Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .


 

 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LỄ VU LAN BÁO HIẾU

Giác Nghiêm sưu tầm

 

Trước khi đạo Phật xuất hiện ở đời, đạo Bà-la-môn ở Ấn Độ thấy rằng, người chết có nhiều ràng buộc với người sống, cho nên người sống là con cháu phải có bổn phận thờ cúng người đã khuất. Cũng vì lẽ đó, những kẻ vô thừa tự không sinh con cái nối dõi để tiếp tục thờ cúng tổ tiên, sẽ bị tội đọa vào địa ngục. Bởi vậy ngày trước, ở Ấn Độ người Bà-la-môn đến tuổi trưởng thành phải đi tu học một thời gian về các nghi lễ cúng tế, sau đó về lại tư gia lập gia đình, sinh con nối dõi tông đường.

Khi đạo Phật xuất hiện, những người trong Tăng đoàn đều có niềm tin đó, nên phải có một cách để tự thuyết phục cho việc đi tu không lập gia đình, không phạm vào tội vô thừa tự, vì tổ tiên sẽ được cứu rỗi bằng lễ Vu Lan. Nên có câu:

"Nhứt nhân hành đạo cửu huyền thăng".

(Một người xuất gia giúp cửu huyền được siêu thoát)

Kinh Ullambana kể về Ngài Mục Kiền Liên (Mandgalyayan, hay Moggallana) là một nhâ vật lịch sử, sống cùng thời đức Thích Ca, Tôn giả là một vị giáo chủ có năm trăm đệ tử, sau đó quy y Phật, trở thành vị đệ tử "thần thông đệ nhất". Khi đã đắc quả A-la-hán, việc đầu tiên là nghĩ đến chữ Hiếu:

"Làm con hiếu hạnh vi tiên

Bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong mẫu sinh làm ngạ quỷ,

Không uống ăn tiều tụy hình hài…"

Tôn giả đem bình bát khất thực được đầy cơm và thức ăn dâng mẹ, mẹ cầm lấy ăn thì hóa thành than lửa. Ngài đau đớn đến bạch Phật cầu phương pháp cứu, Đức Phật dạy rằng: Mẹ ngươi gốc tội kết sâu nghiệp chướng nặng nề, chờ đến rằm tháng bảy là ngày Tự Tứ, chư Tăng các nơi đều về dự, sắm các thứ cúng dường tứ sự (ăn, mặc, ở, bịnh) nhờ cầu nguyện và phù trợ để giúp giải tội. Mục Liên và đại chúng mừng, bèn hỏi: "Như sau này nếu ai có lòng hiếu thảo muốn chuộc tội cho cha mẹ ông bà thực hành như vậy có được không?" Đức Phật dạy: "Tất cả mọi người (từ vua chúa đến dân thường), để nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục muốn đền ơn cha mẹ ông bà, đến Rằm tháng 7 mỗi năm, thiết lễ trai đàn, cầu nguyện Chư Phật, Chư Tăng vận tâm thù thắng ra ơn cứu độ, thì cha mẹ, tổ tiên bảy đời đã quá vãng, được cơ hội xóa bỏ bớt tội lỗi từ nhiều kiếp trước, và cha mẹ bà con quyến thuộc hiện tiền được nhiều phước lộc".

Ngài Mục Liên đã làm đúng lời Phật dạy, và bà mẹ Ngài cùng những người chịu cảnh khổ ngày ấy đều được siêu thoát, cho nên có câu:

"Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân".

Khi Phật giáo truyền đến Trung Hoa, muốn truyền bá sâu rộng nhiều người theo, phải đáp ứng được tập quán xã hội của Trung Hoa và cả Á Đông là người con phải lập gia đình để có con trai nối dõi tông đường, người con sau này có bổn phận nuôi ông bà cha mẹ, không thì mắc tội bất hiếu. Còn đạo Phật dạy xuất thế, từ chối lập gia đình, cấm dục, không có vợ, có con, không lao động mà đi khất thực để sống, chuyên tu hành để hướng tới giải thoát, người Trung Hoa khó lòng mà chấp nhận.

Pháp sư Amoghavajrab giải quyết chướng ngại đó bằng ba phương cách:

1. Ưu tiên dịch thuật và diễn giải các kinh Phật liên hệ đến chữ Hiếu (từ kinh điển Sanskrist và Pali) để chứng tỏ giáo lý đạo Phật cũng rất nặng chữ Hiếu như truyền thống Trung Hoa.

2. Các vị sư Ấn Độ và Trung Hoa tìm trong kinh sách Phật giáo những điều liên quan về Hiếu để viết ra một số kinh sách mới ca tụng về Hiếu hạnh và lợi lạc cho cha mẹ tổ tiên.

3. Phương cách thứ ba là làm sao biểu dương việc Hiếu đạo trong nhà Phật còn cao siêu hơn, như: Chữ hiếu của người dân Á Đông chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình như cha mẹ ông bà. Chữ Hiếu của nhà Phật rộng hơn cho người sống đối với: người của gia đình chết bảy đời, những người chết vất vưởng không ai cúng quảy, tóm lại là tất cả mọi vong hồn. Vì nhà Phật chủ trương tất cả chúng sinh ai cũng có thể là cha mẹ của ta từ các kiếp trước. Vậy nên chữ Hiếu của đạo Phật là nhớ ân báo ân tất cả chúng sanh chung, bao trùm cả vũ trụ không gian và chiều sâu của thời gian.

Phật giáo du nhập Trung Quốc tỏ ta không đối lập với đời sống gia đình, cô tiểu, chú tiểu, nhà Sư vẫn có thể làm tròn rất nhiều bổn phận con cháu, hằng ngày cầu nguyện cho gia đình, góp nhặt công đức hồi hướng phúc ấm cho gia đình, tổ tiên, cầu siêu cho vong linh tổ tiên.

Cho nên ta thấy đời Hậu Hán, An Thế Cao (An Shik Kao) dịch hai bộ kinh liên hệ chữ Hiếu: "Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ", "Kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo". Đại sư Tân Pháp Tư đời Ngũ Đại dịch bộ kinh "Phật Thuyết Thiện Sinh tử", "Kinh Trường A Hàm", "Trung A Hàm" dịch từ thế kỷ thứ tư và năm cũng luôn nhắc lời Phật dạy về chữ Hiếu.

Nhưng hai quyển kinh "Bồ Tát Thiện Tử" "Vu Lan Bồn" đề cập chữ Hiếu nhiều nhất do Đại sư Pháp Phong dịch đời Tây Tấn.

Kinh "Bồ Tát Thiện Tử" thật ra trích từ truyện Tiền Thân Đức Phật. Thiện Tử (tên chữ Sanskrit là Syama, chữ Pali là Sama) là một vị lập hạnh Bồ tát tình nguyện đầu thai làm con cho một cặp vợ chồng mù, vì muốn thuận lợi tu hành, đã đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để săn sóc báo đền hiếu đạo và tu tập. Một hôm nhà vua đi săn, thấy từ xa Thiện Tử đội chiếc áo da nai đang khom sau lưng lấy nước ở suối, tưởng lầm là con thú, nhà vua bắn trúng mũi tên độc. Thiện Tử gục xuống chờ chết, nhưng không oán hận nhà vua, chỉ nghĩ mình phải trả nghiệp, đau khổ nghĩ cha mẹ già không ai nuôi dưỡng làm sao? Ông bà cụ lần mò đến xác Thiện Tử. Người cha làm hô hấp truyền hơi thở cho con, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc ra. Trong cơn đau khổ họ nguyện cầu Đức Phật cứu độ. Tức thời Đức Phật Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết thương cứu sống Thiện Tử, đồng thời cứu cha mẹ Thiện Tử khỏi mù lòa. Phần kết luận quyển kinh bằng lời dạy của Đức Phật là: "Hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải". Trong hai quyển kinh "Lục Độ Tập Kinh" "Pháp Uyển Châu Lâm" cũng có nhắc đến chuyện Thiện Tử. Ngài Huyền Trang Đường Tam Tạng cũng có viết lại chuyện Thiện Tử trong sách "Đại Đường Tây Vực Ký".

Sau này, chuyện "Nhị Thập Tứ Hiếu" cũng có phỏng theo chuyện Thiện Tử đổi tên thành nhân vật Yến Tử, câu chuyện được đặt vào hoàn cảnh địa phương Trung Quốc vào đời nhà Tống.

Riêng kinh "Vu Lan Bồn" nói về chuyện Hiếu của Mục Kiền Liên được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc và các nước Á Đông theo Phật giáo Bắc Tông, do Đại sư Pháp Phong (Dharmaraksha -Đàm Ma La Sát) người Ấn Độ dịch cuối đời Tây Tấn. Đại sư Tông Mật ở phủ Khai Phong xuất thân gia đình vọng tộc, từ nhỏ đã học và rất uyên thâm về Khổng giáo, sau trở thành một bậc chân tu đạo Phật, ngài dựa vào Kinh Vu Lan để viết ra một quyển Luận so sánh chữ Hiếu giữa đạo Khổng và đạo Phật. Ngài nói đạo Phật, đạo Khổng không khác nhau, đều đặt vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Như Nho giáo dạy chúng ta sống xứng đáng để thanh danh lại cho con cháu, nhưng chính Phật giáo lại dạy ta điều nhập thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại đang sống chung quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, như ngày giỗ, ngày Tết phải sát sanh để cúng giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy cho ta cầu nguyện nhưng không sát sanh vì lòng Từ. Và ngài Tông Mật còn đi xa hơn, để quyết là Đức Phật ngày xưa bõ ngôi đi tu chính là vì "muốn báo hiếu cho cha mẹ, không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm luân".

Lập luận dựa trên Kinh Vu Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ Hiếu, như ngài Tông Mật và các nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất nhiều các mối dè dặt của giới Nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Quan niệm xuất thế của đạo Phật, bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được giải tỏa. Người Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Đông đã nồng nhiệt chấp nhận phương cách giải thích như vậy. Ngày đó sự tích Mục Kiền Liên được phổ cập quanh năm trong nhân gian, không những trong các chùa mà ở khắp mọi nơi, trong nhà được phổ thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài vè cho người hát xẩm, tạo nên một loại văn chương gọi là biền văn. Khi khám phá ra các động thờ Phật tại Đôn Hoàng (Tân Cương) vào đầu thế kỷ thứ hai mươi, người ta tìm được nhiều bổn biền văn nầy, như là "Mục Kiền Liên Biền văn", "Mục Kiền Liên Lục Khởi", bộ "Đại Mục Kiền Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn Tịnh Độ". Các biền văn này cùng tài liệu Phật giáo khác tìm được ở Đôn Hoàng nay đang tàng trữ tại thư viện Bibliothèque National de Paris (Pháp), bảo tàng British Museum (London Anh Quốc). Trung Quốc, Đài Loan, Nhật… tư liệu này có trong sách "Đôn Hoàng trích yếu lục" được chính phủ Trung Hoa in tại Bắc Kinh năm 1931.

Có một điều rất khâm phục, các Đại sư Phật giáo Bắc Tông thời đó kết hợp Lễ Trung Nguyên của đạo Lão Trung Quốc tạo ra một Lễ hội lớn của Phật giáo, sở dĩ chọn ngày rằm tháng 7, lúc đó thời tiết toàn Trung Quốc quang đãng, hết mưa bão, vì mưa bão thời gian này đã xuống hoạt động ở vùng biển Nam Hải, trời nắng ấm, cũng chưa đến mùa lạnh có tuyết rơi làm ảnh hưởng đến lễ hội, hướng mọi hoạt động nhân sinh về thiên nhiên, thuận lợi cho mọi người đi từ làng này sang thôn khác thăm viếng họ hàng, bạn bè, biếu xén quà cáp, đi chùa, viếng núi đồi, vãng cảnh, thành một cơ hội thắt chặt đời sống gia tộc, cộng đồng và tín ngưỡng. Các chùa ngày đó cũng sung túc lên, dễ dàng xây dựng tạo ra cảnh quang văn hóa đẹp đẽ, giúp cho mọi người hưởng được sinh thái vui mát làm an lạc lòng người. Chùa chiền Tự viện dần trở nên những trung tâm đời sống xã hội, và Lễ hội đó đặt tên là Vu Lan Bồn.

Các nước văn minh Ấn Độ và Nguyên Thủy Phật giáo như: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđônêxia… Không có ngày lễ Vu Lan, mặc dầu có thờ cúng ông bà, báo hiếu.

Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Hán Minh Đế (58-75 TL). Truyền rằng một hôm vua nằm mơ thấy các quan Chiêm Tinh hoàng cung, kiệu một người bằng vàng, nhìn kỹ là Đức Phật. Vua bèn cử một phái đoàn sang miền Tây Bắc Ấn Độ thỉnh kinh và mời các nhà sư qua Trung Quốc. Vì trước đó các nhà sư Phật giáo và tín đồ đạo Phật đã đến Trung Quốc nên biết được đạo Phật.

Nhưng Lễ Vu Lan bắt đầu tổ chức ở Trung Quốc từ năm nào thì không có ghi lại chính xác, chỉ tìm thấy trong "Phật Tổ Thống Chí" ghi Lễ Vu Lan rằm tháng 7 âm lịch năm 538 TL, vua Lương Võ Đế cùng hoàng tộc đến cúng dường và dự lễ tại Đông Đài Tự. Lễ Vu Lan năm 766 TL dưới triều Đường Thái Tôn có ghi rõ trong "Thích Thị ký cổ" ngày Vu Lan có lễ rước kiệu Phật vào đại nội, nhà vua cho đem trưng bày Ngọc Xá lợi Phật tại Quảng An Môn để dân chúng lễ bái chiêm ngưỡng. Những năm tiếp sau đó ngoài việc các chùa làm lễ trai đàn chẩn tế. Trước cúng Phật sau cúng cầu siêu độ cho cha mẹ tổ tiên bổn đạo, cầu siêu các vong hồn đã chết vì loạn lạc chiến tranh, chết không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói, tai nạn, các vong hồn ở các cõi địa ngục, ngạ quỷ. Các tư gia cũng làm cơm chay cúng ông bà trong nhà, cúng vong hồn ngoài trời. Các chùa lớn còn tổ chức trưng bày các bảo vật thờ tự, di tích của Đức Phật như: Ngọc Xá lợi, răng, tóc, móng tay Phật, đựng trong các bình ngọc, bình đá, tảng đá khắc chân Phật, các bổn kinh chép bằng chữ Sanskrist, chữ Pali khắc trên đá, trên gỗ, trên lá bối, lá cót… đem về từ Ấn Độ. Đồng thời nhà chùa còn khuyến khích các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách đem đến trưng bày các báu vật trân châu dị bảo của riêng, cho khách thập phương xa gần đến thưởng ngoạn.

Vì vậy mà mọi người tấp nập đi dự, khách xa đến dựng lều bạt ở trên đất chùa và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng, trổ tài thi phú, thi đua tài nấu nướng các món chay để cúng dường Phật, Tăng, cúng ông bà tổ tiên và sau đó thiết đãi nhau ăn uống vui chơi. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng "Đại Hội Vu Lan Báo Hiếu" cùng xá tội vong nhân, trở thành một lễ hội, một tập tục ăn sâu vào lòng người, một lễ hội lớn rất quan trọng trong nền văn minh của Trung Hoa và các nước Á Đông: Hàn Quốc, Nhật Bổn, Đài Loan, thời kỳ này gọi là thời kỳ "Thịnh Đường", đạo Phật trở nên cực kỳ hưng thịnh.

Đối với Trung Quốc và cả các nước Đông Á, Phật giáo là một Tôn giáo ngoại lai từ Ấn Độ, nhưng Phật giáo Đại thừa đã hoàn toàn chuyển hóa thành một Tôn giáo Á Đông. Nghi lễ của Phật giáo đã hài hòa với nghệ thuật, Phật giáo chuyển mình tạo thêm phẩm chất thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật thuộc về cái đẹp của thiên nhiên và tâm hồn, sự hành thiện của cuộc đời đều được Phật giáo coi trọng, khiến hấp dẫn của Phật giáo trong dân gian tăng lêm mạnh mẽ, hòa nhập chuyển biến lần thành ra một Tôn giáo ăn sâu vào lòng người và coi như Tôn giáo đặc thù của người bản địa.

Tại sao gọi là "Lễ Vu Lan", nguyên là chữ "Vu Lan Bồn", phiên âm từ "ura-bon-e" xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit "ullambana" đọc gọn của chữ "avalambana", có nghĩa là treo ngược chân lên trời, đầu xuống đất, một hình phạt nặng nề, đau khổ của các tội đồ, người Trung Hoa dịch là "đảo huyền", tức là cứu cái khổ như bị treo ngược. Lễ "Vu Lan Bồn" gọi tắt là "Vu Lan" ngày nay. Người ta thường dùng chữ "Vu Lan Báo Hiếu" để gọi việc cầu nguyện cứu giúp báo hiếu cho cha mẹ tổ tiên và mọi vong linh. Theo Đại sư Tông Mật, khi viết quyển luận về "Vu Lan Bồn Kinh", ngài đưa ra một nhận định khác, chữ "ullam" không hẳn là tiếng Phạn, mà cái từ này gốc ở các nước Trung Bộ Á Châu, trên con đường tơ lụa ngày xưa từ Âu Châu qua Trung Đông rồi đi lần qua bờ biển Trung Quốc, Phật giáo trên đường hoằng dương Phật pháp trên đường qua vùng này mà có tên là "ullam" có thể hiểu và có thể dịch là "đảo huyền", chữ "bana" dịch là chữ "bồn", có nghĩa là con thuyền, tấm ván, tấm bè, cái khay, hay cái chậu đựng thức ăn. Vậy toàn bộ chữ "ullambana" dịch sang chữ Hán, phải hiểu là "Cứu giúp một con thuyền bị lật ngược", hay là "quay lại cho ngay một tấm bè, cái khay, cái chậu bị lật ngược" cũng có nghĩa là "cái khay đựng thức ăn". Vậy nên trong bản kinh "ullamba Sutra" (Vu Lan Bồn Kinh) ngài Tông Mật giải thích lời Đức Phật dạy: Muốn báo hiếu chuộc tội cho cha mẹ, phải thành tâm "dâng đầy khay thức ăn uống và hương hoa phẩm vật" cúng dường Chư Tăng mười phương câu hội xin giúp lời cầu nguyện cho Tổ tiên được siêu thoát.

Có người đặt nghi vấn không hiểu Lễ Vu Lan có từ Ấn Độ hay xuất khởi tại Trung Hoa, hay lễ Vu Lan chỉ là một sản phẩm do nhu cầu hoằng dương đạo Phật lúc đạo Phật vào Trung Hoa? Tại sao các quốc gia theo Phật giáo Nguyên Thủy (Théravada) không thấy thiết lễ Vu Lan? Ngày lễ Tự Tứ tức giải hạ của Phật giáo Nguyên Thủy không phải ngày rằm tháng 7, nhưng trong kinh Vu Lan Bồn ghi ngày rằm tháng 7.

Căn cứ theo tài liệu về thư mục của kinh điển Phật giáo do Đại sư Bunyo Nanjio soạn thảo Catalogue Chinese Translation of The Buddhist Tripitaka, Oxford 1883, Kinh Ullambana Sutra được ghi là đã chép qua văn tự dưới thời Phật giáo Nguyên Thủy, sau được dịch qua Hán ngữ. Trong đại tập "Pháp Uyển Châu Lâm" có bản "Kinh Báo Ân Phụ Mẫu" không đề tên người dịch. Theo các dữ kiện trên, xin kết luận Kinh Vu Lan Bồn nhất định đã được Phật thuyết vào thời kỳ nguyên thủy. Nhưng vì nhu cầu hoằng pháp lợi sinh phải thích ứng vào bản tính chuộng thiết thực của người Trung Hoa mà một số chi tiết đã được thay đổi khi phiên dịch cho phù hợp quốc độ, đó cũng là giải pháp phương tiện của Pháp sư Amoghavajra và các Đại sư thời ấy để dễ dàng hoằng pháp lợi sanh.

 

--- o0o ---
 

Nguồn: Nội san Vu Lan (Khánh Hòa)

Cập nhật ngày: 01-08-2005

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com