Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ... .


TẬP SAN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

Số 7 - Vu Lan PL. 2547  

Phổ biến nội bộ

--- o0o ---

A TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN (q.4)

           

ABHIDHARMAKOŚABHĀṣAYĀM

Nguyên tác: Thế Thân

Hán dịch: Huyền Trang 

                                                          

PHẨM THỨ HAI:  PHÂN BIỆT CĂN(2)

 

TIẾT i: CÁC PHÁP CÂU SANH

A. GIẢI THÍCH CÂU SANH.

I: SẮC PHÁP CÂU SANH.

Hỏi: Nay nên suy nghĩ phân biệt rằng, tất cả pháp hữu vi, thể tướng bất đồng, sanh khởi cũng khác nhau, (như vậy) là có các pháp quyết định cùng sanh khởi chăng?

Đáp :

Tổng đáp: Có các pháp quyết định cùng sanh khởi[1]. Một cách tổng quát, tất cả các pháp chia làm năm loại –1.sắc. 2.tâm. 3.tâm sở. 4.tâm bất tương ưng hành. 5.vô vi. Vô vi vốn không sanh khởi, ở đây không  đề cập. Trước hết, bàn về sắc pháp[2] quyết định cùng sanh khởi.

Biệt đáp (Sắc pháp câu sanh):

1.Cõi Dục:

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312b21:        

T29n1560-p0312b22:       

Âm Hán:

Dục vi tụ vô thanh     

Vô căn hữu bát sự

Hữu thân căn cửu sự             

Thập sự hữu dư căn.

Việt dịch:

Cõi Dục, các vi tụ không  thanh    

không căn, có tám loại.

Có thân căn, chín loại        

mười loại, có các căn khác /23/.

Luận giải thích:

Sắc tụ[3] ở dạng vi tế gọi là vi tụ[4]; nói vi tụ nhằm hiển bày nghĩa không thế chia chẻ nhỏ hơn được nữa.

Ở cõi Dục, các vi tụ sắc không tính thanh[5], không tính căn (indriya), có tám loại[6] cùng sanh khởi, không thể thiếu giảm một loại nào.

Những gì là tám ?

Đó là bốn đại chủng(catvāri mahā-bhūtāni, mahābhūta: địa, thủy, hỏa, phong) và bốn sở tạo (catvāri mahābhūtāny upādāya, bhautika)- sắc, hương, vị, xúc.

Các vi tụ sắc, không thanh nhưng có căn, có chín hoặc mười loại cùng sanh khởi. Các vi tụ có thân căn(kāyendriya, kāyāyatana), có chín loại cùng sanh khởi: tám loại như trước và thân căn là chín.

Vi tụ có các căn khác[7], có mười loại cùng sanh khởi, chín loại như trước, cộng thêm một trong những căn, mắt, v.v... ; mắt, tai, mũi, lưỡi tất không thể lìa khỏi thân căn; chúng xoay vần hướng đến nhau, ở các vị trí riêng biệt[8].

Các vi tụ ở trước, nếu có thanh (thanh trần, thanh cảnh, śabda), theo thứ tự, số lượng căn tăng lên 9,10.11; do có thanh xứ (śabdāyatanaṃ) không thể lìa căn phát sanh; đó là hữu chấp thọ thanh nương vào đại chủng sanh khởi (upātta-śabda-mahābhūta-hetuka).

Nếu các đại chủng khi sanh khởi không rời nhau thế thì các tính cứng, ước, ấm, động[9] trong vi tụ sắc, tại sao trong từng trường hợp, chỉ thấy có một, không thấy các thứ còn lại?

Trong vi tụ sắc, loại đại chủng nào có hoạt dụng mạnh hơn thì hiển hiện rõ ràng; tự thể các loại còn lại chẳng phải là không; như cảm giác về kim châm cùng với thẻ tre áp vào; như nếm vị muối cùng với vị của gạo rang[10].

Làm sao ở trong một vi tụ, biết rằng, cũng có các tụ khác ?

Vì có các công năng duy trì (dhṛti), dung nhiếp (saṃgraha), thành thục (pakti), lớn mạnh (vyūhana)[11].

Có Luận Sư (Bhadanta Śrīlābha) nói: khi gặp duyên, các tính cứng, v.v... chuyển thành các dạng lỏng (lưu tướng), v.v...; như trong thủy tụ, do quá lạnh cho nên sinh khởi tướng ấm, tuy (chúng) không rời nhau nhưng tác dụng của lạnh tăng lên[12]; chẳng hạn, cảm thọ và âm thanh trong các tác dụng mạnh và yếu.

Các Luận Sư khác (Sautrāntika) nói: ở trong tụ nầy, có chủng tử (bījata, śaktita, sāmarthyata) các tụ kia, nhưng chưa có thể tướng[13]. Như Khế kinh (Saṃyuktāgama, 18,10) nói, ở trong thuỷ tụ, có các loại giới; giới (dhātu) có nghĩa là chủng tử.

Làm sao, trong phong, biết có hiển sắc?

Nghĩa nầy chỉ nên tin tưởng (śraddhanīya), không thể suy luận (anumeya) biết được. Hoặc, khi có mùi hương tiếp hợp, mũi liền ngửi biết; hương và hiển sắc không thể tách rời nhau[14].

2.Cõi Sắc: Trước kia đã nói, tại Sắc giới, hương, vị hoàn toàn không; (như vậy ở Sắc giới), các vi tụ không thanh thì có sáu, bảy hoặc tám (pháp cùng sanh khởi); có thanh thì có bảy, tám, chín pháp cùng sanh khởi; nghĩa nầy rõ ràng, không cần phải nói thêm.

3. Phân biệt:

Trong các pháp cùng sanh khởi đó, nói Sự (dravya), là căn cứ vào thể[15] hay căn cứ vào xứ[16]?

Nếu vậy thì có lỗi gì?

Cả hai cách đều lỗi. Nếu căn cứ vào thể tánh mà nói thì, tám, chín, hoặc mườiv.v... trở thành quá ít. Bởi vì, các vi tụ (ngoài hiển sắc, varṇa) còn có hình sắc (saṃsthāna) do nhiều cực vi tích tập tạo nên; hoặc có tính nặng, hoặc có tính nhẹ; tánh trơn, tánh nhám, cũng như vậy; hoặc có các xứ như lạnh, đói, khát; thế thì số được nói, bị lỗi quá ít. Nếu căn cứ vào xứ để nói thì tám, chín hoặc mười,v.v... trở thành quá nhiều. Bởi lẽ, bốn đại chủng nhiếp thuộc xúc xứ, lẽ ra nên nói là bốn, năm,v.v[17]...; thế thì số được nói mắc lỗi quá nhiều.

Cả hai đều không có lỗi[18]. Nên biết rằng, trong đó, nói Sự, một phần căn cứ vào thể, đó là sở y đại chủng[19] ; một phần căn cứ vào xứ, đó là năng y tạo sắc[20].

Nếu vậy, các loại (sự) đại chủng trở thành nhiều hơn[21], bởi lẽ, các sắc sở tạo, mỗi mỗi đều nương vào một tổ hợp bốn đại chủng.

Nên biết, trong đó, căn cứ vào thể loại mà nói; thể loại bốn đại chủng không khác nhau[22].

d. Chỉ tránh: Cần gì phải phân biệt ngôn ngữ đến như vậy; ngôn ngữ vốn tuỳ thuộc vào ý muốn mà sanh khởi, do vậy về ý nghĩa nên suy nghĩ[23] (là tương đối).

Đã nói xong về Sắc pháp quyết định cùng sanh.

Tiếp đến bàn về các pháp câu sanh khác.

II. TỨ PHẨM CÂU SANH.

1.TỔNG THÍCH:

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312b23 :      

Âm Hán:

Tâm tâm sở tất câu                 Chư hành tướng hoặc đắc.

Việt dịch:

Tâm, tâm sở ắt cùng   Các hành tướng hoặc đắc /24ab/.

Luận giải thích:

Tâm và tâm sở nhất định cùng sanh khởi với nhau; theo đó, khi thiếu một, các tâm khác không thể khởi lên được.

Chư hành (saṃskṛta) tức tất cả các pháp hữu vi, sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành. Chữ “ắt cùng” ở trước được dùng cho đến đây; nghĩa là các pháp hữu vi sắc, tâm,v.v... khi sinh khởi, nhất định cùng có bốn tướng hữu vi đồng thời sinh khởi. Nói “hoặc đắc” có nghĩa là, trong các pháp hữu vi, chỉ có pháp hữu tình (sattvākhya, sattvasaṃkhyāta) đồng thời cùng sinh khởi với đắc (prāpti). Các pháp còn lại không phải như thế. Do đó, nói hoặc.

TIẾT II : BIỆN SAI BIỆT.

I.TÂM SỞ (Caitasikā):

1.Ngũ địa pháp :

i.Tổng tiêu :

Văn Tụng :

Hán :

T29n1560-p0312b24:        

Âm Hán :

Tâm sở thả hữu ngũ                Đại địa pháp đẳng dị.

Việt dịch :

Tâm sở có năm loại              Đại địa pháp, vân vân /24cd/.

Luận giải thích :

Đã nói đến tâm sở, vậy tâm sở là gì?

Các pháp tâm sở gồm có năm loại. Năm loại là gì? –1.đại địa pháp.2.đại thiện địa pháp.3.đại phiền não địa pháp.4.đại bất thiện địa pháp.5.tiểu phiền não địa pháp.

ii. Biệt thích :

a.Đại địa pháp(mahābhūnikāḥ):

Văn Tụng.

Hán :

T29n1560-p0312b25:       

T29n1560-p0312b26:       

Âm Hán :

Thọ tưởng tư xúc dục            Huệ niệm dữ tác ý

Thắng giải tam ma địa           Biến ư nhất thiết tâm

Việt dịch :

Thọ tưởng tư xúc dục           Huệ niệm và tác ý

Thắng giải tam ma địa        Cùng khắp tất cả tâm /25/.

Luận giải thích :

Thích danh :

 Địa[24] có nghĩa là môi trường hoạt động[25]. Nếu pháp nầy là môi trường hoạt động của pháp kia thì nói rằng, pháp nầy là  pháp địa của pháp kia. Môi trường hoạt động của đại pháp[26] (mười pháp tâm sở -thọ, tưởng, v.v...) gọi là đại địa (mahābhūmika). Trong 46 tâm sở, pháp nào khởi lên trong đại địa (mahā bhūmi), gọi là đại địa pháp (mahā bhūmika)[27]; đó là những pháp luôn luôn có mặt trong tất cả các tâm.

Biện thể :

Pháp đó là những pháp nào?

Truyền thuyết (Tỳ bà sa,12,10). Mười pháp được nêu (như vậy) luôn luôn hoà hiệp, có mặt khắp tất cả các tâm sát na (cittakṣaṇa)[28].

Trong đó,

Thọ[29] (vedanā): là sự lãnh nạp (anubhava) về ba cảm giác khác nhau - khổ, vui, không khổ không vui .

Tưởng[30] (saṃjñā): là sự nắm bắt các tướng khác nhau của cảnh tượng.

Tư (cetanā): là động lực thúc đẩy khiến tâm có sự tạo tác (hoạt động, cittabhisaṃskāra, cittaprasyanda)).

Xúc[31] (sparśaḥ, spṛṭa): là tâm sở phát sinh khi căn, cảnh và thức hoà hợp; có công năng xúc đối (spṛṣṭi) tiền cảnh.

Dục (chandaḥ): là sự mong muốn về sự nghiệp.

Huệ (prajñā): là khả năng phân biệt các pháp.

Niệm (smṛtiḥ): là sự ghi nhớ rõ ràng, không quên về các duyên (ālambanāsaṃpramoṣa).

Tác ý[32] (manaskāraḥ): là khả năng khiến tâm cảnh giác (ābhoga,nhận thức đối tượng).

Thắng giải[33] (adhimokṣaḥ): khả năng in chụp, thẩm định các cảnh.

Tam ma địa[34] (samādhiḥ): là tính chất chuyên chú một cảnh (cittaikāgratā) của tâm.

Hành tướng của khác nhau tâm, tâm sở  rất vi tế; trong mỗi một tương tục (prabhandhena), phân biệt còn khó; huống là trong từng sát na. Các dược thảo sắc, do sắc căn thủ đắc, hương vị của chúng khác nhau, còn khó hiểu được; huống là các pháp vô sắc do giác huệ thủ đắc.

Như vậy là đã nói xong mười đại địa pháp.

b.Đại Thiện Địa Pháp (kuśalamahābhūmikas)[35].

Văn Tụng :

Hán:

T29n1560-p0312b27:       

T29n1560-p0312b28:       

Âm Hán:

Tín cập bất phóng dật Khinh an xả tàm quý

Nhị căn cập bất hại                Cần duy biến thiện tâm.

Việt dịch:

Tín và không buông lung    Khinh an, xả, tàm quý

Hai căn và không hại          Cần chỉ khắp thiện tâm /26/.

Luận giải thích :

Thích danh :

Đại thiện pháp địa gọi là đại thiện địa[36]. Trong đó, nếu pháp nào có mặt trong đại thiện địa, gọi là đại thiện địa pháp. Đó là những pháp luôn luôn có mặt trong tất cả các thiện tâm.

Biện thể :

Pháp đó là gì?

Các pháp như vậy có mặt khắp các tâm thiện. Trong đó,

Tín[37] (Śraddhā): khiến tâm trừng tịnh. Có thuyết (jñānaprasthana,1,19) nói -đối với tứ đế, tam bảo, nghiệp thiện ác và quả dị thục, hiện tại chấp nhận cho nên gọi là tín.

Không buông lung[38] (apramādaḥ): có nghĩa là tu tập (bhāvanā) các thiện pháp. Tại sao không làm các pháp bất thiện lại gọi là tu ? –vì bất phóng dật nầy, đối với thiện sự có tính chất chuyên chú (avahitatā). Trong Kinh của các Bộ phái (Mahāsāṃghika) khác có giải thích rằng, hay thủ hộ (ārakṣā) tâm gọi là bất phóng dật.

Khinh an[39] (Prasrabdhiḥ): tánh kham nhậm của tâm.

(Kinh Bộ) Há không có Kinh nào nói có sự khinh an của thân chăng[40] ?

Tuy chẳng phải không có nhưng cũng như thân thọ[41], nên biết cũng vậy.

(Hữu Bộ nạn vấn Kinh Bộ) Tại sao có thể lập khinh an làm một giác chi[42]? – Nên biết trong đó, thân khinh an là tánh kham nhậm của thân. Sao lại nói đó là giác chi (saṃbodhyanga)? - Bởi nó thuận (tương ưng) với giác chi nên không có lỗi. Do thân khinh an dẫn khởi tâm giác chi khinh an.

Ở các Kinh khác cũng có nói như vậy chăng? –Có, như Kinh nói , hỷ và thuận hỷ pháp (prītisthānīya) gọi là hỷ giác chi. Sân và sân nhơn duyên (pratighanimitta) gọi là sân nhuế cái (vyāpādanīvaraṇa). Chánh kiến (dṛṣṭi), chánh tư duy (saṃkalpa), chánh cần (vyāyāma)gọi là huệ uẩn (prajñāskandha). Tư duy và cần tuy chẳng phải tánh chất của huệ, do tuỳ thuận với huệ nên cũng được gọi là huệ. Do vậy, thân khinh an thuận với giác chi nên gọi là giác chi, không có lỗi vậy.

Xả (Upekṣā): Tánh bình đẳng của tâm[43], tánh không cảnh giác[44] của tâm gọi đó là xả[45].

Làm sao có thể nói, trong một tâm, do tác ý[46] và xả tương ưng với nhau khiến khởi lên tánh cảnh giác và tánh không cảnh giác[47] ?

(Luận Chủ đáp) Há  không phải ở trước có nói rằng, hành tướng của tâm, tâm sở vô cùng vi tế rất khó liễu tri chăng.

Hỏi: Có, tuy khó liễu tri nhưng nhờ quán sát, suy nghĩ, có thể biết được. Chúng (tác ý và xả) rất khó biết; nghĩa là, cảnh giác và không cảnh giác trái nghịch nhau, nhưng không hề trái chống nhau[48].

Đáp: Tác ý (thử) có cảnh giác, xả (dư) không có cảnh giác; hai thứ đã hai đường, có gì là trái chống.

Hỏi: Nếu vậy, lẽ ra không nên cùng duyên với một cảnh hoặc nên đối với tất cả (tham, sân,v.v...), đều hỗ tương tương ưng[49].

Những chủng loại như vậy của các pháp khác (thọ, tưởng v.v...) cũng từ trong một tâm sinh ra[50];trong ý nghĩa đó, nay ở đây (tác ý và xả) nên biết cũng giống như vậy.

Tàm quý[51] (Hrīḥ, Apatrāpyaṃ): hai loại nầy như được giải thích ở sau.

Hai căn: không tham (Alobhaḥ kuśalamūlaṃ) và không sân (Adyeṣaḥ kuśalamūaṃ)[52]. Thiện căn không si lấy huệ làm tánh nên đã nói trong đại địa pháp, không nhắc lại ở trong đại thiện địa pháp nầy nữa.

Bất hại[53] (Ahiṃsā): có nghĩa là không gây tổn não.

Cần[54] (Vīryaṃ): nghĩa là tính chất khiến tâm dũng mãnh.

Như vậy, đã nói xong (mười ) đại thiện địa pháp.

c. Đại phiền não địa pháp(Kleśamahābhūmikāḥ)[55] :

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312b29: 怠不信         

Âm Hán:

Si dật đãi bất tín                     hôn trạo hằng duy nhiễm .

Việt dịch :

Si, dật, đãi, bất tín,               hôn, trạo, luôn là nhiễm /27ab/.

Luận giải thích :

Thích danh :

Đại phiền não pháp địa gọi là đại phiền não địa. Trong đó, những pháp có trong đại phiền não địa gọi là đại phiền não địa pháp. Đó là những pháp luôn có mặt trong các tâm nhiễm ô (kliṣṭa).

Biện thể :

Những pháp đó là gì?

Si (moha)[56]: ngu si tức là vô minh (avidyā, không có cái nhìn thấu suốt) vô trí (ajñāna, không có khả năng thẩm xét, quyết định), vô hiển (mi gsalba, không hiểu biết rõ ràng).

Dật[57] (pramādaḥ): phóng dật tức là không tu tập các pháp thiện. Đó là pháp được đối trị bởi việc tu các pháp thiện.

Giải[58] (kausīdyaṃ): giải đãi, nhác nhớm, tức là tâm không mạnh mẽ. Đó là pháp được đối trị bởi Cần như nói ở trước.

Bất tín[59] (āśraddhyaṃ): tâm không trừng tịnh. Đó là pháp được đối trị bởi Tín được nói ở trước.

Hôn[60] (styānaṃ): hôn trầm. Trong Đối pháp nói, thế nào là hôn trầm? là tính nặng nề của thân, của tâm; thân không có tánh kham nhậm, tâm không có tánh kham nhậm.Tính hôn trầm của thân, tánh hôn trầm của tâm gọi đó là hôn trầm. Đây là tâm sở, sao gọi là thân? –Cũng như cách nói về thân thọ, nên không có lỗi.

Trạo[61] (auddhatyaṃ): trạo cử tức khiến tâm không yên tĩnh.

Duy chỉ có sáu loại như vậy gọi là đại phiền não địa pháp.

Há không phải trong Căn bổn a tỳ đạt ma nói có mười loại đại phiền não địa pháp sao? Lại nữa, trong Luận đó không nói đến hôn trầm. Những gì là mười? -bất tín, giải đãi, thất niệm, tâm loạn, vô minh, bất chánh tri, phi lý tác ý, tà thắng giải, trạo cử, phóng dật.

Đừng có đùa (thiên ái, devānāṃpriyaḥ). Các ông chỉ biết ngôn ngữ, chẳng  biết đến ý chỉ. Ý chỉ là gì? –đó là, thất niệm(muṣitasmṛtitā), tâm loạn (vikṣepa), bất chánh tri (asaṃprajanya), phi lý tác ý (ayoniśomanaskāra), tà thắng giải (mithyādhimokṣa) đã được sắp xếp trong đại địa pháp; không nên lặp lại trong đại phiền não địa pháp. Như vô si thiện căn lấy huệ làm thể cho nên chẳng phải đại thiện địa pháp. Các pháp kia cũng như vậy tức là, nhiễm ô niệm gọi là thất niệm; nhiễm ô đẳng trì gọi là loạn tâm; các huệ nhiễm ô gọi là bất chánh tri; nhiễm ô tác ý, thắng giải gọi là phi lý tác ý, tà thắng giải (đã nói trong đại địa pháp, không nói lại trong đại phiền não địa pháp). Cho nên nói, nếu là đại địa pháp cũng là đại phiền não địa pháp chăng? Nên thành lập bốn câu để phân biệt: Câu thứ nhất -thọ, tưởng, tư, xúc, dục. Câu thư hai -bất tín, giải đãi, vô minh, trạo cử, phóng dật. Câu thứ ba –năm pháp niệm,v.v... như trước đã nói. Câu thứ tư -trừ các tướng (ba trường hợp) trước.

Có quan điểm (Vibhāṣā, 42,17) cho rằng, tà đẳng trì mithyāsamādhi) chẳng phải là loạn tâm. Quan điểm nầy thành lập bốn câu để phân biệt không giống với bốn câu vừa rồi.

Lại nữa, (Tông các Ông , A tì đạt ma) chấp nhận hôn trầm tương ưng với tất cả các phiền não, không nói ở trong đại phiền não địa pháp, như vậy ai đúng ai sai?

(Pháp Cứu) nên nói rằng, hôn trầm ở trong đại phiền não địa pháp, song không nói bởi lẽ tương ưng với đẳng trì vậy; Tông nầy cho rằng (Căn Bản a Tỳ Đạt Ma), các vị có hành tướng hôn trầm (hôn trầm hành, styānacarita) mau phát đẳng trì chứ chẳng phải các vị có hành tướng trạo cử (trạo cử hành, auddhatyacarita)(do vì quá yếu nên không đặc biệt nói thuận với đẳng trì, theo Quang ký77c08).

(Luận Chủ) Ai là người có hành tướng hôn trầm mà chẳng phải là trạo cử; ai là người có hành tướng trạo cử mà chẳng phải là hôn trầm ? Hôn trầm và trạo cử chưa từng rời nhau.

(Pháp Cứu) Tuy vậy, nên biết, tuỳ theo sự tăng mạnh, nên nói là hành[62].

(Luận Chủ)Tuy biết rằng, nói hành là dựa vào hoạt dụng  mạnh hơn; nhưng y vào hữu thể, kiến lập địa pháp, cho nên địa pháp nầy chỉ có sáu loại, ý nghĩa đã thành tựu.

Sáu pháp nầy chỉ cùng khởi lên khắp các nhiễm tâm, chẳng phải ở các tâm (tịnh) khác.

Như vậy, nói xong sáu đại phiền não địa pháp.

d. Đại Bất Thiện Địa Pháp (akuśalamahābhūmikas)[63] :

Văn Tụng.

Hán :

T29n1560-p0312c01:       

Âm Hán:

Duy biến bất thiện tâm          Vô tàm cập vô quý

Việt dịch :

Chỉ khắp bất thiện tâm        Vô tàm và vô quý /27cd/.

Luận giải thích:

Thích danh

Đại bất thiện pháp địa gọi là đại bất thiện địa. Trong đó, những pháp nào hoạt động trong môi trường của đại bất thiện gọi là đại bất thiện địa pháp. Đó là những pháp luôn luôn có mặt trong các tâm bất thiện.

Biện thể :

Đó là những pháp nào?

Chỉ có hai loại tâm sở cùng sanh khởi với tất cả các tâm bất thiện, đó là vô tàm và vô quý. Do đó, hai loại nầy được gọi là đại bất thiện địa pháp. Hành tướng của chúng sẽ nói ở phần sau.

Như vậy, nói xong đại bất thiện địa pháp.

e.Tiểu Phiền Não Địa Pháp[64] :

Văn Tụng :

Hán :

T29n1560-p0312c02:忿        

T29n1560-p0312c03:        

Âm Hán :

Phẫn phú xan tật não  Hại hận siễm cuống kiêu

Như thị loại danh vi               Tiểu phiền não địa pháp

Việt dịch :

Phẫn[65] phú[66] xan[67] tật[68] não[69]

Hại[70] hận[71] siễm[72], cuống[73], kiêu[74]  Loại như vậy gọi là  Tiểu phiền não địa pháp /28/

Luận giải thích :

Thích danh.

Tiểu[75] phiền não pháp địa gọi là tiểu phiền não địa. Trong đó, những pháp nào hoạt động trong môi trường của tiểu phiền não gọi là tiểu phiền não địa pháp[76]. Đó là những pháp cùng sanh khởi với các tâm có một phần nhiễm ô.

Biện thể.

Những loại pháp[77] như vậy chỉ đoạn trừ ở giai đoạn tu đạo; chỉ khởi lên trong phạm vi của ý thức; chỉ tương ưng với vô minh; mỗi một pháp hiện hành một cách riêng lẻ, cho nên gọi là tiểu phiền não địa pháp[78]. Những pháp nầy sẽ được giải thích đầy đủ trong phần tuỳ phiền não “Upakleśa”(ở Phẩm tuỳ miên)

Như vậy, đã nói xong năm loại tâm sở.

f. Bất định tâm sở[79]:

Lại có các pháp ngoài những pháp nầy; đó là bất định tâm sở : ác tác (kaukṛtya), tuỳ miên (middha), tầm, tứ[80], v.v... [81].

2.Minh định câu sanh..

Trong đó, nên nói, ở trong loại tâm (tâm phẩm) nào, có bao nhiêu tâm sở quyết định cùng sanh khởi?

i.Cõi Dục :

a.Cùng sanh với tâm thiện (Kuśala).

VănTụng.

Hán:

T29n1560-p0312c04:        

T29n1560-p0312c05:        

Âm Hán:

Dục giới hữu tầm tứ              Ư thiện tâm phẩm trung

Nhị thập nhị tâm sở               Hữu thời tăng ác tác.

Việt dịch :

Cõi Dục có tấm, tứ                Ở trong loại tâm thiện

Hai mươi hai tâm sở             Có lúc, thêm ác tác /29/.

Luận giải thích:

Ở cõi Dục, tâm có năm phẩm loại: 1.Thiện (kuśala) có một. 2.Bất thiện[82] có hai –a. Tương ưng[83] với bất cộng vô minh[84]. b.Tương ưng với các phiền não ....khác[85].Vô ký (Avyākṛta)có hai –a. hữu phú vô ký (nivṛta). b.vô phú vô ký (anivṛta)

Song, tâm ở cõi Dục, do có tầm và tứ, nên trong phẩm loại thiện tâm, có 22 tâm sở cùng sanh khởi. Đó là 10 pháp đại địa, 10 pháp đại thiện địa cùng hai thứ bất định (aniyata) -tầm và tứ. (Trong phẩm loại tâm thiện nầy) không phải các thiện tâm đều có ác tác; (do vậy) khi có thì số lượng tâm sở tăng lên 23.

Ác tác (Kaukṛttya) là gì? -bản thể của việc ác gọi là ác tác. Nên biết, trong đó, duyên với việc ác (ác tác pháp) gọi là ác tác; nghĩa là, khi duyên với việc ác, tâm có tính hối tiếc[86]. Ví dụ như duyên với không môn, giải thoát môn nói đó là không. Duyên với bất tịnh quán nói đó là bất tịnh (tức căn cứ vào sở duyên để đặt tên). Lại thấy người đời (thế gian), căn cứ vào sở y mà nói pháp năng y; như nói, tất cả thôn ấp, quốc thổ (chỉ cho người ở các nơi đó) đều đến vân tập. Ác tác là sở y của truy hối cho nên căn cứ vào sở y mà nói là ác tác. Lại nữa, căn cứ vào quả, giả lập tên gọi trong nhân; như nói, sáu xúc xứ nầy (quả), nên biết, đó là nghiệp nhân đã tạo trong đời trước.

Nếu duyên với việc chưa làm, sao gọi là ác tác được? -Đối với việc chưa làm cũng gọi là “ác tác”, như khi hối tiếc nói rằng, trước đây ta không làm việc như vậy (đó) là ác tác (của ta).

Những ác tác nào gọi là thiện? –đối với những việc thiện, đã không làm; đối với việc ác, đã làm; tâm khởi sinh sự hối tiếc. Trái lại (đối với việc thiện, đã làm; đối với việc ác không làm, tâm sinh hối tiếc), gọi là bất thiện.

Hai loại nầy y cứ vào hai nơi (thiện, ác) khác nhau, khởi lên[87].

b. Cùng sanh với tâm bất thiện (Akuśala) .  

Văn Tụng.

Hán:

T29n1560-p0312c06:        

T29n1560-p0312c07: 忿        

Âm Hán:

Ư bất thiện bất cộng              Kiến câu duy nhị thập

Tứ phiền não phẫn đẳng         Ác tác nhị thập nhất.

Việt dịch:

Ở bất thiện bất cộng, cùng kiến có hai mươi

Bốn phiền não phẫn, v.v…    Ác tác  là hai mốt /30/.

Luận giải thích:

bi. Bất thiện bất cộng :

Nếu ở loại tâm bất thiện bất cộng, có 20 tâm sở cùng sanh khởi. Đó là 10 đại địa pháp, 6 đại phiền não địa pháp, 2 đại bất thiện địa pháp và hai bất định là tầm và tứ.

Những gì gọi là bất cộng tâm phẩm ? – đó là, với loại tâm nầy chỉ có vô minh, không có các phiền não khác như tham, v.v[88]... cùng tương ưng.

Bii. Tương ưng với các phiền não khác.

bất thiện kiến:

Ở tâm bất thiện tương ưng với kiến, cũng có 20 tâm sở cùng sanh khởi. Tên của chúng như được nói trong phẩm bất cọng ở trước; chẳng phải có thêm số lượng “kiến” nên có 21; vì kiến không là gì khác mà chính là công dụng sai biệt của huệ vốn ở trong 10 đại địa pháp. Nói tâm   tương ưng với kiến bất thiện là, ở trong tâm nầy, hoặc có tà kiến, hoặc có kiến thủ hoặc có giới cấm thủ.

bất thiện bốn hoặc:

Ở tâm bất thiện tương ưng với bốn phiền não tham, sân, mạn, nghi, có 21 tâm sở cùng sanh khởi. Hai mươi như trong phần bất cộng; thêm vào một trong những căn bổn phiền não tham, v.v... .

Bất thiện tùy phiền não:

Ở tâm bất thiện tương ưng các tuỳ phiền não phẩn, v.v... , cũng có 21 tâm sở cùng sanh khởi. Hai mươi như bất cộng; thêm vào một trong mười tuỳ phiễn não phẩn, v.v...

bất thiện ác tác:

Tâm bất thiện tương ưng ác tác cũng có 21 tâm sở cùng sanh khởi. Chính ác tác[89] là thứ 21.

Tổng kết:

Tóm lại, trong tâm bất thiện, tương ưng với  bất cộng và kiến, có 20 tâm sở cùng sanh khởi; trong tâm bất thiện tương ưng với bốn phiền não và các tùy phiền não có 21 tâm sở cùng sanh khởi.

c.Tâm hữu phú vô ký[90] (Nivṛtâvyākṛta) :

Nếu ở trong tâm vô ký hữu phú, chỉ có 18 tâm sở cùng sanh khởi. Đó là, mười đại địa pháp, sáu đại phiền não địa pháp cùng với hai bất định là tầm và tứ.

Ở cõi Dục, tâm vô ký hữu phú là tâm cùng tương ưng với tát ca da kiến (thân kiến) và biên chấp kiến (biên kiến). Trong đó, kiến không làm tăng thêm số lượng, cho nên nên hiểu theo như cách giải thích trước.

d.Tâm vô phú vô ký [91]( Anivṛtâvyākṛta):

Ở tâm vô phú vô ký, chỉ có 12 tâm sở cùng sanh khởi (quan điểm các Luận sư ở Ca thấp di la). Đó là 10 đại địa pháp và hai bất định tâm sở tầm tứ.

Các Sư phương ngoài (ngoài Ca thấp di la tức chỉ Ấn độ) cho rằng ác tác cũng thông với vô ký; (cho nên) tương ưng với tâm phẩm nầy, có 13 tâm sở cùng sanh khởi.

Nên biết, tuỳ miên cùng với tất cả các tâm phẩm đã nói ở trước đều không trái chống nhau, thông thiện bất thiện vô ký tánh vậy. Tuỳ theo trường hợp có ở tâm nào đó mà nói tăng; đó là từ 22 đến 23; hoặc từ 23 đến 24 .

Bất thiện vô ký nên theo như ví dụ trên để biết.

Như vậy, đã nói xong về số lượng các loại tâm sở cùng sanh khởi với các loại tâm ở cõi Dục. (còn tiếp)

Bản dịch Thích Phước Viên


 


[1] Ht.Câu sanh    câu khởi câu sanh khởi . Skt. Sahaja; sahôpāda.

[2] Ht. Sắc . Quang Ký q4, tr.70b11, tất cả các sắc được chia làm hai loại: (1). cực vi tụ tức năm căn, năm cảnh; (2). phi cực vi tụ tức vô biểu sắc. Cđ. Hữu sắc  . Skt. Rūpa.

[3] Ht. Sắc tụ     Skt. Rūpa-saṃghāta, Rūpa-samudāya

[4] Ht. Vi tụ . Quang ký q.4, tr.70b20, nói vi tụ là hiển bày vật rất nhỏ, nghĩa là, trong sắc tụ, vật rất nhỏ gọi là vi tụ tức vi là tụ; chẳng phải cực vi gọi là vi tụ;  tr70b24, nên biết vi có hai loại: (1).sắc tụ vi tức chỉ cho sắc pháp cực nhỏ với tám loại cùng sanh khởi, không thể thiếu một. Luận nầy, theo nghĩa nầy. (2).Cực vi vi tức chỉ cho sắc pháp cực nhỏ, không thể chia chẻ nhỏ hơn. Chánh Lý nói theo nghĩa nầy. Chánh Lý q.10,tr383c13 nói, các vi  như vậy xoay vần hoà hợp, không thể tách rời nhau gọi là vi tụ . Cđ. Lân hư  . Skt. paranāṇu-saṃcaya, paramāṇu-saṃghāta.

[5] Thanh    tức âm thanh, có nguồn gốc từ bốn đại chủng, thuộc sắc uẩn, có tám loại như được nói rõ trong Phẩm Giới. Skt. Śabda, âm thanh, Śabdāyatana, thanh xứ.

[6] Ht. bát sự  .  Cđ. bát vật  .  Skt. aṣṭadravyaka.

[7] Ht.  dư căn, : chỉ cho bốn căn mắt, tai, mũi, lưỡi. Quang ký, q.4,tr.70c02, hữu dư nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt căn tụ, thập sự câu sanh.

[8] Quang Ký q4,tr70c04, mắt, tai, mũi, lưỡi không thể lìa thân, phải nương vào thân chuyển khởi tức hiển bày cho thấy rằng khi có các căn nầy tất phải có thân căn; bốn căn mắt, v.v... xoay vần hướng vọng lẩn nhau, ở các vị trí  riêng biệt tức hiển bày cho thấy, không phải là một loại tụ sắc (đồng tụ) .

[9] Ht. Kiên  , thấp , noãn , động 動,  tức là (thể tính của) bốn loại đại chủng .

[10] Quang Ký q4, tr.71b14, (Hữu Bộ) ,căn cứ vào tác dụng để giải thích rằng, ở trong các tụ kia, tự thể tuy đều cùng có nhưng hoạt dụng mạnh yếu khác nhau; khi thế lực của dụng tăng mạnh, tuỳ theo trường hợp, một đại chủng sẽ hiển hiện rõ ràng; trong khi đó, tự thể của các đại chủng khác không phải không có.  Chẳng hạn như khi cây kim và thẻ tre cùng xúc chạm vào thân; kim chích đau nên biết rõ, thẻ tre áp nhẹ khó nhận ra; hoặc như  đồng thời nếm vị của muối và gạo rang; vị muối mặn dễ biết, vị của gạo rang lại khó nhận. 

[11] Bà Sa q.131,tr.683a28, Hỏi: làm sao biết được bốn đại chủng nầy không khi nào rời khỏi nhau? đáp: trong tất cả các tụ, tự tướng tác nghiệp của chúng đều có thể biết được; nghĩa là trong kiên tụ, tự tướng của địa giới hiển bày; nghĩa đúng là vậy. Nếu trong tụ đó (địa đại) không có thủy giới thì các thứ  như vàng, bạc, chì, thiết, v.v... không khi nào có thể tiêu chảy; và nếu không có nước (để nhiếp trì), ắt tụ kia sẽ bị phân tán; nếu không có hoả giới, thì đá, cây, v.v... kích, gõ vào nhau không thể phát sanh ra lửa; hơn nữa, nếu không có lửa, tụ kia không thể thành thục mà trở nên mục nát hủ bại; nếu không có phong giới, tụ kia không có lay động; và không thể phát triểnv.v...

[12] Ht. Lãnh dụng tăng .  Cđ. Lãnh thắng biệt đức .

[13] Ht. Ư thử tụ trung, dư hữu chủng tử, vị hữu thể tướng  . Cđ. Ư  tụ trung, do chủng tử bỉ hữu, bất do tự tướng Quang Ký q.4,tr.72a24, (kinh Bộ Sư), tuỳ theo trường hợp, (chẳng hạn) trong tụ nầy, sắc tụ hiện hành rất mạnh; hiện hành tức có thể; các tụ khác không hiện hành, chỉ có chủng tử, chưa có thể tướng. .. Theo Kinh Bộ, câu sanh có hai loại: (1). chủng tử câu sanh nghĩa là hạt giống có khả năng sanh khởi, chưa có sự hiện hành của thể; (2). hiện hành câu sanh nghĩa là tự thể đã hiện hành, sự  tướng hiện bày rõ ràng.

[14] Đoạn nầy nói, trong Phong, có mùi hương; mùi hương là một trong năm trần cảnh nhiếp thuộc sắc uẩn; mùi hương tức hiển sắc. Như vậy, trong Phong có hiển sắc.

[15] Ht. y thể  .  Cđ. ước vật  .

[16] Ht. y xứ  .  Cđ. ước nhập    .

[17] Quang ký q.4, tr.73a01.‘v.v....” chỉ cho các số, năm, sáu vậy; tức là với số lượng là tám, chỉ nên nói bốn; với số lượng là chín chỉ nên nói năm; với số lượng là mười chỉ nên nói sáu.

[18] Ht. nhị câu hữu quá        .  Cđ. thị nghĩa bất nhiên  .

[19] Ht. sở y đại chủng . Cđ. sở  y chỉ vật 

[20] Ht. năng y tạo sắc  .  Cđ. năng y chỉ vật .

[21] Quang ký q.4.tr.73a11, Nếu căn cứ vào thể mà nói thì thể tánh (sự) hoá thành nhiều ; vì các sắc sở tạo –sắc, hương, vị, xúc, mỗi mỗi đều nương vào một tổ hợp bốn đại chủng, như vậy bốn trở thành năm, tám thành hai mươi, chín thành hai mươi lăm, mười thành ba mươi.

[22] Quang Ký q.4,tr.73a16, Nên biết, trong đó, đại chủng tuy nhiều nhưng chỉ nói bốn tức căn cứ vào thể; các tổ hợp bốn đại chủng thể loại tương tợ, không khác nhau.

[23] Ht. Hà dụng phân biệt như thị ngữ vi, ngữ tuỳ dục sanh, nghĩa ưng tư trạch .  Cđ. Hà tu tác thử công dụng vị phân biệt thuyết, như thử nghĩa ngữ ngôn như ý sanh khởi, duy nghĩa ưng tư lượng .

[24] Ht. Địa . Skt. bhūmi : địa, cõi, xứ ,giới,

[25] Ht. Hành xứ  .Cđ.  Sở hành xứ  .  Skt. gativiṣaya , utpattiviṣya

[26] Ht. Đại pháp địa .  Cđ.  Chư pháp địa đại  .

[27] Quang Ký q.4,tr.73c15, Đại địa pháp: địa có nghĩa là hành xứ tức tâm vương; nếu tâm vương nầy là môi trường hoạt động của tâm sở thì nói rằng tâm vương là pháp địa của tâm sở. Trong đó, đại chỉ cho 10 tâm sở -thọ,v.v...; đại địa chỉ cho tâm vương; đại địa pháp chỉ cho tâm sở.  Bà Sa q.16,tr.80b08 hỏi: đại địa pháp có nghĩa là gì?  đáp- đại là tâm; mười pháp như vậy là chỗ sanh khởi của tâm; môi trường lớn gọi là đại địa; đại địa chính là pháp nên gọi là đại địa pháp. (Và còn các giải thích khác.)

[28] Ht. Chư tâm sát na hoà hiệp biến hữu .  Cđ. Ư nhất thiết tâm sát na giai tụ tập sanh  .

[29] Chánh Lý q.10, tr.384a29 , đối với thân sở y có công năng đem lại lợi ích, hoặc tổn hại, hoặc không lợi ích cũng không tổn hại; ( ) tiếp nhận cảm xúc đáng ưa hay chẳng đáng ưa, hoặc chẳng phải cả hai gọi đó là thọ (ở đây, căn cứ vào nhân Xúc, nói về quả Thọ) .

[30] Chánh Lý q.10,tr.384b01, làm nhân để an lập, chấp thủ các tướng  nam  nữ,v.v... khác nhau, gọi đó là tưởng.

[31] Luận Nhập A Tỳ đạt Ma, q.th. tr.982a05, Xúc có nghĩa là căn, cảnh, thức hoà hợp sanh khởi, khiến tâm xúc cảnh, lấy hoạt động của tâm sở làm tướng, thuận với  ba thọ khác nhau - lạc,v.v...

[32] Chánh Lý q.10,tr.384b04, tác ý có nghĩa là tác động khiến tâm tâm sở phát khởi cảnh giác đối với cảnh sở duyên.

[33] Ht. Thắng giải .   Cđ. Liễu tướng .

[34] Ht. Tam ma địa  .  Cđ. Định  .

[35] Ht. Đại Thiện Địa Pháp . Cđ. thiện đại địa . Skt. Kuśalamahābhūmikas.

[36] Ht.   đại thiện pháp địa danh đại thiện địa.  Cđ.      chư pháp thiện vi đại địa thuyết danh thiện đại địa.

[37] Nhập A Tỳ đạt Ma Luận q. thượng,tr.982a28,     tín có công năng khiến cho tâm được lắng trong đối với cảnh; nghĩa là đối với Tam bảo, nhân quả, hiện tiền chấp nhận gọi là tín. Đó là công năng trừ khử các pháp uế trược trong tâm, như ngọc châu thanh thuỷ, bỏ vào trong ao khiến nước vẫn đục liền trở thành trong; cũng như vậy tín châu ở trong tâm có khả năng trừ khử mọi pháp uế trược.

[38] Chánh Lý q.11, tr.391a21  逸。Bảo sớ q.4,tr.528b02 : luôn luôn đối với lợi ích bản thân  canh chừng thân khẩu ý , và trái với phóng dật gọi đó là không phóng dật. (Bảo sớ)thuật rằng, lợi ích bản thân (ở đây) là các quả tam thừa, niết bàn, và các quả đáng ưa thích ở thế gian; và đó là các vấn đề mà mình chuyên tâm; nói lợi ích bản thân tức nêu lên sở y.  Canh chừng thân khẩu ý tức nêu lên công dụng. Trái với phóng dật tức nói rõ về pháp đối trị.

[39] Ht. khinh an.  Cđ.   an. Luận Nhập A Tỳ Đạt Ma q.th. tr.982b11 nói, tính chất kham nhậm của tâm gọi đó là khinh an; nó trái ngược với các tâm sở hại, hôn trầm, thuận hợp với các thiện pháp.

[40] Quang Ký q.4,tr.75b05, Há không có Kinh nào nói thân khinh an chăng, sao chỉ nói tâm khinh an. Quan điểm của Kinh Bộ cho rằng, thân khinh an tức xúc sự khinh an, xúc lấy Phong làm thể tức khinh an thông với khinh xúc, cho nên hỏi như vậy. Kinh Bộ chủ trương tâm khinh an là tâm sở, thân khinh an là khinh xúc.

[41] Quang Ký q.4,tr.75b10, thân khinh an cũng giống như thân thọ ; thân thọ tuy là tâm sở, nhưng khi tương ưng với năm thức gọi là thân thọ, khi tương ưng với với ý thức gọi là tâm thọ; nên biết tâm khinh an cũng như vậy; tuy là tâm sở nhưng nếu tương ưng với năm thức gọi là thân khinh an, nếu tương ưng với ý thức gọi là tâm khinh an.

[42] Quang Ký q.4,tr.75b22, Thân khinh an nầy đã thuộc khinh xúc, lại là hữu lậu, sao nói là giác chi ?

[43] Ht. Tâm bình đẳng tánh.  Cđ. Tâm bình đẳng.

[44] Ht. vô cảnh giác tánh.  Cđ. vô sở thiên đối.

[45] Chánh Lý.q.11,tr. 391a23 Tánh bình đẳng của tâm gọi là xả; trái ngược với trạo cử, được dẫn dắt như lý, khiến tâm không vượt  là nghĩa của xả. (Bảo Sớ q.4,tr.528c20 ) ....   調 Thuật rằng, tánh bình đẳng của tâm tức chỉ cho thể của xả; đối trị tánh không bình đẳng của hôn trạo gọi là bình đẳng. Trái ngược với trạo cử tức nêu đối tượng đối trị. Được dẫn dắt như lý: xả  là  tánh thiện, dẫn dắt tâm sanh khởi như lý, điều phục tâm khiến không vượt quá sở tác. Luận nầy nói vô cảnh giác tánh tức là vô trạo cử vậy. Nhập A Tỳ đạt ma  q.th. tr. 982b13 , tánh bình đẳng của tâm gọi là xả; xả trái ngược với phi lý, thuận hướng với lý; do thế lực nầy khiến tâm đối với Lý và phi lý, không tìm đến, không quay lưng, an trú bình đẳng, như sợi giấy giữ cái cân.

[46] Ht. tác ý.  Cđ. tư duy. Skt. Manaskāra.

[47] Cđ. Tư duy, đối với tâm lấy hồi hướng làm thể; nay nói, Xả đối với tâm, lấy không hồi hướng làm thể, như vậy làm sao tương ưng được. Câu nầy Bản ngài Huyền Trang không có.

[48] Quang Ký q.4, tr. 67b04, nếu trên cùng một thể nói có cảnh giác, nói không có cảnh giác, mới là trái chống; (ở đây) tác ý có cảnh giác,  xả thì không; hai bên khác nhau, có gì trái chống.

[49] Quang Ký q4,tr. 67b07,     tuy trong một thể không có hai tác dụng; song tánh của chúng trái ngược nhau không thể cùng duyên với một cảnh; nếu hai tánh trái ngược cùng duyên với một cảnh thì các pháp  như tham, sân,v.v... đều nên hỗ tương tương ưng.

[50] Quang Ký nt. tr.76b11, ; ;       các pháp khác như thọ,v.v... ,  chủng loại, tác dụng (của chúng) mỗi mỗi không giống nhau, (nhưng) đều có ở trong một tâm tánh. Nói chủng loại ở đây ví như tác ý và xả; Cũng giống như các pháp thọ, v.v... kia đã có sai khác mà vẫn có nghĩa lý tương ưng thì ở trong tác ý và xả, cũng có  sai biệt tương ưng, nên biết cũng như vậy.

[51] Ht. tàm quý.  Cđ. tu cập tàm quý. 

[52] Quang Ký q.4, tr.76b20, 1 đối với các đối tượng (cảnh giới) không có tánh ưa thích say đắm  gọi là không tham tức trái ngược với tham; đối với hữu tình, phi tình không có tánh thù hận làm tổn hại gọi là không sân tức trái với sân. Chánh Lý q.11,tr.391a29,   đối với các đối tượng (cảnh giới) đã có hoặc chưa có, không đắm trước, mong cầu, không có tính ái nhiễm gọi là không tham (vô tham); đối với các dối tượng hữu tình hoặc phi tình, không có ý tức giận, làm hại, có hạt giống thương xót gọi là không sân (vô sân).

[53] Ht.   bất hại.  Cđ. phi bức não. Quang Ký nt. tr.76b25, tánh chất hiền thiện của tâm, không gây phiền não, tổn thất  người khác gọi là bất hại.

[54] Ht.   cần. Cđ. tinh tấn. Quang Ký nt.tr.76b04, 退 cần có nghĩa là tính chất khiến cho tâm mạnh mẽ, hăng hái; tức siêng năng đoạn trừ hai loại xấu ác, tu tập hai loại  thiện,  không khi nào ngừng nghỉ. Chánh Lý q.11,tr.391b03,   đối với các công đức, với các lỗi lầm đã sanh (đã có) , giữ gìn hoặc buông bỏ; đối với các công đức chưa sanh, khiến sanh khởi; lỗi lầm chưa sanh, khiến không sanh khởi , tâm không có tính chất lười biếng gọi đó là cần. Do có tính chất nầy, tâm đối với các việc làm đúng đắn, siêng năng, bền bỉ, không ngừng nghỉ.

[55] Ht. đại phiền não địa pháp.  Cđ. hoặc đại địa pháp. Quang Ký q.4, tr.76c25,       các Bậc Cổ Đức dùng năm nghĩa để thành lập; nay căn cứ vào Luận nầy chỉ dùng một nghĩa để thành lập sáu loại – pháp chỉ luôn ở trong các tâm nhiễm ô gọi là pháp đại phiền não địa;  luôn ở trong nhiễm ô (hằng nhiễm) hiển bày nghĩa có mặt cùng khắp các tâm nhiễm; chỉ ở trong nhiễm ô (duy nhiễm) hiển bày cho thấy không thông với tịnh (trong sạch); mười pháp đại địa luôn là nhiễm (hằng nhiễm) nhưng chẳng phải chỉ ở trong nhiễm (duy nhiễm); các tâm sở nhiễm ô khác duy nhiễm nhưng chẳng phải là hằng nhiễm. Mười pháp đại thiện địa cùng với tầm, tứ, thuỳ miên, ác tác chẳng phải hằng nhiễm cũng chẳng phải duy nhiễm cho nên không gọi là pháp đại phiền não địa.

[56] Quang Ký q.4, tr.77a03, si nghĩa là ngu si tức  đối với cảnh sở tri, ngăn trở (không phát sanh) hiểu biết đúng sự thật (như lý giải), không phân biệt rõ ràng các hành tướng. Chiếu chúc gọi là minh; thẩm quyết gọi là trí; chương liễu gọi là hiển. Ba danh từ nầy là tên gọi khác của huệ. Si không có tính chất minh,v v... nên  nói là vô (không có) ; đây là pháp được đối trừ  bởi pháp vô si.

[57] Chánh Lý q.11, tr.391c04 , đối với lợi ích bản thân, buông tuồng bỏ mặc gọi là phóng dật.

[58] Chánh Lý q.11, tr.391c05 Đãi có nghĩa là nhác nhớm, đối với các việc làm tốt, tỏ vẻ sở sài, chiếu lệ; đối với các việc không tốt lại mạnh mẽ hăng hái; đẳng lưu quả của vô minh gọi là giải đãi. Do đó nói tính chất yếu kém của cần, lại chuyên làm các việc uế ác nên gọi là giải đãi.

[59] Chánh Lý q.11,tr.391c07, 寶) bất tín có nghĩa là tâm không trong lắng, đẳng lưu quả của tà kiến, đối với  tứ đế, tam bảo, tịnh lự, đẳng chí, hiện tiền khinh chê huỷ báng; đối với các nhân quả như bố thí,v.v..., lòng không chấp nhận gọi là bất tín.

[60] Quang Ký q.4,tr.77a21, , hôn là hôn muội; trầm là trầm trọng. Chánh Lý q.11,tr.391c10 (đặng mông)    便 (mông hội)    hôn là hôn trầm; mù mờ, không ưa, v.v...  khiến phát sinh tính chất nặng nề của tâm gọi là hôn trầm. Do chúng che lấp khiến tâm hôn muội, mù mịt, không có tính kham nhậm vậy; cho nên nói nó là pháp được đối trị bởi khinh an.

[61] Chánh Lý q.11,tr.391c18,   trạo có nghĩa là trạo cử;  phát sinh do  thân cận gần gũi với tầm,v.v... , khiến tâm không yên tịnh gọi là trạo cử; tâm thuận hợp với trạo cử, ắt vượt quá những sở tác.

[62] Quang Ký q.4,tr.77c14,   hai pháp tuy cùng đồng thời khởi lên nhưng hoạt động có mạnh, yếu khác nhau, dựa vào tính cách mạnh mẽ, nói hành liệu có lỗi gì.

[63] Quang Ký q.4,tr.77c25 , , , () , , ; .   ; . , Cổ Đức cũng dùng năm nghĩa để thành lập pháp đại bất thiện địa: (1).thông với sáu thức. (2).thông với ngũ đoạn. (3). cùng khởi lên từ một phía . (4). chỉ thông bất thiện. (5). chỉ có ở cõi Dục. Nếu có đủ năm nghĩa nầy thời lập thành pháp đại bất thiện địa; các pháp tâm sở khác không có đủ năm nghĩa nầy nên không thể lập, cũng không phải nói về chi tiết của chúng. Nay căn cứ vào Luận nầy, dùng một nghĩa để lập thành hai pháp đại bất thiện; nghĩa đó là chỉ khởi lên khắp các tâm bất thiện.

[64]. Ht Tiểu Phiền Não Địa Pháp . Cđ.tiểu phần hoặc địa.

Skt. Parīttaklesamahābhūmikas.

[65] H. 忿 phẫn . Skt. krodhaḥ. Pháp uẩn túc luận q.9, Phẩm 15 ,tr. 495a14, 忿 忿 , ; 忿 ,    忿 , , , ; 忿 ..... , , , , 忿 忿 , , , , ,.... ,   ;     ; 忿 忿  Phẫn có hai loại: (1). phẫn thuộc ái; (2). phẫn không thuộc ái. Phẫn thuộc ái: phẫn nộ phát sanh đối với những người thân thuộc như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái,v.v...  Bằng lời nói rằng, tại sao không cho tôi vật nầy, lại cho vật kia; tại sao không để tôi làm việc nầy lại bắt làm việc kia.... từ đó phát sanh các sự phẫn nộ, ... phát khởi các điều thô ác; tâm phát giận, hiện sắc dữ dằn, nói lời thô ác; đó gọi là ái phẫn.  Phi ái phẫn: suy nghĩ rằng, người kia nay đối với tôi muốn cho tôi trở thành vô nghĩa, muốn làm cho tôi không có lợi ích, ... làm cho tôi không an ổn; và đã làm cho vô nghĩa, đang làm cho vô nghĩa, sẽ làm cho vô nghĩa. Những người khác đối với tôi muốn làm cho vô nghĩa cho đến không an ổn; ngược lại đối với y, muốn làm cho có ý nghĩa, làm cho có lợi ích, làm cho có an lạc, làm cho thắm nhuận, an ổn; và đối với y đã làm cho có ý nghĩa, đang làm cho có ý nghĩa , sẽ làm cho có ý nghĩa; từ đó phát sanh các sự phẫn nộ, cho đến hiện lên sắc mặt dữ dằn, nói lời thô ác. Đó gọi là phi ái phẫn.

[66] H. phú.  Skt. mrakṣaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b06, ? , , , , , 滿, , , 诗施     便   ,     , , 便 thế nào gọi là Phú ? –đó là phá giới, phá kiến, phá tịnh mạng, phá các quy tắc, đối với các giới căn bản không giữa gìn trọn vẹn, không được thuần tịnh, không được đầy đủ; bản thân biết đã phạm như vậy từ lâu. Suy nghĩa rằng, nếu ta nói điều nầy với người khác, tất bị chê trách nặng nề, khó chịu, bị vặn hỏi, bị chán ghét, bị nêu lên, thời không còn được người khác cung kính cúng dường. Ta thà vì như vậy, phải bị đoạ ba đường ác, hẳn không bao giờ tự nói ra những điều sai phạm. Vì sợ chê bai, sợ bị khinh huỷ,  cho đến sợ mất đi sự cung kính cúng dường, nên đã che dấu, đang che dấu , sẽ che dấu những sai phạm gọi đó là phú.

[67] H. xan. Skt. Mātsaryaṃ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b24, ? , , , , ,   , , , , , ; , , , , , ; thế nào gọi là xan? –Xan có hai loại _ (1). tài xan. (2).pháp xan.  Bỏn xẻn về tài vật : đối với vật ưa thích như  như áo quần, ngoạ cụ, thuốc men, ăn uống cùng với tất cả các thứ đồ dùng,  ngăn trở khiến cho người khác không có được; đối với các vật ưa thích mà mình có được, không bố thí, không bố thí rộng rãi, không tuỳ theo trường hợp mà bố thí rộng rãi, không chịu xả, không chịu buông xả rộng rãi, không tuỳ trường hợp mà biến xả, trong lòng thấy tiếc; đó gọi là bỏn xẻn về tài vật. Bỏn xẻn về giáo pháp: đối với các pháp như Kinh, Luật, Luận, hoặc như thân giáo, pháp tắc, giáo thọ, giáo giới, hoặc các pháp bí mật được lưu truyền lại, cản trở, khiến cho người khác không có được; đối với các thứ trên mình có, không cho người khác, không thuyết giảng cho người khác, không ban phát, không ban phát rộng rãi, không tùy theo trường hợp ban phát rộng rãi, không buông xả, không buông xả rộng rãi, không tuỳ theo trường hợp buông xả rộng rãi; trong lòng có ý nuối tiếc; đó gọi là bỏn xẻn về pháp.

[68] H. Tật. Skt. Īrṣyā. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b20, , , , , , , ,   thế nào gọi là tật? -thấy người khác đượccung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi, thấy người khác có các tư cụ đáng ưa như áo quần, ăn uống, thuốc men,v.v... liền có suy nghĩ, người đó đã có được những sự cung kính, v.v.. như vậy, ta lại không có; do đó phát sanh sự lo lắng, rất lo lắng, khổ, rất khổ, ganh, rất ganh, ghét, rất ghét đều gọi là tật.

[69] H. não . Skt. Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.tr.495b15, , , , , , , , , , , , , (thư thích) , (lan lệ) , thế nào là não ? -ở trong Tăng chúng, nhân nơi các việc hoặc hợp pháp, hoặc phi pháp, khởi lên sự đấu tranh, gây gổ; các tỳ kheo muốn chấm dứt, muốn có hoà hợp, khuyên bảo, can gián, cố chấp không chịu; đây (não) là tính không chấp nhận sự khuyên nhắc, không nhận sự dạy dỗ;  là tính cố chấp, bảo thủ, tính rất khó khuyên bỏ, tính cách ứng xử vụng về, sư  tử chấp tính, tính hiểm độc, tính tàn ác, đều gọi là não.

[70] H. hại. Skt. Hiṃsā . Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.tr.495b02, thế nào là hại ?    

[71] H. hận.  Skt.Upanāhaḥ.Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.tr.495b02, , , , , , , , 忿, , , , , , , , , , , thế nào là hận ? –suy nghĩ rằng, người kia đối với ta, muốn làm cho ta vô nghĩa, như trước... , ta cũng nên đối xử với người đó như vậy; hận nầy khiến phát sanh ra phẫn, lại bắt nguồn từ  sân, thường ôm lòng phẫn nộ kết thành hận thù, hận vừa, hận khắp, hận cao độ, tạo nghiệp khó quay trở lại,  bị nghiệp trói buộc, khởi nghiệp thâm căn cố đế, khởi oán, khởi hận, tánh chất oán hận của tâm; đều gọi là hận.

[72] H. siễm. Skt. Māyā..Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495c08 , , , , , , , thế nào là siễm ? –tánh khuất kín (ẩn nặc) của tâm, tánh khuất khúc của tâm, tánh vòng vo của tâm (hồi phục),tánh trầm trệ, tánh không rõ ràng, không thẳng thắng, không kham nhậm, đều gọi là siễm.

[73] H. cuống. Skt. Śāṭhyaṃ.Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495c06, , , , , , , , , . thế nào gọi là cuống ? -đối với người khác, dùng đấu không chính xác, hộc không chính xác, cân không đúng sự thật, nói không thật, bày trò dụ dỗ khiến người tin thật, các sự dối gạt,  dối gạt vừa, dối gạt khắp, dối gạt cùng cực đều gọi là dối gạt.

[74] H. kiêu. Skt. Madaḥ.  Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495c27, , , , , , , , , , , , , , , , , , , thế nào gọi là kiêu? –suy nghĩ rằng, ta thuộc chủng tánh thượng đẳng, gia tộc trâm anh thế phiệt, có tài sắc, có lực, có sự nghiệp chuyên môn tốt; hoặc tài, hoặc vị, giới, định,v.v... có một đặc biệt, do đó khởi lên kiêu căng, kiêu căng vừa, kiêu căng vô cùng, tuý cực tuý, muộn cực muộn, tâm ngạo mạn buông lung, tâm tự chấp thủ, khởi đẳng khởi, sanh đẳng sanh, cao đẳng cao, cử đẳng cử, tánh không biết kềm chế, đều gọi là kiêu.

[75] Chánh Lý q11,tr.392a06, , , , tiểu có nghĩa là ít, hiển bày cho thấy chẳng phải có mặt nơi tất cả các tâm nhiễm ô, cũng chẳng phải  cùng khởi lên với một phần nhiễm ô của tâm mà khởi lên một cách riêng biệt.

[76] Quang Ký q4.tr.78a19,   Các bậc Cổ đức cũng dùng năm nghĩa để lập thành pháp tiểu phiền não địa: (1).thông với năm thức. (2).không thông với năm đoạn. (3).không thông với ba tánh. (4).không thông tam giới. (5). khởi lên từ các phía riêng biệt. Ở đây không nói chi tiết. Nếu đầy đủ năm nghĩa nầy được lập thành pháp tiểu phiền não địa; các pháp tâm sở khác không đủ năm nghĩa nầy nên không được xếp vào đây. Nay căn cứ vào Luận nầy, lập mười pháp tiểu phiền não địa bằng một nghĩa : chỉ thông với tu đoạn; tương ưng với ý, si.  Hai pháp mạn, nghi tuy tương ưng ý, si nhưng chẳng thuộc tu sơ đoạn; ác tác tuy  thuộc tu sở đoạn nhưng chẳng phải tương ưng với ý, si; các tâm sở còn lại chẳng thuộc tu sở đoạn cũng chẳng tương ưng với ý, si đều chẳng gọi là pháp tiểu phiền não địa.

[77] Chánh Lý q.11,tr.392a06, nói, 憤發 chữ “loại” bao gồm các nghĩa pháp như bất nhẫn,bất lạc, phẩn phát, v.v... .

[78] Quang Ký q.4,tr.78b01,   . Đại ý đoạn nầy nói, số lượng tiểu phiền não, theo Chánh lý khác, theo Pháp uẩn túc luận khác; nói chung, số lượng khá nhiều; Luận nầy chỉ nói có 10, đó là tuỳ theo tương thích đều nhiếp thuộc vào mười loại trong Luận nầy.

[79] Quang Ký q.4,tr.78b14, , không nằm trong năm địa trên gọi là bất định; sở y của bất định gọi là bất định địa; những pháp thuộc bất định địa gọi là bất định địa pháp.

[80] Ht. tầm, tứ .  Cđ. giác, quán. Skt. Vitarka, vicāra.

[81] Quang Ký q.4,tr.78b15, ; chữ “vân vân” chỉ cho các bất định tâm sở : tham, sân, mạn, nghi. Bà Sa q.45,tr.236a19 thuỳ miên, ác tác, bố cập tầm tứ.

[82] Ht. Bất thiện .  Cđ. ác.   Skt. Akuśala.

[83] Ht. Tương ưng; Cđ. Tương ưng. Luận Câu Xá dùng chữ  Tương ưng.  Luận Chánh Lý : câu khởi.

[84] Ht. bất cộng  . Cđ. độc hành. Quang Ký q.4,tr.79b16, như vô minh không tương ưng với tham,v.v... ,với phẫn, v.v... gọi là bất cộng vô minh. Skt. Avidyā.

[85] Ht. dư phiền não đẳng tương ưng.  Cđ. dư hoặc tương ưng. (hoặc tức là phiền não).

[86] Quang Ký q.4,tr.79c04  ác tác là cảnh sở duyên, hối tiếc ( truy hối, vipratisāra) là bản thể.

[87] Bà Sa q.37,tr.191b15 nói, với ác tác nên lập bốn câu để hiểu rõ hơn: Câu thứ nhất: có ác tác là thiện, khởi lên từ tâm bất thiện (tức đối với việc đã làm không tốt, tâm sinh hối tiếc). Câu thứ hai: có ác tác là bất thiện khởi lên từ tâm thiện (tức đối với việc tốt đã làm, tâm lại nảy sinh hối tiếc). Câu thứ ba: có ác tác là thiện, khởi lên từ tâm thiện (đối với việc tốt, làm ít, tâm sinh hối tiếc,đáng lẽ phải làm nhiều hơn). Câu thứ tư: có ác tác là bất thiện, khởi lên từ tâm bất thiện (đối với việc không tốt đã làm, lại tiếc tại sao làm ít như vậy).

[88] Quang Ký q.4,tr.80a07, 忿 ;  không có các hoặc căn bổn tham, v.v.. (sân, mạn, nghi), không có các tiểu tuỳ hoặc phẫn, hận, v.v.... (phú, não, tật, xan, cuống, siễm, hại, kiêu),và không  có các (bốn hoặc bất định) ác tác, v.v... (tuỳ miên, tầm, tứ), cho nên gọi là không cùng chung, chỉ tự lực khởi lên; nếu căn cứ vào giải thích nầy, bất cộng vô minh chỉ thuộc kiến sở đoạn;  nếu tham, v.v... ,phẫn, v.v...., ác tác tương ưng với vô minh như vậy là tương ưng, dựa vào tha lực khởi lên, không thể nói là bất cộng .  Luận Chánh Lý q.11,tr.392c14, 忿 cho nên, ác tác là bất thiện, chỉ cùng sanh khởi với vô minh, nên xếp vào bất cộng; phẫn, hận, v.v..., cũng như vậy (như vậy, Luận Chánh Lý cho rằng, bất cộng vô minh không tương ưng với căn bổn hoặc (mà thôi) gọi là bất cộng). Luận Bà Sa q38,tr.197a03 (có hai cách giải thíchcách thứ nhất: )  .   明唯    。修     者而 忿 ,vô minh tự lực khởi lên, không cùng tương ưng với các tuỳ miên khác mà khởi nên gọi là bất cộng. Chẳng phải vô minh tương ưng với tham, v.v..tức cùng tha lực khởi lên... Như vậy, vô minh thuộc kiến sở đoạn; ...(nếu) vô minh được đoạn trừ ở tu đạo thì tuy không cùng tương ưng với tuỳ miên (nói chung) nhưng chẳng phải tự lực sinh khởi mà cùng chung với phẫn hận khởi lên cho nên không nói là bất cộng (tức vô minh không tương ưng với căn bản phiền não, cũng không tương ưng với tuỳ phiền não gọi là bất cộng). (Cách thứ hai : ) tr.197a28,有 Có giải thích rằng, bất cộng vô minh, năm bộ đều có  (tức thông với cả tu đạo. Như vậy theo lối giải thích nầy, vô minh tương ưng với tùy phiền não cũng gọi là bất cộng).

[89] Quang Ký q.4,tr.80b02, 忿 bất thiện ác tác tự lực sanh khởi, do đó không tương ưng với căn bản phiền não tham,v.v..., không tương ưng với tuỳ phiền não phẫn, v.v…, chỉ tương ưng với vô minh

[90] Quang Ký q.4, tr.80b07,   hay che lấp, hoặc bị si che lấp nên gọi là hữu phú; do vì quá yếu, không khởi tác dụng ghi nhớ (ký), không thể chiêu cảm quả bảo cho nên nói là vô ký.

[91] Quang Ký q.4,tr.80b11, không có công năng che lấp, hoặc không bị si che lấp nên gọi là vô phú; vì không có tác dụng mạnh mẽ ghi nhớ nên không chiêu cảm kết quả cho nên gọi là vô ký.

--- o0o ---

 |Mục Lục Tập San 7 |

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-09-2003

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com