Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .

 

 

Hố Sâu Tình Cảm

 

Thiện Anh Lạc

 

Sau một tuần l đi học, sáng nay vào sở , tôi nhận được điện thư của bà Ann vơí hàng chữ “Mẹ tôi đã mất hôm thứ hai”, quá sửng sốt, tôi đọc thư bà Ann trước. Từ nhiều năm nay, tôi bị ám ảnh, sợ hãi bởi câu “chết” này, ảnh hưởng mạnh nhất đánh vào tâm lý tôi qua cuốn tiểu thuyết của Albert Camus, tựa đề “L’étranger” với câu mở đầu “maman est morte aujourd’hui” tạm dịch là “mẹ tôi vừa mất ngày hôm nay” làm tôi sợ mãi đến mãi bây giờ, không bao giờ muốn nói lên câu ấy từ chính miệng mình. Bây giờ lại nhận được tin tương tự từ một người bạn khá thân.  Tưởng rằng câu chuyện giữa bà và mẹ đã đi vào quên lãng từ lâu, ngờ đâu bà lại nhắc đến làm sống dậy trong tôi thêm lần nữa làm tôi bùi ngùi thương cảm. 

Ai mà không có mẹ để được thương yêu, chiều chuộng thời thơ ấu, để được thưởng thức bàn tay ấm áp của mẹ sờ lên trán mỗi khi bịnh nặng, lên cơn sốt. Buồn thay cho những em nhỏ thiếu mất tình thương của mẹ để phải sống cuộc sống “chim hót trong lồng” của Nhật Tiến. Tuy nhiên, tùy xã hội và hoàn cảnh con người để định nghĩa tình yêu của mẹ, mỗi mùa Vu Lan lại có thêm những người con hiếu mắt nhỏ lệ, cài hoa trắng trên áo. Cũng như mỗi năm tại Úc, ngày của mẹ (mother day) sẽ có thêm những người con bùi ngùi cầm hoa Cẩm Chướng trắng trên tay.  Bà Ann năm nay còn cầm Cẩm Chướng đỏ, nhưng năm sau đã hết rồi .... Bà có buồn không nhỉ ? Bà cũng như những người da trắng khác, lạnh lẽo bên ngoài để mang một khối nội kết thật sâu bên trong nhưng chẳng bao giờ hoá giải hết được  ....

Tôi quen bà Ann khi chuyển sang làm cho một dự án trong vòng sáu tháng. Bà gần sáu mươi tuổi nhưng còn khoẻ mạnh và năng nổ trong công việc. Tuy nhiên, tính tình khó khăn nên phần lớn các nhân viên xa lánh bà. Với tôi cũng thế, bà khó khăn, hay để ý bắt lỗi tuy làm khác nhóm, nhưng tôi chỉ cười xoà cho qua chuyện nên từ đó, bà thay đổi hẳn thái độ. Bà thường rủ tôi đi uống cà phê, ăn trưa vì bà tìm được nơi tôi sự an tĩnh bởi tính tôi không tranh giành với người khác. Gặp nhau, không có đề tài gì  trò chuyện nên chúng tôi hay nói về gia đình, biết được một số người Á Châu (như tôi) vẫn sống chung với Bố Mẹ già, bà rất đỗi ngạc nhiên rồi cho là tôi không tự lập, làm biếng, ỷ lại .... Oâi đủ điều, tôi chỉ nhẹ nhàng giải thích cho bàhiểu văn hoá AÂu Á khác nhau, cái nhìn của bà không giống của tôi và những người khác đừng kết luận như thế thì hay hơn. Thay vì như những người da trắng khác, họ hay nói là “ba mẹ họ ở với họ” để tỏ ra đó là nhà của họ, bố mẹ ở nhờ nay. Trái lại, tôi chỉ nói “tôi còn ở với bố mẹ” để tỏ sự cung kính với song thân, hơn thế nữa, tìm được sự ấm áp nơi tuổi thơ khi tôi còn dựa hẳn tâm hồn và vật chất nơi song thân mình, nhưng bà Ann không đồng ý điểm đó. Kệ bà, tôi là tôi, bà là bà !!!

Thật ra, bà hỏi chuyện nhà tôi để bà nói về đời bà, chuyện nhà bà thì đúng hơn. Từ đấy, vô tình, không khéo, tôi đã trở thành nhà “tâm lý học” hồi nào không hay để .... nghe chuyện riêng của bà rồi quyết định dùm bà. Chuyện chỉ chú trọng đến “hố sâu tình cảm” giữa bà và mẹ trong suốt cuộc đời,ø để đi đến kết thúc hơn ba mươi năm không gặp nhau, thành bi kịch khó quên ....

Thời gian đầu, tôi chỉ nghe toàn những chuyện nội kết bởi hận thù khởi lên trong lòng bà đối với mẹ. Càng nghe, tôi càng hoảng sợ tự hỏi “trên thế giới này lại có chuyện  này hay sao ?”. Hơn ba mươi năm không gặp từ lúc dọn ra khỏi nhà mẹ mà không hề thấy thương nhớ hay xốn xang chi cả... Chao ơi !!!!!! thật đúng là dân .... “Ăng Lê” phớt tỉnh.  Chuyện ấy cũng thường tình đối với xã hội này nếu đọc báo và xem tin tức mỗi ngày, tương phùng sau vài chục năm lưu lạc, lớn lên từ bố mẹ nuôi, nay đi tìm bố mẹ ruột.  Chuyện nghe cũng thật ..... nực cười .... trên quan điểm, bà là đứa “con ghét”, một con cừu “đen” của mẹ. Thuở còn bé, bà sống trong sự thờ ơ, lãnh đạm vì mẹ bà kết hôn nhiều lần nên bà không biết bố ruột. Sống với mẹ, dượng và em gái khác cha như một bóng ma, mẹ bà chỉ chú trọng chăm lo cho chồng con, bà như người ngoài cuộc trong gia đình ấy, họquên hẳn bà, quây quần, quấn quýt bên nhau .  Tất cả mọi điều tốt, tiếng khen dồn hết cho em, còn bà thì  hưởng toàn những điều xấu, cùng những câu chê trách. Hận mẹ, lớn lên một chút, bà muốn có việc làm để sống khi dọn ra khỏi nhà sớm, càng sớm càng tốt.  Cũng cần biết thêm là thời bàAnn còn trẻ, xứ Úc chưa có qui chế an sinh xã hội, người phụ nữ không được làm nhiều việc như nam giới, vì vậy bà lấy chồng sớm hầu thoát ly. Ngày lên xe hoa, bà thề độc là không bao giờ quay về căn nhà bà đang sống một lần nữa, huống hồ gặp mẹ nên đã không liên lạc khi đổi địa chỉ. Chồng chết sớm để lại bà hai đứa con thơ phải nuôi dưởng, đời sống khó khăn cách mấy, bà cũng cố chịu đựng nuối con chứ không hề quay về cầu cứu mẹ. Bà đã làm điều đó hơn ba mươi năm !!!!!  Có một lần, tôi đã hỏi:

“Chứ bà có biết bây giờ mẹ bà ở đâu không ?” 

Bà nói cộc lốc:

“Không biết .... tôi cũng không cần biết  đến vì ... mẹ có bao giờ thương yêu đến tôi đâu mà cần biết” 

Tôi không đồng ý, nói:

“Bà dọn nhà đi nơi khác, không để lại địa chỉ, biết đâu mà tìm ?”

Thấy tôi có lý, bà im lặng, tôi tiếp:

“Bà đã mang ơn mẹ nhiều lắm mà không biết đấy, ở trong bụng mẹ chín tháng, mười ngày, bà đã rút biết bao nhiêu chất bổ từ cơ thể mẹ để lập nên thân này, đã đạp lung tung làm  mẹ đau đớn, đã một ngày một lớn lên trong bụng để mẹ phải mang nặng, rồi khi sanh ra, đau đớn khôn cùng, có thể mất mạng như chơi .... , bà không có quyền giận ghét mẹ, cho dù được thương hay không.”

Tôi còn nói nhiều, nhiều lắm, nói một hơi ... rồi nhấn mạnh:

“Chính bà phải hiểu hơn ai hết chức năng làm mẹ, làm bà nội, vì đã có con, có cháu”

 Bà không đồng ý với tôi, trả lời rằng:

“Mẹ đâu muốn tôi đâu, còn tôi, tôi mong có con cơ mà”

Không hiểu gia đình bà thế nào, nhưng nghe lập luận ấy, tôi không muốn nói thêm nữa nên chấm dứt câu chuyện, về sở làm.

Những ngày kế tiếp theo nhau, quanh quẫn câu chuyện giữa tôi và bà vẫn là chuyện đâu đâu giữa mẹ bà và bà làm tôi chán ngấy vì khả năng nghe để thương và hiểu giờ đây đã “bão hoà”, tôi không giúp gì được cho bà đoàn tụ với mẹ. Một hôm, muốn chấm dứt câu chuyện này, tôi hỏi :

“Bà có bao giờ nghĩ đến hay thương nhớ mẹ không?”

Bà khẳng định một cách giận dữ:

“Không”

Tôi nhẫn nại hỏi tiếp:

“Nếu không sao bà cứ nói mãi vậy?” 

Bà nói:

“Không hiểu vì sao cứ bị ám ảnh mãi về chuyện này mãi suốt quảng đời đã qua và hiện tại để rồi khắc khoải tự hỏi mẹ có bao giờ thương ta không? Nếu có, hồi đó sao cứ đánh mắng tôi vậy?”

Ðánh vào tâm lý, tiếp tục mẫu chuyện bỏ dở hôm nọ, tôi giải thích cho bà hiểu:

“Bà là một phần của mẹ bà nên bà mới bâng khuâng, xao xuyến dữ như vậy suốt bao năm, khi có dịp, có người chịu nghe là tuôn trào liền. Tưởng rằng không thương, nhưng thương lắm, mẹ bà cũng thế, thương lắm chứ, nhưng phải dạy dỗ bà. Ồ, chuyện chi chứ ăn đòn và nghe rầy la là chuyện ăn cơm bữa đối với tôi khi còn nhỏ, vì tôi nghịch lắm. Vì lý do không hạp nên sinh mâu thuẫn rồi hai người xa nhau. Bà phải biết ơn mẹ đã cho bà thân này để sống hầu tạo ra hai người con của bà. Sợi dây tâm linh giữa hai người không thể nào chặt đứt được vì bà đã trú ngụ trong thân mẹ gần một năm, cũng như sợi dây tâm linh của bà tiếp nối đến đời con cháu. Nếu không thương, mẹ đã hủy bà ngay từ khi phôi thai hay đã bỏ bà ngay khi lọt lòng, đã có người làm như thế cơ mà. Tôi xin bà hãy nghĩ lại mà tìm cách liên lạc với mẹ đi.”

Bà đã khóc, rồi thú nhận đã tìm để biết mẹ hiện đang sống ở Queensland với em bà, địa chỉ và số phone có trong sổ địa chỉ đây. Tôi hớn hở dục:

“Còn chần chờ gì mà không liên lạc !!!!”

Bà khó chịu ra mặt thẳng thắng cắt ngang câu chuyện:

“Tôi biết tự lo liệu, đó là chuyện gia đình tôi, không cần cô xen vào, hối thúc. Tôi không thoải mái gọi điện thoại nói chuyện với họ.”

Bị gáo nước lạnh tạt vào mặt, tôi thở sâu vào  để quán chiếu, không nói chi nữa, tôi đề nghị trở về văn phòng làm việc.

Nghĩ sao, vài ngày sau, bà điện thoại xin lỗi tôi và hỏi có nên viết thư cho mẹ không ? Tôi lại “nhanh nhẩu đoảng” mừng rơn tán đồng ý kiến. Lần này, bà lại làm tôi “cụt hứng”, bà nói:

“Tôi không quen viết thư và không có thì giờ.”

Tôi nản lòng không nói gì thêm nữa. Cù nhây cù nhưa như thế vài tuần, gần đến ngày các bà mẹ, tôi hối thúc bà mua thiệp chúc mừng mẹ, bà từ chối, hỏi:

“Gửi thiệp để làm gì ? Bao năm không gửi, giờ gửi thấy kỳ cục làm sao ấy”

Trưa ấy, tôi liền “phương tiện” rủ bà đi ăn trưa, khi về tôi tạt qua một cửa hiệu bán thiệp, kêu bà về trước đi, không chịu về nên bà đi theo tôi.  Ðang lựa thiệp đề tặng  “dì “ thay vì “mẹ”, bà thấy được, thắc mắc hỏi:

“Chỉ là dì thôi, sao cũng được gửi vào ngày ‘mother day’ vậy?”

Tôi giải thích:

“Chúng tôi xem dì như mẹ, vì  ca dao Việt Nam có câu ‘xảy mẹ bú dì ‘”

Tôi hỏi khéo:

“Chứ bà có mua thiệp cho mẹ không ?”

Chần chừ một lúc, bà quyết định mua sau khi  lựa rất kỷ. Bà mua để đó chứ có gửi đi đâu, cách ngày lại đem ra trêu tôi:

“Thiệp mua với cô hôm nọ vẫn còn đây, chưa gửi”

Tôi điềm đạm:

“Còn thiệp tôi gửi đã vừa đến Pháp, tôi có nhận điện thoại dì tôi cám ơn rồi”

 Nghe vậy, bà quyết định không gửi nữa vì đã quá ngày. Chẳng hiểu sao tôi lại buồn bực đành im lặng, chợt nghĩ tính tình như thế thì mẹ bà chịu cũng không nỗi là phải lắm rồi, nhất là khi còn trẻ, tính nết chưa đầm thắm thì còn quái đản, kỳ cục đến đâu? Bởi thế, cuộc đời này, nghe và thấy cái gì cũng phải hai chiều hết, đừng bao giờ để một chiều lôi cuốn, lung lạc. Sợ tôi giận, bà viện hết cớ này đến cớ nọ để không gửi, chẳng hạn  như không có thì giờ viết, hay ra bưu điện gửi thư .... Chẳng nói gì thêm nữa, thiết nghĩ, chuyện “gia đình bà” tôi bị lôi cuốn như thế đã “dư” lắm rồi, nói chi là “đủ”. Bà có đời sống của bà, tôi có của tôi, không liên hệ gì hết thì can dự vào làm gì ? Nghĩ như thế nên tôi bỏ đi dạo một mình cho thư dãn, nhưng sao chân cứ rảo bước đến bưu điện để mua “con tem” buộc bà phải gửi thiệp đi dù đã trể hơn một tuần, kể ra tôi cũng độc tài đấy.  Tuy không thích nhưng sợ tôi giận nên bà phải viết vài chữ để chính tay tôi gửi đi, rồi tuyên bố:

“Chỉ vì cô đấy, muốn làm cô vui nên mới gửi chứ øtôi không cần làm chuyện ấy. Tôi nghĩ mẹ tôi không cần thiệp tôi gửi”

Tôi nói:

“Cần hay không thì thời gian sẽ trả lời, thiệp bà đã mua, còn tem tôi mua cơ mà, biết đâu bà đem niềm vui đến cho mẹ đấy rồi sẽ liên lạc với bà.”

Bà bĩu môi:

“Cô nghĩ vậy sao? Còn tôi, tôi không tin chuyện ấy sẽ xảy ra.”

Tôi cũng chẳng nói gì thêm, bà muốn nói chi đó thì nói, miễn sao mẹ con bà xum họp là tôi vui rồi, dù chỉ một lần, nhưng biết đâu lý luận của bà đúng.

Thế nhưng, vào sáng thứ bảy tuần sau, bà đã vui mừng không cầm được lòng để gọi tôi ở nhà khi chiều thứ sáu nhận được thư mẹ. Mẹ bà đã viết thư cho bà, rất cảm động, cảm động đến khóc khi nhận được tấm thiệp chúc tụng “Mother day”. Ðã bao năm xa cách, nay bà đã trùng phùng với mẹ, còn gì bằng. Ðây là lần đầu tôi thấy bà vui ra mặt về việc này, thú nhận đã hiểu lầm mẹ, bà nài nỉ tôi đi ăn trưa với bà ngày Thứ Hai để khoe lá thư. Bà cho biết chữ mẹ bà viết rất run, không ngay hàng thẳng lối tí nào, có chỗ mực bì nhoè vì nước mắt. 

Thứ hai gặp, bà khoe thư liền nhưng không cho tôi đọc, lòng tôi như se thắt lại trong khi bà lại tỉnh bơ. Bà vui mừng:

“Mẹ tôi muốn gặp tôi đó.”

Tôi vui vẽ đề nghị :

“Thế thì bà nên lấy phép vài ngày đi thăm mẹ để thông cảm, gần gũi nhau hơn chứ.”

Bà khó chịu ra mặt từ chối thẳng, viện cớ:

“Tôi không có dư tiền để đi thăm bà ấy.”

Sự thật phũû phàng đến như vậy sao? Mới vui mừng đó, giờ đã quay lưng, tiếc tiền, đạo đức, luân lý con người ở đâu nhỉ? Thật tội cho mẹ bà. Tôi không muốn nói chi nữa, chấm dứt bữa cơm trưa. Tôi biết bà Ann có tiền chứ không có nghèo, giàu nghèo gì vài trăm bạc cái vé máy bay mà không mua nỗi. Thế mới biết tình bà đối với mẹ nhẹ hơn cả tiền bạc. Tình mẹ của bà không thiêng liêng và khắng khít như  của tôi và những người khác nên tôi hiểu, không xen vào đời sống bà nữa. Thú thật, tôi sợ bà Ann quá rồi, tôi không đủ khả năng để  “thương yêu và hiểu biết” bà thêm nữa, tôi không muốn bị lôi cuốn, phân tâm. Tôi tiếc cho bà còn có mẹ mà không biết quí, khi mẹ mất rôì ra sao nhỉ ? Chắc bà cũng không cần vì đã không gặp hơn ba mươi năm.

Tưởng chuyện đã êm trôi thì tối thứ sáu, tôi nhận được điện thoại bà gọi, lần này lại vui lắm, bà khoe là vừa nói chuyện với mẹ xong.

Tôi chán nản, hỏi nhát gừng:

“Có gì lạ?”

Bà nói:

“Mẹ vẫn nhớ mầu mắt xanh đẹp của tôi, còn cháu gái giống tôi như đúc khi còn nhỏ”

Bà sung sướng ở chỗ mẹ vẫn còn nhớ hình dáng bà khi còn nhỏ, hạnh phúc chỉ chừng ấy thôi cũng đủ rồi, qua ống nghe, tôi biết bà đang khóc. Tôi an ủi khuyến khích bà nên đi thăm mẹ. Bà ngần ngừ không biết tính sao, lần này cũng muốn thăm gia đình vì sắp sữa nghỉ phép đi Queensland với chồng sau.

Sau hai tuần, đi làm lại, bà gửi thư rủ tôi đi ăn trưa, tôi điện thoại hỏi liền:

“Bà có đi thăm mẹ bà không?” 

Bà im lặng không nói, tôi biết liền  .... thất vọng về bà quá, có lẽ, tôi là người cực đoan chăng? Hay tình thương dành cho bố mẹ nhiều quá nên thấy vậy tôi đâm chán ngán bà bạn già này? Bà phân trần lần này gặp bạn bè nhiều quá nên không có thì giờ đi thăm mẹ ....Buồn thay, bạn bè thì có thì giờ thăm hỏi, nhưng thì giờ cho mẹ thì không.  Tôi từ chối bà, không đi ăn trưa nữa .....Tôi không có ý kiến hay quyền phán xét chuyện người khác, ai cũng có quan điểm và đời sống riêng của họ, tôi không có quyền hạn xen vào..... tự nhủ với lòng mình “trang sách về cuộc đời bà Ann với mẹ đã được lật qua rồi”, không nên biết thêm về họ.

Sau sáu tháng, về lại sở cũ, tôi ít gặp bà Ann cũng như liên lạc nhưng ngày qua ngày, bà vẫn cho tôi biết mẹ bà khi khoẻ khi ốm vì cơn suyễn hoành hành, tôi chỉ nghe mà không phản ứng, phán xét, hay đề nghị gì nữa. Tuy nhiên, tôi đã nhắc bà gửi thiệp cho mẹ năm nay vào dip lễ “mother day”, biết đâu năm nay sẽ là năm cuối, nhưng bà không gửi, khẳng định mẹ đã hôn mê rồi, có gửi cũng không biết.  Thật vậy, mẹ bà đã mê man khá lâu, cuối cùng tôi nhận được tin buồn này. Viết cho tôi như một lời tâm sự, bà rất đỗi vui mừng khi “nghe lời” tôi, liên lạc với mẹ. Ban đầu, nghe mẹ chết, bà dửng dưng không khóc, “có gì đâu để mà khóc”, nhưng càng nghĩ càng thấm thía để rồi khổ đau dâng tràn vì trong cơn hấp hối, mẹ bà gọi mãi tên bà làm bà thêm ray rức, ăn năn vì không gặp lại mẹ sau hơn ba mươi năm. Hơn thế nữa, mẹ bà đã muốn gặp lại nhau sau khi nghe giọng nói của bà. Thiết nghĩ, nếu là người Việt, tình huống của bà có khác hơn không? Vì tình gia đình khắng khít, vì đạo giáo, vì ảnh hưởng truyền thống dân tộc? Hay ở tính nết, cách cư xử mỗi người?

 

Bà sẽ không đi Brisbane đưa đám vì tro mẹ bà sẽ mang về đây rãi ở biển Semaphore, thế là hết!!!! Thư đã viết từ mấy ngày qua, vội vã, tôi bắt ống nghe lên gọi hỏi thăm bà, bên kia đường dây, giọng bà mỏi mệt, trả lời tôi miễn cưởng, tôi buồn lắm. Cuối cùng, bà cáo lỗi hôm nay, không nói chuyện được, bà đang ưu phiền, ăn năn và ray rứt. Bà lại lập lại câu thư viết cho tôi:

“Tưởng rằng tôi sẽ dửng dưng không khóc, có gì đâu để mà khóc, nhưng càng nghĩ càng thấm thía để rồi khổ đau dâng tràn. Hơn bao giờ hết, hiện giờ, nó đang dâng lên cực độ và xin lỗi bạn là tôi không thể nói chuyện với bạn trong lúc này. Tôi đã mất ngủ nhiều đêm nên bây giờ mệt lắm, xin lỗi nhé.”

Tôi chợt nghe tiếng “tít tít tít” từ đầu máy bên kia, tiếng kêu như lời thổn thức, ăn năn từ đáy lòng, tựa hồ như  tiếng gió vi vu thổi nhẹ vào chiếc hố sâu không đáy được đào từ hơn ba mươi năm về trước.

 

(Vu Lan 2004 – Những mẫu chuyện đời)

 

--- o0o ---

Cập nhật ngày: 20-08-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com