Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .

 

LỄ HỘI DÂNG Y

 

Thích Nguyên Hùng

 

Từ lâu, dâng y cúng dường chư Tăng đã trở thành truyền thống thiêng liêng đối với người Phật tử, nhất là vào dịp chư Tăng tự tứ, sau ba tháng cấm túc an cư, dâng y trở thành một lễ hội song song với lễ hội Vu lan. Dịp ấy là cơ hội để Phật tử gieo trồng phước thiện, để tỏ lòng cung kính chư Tăng, đồng thời là để hồi hướng phước đức cho cha mẹ quá vãng cũng như còn tại tiền để tỏ lòng hiếu kính. Trong ngày ấy, bất kỳ trú xứ nào có chư Tăng kiết giới an cư, Phật tử khắp mười phương đều nô nức, hân hoan hướng về với tất cả lòng thành kính dâng lên cúng dường chư Tăng tấm y vàng hoại sắc, như là một biểu tượng của đạo đức thanh tịnh và giải thoát.

Truyền thống tốt đẹp ấy đã có từ thời Ðức Phật còn tại thế. Tuy nhiên, không phải có ngay từ những ngày đầu thành lập Tăng đoàn.

Luật Tứ phần ghi lại rằng, sau khi Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại vườn Nai độ năm anh em ông Kiều Trần Như, họ kiến đế, đắc giới, thành Tỳ kheo. Ðó là những thầy Tỳ kheo đầu tiên. Năm vị Tỳ kheo này liền bạch Ðức Thế Tôn: "Chúng con nên thọ trì y gì?". Ðức Thế Tôn trả lời: "Nên thọ trì y phấn tảo và những loại y đã nhuộm  thành màu ca sa".

Y phấn tảo, tiếng Pali gọi là pamsukùla, có nghĩa là vải lượm từ đống rác. Còn ca sa, Pali gọi là kàsàya, có nghĩa là những loại vải đã không còn giữ được màu sắc chính, bằng cách dùng các vỏ cây giã ra lấy nước rồi nhuộm vải. Những tấm vải này có màu vàng nâu, người ta gọi là hạt sắc y hay hoại sắc y.

Từ đó, các Tỳ kheo thường lượm những tấm vải xấu xí và cũ rách người ta vứt bỏ ở những bãi rác, hoặc ở bãi tha ma đem về giặt sạch may thành y để đắp. Các Phật tử thấy thế sanh lòng cung kính, tâm từ niệm phát sanh, lấy vải rất quý xé ra đem bỏ ở bãi rác để cho các Tỳ kheo nhặt lấy đem về dùng. Nhưng các thầy không dám nhặt. Việc ấy Ðức Phật biết, Ngài dạy: "Nếu họ vì các thầy Tỳ kheo thì nên lấy".

Ðó là hình thức cúng dường y đầu tiên của các Phật tử.

Về sau, Kỳ Ðà đồng tử, một bác sĩ nổi tiếng, đến bạch với Ðức Thế Tôn rằng: "Con trị bệnh cho quốc vương, trị bệnh cho đại thần, hoặc được một quốc độ, hoặc được một tụ lạc. Cúi xin Ðức Thế Tôn cho con một ước nguyện". Ðức Phật nói Ngài không hề cho ai ước nguyện mà vượt quá điều nguyện. Kỳ Ðà đồng tử nói rằng "Con xin một ước nguyện thanh tịnh". Ðức Phật hỏi ước nguyện thanh tịnh ấy là gì? Kỳ Ðà đồng tử thưa: "Chiếc y quý giá này, con nhận được từ vua Ba La Thù Ðề, giá trị bằng phân nửa giang sơn. Cúi xin Ðức Thế Tôn ai mẫn, vì con nạp thọ. Từ nay về sau, nguyện xin Ðức Thế Tôn cho phép các thầy Tỳ kheo nào muốn khoác y của đàn việt cúng, hay y phấn tảo, thì tùy ý được mặc".             Ðức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng. Nhân dịp này, Ðức Phật tập hợp các Tỳ kheo lại, cho phép họ từ nay về sau được phép khoác y của Phật tử dâng cúng.

Từ đó, các Phật tử thường tận tay dâng y cúng dường chư Tăng, trong đó phải kể đến kỹ nữ Am Bà La Bà Ðề, đã dâng y và thực phẩm cúng dường Ðức Thế Tôn cùng với 1.250 vị Tỳ kheo, khiến cho chủ nhân thành Vesàli, bộ tộc Licchavì hùng mạnh phải kính nể!

Ðược Ðức Thế Tôn cho phép nhận y của Phật tử cúng dường, nhưng một số Tỳ kheo vẫn ưa thích đời sống phạm hạnh, đắp y phấn tảo, tức vẫn tiếp tục nhặt nhạnh những tấm vải ở bãi rác hoặc ở bãi tha ma để mặc. Một số Tỳ kheo khác thì mặc y do Phật tử cúng dường. Lúc đầu Ðức Phật không quy định một Tỳ kheo được sử dụng bao nhiêu y, cho nên Phật tử cúng bao nhiêu các thầy đều nhận hết. Một hôm, Ðức Thế Tôn trông thấy các Tỳ kheo trên đường đi quảy theo nhiều y. Có vị đội y trên đầu. Có vị vắt nơi vai. Hoặc có vị quấn nơi thắt lưng. Thấy vậy, Ðức Thế Tôn suy nghĩ: "Ta hãy chế định cho các Tỳ kheo số lượng nhiều ít thế nào, chứ không được chứa nhiều quá".

Hôm đó, Ðức Thế Tôn ngồi nơi đất trống. Ðầu đêm khoác một chiếc y, đến nửa đêm cảm thấy lạnh. Khoác chiếc y thứ hai, đến cuối đêm vẫn thấy lạnh, mặc chiếc y thứ ba. Bấy giờ, Ðức Thế Tôn mới nghĩ như vậy: "Ðời sau, người thiện nam không chịu đựng được sức lạnh, thì nên cho phép chứa đầy đủ ba y. Ta nên cho phép các Tỳ kheo chứa ba y, không được quá".

Từ đó, một Tỳ kheo chỉ được nhận đủ ba y, không nhận thêm nữa. Ba y trở thành biểu tượng của đời sống tri túc. Tri túc là thái độ sống, là nghệ thuật sống mầu nhiệm đã đưa Thế Tôn đến giác ngộ, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Với chúng Tăng, đầu mùa Hạ là ngày đầu năm trong đời sống đạo hạnh, và kết thúc một mùa Hạ là kết thúc một năm, tròn một tuổi đạo hạnh sáng ngời. Và do đó, khi tiếng thu gọi khẽ trên cây, lác đác vài chiếc lá vội vã lìa cành, ấy là dấu hiệu của mùa Hạ đã hết, mùa Thu bắt đầu, cả hoàn vũ trỗi khúc ca hoan hỷ, cùng với chư Phật mỉm cười đón chào các Tỳ kheo vừa hoàn thành ba tháng nổ lực tu tập, nội cần khắc niệm chi công, và bắt đầu đặt bước chân trên vạn nẻo đường thực hiện công cuộc hoằng hóa độ sanh với tâm nguyện ngoại hành bất tranh chi đức. Các Phật tử nhân ngày này, dành hết tâm lực và tài vật, mà đặc biệt là chắt chiu dành dụm từng đồng để sắm cho được chiếc y vàng, thành kính dâng lên cúng dường chư Tăng để được thấm nhuần công đức.

Ngày ấy, ngày chúng Tăng tự tứ, đã tự nhiên biến thành lễ hội dâng y và đi vào lòng người Phật tử như là một lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, gắn liền với lễ hội Vu lan. Ðó là một truyền thống tốt đẹp, cần được tiếp tục và phát huy. Ðó âu cũng là một phương pháp giáo dục cho mọi người ý thức và tôn trọng nếp sống đạo đức, tri túc, giải thoát, và gìn giữ nền đạo hiếu của dân tộc.

 

Source: Báo Giác Ngộ 238 Số đặc biệt Vu Lan Báo Hiếu PL2548 ra ngày 26-8-2004 

 

 

--- o0o ---

 

Cập nhật ngày: 1-10-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com