Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học


...... ... .

 

Cây Giác-Ngộ
The Tree of Enlightenment.

Nguyên tác: Peter Della Santina, Ph.D.
Việt dịch: Minh Thiện Trịnh Chỉnh
Melbourne 2002
---o0o---

Chương

(Trang 85 - 95.)

Tái sinh

Rebirth

~~~~~~~

Trong chương này, tôi sẽ xét kỹ cái kết quả của nghiệp báo trong cuộc đời kế tiếp. Nói một cách khác, tôi sẽ nói kỹ quan niệm tái sinh. Nhưng trước khi chúng ta bắt đầu nói chuyện đặc biệt về lời dạy của đức Phật về tái sinh, chúng ta có thể bỏ ra một chút thời giờ bàn thảo về quan niệm tái sinh một cách tổng quát.

Tái sinh là một ý niệm mà nhiều người cảm thấy khó tin. Ðiều này lại càng rõ nét hơn trong mấy thế kỷ qua là chúng ta càng ngày càng trở nên quen nghĩ đến những gì được xem là những từ ngữ khoa học, có nghĩa là những gì mà nhiều người ngây thơ cho là khoa học. Quan điểm này đã gây cho nhiều người không chấp nhận ý niệm tái sinh bởi vì họ nghĩ rằng nó sặc mùi mê tín dị đoan và có cái nhìn lạc hậu về thế giới ngày nay. Vì lý do này, tôi nghĩ chúng ta cần tạo nên một thế cân bằng bằng cách tạo ra một chút phóng khoáng đối với ý niệm tái sinh trước khi chúng ta bắt đầu xét đến giáo lý Phật giáo về đề tài này.

Có một số phương pháp chúng ta có thể chấp nhận trong việc làm sáng tỏ vấn đề tái sinh. Một trong những cách đó là trong hầu hết tất cả các văn hóa lớn của thế giới đã có niềm tin phổ biến về tái sinh. Ðiều này đặc biệt đúng ở Ấn độ, nơi mà ý tưởng này có thể quay ngược lại vào thời kỳ văn minh cổ đại Ấn độ. Tất cả các tôn giáo chánh ở nơi đó--hữu thần hay vô thần, các trường phái Ấn độ giáo hay các giáo phái không chính thống như Kỳ na giáo--đều thừa nhận về sự thật tái sinh. Trong các văn hóa khác cũng vậy, niềm tin về tái sinh rất phổ biến. Lấy một thí dụ, trong vùng Ðịa trung Hải, lòng tin về sự thực tái sinh có khắp nơi trước và trong vài thế kỷ đầu Tây lịch. Ngay đến nay, nó vẫn còn trong giáo phái Druze của Hồi giáo ở Trung Ðông. Do vậy, lòng tin về sự thực tái sinh là một phần quan trọng của lối suy nghĩ của con người về thế giới và vị trí của chúng ta trong đó.

Trang 86. Kế đó ta phải kể đến lời chứng của những người có thẩm quyền, những người thuộc về các giáo phái khác nhau. Trong Phật giáo, chính đức Phật đã dạy sự thật về tái sinh. Chúng ta được biết rằng, vào đêm giác ngộ, ngài đạt được 3 loại tri thức, đầu tiên là tri thức về cuộc đời quá khứ của riêng ông. Ông nhớ lại những sự việc trong đó ông đã sống trong vô số kiếp trước đây. Ngoài lời chứng của Phật, chúng ta còn có những đại đệ tử của ông, những người có khả năng nhớ lại các cuộc đời quá khứ của họ. Ananda, chẳng hạn, đạt được các khả năng nhớ được cuộc đời qua khứ của ông ngay sau khi ông được thọ giới làm tu sĩ Phật giáo. Cũng vậy, trong suốt lịch sử của Phật giáo, những hành giả viên mãn đã có thể nhớ lại cuộc đời quá khứ của họ.

Tuy nhiên, những lời biện giải này về sự tái sanh không hy vọng hoàn toàn thuyết phục được trong môi trường lý giải và khoa học của chúng ta đang sống, vì thế có thể chúng ta cần quan sát những gì gần với chúng ta hơn. Một vài bạn có thể biết một sự kiện là trong ba thập niên qua đã có một số các cuộc điều tra khoa học rộng lớn về vấn đề tái sinh. Các cuộc nghiên cứu như thế đã được đảm trách bởi các nhà tâm lý và cận tâm lý. Qua các cuộc nghiên cứu này chúng ta đã dần dần dựng lên được một điều kiện đáng tin tưởng cho sự thực về tái sinh, một trường hợp được phát triển theo những kinh nghiệm khoa học. Nhiều sách được xuất bản trong đó các chi tiết của các cuộc điều tra này đã được mô tả và thảo luận.

Trang 87. Một học giả đặc biệt trong lãnh vực này trong những năm vừa qua là Giáo sư Ian Stevenson thuộc Ðại học Virginia Hoa kỳ. Ông đã xuất bản các tài liệu của ông trong khoảng 20 trường hợp về tái sinh. Một trường hợp, đã nhận được sự chú ý khắp nơi, đó là một người đàn bà có tên là Bridey Murphy có khả năng nhớ lại cuộc đời của bà đã sống hơn một trăm năm trước đó trong một miền đất lạ, một nơi mà bà trước đó chưa bao giờ đến thăm trong cuộc đời hiện tại của bà. Tôi sẽ không đi vào những chi tiết đặc biệt của các trường hợp đó ở đây, bởi vì bất cứ ai quan tâm đến các bằng chứng tái sinh khoa học tự người đó có thể đọc thêm về nó. Tuy nhiên, tôi nghĩ bây giờ chúng ta đang đến một thời điểm mà ngay cả những người hoài nghi nhất trong chúng ta cũng phải thừa nhận rằng có rất nhiều bằng chứng khá chi tiết nhưng không thể chứng minh được cho sự thực về tái sinh.

Trong việc dựng lên một trường hợp thực tế về tái sinh, chúng ta có thể suy nghĩ cặn kẽ với kinh nghiệm riêng của mỗi người. Chúng ta chỉ cần nhớ lại và xem xét kinh nghiệm ấy theo lối Phật giáo để rút ra được các kết luận. Mọi người đều nhận rằng, mỗi người trong chúng ta có những khả năng đặc biệt riêng, ta gọi là có khiếu hay không có khiếu. Ta nên tự hỏi xem: có phải những điều trên đây thực sự là kết quả của sự tình cờ hay do sự tác động nhau của xã hội trong cuộc đời trước hay không? Chẳng hạn, một số người trong chúng ta có khả năng xuất sắc về thể thao hơn những môn khác. Một vài người trong chúng ta có tài về toán học, trong khi những người khác có thiên khiếu về âm nhạc. Người này thích bơi, trong khi người khác sợ nước. Tất cả những sự khác nhau về khả năng và tinh thần thái độ của chúng ta chỉ là do kết quả của sự ngẫu nhiên và tính tác động nhau?

Trang 87. Thường có những khúc ngoặt lớn lao và không ngờ trên con đường phát triển cá nhân. Cho tôi lấy trường hợp riêng của tôi. Tôi được sinh trong một gia đình Thiên chúa giáo La mã ở Hoa kỳ. Tuyệt đối không có một cơ bản đầu tiên nào của tôi cho biết rằng tôi đi đến Ấn độ vào cái tuổi hai mươi, và rằng tôi sẽ bỏ ra kế đó hai thập niên rưởi cuộc đời hầu hết là tại Á châu, nơi tôi liên hệ thật sâu đậm trong việc nghiên cứu Phật giáo.

Trang 88. Rồi thì, cũng có những tình trạng trong đó đôi khi chúng ta cảm thấy một linh tính mạnh mẽ rằng chúng ta đã từng ở một nơi đặc biệt trước đây, mặc dầu chúng ta không viếng thăm nơi đó trong cuộc đời hiện tại. Vào những dịp khác, chúng ta cảm thấy rằng mình đã biết người nào đó trước đây: chúng ta gặp một người lần đầu tiên, vậy mà tức thì chúng ta cảm thấy rằng mình đã biết người đó từ lâu. Ngược lại, chúng ta có thể biết một người nào khác nhiều năm mà vẫn cảm thấy không thực sự biết người đó. Các kinh nghiệm như khi cảm thấy rằng chúng ta ở trong một tình trạng đặc biệt trước đây, rất thông thường và phổ thông là ngay cả trong văn hóa đương thời của Pháp, hầu như nó hoàn toàn không biết về tái sinh, có một câu nói nổi tiếng của họ--thành ngữ ‘déjà vu’ (đã từng biết hay nhớ đến, dù trước đây chưa biết hay nhớ đến nó--already seen)

Nếu chúng ta không giáo điều hoặc võ đoán thì khi chúng ta tổng hợp lại tất cả những điều đã biết này--tức lòng tin về tái sinh trong nhiều nền văn hóa và thời đại trong suốt lịch sử của văn minh nhân loại, sự chứng nhận của đức Phật và những đệ tử nổi tiếng của ông, các bằng chứng được cung cấp bởi sự nghiên cứu khoa học và những điều biết được do chính cá nhân bạn chứng minh rằng chúng ta đã có mặt trước đây--tôi nghĩ chúng ta sẽ phải thú nhận rằng, tái sinh là một thực tế chắc chắn có thể xảy ra.

Trong Phật giáo, tái sinh là phần thiết yếu của một tiến trình thay đổi liên tục. Thật vậy, chúng ta không chỉ tái sinh vào lúc chết mà chúng ta tái sinh từng lúc một. Ðiều này, giống như những lời dạy quan trọng khác của Phật giáo, dễ dàng được chứng nhận bằng cách dẫn chứng đến kinh nghiệm riêng của chúng ta và vào những điều tìm thấy của khoa học. Chẳng hạn, đa số các tế bào tạo thành thân thể con người chết đi và được thay thế nhiều lần trong tiến trình của một đời người. Dù rằng một vài tế bào kéo dài suốt một đời người vẫn chịu sự thay đổi liên tục ở bên trong. Ðây là một phần của tiến trình sanh, tử và tái sanh. Nếu xét đến cái tâm, chúng ta thấy rằng các tâm hành (như lo lắng, hạnh phúc, v.v...) xuất hiện và biến mất từng chặp một. Chúng mất đi và được thay thế bởi những tình trạng mới mẻ và khác nhau, cho dù chúng ta xét đến thân thể hay tâm não, kinh nghiệm của chúng ta thay đổi luôn bởi sự sống, chết và sống lại một cách liên tục.

Trang 89. Phật giáo dạy rằng sự hiện hữu có những cõi, phạm vi hay quy mô khác nhau. Vài kinh sách liệt kê đến 31 cõi hiện hữu, nhưng riêng cho mục đích ở đây, chúng ta sẽ có một kế hoạch giãn dị hơn, bằng cách chỉ dùng sáu cõi. Sáu cõi này có thể được chia ra thành hai nhóm, nhóm một ‘tương đối may mắn’ và nhóm kia, ‘không may mắn’. Nhóm thứ nhứt bao gồm cõi của các thánh, cõi của các á thánh, và cõi người. Tái sinh trong những cõi may mắn này là kết quả của nghiệp lành mạnh. Nhóm thứ hai bao gồm cõi súc sanh, cõi ngạ quỉ và cõi địa ngục. Tái sinh trong những cõi thống khổ này là kết quả của nghiệp không lành mạnh.

Chúng ta bây giờ hãy xét từng cõi này, bắt đầu với cái thấp nhứt. Có một số cõi địa ngục trong Phật giáo, bao gồm tám địa ngục nóng và tám địa ngục lạnh. Trong các địa ngục này, các sinh vật chịu đựng những đau khổ không thể tính ra và không thể mô tả được. Người ta nói rằng cái đau khổ phải chịu trong thế giới loài người này là hậu quả của việc bị đâm bởi ba trăm ngọn giáo trong một ngày chỉ là một phút của cái đau khổ chịu đựng bởi các cư dân của địa ngục. Cái nguyên nhân của việc tái sinh trong địa ngục là tánh tình bạo động triền miên như giết theo thói quen, độc ác, v.v...

Trang 89. Những hành động như thế được sinh ra do sự ghét bỏ, và sinh vật phạm tội này chịu đựng những cái đau khổ của địa ngục cho đến khi nghiệp không lành mạnh mà họ đã làm ra qua những hành động như thế không còn nữa. Cái điểm cuối cùng này là quan trọng, bởi vì nó cho chúng ta cơ hội để ghi nhận rằng, trong Phật giáo, không ai ‘mãi mãi bị nguyền rủa’ hay chịu đau khổ triền miên. Khi nghiệp báo không lành mạnh của họ cạn kiệt rồi, các cư dân của địa ngục được tái sinh trong những cõi hiện hữu may mắn hơn.

Cõi kế tiếp là cõi của quỷ đói. Sinh vật trong cõi này chịu đựng phần lớn sự đói, khát, nóng, lạnh. Họ hoàn toàn mất hết các món vật mà họ thích thú. Người ta nói rằng khi quỷ đói thấy một núi cơm hay một dòng sông nước mát và chạy về hướng đó, họ cảm thấy rằng một núi cơm chỉ là một đống sỏi và con sông chỉ là một dãy đá xanh. Giống như vậy, người ta nói rằng trong mùa hè ngay cả mặt trăng cũng nóng đối với họ, trong khi trong mùa đông ngay cả mặt trời cũng lạnh.

Trang 90. Nguyên nhân gần nhất của việc tái sinh làm quỹ đói là tính tham lam và keo kiệt; nó được sanh từ sự gắn bó chặt chẽ và tham danh lợi, tham ăn ngũ (tài sắc danh thực thùy). Cũng như với các cư dân của địa ngục, các sinh vật trong cõi này không bị kết tội mãi mãi dưới hình thức của ngạ quỹ, bởi vì khi nghiệp không lành mạnh cạn kiệt, họ sẽ được tái sinh trong một cõi trời may mắn hơn.

Cõi kế là cõi của thú vật, sinh vật chịu đựng từ một số hoàn cảnh không hạnh phúc. Chúng chịu đựng từ sự lo sợ và đau khổ gây ra từ sự giết chóc thường xuyên và ăn thịt lẫn nhau. Chúng chịu đựng từ những con người giết họ để lấy thịt, lấy da, trân châu hay răng tóc. Dù rằng không bị giết, chúng bị nuôi trong nhà, bị bắt buộc phải làm việc cho những người điều khiển họ với mâu hay roi. Tất cả những việc này là nguyên nhân của đau khổ.

Trang 90. Nguyên nhân chánh của việc tái sinh làm thú vật là vô minh. Sự theo đuổi mù quáng, buông lung cho những dục vọng, quá bận bịu với sự ăn, ngủ và thỏa mãn tình dục, không để ý đến sự cần thiết phát triển tinh thần và tu tập giới đức cho mình-- tất cả những việc này dẫn đến việc con người tái sinh làm thú vật.

Khi ta nói rằng sân nhuế là nguyên nhân tái sinh vào cõi địa ngục, tham ái là nguyên nhân tái sinh vào cõi ngạ quỹ và mê si là nguyên nhân tái sinh vào cõi thú vật, điều này không có nghĩa là một hành động đơn phương bị tác động bởi sân, tham hay si sẽ gây tái sinh trong các cõi sinh vật liên hệ. Thực sự nó có nghĩa là có một sự liên hệ rõ ràng và có chứng minh giữa: lòng ghét bỏ với sự tái sinh trong các cõi địa ngục; lòng tham ái với sự tái sinh vào các hồn ma đói; lòng si mê với sự tái sinh thành thú vật. Nếu không được ngăn chận và không được cản trở bởi những hành động đạo đức bù lại thì các hành động được tác động theo thói quen không lành mạnh (hay bất thiện) chắc chắn sẽ dẫn đến tái sinh trong 3 tình trạng đau buồn này.

Trang 91. Tôi tạm lướt qua một bên để bàn sau về cõi người và xin tiếp tục nói về cõi á thánh. Á thánh, về cả 2 mặt thân và tâm thì đều mạnh khỏe và tốt đẹp hơn con người. Tuy thế họ vẫn đau khổ vì ghen tỵ và mâu thuẩn. Theo thần thoại Ấn độ cổ điển, các á thánh và các thánh chia xẻ cùng một cõi trời (hay cây trời). Trong khi các thánh vui hưởng quả trái của cây này, các á thánh là những người giữ các rễ cây. Kết quả là, các á thánh ghen tị với các vị thánh và thường xuyên cố gắng dành lấy trái, quả. Họ chống lại các vị thánh nhưng bị thất bại và kết quả là bị đau khổ nhiều. Vì sự ghen tỵ và mâu thuẩn này nên việc tái sinh trong số các á thần á thánh là không hạnh phúc và không may mắn.

Trong trường hợp các cõi khác, có một nguyên nhân làm tái sinh vào các á thần á thánh. Ở mặt tích cực, cái nhân là sự rộng lượng, trong khi ở mặt tiêu cực, cái nhân là ganh ghét và thèm muốn.

Cõi của các thánh là cõi hạnh phúc nhất trong sáu cõi. Do kết quả của các hành động lành mạnh được làm trong quá khứ, hành trì các giới hạnh và thực hành thiền định, các sinh vật được sinh ra trong số các thánh, nơi họ vui hưởng các thú vui tính dục, hạnh phúc tinh thần, hay sự tĩnh mịch tuyệt đối, tùy thuộc vào cấp độ của cõi mà họ được sinh ra. Tuy nhiên, cõi của thánh không phải là để muốn thì được, vì hạnh phúc của các thánh là vô thường. Không cần biết là họ có thể vui hưởng được bao nhiêu hay bao lâu, một khi cái lực của nghiệp báo lành mạnh đã hết đi, cái hiệu quả của giới đức và kinh nghiệm của thiền định đã tiêu cạn, các vị thánh sẽ rời khỏi thiên đàng và được tái sinh vào một cõi khác. Lúc đó, người ta nói rằng các vị ấy chịu đựng sự thống khổ tinh thần còn hơn là các sinh vật trong các cõi khác chịu đựng về thể xác.

Các thánh được tái sinh trong cõi thiên đàng do kết quả của sự thực hành giới hạnh và thiền định, nhưng cũng có một yếu tố tiêu cực khi tái sinh trong cõi thiên đàng. Ðó là tính hãnh diện.

Trang 92. Như bạn đã thấy, chúng ta có sự phiền não hay nhiễm ô gắn liền với từng cõi một: địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh, á thần và thánh---đó là, sân, tham, si, ganh tị và ngã mạn. Tái sinh vào bất cứ một trong 5 cõi này thì đều không phải là hay. Ba cõi thấp nhất không hay vì những lý do hiển nhiên: vì sự quá đau khổ và vì sự vô minh hoàn toàn của các sinh vật sống trong đó. Dù tái sinh trong các cõi của á thánh và thánh cũng không hay nốt bởi vì mặc dù họ hưởng được một mức độ hạnh phúc và quyền lực nào đó nhưng sự hiện hữu ở đó là vô thường. Ngoài ra, các trò tiêu khiển và vui thú trong những cõi này làm cho các sinh vật ở đó lãng quên việc tìm một lối thoát ra khỏi vòng sinh và tử. Ðây là lý do tại sao người ta nói rằng, trong 6 cõi hiện hữu, cõi may mắn , đầy cơ hội và đặc ân nhất là cõi người. Ðây cũng là lý do tại sao tôi đã để phần thảo luận cũa chúng ta về cõi người đến phần cuối.

Cõi người là cõi được đặc ân nhất của 6 cõi bởi vì, là con người, ta có động cơ thúc đẩy và cơ hội để thực hành Giáo pháp và hoàn thành giác ngộ. Người ta có động cơ và cơ hội bởi vì các điều kiện dẫn đến việc thực hành con đường đạo là có sẵn ở đó. Ở cõi người, ta có cả hai hạnh phúc và đau khổ. Cái đau khổ trong cõi này, dù kinh khủng, cũng không to lớn như cái đau khổ trong 3 cõi phiền não kia. Cái vui thú và hạnh phúc được trải qua trong cõi người thì không to lớn như cái thật vui thú và rất hạnh phúc được kinh nghiệm bởi các vị trên thiên đàng, con người cũng không bị tràn ngập đau khổ như các sinh vật phải chịu như ở dưới địa ngục. Và không giống như thú vật, con người sở hữu đầy đủ sự thông minh để nhận ra sự cần thiết của việc tìm phương tiện để hoàn thành sự chấm dứt đau khổ.

Tái sinh làm người thì khó đạt theo một số quan điểm. Trước tiên, nó khó vì quan điểm nguyên nhân của nó. Giới hạnh tốt là nguyên nhân tối cần của việc tái sinh làm người, nhưng hạnh lành thực sự thì rất hiếm. Thứ hai, tái sinh làm người khó đạt nếu nói về quan điểm con số, vì loài người chỉ là một phân số nhỏ của các sinh vật trú ngụ trong 6 cõi. Thứ ba, là người chưa hẳn là đủ tốt để làm người (tức ‘làm một con người cho ra người’), bởi vì có vô số con người không có cơ hội để thực hành Giáo pháp. Nói chung, ‘Nhân thân nan đắc’ đã là một cơ hội, ‘Phật Pháp nan văn’ (hay phát triển tam học giới, định và huệ) lại là một cơ hội không phải ai cũng được!

Trang 93. Ðức Phật dùng một dẫn dụ để chứng minh sự hiếm có và tính chất quí giá, may mắn khi được sanh làm người. Giả dụ toàn thể thế giới là một đại dương to lớn và trên mặt biển có một cái ách nổi lên trên ấy, bị gió thổi qua lại. Lúc đó ở dưới đáy biển có một con rùa nổi lên trên mặt nước một trăm năm một lần. Ðức Phật nói rằng thật là hiếm để đạt được cơ hội tái sinh làm người giống như con rùa đặt cái cổ của nó qua cái ách khi nổi lên trên mặt nước. Người ta cũng nói rằng được sanh làm người với cơ hội thực hành Phật Pháp cũng hiếm như là ném một nhúm đậu khô vào một bức tường đá và có một hạt đậu dính vào một lỗ nẻ trong đó.

Vì thế thật là điên rồ khi ta để phí sự hiện diện làm người của mình, chưa nói chi đến những điều kiện may mắn mà chúng ta được hưởng trong những xã hội tự do đầy cơ hội để thực hành Giáo pháp. Một điều rất quan trọng là, có được cơ hội thì ta phải dành lấy nó. Nếu thất bại trong việc thực hành Phật pháp trong cuộc đời này, không có cách nào để biết khi nào chúng ta sẽ tái sinh trong 6 cõi, hoặc khi nào chúng ta sẽ có cơ hội đó một lần nữa. Chúng ta phải nỗ lực để tự giải thoát ra khỏi vòng tái sinh bởi vì không làm được như vậy có nghĩa là chúng ta tiếp tục vòng luân hồi bất tận trong sáu cõi hiện hữu này. Khi nghiệp báo, dù lành mạnh hay không lành mạnh, gây cho chúng ta sanh ra trong bất cứ 6 cõi bị cạn kiệt, tái sinh sẽ xãy ra, và chúng ta lại ở vào một cõi khác nữa. Người ta nói rằng tất cả chúng ta đã luân hồi trong 6 cõi này từ vô thỉ. Người ta cũng nói rằng nếu tất cả các bộ xương có trong nhiều đời trước đây của chúng ta được chất chồng lên, nó sẽ cao quá chiều cao của núi Sumeru, rằng nếu tất cả sửa mẹ chúng ta đã uống trong vô số lần hiện hữu được thu tập lại, nó sẽ lên đến hơn tất cả số nước trong tất cả đại dương. Bây giờ thì chúng ta có cơ hội để thực hành Phật pháp, chúng ta phải làm như vậy mà không nên trì hoãn.

Trang 94. Trong những năm sau này, đã có một khuynh hướng giải thích 6 cõi bằng những từ tâm lý. Vài bậc thầy đã gợi ý rằng các kinh nghiệm của 6 cõi đang hiện có ngay trong cuộc đời này, Ðiều này đúng theo như chúng ta có thể tưởng tượng. Ðàn ông hay phụ nữ nào không may ở trong nhà tù, bị tra tấn, bị giết, v.v... thì chắc chắn là đang chịu đựng những tình trạng giống như những người ở địa ngục. Những người keo kiết trải qua một tâm trạng tương đương với các quỉ đói; có những người giống như thú, trải qua một tình trạng tâm tính tương tự như tính của thú vật; những người hay la rầy, đói quyền và ghen tỵ đang trải qua một tình trạng tâm tính tương tự như các á thần á thánh; và những người trinh bạch, sống trong lành, thanh thản và được đề cao thì đang trải qua một tình trạng tâm tính tương tự với tâm tính của các vị thánh.

Tuy thế, mặc dù các kinh ngiệm trải qua của 6 cõi, ở một mức độ nào đó có xãy ra cho chúng ta dưới hình thức là người, tôi nghĩ sẽ là một điều sai lầm khi giả dụ hay tin rằng 5 cõi hiện hữu kia không có một thực tế có thật như kinh nghiệm làm người riêng của chúng ta. Những cõi địa ngục, cõi ngạ quỹ, súc sanh, á thánh và thánh là có thật như cõi người của chúng ta. Các bạn hẵn nhớ lại rằng tâm là vật tạo ra tất cả các sự vật. Hành động được làm với một cái tâm thanh bạch (được tác động bởi lòng quảng đại, tình thương v.v...) có kết quả hạnh phúc, được ở trong những tình trạng hiện hữu như cõi người và cõi thánh. Hành động được làm với một cái tâm nhiễm ô (được tác động bởi tham sân v.v...) gây kết quả không hạnh phúc giống như ngạ quỹ và các sinh vật ở cõi địa ngục.

Cuối cùng, tôi xin phân biệt tái sinh với nhập hồn. Có thể bạn không nhận ra rằng, trong Phật giáo, chúng ta luôn luôn nói về tái sinh, chứ không phải nhập hồn. Ðấy là vì trong Phật giáo, chúng ta không tin vào một thực thể vỉnh cữu mà lại nhập hồn. Chúng ta không tin một cái ngã tái sinh. Ðó là lý do tại sao, khi chúng ta cắt nghĩa tái sinh, chúng ta dùng những thí dụ không đòi hỏi sư nhập hồn của một loại thực thể nào đó.

Trang 95. Chẳng hạn, một cái chồi hay búp được sanh từ hạt thì không có một thực thể để nhập hồn. Cái hạt và cái chồi không giống nhau. Giống như vậy, khi chúng ta mồi một ngon đèn cầy từ một ngọn đèn cầy khác thì không có thực thể thuộc vật chất đi từ cái này qua cái kia, dù rằng cái đầu tiên là nguyên nhân của cái thứ hai. Khi một trái banh bi da đụng trái banh khác thì có một sự tiếp tục; cái năng lượng và phương hướng của trái banh đầu tiên được truyền qua cho trái thứ nhì. Trái banh đầu tiên là nguyên nhân của trái banh bi da thứ hai di chuyển về một hướng đặc biệt và với một tốc độ đặc biệt, nhưng không phải cùng một trái banh. Khi chúng ta bước hai lần vào một con sông, đấy không phải là cùng một dòng sông, tuy rằng có sự tiếp tục, cái liên tục của nhân và quả.

Vì thế có sự tái sinh, nhưng không có sự nhập hồn. Trách nhiệm đạo đức là có, nhưng không có cái ngã độc lập, thường hằng. Cái liên tục của nhân và quả thì có đó, nhưng không thường hằng. Tôi muốn chấm dứt chương Tái sanh ngay điểm này bởi vì chúng ta sẽ xem xét cái thí dụ của cái hạt và cái chồi, cái thí dụ của ngọn lửa trong ngon đèn dầu ở Chương 10, khi chúng ta thảo luận về nhân duyên. Sau đó, chúng ta sẽ hiểu biết hơn về nhân duyên để từ đó trách nhiệm đạo đức và vô ngã có thể tương hợp với nhau.

---o0o---

Chương 8 | Mục lục | Chương 10 


| Mục lục tác giả | Tủ sách Phật Học |
---o0o---

Trình bày : Nhị Tường

Cập nhật : 01-03-2002


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544