Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .

 

 

NGHIỆP

 

Thích Tâm Minh

 

Nghiệp là mt chơn lý rất vi diu, nó chi phi đời sng tt c chúng sanh, đồng thi cũng nh hưởng đến s uế trược hay thanh tnh ca thế gii. Nhng gì mang li hnh phúc an vui, thì Phật giáo gi là phước báo; ngược li nhng gì đem đến kh đau bất hnh thì gi là kh báo; hoc khiến sanh trong loài người, tri thì gi là thin báo; còn nếu dn dt vào địa ngc, ng qu, súc sanh hay A tu la thì gi là ác báo. Mi người đều tu thp thin, cm báo đến thế gii lành thì cũng ging như mãnh đất mu m, mưa thuận gió hòa, lúa m được mùa, cây trái sum xuê, l nghĩa câu hi, nhơn từ vun đắp, phước th song hành, cuc sng m no, binh chiến lng yên, dâm đạo vng bt, đêm không then cửa, ngoài đường không nht ca rơi, cảnh tượng thanh bình hòa vui thì gi là Tnh độ. Nếu người làm ác, cm báo đến thế gii không tt, như non cao núi thẳm, khúc khuu g gh, đất đai cằn ci, cát si đầy đồng, ngũ cc không xanh, cây ci khô cn, hn hán không mưa, mùa màng thất bát, đói khát bỏ mng, gian trm di trá, tàn hi ln nhau, thiên tai ni mãi, người không ham sng, binh biến trin miên, sanh linh tàn khc, cõi đời thê thm như vậy gi là uế độ.

Nghiệp tuy không có hình tướng để nhìn, cũng chng có màu sc để thy, nhưng quả tht nó trước mt chúng ta, bên cnh chúng ta, và trong tâm chúng ta, đáng tiếc phàm phu mt tht chúng ta không th thy được. Mt khi thu trit được chơn lý của Nghip thì bạn có th trong bin khđược phao cu, trong tăm tối được ánh sáng, trong mê lm được kim ch nam.

Nghiệp có ba loi, đó là thiện, ác và vô ký. Trước hết là thin nghip da trên thân, khu, ý hình thành 10 thin nghip; ví như thân nghiệp có ba là không sát sanh, không trộm cp, không tà dâm; khu nghip có 4 là không nói di, không nói hai lưỡi, không nói thô ác, không nói thêu dt; ý có 3 là không tham, không sân và không si. Ngược li mười thin nghip trên tc là 10 ác nghip. Vô ký nghip là tính trung dung, không phải thin cũng không phi ác.

Ba nghiệp thin ác, vô ký còn gi là nghip hu lu. Bi vì ác nghip phi chu kh trong ba đường, còn thin nghip nếu có tu thp thin và t định được sanh lên cõi tri vô sc, nhưng khi thiện báo hết, thọ mnh không quá 80.000 kiếp thì vn phi chu sanh t, thm chí rơi thẳng vào ba đường ác, cho nên gi là nghip hu lu. Pht giáo dy con người trước phi thành tu thin nghip hu lu, sau đó cần phi phát tâm hướng đến B Tát đạo và Pht đạo, tu tập gii, định, tu, ng lý vô thường, kh, không, vô ngã, chng đắc nhơn không và pháp không, dứt tr kiến hoc và tư hoặc vào niết bàn vng lng, đây chính là vô lậu nghip.

Sở dĩ có nghip là do vô minh phát khi to nghip, do to nghip mà phi chu qu kh. Ba yếu t này là nn tng để xây dng tòa lâu đài nghiệp. Chúng tương quan tương duyên với nhau, trói buc vi nhau, không th tách ri, ging như biểu đồ sau:

 

  Hoặc  

/

 

\

Khổ ___ Nghiệp

       

Cứ như thế xoay mãi, trôi lăn sanh tử, thật khó dứt trừ, duy chỉ có Phật pháp, dùng pháp từ bi, tu giới, định, tuệ, công phá thành trì bệnh tật vô thỉ lại đây, hóa thành bụi trần, thổi khắp bốn phương, trở về với chơn không diệu pháp.

Do đó, có quả khổ là do nghiệp nhân đời trước, còn đời nay tạo nghiệp là do phiền não phát khởi, nhưng phiền não là trạng thái bệnh tật tâm lý. Vậy muốn khỏi quả khổ thì phải trị tâm bệnh, tâm bệnh đã trừ, nghiệp khổ vắng mặt; lý thì như vậy, nhưng về hành sự thì thật không phải dễ, lý và sự phải sự phải viên dung thì bệnh tâm mới khỏi.

Phàm phu chúng ta thích lánh khổ cầu vui, nên vui với cái vui chứa đầy mầm móng khổ đau. Chư Thiên có niềm vui vô thường, Thanh Văn có cái vui vắng lặng, Bồ Tát thì có pháp lạc, chư Phật thì an trú trong Niết Bàn vô thượng. Do đó, người Phật tử phải dùng cái lực nhạy bén, để phân biệt rõ ràng mà chọn con đường hướng đến. Đức Phật dạy chúng ta, đừng nên ham hố chút đường trên lưỡi dao, ngọt chỉ có trong chốc lát, nhưng đồng thời có cái họa đứt lưỡi.

Học lý nhân quả mà không thấu triệt được thì dễ đưa người học đến chỗ ngờ vực. Bởi trong cuộc sống không ít người làm nhiều điều xấu ác, không những không gặp quả báo, ngược lại gia cảnh người ấy lại tốt đẹp, sự nghiệp phát đạt, tiền tài sung túc; còn người bẩm tính lương thiện, làm người trung hậu, ưa làm phước thiện, nhưng số mệnh long đong, gia cảnh thanh bần, sự nghiệp không thuận.

Muốn lãnh hội được lý nhân quả thì cần phải quán xét nhân quả ba đời. Như người xưa nói: "Muốn biết cái nhân đời quá khứ, thì hãy xem qủa báo đời nay. Còn muốn xem quả báo vị lai thế nào thì hãy nhìn việc làm trong hiện tại". Đây là câu nói bao hàm lý nhân quả ba đời. Thí như người ngu, thấy vò hết gạo, biết ngày mai không có gạo nấu cơm, liền vội đem thóc xuống mạ, hy vọng ngày mai gặt về nấu ăn, há chẳng làm trò cười thiên hạ sao?

Quy luật nhân quả nghiệp báo, tuyệt không thể hoài nghi; song có điều, nó phải phụ thuộc vào tính thời gian và nhân duyên của nó, một khi thời gian chưa đến, nhân duyên không hòa hợp thì nghiệp báo không thể hiện hữu. Cho nên nói dùng thần lực La Hán còn không thể thấy rốt ráo nhân quả nghiệp báo, chỉ có Phật nhãn mới có thể thấy tột cội nguồn nghiệp báo.

Có lần Phật hỏi Ngài A Nam: "Này A Nan! Có một người cả đời tu mười thiện nghiệp, nhưng khi mạng chung lại sanh trong ác đạo". A Nan nghi ngờ liền bạch Phật: "Tu tập thiện nghiệp, phải sanh lên cõi lành, hà cớ gì lại rơi vào ác đạo?".

Phật nói: "Tuy tu thiện nghiệp, nhưng nhân duyên thiện nghiệp vẫn chưa chín mùi, ngược lại nhân duyên nghiệp báo đời quá khứ đã đến, nên phải trả ác báo trước".

Phật lại nói: "Này A Nan! Có một người suốt đời làm ác, nhưng sau khi chết lại sanh vào cõi lành".

A Nan hỏi Phật: "Làm sao làm ác, mà lại được quả báo lành?

Phật dạy: "Tuy làm nhiều điều xấu ác, nhưng khi chết, ác duyên chưa thuần thục, mà thiện báo đời quá khứ đã đến, nên sanh vào cõi lành."

Nghiệp báo xoay tròn, cũng giống như bánh xe xoay chuyển, không hề dừng nghỉ, tất cả chúng sanh, rơi vào trong biển khổ, lặn hụp không thôi, khó tìm được phao nổi, cho nên Đức Phật thường răn đệ tử: "May mắn được thân người, đừng đắm mình trong vũng bùn dục lạc, khéo trì tịnh giới, tránh làm các điều ác". Như đã nói một người suốt đời làm lành, nhưng khi chết lại sanh vào ác đạo, ở đây chúng ta cần phải hiểu rằng, người đó là một kẻ sĩ hiền lương, không phải là một người Phật tử quy y Tam Bảo, hành trì tịnh giới, nên khi chết không thể ngăn che ác nghiệp quá khứ mà phải chịu rơi vào ba ác đạo. Khế kinh kể rằng: Trên cung trời Đao Lợi có một vị Thiên tử khi mạng sắp hết, có năm tướng hiện: Một là quần áo dơ bẩn, hai là đầu tóc rũ rượi, ba là thân thể hôi thối nhơ nhớp, bốn là nách đổ mồ hôi, năm là không thích bản tòa. Ông biết mạng mình không bao lâu, tâm trí không vui, sầu bi khổ não. Vì muốn biết mình sẽ sanh nơi đâu, nên ông dùng thiên nhãn quan sát, biết rằng sau khi mạng hết, sẽ sanh xuống Nam Diêm Phù Đề, làm thân con heo, nhơ nhớp bẩn thỉu, toàn ăn đồ bất tịnh, lòng sanh áo não, gào thét khóc than. Lúc bấy giờ có vị thiên tử khác biết được cớ sự, bèn đem chuyện ấy nói với Đế Thích. Đế Thích dùng thiên nhãn, quán sát thấy rõ như thế, bèn đến khuyên ông: "Ông sắp mệnh chung, sanh vào ác thú; ông hãy phát tâm, quy y Tam Bảo, chí thành cầu xin Đức Phật từ bi cứu hộ". Vị Thiên tử nghe xong, liền chí thành cung kính, quy y Tam Bảo, không bao lâu ông mạng chung, Đế Thích lại quán sát, không thấy ông trong loài heo, bèn quán khắp bốn châu cũng chẳng thấy, nhân đó xuống nhân gian đảnh lễ Đức Phật, trình bày cớ sự. Phật quán sát thấy Thiên tử kia sau khi mạng chung liền sanh lên cõi trời Đâu Suất (bởi vì, thiên nhãn chư Thiên chỉ quán sát hạ giới, mà không thể quán sát ở các cõi trên; Đức Phật thì có thể quán sát cùng khắp).

Có nhiều người nói rằng: Phật giáo đã nói tất cả các pháp là không, tại sao lại nói có nghiệp?

Phật giáo nói không, chính là để phá chấp của chúng sanh. Bởi chúng sanh mê chấp hiện tượng thế giới là thật có, cho nên trong 6 trần, tham đắm không bỏ, tạo ra các tội lỗi, phải chịu khổ sanh tử. Đức Phật nói pháp, khiến chúng sanh ngộ lý chơn không, thấy được các pháp là vô thường, như bọt nước, như ảo mộng, không thật có, từ đó sanh tâm nhàm chán, dứt bỏ tâm tham đắm, quay về nẽo giác. Trong Khế kinh Đức Phật đã nói: "Các pháp là không, nhưng nghiệp quả thì không mất". Một khi hành giả đã ngộ được lý không, thì không bị mê nơi các pháp, nếu không mê nơi các pháp thì không tạo nghiệp; do không tạo nghiệp nên không trôi lăn trong đường sanh tử. Vì chúng sanh mê chấp các pháp, tạo ra các nghiệp ác, nên sau khi chết phải theo nghiệp dắt dẫn thọ sanh trong đường sanh tử.

Đã biết được cốt yếu của nghiệp thì phải biết chữa trị như thế nào, và tránh quả khổ ra sao, đồng thời cũng phải biết thế nào để khỏi rơi vào ba đường ác.

Đức Phật như lương y, giáo pháp như thuốc trị, chúng sanh là người bệnh, lương y chẩn đoán ra toa, người bệnh theo toa uống thuốc thì bệnh mới thuyên giảm.

Thân mệnh chúng sanh khác nhau, tâm tánh cũng chẳng giống, quan niệm tư tưởng cũng sai khác, nên tạo nghiệp không đồng, kết quả là quả báo có khác. Phật tánh chơn như cũng như hư không, bình đẳng nhứt như; do vì không theo nơi tự tánh, vọng động theo trần cảnh, bỏ giác theo trần, quên mất nguồn cội, tạo ra các nghiệp ác, trôi lăn trong biển khổ sanh tử.

Vậy muốn thoát cái khổ trong ba đường ác, trước hết phải phá trừ các ác nghiệp đời trước và đây cũng là nét độc đáo của nhà Phật mà các tôn giáo khác không có.

Đức Phật là Thánh trong các cõi Thánh, nên có thể dùng Phật nhãn soi thấu cội nguồn pháp giới. Với trí tuệ phương tiện khéo léo Ngài giảng dạy phương pháp cứu vớt chúng sanh ra khỏi khổ ách. Tổ Huệ Năng đã dạy: "Khi chưa ngộ thì cần bậc thầy chỉ đường, nhưng khi tỏ ngộ thì tự mình thắp đuốc mà đi".

Dứt trừ ác nghiệp có hai phương pháp: Một là phát khởi tâm hỗ thẹn, hai là phát tâm chí thành, trước tượng Phật phô bày tội lỗi cầu xin sám hối. Trong Khế kinh có ghi: "Tạo nghiệp địa ngục, sanh lòng sợ hãi, phát tâm tăng thượng, khởi tâm hỗ thẹn, trừ bỏ tập khí, chí thành sám hối, không dám làm nữa" cho nên trong văn sám hối nói rằng:

-"Xưa nay đã tạo các nghiệp ác,

Đều do vô thỉ tham, sân, si,

Từ thân, miệng, ý phát sanh ra,

Tất cả con nay xin sám hối."

- "Tội từ tâm khởi đem tâm sám,

Tâm diệt rồi thời tội cũng mất,

Tâm diệt tội mất cả hai không,

Đó mới thật là chơn sám hối."

Trong hai bài kệ này, bài đầu nói về sự sám hối, tức là năm vóc sát đất, đối trước Tam Bảo, phát tâm chí thành, tỏ bày tội lỗi, cầu xin sám hối, nguyện không phạm nữa. Còn bài kệ thứ hai là nói về lý sám hối, tức là phải quán sát tâm thức, thấy được thật tướng của chơn tâm, khi vọng tâm chấm dứt thì tội cũng tiêu trừ. Quán tâm như thế, mới có thể nhổ sạch cội rễ tội lỗi. Nhưng sám hối theo cách này, thật không phải dễ; thông thường thì mọi người dùng cách sám hối về sự là chính.

1. Tâm hỗ thẹn:

Hỗ thẹn là một trạng thái tâm lý tốt nhất để tịnh hóa nội tâm. Thông thường con người luôn lấy mực thước đạo đức và quan niệm sống của con người làm tiêu chí sống; nhưng trong một lúc hăm hở của ý chí, và những tâm lý phiền não dấy khởi thì bắt đầu tạo nghiệp, sau đó người tạo nghiệp lại bị lương tâm dày vò, hoặc bị xã hội phê phán, trách cứ, và lúc bấy giờ tâm lý hỗ thẹn xuất hiện. Hỗ là xấu hỗ với các bậc Thánh, sợ bị quở phạt; thẹn là thẹn thùng với mọi người, e sợ sự giận dữ khi dễ của xã hội. Nhờ tâm lý hỗ thẹn mà những tâm lý xấu ác quay về với chơn giác, soi thấu những lỗi lầm trước nay, đau lòng tự trách, bày tỏ sám hối, dứt tâm tương tục, cố gắng làm lành, nối chí Thánh Hiền, vượt sông sanh tử, hướng đến Niết Bàn. Cho nên người xưa có nói: "Người có tâm hỗ thẹn, không dám làm ác".

2. Sám hối:

Phương pháp sám hối không những có thể diệt nghiệp hiện tại, mà còn có thể trừ bỏ được những nghiệp quá khứ. Do đó, pháp sám hối được thành tựu là ở nơi tâm thành tha thiết. Cho nên trong Khế kinh nói rằng: "Dùng tâm tăng thượng, chí thành chí thiết mà sám hối".

Sám là nguyện trừ bỏ những tội đã làm; hối là ăn năn chừa bỏ, không dám làm nữa. Vậy người Phật tử sám hối, trước phải tâm tha thiết, chí thành chí kính, tắm rữa sạch sẽ, mặc áo ngay ngắn, đốt hương dâng hoa, đối trước Tam Bảo, bày tỏ lỗi lầm, tha thiết sám hối; có như vậy tội tướng mới tiêu trừ, đồng thời phát nguyện suốt đời hành trì giới pháp, không phạm lại nữa.

Nói tóm lại, thuyết nhân quả nghiệp báo là môn học căn bản mà người học Phật cần phải nắm rõ, kẻ sơ cơ vào đạo phải có tín tâm vững chắc, học hỏi giáo pháp để trưởng thành, dùng giới làm nền tảng để tu tập, trước trừ nghiệp chướng, đóng cửa ba đường ác, sau tiến tu Tam vô lậu học, thành tựu con đường giải thoát. Đây chính là mục tiêu của người học Phật và là tông chỉ cứu nhân độ thế của Phật giáo.

 

--- o0o ---
 

Nguồn: Nội san Vu Lan (Khánh Hòa)

Cập nhật ngày: 01-08-2005

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com