Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .

 

 

VĂN HÓA NGÔN NGỮ TRONG PHẬT GIÁO

 

Thiên Hạnh

 

Ngôn ngữ đối với con người là một phương tiện thông tin hữu hiệu từ buổi sơ khai. Sự giao tiếp, biểu đạt nhiều ý tưởng phức tạp, bản thân các động tác không thể đảm đương trọn vẹn. Do vậy, ngôn ngữ xuất hiện trên nền tảng biến hóa cực kỳ sinh động của âm thanh với độ cao thấp dài ngắn ứng với những ý tưởng tương ứng: tiếng nói ra đời và cho đến nay nó vẫn tỏ rõ tính ưu việt không gì thay thế được, kéo theo đó là những vấn đề nâng cao về kỹ thật, quy phạm và thẩm mỹ trong lời nói. Có thể gọi đó là văn hóa về ngôn ngữ.

Ông cha ta thường nói: "Học ăn, học nói, học gói, học mở", Nho gia thì đề cao năm đức tính của phụ nữ: "công, dung, ngôn, hạnh", dân gian lại có câu tục ngữ: "lời chào cao hơn mâm cỗ" v.v... Ðó là một trong những khía cạnh thiết yếu trong văn hóa loài người, Ðông cũng như Tây. Với Phật giáo, ngôn ngữ là phương tiện tối cần thiết cho việc hoằng pháp. Từ thời Phật còn tại thế, việc giảng kinh thuyết pháp của Ngài đa phần sử dụng ngôn ngữ, sự tiếp thụ của hàng đồ chúng cũng nương theo ngôn ngữ mà cảm nhận, cho nên những bậc am tường Phật điển thường được tôn xưng là "đa văn", tức nghe nhiều. Mãi mấy trăm năm về sau, kể từ khi Ðức Phật nhập diệt, các bộ chúng Phật giáo vẫn ưu tiên sử dụng lời nói trong các buổi tuyên thuyết kinh luận, bởi kinh văn bằng ký tự mãi về sau mới phát triển mạnh. Tôn giả Ưu Ba Ly trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất trong hang Thất Diệp được hội chúng tôn là người kết tập Luật tạng, mỗi một lần ngài tuyên xướng một đoạn văn, hội chúng sẽ tám mươi lần lặp lại gọi là "Bát thập tụng luật". Vậy mới hay, trong Phật giáo, trải theo chiều dài hàng ngàn năm, ngôn ngữ đã phát huy tác dụng và được từng bước chuẩn hóa như thế nào.

Trong năm giới tu trì dành cho hàng Phật tử tại gia, giới vọng ngữ được đề cập như một lời cảnh báo: nên cẩn trọng trong ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ không thể tùy tiện mà phải coi đó là ý thức trách nhiệm trước bản thân và người khác. Bởi đó cũng chính là một trong ba tác nhân gây tạo nghiệp cho chính chủ thể (thân, khẩu, ý). Với Tứ nhiếp pháp (bốn cách nhiếp hóa), ái ngữ là một phương tiện hoàn toàn tự nguyện, phát xuất từ bi tâm, mục đích là "lợi tha" vô điều kiện. Và trong sáu pháp hòa kính thì ngôn ngữ phải được sử dụng như một phương cách tạo sự gắn kết, hòa đồng, là tiền đề cho sức mạnh của Tăng đoàn (khẩu hòa vô tránh), để từ đó được nâng lên thành tiêu chí buộc mỗi thành viên phải thực hành (Bảy pháp dứt sự tranh cãi trong Ðại luật).

Ngày nay, dù được tiếp cận với những ngành nghiên cứu mới mẻ về ngôn ngữ như: ngôn ngữ học, nghệ thuật đàm phán trong kinh doanh, v.v... chúng ta vẫn thấy nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Ðức Phật từ ngàn xưa vẫn là những chuẩn mực không hề mất ý nghĩa. Tăng Chi Bộ kinh (tập 1, tr.223), Ðức Phật dạy bốn cách thảo luận như sau:

1. Nhất hướng ký (quyết định đáp): tức là trả lời một cách dứt khoát.

2. Phân biệt ký (giải nghĩa đáp): tức là trả lời có phân tích rõ ràng.

3. Phản vấn ký (phản chất đáp): tức là trả lời bằng cách hỏi ngược lại.

4. Xả trí ký (trí đáp): là trả lời bằng cách im lặng, gạt qua một bên những vấn đề vô bổ.

Có thể xem đây là một điểm kết tinh cao nhất của văn hóa ngôn ngữ trong mọi cuộc thảo luận, phản ánh tính trí tuệ siêu việt của Ðức Phật trong lập ngôn, thuyết giảng, đồng thời cũng thể hiện tính linh động (khế hợp) trong hoằng pháp của chư Phật. Kinh Tâm Ðịa Quán viết: "Các Ðức Phật chuyển pháp luân vẫn tùy cơ mà nói pháp, bao giờ cũng tránh bốn điều sai lạc: một là nói không phải chỗ, hai là nói không phải thời, ba là nói không phải căn cơ, bốn là nói không phải pháp".

Ngôn ngữ hiện nay nhìn chung đang phát triển đa chiều, đa lĩnh vực, sự phát triển không ngừng của các bộ môn khoa học kéo theo sự ra đời của vô vàn thuật ngữ chuyên biệt. Sự khế hợp của giáo pháp Như Lai cho mọi hoàn cảnh, đối tượng, không gian đặt những người hoằng pháp vào những cục diện mới, đòi hỏi phải năng động trong lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ. Nhưng tựu trung, những bài học về sử dụng ngôn ngữ của Ðức Phật từ ngàn xưa vẫn luôn là cẩm nang cốt lõi trong hành trang của chúng ta, những người con Phật.

"Phật nói chân thật, êm ái, thứ lớp, dễ hiểu, không mau, không chậm, không ít, không nhiều, không ẩn, không nhơ, không đùa cợt, hơn tiếng chim Ca lăng tần già, từ và nghĩa phân minh, không làm tổn thương ai. Lời Phật lìa dục nên không nhiễm, dứt sân nên không ngại, trừ ngu nên dễ hiểu, tăng trưởng pháp hỷ nên khả ái, ngăn tội nên an ổn, theo tâm người, theo giải thoát, nghĩa thì sâu, lời thì diệu. (Ðại Trí Ðộ luận II, tr.161)

Rõ ràng, thế giới ngôn ngữ vô cùng, với đội quân từ ngữ trùng trùng vô hợp, người phát ngôn là viên tướng tập hợp, điều chỉnh chúng theo những đội hình nhất định nào đó theo ý chí riêng mình. Với Ðức Phật, từ ngữ từ chỗ vô nghĩa đã tập hợp thành những cấu tứ nghĩa lý cao tột, siêu việt thường tình, phát huy diệu dụng khôn lường, là phương tiện tiếp cận chúng sinh đưa họ về nẻo giác. Một lần nữa, chúng ta lại có thể tôn Ngài là nhà ngôn ngữ học vĩ đại nhất của mọi thời đại. Hơn cả những nhà hùng biện năm châu, những nhà đàm phán mà chỉ một câu nói mang về hàng tỷ đô-la lợi nhuận, hay những chính khách ngoại giao mà vận mệnh của các quốc gia một phần nằm trong tay họ, văn hóa ngôn ngữ Phật giáo chỉ nhắm vào một điều, một điều duy nhất: "Tự lợi, lợi tha - Tự tha lưỡng lợi".

 

Source: Báo Giác Ngộ 238 Số đặc biệt Vu Lan Báo Hiếu PL2548 ra ngày 26-8-2004 

 

 

--- o0o ---

 

Cập nhật ngày: 1-10-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com