Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .


 

Phật Nói
Kinh Vu Lan Bồn

 

Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Mục Liên mới đặng lục thông

Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả

 Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền

Làm con hiếu hạnh vi tiên

Bèn dùng huệ nhãn, dưới trên kiếm tìm.

Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỉ

Không uống ăn tiều tụy hình hài

Mục Liên thấy vậy bi ai

Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu

Ðặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu

Thấy cơm mẹ rất lo âu

Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt

Sợ chúng ma cướp giựt của bà

Cơm đưa chưa đến miệng đà

Hóa thành lửa đỏ, nuốt mà được đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm

Mục Kiền Liên bi thảm xót thương

Mau mau về chốn giảng đường

Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giải nàn.

Phật mới bảo rõ ràng căn cội

Rằng mẹ ông gốc tội kết sâu

Dầu ông thần lực nhiệm mầu

Một mình không thể khấn cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn

Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên

Cùng là các bực Thần kỳ

Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương

Cộng ba còi sáu phương tụ tập

Cũng không phương cứu tế mẹ ngươi

Muốn cho cứu được mạng người

Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu thế ta toan giảng nói

Cho mọi người thoát khỏi ách nàn

Bèn kêu Mục thị đến gần

Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi:

Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ

Mười phương Tăng đều dự lễ này

Phải toan sắm sửa chớ chầy

Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót

Cùng thau, bồn, đèn đuốc nhang, dầu

Món ăn tinh sạch báu mầu

Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

Chư Ðại đức mười phương thọ thực

Trong bảy đời sẽ được siêu thăng

Lại thêm cha  mẹ hiện tiền

Ðặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ

Dầu ở đâu cũng tụ hội về

 Như người thiền định sơn khê

Tránh điều phiền não chăm về thiền na

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả

Công tu hành nguyện thỏa vô sanh

Hoặc người thọ hạ kinh hành

Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng

Hoặc người được lục thông tấn phát

Và những hàng Duyên Giác, Thinh Văn

Hoặc chư Bồ Tát mười phương

Hiệu hình làm sãi ở gần chúng sanh

Ðều trì giới rất thanh, rất tịnh

Ðạo đức dày chánh định chơn tâm

Tất cả các bực Thánh, Phàm

Ðồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa

Người nào có sắm ra vật thực

Ðể cúng dường Tự Tứ Tăng thời

Hiện tiền phụ mẫu của người

Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi

Cảnh thanh nhàn hưởng thọ tự nhiên.

Như còn cha mẹ hiện tiền

Nhờ đó cũng được bá niên thọ trường.

Như cha mẹ bảy đời quá vãng

Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung

Người thời tuấn tú hình dung

Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân.

Phật dạy bảo mười phương Tăng chúng

Phải tuân theo thể thức sau này:

Trước khi thọ thực đàn chay

Phải cầu chú nguyện cho người tín gia

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ

Ðịnh tâm thần quán đủ đừng quên

Cho xong định ý hành thiền

Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng

Khi thọ dụng, nên an vật thực

Trước Phật đài hoặc tự tháp trung

Chư Tăng chú nguyện viên dung

Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt

Mục Liên cùng Bồ Tát chư Tăng

Ðồng nhau tỏ dạ vui mừng

Mục Liên cũng hết khóc thương buồn rầu

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy

Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan.

Mục Liên bạch với Phật rằng:

Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn

Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo

Nếu không thời nạn khổ khó ra

Như sau đệ tử xuất gia

Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh

Ðộ cha mẹ còn đương tại thế

Hoặc bảy đời có thể được không?

Phật rằng: Lời hỏi rất thông

Ta vừa muốn nói, con liền hỏi theo.

Thiện nam tử, Tỳ kheo nam nữ

Cùng Quốc Vương, Thái Tử, Ðại Thần

Tam Công, Tể Tướng, Bá Quan

Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần

Như chí muốn đền ơn cha mẹ

Hiện tại cùng thất thế tình thâm

Ðến rằm tháng Bảy mỗi năm

Sau khi kiết hạ, chư Tăng tựu về

Chính ngày ấy Phật Ðà hoan hỷ

Phải sắm sanh bá vị cơm canh

Ðựng trong bình bát tinh anh

Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ

Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi

Cùng cầu thất thế đồng thời

Lìa nơi ngạ quỉ, sanh về nhơn, thiên

Ðặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp

Lại xa lìa nạn khổ cực thân

 Môn sanh Phật tử ân cần

Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên

Thường cầu nguyện thung huyên an hảo

Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh

Ngày rằm tháng Bảy mỗi năm

Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt

Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu.

Ðệ tử Phật lo âu gìn giữ

 Mới phải là Thích tử Thiền môn.

Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn

Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan

Mục Liên với bốn ban Phật tử

Nguyện một lòng tín sự phụng hành.

Trước là trả nghĩa sanh thành

Sau là cứu với chúng sanh muôn loài

Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát (3 lần)

 

Phật nói

Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu

 

Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Chư Tăng câu hội rất đông

Tính ra đến số hai muôn tám ngàn

Lại cũng có các hàng Bồ Tát

Hội tại đây đủ mặt thường thường.

Bây giờ, Phật lại lên đường

Cùng hàng đại chúng Nam Phương tiến hành

Ðến giữa đường, rành rành mắt thấy

Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế Tôn bèn vội đến nơi

Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.

Ðức A Nan tủi lòng ái ngại

Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội vàng xin Phật dạy tường

Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài

Ai ai cũng kính Thầy dường ấy

Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng: trong các môn đồ

Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công

Bởi chưa biết đục trong cho rõ

Nên vì ngươi ta tỏ đuôi đầu:

Ðống xương dồn dập bấy lâu

Cho nên trong đó biết bao cốt hài

Chắc cũng có ông bà cha mẹ

Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sinh

Luân hồi sanh tử, tử sinh

Lục thân đời trước thi hài còn đây

Ta lễ bái kính người tiền bối

Và ngậm ngùi nhớ tới kiếp xưa

Ðống xương hỗn tạp chẳng vừa

Không phân trai gái bỏ bừa khó coi

Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ

Phân làm hai, bên nữ bên nam

Ðể cho phân biệt cốt phàm

Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.

Ðức A Nan trong lòng tha thiết

Biết làm sao phân biệt khỏi sai

Ngài bèn xin Phật chỉ bày

Khó lòng chọn lựa gái trai lúc này

Còn sinh tiền dễ bề sắp đặt

Cách đứng đi ăn mặc phân minh

Ðến khi rã xác tiêu hình

Xương ai như nấy khó nhìn khó phân

Phật mới bảo A Nan nên biết:

Xương nữ nam phân biệt rõ ràng

Ðàn ông xương trắng nặng hoằng

Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?

Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra

Sanh con ba đấu huyết ra

Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con

Vì cớ ấy hao mòn thân thể

Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.

A Nan nghe vậy bi ai

Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh

Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo

Phương pháp nào báo hiếu song thân?

Thế Tôn mới giảng ân cần:

Vì ngươi ta sẽ phân trần, lóng nghe

Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc

Sanh đặng con mười tháng cưu mang

Tháng đầu thai đậu tợ sương

Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường

Tháng thứ nhì dường như sữa đặc

Tháng thứ ba như cục huyết ngưng

Bốn tháng đã tượng ra hình

Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng

Tháng thứ sáu lục căn đều đủ

Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chơn lông

Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn

Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ

Chín tháng thì đầu đủ vóc hình

Mười tháng thì đến kỳ sinh

Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn.

Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu

Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung

Làm cho cha mẹ hãi hùng

Sự đau, sự khổ không cùng tỏ phân

Khi sinh sản muôn phần an lạc

Cũng ví như được bạc, được vàng.

Thế Tôn lại bảo A Nan:

Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin

Ðiều thứ nhứt-giữ gìn thai giáo

Mười tháng trường châu đáo mọi bề.

Thứ hai-sinh sản gớm ghê

Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.

Ðiều thứ ba-thâm ân nuôi dưỡng

Cực đến đâu bền vững chẳng lay.

Thứ tư-ăn đắng nuốt cay

Ðể dành bùi ngọt đủ đầy cho con.

Ðiều thứ năm-lại còn khi ngủ

Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.

Thứ sáu-sú nước nhai cơm

Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê.

Ðiều thứ bảy-không chê ô uế

Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.

Thứ tám-chẳng nở chia riêng

Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo.

Ðiều thứ chín-miễn cho con sướng

Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam

Tính sao có lợi thì làm

Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm.

Ðiều thứ mười-chẳng ham trau chuốt

Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng

Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.

Phật lại bảo, A Nan nên biết:

Trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người

Mười phần mê muội cả mười

Không tường ơn trọng đức dày song thân

Chẳng kính mến quên ơn trái đức

Không xót thương dưỡng dục cù lao

Ấy là bất hiếu mặc giao

Những hạng người ấy đời nào nên thân.

Mẹ sanh con cưu mang mười tháng

Cực khổ dường gánh nặng trên vai

Uống ăn chẳng đặng vì thai

Cho nên thân thể hình hài kém suy.

Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết

Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê

Nhất sinh thập tử nhiều bề gian nan.

Con còn nhỏ lo toan săn sóc

Ăn đắng, cay, bùi ngọt phần con

Phải tắm phải giặt rửa trôn

Biết rằng dơ dáy mẹ không ngại gì.

Nằm phía ướt con nằm phía ráo

Sợ cho con ướt áo, ướt chăn

Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân

Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.

Trọn ba năm bú nương sữa mẹ

Thân gầy mòn nào nệ với con

Khi con vừa được lớn khôn

Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng 

Con đi học mở thông trí tuệ

Dựng vợ chồng cho dễ làm ăn

Ước mong con được nên thân

Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.

Con ốm đau tức thì lo chạy

Dầu tốn hao đến mấy cũng đành

Khi con căn bệnh đặng lành

Thì cha mẹ mới an thần định tâm.

Công dưỡng dục sánh bằng non biển

Cớ sao con chẳng biết ơn này

Hoặc khi lầm lỗi bị rầy

Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang.

Hỗn cha mẹ phùng mang trợn mắt

Khinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi

Bà con chẳng kể ra chi

Không tuân sư phụ lễ nghi chẳng tường.

Lời dạy bảo song đường không kể

Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng

Trái ngang chóng báng mọi đàng

Ra vào lui tới mắng càn người trên.

Vì lỗ mãng tánh quen làm bướng

Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn

Lớn lên theo thói hung hăng

Ðã không nhẫn nhịn, lại càng làm hung.

Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ

Nết tập quen, làm sự trái ngang

Nghe lời dụ dỗ huyênh hoang

Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.

Trước còn tập theo thời theo thế

Thân lập thân, tìm kế sinh nhai

Hoặc đi buôn bán kiếm lời

Hoặc vào quân lính với đời lập công.

Vì ràng buộc đồng công mối nợ

Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con

Quên cha, quên mẹ tình thâm

Quên hương xứ sở lâu năm không về.

Ấy là nói những người có chí

Chớ phần nhiều du hí mà thôi

Sau khi phá hết của rồi

Phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài.

Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc

Phạm tội hình, tù rạc phải vương

Hoặc khi mang bệnh giữa đường

Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng.

Hay tin dữ bà con cô bác

Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu

Thương con than khóc ưu sầu

Có khi mang bịnh đui mù vấn vương

Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ

Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn

Hoặc nghe con chẳng lo lường

Trà đình tửu điếm phố phường ngao du

Cứ mải miết con đường bất chính

Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khan

Làm cho cha mẹ than van

Sinh con bất hiếu phải mang tiếng đời.

Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu

Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều

Ốm đau đói rách kêu rêu

Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương.

Phận con gái khi nương cha mẹ

Còn có lòng hiếu để thuận hòa

Cần lao phục dịch trong nhà

Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi.

Song đến lúc, tùng phu xuất giá

Lo bên chồng chẳng sá bên mình

Trước còn lai vãng đến thăm

Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhà.

Quên dưỡng dục song thân ân trọng

Không nhớ công mang nặng đẻ đau

Chẳng lo báo bổ cù lao

Làm cho cha mẹ tuôn trào lệ rơi.

Nếu mẹ cha la rầy quở mắng

Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiên

Ðến khi chồng đánh liên miên

Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than.

Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ

Nói không cùng nghiệp dữ phải mang

Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng

Tất cả đại chúng lòng càng thảm thay.

Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi

Ðập vào mình, vào mũi, vào hông

Làm cho các lỗ chân lông

Thảy đều rướm máu ướt dầm cảm thân

Ðến hôn mê tâm thần bất định

Một giây lâu mới tỉnh than rằng:

Bọn ta quả thật tội nhân

Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù.

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc

Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nỗi than van

Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu.

Trước Phật tiền ai cầu trần tố

Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân

Làm sao báo đáp thâm ân

Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình?

Phật bèn dùng phạm thinh sáu món

Phân tỏ cùng đại chúng lóng nghe

Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề

Không phương báo đáp cho vừa sức đâu.

Ví có người ân sâu dốc trả

Cõng mẹ cha tất cả hai vai

Giáp vòng hòn núi Tu Di

Ðến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa.

Ví có người gặp cơn đói rét

Nuôi song thân dâng hết thân này

Xương nghiền thịt nát phân thây

Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng.

Ví có người vì công sanh dưỡng

Tự tay mình khoét thủng song ngươi

Chịu thân mù tối như vầy

Ðến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu.

Ví có người cầm dao thiệt bén

Mổ bụng ra rút hết tâm can

Huyết ra khắp đất chẳng than

Ðến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng.

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn

Ðâm vào mình bất luận chỗ nào

Tuy là sự khó biết bao

Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền.

Ví có người vì ân dưỡng dục

Tự treo mình, cúng Phật thế đèn

Cứ treo như vậy trọn năm

Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền.

Ví có người xương nghiền ra mỡ

Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình

Xương tan, thịt nát chẳng phiền

Ðến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.

Ví có người vì công dưỡng dục

Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan

Làm cho thân thể tiêu tan

Ðến trăm ngàn kiếp chưa ngang ơn này.

Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng

Giọt lệ tràn khó nỗi cầm ngăn

Ðồng thanh bạch với Phật rằng

Làm sao trả đặng thâm ân song đường?

Phật mới bảo các hàng Phật tử:

Phải lắng nghe ta chỉ sau này

Chúng ngươi muốn đáp ơn dày

Phải nên biên chép kinh đây lưu truyền.

Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng

Cùng ăn năn những tội lỗi xưa

Cúng dường Tam Bảo sớm trưa

Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi.

Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ

Mười phương Tăng đều dự lễ này

Sắm sanh lễ vật đủ đầy

Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng

Ðặng cầu nguyện song đường trường thọ

Hoặc sanh về Tịnh Ðộ an nhàn

Ấy là báo đáp thù ân

Sanh thành dưỡng dục song thân của mình.

Phật tử phải cần chuyên trì giới

Pháp Tam Quy, ngủ giới giữ gìn

Những lời ta dạy đinh ninh

Phải nên vâng giữ thi hành đừng sai.

Ðược như vậy mới là khỏi tội

Bằng chẳng thì ngục tối phải sa

Trong năm đại tội kể ra

Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay.

Sau khi chết, bị đày vào ngục

Ngũ Vô Gián cũng gọi A Tỳ

Ngục này trong núi Thiết Vi

Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề.

Trong ngục này hằng ngày lửa cháy

Ðốt tội nhân hết thảy thành than

Có lò nấu sắt cho tan

Rót vào trong miệng tội nhân hành hình.

Một vá đủ cho người thọ khổ

Lột thịt da đau thấu tâm can

Lại còn chó sắt cắn gang

Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân.

Ở trong ngục có giường bằng sắt

Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong

Rồi cho một ngọn lửa hồng

Nướng quay chúng nó da phồng thịt thau.

Móc bằng sắt thương đao gươm giáo

Trên không trung đổ xuống như mưa

Gặp ai chém nấy chẳng chừa

Làm cho thân thể như dưa chín muồi.

Những hình phạt vô phương kể hết

Mỗi ngục đều có cách trị riêng

Như là xe sắt phân thây

Chim ưng mổ bụng trâu cày lưỡi le.

Nếu chết được, chết liền cho đỡ

Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân

Ngày đêm sống chết muôn lần

Ðến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây.

Sự hành phạt tại A Tỳ ngục

Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân

Chúng ngươi đều phải ân cần

Thừa hành lời dạy, phân trần ở trên.

Nhứt là phải kinh nầy biên chép

Truyền bá ra cho khắp Ðông Tây

Như ai chép quyển kinh nầy

Cũng bằng đặng thấy một vì Thế Tôn.

Nếu in đặng nghìn muôn quyển ấy

Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên

Tùy theo phước báo lưu truyền

Chư Phật ủng hộ sở nguyền viên dung.

Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh

Lại hóa sanh về cảnh thiên cung

Nghe lời Phật giảng vừa xong

Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng.

Lại phát nguyện dù thân này nát

Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài

Dầu cho kéo lưỡi trâu cày

Ðến trăm ngàn kiếp lời thầy không quên.

Ví như bị trăm ngàn dao mác

Khắp thân này bằm nát như tương

Trải trăm ngàn kiếp khôn lường

Chúng con gìn giữ như phương thuốc mầu.

Ðức A Nan âu sầu đảnh lễ

Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh

Dễ bề truyền bá chúng sanh

Chuyên trì phúng tụng tu hành mai sau.

Phật mới bảo A Nan nên biết:

Quyển kinh này quả thiệt cao xa

Ðặt tên "BÁO HIẾU MẸ CHA"

Cùng là "ÂN TRỌNG" thật là chơn kinh.

Các ngươi phải giữ gìn châu đáo

Ðể đời sau, y giáo phụng hành.

Sau khi, Phật dạy đành rành

Bốn hàng Phật tử tâm thành vui theo.

Cùng một lòng vâng lời Phật dạy

Và kính thành tin chắc vẹn truyền

Ðồng nhau tựu lại Phật tiền

Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra.

Nam Mô Ðại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

Khen ngợi Ðức Mục Kiền Liên

Mục Liên Tôn Giả

Thay Phật tuyên hành

Gậy vàng vừa gõ

Cửa ngục băng thanh

Tội nhơn giải thoát

Tịnh Ðộ hóa sinh

Phúc huệ mãi an lành.

Nam Mô Tịnh Ðộ Phẩm Bồ Tát (3 lần)

Sám Vu Lan

Ðệ tử chúng con

Vâng lời Phật dạy

Ngày rằm tháng Bảy

Gặp hội Vu Lan

Phạm Vũ huy hoàng

Ðốt hương đảnh lễ

Mười phương Tam thế

Phật, Pháp, Thánh, Hiền

Noi gương đức Mục Kiền Liên

Nguyện làm con thảo

Lòng càng áo não

Nhớ nghĩa thân sanh

Con đến trưởng thành

Mẹ dày đau khổ

Ba năm nhũ bộ

Chín tháng cưu mang

Không ngớt lo toan

Quên ăn bỏ ngủ

Ấm no đầy đủ

Cậy có công cha

Chẳng quản yếu già

Sanh nhai lam lũ

Quyết cùng hoàn vũ

Phấn đấu nuôi con

Giáo dục vuông tròn

Ðem đường học đạo

Ðệ tử ơn sâu chưa báo

Hổ phận kém hèn

Giờ này quỳ trước đài sen

Chí thành cung kính

Ðạo tràng thanh tịnh

Tăng Bảo trang nghiêm

Hoặc hiện tham thiền

Ðầy đủ thiện duyên

Dũ lòng lân mẫn

Hộ niệm cho:

Bảy kiếp cha mẹ chúng con

Ðượm nhuần mưa Pháp

Còn tại thế:

Thân tâm yên ổn

Phát nguyện tu trì

Ðã qua đời:

Ác đạo xa lìa

Chóng thành Phật quả

Ngưỡng mong các đức Như Lai

Khắp cõi hư không

Từ bi gia hộ.

  


--- o0o ---


Vi tính: Diệu Mỹ
Cập nhật ngày: 01-08-2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com