Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 

KINH PHÁP THIỀN BÍ YẾU

Hán dịch : Cưu-ma-la-thập
        
    Việt dịch : Nhựt Chiếu                    

---o0o---
 

 

LỜI TỰA CỦA BẢN VIỆT NGỮ

Một hôm thầy Phước Tịnh đưa tôi vào Thiền viện Trúc Lâm. Ðược thầy Thông Phương cho phép chúng tôi lên tàng kinh các xem một số kinh sách theo dự định. Sau khi duyệt sơ qua vài tập kinh thuộc Ðại tạng chữ Hán, tôi nhìn thấy ở gốc trái của kệ sách có một số tài liệu thiền của Trung Hoa và Việt Nam. Tôi lưu ý một tập sách nhỏ: THIỀN BÍ YẾU PHÁP. Ngay cái tựa đề đã gợi sự tò mò, nên mượn thầy Thông Phương về photo.

Sau hai mươi ngày làm việc, tập Thiền kinh này đã được dịch xong, gồm 4 quyển. Trong 3 quyển đầu có 30 phép quán: Từ phép quán bất tịnh thứ nhất, Ðức Phật dạy Tỳ-kheo Ma-ha Ca-hy-la Nan-đà, để trừ nghiệp chướng phóng dật ngã mạn đời trước, thành A-la-hán, đến phép quán phong đại thứ 30. Với những phép quán này, hành giả sẽ đạt đến cảnh giới tối thắng, thành A-na-hàm.

Ba mươi phép quán nói trên rất phức tạp, chủ yếu là quán xương trắng, quán bất tịnh, quán sổ tức và quán tứ đại. Những cảnh giới trong định quá nhiều, quá rộng, chúng xuất hiện tùy theo căn cơ nghiệp cảm của hành giả. Do đó không dễ gì hình dung một cách rõ ràng đầy đủ qua lời tường thuật. Các phép quán cũng yêu cầu người hành trì có một sức định rất sâu.

Trong quyển thứ tư, Ngài Ma-ha Ca-diếp thưa thỉnh Ðức Phật: Vì sao tỳ-kheo A-kỳ-đạt-đa, đệ tử của Ngài, tu hành tinh tấn đắc quả A-na-hàm mà không tiến đến quả vị A-la-hán được. Nhân đó Ðức Phật dạy tỳ-kheo A-kỳ-đạt quán tứ đại, quán năm ấm đều vô thường, khổ, không, vô ngã. A-kỳ-đạt nghe lời Ðức Phật dạy hoát nhiên ý được khai mở, đắc quả A-la-hán. Sau đó Ðức Phật nói rộng về tất cả cảnh giới rất vi tế mà một hành giả cần phải phân biệt trên đường tu tập từ A-na-hàm đến A-la-hán.

Tập Thiền kinh này được Ngài Cưu-ma-la-thập dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. Nó thuộc truyền thống thiền nguyên thủy. Nhưng khi được truyền lên phương bắc thì cách diễn đạt mang sắc thái Ðại thừa. Bản chữ Hán này được khắc in ở Kim Lăng tháng ba năm Dân Quốc thứ mười. Có lẽ vì lý do kỹ thuật nên có một sai sót đáng tiếc: Trong 30 phép quán, cuối mỗi phép đều có ghi số thứ tự, chỉ riêng phép quán thứ 26 không ghi, đến số 27 và 28 lại ghi là 26 và 27. Do đó không có số 28 mà đến ngay 29 và 30. Vì vậy người dịch điều chỉnh lại đúng theo thứ tự, và thêm số la mã ở đầu mỗi phép quán để phân biệt rõ ràng.

Do khả năng hạn chế của người dịch, chắc chắn bản Việt ngữ này có nhiều sai sót- ngay bản chữ Hán đã sai sót rồi. Hơn nữa, người dịch không có những dị bản để đối chiếu và quyết trạch, thì việc lầm lẫn không sao tránh khỏi được. Cúi mong các bực thức giả niệm tình phủ chính.

 

 

 

 

Quyển 1

 

Ðời Diêu Tần, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập... dịch .

I. Tôi nghe như vầy: Có một thời Ðức Phật ở rừng trúc Ca-lan-đà thuộc thành Vương Xá cùng chúng Ðại tỳ-kheo đủ 1.250 vị. Trong số này có 500 vị Ðại đức Thinh văn, đó là các Ngài Xá-lợi-phất, Ðại-mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Ma-ha Ca-chiên-diên v.v... Bấy giờ trong thànhVương Xá có một vị tỳ-kheo tên là Ma-ha Ca-hy-la Nan-đà thông tuệ nhiều trí đi đến chỗ Phật, lễ Phật và nhiễu Phật bảy vòng. Bấy giờ Ðức Thế tôn đang nhập thiền định sâu yên lặng không nói. Khi Ca-hy-la Nan-đà thấy Phật nhập định, liền đến chỗ Ngài Xá-lợi-phất, cuối đầu lạy sát chân Ðại đức Xá-lợi-phất và bạch rằng: Xin nguyện vì con nói rộng pháp yếu. Lúc đó Ngài Xá-lợi-phất liền nói pháp tứ đế, phân biệt nghĩa thú từ một lần cho đến bảy lần, mà Ca-hy-la Nan-đà tâm nghi chưa tỉnh. Vì vậy đến lễ sát chân khắp 500 vị Thinh văn, xin nói pháp yếu. Các vị Thinh văn, mỗi vị cũng chuyển pháp bốn chân đế bảy lần; thế mà Ca-hy-la Nan-đà tâm cũng không ngộ. Ca-hy-la Nan-đà lại trở về chỗ Phật và làm lễ Phật. Bấy giờ Ðức Thế tôn từ thiền định dậy, thấy Ca-hy-la Nan-đà đầu lễ chân Phật, nước mắt như mưa, tha thiết xin Ðức Thế tôn vì mình chuyển bánh xe chánh pháp. Ðức Phật lại nói rộng pháp bốn chân đế từ một lần cho đến bảy lần, mà Ca-hy-la Nan-đà vẫn như cũ, không hiểu. Còn 500 vị thiên tử nghe điều Phật nói được pháp nhãn thanh tịnh, liền cầm hoa trời cúng dường Ðức Phật. Và bạch Phật rằng: Thưa Ðức Thế tôn, chúng con hôm nay nhờ tỳ-kheo Ca-hy-la Nan-đà mà được pháp, thấy pháp vui mừng lợi ích, như pháp thành Tu-đà-hoàn. Khi Ca-hy-la Nan-đà nghe chư thiên nói ôm lòng xấu hổ, bi thiết nghẹn lời, gieo mình xuống đất như núi lớn đổ. Hai tay hai chân phủ phục trên đất, hướng đến Ðức Phật sám hối.

Lúc đó A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, trịch áo để hở vai phải, lễ Phật, nhiễu Phật ba vòng, rồi chấp tay Hồ quỳ, bạch Phật: Thưa Ðức Thế tôn, tỳ-kheo Ca-hy-la Nan-đà có nhân duyên gì, sanh ra đời nhiều trí, lịch duyệt việc đời, bốn bộ luận Phệ-đà, nhựt nguyệt tinh tú, tất cả kỹ nghệ không việc nào không thông đạt. Lại có tội gì mà từ khi xuất gia đến nay, trải qua nhiều năm, đối với pháp vị của Phật chỉ riêng một mình không nếm được. Như lai Thế tôn thương mến thuyết pháp cho, mà ông như người sinh ra đã điếc, không nghe không hiểu được. Các vị đại tướng trong giáo pháp của Phật tùy thuận chuyển pháp luân, có hằng 500 lần vì ông thuyết pháp mà cũng không có ích. Cúi xin Ðức Thế tôn vì chúng con phân biệt, nói về nhân duyên xưa kia của vị tỳ-kheo này.

Khi A-nan hỏi, Ðức Phật liền mỉm cười, có hào quang năm màu từ trong miệng phóng ra, nhiễu Phật bảy vòng, rồi trở về vào đỉnh đầu. Ðức Phật bảo A-nan: Hãy lắng nghe và khéo suy niệm, Ta sẽ vì A-nan mà phân biệt giải nói.

A-nan bạch: Xin vâng, thưa Ðức Thế tôn, chúng con xin muốn nghe.

Ðức Phật bảo A-nan: Trong thời quá khứ rất lâu vô số kiếp, có Ðức Phật Thế tôn tên là Nhiên Ðăng Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế tôn. Trong giáo pháp của Ðức Thế tôn đó, có một tỳ-kheo tên là A-thuần Nan-đà, chính là tỳ-kheo Ca-hy-la Nan-đà này, thông tuệ nhiều trí. Do nhiều trí nên kiêu mạn phóng dật, cũng không tu tập phép tứ niệm xứ. Khi thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục tối tăm. Từ địa ngục ra rồi sanh trong loài rồng và voi. Trong 500 thân luôn làm vua rồng, trong 500 thân luôn làm voi chúa. Sau khi xả thân súc sanh, nhờ lực trì giới xuất gia trước kia nên được sanh lên cõi trời. Ở trên cõi trời mệnh chung, sinh lại cõi người. Do đời trước đọc tụng ba tạng kinh, nên nay được gặp Phật. Bởi đời trước phóng dật không tu tứ niệm xứ, do đó đời này không thể giác ngộ.

Khi Ca-hy-la Nan-đà nghe Ðức Phật nói điều này liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay qùy thẳng bạch Phật: Thưa Ðức Thế tôn, cúi xin Thế tôn dạy con buộc niệm.

Bấy giờ Ðức Phật bảo Ca-hy-la Nan-đà: Hãy lắng nghe và khéo suy niệm. Ngày nay ông thưa hỏi Như lai chánh pháp cam lồ diệt giặc tâm loạn, thuốc trị phiền não của chư Phật ba đời, đóng tất cả các cửa phóng dật, Ta vì đa số trời người mà giải bày bát chánh đạo. Ông hãy quán sát một cách kỹ lưỡng chớ để tâm loạn.

Lúc Ðức Phật nói lời này, trong chúng có 500 tỳ-kheo không mấy hiểu biết cũng thưa với A-nan rằng: Nay Ðức Thế tôn muốn nói pháp trừ phóng dật, chúng tôi tùy thuận muốn học pháp này, cúi xin Tôn giả vì chúng tôi mà tác bạch với Ðức Phật.

Nghe nói lời này Ðức Phật bảo chư tỳ-kheo: Không những vì các ông mà còn vì những người phóng dật đời sau, nay Ta ở trong rừng trúc Ca-lan này, vì tỳ-kheo Ca-hy-la Nan-đà nói pháp buộc niệm. Ðức Phật bảo Ca-hy-la Nan-đà rằng: Ông tiếp thu lời Ta hãy thận trọng chớ để quên mất. Từ ngày nay ông tu pháp sa-môn. Pháp sa-môn là nên ở chỗ vắng, trải tọa cụ ngồi kiết già, y phục ngay ngắn, thân ngay ngồi thẳng, trịch áo vai phải, để bàn tay trái lên bàn tay phải, nhắm mắt, lưỡi chống lên ổ gà, định tâm an trụ không cho phân tán. Trước nên buộc niệm trên ngón cái chân trái. Quán một cách chuyên chú nửa đốt ngón chân, tưởng nước bọt nổi lên. Quán riết khiến rất sáng tỏ, rồi sau tưởng nước bọt tiết ra. Thấy nửa đốt ngón chân rất trắng sạch như có ánh sáng trắng. Thấy việc này rồi kế quán một đốt khiến thịt vỡ ra, thấy một đốt ngón chân rất sáng rỡ, như có ánh sáng trắng.

Ðức Phật bảo Ca-hy-la Nan-đà như thế gọi là phép buộc niệm.

Ca-hy-la Nan-đà nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.               

Ðức Phật dạy tiếp: Quán một đốt rồi kế quán hai đốt. Quán hai đốt rồi kế quán ba đốt. Quán ba đốt rồi tâm dần dần rộng lớn. Ðang quán năm đốt thì thấy năm đốt ngón chân như có ánh sáng trắng và xương trắng rõ ràng. Buộc tâm quán năm đốt như thế không cho tản mạn. Nếu tâm tản mạn thì thu nhiếp, khiến trở lại quán niệm nửa đốt ngón chân. Khi niệm tưởng thành thì toàn thân sáng nóng, tim hạ nhiệt. Lúc đắc tưởng này gọi là buộc tâm trụ.

Tâm đã trụ rồi lại nên khởi tưởng khiến cho thịt mu bàn chân chia ra hai hướng. Thấy xương mu bàn chân rất rõ ràng, trắng như ngọc tuyết.

Tưởng này thành rồi kế quán xương mắt cá, khiến thịt phân ra hai hướng. Cũng thấy xương mắt cá rất trắng. Kế quán xương ống chân, làm cho thịt rớt ra, tự thấy xương ống chân rất trắng. Kế quán xương đầu gối cũng làm cho sáng rỡ phân minh. Kế quán xương bắp vế cũng thấy rất trắng. Kế quán xương sườn, tưởng thịt từ hai bên hông lật ra hai hướng, chỉ thấy xương sườn trắng như ngọc tuyết. Cho đến thấy xương sống rất rõ ràng. Kế quán xương vai. Tưởng thịt như dùng dao cắt, từ vai đến khủy tay, từ khủy tay đến cổ tay, từ cổ tay đến bàn tay, từ bàn tay đến ngón tay. Ðều làm cho thịt chia ra hai bên, thấy xương trắng nửa thân. Thấy rồi kế quán da đầu. Thấy da đầu rồi kế quán da mỏng. Quán da mỏng rồi kế quán màng mỏng buộc gân thịt. Quán màng mỏng rồi kế quán não. Quán não rồi kế quán lớp mở dưới da. Quán lớp mở dưới da rồi kế quán yết hầu. Quán yết hầâu rồi kế quán phế du. Quán phế du rồi thấy tim, phổi, gan, ruột già, ruột non, bao tử, thận, sinh tạng, thục tạng, bốn muơi hộ trùng. Ở trong sinh tạng nhận chứa tám mươi ức tiểu trùng. Mỗi một tiểu trùng sinh sản từ những mạch máu, đại khái có ba ức. Miệng ngậm sinh tạng. Mỗi một tiểu trùng có bốn mươi chín đầu, đầu đuôi nhỏ giống như mũi kim. Những trùng này cứ hai mươi hộ là hỏa trùng từ hỏa tinh sinh, hai mươi hộ là phong trùng từ phong khí khởi. Những trùng này ra vào các mạch máu, đi chơi tự tại. Hỏa trùng động phong, phong trùng động hỏa. Lại cùng hít thở nhờ sinh tạng và thục tạng. Trên dưới đi lại đại khái có bảy lần chuyển đổi. Những trùng này mỗi con có bảy mắt, mắt đều phát ra lửa. Lại có bảy thân, hút lửa động thân nhờ thục tạng và sinh tạng. Sinh tạng đã thành thục rồi thì mỗi trùng đi về vào trong mạch máu. Lại có bốn mươi hộ trùng, mỗi hộ lãnh ba ức tiểu trùng, thân đỏ như lửa. Trùng có mười hai đầu, mỗi đầu có bốn miệng, miệng ngậm thục tạng. Giữa mạch máu chảy đều quán để thấy. Thấy việc này rồi lại thấy các trùng từ yết hầu ra. Lại quán ruột non, gan, phổi, bao tử, thận đều rót vào trong ruột già. Trùng từ yết hầu rớt ra đất ở trước.

Tưởng này thành rồi thì thấy phân, nước tiểu hôi thúi ở trên đất phía trước và các giun lãi quấn nhau. Trong miệng của các trùng, máu mủ chảy ra dơ bẩn tràn đầy.

Tưởng này thành rồi tự thấy thân mình như người tuyết trắng, các đốt xương chống lên nhau. Nếu thấy vàng, đen thì nên hối lỗi. Ðã hối lỗi rồi, tự thấy trên xương của thân mình sinh da, rồi da đều rớt ra tụ trên đất phía trước, dần dần lớn lên như cái bình bát. Lại tiếp tục lớn giống như cái chum, cho đến lớn như lầu càn-thác-bà. Hoặc lớn hoặc nhỏ tùy tâm tự tại. Lại tăng trưởng dần giống như hòn núi lớn. Và có các trùng ăn thịt hòn núi này, máu mủ chảy ra, có vô số trùng loi ngoi trong mủ. Lại thấy núi da dần dần hoại nát, chỉ còn một ít trùng tranh nhau ăn. Có bốn dạ-xoa bỗng từ đất hiện ra, trong mắt phát ra lửa, lưỡi như rắn độc, và có sáu đầu. Mỗi đầu khác nhau: Một như núi, hai như mèo, ba như cọp, bốn như chó sói, năm như chó, sáu như chuột. Hai chân trước giống như khỉ vượn. Mười ngón ngay thẳng. Mỗi ngón đều có bốn đầu rắn độc. Một phun ra nước, hai phun ra đất, ba phun ra đá, bốn phun ra lửa. Chân trái giống như quỷ cưu-bàn-đồ. Chân mặt giống như quỷ tỳ-xá-xà. Hiện hình xấu ác rất dễ sợ. Lúc bốn dạ-xoa, mỗi con vác chín loại tử thi theo thứ tự xếp hàng đứng đi về phía trước. Ðức Phật bảo Ca-hy-la Nan-đà, đó là cảnh giới đầu tiên của tưởng bất tịnh.

Ðức Phật bảo A-nan : Ông hãy ghi nhớ lời nói này, đừng để quên mất. Vì chúng sanh đời sau phu diễn nói rộng pháp cam lồ này, là Thánh chủng của Tam thừa.

Khi Ca-hy-la Nan-đà nghe Ðức Phật nói lời này thì quán một cách chuyên chú từng điều, qua chín mươi ngày tâm tưởng không di dịch.

Ðến ngày Rằm tháng bảy tăng tự tứ rồi, chư tỳ-kheo đảnh lễ Ðức Thế tôn xong, mỗi người trở về. Sau ngày an cư, theo thứ tự tu đắc bốn quả sa-môn, ba minh, sáu thông đều đầy đủ, tâm rất vui mừng, đến đảnh lễ dưới chân Phật và bạch: Thưa Ðức Thế tôn, ngày nay chúng con nhờ tư duy, nhờ chánh thọ, dựa vào tam-muội nên phần đoạn sanh tử đã hết, không còn thọ thân sau, biết đạo như thật, chắc chắn được thành phạm hạnh thanh tịnh. Thưa Ðức Thế tôn, pháp này là vật cam lồ. Thọ dụng pháp này là dùng vị cam lồ. Cúi xin Ðức Thế tôn nói lại một cách sâu rộng.

Bấy giờ Ðức Thế tôn bảo Ca-hy-la Nan-đà: Nay ông đã thật sự được pháp này, có thể tùy ý làm mười tám biến hóa. Lúc đó Ca-hy-la Nan-đà đứng trong hư không tùy ý làm mười tám biến hóa một cách tự tại.Chư tỳ-kheo thấy Ca-hy-la Nan-đà tâm ngã mạn nhiều còn có thể điều phục thuận theo lời dạy của Phật, buộc tâm một chỗ không chạy theo các giác quan, thành A-la-hán.

Bấy giờ trong chúng hội có 1.500 tỳ-kheo tâm loạn nhiều, thấy việc này rồi đều sanh lòng hoan hy, liền đến chỗ Phật, theo thứ tự thọ pháp. Ðức Thế tôn nhân tỳ-kheo Ma-ha Ca-hy-la Nan-đà kiêu mạn chế pháp buộc tâm đầu tiên. Ðức Phật bảo bốn chúng rằng: Nếu có tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di từ nay về sau muốn cầu đạo vô vi, thì nên buộc niệm chuyên tâm một chỗ. Nếu để tâm này chạy theo sáu giác quan giống như khỉ vượn, không xấu hổ, thì nên biết người này là chiên-đà-la, chẳng phải loại tâm của Hiền Thánh, không điều thuận. Ngục tốt a-tỳ thường sai khiến người này. Người tệ ác như thế trong nhiều kiếp không nhờ vào đâu mà được độ. Giặc loạn tâm này sanh vào ba cõi, do dựa vào tâm này mà đọa vào ba đường ác. Lúc đó chư tỳ-kheo nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Ðức Phật bảo A-nan: Nay ông có thấy tỳ-kheo Ma-ha Ca-hy-la Nan-đà nhờ quán bất tịnh mà được giải thoát không? Ông khéo thọ trì, vì chúng nói rộng.

A-nan bạch Phật: Vâng, con xin thọ giáo.

Ðức Phật bảo A-nan: Hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ ghi nhớ.

II. Quán thứ hai là buộc niệm trên trán. Quán tưởng một vùng lớn bằng móng tay giữa trán, thận trọng không cho tư tưởng di dịch. Chú quán như thế khiến tâm an trụ, không sinh các vọng tưởng, chỉ tưởng trên trán. Rồi sau tự quán xương đầu, thấy xương đầu trắng như màu pha lê. Như thế dần dần thấy xương trắng toàn thân, thân thể trắng sạch hoàn toàn, các đốt xương cũng chống lên nhau. Lại thấy những vật bất tịnh tụ tập trên đất ở trước như đã nói trên.

Lúc quán tưởng bất tịnh thành chớ hủy bỏ thân thể, mà nên dạy chuyển quán. Pháp chuyển quán là tưởng ánh sáng trắng chảy ra giữa các khớp xương sáng rực giống như núi tuyết. Thấy việc này rồi thì vật bất tịnh tụ tập ở trước dạ-xoa lấy đi. Lại nên tưởng một người xương ở trước rất trắng. Tưởng này thành rồi kế tưởng người xương thứ hai. Thấy hai người xương rồi, thấy ba người xương. Thấy ba người xương rồi thấy bốn người xương. Thấy bốn người xương rồi thấy năm người xương. Như thế cho đến thấy mười người xương. Thấy mười người xương rồi thấy hai mươi người xương. Thấy hai mươi người xương rồi thấy ba mươi người xương. Thấy ba mươi người xương rồi thấy bốn mươi người xương. Thấy bốn mươi người xương rồi thấy người xương đầy trong một nhà, trước sau phải trái xếp hàng hướng vào nhau, đều đưa tay phải hướng về hành giả.Lúc đó hành giả dần dần to lớn thấy người xương đầy trong một cái sân, hàng hàng hướng vào nhau, trắng như ngọc tuyết, đều đưa tay phải hướng về hành giả. Tâm lại rộng lớn thấy người xương đầy trong một trăm mẫu đất, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả. Tâm dần dần rộng lớn thấy người xương đầy trong một do tuần, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay hướng vo hành giả. Thấy một do tuần rồi cho đến thấy người xương đầy trong một trăm do tuần, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả. Thấy một trăm do tuần rồi đến thấy người xương đầy trong cõi Diêm-phù-đề, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về phía hành giả. Thấy một Diêm-phù-đề rồi, kế thấy người xương đầy trong cõi Phất-bà-đề, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả. Thấy cõi Phất-bà-đề rồi, kế thấy người xương đầy trong cõi Cồ-gia-ni, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả. Thấy cõi Cồ-gia-ni rồi, thấy người xương đầy trong châu Uất-đan-việt, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả.

Thấy người xương đầy trong bốn thiên hạ rồi thân tâm an ổn, không có tư tưởng kinh sợ. Tâm dần dần rộng lớn thấy người xương đầy trong trăm Diêm-phù-đề , hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay phải hướng về hành giả. Thấy trăm Diêm-phù-đề rồi thấy người xương đầy trong trăm Phất-bà-đề, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng vào hành giả. Thấy trăm Phất-bà-đề rồi kế thấy người xương đầy trong trăm Cồ-gia-ni, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả. Thấy trăm Cồ-gia-ni rồi kế thấy người xương đầy trong trăm Uất-đan-việt, hàng hàng hướng vào nhau, đều đưa tay mặt hướng về hành giả.

Thấy việc này rồi thân tâm an lạc, không có tư tưởng kinh sợ. Tâm tưởng nhạy bén nên thấy người xương đầy trong thế giới Sa-bà, hai tay buông xuôi, mười ngón duỗi ra, tất cả đều đứng hướng về hành giả. Ðến khi hành giả thấy việc này rồi thì xuất định nhập định luôn luôn thấy người xương. Núi sông vách đá, tất cả vật trong đời đều biến hóa giống như người xương. Bấy giờ hành giả thấy việc này rồi, ở bốn phía thấy nước tứ đại (?) chảy mau màu trắng như sữa. Thấy những người xương theo dòng chảy chìm mất. Lúc quán tưởng này thành lại sám hối. Nhưng thấy thuần nước vọt lên trụ trong hư không, lại phải khởi tưởng làm cho nước yên lặng.

Ðức Phật bảo A-nan: Ðây gọi là phàm phu tâm tưởng bạch cốt bạch quang dõng xuất tam-muội, cũng gọi là phàm phu tâm hải sanh tử cảnh giới tướng. Nay Ta nhân Ca-hy-la Nan-đà, vì ông và tất cả chúng sanh đời sau nói về môn bạch cốt bạch quang dõng xuất tam-muội này, vì nhiếp thủ loạn tâm qua biển sanh tử. Ông nên thọ trì cẩn thận chớ để quên mất.

Lúc Ðức Thế tôn nói lời này rồi liền hiện bạch quang tam-muội, mỗi một tướng mạo đều làm cho A-nan thấy.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói hoan hỷ phụng hành.

Ðây gọi là cảnh giới đầu tiên của phép quán xương trắng.         

    Ðức Phật bảo A-nan quán tưởng này thành rồi, lại chỉ dạy phép quán tưởng khác. Dạy phép quán tưởng khác là nên tự quán thân thành một người xương trắng, làm cho cực trắng sạch, khiến đầu lộn ngược xuống vào trong xương bắp vế, để tâm yên lặng một nơi, khiến rất phân minh. Quán tưởng này thành rồi thì quán bốn phương xung quanh thân mình đều có người xương. Quán tưởng này thành rồi thì tạo ra (bằng tư tưởng) một người xương trắng trên đất phía trước giống như thân mình, đầu cũng lộn ngược vào trong xương bắp vế. Tưởng một người thành rồi kế tưởng hai người. Tưởng hai người thành rồi kế tưởng ba người. Tưởng ba người thành rồi kế tưởng bốn người. Tưởng bốn người thành rồi kế tưởng năm người. Tưởng năm người thành rồi cho đến tưởng mười người. Thấy những người xương đầy trong một phòng như thế, đầu đều lộn ngược vào trong xương bắp vế. Thấy trong một phòng rồi , cho đến thấy trong trăm phòng những người xương ấy đầu đều lộn ngược vào trong xương bắp vế. Thấy trăm phòng rồi, thấy người xương đầy trong một do tuần đầu đều lộn ngược vào trong xương bắp vế. Thấy một do tuần rồi, cho đến thấy vô lượng những người xương trắng đầu đều lộn ngược vào trong xương bắp vế.

Quán tưởng này thành rồi, thấy những người xương đều buông mình tất cả ngã xuống đất phía trước. Hoặc thấy đầu bể, hoặc thấy ót gãy, hoặc thấy lộn ngược, hoặc thấy uốn cong, hoặc thấy lưng gãy, hoặc thấy chân duỗi, hoặc thấy chân co, hoặc thấy xương chân gãy làm hai, hoặc thấy xương đầu nằm ngang trong ngực, hoặc thấy xương đầu ngửa ngước do duỗi vung vãi dọc ngang đều ở trên đất phía trước, đầy trong một ngôi nhà xung quanh trên dưới.

Quán tưởng này thành rồi, cho đến thấy vô lượng vô biên người xương trắng loạn xạ dọc ngang, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc gãy hoặc nguyên vẹn. Thấy những việc như thế đều nên trụ tâm quán sát chuyên chú khiến cực phân minh.

Ðức Phật bảo A-nan: Lúc hành giả thấy việc này rồi, nên tự tư duy xương trước kia nguyên vẹn, nay phá tán ngang dọc lộn xộn không thể ghi chép. Thân xương trắng này hẳn còn vô định. Nên biết thân ta cũng lại vô ngã. Quán chuyên chú như thế rồi, nên tự tư duy chính các xương tạp loạn ngang dọc như thế thì nơi nào có ta và thân người khác. Bấy giờ hành giả tư duy vô ngã thì thân tâm vui vẻ an ổn khoái lạc.

Ðức Phật bảo A-nan quán tưởng này thành rồi, lại phải chỉ dạy lại khiến tâm rộng lớn, làm cho hành nhân kia thấy xương tán loạn ngang dọc trong một cõi Diêm-phù-đề. Thấy bốn mặt xung quanh ngoài những xương cốt có lửa lớn nổi lên lần lượt thiêu đốt các xương tạp loạn. Thấy lửa nổi lên trong các đốt xương của những người xương. Tướng trạng của lửa như thế, hoặc có nhiều lửa giống như nước chảy bốc cháy sáng rực lan tràn trong xương cốt. Hoặc có nhiều lửa giống như núi lớn từ bốn mặt ập lại.

Quán tưởng này thành rồi rất kinh sợ. Lúc xuất định thân thể bốc nóng. Lại nên nhiếp tâm như trước, quán xương, quán một người xương trắng làm cho cực sáng tỏ. Bấy giờ lúc hành giả nhập định không tự dậy được. Cần phải khảy móng tay rồi sau dậy được. Quán tưởng này thành thì nên tự khởi niệm mà nói lời này: Ta từ vô số kiếp đời trước đến nay đã tạo các phiền não, bị nghiệp duyên lôi kéo, nên khiến nay thấy lửa này nổi lên. Lại nên quán niệm lửa như thế này từ tứ đại mà có, nhưng thân ta rỗng rang vắng lặng, tứ đại vô chủ. Lửa mãnh liệt rộng lớn này từ không khởi lên, thân ta thân người tất cả đều không. Lửa như thế từ vọng tưởng sanh làm sao thiêu được. Thân ta và lửa hai thứ đều vô thường.

Ðức Phật bảo A-nan: Hành giả phải nên chí tâm chú quán những pháp như thế. Quán rỗng không, không lửa cũng không có nhiều xương. Người thực tập quán này không có sợ hãi, thân ý điềm tĩnh an lạc hơn trước bội phần.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói hoan hỷ phụng hành.

Quán tưởng này thành, gọi là quán xương trắng thứ hai xong.

III. Ðức Phật bảo A-nan quán xương trắng thứ hai xong rồi, lại phải chỉ dạy phép buộc niệm. Phép buộc niệm, trước nên buộc tâm trên ngón cái chân trái. Nhứt tâm chú quán ngón chân cái, khiến thịt xanh đen, nước dãi dơ bẩn hiện ra, giống như ánh mặt trời nướng thịt mỡ. Dần dần đến đầu gối, cho đến bắp vế. Quán chân trái rồi quán chân mặt cũng như vậy. Quán chân mặt rồi, kế nên quán eo lưng, đến lưng, đến cổ, đến ót, đến đầu, đến mặt, đến ngực, chi tiết toàn thân, tất cả các phần của thân thể cũng đều có nước dãi đen, giống như ánh mặt trời nướng thịt mỡ. Ðồ bất tịnh chảy tràn đầy như phân, nước tiểu tụ tập. Quán một cách chuyên chú thân mình khiến cực phân minh. Tưởng một người thành rồi lại nên tưởng hai người. Tưởng hai người thành rồi lại nên tưởng ba người. Tưởng ba người thành rồi lại nên tưởng bốn người. Tưởng bốn người thành rồi lại nên tưởng năm người. Tưởng năm người thành rồi lại nên tưởng mười người. Tưởng mười người thành rồi thấy nước dãi đen đầy trong một ngôi nhà, giống như ánh mặt trời nướng thịt mỡ, như phân nước tiểu tụ tập. Những người bất tịnh xếp hàng ngang dọc đầy trong một ngôi nhà. Thấy một ngôi nhà rồi thấy hai ngôi nhà. Thấy hai ngôi nhà rồi cho đến thấy người bất tịnh nhiều vô lượng. Bốn gốc trên dưới, thế giới Sa-bà thảy đều đầy ấp.

Tưởng này thành rồi, hành nhân tự nhớ mình trong đời trước tham dâm ngu si không tự giác tri, tuổi đang mạnh mẽ phóng dật tham đắm tình sắc không biết xấu hổ, đuổi theo sắc thanh hương vị xúc pháp. Nay quán thân mình tràn đầy bất tịnh, thân người cũng thế, nào đáng yêu thích. Thấy việc này rồi , tự chán thân vô cùng, xấu hổ tự trách. Lúc xuất định thấy các thức ăn đồ uống như phân, nước tiểu rất chán ghét.

Kế dạy chuyển quán. Phép chuyển quán là nên khởi tưởng niệm lại. Lúc tưởng niệm thành, thấy những bất tịnh xung quanh bốn mặt ngoài thân bỗng nhiên hơi lửa bốc lên, nóng như lúc lửa cháy. Sắc ấy trắng hoàn toàn, như ngựa hoang đi phản chiếu các vật bất tịnh. Bấy giờ hành giả thấy việc này rồi nên rất vui mừng. Vì vui mừng nên thân tâm nhẹ nhàng mềm mại. Tâm sáng suốt khoái lạc gấp đôi lúc thường.

Ðức Phật bảo A-nan: Ðây là phép quán tự trách xấu hổ thứ ba.

Bấy giờ A-nan nghe Phật nói hoan hỷ phụng hành.

Phép quán này thành gọi là quán nước dãi dơ bẩn xấu hổ thứ ba xong.

IV. Ðức Phật bảo A-nan, tưởng này thành rồi lại phải dạy lại cách buộc niệm trụ ý trên ngón cái chân trái, chú quán đốt ngón chân cái, tưởng trương phình lên. Thấy trương phình lên rồi khởi tưởng hư nát. Thấy hư nát rồi khởi tưởng máu mủ xanh đen đỏ trắng. Máu mủ này rất hôi hám khó có thể chịu nổi. Như thế dần dần đến đầu gối, đến bắp vế đều khiến trương phình lên rửa nát dơ dáy. Quán chân trái rồi quán chân mặt cũng như thế. Như vậy dần dần đến eo lưng, đến lưng, đến cổ, đến ót, đến đầu, đến mặt, đến ngực, chi tiết toàn thân, tất cả trương phình lên rồi đều hư nát . Các mủ xanh đen đỏ trắng chảy ra hôi thúi, ô uế lộn xộn không thể ở nổi.Tưởng một người thành rồi lại tưởng hai người. Tưởng hai người thành rồi lại tưởng ba người. Tưởng ba người thành rồi lại tưởng bốn người. Tưởng bốn người thành rồi lại tưởng năm người. Tưởng năm người thành rồi cho đến tưởng mười người. Tưởng mười người thành rồi thấy những người trương phình lên xung quanh trên dưới trong một ngôi nhà đều hư nát. Mủ xanh đen đỏ trắng đều chảy ra ô uế hôi thúi không thể chịu nổi. Lại tưởng một do tuần. Tưởng một do tuần rồi cho đến tưởng trăm do tuần. Tưởng trăm do tuần rồi cho đến thấy ba ngàn đại thiên thế giới, xung quanh trên dưới ở đất và hư không tất cả những người như thế trương phình hư nát đầy ấp, các mủ xanh đen đỏ trắng chảy ra lộn xộn ô uế tràn đầy không thể ở nổi.

Ðức Phật bảo A-nan, lúc hành giả thấy việc này rồi tự quán thân mình tràn đây bất tịnh. Quán thân người cũng lại như vậy. Nên tưởng niệm thân này của ta phải rất lo sợ chán ngán, vì quá nhiều bất tịnh đầy ấp tất cả. Quán như thế rồi sợ hoạn nạn sanh tử, tâm tin sâu nhơn quả một cách kiên cố. Xuất định nhập định luôn thấy bất tịnh, mong cầu chán lìa xả bỏ thân này. Lúc quán tưởng này tự thấy thân mình toàn thể da thịt như lá mùa thu rụng. Thấy thịt rơi xuống đất phía trước rồi tâm liền xúc động mạnh, tâm sinh kinh sợ, thân tâm chấn động không thể tự an, thân khí nhiệt não như người bịnh nhiệt bị khát bức bách. Lúc xuất định, như người đi ngoài đồng rộng trong ngày hè khát không có nước, thân thể rất mệt.

Tưởng này thành rồi, cho đến giờ ăn thấy vật thực như thấy tử thi sình, thấy thức uống giống như máu mủ. Tưởng này thành rồi chán thân cùng cực. Quán trong thân và ngoài thân mong sạch không được.

Ðức Phật bảo A-nan, lại phải chỉ dạy khiến họ chuyển đổi phép quán tưởng, đừng khiến bỏ thân vì không sở đắc. Chuyển phép quán là tưởng một vật sạch ở ngoài xa chỗ hôi thúi ô uế. Dạy họ buộc tâm tưởng vào một vật sạch này. Mắt tâm sáng tỏ liền muốn đến lấy. Như thế cái thấy dần dần rộng xa. Ngoài những bất tịnh có các tịnh địa, như đất lưu ly hiện ra chỗ sạch này, liền muốn đi đến. Sự thay đổi lại rộng xa mà ý không thông hiểu được.

Ðức Phật bảo A-nan, bấy giờ nên dạy hành nhân như vậy và nói lời này: Việc thấy của ông là tưởng bất tịnh. Tưởng bất tịnh này về vật uế tạp. Nên biết tưởng này từ điên đảo khởi, đều do đời trước làm việc điên đảo mà được thân này, chủng tử căn bản của thân này đều là bất tịnh. Nay ông thật thấy bất tịnh này không? Tuy thấy tịnh ở ngoài bất tịnh, nên biết tịnh này và bất tịnh không thể dừng lại lâu mà đuổi theo cái thấy ức tưởng của các căn. Thân bất tịnh này thuộc các nhân duyên, duyên hợp thì có, duyên lìa thì không. Việc thấy của ông cũng thuộc duyên tưởng , tưởng thành thì có, tưởng hoại thì không. Tưởng này từ năm tình sinh ra rồi lại vào trong tâm ông. Do các nhân duyên của lòng ham muốn mà có tưởng này. Tưởng bất tịnh này không từ đâu đến, cũng không về đâu. Ông nên quán từng bất tịnh, tìm kiếm  ta người hoàn toàn không thể được. Ðức Thế tôn nói ta và người đều trống không vắng lặng huống là bất tịnh. Tâm quở trách đủ loại như thế để dạy quán không. Thấy tóc lông răng móng tất cả đều không, hoát nhiên buông xả các vật bất tịnh. Trụ ý như trước, trở lại quán người xương.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông hãy ghi nhớ lời này, cẩn thận chớ quên mất phép quán bất tịnh này và phép chuyển tưởng.

Lúc đó A-nan nghe lời Phật dạy vui vẻ phụng hành.

Lúc quán tưởng này thành gọi là tưởng thân phình trướng với máu mủ và quán chuyển tưởng thứ tư xong.

V. Ðức Phật bảo A-nan, tưởng này thành rồi, tiếp theo phải dạy buộc niệm một chỗ, ngồi ngay thiền định. Quán một cách chuyên chú trên ngón cái chân mặt, khiến da trên ngón chân giựt giựt muốn xuyên qua lớp da dày và da mỏng, trong ngoài phản chiếu thông suốt. Trong lớp da mỏng có một màng mỏng cũng nên quán kỹ. Như thế dần dần đến đầu gối, đến bắp vế. Quán chân trái cũng vậy, đến eo lưng, đến lưng, đến cổ, đến ót, đến đầu, đến mặt, đến ngực, toàn thân đều như thế. Da dày da mỏng trong ngoài chiếu suốt, giựt giựt muốn xuyên qua như bị thổi, da trương phình lên không thể nói hết. Từ từng lỗ một cho đến trăm ngàn lỗ chân lông của cơ thể, nước mủ lẫn lộn giống như giọt mưa chảy ra mau như mưa sấm. Máu mủ trong ngoài đều chảy tràn đầy, bất tịnh cùng cực khó có thể chịu nổi. Giống như ao mủ cũng như ao máu, trùng dòi đầy ở trong.

Tưởng này thành rồi, nên quán trong ngực, toàn thân là trùng, giống như trùng tụ tập. Lại nên quán ngón cái chân trái trương phình chảy mủ: Mủ xanh, mủ vàng, mủ đỏ, mủ đen, mủ hồng, mủ lục, mủ trắng chảy ra lẫn lộn với phân nước tiểu hỗn tạp. Lại có các trùng du hý trong ấy, ô uế hôi thúi không thể chịu nổi. Ngao ngán thân này, không tham các dục, không vui thọ sanh.

Lúc tưởng này thành, thấy đại dạ-xoa thân như núi lớn đầu tóc rối bù như rừng gai nhọn, có sáu mươi mắt giống như điện sáng, có bốn mươi  miệng, miệng có hai răng đều chỉa lên giống như cờ lửa. Lưỡi giống cây kiếm le đến đầu gối. Tay cầm gậy sắt. Gậy giống núi dao như muốn đánh người. Số quỷ như thế nhiều chớ không phải một. Lúc thấy việc này, hết sức kinh sợ, thân tâm đều rung động. Tướng mạo như thế đều do đời trước hủy phạm giới cấm, căn bản là các việc ác: Vô ngã cho là ngã, vô thường cho là thường, bất tịnh bảo là tịnh. Phóng dật nhiễm trước, tham đắm dục lạc. Ở trong pháp khổ sinh tưởng vui trái ngược; ở trong pháp không khởi tưởng điên đảo; ở thân bất tịnh khởi tưởng trong sạch. Tự nuôi sống bằng tà mạng, không kể vô thường.

Lúc tưởng này thành lại phải chỉ dạy lại. Ông chớ kinh sợ, vì dạ-xoa này là cảnh giới độc hại thuộc tâm ác của ông, từ sáu đại khởi, được hình thành do sáu đại. Nay ông nên quán kỹ sáu đại . Sáu đại này là đất, nước, lửa, gió, thức và không. Mỗi đại như thế ông nên suy xét kỹ. Thân ông là đất ư, là nước ư, là lửa ư, là gió ư, là thức ư, là không ư. Như thế quán kỹ từng pháp một, xem thân này từ đại nào sinh, từ đại nào tán. Thực tế sáu đại vô chủ, thân cũng vô ngã. Nay vì sao ông sợ dạ-xoa? Như tâm tưởng của ông không từ đâu đến cũng không đi về đâu. Tưởng thấy dạ-xoa cũng lại như thế, chỉ yên tâm ngồi. Giả sử dạ-xoa đến đánh, ông hãy hoan hỷ nhẫn chịu, quán kỹ vô ngã. Trong pháp vô ngã không có tưởng kinh sợ, chỉ nên chính tâm, ngồi kiết già, quán kỹ bất tịnh và dạ-xoa. Quán tưởng một lần thành rồi, lại nên quán tưởng lần thứ hai. Như thế dần dần cho đến vô lượng, quán kỹ từng pháp đều khiến phân minh.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông khéo thọ trì pháp quán bất tịnh da mỏng, cẩn thận chớ quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Lúc tưởng này thành gọi là quán da mỏng thứ năm xong.    

VI. Ðức Phật bảo A-nan, tưởng này thành rồi lại phải dạy buộc niệm trên ngón cái chân mặt. Nên quán kỹ ngón chân, khiến chân trương phình lên từ chân đến đầu. Như thổi túi da phình lên, nước dãi đen xanh đọng lại khó chịu, trùng trắng như hạt gạo đầy cả ở trong. Trùng có bốn đầu, đuổi nhau lúc nhúc, lại ăn lẫn nhau. Bắp thịt, xương, tủy đều sinh các trùng. Tất cả ngũ tạng trùng đều ăn hết, chỉ còn da dày ở ngoài xương. Da dày và mỏng giống như lụa lãnh. Các trùng ra vào như xuyên qua lá trúc. Trong ngoài giựt giựt da như muốn lủng. Trong mắt ngứa gấp, có vô số trùng xuyên qua mắt, muốn sinh ra khoảng vành mắt. Chín lỗ của thân mình cũng lại như thế. Các trùng bây giờ từ da dày ra vào, da mỏng da vừa bị lủng, tất cả trùng đều rơi xuống đất, số đó rất nhiều không thể kể hết, làm thành một nhóm lớn giống như núi trùng, ở trước hành giả, lại ăn lẫn nhau hoặc ôm quấn nhau.                      

Lúc hành giả thấy trùng nhiều như thế rồi, lại nên buộc niệm, quán kỹ một con trùng, khiến con trùng này ăn hết các con trùng khác. Ðã ăn trùng rồi, chỉ con trùng còn lại ở giữa lớn dần, hiện ra một con rùng lớn bằng con chó, thân thể khốn đốn, mũi cong như cái sừng ngữi trước hành giả. Mắt nó rất đỏ như hòn sắt nóng.

Thấy việc này rồi rất kinh sơ, nên tự ức niệm thân mình vì sao bỗng nhiên như thế. Quán niệm việc này như vậy thì trước thấy các con trùng lại ăn lẫn nhau, nay thấy hình thể con trùng này ghê tởm rất đáng sợ làm sao !

Lúc tưởng này thành, nên tự quán thân, ta và những con trùng này vốn không, nay có rồi, có lại không. Như thế bất tịnh từ tâm tưởng sanh, không từ đâu đến, không đi về đâu, cũng chẳng phải ta, cũng chẳng phải người. Như thế thân này do nhân duyên sáu đại hòa hợp tạo thành. Khi sáu đại tan diệt thì thân cũng không còn. Các con trùng không từ đâu đến, không đi về đâu. Thân ta và trùng tụ tập đâu có thật. Trùng cũng không chủ ta cũng vô ngã. Lúc tư duy như thế, thấy mắt trùng sẽ dần dần nhỏ. Thấy việc này rồi thân tâm hòa vui điềm nhiên an lạc gấp đôi trước kia.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông kheo thọ trì phép quán da dày và trùng tụ tập này, cẩn thận chớ quên mất.

A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Tưởng này thành rồi gọi là quán da dày và trùng tụ tập thứ sáu xong.

VII. Ðức Phật bảo A-nan, lại nên trụ ý buộc niệm một chỗ, quán kỹ trên ngón cái chân mặt, từ chân đến đầu, quán một cách chuyên chú. Phải làm cho da thịt, toàn bộ ruột, bao tử, bụng, gan, phổi, tim, lá lách, thận, tất cả ngũ tạng đều rơi xuống đất, chỉ có gân xương dính liền nhau. Lớp da mỏng còn sót lại dính xương màu rất đỏ, hoặc như bùn đọng, hoặc như nước đục. Tưởng nước đục lấy dùng rửa da, từ chân đến đầu đều làm như vậy. Tự quán thân mình khiến rất phân minh. Quán thân mình rồi, lại quán một thân hiện ra ở trên đất phía trước đứng như mình không khác. Tưởng một người thành rồi lại phải tưởng hai người. Tưởng hai người thành rồi lại phải tưởng ba người. Tưởng ba người thành rồi lại phải tưởng bốn người. Tưởng bốn người thành rồi lại phải tưởng năm người. Tưởng năm người thành rồi  cho đến tưởng mười người. Tưởng mười người thành rồi thấy xung quanh trên dưới đầy trong một ngôi nhà đều là người xương màu đỏ. Hoặc có màu bùn đọng, hoặc có màu nước đục, dùng nước đục rửa da. Người như thế dần dần nhiều đầy cả một do tuần. Tưởng một do tuần rồi tưởng hai do tuần. Tưởng hai do tuần rồi dần dần rộng lớn tưởng năm do tuần.Tưởng năm do tuần rồi cho đến thấy người xương màu đỏ đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới. Hoặc có màu bùn đọng, hoặc có màu nước đục, dùng nước đục rửa da, đầy khắp xung quanh trên dưới ngang dọc.

Ðức Phật bảo A-nan: Nay ông quán kỹ tướng màu đỏ này, cẩn thận chớ quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Lúc tưởng này thành gọi là tưởng nước đục bùn đọng rất đỏ rửa da uế tạp thứ bảy xong.

VIII. Ðức Phật bảo A-nan, lại phải chỉ dạy cách buộc tâm trụ ý, quán chăm chú ngón cái chân trái, từ chân đến đầu như người mới chết màu vàng úa. Nên quán thân mình cũng lại như vậy. Thấy vàng úa rồi, phải làm cho màu vàng biến thành xanh đỏ.

Lúc tưởng này thành, thấy trên đất phía trước có một người mới chết, màu vàng đỏ. Thấy một người rồi thấy hai người. Thấy hai người rồi thấy ba người. Thấy ba người rồi thấy bốn người. Thấy bốn người rồi thấy năm người. Thấy năm người rồi tâm tưởng nhạy bén, nên thường thấy thân mình như người mới chết.

Tưởng như thế thành thì thấy tất cả người đầy cõi Diêm-phù-đề như người mới chết. Tưởng này thành rồi lại chuyển qua cảnh rộng lớn thấy người mới chết đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới. Tự thấy thân mình cho đến thân người không khác. Lúc tưởng này thành thì tâm ý lo lắng, tham dục trở thành mỏng yếu.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông khéo quán kỹ pháp tưởng người mới chết này, cẩn thận chớ quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Lúc tưởng này thành gọi là tưởng người mới chết thứ tám xong.

IX. Ðức Phật bảo A-nan: Lại nên buộc niệm trụ ý quán kỹ trên ngón cái chân trái, từ chân đến đầu, khiến tâm không phân tán. Thấy các xương của thân từng cái rõ ràng. Các đốt chống lên nhau, cũng kềm giữ liền nhau, không sứt mẻ. Lông tóc răng móng đều đầy đủ sáng rỡ rất trắng. Thấy thân mình rồi, tưởng qua tưởng lại rất kỹ làm cho trắng sạch. Tưởng một thân rồi lại tưởng hai thân. Tưởng hai thân rồi lại tưởng ba thân. Tưởng ba thân rồi lại tưởng bốn thân. Tưởng bốn thân rồi lại tưởng năm thân, cho đến mười thân. Tưởng mười thân rồi thấy xung quanh trên dưới trong một ngôi nhà đều là người xương với lông tóc răng móng đều đầy đủ rất trắng, như ngọc tuyết. Thấy một nhà rồi lại thấy trăm nhà. Thấy trăm nhà rồi lại thấy một Diêm-phù-đề, cho đến thấy đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới người xương với lông tóc răng móng đều đầy đủ, màu rất trắng như ngọc tuyết. Lúc tưởng này thành thì tâm ý điềm nhiên an lạc vui vẻ gấp đôi lúc thường.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông khéo quán kỹ tưởng xương thân đầy đủ, cẩn thận chớ quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Lúc tưởng này thành gọi là tưởng thân đầy đủ( xương, lông, tóc, răng, móng-người dịch) thứ chín xong.

 

Ðức Phật bảo A-nan, lại phải dạy cách buộc tâm trụ ý quán kỹ giữa hai đốt xương ngón cái chân mặt, khiến tâm chuyên trụ, ý không phân tán. Quán hai đốt xương lìa nhau ra, chỉ chống lên nhau một góc. Quán hai đốt xương rồi, từ chân đến đầu đều khiến như thế, làm cho các khớp rời ra, chỉ chống lên nhau một góc. Từ đầu đến chân có 363 khớp, quán kỹ từng khớp, khiến mỗi khớp rời ra. Nếu không đủ thì an tâm quán kỹ làm cho mỗi khớp xương rời ra, chỉ chống lên nhau một góc. Quán thân mình rồi nên quán thân người. Quán thấy một thân rồi quán thấy hai thân. Quán hai thân rồi quán thấy ba thân. Quán ba thân rồi quán thấy bốn thân. Quán bốn thân rồi quán thấy năm thân. Quán năm thân rồi cho đến quán thấy vô lượng người xương trắng, mà các đốt xương chỉ chống lên nhau một góc.Thấy việc này rồi lại thấy bốn phương nhiều người xương cũng lại như vậy.

Lúc đắc quán này sẽ tự nhiên thấy ngoài những người xương giống như biển lớn điềm tịnh trong lặng. Tâm sáng suốt mãnh lợi thấy nhiều ánh sáng tạp sắc vây quanh bốn phía. Thấy việc này rồi tâm ý tự nhiên an ổn khoái lạc, thân tâm thanh tịnh, không có tư tưởng buồn vui.

Ðức Phật bảo A-nan: Ông khéo quán kỹ tưởng các khớp xương rời ra, cẩn thận chớ để quên mất.

A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Ðắc tưởng này gọi là quán các khớp xương thứ mười xong.

 

XI. Ðức Phật bảo A-nan: Quán này thành rồi lại phải dạy cách buộc niệm trụ ý , quán kỹ giữa hai đốt xương ngón cái chân mặt, khiến hai đốt xương lìa nhau bằng ba ngón (chân). Tưởng ánh sáng trắng kềm chống khớp xương. Nếu ngồi ban đêm thì tưởng ánh sáng trăng. Nếu ngồi ban ngày thì tưởng ánh sáng mặt trời luôn kềm giữ các đốt xương không cho rớt ra. Từ chân đến đầu 363 khớp đều khiến lìa nhau bằng ba ngón (chân). Dùng ánh sáng trắng kềm giữ không cho rớt ra. Lúc ngồi ban ngày, dùng ánh sáng mặt trời kềm giữ. Nếu ngồi ban đêm thì dùng ánh sáng mặt trăng kềm giữ. Quán giữa các đốt xương đều làm cho phát ra ánh sáng trắng.                                     

    Lúc đắc quán này sẽ tự nhiên ở trong ánh sáng mặt trời thấy trong một tầm hào quang tròn của Phật một trượng sáu, trái phải trên dưới mỗi bên cũng thấy một tầm. Thân thể sắc vàng toàn thân quang minh đoan nghiêm đỏ chói. 32 tướng tốt, 80 tướng phụ đều sáng rỡ, được thấy quang minh của từng tướng hảo, như Ðức Phật ở đời không khác. Lúc thấy cẩn thận chớ làm lễ, chỉ nên an tâm quán kỹ các pháp. Nên tưởng niệm rằng Phật nói các pháp không đi không lại, tất cả tính tướng cũng đều rỗng không, vắng lặng. Chư Phật Như lai là thân giải thoát. Thân giải thoát thì là chân như. Trong pháp chân như không thấy không đắc. Lúc tưởng như thế, tự nhiên sẽ thấy tất cả chư Phật. Do thấy Phật nên tâm ý an vui điềm đạm khoái lạc.

Ðức Phật bảo A-nan, pháp quán chuyên chú này là tưởng xương trắng phát ra ánh sáng, ông hãy cẩn thận chớ để quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ hụng hành.

Ðắc quán này gọi là quán xương trắng phát ra ánh sáng thứ 11 xong.

 

XII. Ðức Phật bảo A-nan, đắc quán này rồi lại phải dạy cách buộc tâm trụ ý quán kỹ xương sống. Dùng sức định tâm tưởng một lầu cao ở giữa xương sống. Tự quán thân mình như người ngọc trắng ngồi kiết già. Dùng ánh sáng xương trắng chiếu khắp tất cả. Lúc quán như thế khiến rất rõ ràng. Ngồi đài này rồi, như người có thần thông đứng trên đỉnh núi Tu-di, xem thấy bốn phương không có chướng ngại. Tự thấy thân cũ rõ ràng phân minh. Thấy những người xương trắng như ngọc tuyết, hàng hàng hướng vào nhau. Thân thể hoàn toàn đầy đủ, không một ai không toàn vẹn, đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới. Ðây gọi là tưởng ánh sáng trắng đã thành. Kế thấy xương dọc cũng đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy xương ngang cũng đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Thấy người xương màu xanh, hàng hàng hướng vào nhau đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người xương màu đen, hàng hàng hướng vào nhau, đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người trương phình, hàng hàng hướng vào nhau, đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người bịnh ghẻ mủ, lại thấy người thân máu mủ nhơ nhớp đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người hư nát toàn thân, trùng bò ra đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người thân phủ lớp da mỏng, đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người da xương lìa nhau, đầy ba ngàn đai thiên thế giới. Lại thấy người đỏ như màu máu, đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người sắc như nước đục đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người sắc như bùn đọng đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Lại thấy người xương trắng đủ lông tóc răng móng cùng liên kết với nhau đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Kế thấy 363 khớp xương rời ra, chỉ chống lên nhau một góc. Người xương như thế đầy ba ngàn đại thiên thế giới.

Kế thấy người mà mỗi đốt xương chia lià nhau ra bằng ba ngón(? ),khoảng giữa có ánh sáng trắng đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Kế thấy người xương trắng phân tán ra, chỉ có ánh sáng trắng liên kết nhau đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Như thế sẽ thấy số người xương trắng rất nhiều không thể nói hết.

Lúc đắc quán này sẽ khởi tưởng niệm thân này của ta từ tứ đại sanh khởi, chủng tử ngọn ngành cho đến sự bất tịnh như thế thật rất đáng lo sợ chán ngán. Cảnh giới như thế từ tâm ta khởi. Tâm tưởng thì thành, không tưởng thì không thấy. Nên biết tưởng này là giả quán, thấy theo hư vọng, thấy thuộc các nhân duyên. Nay ta nên quán nhân duyên các pháp. Sao gọi là nhân duyên các pháp? Nhân duyên các pháp từ tứ đại khởi. Tứ đại là đất nước lửa gió. Lại nên quán gió từ bốn phương khởi. Từng cơn gió giống như rắn lớn, đều có bốn đầu trên hai dưới hai. Trong rất nhiều tai đều phát ra gió. Lúc quán này thành gió biến thành lửa. Từng con rắn độc phun ra các núi lửa. Núi cao ngất rất đáng sợ hãi. Có các dạ-xoa đứng trong núi lửa, thân chuyển động hút lửa, lỗ chân lông phát ra gió. Biến trạng như thế đầy khắp một nhà. Ðầy một nhà rồi lại đầy hai nhà. Ðầy hai nhà rồi lần lần rộng lớn đầy một do tuần. Ðầy một do tuần rồi đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Ðầy ba do tuần rồi lại chuyển rộng lớn đầy Diêm-phù-đề. Thấy các dạ-xoa ở trong núi lửa hút lửa đội núi, lỗ chân lông phát ra gió, kinh hoàng chạy khắp Diêm-phù-đề. Lại sợ dạ-xoa nhân đó bức bách hành giả. Lúc thấy việc này tâm rất kinh sợ nên cần đổi phép quán. Ðổi phép quán là trước quán tượng Phật đoan nghiêm trong các hỏa quang, nhất nhất tưởng tượng Phật một trượng sáu. Lúc tưởng này thành lửa dần dần tiêu tan biến thành hoa sen. Rất nhiều núi lửa như vàng ròng tụ tập trong ngoài chiếu suốt. Các quỷ dạ-xoa như người ngọc trắng. Chỉ có phong đại quay lại thổi dịu dàng các hoa sen. Vô số hóa Phật đứng trong hư không phóng hào quang lớn như núi kim cang. Lúc đó gió lặng bất động. Bốn con rắn độc phun nước. Nước ấy năm màu đầy khắp một cái giường. Ðầy một giường rồi lại đầy hai giường. Ðầy hai giường rồi kế đầy ba giường. Như thế cho đến đầy khắp một nhà. Ðầy một nhà rồi kế đầy hai nhà. Ðầy hai nhà rồi kế đầy ba nhà. Như thế cho đến đầy khắp mười nhà. Ðầy mười nhà rồi, trong nước năm màu, mỗi màu đều có ánh sáng trắng như cờ pha lê. Có mười bốn lớp nước trắng đoạn đoạn đều trống không, vọt ra trụ lại trong hư không.

Lúc tưởng này thành, hành giả tự thấy có một con rồng độc trong tim bên trong thân. Rồng có sáu đầu, quấn tim bảy vòng. Hai đầu phun nước, hai đầu phun lửa, hai đầu phun đá, trong tai phát ra gió. Mỗi lỗ chân lông của thân sinh ra ra chín mươi chín con rắn độc. Những con rắn như thế hai trên hai dưới. Các con rồng phun ra nước từ dưới chân, chảy vào nước trắng. Như thế dần dần đầy một do tuần đều thấy việc này. Ðầy một do tuần rồi lại đầy hai do tuần. Ðầy hai do tuần rồi đầy ba do tuần. Như thế cho đến đầy Diêm-phù-đề. Ðầy Diêm-phù-đề rồi, lúc đó rồng độc từ bụng bò ra dần dần hướng lên vào trong mắt. Từ mắt mà ra trụ trên đỉnh đầu. Bấy giờ trong nước có một cây lớn, cành lá xòe ra bốn bên che khắp tất cả. Như thế rồng độc không lìa thân mình(?) le lưỡi trên cây. Trên lưỡi của con rồng này có tám trăm quỷ. Có quỷ thần đội núi trên đầu, hai tay như rắn, hai chân giống chó. Lại có quỷ thần đầu giống đầu rồng. Lỗ chân lông của toàn thân có trăm ngàn mắt. Trong mắt lửa phát ra. Răng như núi dao uyển chuyển trên đất. Lại có ác quỷ, mỗi quỷ có 99 đầu, 99 tay ( ?), hình trạng của đầu cực kỳ xấu xí, giống chó, dã can, chồn, mèo, cáo, chuột. Những quỷ này cổ đều đeo con khỉ. Những ác quỷ này du hý trong nước, hoặc có con nhảy nhót vọt phóng lên cây. Có quỷ dạ-xoa trên đầu lửa cháy. Những con khỉ này dùng nước diệt lửa, nhưng không chế ngự được, bèn khiến tăng lên. Lửa dữ dội này từ trong nước, bên cạnh cờ pha lê bỗng nhiên cháy mạnh đốt cháy cờ pha lê chảy ra như vàng ròng chói lọi, kế tiếp nhau vòng quanh thân mười vòng rồi trụ trên hành giả như cái lộng vàng thật. Có các mạng lưới phủ khắp trên cây. Lộng vàng ròng này đầy đủ ba lớp. Bấy giờ dưới đất bỗng nhiên lại có bốn đại ác quỷ, có trăm ngàn tai. Tai vọt ra nước và lửa. Trong lỗ chân lông của thân mưa các bụi nhỏ.Trong miệng thổi ra gió tràn đầy thế giới. Có 84.000 qủy la-sát, hai răng xỉ lên cao một do tuần. Trong lỗ chân lông của thân lửa sấm sét nổi lên. Chúng quỷ như thế chạy giỡn trong nước. Lại có hổ lang, sư tử, chó sói, heo, chim thú từ núi lửa túa ra du hý trong nước. Lúc thấy việc này thì lớp lớp người xương đầy cả thế giới Sa-bà. Lúc mỗi người đưa tay phải lên thì các la-sát tay cầm chỉa đưa cao, những người xương tụ tập một chỗ. Bấy giờ lại có người xương chín màu hàng hàng thứ tự đi đến chỗ hành giả. Trăm ngàn cảnh giới quá nhiều như thếâ không thể nói hết.

 Ðức Phật bảo A-nan: Lúc tưởng này thành gọi là quán tứ đại. Ông khéo thọ trì, cẩn thận chớ để quên mất.

Bấy giờ A-nan nghe Ðức Phật nói vui vẻ phụng hành.

Lúc tưởng này thành gọi là quán địa đại, quán hỏa đại, quán phong đại, quán thủy đại thứ 12. Cũng gọi là 98 cảnh giới kiết sử.

Quyển 1| Quyển 2Quyển 3Quyển 4

---o0o---

| Thư mục Tác Giả |

---o0o---


Vi tính: Thích Đức Tuấn
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật : 01.02.2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thiền Định Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com