh. Có vị khổ hạnh bảo thái tử đã rời khỏi đây, thế là, họ tiếp tục truy tìm. Cuối cùng, họ thấy thái tử cắt tóc, mặc y phục giản dị. Họ cung kính xuống ngựa, và sau khi hiểu rõ ý nghĩa xuất gia của thái tử, họ cảm động tha thiết khuyên thái tử  trở về cung thành. Thái tử điềm tĩnh kiên quyết từ chối không theo họ về. Biết tâm chí của thái tử đã quyết định rồi thì rất khó lay chuyển, họ liền cử năm người: Kiều-trần-như, Ngạch-tùy, Bạt-đề, Thập-lực Ca-diếp, Ma-câu-nam theo hầu thái tử tu hành. Nhưng không lâu thì năm người ấy đã chia tay với thái tử. Ngài vẫn một mình đi vào rừng sâu tu hành.

3. Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisara)

Thái tử tiếp tục tìm đạo, vượt qua sông Hằng, tiến thẳng vào thủ đô thành Vương xá, thuộc bờ phía nam sông Hằng. Dân chúng trong thành thấy phong cách cao quý của thái tử đều cung kính cúng dường. Vua nước Ma-kiệt-đà nghe tin có một vị xuất gia... cũng sai người thỉnh mời Ngài đến và tuyên bố muốn chia một nửa hoặc toàn bộ lãnh thổ cho Ngài. Thái tử cảm ơn ý tốt của nhà vua và bày tỏ ý nguyện xuất gia là tìm cầu con đường hạnh phúc chân chính để giải trừ nỗi thống khổ cho nhân loại. Vua Tần-bà-sa-la vô cùng cảm động, cung kính mời thái tử sau khi thành đạo, trước hết về độ cho ông.

4. Tiên nhân A-la-la-a-lam (Arada Kalama) và Tiên nhân Uất-đầu-lam-phất (Udraka Ramaputra) :

 Thái tử đi đến rừng sâu nơi cư trú của tiên nhân A-la-la-a-lam. Ông hướng dẫn cho thái tử làm thế nào cho phù hợp với phương pháp tu trì Phi tưởng phi phi tưởng xứ3. Thái tử cảm ơn, xúc động và khiêm cung nhận lời dạy bảo của tiên nhân, nhưng trong lòng vẫn chưa thõa mãn. Không bao lâu, thái tử từ giã tiên nhân A-la-la-a-lam  đến một nơi khác tham học. Về sau, thái tử  lại đến tham vấn tiên nhân Uất-đầu-lam-phất. Cũng như vậy, ông ta cũng không có phương pháp nào để giải trừ những nghi hoặc trong lòng của thái tử.

Từ khi xuất gia đến nay, thái tử đã trải qua năm năm cầu học với nhiều thầy. Ngài hiểu rất rõ tình hình tu hành của họ. Hơn nữa, Ngài đã thực hành con đường tu tập của họ và cũng trải qua cảnh giới chứng đắc của họ. Song, cuối cùng Ngài nhận ra được các phương pháp tu hành này đều không phải con đường đưa đến giác ngộ rốt ráo. Ngài liền đến phía đông bờ sông Ni-liên-thiền (nhánh sông Hoàng Hà) chọn một nơi trong rừng sâu núi Già-da rồi quyết chí tu hành triệt để con đường khổ hạnh.

IV. Ngộ đạo

1. Tu học khổ hạnh

Lúc bấy giờ, năm anh em ông Kiều-trần-như nghe thái tử tu hành ở núi Già-da liền đến tu hành cùng thái tử. Thái tử ở trong rừng ăn rất ít, thậm chí một ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa tẻ. Vì thế, thân thể của Ngài ngày càng gầy gò ốm yếu, mắt hóp sâu, xương gò má lòi cao. Khổ hạnh như vậy được sáu năm nhưng vẫn chưa khai ngộ, thái tử tự xét lại mình, biết rằng khổ hạnh không phải là phương pháp cứu cánh. Vì vậy, Ngài ra khỏi rừng sâu, đến bên bờ sông Ni-liên-thiền tắm rửa cấu bẩn trên thân thể. Bất ngờ, tay chân và thân thể không còn sức, Ngài ngã xuống đất hôn mê. Khi ấy may sao có một người nữ chăn dê tên là Tu-xà-đa (Sujata) thấy thế liền mang sữa dê đến cho thái tử uống. Sau khi uống sữa dê xong, thái tử dần dần hồi phục được sức khỏe. Năm vị xuất gia theo hầu trước kia, thấy thái tử nhận sữa cúng dường của người nữ chăn dê, cho rằng thái tử đã thối thất tâm đạo, liền bỏ Ngài ra đi. Thái tử cũng không biện bạch, một mình đi đến gốc cây Tất-bát-la bên bờ sông (sau khi đức Phật thành đạo đổi tên là cây Bồ-đề) ngồi kiết già, phát lời thệ nguyện: “Máu có thể cạn, thịt có thể rữa, xương có thể khô, nhưng nếu không giác ngộ, ta thề không rời khỏi chỗ ngồi này!”. Một hôm, tâm cảnh thái tử chằng chịt những ý niệm đan xen, tâm tư tán loạn, nỗi niềm miên man, dẫy đầy những hình ảnh đen tối trong lòng, với tất cả cảnh tượng của ác ma xâm nhập đều hiện bày rõ ràng. Thái tử tập trung toàn lực đến mọi xó xỉnh trong tâm, xua đuổi, đánh lùi bọn chúng chạy tán loạn. Ðây là cuộc chiến căng thẳng kịch liệt để thoát khỏi sự ràng buộc của ma tâm.

2. Giác ngộ chân chánh

Thái tử đã phấn đấu bốn mươi tám ngày, cuối cùng vào đêm ngày thứ  bốn mươi chín (mùng tám tháng mười hai âm lịch), khi sao mai vừa mọc thì hốt nhiên đại ngộ. Ngài  chứng được Tam minh4 thành bậc giác ngộ A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề5, hiệu là Thích Ca Mâu Ni6; chúng ta gọi là Phật Ðà. Lúc này, Ngài mới ba mươi tuổi.

Kết Luận

Ý nghĩa việc xuất gia tìm đạo của thái tử

Tướng sĩ ở ngoài chiến trường đánh thắng quân địch được mọi người ca ngợi là anh hùng hào kiệt, nhưng mấy ai có thể chiến thắng tất cả dục vọng trong tâm mình?! Cho nên, thắng người đã khó mà thắng mình còn khó hơn. Ðức Phật có thể thắng ngoại cảnh và phiền não dục vọng trong tâm, vì vậy mọi người tôn xưng Ngài là bậc đại hùng đại lực. Ðức Phật xuất gia không vì tự lợi cho riêng mình, mà làø vì cứu độ cho tất cả chúng sanh, khiến cho họ có thể thoát khỏi sanh tử luân hồi. Bởi thế, nhân loại mới tôn xưng Ngài là bậc đại từ đại bi. Ngài ném bỏ vinh hoa phú quý, xa lìa quyến thuộc thâm tình, vào rừng tu khổ hạnh, sống cuộc sống đạm bạc mà không một chút hối hận, có thể gọi Ngài là bậc đại hỷ đại xả.

Chúng ta đã biết sơ qua lịch sử từ xuất gia đến hành đạo của thái tử thì phải lấy giáo pháp và lòng từ bi với tinh thần tích cực tu đạo của Phật Ðà làm hoài bảo cho sự tu hành. Nếu gặp chướng ngại thì chúng ta phải kiên định giữ vững chí hướng giống như đức Phật Thích Ca – đức Bổn sư của chúng ta. Như vậy,  ta mới đúng là đệ tử chân chánh của Phật Ðà.


1 Căn cứ vào hội nghị Phật giáo thế giới thì lấy ngày trăng tròn tháng năm dương lịch làm ngày đản sanh của đức Phật. 

2 Khổ hạnh: Ðương thời, phép khổ hạnh ở Ấn Ðộ gồm có những loại như: nhịn đói, chịu lạnh, lấy kim đâm vào da, trồng chuối, nhảy xuống vực, nhảy vào lửa, tự rơi mình từ núi cao xuống, thường đứng im lặng, giữ giới con bò, giữ giới con chó, đứng mãi, lõa thể bôi tro... 

3 Phi tưởng phi phi tưởng xứ: Có thể hưởng thiền định cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng. Ðịnh tâm của cõi trời này rất vi diệu vắng lặng, không có thô tưởng của cõi dục, cõi sắc, cho nên gọi là Phi tưởng. Nhưng lại có tưởng vi tế cho nên gọi là Phi phi tưởng. Ðây là cõi trời cao nhất trong ba cõi.

4 Tam minh: Ðức Phật vào canh hai chứng Túc mạng minh; canh ba chứng Thiên nhãn minh; canh bốn chứng Lậu tận minh. Túc mạng minh là thấy rõ tất cả sự việc đời quá khứ của mình và người khác. Thiên nhãn minh là thấu rõ sự vật gần xa lớn nhỏ. Lậu tận minh là dùng Thánh trí đoạn trừ tất cả phiền não. Ba pháp trên, ở baäc A la hán gọi là Tam minh.

5 A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề: A là vô, Nậu đa la là thượng, Tam miệu là chánh đẳng, Tam bồ đề là chánh giác. A nậu đa la tam miệu tam bồ đề nghĩa là Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

6 Thích Ca mâu Ni Phật: Thích Ca là họ, nghĩa là: Năng nhân. Năng là năng lực; Nhân là từ bi (ban vui cứu khổ); Mâu Ni là tên; ý chỉ cho sự tĩnh lặng, nghĩa là các thứ tà vạy phiền não không thể làm nhiễu loạn. Phật là bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. (Xem thêm Chương I)  

 

 

--- o0o ---
 

Mục Lục | Chương I | Chương II |  Chương III

 Chương IV | Chương V | Chương VI | Chương VII

 Chương VIII | Chương IX | Chương X


--- o0o ---

 

Trình bày:  Linh Thoại

Cập nhật:  01-04-2004

 

Webmaster: quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học Cơ Bản

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@quangduc.com