Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học


...... ... .

 
 

HIỂU PHẬT PHÁP QUA

THÍ DỤ CHIẾC BÈ” VÀ“NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG”

Thích Giác Duyên

Khi đức Phật thuyết pháp,  Ngài thường dùng phương pháp ẩn dụ bằng cách qua những sự vật cụ thể để ngầm chỉ Phật pháp,hoặc dùng cảnh vật tự nhiên,những hiện tượng thường thấy trong đời sống ...nhằm nói lên một số phương diện nào đó trong Phật pháp, qua đó khiến cho người nghe dễ dàng thâm hiểu lý đạo .Trong Kinh kim cang và Kinh viên giác Ngài dùng hai hình ảnh “THÍ DỤ CHIẾC BÈ” (phiệt dụ) và “NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG” (nguyệt chỉ) không ngoài mục đích trên.

Thông qua 20 vị Bồ tát (như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền v. v...)theo thứ lớp thỉnh hỏi về các pháp môn tu học trong Kinh kim cang, đức Phật giảng về không tuệ bát nhã,tức là vận dụng cái trí tuệ để quán cái lý không, quán cái chân lý siêu việt đưa chúng sanh thoát ra khỏi ngã chấp và phápchấp.Ðối với Kinh viên giác, mục đích là chỉ cái giaùc tánh viên mãn,cái lý tánh cụ túc vạn hạnh, viên mãn đầy đủ mà Ðức Như Lai đã chứng ngộ.Giác tánh ấy chính là chân tâm, bản giác của các loài hữu tình.Do từ vô thuỷ đến nay tánh viên giác (cũng gọi không tánh,chaân như,phật tánh,pháp giới,niết bàn,bồ đề v.v..)tuy vẫn thường hằng,thanh tịnh, nhưng do chúng sanh bị màng vô minh che lấp nên không thể nào nhận chân được bản lai diện mục có sẵn nơi chính mình.Bởi vậy, đức Phật rất chú trọng đến việc phá mê hiển ngộ,phá tà hiễn chánh, để dần dần đạt đến chỗ trung đạo vô sở đắc, nhận rõ chư pháp thật tướng, lúc này chân lý sẽ tự nhiên hiển bày. Vì lẽ đó, đức Như Lai thường dạy:“các Thầy Tỳ kheo phaûi biết:giáo pháp của ta cũng như chiếc đò đưa người qua sông,các ông không nên trụ chấp nơi giáo pháp,chánh pháp còn không trụ chấp huống chi là phi pháp”(Kinh kim cang)1,đồng thời Kinh viên giác cũng nhấn mạnh:“Tất cả Kinh giáo của Như Lai đều như ngón tay để chỉ mặt trăng Viên giác (chơn lý). 2

Ðối với “NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG”(nguyệt chỉ),“ngón tay”dụ cho những lời dạy của đức Phật,“mặt trăng” chỉ bản thể chân lý.Mục đích việc dùng “ngón tay” chỉ “mặt trăng” là khuyên răn chúng sanh không nên chấp rằng dầu ngón tay là mặt trăng .hay cố chấp những lời dạy của Ngài là chân lý, mà phải nhận chân được cái chân lý đó.Còn ở “ví dụ chiếc bè”, đức Phật khuyên nên tạo chiếc bè để qua sông,nhưng một khi đã qua đến bờ bên kia rồi cần phải bỏ nó.Ở đây hình ảnh chiêc bè được hiểu là Phật pháp,nó dùng làm phương tiện trên buớc đường tu tập nhằmå đạt niết bàn,nhưng khi đã đến nơi rồi thì cho dù nó là chánh pháp đi nữa cũng phải xả bỏ.Vì vậy,tất cả giáo pháp của Ngài cũng đều chỉ là chiếc bè,chúng ta không nên chấp trước lấy nó.Hình ảnh chiếc bè được Kinh A lợi tra ngũ đại phẩm (thuộc Trung a hàm) chỉ dạy rõ ràng:

“Nơi sông núi thậm thâm,không có đò,cầu. Có người muốn từ bờ bên này sang bờ bên kia.họ đành kết bè mà qua, đến nơi rồi liền nghĩ theá này:chiếc bè này rất có ích với ta,không thể để nó lại đây,nên đem nó theo. Ý các đệ tử thế nào? Làm vậy có ích lợi gì không?

Các thầy Tỳ kheo đáp: chẳng có ích gì.

Ðức Phật hỏi tiếp:khi người ấy đang còn ở trên sông,hoặc gần sát tới bờ thì cái bè dối với họ thế nào?

Rất có ích.

Phật dạy: cũng như thế...Các đệ tử biết chánh pháp mà Như Lai thường ẩn dụ ấy còn có thể bỏ huống hồ phi pháp?”3

 “Pháp” chỉ quy phạm,giáo pháp...Như những lời dạy của đức Phật gọi là Phật pháp,giáo pháp hoặc chánh pháp. Cái chân lý thường tồn bất biến cũng gọi là PHÁP,mục đích những lời dạy của Ngài đều nhằm xiển dương chân lý này.PHÁP được định nghĩa là“nhậm trì tự tánh,quỹ sanh vật giải. “nhậm trì tự tánh” là bảo trì được tự tánh để không thay đổi,tức chỉ cái tự tánh tồn tại của tất cả các pháp; ø“quỹ sanh vật giải” chỉ cái tự tánh ấy có khả năng làm quy phạm để mọi người dựa theo đó mà lý giải mọi sự vật.Nhưng nếu cho rằng mọi sự vật đều có thực thể cố định cũng bị kẹt vào “pháp chấp”.Cho nên Hiển dương thánh giáo luận nói do biến kế sở chấp nơi vọng tâm, chấp có các pháp tồn tại liền bị rơi vào hai thứ điên đảo mê lầm,bị mê lầm nơi thể của các pháp mà sinh sở tri chướng,còn mê lầm nơi dụng của nó cũng bị vướng vào phiền não chưóng.Ví như con người là do ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)giả hợp,nên biết nó là giả danh hư huyễn,thế mà không nhận ra được như thế,tức bị sở tri chướng. Từ đó,đối với nó sinh ra tham ái,cũng vướng vào phiền não chướng.Một khi được giác ngộ rồi biết thể của ngũ uẩn chỉ giả danh, hư huyễn không thực, lúc này tham ái sẽ không khởi lên.Do vậy, có thể nói rằng do có pháp chấp mới có ngã chấp;do có sở tri chướng mói có phiền não chướng.

Hàng phàm phu,do chưa đạt được trí tuệ vô lậu, xa lìa thực tướng viên dung mà chấp lấy cái hiện tượng sai biệt nên bị kẹt trong vòng đối đãi của hữu vô,bỉ thử,sinh diệt v.v...(mê lầm về kiến giải).Ngược lại,hiểu được các pháp đều do duyên sanh, vì tính không nên duyên khởi,vì duyên khởi nên tính không,các pháp do duyên hợp mà sanh,do duyên tán mà diệt.Các pháp do duyên tụ mà sanh nên nó không có tự thể và cũng không có tự tướng.Nó là huyễn có,như nhà aûo thuật giả biến ra các vật,thật là “như huyễn tức không”,,“chẳng phải có mà có”, nên Kinh kim cang nói tất cả sự vật trong thế gian đều như huyễn không thật,ví như hư không,nó chỉ có cái giả danh mà không có thực thể (Nhứt thiết hữu vi pháp,như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diêc như điển,ưng tác như thị quán) 5.

Các pháp không có tướng cố định,,thật tướng của nó chỉ là huyễn tướng không thật, nên đức Phật day:Pháp khó hiểu ít có thứ nhất màPhật trọn nên đó,chỉ có Phật cùng phậtmới có thể thấu tột tướng chân thật của các pháp(Kinh pháp hoa )6

Từ đây có thể hiểu được các nghĩa sâu xa của” thật tướng”:1.THẬT TƯỚNG VÔ TƯỚNG: là không có một tưóng nào vì nó xa lìa tất cả các tướng hư vọng;2.THẬT TƯỚNG VÔ BẤT TƯỚNG: tuy thật tướng vô tướng nhưng hằng hà sa số giả tướng cũng từ đây mà ra;3. THẬT TƯỚNG VÔ TƯỚNG VÔ BẤT TƯỚNG: nghĩa thật tướng tuy xa lìa tất cả tươùng nhưng bản thể nó không phải là không,tuy hàm chứa tất cả mà tự tánh vẫn tịch, do vậy “chân không” không chướng ngại “diệu hữu”, “diệu hữu” không chướng ngại “chân không”.Nếu nói về “có”,diệu hữu chẳng phải có; .Neáu nói về “không”,chân không chẳng phải khôngù; một khi xa lìa tất cả tướng tức có được tất cả pháp.

Thật tướng ấy cũng gọi là chân không, vì nó rời tất cả tướng hư vọng.Chân không thì “vốn không có hoa đốm,cho nên nó không có sanh ra hoa đốm hay diệt hoa đốm vậy”(Bản vô hoa,phi khởi diệc cố)7.Chân không là bản thể của vạn pháp, nó không có thay đổi,tăng giảm,tuy không tạo tác mà không phải không tạo tác, Chân không ấy đối với các chỗ,các pháp đếu chiếu soi bình đẳng, tại nơi nhiễm-tịnh, tính nó vẫn khoâng thay đổi,tính ấy chính là chân như,chân không.Chân không chính là diệu hữu,diệu hữu cũng chính là chân không,chân như vậy.Lại nữa, chân như thì bất biến mà tuỳ duyên,tuỳ duyên biến tạo các pháp nhưng tính chân như vẫn không biến đổi theo.Ví như nước biến thành sóng nhưng tánh của nó vẫn là ướt.Hiểu được vậy,cho dù vu õtrụ vạn hữu sanh sanh diệt diệt không ngừng,cảnh trần có thay đổi thế nào đi nữa,hành giả cũng phải nhận ra được “maët trăng chân như”,cũng phải “qua đến bờ bên kia”.Muốn vậy đối với mọi hoạt động đều không lìa sự chỉ đạo của trí tuệ, có vậy tâm mới viên thông, tự tại vô ngại, giải thoát sanh tử thống khổ. Căn nguyên của sự sanh tưû là vô minh tham ái, rồiø sinh ra ngã chấp pháp chấp. Chính vậy cần nên sống với“trí tuệ quán không”,“trí viên giác” .Ðây là cách tu của hàng thượng trí.Ðối với hàng hạ căn chúng ta,sự tu tập bắt đầu từ đoạn phiền não, sau đó tiếp tục dứt sạch tập khí của phiền não.Tập khí của phiền não tuy không phải là phiền não nhưng nó là cái hạt giống(chủng tử) còn đang ẩn tàng trong “mảnh đất tàng thức” để rồi từ đó sẽ gây ra biết bao phiền não khổ đau. Do vậy, trước tiên tu tập nhằm đoạn dứt phiền não để chuyển phàm thành thánh,sau dứt sạch chủng tử của nó, lúc này mới thật “bước lên” cảnh giới Phật.

Tóm lại, bằng hai ẩn dụ THÍ DỤ CHIẾC BÈ” (trong Kinh kim cang) va Ø“NGÓN TAY CHỈ MẶT TRĂNG” (trong Kinh viên giác) đã nói lên mục đích của đức Phật là muốn cho chúng sanh thấu triệt Phật pháp một cách chân thật rốt ráo,đối với bất kỳ một pháp nào (cho dù đó là thiện pháp hoặc ác pháp) cũng không nên cố chấp,nhân, vì tất cả đều do duyên hợp mà sanh,duyên ly mà diệt, tất cả mọi sự vật trên thế gian này đều như huyễn không thật có .Thật tướng của nó là “không tánh”,là “chân như”,cái dụng của chân như thì tuỳ duyên hiển hiện ra vạn tượng. Hiểu rõ bản tánh của vạn pháp là không phải một cũng không phải khác, nó ly tất cả tướng,tất cả phân biệt chấp trước nơi vọng tâm.Thể tính ấy tịch nhiên vắng laëng,không tăng không giảm,không dơ không nhiễm. Nói đến phúùc lạc thì đây là chỗ an lạc nhất,hạnh phúc nhất.Ðề cập đến tự do thì đây là nơi tự do nhất, đồng thời nó cũng siêu vượt mọi danh ngôn sắc tướng.Như thế chúng ta sao lại không nỗ lực tu tập,nương theo“chiếc bè”, ngón tayđể dứt trừ mê hoặc,để thân tâm được tịch tịnh,tự tại,an lac giải thoát, chứng đắt niết bàn.

  

CHÚ THÍCH:

 (1)Phật hoc phổ thông(quyển 3),Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992 trang 549. 

(2)Phật hoc phổ thông(quyển2),Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992 trang843. 

(3)Xem Kinh A lợi tra ngũ đại phẩm (thuộc Trung a hàm quyển 54,Trung Hoa Ðại tạng kinh quyển 31), Trung Hoa thư cục phát hành năm 1987 trang 530.

 (4)Xem Hiển dương thánh giáo luận quyển 16 (thuộc Trung Hoa Ðại tạng kinh quyển 28), Trung Hoa thư cục phát hành năm 1987 trang 559.

 (5)Kinh kim cang,chùa Quảng Huệ tỉnh triết Giang (Trung Quốc) ấn hành trang 83.

 (6)Kinh diệu pháp liên hoa (bản dịch của Hoá thượng Thích Trí Tịnh) trang 53.

 (7)Phật hoc phổ thông(quyển2),Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992 trang800.



---o0o---

Trình bày: Linh Thoại

Cập nhật: 01-12-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544