Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


...... ... .

 
 

TIẾU DÃ KHÔNG TẬP

Hạnh Chiếu

---o0o---
 

 

LỜI ĐẦU SÁCH

 

Tiếu Dã Không Tập chỉ là một nụ cười quê trong gió trong không. Vậy thôi. Thế nhưng ở đó hơi thở sẽ thông hơn, cuộc sống sẽ thật hơn. Hòa điệu an thường.

Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm một hôm đi kinh hành trên núi, chợt mây tan thấy trăng sáng, Ngài cười một tiếng chọc thủng cả hư không. Tiếng cười ấy, âm ba đến nay vẫn còn. Ở đây, tác giả không dám mơ một nụ cười lớn như thế, chỉ xin được cùng pháp lữ muôn phương đơn sơ trong một nụ cười quê. Thiệt tình.

Được thế,

Dù trước mắt mọi thứ rộn ràng, ta vẫn từng bước đi qua, gác lại muộn phiền. Sống vô tư hồn nhiên giữa bao được mất thăng trầm thì còn gì thích thú bằng! Vui buồn, sướng khổ hòa âm giao hưởng trong Không điệu. Vi vu. Vi vu…

Đó là tất cả những gì tập sách mong muốn, gởi gấm. Độc giả đồng điệu nếu không câu nệ, xin bỏ qua cho những tiểu tiết quê mùa của Tiếu Dã Không Tập.

Cuối Hạ 2002, Thiền viện Linh Chiếu

Hạnh Chiếu

1.Mùa Xuân trên Côn Sơn

 

Mùa xuân trên Côn Sơn, trời vẫn còn lạnh lắm. Tôi tiếc không đem theo chút trà để dâng Sư. Hồi đó Sư thích uống trà. Gần hai mươi năm trong chốn quan trường, giàu sang phú quý Sư vẫn xem thường. Đến cuối đời, Sư chỉ vui với “một giường gió mát một chung trà”.

Tôi thích Thiền sư Huyền Quang không phải vì Ngài là một danh quan, một nhà thơ lớn, một Đệ Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử; mà có lẽ trên tất cả, vì Ngài đã từ bỏ mọi thứ ấy để làm ông tăng nhàn ở núi, tay gõ mõ tay nâng sáo, chơi với gió đùa với mây, vậy thôi. Ở Sư, tâm hồn của một tăng sĩ siêu việt nhi nhiên đã hòa nhập với tâm hồn của một nghệ sĩ phóng khoáng tài hoa, phá toang những khuôn thước định sẵn, tự tại đi vào đời.

Củi hết, lò còn vương khói nhẹ,

Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh.

Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo,

Thiên hạ cười ta, cứ mặc tình.

Ổi dư cốt đốt độc phần hương,

Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương.

Thủ bả xuy thương hòa mộc đạc,

Tùng giao nhân tiếu lão tăng mang.

Khéo và đẹp lạ thường! Nhưng nếu không phải là Đệ Tam Tổ Huyền Quang thì làm sao được như vậy. Nâng ống sáo thổi khúc tâm kinh, mượn sợi khói thay cho lần “có mặt”. Bình dị mà siêu thoát đến vô cùng. Thiên hạ ai dám cười?

Thật ra, từ nhỏ Sư đã khác người. Hình dung kỳ lạ, học một biết mười, rất có tài văn chương nhưng không ưa công danh sự nghiệp ở đời. Năm 20 tuổi đậu trường Hương, sang 21 tuổi đậu luôn trường Hội. Hay tin Sư đỗ Trạng Nguyên, vua chọn làm Phò mã. Sư không chịu đòi vào chùa, nhưng vua không cho nên bất đắc dĩ Sư phải làm quan. Đến 51 tuổi Sư mới được thỏa niềm riêng.

Hôm gặp Sư với chiếc nạp tăng ở chùa Vĩnh Nghiêm, Điều Ngự hài lòng lắm, cho theo làm thị giả liền. Và từ đó, Yên Tử sơn, Côn sơn, Thanh Mai sơn trở thành chỗ ẩn thân của Sư. Đến khi đã chính thức là người nối Tổ đăng, được ngài Pháp Loa trao tâm kệ và truyền y của Điều Ngự cho, trở thành Đệ Tam Tổ, lãnh đạo Giáo hội Yên Tử, nhưng Sư vẫn không rời núi để trở về chốn đô thị là trụ sở Trung Ương ở chùa Quỳnh Lâm. Không gì có thể trói buộc được Sư. Thế cũng đủ thấy ý chí thoát tục nơi Người.

Tôi đến Côn sơn vào giữa Xuân năm đó. Nhưng tôi hiểu, với Sư mùa Xuân đến bây giờ vẫn còn. Bởi vì không có ngày tháng năm cho một sơn tăng ở chốn chân mây. Chỉ có “lòng thiền vằng vặc” giữa mấy từng núi xanh xanh, nước cũng xanh xanh. Khiến cho bao kẻ cùng tử lang thang, dù chỉ một lần ghé đến nơi này cũng mong được cái phút dừng chân. Cốc vắng. Thiên nhai. Bóng thiền tăng trải dài suốt vạn niên Xuân.

Tôi còn nhớ bài “Xuân nhật tức sự” của Sư đã làm chấn động trong giới thiền môn lẫn giới thi ca, xưa cũng như nay:

Nhị bát giai nhân thích tú trì,

Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.

Khả liên vô hạn thương xuân ý,

Tận tại đình châm bất ngữ thì.

 

Tức cảnh ngày Xuân

Mỹ nhân thêu gấm, dáng tuyệt vời,

Chim đùa oanh hót, khóm hoa chơi.

Quá thương vô hạn, thương Xuân ý!

Là lúc dừng kim, chẳng thốt lời.

Không giật mình sao được, khi một bài thơ Xuân ý tứ như vậy lại được viết ra từ bậc Trưởng lão của núi rừng Yên Tử. Đối với sơn tăng, có nghĩa gì đâu một chút kiều diễm của mỹ nhân trong mùa Xuân ngắn vội. Chẳng lẽ Thiền sư lại thả trôi lòng mình trong một phút dạt dào mộng mị? Cái độc đáo của Sư là ở chỗ đó. Cái hơn người cũng ở chỗ đó. Bởi vì có gì đẹp hơn một buổi sáng nắng ấm trời trong, hoa nở, chim hót, người con gái đôi tám xuất hiện mượt mà trên nền trời Xuân với dãy lụa đang thêu dang dở. Tả cảnh Xuân như vậy thì không còn gì bằng.

Nhưng thật bất ngờ, Sư lại hạ bút: “Quá thương vô hạn, thương Xuân ý. Là lúc dừng kim, chẳng thốt lời”. Cái ý Xuân của Thiền sư nếu không có lời này thì bài thơ có lẽ đã chết mất rồi. “Dừng kim, không nói” chính là kết quả, là hoa trái của bao năm Sư theo Điều Ngự, Pháp Loa về núi ươm mầm, gieo hạt; không thương tha thiết sao được! Thôi thì người có trách cũng cam. Một thoáng mỹ miều của ráng mây hồng điểm lên bầu trời Không, càng đẹp chớ sao. Chỉ có điều, mùa Xuân bất tận của Sư không biết được mấy kẻ tri âm? Ung dung tiêu sái, không vướng trần lao, chẳng trệ pháp mầu là nét đẹp trong thơ Sư. Điều Ngự có được Sư, tức là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có được một trời Xuân miên viễn.

Tôi rời Côn sơn khi trời chưa tắt nắng. Mùa Xuân vẫn còn. Xe vòng qua những khúc quanh uốn lượn trong rừng thông làm cho tôi nhớ đến Đà Lạt với Thiền viện Trúc Lâm của Thầy tôi. Rời Côn sơn, rời những đồi hoa, những rặng tùng im tiếng, những tòa cổ sái cao ngất ngất trời mây, những non, những nước, những tăng, những tục, những Xuân, những Hạ, những Thu Đông… nhưng tôi không để lại một lời từ giã nào. Bởi vì tôi biết, sẽ có ngày mình trở lại.

 

2. Cho những khoảng Chân Không

 

Viết vào thời gian Thầy rời Chân Không về Thường Chiếu.

Rồi tôi cũng về thăm lại Chân Không.

Nhớ chiều hôm xưa, sau khi chuyển xong những viên đá cuối cùng từ Chân Không về Thường Chiếu, tôi đã lặng lẽ trở lên nền thiền đường đổ nát, cung kính cúi đầu trước tất cả những gì ngày hôm qua vẫn còn đó mà bây giờ thoáng chốc đã trở thành tro bụi. Chợt lúc ấy một con chim mỏi cánh vẽ ngang nền trời một làn khói bạc. Mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên được cái vùng trời thương mến.

Ngọn núi Tương Kỳ này hơn ba mươi năm về trước, Sư phụ tôi đã dùng đầu gậy thay thế đầu cọ vẽ lên nền sơn trung một từng núi tươi xanh có lá tùng reo, có lan sứ cười. Rồi mái thiền đường, đồi Tự Tại, đường Tiêu Dao, ngõ Thạch Đầu… sương và hương đầy trời lan tỏa. Tu viện vì thế uy nghiêm trong lặng lẽ, đẹp và hiền như màu núi khiêm cung.

Và cái tên Chân Không, ngoài ý nghĩa vượt ngôn từ của nó, Thầy tôi còn gởi gấm vào đó tất cả tâm thành tưởng niệm một Thiền sư nước Việt, suốt đời gắn bó với rừng sâu núi thẳm để tìm lại chính mình.

Thiền sư Chân Không (1045-1100) họ Vương, tục danh Hải Thiềm, quê làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Lúc mẹ mang thai Sư, cha mộng thấy vị tăng trao cho cây tích trượng. Sau đó sinh ra Sư. Thuở nhỏ, Sư thích ở riêng một mình, xem kinh đọc sách. Năm 15 tuổi Sư đã rất giỏi. Đến 20 tuổi Sư xuất gia dạo khắp các tùng lâm tìm nơi khế hợp.

Sau, Sư dừng trụ ở núi Từ Sơn, tự lấy giới luật giữ mình, suốt 20 năm không hề xuống núi. Tiếng lành đồn xa, vua Lý Nhân Tông cảm đức Sư, nên thường vời vào Đại Nội giảng kinh, vấn đạo. Tuy thế, Sư vẫn giữ được cốt cách đạo phong của một sơn tăng thoát tục. Khi sắp tịch, Sư báo tin và để lại một bài kệ cho tứ chúng:

Diệu bổn hư vô minh tự khoa,

Hòa phong xuy khởi biến Ta-bà.

Nhân nhân tận thức vô vi lạc,

Nhược đắc vô vi thủy thị gia.

Dịch:

Diệu bổn thênh thang rõ tự bày,

Gió hòa thổi dậy khắp Ta-bà.

Người người nhận được vô vi lạc,

Nếu được vô vi mới là nhà.

Đến nửa đêm, Sư lại bảo: “Đạo của ta đã thành, ta giáo hóa đã xong. Vậy ta tùy ý ra đi”. Bèn ngồi kiết già mà tịch, thọ 55 tuổi, được 36 tuổi hạ.

Quả là Chân Không mà Diệu hữu. Công Bộ Thượng Thư Đoàn văn Khâm có làm bài thơ truy điệu Sư rất hay:

Hạnh cao triều dã chấn thanh phong,

Tích trụ như vân mộ tập long.

Nhân vũ hốt kinh băng tuệ đống,

Đạo lâm trường thán yển trinh tòng.

Phần oanh bích thảo thiêm tân tháp,

Thủy trám thanh sơn nhận tạ dung.

Tịch tịch thiền quan thùy cánh khấu,

Kinh qua sầu thính một thiên cung.

Dịch:

Trong triều, ngoài nội kính gia phong,

Chống gậy, đường mây quyện bóng rồng.

Cửa từ chợt hoảng rường cột đổ,

Rừng đạo bùi ngùi cội thông long.

Cỏ biếc quanh mồ thêm tháp mới,

Non xanh nước thắm gởi thân trong.

Vắng vẻ cửa thiền ai đến gõ,

Văng vẳng chuông chiều nát cõi lòng.

(Thiền sư Việt Nam - HT. Thanh Từ)

Chân Không! Nơi đã ấp ủ thiền tăng xưa và nay. Những con người tìm vui với chập chùng ghềnh đá chênh vênh, dẫn lên đỉnh núi trắng mù sương. Thì, thoát một cái, Chân Không đi vào thuở hoang sơ như một lần thị hiện phiêu bồng trong cõi sắc không.

Câu chuyện Chân Không có gì quen thuộc với câu nói của Thiền sư Duy Tín: - Trước 30 năm ta thấy núi sông là núi sông. Khi gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy, ta thấy núi sông không phải là núi sông. Sau 30 năm ta lại thấy núi sông là núi sông. Phải chăng cái vòng sinh, trụ, dị, diệt chính là thiện hữu tri thức của toàn bộ cuộc đời?

Thế thì, Chân Không ơi! Cho Thầy tôi cảm ơn dòng thác vô thường đã trôi chảy không ngừng. Cảm ơn vầng đông ló dạng rực ánh hồng hay trời tây ngã bóng ngập nắng vàng. Để cho sợi nắng lung linh vẻ đẹp khi chuyển mình ngang qua cái nhìn đầu tiên chưa kịp phân ngã sở. Phải chăng thiên nhiên diễn lẽ “hằng” ngay trong lòng sanh diệt và đóa hoa vô thường hé nụ cho điểm nhụy chân thường hiển lộ dưới đáy mắt sơn tăng.

Xuống đến chân núi, tôi vẫn còn ngẩng lên sơn thượng với một tia hy vọng chân thành. Một tia hy vọng mà những ai đã hơn một lần ghé đến Chân Không cũng có ít nhiều mong đợi

 

 

3. Kể chuyện năm xưa.

Viết cho Kỷ yếu 15 năm Linh Chiếu - 1995

Tôi đến Linh Chiếu vào mùa An cư năm 1981. Mười bốn năm trôi qua như giấc mộng, kỷ niệm đong đầy, chua chua ngọt ngọt, ngon tợ ô mai.

Cầm viết viết lại những giấc mộng quả là một chuyện ngô nghê. Thế nhưng, biết đâu chừng, hôm nào đó tự trong chiều sâu của những cơn mộng mị, ta thức dậy và chợt phát hiện ra rằng đâu có cái gì chia cách giữa đôi bờ mộng thực. Thế thì, nhắc lại chút kỷ niệm cho vui, cho mỗi lần hoài nhớ là mỗi lần ta có dịp cảm tạ tri ân.

Hồi đó chùa còn nghèo, chị em có mười mấy đứa, sống với nhau thiệt tình. Thương ra thương, giận ra giận, khóc ra khóc, cười ra cười đàng hoàng. Để rồi cuối cùng lại “thấy nhói buốt tim hồng khi nhìn người thân chia ly ra đi” (nhạc Sư cô Thuần Trí).

Tôi còn nhớ, lúc đó quý Sư cô còn trẻ măng, chưa vào tuổi tứ tuần. Mỗi sáng cũng chít khăn vuông ra đồng với chúng, thương chúng có tiếng. Lần nào đi chợ, Sư cô Phó cũng mua bánh bao chỉ về cho tụi tôi ăn lỡ buổi. Vì thế mỗi khi thấy Sư cô vừa thắng xe đạp là tụi tôi chạy ùa ra đón… cái giỏ. Có hôm hết tiền không có bánh, mấy chị em xách cái giỏ đi vô tiu nghỉu buồn hiu, báo hại Sư cô phải luýnh quýnh chạy vào bếp, moi móc lục lạo thứ khác đền bù cho bầy em.

Lần đó tôi bị bệnh, thèm ăn đậu hũ quá sức. Ai đến thăm, tôi cũng năn nỉ: “cho xin miếng đậu hũ đi”. Trời ơi, lúc đó tương rau không đủ ăn, có đâu tới đậu hũ! Vậy mà nghe tôi nằn nì, Sư cô Thủ Bổn cầm lòng không đậu, phải chạy qua hàng xóm “mượn” đậu hũ về cho tôi ăn. Ăn xong, tôi hết bệnh. Sau này, mỗi lần nhắc đến chiến tích đời tư, mấy chị em nhất định không tha cho tôi cái chuyện ấy. Thiệt là “xin miếng đậu hũ mà thành thiên thu”.

Có lẽ nhờ thế biết bao cơ cực, gian khổ, lao lung, chúng tôi cũng đều có thể vượt qua. Đầu đội trời, chân đạp đất, bận đồ tắc kè (áo vá vải bông đủ màu) không biết mắc cỡ là gì. Chị em cùng nhau xông bờ lướt bụi, vào ruộng ra rẫy miễn sao có cơm ăn áo mặc, tu được là đủ rồi. Tu trong bận rộn không chưa oai, chúng tôi tu luôn trong hồi hộp cho xứng danh. Một trong những kỷ niệm khó quên nhất của tôi vẫn là cái lần ấy…

Số là tôi với Bổn cùng làm rẫy. Ban rẫy có hai người, Bổn trưởng tôi phó. Vì vậy việc gì khó thì Bổn làm tôi nghỉ, việc gì dễ thì tôi nghỉ Bổn làm, chuyện này ai cũng biết. Hôm đó, tôi kéo nước, Bổn gánh tưới, thình lình dây đứt, thùng nước rơi xuống giếng (ngày xưa chỉ có giếng cần vọt, chớ không có giếng quay hay giếng đóng như bây giờ). Thế là đổ nợ, phải xuống giếng lấy thùng lên. Và dĩ nhiên chuyện xuống giếng là chuyện của Bổn, chớ không phải chuyện của tôi. Nhưng rắc rối là hôm đó Bổn bệnh, không thể xuống giếng được. Dòm tới dòm lui, không thấy ai ngoài tôi, Bổn bấm bụng hỏi:

- Chiếu xuống giếng được hông?

Nhìn cái giếng không cạn không sâu đủ để cho dân học trò như tôi rợn người khi nghĩ tới chuyện phải lặn xuống đó, gặp lúc mùa mưa nước nhiều nữa chứ. Tôi ngập ngừng hỏi lại:

- Nước sâu hông?

- Hông. Tới ngực hà, cao lắm là tới lỗ mũi thôi. Chết chóc gì mà sợ.

- Tui hổng biết lội đó nha Bổn.

- Xì! Cạo đầu còn dám, xá gì chuyện xuống giếng. Vậy mà nói “Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ” (kia trượng phu, ta đây cũng trượng phu) cái nỗi gì?

Bổn xuất chiêu quá đẹp, tôi trúng tên liền, bèn quyết định cái rụp: “Thôi được, chuyện nhỏ”. Thế là cây cần vọt được Bổn thả xuống chờ đợi. Lần đầu tiên trong đời, phiêu lưu ký bất đắc dĩ kiểu này, tôi chỉ còn nước nhắm mắt, nín thở, bóp bụng… cầu Phật trời gia hộ. Hai, ba! Tôi đu một cái vào cây cần vọt rồi tuột xuống từ từ, trong tâm dứt bặt vọng tưởng, vô ký, hôn trầm.

Vừa để đôi chân vào hai cái lỗ ở thành giếng thì “bựt” một cái, cây cần vọt gãy ngang, tôi chỉ kịp “á” lên một tiếng rồi bặt vô âm tín. Phần sợ, phần hết hồn, loi ngoi trong nước lâu hết sức tôi mới ngóc đầu dậy được. May quá nước chỉ mới tới cần cổ. Tôi nghe cái bụng óc ách, tim đập ình ình, tưởng đâu trên kia chắc Bổn cũng xính vính lo lắng cho mình, ai dè dòm lên tôi thấy Bổn cười như điên. Tức khí, không thèm cầu cứu, tôi vẫy tay chào luôn: “Cho tui kính lời thăm Thầy và toàn thể đại chúng nghe Bổn”.

Đến bây giờ nhớ lại, thật là có những con đường chân rong qua nửa bận mà nhớ suốt bình sinh. Nhưng kể từ đó, tôi không còn sợ bất cứ việc gì cả, dù lặn xuống giếng hay leo lên nóc nhà. A! Chuyện lên nóc nhà, lại cũng là chuyện lịch sử.

Ai đời con gái mà lại vắt vẻo trên mấy cây đòn tay, dưới này lại toàn là thanh niên thợ thầy. Nói thiệt, lần đầu ông già bắt leo lên lợp nhà, tôi run thì ít mà mắc cỡ thì nhiều. Nhưng riết rồi quen, chúng tôi đâm nghiền. Mái lá nào của Linh Chiếu, mấy chị em cũng xúm nhau leo lên vừa lợp vừa đua, đến quí thầy Thường Chiếu cũng phải chào thua.

Không dừng lại ở cái chuyện lợp nhà. Lần đó, nổi máu nghệ sĩ, tôi rủ Nguyên qua Thầy xin tiền cất một cái chòi thượng, vừa để giữ rẫy, vừa để… ngắm cho thỏa chí bình sinh. Ký giấy phép xong, một tuần sau Thầy giật mình khi hay tin mười hai giờ trưa, đám con gái của mình bất kể sống chết, đòng đưa trên hai cây thang tre được nối nhau bằng sức người, để gác cây đòn dong và lợp mái nhà thượng cao vút.

Nửa tháng trôi qua, cái chòi cất xong. Mái tranh duyên dáng xuôi xuôi quớt quớt, phập phều trong gió. Tôi lo sợ không dám thỉnh Thầy thượng sàn, nhưng vẫn treo sẵn chiếc võng trên đó cho phải đạo và ngỡ rằng Thầy sẽ quên đi nếu mình không nhắc. Ngờ đâu hôm ấy, mấy chị em đang lui cui kê tấm dalle dưới chân sàn để ngồi chơi thì thấy Thầy dẫn phái đoàn nữ nghệ sĩ nổi danh Bạch Tuyết nhắm thẳng cái chòi tiến lên. Đoàn người bước tới đâu cái sàn nhún tới đó. Chiếc võng kẽo kẹt của Thầy đong đưa làm cho bốn cây cột tre chèo tới chèo lui như thuyền ra khơi. Nhưng Thầy vẫn vui vẻ nhìn khách rồi long trọng tuyên bố:

- Hôm nay Thầy khánh thành cái chòi tranh do tự tay mấy cô ở đây cất lấy. Xấu đẹp gì không biết, nhưng Thầy thích của báu trong nhà. Cái chòi này cũng hơi có nét nghệ sĩ nên Thầy dẫn tụi con đến thăm. Vậy con có gì hay hãy đem ra biểu diễn góp vui.

Cô Bạch Tuyết liền cất cao giọng:

- Chiếc thân tứ đại khói, sinh hoạt thế gian mây, thành công khối nước đá, thất bại chùm bọt tan… chung cuộc cơn gió thoảng, viên mãn bầu trời trong.

          (Thơ: HT. Thanh Từ - Nhạc: Bạch Tuyết)

Thầy gật đầu hoan hỷ. Ngoài kia đám rẫy xanh um, cái chòi hiện lên rung rinh trong gió nhưng vẫn nằm đó như một phép lạ. Chơi một chút khách được dẫn đi. Bọn tôi thở phào nhẹ nhõm.

Ba bữa sau trở ra, mái tranh nghiêng một góc 60o. Tôi kinh hãi trong khi Tường tỉnh bơ:

- Ha! Có gì đâu. Quăng dây kẽm gai lên, cột vào đòn dong xiết chặt, ghì xuống, quấn vô sắt ấp chiến lược, đóng xuống đất. Trời gầm cũng hổng ngã.

Kế hoặch được duyệt và thực thi ngay. Quả thật cái chòi thượng đến nay vẫn còn, còn trong lòng mỗi đứa ngày xưa. Nhưng cái xác của nó đã rạp xuống ngay sau đó không lâu.

Công việc mần ăn đã lạ mà chuyện tu hành còn lạ lùng hơn nữa. Để gạn lọc thân tâm, thiểu dục tri túc, phong trào phát nguyện nhịn ăn hoặc ngày ăn một bữa bắt đầu xuất hiện. Trong số đó có chị Tường tôi. Buổi trưa sau khi chán chê ê chề một bụng, sư phát nguyện không ăn chiều. Xế hôm sau trị nhật năn nỉ đại chúng độ dùm bún ế, khởi đại bi tâm, sư vớt luôn ba tô và phát nguyện lại: Cần thì ăn, không cần thì thôi.

Linh Chiếu có thông lệ, phong trào nào cũng chỉ được ba bữa. Thiệt vậy, sau khi thấy các tôn giả hành kỳ hạnh (hành cái hạnh kỳ cục) sắp lết, Sư cô Trụ trì khẩn trương ban hành đạo luật mới:

- Cấm đại chúng không được nhịn ăn trị bệnh hay ngày ăn một bữa. Yêu cầu mấy huynh đệ sống bình thường, ai sao mình vậy, đừng làm gì khác hơn.

Thế là xong một chiến dịch.

Nghe nói chúng ham tu nhưng cực khổ quá, không có thì giờ hạ thủ công phu, Thầy liền cho dựng lên mấy cái thất lá để thử sức thử lòng. Lần đầu được vào thất, chắc nổi chí xung thiên, cũng sư Tường ba giờ khuya xách bồ đoàn tọa cụ ra giữa trời ngồi lim dim chờ giờ sao Mai mọc. Được mấy bữa, sao chưa kịp mọc, sư đã nằm dẹp tuần lễ. Lý do cảm nhập lý.

Nối tiếp truyền thống vô quái ngại của đám lớn chúng tôi, mấy đứa Linh sau này cũng chẳng thua gì. Hôm nọ đang dùng tiểu thực sáng, bỗng chúng tôi nghe Sư cô Trụ trì triệu Linh Trúc lên Quả đường:

- Con à con, Thầy nghe nói con ngồi thiền trên chảng ba cây đào, phải không con?

- Dạ…

- Thôi! Cho Thầy xin đi con. Thà làm một chúng sanh lành lặn còn hơn làm một ông Phật cà thọt, khổ lắm con ơi. Kệ, hổng thẳng tu, chậm mà chắc nghe con, làm ơn vô Thiền đường ngồi dùm Thầy. Thầy hồi hộp quá, tóc bạc hết rồi nè con.

Đó là điểm qua vài thành tích lẻ tẻ cá thể không nhằm gì, chuyện tập thể mới đáng lưu tâm.

Tối hôm đó, phái đoàn Phật tử Châu Đốc lên Thiền viện nhằm giờ tọa thiền. Sau một vòng nhiễu quanh Tăng bảo cung kính, bà Năm khều bà Ba nói nhỏ:

- Chị Ba à, ở đây mấy cô “lên” cũng giống Cậu dưới mình quá tay. Chà! Coi kìa.

- Xuỵt! Đừng nói bậy tội chết. Mấy cô đang đuổi ma đó.

- Chèng đéc ơi, vậy ha! Đuổi ma gì a chị Ba?

- Ma ngủ!

Nhưng mới đây, trong ngôi Thiền đường chánh hiệu, toàn thể dân Linh Chiếu, em chị chú cháu chia thành bốn hàng ngồi thẳng tắp, im re. Không biết thấy dáng dấp mặt mũi chúng tôi khôi ngô tuấn tú cỡ nào mà vừa xả thiền ra, Sư cô Thủ Bổn liền xuất khẩu thành thơ:

Ngôi thiền đường trang nghiêm rực rỡ,

Đại chúng ngồi tư thế lặng yên,

Như quên đi tất cả ưu phiền,

Chỉ sống lại “bản lai diện mục”.

Sư cô vừa dứt lời, một tràng pháo tay vang lừng. Tôi không biết địa chỉ của bà Năm ở đâu để tin cho bà rõ, mấy cô trên này hết “lên” rồi nghen!

Linh Chiếu chư thiền đức hành trạng còn dài, xin dành lại cho người sau kể tiếp…

Nơi đây,

Tôi chỉ tạm mượn đôi tháng ngày với cuộc sống và những con người đã qua, để nói lên cái còn lại hôm nay. Không thanh thoát diệu kỳ như Trúc Lâm, không đường bệ uy nghi như Thường Chiếu, không tài hoa lỗi lạc như Viên Chiếu, không tươi mát son trẻ như Huệ Chiếu - Phổ Chiếu; Linh Chiếu chỉ là một cô gái quê miền Nam bộ rụt rè bước vào tuổi xuân thì, chân chất hiền lành với một chút duyên ngầm vậy thôi. Thế nhưng, tôi luôn trân quí những đường nét hôm nay của Linh Chiếu như trân quí sự hiện diện của một cụm rêu xanh bên cội tùng trăm trượng, âm thầm lặng lẽ, nhưng hiển hiện tròn đầy với vẻ đẹp kín đáo khiêm cung.

Còn con người nơi đây thì… tôi e ngại ngôn năng. Xin mời bạn cứ đến, đến rồi sẽ biết.

 

 

4.Về Trúc Lâm

Trời hừng sáng, nhưng Đà Lạt vẫn còn chìm trong sương mù. Khí lạnh trèo ngang đỉnh non rồi lặn xuống vực sâu, để bất thình lình vụt lên làm cỏ cây rùng mình. Tôi trùm kín chiếc áo mưa vào người, nắm tay Tường rẽ sương mù mà đi.

Thầy đã đợi nãy giờ.

Mưa và lạnh. Nhưng Thầy trò vẫn cứ đi. Đứng trước khoảng sân rộng, toàn cảnh Trúc Lâm hiện ra với chánh điện, lầu chuông, tham vấn đường, đệ nhất đệ nhị đệ tam cổng, đồi Thanh Lương, hồ Tĩnh Tâm, khúc suối lưng trời, cánh nhạn chân mây… Non vờn trên nước, nước trên non! Nhưng, đó không phải là tất cả những gì tôi muốn nói.

Chiều qua, theo Thầy xuống đập. Tôi vẫn còn nhớ cái làn nước mỏng như gương, tuôn chảy ở đầu ghềnh và trở thành dòng thác đổ trắng xóa nơi cuối đập. Bất giác, tôi thốt lên: “Ồ! Đẹp quá.” Nhưng đáng nhớ hơn vẫn là câu hỏi của Thầy vào sáng nay:

- Sao dòng đời cũng thế, như một ráng nước trôi, mỏng manh, vô thường, tuôn chảy… mà tụi con lại không thấy đẹp?

Tôi tắt ghẽn. Không một câu trả lời. Trong yên lặng, Thầy trò lại tiếp tục đi. Để bất ngờ qua một rặng thông già, đồi Thanh Lương hiện ra với chiếc thạch kỷ nằm sâu trong một khúc quanh.

Và, những lời lẽ của Thầy mới thực sự cho tôi những suy nghĩ trên khúc quanh ấy.

 - Có những cuộc đổi thay đã cho ta nụ cười. Nhưng cũng không ít lần sự thay đổi làm trào tuôn nước mắt. Song thật ra, nụ cười hay nước mắt đâu phải tại sự thiên lưu mà ra. Con còn nhớ ráng nước chiều qua? Nó tuôn chảy có để làm cho con vui hay làm cho con buồn? Các pháp từ duyên sanh thì cũng từ duyên diệt. Pháp nhĩ như thị.

Dòng đời là dòng thác. Vui, buồn, thương, ghét như từng khúc trắng, hồng, trong, đục của làn nước mà con đã từng ưa thích. Chúng cũng sẽ tuôn chảy, không cần con phải xua đuổi hay mời gọi. Bởi vì đó là quy luật của thế gian: sinh, trụ, dị, diệt.

Thầy còn nhớ, năm ấy Thầy ra Bảo Lộc dưỡng bệnh tại Thiền Duyệt thất. Chú Thanh Hương từ Sàigòn ra thăm. Sáng sớm, trời cũng lạnh như vầy. Chú vừa vươn vai hít thở khí trong lành, vừa ngắm dàn hoa xinh xinh ở trước thất. Không biết sảng khoái thế nào, chú vui vẻ nói với Thầy:

- Kỳ này con sẽ ở đây một tháng.

Thầy cười. Chưa đầy một tuần, chú tiu nghỉu đến xin:

- Thưa Thầy, con xin phép mai về.

Thầy ngạc nhiên:

- Ủa! Sao chú nói ở đây một tháng?

- Dạ, tại vì ở đây buồn quá!

Mãi đến bây giờ, mỗi lần nhắc đến chú, Thầy vẫn cảm thấy vui.

Đóa hoa hồng trước mặt con sở dĩ đầy nét hấp dẫn là vì nó búp, nó nở, nó tàn… gấp quá. Con không kịp chán nó. Vì vậy, thấy hoa hồng con mừng rỡ thưởng thức. Thử tưởng tượng, con sẽ thế nào khi có một cành hoa nylon hiện diện trước mặt con hàng tuần, hàng tháng, hàng năm?

Thầy thường nghe người ta than phiền khí hậu ở đây khó lường được. Thì đó, vừa mới nắng hừng, thế mà gió từ đâu đã heo hút quay về vỗ vào thịt da lạnh không ngờ. Nhưng Đà Lạt vẫn nổi tiếng là xứ mộng mơ. Lạ lùng nhưng không làm ngạc nhiên. Bởi vì sự bất chợt chính là cái làm nên vẻ đẹp quyến rủ của một thời tiết Đà Lạt.

Chỉ thấy vô thường làm cho thế gian điêu đứng thống khổ, mà không thấy được cũng chính vô thường tạo nên muôn màu muôn vẻ cho cuộc đời, là không thấy được bản chất của vô thường. Bởi vì tánh thật của vô thường chính là chơn thường. Con còn nhớ bài Chứng Đạo Ca của Tổ Huyền Giác không: “… Vô minh thật tánh tức Phật tánh, huyễn hóa không thân tức pháp thân…” Dòng đời như thế, thật là ý vị. Có gì đáng sợ, đáng trách đâu! Chỉ tiếc một điều, chúng ta không nhận biết được, trên tất cả mọi sự đổi thay có cái chưa từng thay đổi bao giờ. Đó là, thấy được sự đổi thay. Đây mới chính thật là mình. Thế nhân vì thế chìm trong khổ hải.

Trong suốt cuộc đời tu hành của mình, Thầy không mong mỏi thành Phật tác Tổ gì cả. Chỉ nguyện được làm một hành giả tỉnh thức giữa dòng sông mê. Thiền viện Trúc Lâm ra đời cũng vì thế. Thấy đã cố gắng hết sức, để bản thân mình và những bạn đồng hành nhận được, sống được với cái bất sanh bất diệt ngay trong lòng sanh diệt này. Hay ít nhất cũng nối nắm được tinh thần thiền của Sơ tổ Trúc Lâm:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Tôi giật mình thức dậy sau một giấc ngủ dài và kinh ngạc lắng nghe tiếng thông reo. Âm vang của từng chiếc lá tí ti khi cộng hưởng muốn rung chuyển cả trời đêm. Không gian yên tĩnh đến nỗi tôi tưởng chừng như có thể nghe được tiếng rơi của từng hạt sương khuya trắng muốt, rụng xuống thềm đất hồng nâu và trong khoảnh khắc tan loãng vào hư vô bất tận.

Trúc Lâm với toàn cõi Phụng Hoàng sơn giờ này đang tĩnh tọa giữa mấy từng mây ngự. Vân, hà, vụ, lộ cùng một lúc vi nhiễu giường thiền rồi lặng lẽ gối đầu lên chóp núi. Chỉ có làn nước mỏng dưới con đập kia là vẫn rạt rào tuôn chảy…

Đó là tất cả những gì tôi muốn nói.

 

 

5. Cho một khúc quanh

 

Viết cho Kỷ yếu 25 năm Thường Chiếu - 1999

Hôm rời Chân Không xuống Thường Chiếu, Thầy không nói một lời. Chư tăng đều im lặng. Trời vẫn còn kéo dài những cơn mưa cuối mùa, xen lẫn vài khoảnh khắc nắng vội. Đôi con mắt của triêu dương như một khóc một cười: - Thầy vẫn còn nhiều duyên nợ với cõi phù sinh lắm. Chẳng làm tăng đầu núi thì làm khách nhàn dạo chơi chốn bụi trần một chuyến cho vui - Chút duyên nợ còn lại, Thầy xuống núi như cơn mưa rào cuối xử, miền cát nắng bỗng đơm bông.

Thường Chiếu ra đời như hiện thân của một khúc quanh, một sự chịu đựng âm thầm, để mà luôn chuyển mình, luôn có mặt bên Thầy với những biến đổi thăng trầm, những gieo neo khốn khó đời thường, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Để thầy trò được gần gũi lặt từng hạt đậu, xới từng mảnh rau, cấy từng bụi lúa, san xẻ từng nỗi vui buồn. Và không biết tự bao giờ, diệu pháp đã lặng lẽ theo những giọt mồ hôi ấm mặn nhỏ xuống nơi này.

Tôi vẫn nhớ.

Hôm đầu tiên đu chiếc xe than ra đây xin tu, tôi đã chưng hửng khi gặp lại Thầy trong bộ đồ núi, tay xách giỏ đệm, chân mang đôi dép mủ. Thường Chiếu un nắng, gió thổi rát da. Thầy ngồi trên chiếc ghế mây mốc thếch dưới bụi tre vàng cạnh cái thất sàn nhỏ. Tất cả đều rất lạ, chỉ có nụ cười vẫn cứ quen. Cái nụ cười ấy - Thầy đâu có biết - tôi đã cọc cạch chiếc xe đạp suốt một thời học trò, chạy qua bao nhiêu ngõ phố, đến bao nhiêu chùa chỉ để theo Thầy, giống y như Phật tử Sàigòn bây giờ. Thính pháp. Văn kinh. Và khóc. Hôm đó, chắc Thầy cũng không nghĩ là tôi sẽ tu được. Tại vì tôi còn bụi lắm.

Vậy mà đã gần hai mươi năm rồi, không biết bao lần đứng ngắm con suối Thường Linh giữa đôi bờ Song Chiếu, tôi gắn bó với quê hương nắng cháy này mà vẫn nghe mát dịu như thường. Thường Chiếu! Cho tôi được trân trọng gọi tên đạo tràng như trân trọng gọi tiếng thời gian, gọi từng nếp tranh cũ, từng phiến lá mục, từng xớ thịt màu da… Mà ở đó có Thầy và các bậc huynh trưởng của tôi đã từng phút trở mình để được hiện sinh, được tái tạo và được sống lại với tên Người - Thường Chiếu.

Thầy đâu có biết,

Hồi còn ở Chân Không, mỗi lần Thầy về huynh đệ cứ như chết khát bỗng được cơn mưa rào. Rồi Thầy đi. Thường Chiếu, Linh Chiếu… lại héo xào canh côi. Tôi cứ phải tự ôn đi ôn lại lời Thầy: - Đất càng khô, cây càng cứng, gian nan chẳng phải làm cho ta khốn đốn khổ sở, mà là trợ giúp cho ta đó thôi (Địa du cố, mộc du kiên, gian nan giả phi khốn ngã dã, nhi trợ ngã giả dã) cho đỡ buồn, cho cứng lên.

Thầy đâu có biết,

Cái hôm Thầy bệnh vì không chịu nổi khí hậu gắt gao ở đây. Thầy cứ thiêm thiếp trên giường, hơi thở ngắt quãng thật yếu. Chốc chốc, thầy Đắc Huyền cứ để tay trước chóp mũi Thầy, rồi thầy Trụ trì (thầy Nhật Quang) lại thắp ba nén nhang thì thầm khấn nguyện trước Phật, quí Sư cô gục đầu cạnh giường, bọn nhỏ tôi thủ phận con gái ở nhà ngoài khóc thút thít. Một lát sau, Thầy thở hắt ra, rồi mở mắt nhìn mọi người cười. Tất cả đều mừng quýnh xúm lại quanh Thầy, Thầy hỏi: - Chuyện gì vậy? Không ai dám nói, chỉ thở phào nhẹ nhõm và… thấy tội nghiệp mình quá đi. Tình Thầy trò, nghĩa Sư đệ cứ thế mà vời vợi thêm sâu.

Thầy xuống núi, Thường Chiếu ngổn ngang tâm trạng. Được Thầy mà mất Chân Không, chẳng biết phải nói làm sao. Chỉ có Thầy vẫn thản nhiên, kim cổ du du lãng không hoa (xưa nay mênh mông sóng không hoa) mà! Nhưng bù lại, từ ngày có Thầy, đạo tràng mới thực sự hồi sinh, thiền quang rợp bóng, Chiếu nào cũng thanh tân. Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 thật sự ra đời. Dưới gậy Tông sư, Tăng Ni đã bật khóc bật cười bởi những niềm vui vỡ bờ trong lần hạnh ngộ đầu tiên với chính mình. Thầy cũng chỉ đợi chờ có bấy nhiêu, vui với bấy nhiêu. Vì tâm nguyện của Thầy khi đặt tên Thường Chiếu là chỉ mong luôn được tự chiếu soi và giúp cho Tăng Ni cùng soi chiếu lại mình. Thế thôi.

Hôm nghe thầy Trụ trì Thường Chiếu ngâm:

… Người vẫn ngồi đây,

Hơi thở bặt từng tiếng vọng,

Tâm tư khô từng nghiệp bóng,

Bàn tay ghì từng đợt sóng,

Nhãn quang quét từng thoáng mộng,

Từng vô minh rơi rụng dưới sân đầy…

Tôi thích quá. Bài thơ này của Trúc Thiên. Tôi biết thi sĩ muốn tán dương Phật. Nhưng nghĩ cũng không quá đáng nếu ta có thể thốt lên lời này khi chính mình được chút mộng an vui! Bởi vì, mỗi chúng sanh đều là một vị Phật sẽ thành kia mà.

Không khí thật yên lành, bỗng đêm Trừ tịch năm 1991, Thầy trao quyền lãnh đạo các Thiền viện lại cho các vị đệ tử lớn, xin làm người “Vô sự”. Thầy Trụ trì Thường Chiếu đã nấc nghẹn: - Bạch Thầy! Chẳng lẽ duyên của chúng con với Thầy chỉ tới đây thôi sao? - Toàn thể đạo tràng hướng về Người đê đầu đảnh lễ, ruột gan chín bùi. Ai cũng khóc, chỉ có Thầy cười. Là tại vì Thầy biết, Thầy vẫn còn nợ với Tăng Ni. Cuối năm ấy Thầy ra thất. Thầy Trụ trì Thường Chiếu lại một lần nữa nghẹn ngào ngâm lời thơ mừng Sư phụ:

Về quê rồi tình nghĩa thiếu chi,

Chỉ luôn thấy nụ cười hé nở.

(Về Quê - HT. Thanh Từ)

Thường Chiếu lại thêm vui.

Thế đó, gốc Chân Không mà thân Thường Chiếu, Thầy đã âm thầm gieo hạt, ươm mầm, tưới tắm. Nào ngờ cội đại thụ đã vươn mình lớn dậy và rồi sau cùng tỏa râm bóng mát trên tận đỉnh mù sương! Tin vui được Trúc Lâm. Rồi Chân Không phục hồi. Nhân duyên hội ngộ thời. Thôi thì tinh thần của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, hào khí của Trần Triều Thái Tổ, cứ mặc tình dệt gấm thêu hoa trên núi Phụng hồ Tuyền. Thường Chiếu và các Chiếu lại có dịp xôn xao. Năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển. Một mình Thầy vừa mẹ vừa cha, sáng đầu non chiều cuối bể. Thấy mà quặn lòng…

Năm nay mưa sớm, phương trượng ướt sũng bên ngoài. Vậy mà Thầy vẫn không chịu vào trong. Thầy bảo ngoài này thoáng hơn. Tôi vói tay định thả tấm sáo xuống, Thầy vội ngăn. Nhưng dù hết sức kín đáo, Thầy vẫn không thể dấu đi chút nhọc nhằn trên nét mặt vẫn cứ tươi:

- Về lại đây, thấy càng thương Thường Chiếu.

Tôi không dám lặp lại lời này hai lần, khi nhìn thấy đôi mắt Thầy đã rủ xuống mệt mỏi lắm rồi. Nhưng tôi hiểu, năm tháng càng chất chồng, núi non càng cách trở, chỉ càng làm cho Thầy không thể quên được Thường Chiếu mà thôi. Bởi vì ở đó - cái khúc ruột quanh co - một phần máu huyết của Thầy vẫn luôn âm thầm có mặt, âm thầm lưu chuyển và âm thầm chảy ngược về non.

Thường Chiếu! Hai mươi lăm năm cũng là ngắn, một phút vẫn là dài. Bởi vì thời gian nơi đây, còn có nghĩa gì đâu…

 

 

6. Một chút cho lớp học

            Thân gởi Ni sinh Khóa 3 Trường Cơ Bản Phật Học Tỉnh Đồng Nai.

Tôi lật quyển kinh Pháp Bảo Đàn ra, một mảnh giấy học trò rơi xuống, nét mực vẫn còn tươi:

Qua sông ngoảnh lại thương đò,

Xa Thầy nỗi nhớ của trò nao nao.

Những ngày cuối đến trường vẫn là vậy, từ lâu rồi. Ngày trở nhanh đêm trở nhanh, nhưng đường nét của học trò vẫn nằm im. Tôi cũng nghe nao nao. Cái nao nao của hơn hai mươi năm về trước, cũng thoang thoảng mùi phấn mịn như vầy, tôi có viết lời này cho Thầy:

Ngày xưa con còn bé,

Có làm khổ Thầy nhiều?

Thầy ơi ! Khi con hiểu,

Tóc Thầy đã muối tiêu.

Nhưng lớp học của tôi bây giờ không nghịch như xưa. Vì học trò đều chít khăn lá sen cả rồi, cho nên tôi cũng không phải khổ. Chỉ có điều, lâu lâu không hiểu quí cô buồn hay vui mà diện mục cứ như bặt dứt muôn duyên. Những lúc đó thì tôi xin thua.

Nhớ hôm họp mặt truyền thống, nhìn cả lớp trang trọng trong nếp y vàng, ai cũng vui quá. Huynh đệ chúng ta đã có đôi nét trưởng thành, tuy không nhiều nhưng ánh mắt có sáng, đôi môi có tươi. Chỉ nụ cười vẫn chưa được dung dị cho lắm. Nhưng thôi, như vậy cũng hay rồi.

Suốt bốn năm đến với trường, tôi không dám đòi hỏi gì ở em nhiều, bởi chính tôi cũng chẳng được bao nhiêu. Chỉ mong ngày mãn khóa hành trang của chúng ta sẽ là niềm tin ở ngày mai. Nếu lúc ra trường ta buồn và không có định hướng cho tương lai thì thật là một nỗi xót xa lớn. Ngày xưa, khi Phật nhìn thấy các Thầy Tỳ-kheo đã lớn, đã xong việc của mình rồi, Ngài liền bảo:

- Các con hãy đi ! Mỗi người một phương, đến nơi nào chúng sanh cần, tùy duyên giáo hóa. Nên nhớ đừng có đi hai người một phương nghe.

Thế là các Thầy lên đường.

Chúng mình so với quí Thầy, quí Sư cô ngày xưa có quá nhiều thời gian để chuẩn bị, để tư lương. Nhưng chúng mình lại khác phút lên đường.

Một hôm sau mùa an cư, Tôn giả Phú Lâu Na đến đảnh lễ và thưa cùng Phật:

- Bạch Thế Tôn, con xin đến xứ Du Lô Na để giáo hóa dân chúng ở đó.

Phật rất hoan hỷ, nhưng Ngài cũng không quên gạn lại:

- Nè, Phú Lâu Na ! Du Lô Na là một nước nhỏ hẻo lánh, dân chúng tánh tình rất ương ngạnh, hung bạo. Con không sợ sao?

- Bạch Thế Tôn, Thầy đã từ bi thương tưởng chúng đệ tử, con không thể dùng lời để nói hết lòng cảm kích của mình. Nên con nguyện đem tấm thân nhỏ bé này phụng hiến cho chánh pháp và tất cả chúng sanh, để gọi là phần nào tưởng nhớ tới công ơn của Thầy. Chính vì thế, con xin đến Du Lô Na là một nước biên địa hoang dã, xưa nay chưa ai dám đặt chân đến đó giáo hóa bao giờ, để mở thông tâm địa cho họ.

- Phú Lâu Na ! Hay lắm. Nhưng Thầy hỏi con, nếu như con đến đó, người ta không chấp nhận con, họ chửi mắng con thì con làm sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con, con vẫn thấy họ còn tốt vì chưa đến nổi đánh đập con.

- Nếu như họ đánh đập con thì con làm sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu như họ đánh đập con, con vẫn thấy họ còn tốt vì chưa đến nổi giết chết con.

- Nếu như họ giết chết con thì con làm sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu như họ giết chết con thì con lại càng cảm ơn nhiều hơn. Vì họ đã hỗ trợ cho đạo nghiệp của con chóng thành tựu, đưa con vào Niết-bàn sớm hơn, giúp con đem thân mạng này báo đền ân đức Tôn sư. Đối với con, việc đó chẳng có gì đáng ngại, chỉ sợ kết quả sẽ ảnh hưởng không tốt đến họ thôi.

Đức Phật gật đầu thật vui:

- Phú Lâu Na ! Con thật không hổ thẹn là đệ tử của Như Lai. Sức tu đạo, nhẫn nhục, bố giáo của con thật mạnh mẽ, tâm con thật vững vàng. Ngày mai, Thầy và đại chúng sẽ đưa con lên đường.

Viết đến đây, tôi ước gì “phải chi lúc đó có bọn mình”, chúng ta sẽ vỗ tay nồng nhiệt và phủ phục sát đất trước bước chân hóa đạo của ngài Phú Lâu Na. Ngài đã hành Như Lai sứ, tác Như Lai sự như vậy, có nhoài người với biết bao là những mộng tưởng viển vông như bọn mình đâu.

Tất cả hiện cảnh dàn trải trước mắt rất cần đến cái tâm của ta. Sống tỉnh thức và làm việc hết lòng với những điều kiện hữu duyên hiện có là quí nhất. Được vậy, thì còn gì để bọn mình phải tư lự “không biết sau ngày ra trường, ta sẽ về đâu?” Về đâu em, khi chính ngay đây đã là nhà, từ vô lượng hôm nào !

Hồi đó có một lần Phật nói “Chúng sanh là Thầy của chư Phật” và “Nhân gian là Tịnh độ của Bồ-tát”. Lời này muốn nhắn nhủ điều gì, có lẽ trong chúng ta ai cũng biết. Vậy thì mình còn phải suy tư việc gì nữa, y giáo phụng hành thôi.

Viết lại lời này, có lẽ tôi nói với riêng mình nhiều hơn là lớp học: - Hãy lên đường ! Với tinh thần vô úy của Tôn giả Phú Lâu Na, nghe em.

 

 

7. Viếng chùa Đậu

Chùa Đậu tức chùa Pháp Vũ hay chùa Thành Đạo ở làng Đậu, nay thuộc thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.

Chùa cổ xưa bình dị giữa đồng quê. Con đê. Ráng nước. Lũy tre vàng đong đưa theo từng lọn gió Bắc, hắt vào mái ngói lầu chuông cái giá buốt hanh hao, càng làm tăng thêm nét cổ sái cho ngôi già-lam cùng phong sương tuế nguyệt.

Tôi viếng chùa Đậu trong một chiều vắng. Dĩ nhiên không phải chỉ để chiêm bái một danh lam cổ tự có tên tuổi rồi thôi. Mà vì cái hồn của Pháp Vũ tự còn tồn đọng trong nhục thân của hai vị Thiền sư dòng Vũ Khắc, luôn là tiếng gọi về nguồn trong lòng Tăng Ni Việt Nam.

Vào khoảng thế kỷ thứ 17, Thiền sư Đạo Chân - Vũ Khắc Minh sinh tại xã Gia Phúc, huyện Phúc Khê. Lớn lên, Sư xuất gia và theo học với Hòa thượng Đạo Long ở huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Sau Sư về Trụ trì chùa Pháp Vũ, ăn cơm thiền uống nước định, quên cả tháng ngày. Càng già, đạo phong càng sáng. Khoảng năm 60 tuổi, Sư vào ngôi thất nhỏ cạnh chùa tĩnh tọa như thường khi. Không ngờ, đó là lần thiền định hùng dũng nhất đã đưa Sư vượt thoát đôi bờ sanh tử, đi vào một cõi riêng mà nụ cười thanh trên đôi môi rộng vẫn còn tươi mãi với thời gian. Dân làng Đậu thường bảo nhau, đó là nụ cười hạnh phúc.

Thiền sư Đạo Tâm - Vũ Khắc Trường là cháu gọi Sư bằng chú, kế thế Trụ trì chùa Pháp Vũ. Cũng thế, khi sắp tịch Sư vào trong thất vắng, kiết già phu tọa, an nhiên mà hóa. Mãi 300 năm sau, thi thể không hề thối rữa. Tứ chúng quá kính tín để nguyên nhục thân của các Ngài tôn thờ. Sau này, do trận lụt năm Ất Mão, xác thân Sư Khắc Trường bị ngập đến tận đỉnh đầu nên có hư hỏng đôi chút. Dân chúng phục chế lại, vì vậy không còn nguyên vẹn như xưa.

Hai thiền tăng, một lối về!

Những người trong cửa thiền có lúc cũng phải ra đi. Và trong mỗi cách ra đi, các Ngài đều ít nhiều làm rúng động lòng người. Thiền sư Đặng Ẩn Phong lộn ngược mà tịch. Cô Linh Chiếu lém lỉnh đoạt thiền sàng của Bàng Công. Tuệ Trung Thượng sĩ đùa bỡn với sống chết như chơi trò nhắm mở đôi con mắt… Và, đó chỉ là một trong tất cả những gì có được của một năng lực vô song, phát sinh từ công phu tu tập thiền định tinh chuyên của một hành giả đạt đạo giác ngộ giải thoát.

Trong các nỗi sợ hãi của nhân sinh, nỗi sợ hãi lớn nhất có lẽ là lúc nhắm mắt xuôi tay. Thế mà, các Thiền sư vẫn thản nhiên cười chúm chím, tự chọn cho mình một con đường, để lại cho đời một món quà, gọi là chút lưu kỷ cho một lần có mặt. Tuyệt! Sanh tử nhàn nhi dĩ. Tự tại. Phiêu nhiên.

Được đảnh lễ nhục thân của hai Ngài, tôi sung sướng xúc động, khâm phục vô bờ và tự khẳng định niềm tin của chính mình. Trước lúc ra về, Thầy tôi đã ân cần nắm tay vị tăng trẻ ở đây:

- Đất Bắc ngày xưa, cổ đức tu hành đắc đạo rất nhiều. Đó là niềm vui lớn cho Phật giáo Việt Nam. Các Ngài đã sống hết tình và chết cũng hết tình. Nhục thân còn lại của các Ngài chính là bản di huấn quí báu nhất thay cho ngàn vạn lời răn dạy chúng ta. Quí Thầy đủ phúc duyên được tu hành tại chùa Tổ, tôi cầu chúc quí Thầy cũng sẽ đạt được kết quả tốt đẹp như vậy. Được thế, Tổ vui.

Với tôi, dường như đó không chỉ là một lời chúc lành riêng. Người ta vẫn thường bảo tu thiền là vỗ cánh chim bay. Điểu đạo bao giờ cũng khó đi. Thế nhưng đã có những đại bàng tung cánh bay lượn giữa thinh không cao rộng, vẽ nên những đường bay tuyệt vời, vạch hướng đi và nâng cánh cho đồng loại vươn lên.

Ngày mai, tôi trở về phương Nam ngập nắng. Mong sao tôi cũng sẽ được cùng những cánh chim non vút lên, sải dài giữa bầu trời lộng gió…

 

 

8.  Phiến mây đổi màu

Tiểu Thức xuống rẫy rồi, tiểu Thông cảm thấy lúng túng. Hồi chiều này, Sư phụ sốt nhiều. Đôi mắt Thầy đỏ lừ, nhắm ghiền, làm tiểu Thông sợ quá. Chú hết nhìn Thầy lại chạy xuống bếp, bụng nóng như hơ.

Siêu thuốc cứ kêu lụp bụp lụp bụp. Ánh lửa đeo đét thì thào hắt vào vách lá một vệt sáng lờ mờ, thoạt ẩn thoạt hiện cái bóng nhỏ của chú đổ vào một góc bếp. Tiểu Thông nhìn chằm chằm vào đó. Chiếc vạt tre dần dần hiện ra. Hương thuốc, khói chà, hơi của đêm. Tiểu Thông thèm nằm một chút. Chú lần mò đến bên chiếc vạt, hình như có vật gì trăng trắng trên đó. Tiểu Thông sờ vào thấy mềm mềm, chú cầm lên và một mảnh giấy rơi xuống:

- Tiểu Thông, anh đã vá xong cái áo cho em rồi đó. Em ráng hầu Thầy thay anh. Anh đi đây.

- Anh Thức! - Tiểu Thông xiết chặt cái áo vào lòng, ánh mắt dán chặt vào khoảng không tối đen bất động. Và kỷ niệm cuộn về…

Cái dốc núi dựng đá băng qua khu rừng vắng khó đi. Tiểu Thông xách bình nước. Tiểu Thức quảy gánh củi trên vai, nhìn chừng theo những bước chân Thông. Bất thình lình, “xoạt” một tiếng, tiểu Thông lăn tròn qua mấy cấp đá. Quăng gánh củi, tiểu Thức phóng như bay xuống:

- Em có sao không Thông?

- Em đau quá.

Nhai vội nhúm lá rừng, xé mảnh vải rách trên vai áo, tiểu Thức rịt lại vết thương, rồi cõng Thông lần xuống núi. Ánh trăng bàng bạc dẫn đường. Bóng của hai đứa in lên sườn non hình một cụ già lưng còng, giông giống như Thầy.

Và chính trong cái chái bếp này, anh Thức đã lén đút cho Thông từng muỗng cháo, nhét từng cục kẹo mỗi khi Thông sót ruột đêm. Cái ấm, bình trà, cựa củi, vườn rau, phòng Thầy, điện Phật… đâu đâu cũng có bàn tay của anh Thức. Anh cũng từng len lén gánh gồng luôn cả công việc của Thông mà Sư phụ vẫn không hay. Hôm Sư phụ gọi hai huynh đệ lại bảo:

- Miếng rẫy dưới núi không có người trông coi, Thầy chưa biết tính sao?

Không hiểu vì sao Thông nhanh nhẩu thúc:

- Anh Thức! Hay là anh xuống dưới đó đi.

Chìu Thông, tiểu Thức đã xuống núi…

Để bây giờ Thông cảm thấy hối hận: - “Anh Thức, em nhớ anh quá. Em cần có anh. Giá lúc này có anh, em sẽ không bỏ anh làm việc một mình nữa…”

Siêu thuốc sắp cạn, hai mắt của tiểu Thông cứng đờ, chú từ từ ngã xuống chiếc vạt tre.

***

Đêm phủ đặc dưới chân núi. Cái lều mới dựng cứ chợt tốc lên như muốn vực tiểu Thức dậy. Đêm nay trời lạnh nhiều, bọn cây rừng như ủ rũ hơn, gió cũng trở mình hơn. Rừng về khuya là nơi tụ đọng của bao mối hiểm họa cho kẻ độc hành. Chung quanh Thức, tiếng thổn thức của trùng thú, tiếng ngọn cỏ xác xơ, tiếng khua động, tiếng vọng… rồi cũng có lúc bỗng im bặt mọi thứ tiếng. Rừng lặng xuống như trả về cho thinh không cái hoang tạnh không cùng. Tiểu Thức nghe cồn cào xốn xang trong bụng. Không chần chừ, chú bật dậy lao về phía những tảng đá đen ngòm, lần trở về chùa.

- Tiểu Thông! Tiểu Thông!

- Ai đó?

- Anh đây nè, Thức nè - Tiểu Thông vùi đầu vào lòng anh Thức.

- Sao bữa nay em ngủ ở đây?

Tiểu Thông giật mình:

- Chết rồi! Anh Thức ơi, siêu thuốc của Sư phụ. Em canh siêu thuốc cho Thầy.

Hay tin Sư phụ bệnh, tiểu Thức lên phòng Thầy ngay. Vầng trán hầm hập, đôi môi khô khốc, Thầy cứ mấp máy như muốn nói điều gì. Thật nhẹ và thật nhanh, tiểu Thức bắc một siêu thuốc mới, rồi xắt một chén chanh. Đắp chanh lên trán Thầy xong, tiểu Thức khẽ lật nghiêng mình Sư phụ, lấy củ gừng vừa bứng sau hè, chú gọt vỏ, đánh gió cho Thầy. Còn tiểu Thông thì đã gáy pho pho khi anh Thức vừa nhóm lên bếp lửa hồng.

Mấy hôm sau, Sư phụ đã khỏe nhiều, nhưng tiểu Thức vẫn không dám rời Thầy. Mà không hiểu sao tiểu Thông lại cứ biến mất từ sáng sớm, đến chiều tối mới mò về.

Đêm đó, nằm cạnh nhau, tiểu Thức hỏi nhỏ:

- Mấy hôm nay em đi đâu vậy?

- Thì đi kiếm củi hái rau.

- Thầy bệnh, em không chạy lên chạy xuống với anh cho Thầy vui.

- Thôi! có anh rồi, em xớ rớ chi cho dư.

Sau câu nói của tiểu Thông, bỗng nhiên cả hai đứa cùng im lặng. Ngoài sân, mấy cây liễu rũ buồn thiu. Tiểu Thức nghe nghèn nghẹn trong cổ họng. Tiểu Thông đứng dậy bỏ ra ngoài. Còn lại một mình, tiểu Thức nhìn sửng lên trần nhà. Vẫn những thân quen còn lộ hiện ra đó. Căn phòng của hai đứa từ thuở còn bé, những nếp tranh cũ mục vẫn nép sát vào nhau, che chắn nắng mưa cho hai anh em lớn lên. Ngăn sách, kệ kinh, giá áo bằng khúc tre già lượm được trên đỉnh non, do hai đứa hì hục bên nhau đóng mấy ngày trời… Bất chợt Thức gọi tên em: Tiểu Thông!

Sáng ra, tiểu Thông vừa nhỏm dậy, bỗng thấy một mảnh giấy nhỏ trên đầu giường: “Thông ơi! Sư phụ khỏe rồi. Anh xuống rẫy nha. Em nhớ chăm nôm Thầy. Anh, tiểu Thức”.

Đọc xong, tiểu Thông bồi hồi chạy vào phòng Sư phụ. Hơi thở của Thầy vẫn còn hòa quyện trong giấc ngủ, đều đặn an lành. Chú thở phào nhẹ nhõm.

***

Ngày nắng. Đêm sương. Miếng rẫy trơ vơ chiếc chòi tranh về khuya càng quạnh hiu với ngọn nến leo loét sắp cạn tim. Nhưng đâu đây, khói hương mềm mại vẫn âm thầm len lỏi bay về núi.

Sau thời tĩnh tọa, tiểu Thức định bước ra ngoài đi kinh hành. Vừa quay ra, chợt chú thấy một bóng dáng gầy nhỏ đã đứng đó tự bao giờ. Mở to mắt nhìn kỹ, tiểu Thức bỗng nấc lên:

- Sư phụ!

- Tiểu Thức.

- Sư phụ, đêm khuya Thầy đi đâu vậy?

- Thầy xuống thăm con.

Không còn ranh giới nào của ngoại nghi, chỉ có cảm xúc trực giác tận mạch nguồn. Tiểu Thức quỵ xuống ôm chầm lấy Sư phụ, mặc tình cho hai hàng nước mắt ướt đẫm trên đầu gối Thầy. Sư phụ vuốt đầu chú khẽ nói:

- Tình thương và đức nhẫn chịu của con sẽ cảm hóa được em Thông.

Trên không, ánh sáng sao trời lấp lánh trong hơi sương như một rừng châu báu. Và lặng lẽ một phiến mây trôi qua chợt đổi màu, rồi tan loãng vào rừng sao trước khi trời hừng sáng. Giờ này, ngay đây một cảm giác ngọt ngào hạnh phúc từ dòng tâm Sư phụ tuôn chảy vào lòng tiểu Thức rồi đổ về quá khứ, vị lai, mênh mông…

 

 

9.Thầy với những phút “đâu ngờ”

Viết cho Kỷ yếu 5 năm Trúc Lâm - 1999

Thầy dừng chân ngắm cảnh hồ Tuyền Lâm. Bóng Thầy in trên làn nước biếc.

Thủy để hữu thiên xuân mạc mạc,

Nhân gian vô lộ nguyệt mang mang.

                                                            (Tào Đường)

Dịch:

Đáy nước có trời xuân thăm thẳm,

Cõi trời không lối nguyệt mênh mang.

Phụng Hoàng hay Yên Tử sơn, mà chiều nay vẫn lạnh và yên như thuở ngàn năm trước? Hồi đó, đường lên Yên Tử trơn nên Trần Triều Thái Tổ, Điều Ngự Giác Hoàng đã trèo lên lại phải lội xuống, để trả cho hết kiếp nợ quân vương trước khi làm khách nhàn đầu núi.

Còn Phụng Hoàng sơn bây giờ… Thầy đã nhiều năm trăn trở hay một thoáng đâu ngờ mà tất cả được hiện thành? Có lẽ cả hai. Thầy vẫn thường hay nói: “Cuộc đời không thiếu những khúc quanh bất chợt. Và chính những khúc quanh bất chợt lại làm thành một cuộc đời mới”.

Tôi nhớ Thầy kể, năm còn ở Rạch Tra, nhỏ xíu mà Thầy đã thích ngồi thiền. Chiều chiều Thầy vẫn thường ra đồng trống ngồi tư lự, làm cho mẹ Thầy phải phát sợ. Thiệt tình, lớn lên, Thầy đã neo chiếc thuyền gắn bó suốt một thời thiếu niên bên bờ sông Hậu, giã từ con nước ngược xuôi, theo Sư Ông về chùa làm tăng. Rồi đi giảng, đi dạy, quần quật mọi việc để cuối cùng cơn bệnh phổi khắc nghiệt đã vật Thầy ngã gục trong nỗi buồn đau điếng. Bế tắc, cùng đường, đã đưa Thầy đi đến quyết định mới mà thật ra Thầy đã ôm ấp từ lâu - Phải tu thiền - Thế là một lần nữa, Thầy lại vẫy tay lên đường.

Phương Bối am, Thiền Duyệt thất… Và, trong một phút ngưng thần, cõi sắc không bùng vỡ, để rồi sau đó dưới gậy Tổ sư, Thầy nhận ra một cõi chân như diệu diệu huyền huyền. Tất cả đều “đâu ngờ”. Rồi cũng chính vì đâu ngờ, mà Thầy dời Chân Không về Thường Chiếu, để bây giờ đâu ngờ cánh Phụng Hoàng lại đậu trên đỉnh mù sương! Thì đó, trong một cõi khói mây bãng lãng, Trúc Lâm - Đà Lạt hay Trúc Lâm - Yên Tử như ẩn như hiện giữa dòng đời đổi đổi thay thay. Có gì còn có gì mất? Có gì xa có gì gần giữa một Trần Thái Tông với một Trần Nhân Tông; giữa một Trần Nhân Tông với một Trần thiền tăng non bảy thế kỷ sau? Tôi không dám nói. Là vì, có những cuộc đời trước cuộc đời sau nối nhau bởi những khúc quanh vô tâm hay hữu ý, ai mà biết được?

Cách đây non chục năm, cũng một chiều như vầy nhưng mà là ở bên cầu Song Chiếu, lúc Thầy vừa rời Chân Không về Thường Chiếu. Thầy đã lặng lẽ đứng nhìn con suối Thường Linh. Dòng nước nhỏ nhắn thì thầm nhưng tuôn chảy không ngừng. Giọt nước sau nối tiếp giọt nước trước thành dòng. Bất chợt Thầy nói: “Cuộc đời chúng ta cũng giống như dòng nước, trôi chảy luân lưu hoài, không có gì cố định. Có ai biết được ngày mai mình sẽ ra sao, đi về phương nào? Thầy nghĩ, biết đâu chừng mai kia Thầy lại sẽ trở về núi, vui với gió đùa với mây, “ăn rau đắng, cắn hạt dẻ, uống nước suối, dạo cảnh rừng, lòng như mây nổi” như ngài Phù Vân. Thì đó, bây giờ… Đẹp và lạ thường thay là những khúc quanh bất ngờ!

Nhưng vẫn còn một điều, tôi mãi nhớ:

- Hoài bão của Thầy đều gởi gấm hết vào sự nỗ lực của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn; đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại, thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì, nguyện vọng khôi phục lại Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm - Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.

Thầy xoay đầu gậy, bước trở về. Tiếng gậy động gõ trên nền bất động, đã đang và sẽ vỡ ra trong lòng thiền tăng thành những âm vọng dậy trời: A! Rồi. Đây, suối lệ, trận cười; bừng bừng sống dậy nối nhau chấn động trên mảnh đất thiêng mang hồn Yên Tử. Vâng, thưa Thầy con hiểu và xin hứa, nguồn vui duy nhất trong cuộc đời còn lại của Thầy sẽ là những phút “đâu ngờ” của tụi con.

Trúc Lâm khép lại sau làn sương rắc bạc. Chiếc bóng Thầy vẫn chênh chếch trên đầu non như một nét chấm phá sau cùng điểm trên nền trời muộn, nhưng vẫn rất rõ như chính vầng trăng xưa đã treo lên đầu núi một bóng dáng thuở nào:

Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự,

Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu.

                                                  (Trần Thánh Tông)

Trăng vô sự,

Chiếu soi người vô sự.

Nước làn thu,

Chứa cả một trời thu.

 

10. Về thăm non Yên

 

Yên Tử - Linh hồn của tăng sĩ Trần triều ngót 700 năm về trước và là mạch nguồn của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mãi về sau. Ước mơ lớn nhất của tôi trong chuyến Bắc du này là về thăm non Yên.

Suối Giải Oan, hòn Ngọc, đường Tùng, vườn tháp Huệ Quang, chùa Hoa Yên… tất cả  đều như thở cùng một hơi thở non Yên, sống cùng mạch sống trào tuôn của Điều Ngự Giác Hoàng. Trên kia nào là am Thiền Định, thác Ngự Dội, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu, cổng Trời, chùa Đồng… đều như phảng phất bóng hình của Trúc Lâm Đại sĩ. Dường như Ngài đã thu cái kỳ vĩ non thiêng về trong một niệm, để từ một niệm phóng ra hằng sa diệu dụng làm cho Yên Tử sống mãi từ ngàn xưa đến ngàn sau.

Nhắc đến Điều Ngự Giác Hoàng là nhắc đến vua Trần Thánh Tông. Nhắc đến vua Trần Thánh Tông là nhắc đến vua Trần Thái Tông, vị chúa tể Trần triều với tất cả cuộc đời và sự giác ngộ giải thoát của Ngài. Tôi không sao quên được những đêm say sưa bên ánh đèn dầu leo lét của những ngày mới vào viện, khóc theo cái khóc của vương, khổ theo cái khổ của vương. Và thật lo lắng trong cái đêm vương bỏ ngai vàng, trốn lên Yên Tử.

Phải chăng vì những áng mây vần vũ lượn lờ quanh đỉnh cô liêu, sớm chiều réo rắc tiếng oanh ca vượn hót đã khiến cho vương xin được mặc áo phong sương, gối đầu trên tán mây đại pháp, lấy mai làm tri kỷ, lấy hạc làm tri âm…? Hay là dường như khi đối diện với tạo vật và tự ngắm vào lòng mình, vị chúa tể Trần triều lúc bấy giờ như cảm thấy bất an trước một cái gì đó không thể nắm bắt, không thể làm chủ và chế ngự. Để vương cảm thấy đây là chỗ bắt đầu cho những biến động riêng tư và khổ tâm trong quyền lực, cố nhiên là chỉ đối với vương thôi. Và cái đáng quý nhất đối với vương là cuối cùng vương đã bật dậy, tháo tung mọi xích xiềng ràng buộc của trần duyên. Trần Thái Tông đã phát hiện ra tất cả những thứ mặn nồng chua chát của cuộc đời đã làm thành cho mình cái hương vị tuyệt vời, đưa vương đi vào cõi Không môn, mà vẫn an nhiên ngự trên ngai vàng, rống tiếng đại pháp và để lại cho đời một vì sao rực sáng Trần Nhân Tông.

Vua Trần Nhân Tông - Sơ tổ Trúc Lâm Yên Tử - Ngài chưa bao giờ mất đi. Ngài chỉ thị hiện đến rồi đi trên ngôi cửu trùng như mây nổi, đạm bạc chốn hang sâu non vắng, lăn lóc trong cát bụi tử sinh để mở ra một con đường, vạch một lối đi cho Thiền tăng Việt Nam. Tôi trở về đây dự cảm như Tổ sư vẫn lẫn quất giữa rừng thiền mênh mông. Khi chơi nước biếc, lúc ẩn non xanh. Ngày thì “ăn rau ăn trái, vận giấy vận sồi”. Đêm về “chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng” (Xuân vãn). Hồn thơ của Ngài vẫn ngàn năm:

Nửa gian lều quí nửa thiên cung,

Ba phiến ngói yêu hơn lầu gác.

                     (Cư trần lạc đạo - Trần Nhân Tông)

Rồi từ đó, một cõi nhân gian, một góc trời Nam không nơi nào vắng thiếu bóng Ngài, vắng thiếu dấu chân Ngài. Về già, Ngài vẫn sáng ở đỉnh mây, chiều dạo nhân gian, nhồi non xanh nước biếc với làng mạc cung son thành một mảnh trong từ tâm vô lượng. Để 700 năm sau và còn hơn thế nữa, ai có về Yên Tử dường như cũng được Tổ dẫn bước dạo chơi khắp nội cỏ mây ngàn. Sung sướng và xúc động, tôi quỳ xuống dưới chân tháp Tổ sư:

Ngưỡng bạch Tổ,

Con, đứa con đứa cháu lạc bước đã bao năm, nay quỳ dưới chân tháp Tổ sư, dâng nén tâm hương, tưởng niệm đến Tổ. Cúi mong Tổ xót thương, con nương từ lực Tổ gắng gổ tiến tu, gắng gổ đi theo con đường Tổ đã đi. Xin Tổ chứng tri cho.

                                                                        Kính lễ Tổ.

Khói trầm hương mềm mại vẫn âm thầm len lỏi theo những kẽ hở của chiếc đỉnh đồng tỏa hương ngào ngạt… Rời tháp Tổ, leo lên con dốc đứng tới Hoa Yên tự - chiếc nôi của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nơi Tổ sư và chư Tổ Trần triều tu hành, hoằng dương chánh pháp - Là nhà tu, đứng trước khung cảnh này, dường như ai cũng rung động, trong một chút hoài cổ nhân có một chút gì đó bình an tận cõi lòng.

Đất vắng đài thêm cổ,

Ngày qua xuân chửa nồng.

Gần xa mây núi ngất,

Nắng rợp ngõ hoa thông.

Muôn việc nước trôi nước.

Trăm năm lòng nhủ lòng,

Tựa lan, nâng ống sáo,

Đầy ngực ánh trăng lồng.

 

Địa tịch đài du cổ,

Thời lai thu vị thâm.

Vân sơn tương viễn cận,

Hoa kình báo tình âm.

Vạn sự thủy lưu thủy,

Bách niên tâm ngữ tâm.

Ỷ lan hoành ngọc địch,

Minh nguyệt mãn hung khâm.

              (Thơ Trần Nhân Tông - Ngô Tất Tố dịch) 

Càng về chiều Yên Tử càng chìm trong sương pha tuyết phủ, thiền phong càng lẫm lẫm ngất non xanh. Tôi phải xuống núi mà nghe như ước mơ chưa thỏa. Xuống đến chân núi, tôi đưa mắt nhìn lên sơn thượng một lần cuối như muốn thu trọn non nước Yên Tử vào lòng trong sát na này, rồi chấp tay nghiêng mình mang theo lời di huấn của Tổ sư:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

                     (Cư trần lạc đạo - Trần Nhân Tông).

 

 

11.Xin được cảm ơn 

Vừa rồi, bắt gặp vần thơ của tác giả Truyện Văn Nhựt, “Linh Chiếu đất trời một vẻ riêng”. Tôi giật mình, không ngờ!

Có lẽ quá quen với dòng sông khi phải sớm chiều bơi lội trong một con nước cũng bến cũng bờ. Dân miền sông nước lại ít khi ngắm nhìn nét rực rỡ của một hoàng hôn trên dòng. Ngược lại, ở những nơi khác, có kẻ lại ngẩn ngơ với cảnh một bến, một chiều, một bóng thuyền…

Đứng núi này trông núi nọ, dường như là căn bệnh truyền đời của con người. Một khách lãng tử Trung Hoa chắc cũng đã cạn tình cạn túi để có được bốn câu thơ đá vàng:

Lô sơn yên tỏa Triết giang triều,

Vị đáo sanh bình hận bất tiêu.

Đáo đắc hoàn nguyên vô biệt sự,

Lô sơn yên tỏa Triết giang triều.

Dịch:

Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang,

Khi chưa đến đó luống mơ màng.

Đến rồi cũng vẫn không gì khác,

Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.

Cái sướng của một nghệ sĩ phong trần là ở bầu rượu túi thơ, đi mây về gió, sáng non chiều nước. Mà cái khổ của một hành nhân lạc độ cũng là đó. Cái đói cái nghèo, cái trăm tư ngàn tưởng bị sóng vùi gió dập. Nhà thơ nào trong một kiếp chơi rong cũng gặt hái ít nhiều sóng gió:

Bể khổ mênh mông sóng ngập trời,

Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi.

Thuyền ai xuôi gió ai ngược gió,

Ngẫm lại cùng trong bể khổ thôi.

Ta không phải là thi nhân để mà khóc mà cười với mình với đời. Cũng không phải thương nhân trăm công ngàn việc để đầu óc nặng trĩu quanh năm. Càng không phải buôn tảo bán tần vì nợ, vì con. Là một nhà tu, sao ta vẫn khổ như thường. Khổ vì tu. Mới lạ chứ!

Tôi có nghe nói đến một số bạn đồng tu, giờ này đang hết sức thiếu thốn. Các bạn không có Thầy, không có chùa, không có huynh đệ bên cạnh. Một mình canh cánh lo chuyện áo cơm chỉ vì để được học, được tu. Trong hoàn cảnh như thế, các bạn khổ là phải. Tôi không biết làm sao để được chia xẻ. Nhưng còn chúng tôi thì lại khác nữa. Được chút ít may mắn hơn bạn, có nơi ăn chốn ở ổn định, Thầy bạn đông vầy. Lúc đầu cũng vui. Nhưng dần dần cứ phải vội vã rửa cuốc cất cào cho nhanh để kịp tắm rửa. Vội vã tắm rửa nhanh để kịp ăn cơm. Vội vã ăn cơm nhanh để kịp học bài. Vội vã học bài nhanh để kịp tụng kinh, ngồi thiền. Vội vã, vội vã… Mệt đừ! Đó là chưa kể khi bệnh đau, không đủ sức để vội vã theo đại chúng. Thế là lại buồn. Lại khóc. Lại cảm thấy sao mà cảnh cũ chùa xưa đơn điệu, tẻ nhạt. Lại muốn đi rong. Có chết không?

Có lần tôi đọc quyển Giải Thoát Trong Lòng Tay của Ni sư Trí Hải dịch. Trong đó, bậc Thầy Pabongka Rinpoche có nói như vầy: “Người thiếu pháp, ta có thể giúp đỡ cho họ bằng cách thí pháp. Nhưng kẻ ‘lờn’ pháp thì vô phương cứu chữa. Người tu kỵ nhất để lờn pháp”. Lờn pháp ở đây cũng na ná như lờn thuốc. Một bệnh nhân khi đã lờn thuốc rồi thì mong chi hết bệnh. Cũng như vậy, một tu sĩ khi đã lờn pháp rồi thì sẽ bị xơ hóa tâm ban đầu. Mà lý do bị lờn thuốc là vì có thuốc mà không biết sử dụng thuốc. Lờn pháp cũng thế, có pháp mà không biết dùng pháp. Thật đáng sợ.

Nhìn tới nhìn lui, chúng sanh bình đẳng trên hạnh phúc và khổ đau mà không cần ai phải ban phát. Có bao giờ bạn thử nghiệm lại. Chính những ngõ ngách sâu kín và phức tạp trong tâm hồn mình đã làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên phong phú hơn, nhưng cũng có thể nhức nhói hơn. Cái đó tùy mình. Nhưng dù phong phú hay nhức nhói, ta vẫn là ta. Không thể chạy trốn được, cũng chưa thể nhận diện được. Vì vậy ta khổ. Khổ với biết bao dong ruổi, cút bắt bất tận của tâm thức.

Đức Phật được mệnh danh là đấng chí tôn thì lại đơn giản hơn. Chỉ cần tâm bình, thế giới bình. Cho nên Ngài hạnh phúc, thảnh thơi, an lạc. Vì Ngài đích thực đã dừng lại. Trong một lần, để cứu thoát Vô Não khỏi sa vào địa ngục khi anh chàng này cầm đao rượt mẹ, với mục đích lấy cho đủ số 1000 ngón tay dâng cho tà sư ngoại đạo, để đổi lấy một bài pháp thần sầu quỷ khốc. Đức Phật hiện ra chắn lối và đã chuyển được đường đao của kẻ cuồng tín. Anh lập tức đuổi theo Phật. Nhưng chạy nhanh cách gì, anh vẫn không thể đuổi theo kịp. Giận quá, anh hét to:

- Sa-môn Cồ-đàm! Hãy dừng lại.

Đức Phật mỉm cười trước mũi đao chỉ trong gang tấc:

- Ta dừng lại đã lâu rồi. Chỉ có ngươi chưa chịu dừng đó thôi.

Thế thôi. Chỉ cần dừng lại.

Viết đến đây, tôi muốn nói vì sao tôi đã phải giật mình khi một khách lạ vừa ghé đến, đã vui hưởng gió mát trăng thanh, cỏ lạ hoa thơm của vườn chùa. Trong khi, của sẵn trong nhà tôi lại chẳng nhận ra.

Xin được cảm ơn tác giả Truyện Văn Nhựt, không chỉ vì những thiện cảm chân tình mà tác giả đã dành cho Thiền viện chúng tôi, mà chính vì bài thơ của tác giả lại một lần nữa bỏ nhỏ với chúng tôi rằng: “Hãy dừng lại để lắng nghe mạch sống quanh đây chuyển nhựa thì thầm. Nếu không có đủ những nắng Hạ mưa Xuân, đói no sướng khổ, nước mắt nụ cười thì còn gì nữa là máu, là tim, là hơi thở của tôi, của chị, của em, của Linh Chiếu đất trời một cõi riêng.

 

 

12.Mưa Pháp

Mấy hôm nay mưa hoài. Đại chúng nghỉ công tác. Tôi thả bộ xuống suối khi trời tạm ngừng hạt. Một vài tia nắng nhạt len lỏi qua đám mây đen, rồi rẽ ngôi trên đọt lúa mọng sương một ngấn bạc. Tôi thấy chị.

Sáng cũng vậy mà chiều cũng vậy. Mỗi lần kinh hành xuống bờ suối, tôi luôn thấy chị âm thầm có mặt trong nắng trong gió. Đôi chân trần lún sâu trong ruộng sình ủng nước. Bàn tay sạm gân guốc nâng niu từng bụi ngọc bích nõn nà chờ ngày đơm bông. Chiếc nón lá tả tơi phủ hờ nửa bờ vai gầy chịu mưa chịu nắng. Trời cao, đất rộng, ruộng lúa xanh tươi… và chị, là dấu chấm phá điểm xuyết cho cái hồn của một hiện thực sống động.

Chưa bao giờ tôi nghe chị làm thơ hay vẽ. Nhưng hình ảnh chị giữa bùn sình nước đọng, chiếc lưng thon nhẫn nại cúi xuống khiêm cung, chịu đựng, đích thị là một bài thơ muôn vần muôn điệu, là một bức tranh nghìn màu nghìn sắc đã cho tôi một xúc động chân thành. Chất phác, hy sinh, vui vẻ, độc hành, độc bộ là những đường nét riêng của chị. Tôi không dám ngắm chị bằng cái mỹ cảm của một kẻ xem tranh mà xin được trang trọng đứng trước chị (cũng như đứng trước những bạn lữ thầm lặng giữa lòng đại chúng) như đứng trước một thiện hữu tri thức cỡ lớn trong đời mình. Thấy chị là dường như bắt được âm vọng của những lời kinh. Lời kinh xưa. Lời kinh nay.

Hồi đó, không biết Phật đi đâu tình cờ ngang qua một cánh đồng. Thấy người nông dân cặm cụi chăm sóc từng bụi lúa. Phật dừng bước, đưa mắt nhìn một lượt khắp các Thầy Tỳ-kheo, rồi dừng lại ở Tôn giả Xá-lợi-phất:

- Này các Tỳ-kheo, Như Lai muốn nói với các Thầy điều này.

Chư tăng im lặng chờ đợi. Phật mỉm cười, chỉ cây lúa nói:

- Người thấy được nhân duyên là thấy pháp. Người thấy được pháp là thấy được Phật.

Bài kinh tôi đã được học cách đây hơn mười năm. Nhưng mãi đến bây giờ, tôi mới nhận được phần nào ý nghĩa uyên áo, thâm thúy nhất của giáo lý duyên khởi. “Vì cái này có nên cái kia có. Vì cái này diệt nên cái kia diệt. Nhưng thể của pháp sanh diệt ấy chẳng sanh, chẳng diệt”. Thế mới kỳ diệu! Phật dạy người nào thấy được hoài như vậy, biết rõ ràng như vậy là thấy được pháp. Thấy được pháp là thấy Phật. Thấy được Phật là sướng nhất đời rồi.

Tất cả chúng ta chợt đến rồi chợt đi, đột biến trong cõi ảo, khác nào chùm bọt nước trong cơn mưa vội, có gì vui có gì buồn! Sao ta không thử hứa với nhau sống thật đẹp, sống hết tình những ngày mình đang sống, để vô thường có chợt đến trong sát na, lòng ta vẫn cảm thấy thanh thản, an tâm. Sống như lúa xanh giữa đồng ruộng.

Vừa rồi, Thầy tôi từ Đà Lạt về. Đại chúng đoanh vây. Thấy mưa, thấy đất, thấy mọi người đang đợi chờ, Thầy nói bài pháp “Cây bắp”:

- Việc tu hành của chúng ta cũng như việc trồng bắp. Hạt giống tốt là chủng tử lành. Đất phân là Thiền viện và Thầy bạn. Mưa nước là pháp vũ. Còn một yếu tố quan trọng nữa là chúng ta phải chuyên cần chăm sóc, để ý bắt sâu thì cây bắp sẽ xanh tươi, ra hoa kết quả, hiến dâng trái ngọt cho đời. Tham, sân, si chính là sâu bọ đục khoét bên trong, nếu chúng ta không chịu bắt bỏ thì dù cho có tưới nước pháp đến ngập lụt, cây vẫn chết như thường.

- Ni chúng nhớ, được sống trong lòng đại chúng là phước nhiều đời. Mỗi người mỗi hạnh, tất cả đều là thắng duyên tác thành cho mình. Phân càng hoai thì cây càng tốt. Những lời nói trái tai là những lời rất cần thiết. Những người sống lặng lẽ, nói ít hành nhiều là những người đáng quí. Thầy mong Ni chúng gắng sức nỗ lực. Nếu không như thế, dù chúng ta có ở trong lòng Phật pháp nhưng trọn kiếp vẫn là mây trôi!

Chiều ấy, Thầy dứt lời. Những sóng mắt thân quen nhìn nhau, rực sáng, nhiều hứa hẹn. Thầy gọi vài đứa lặp lại. Ai cũng trả bài làu làu. Tôi vui quá nhìn quanh. Tất cả đều có mặt. Trừ chị.

Mưa lại rớt hột nữa rồi. Mưa càng lúc càng thúc bách và dồn dập như nhạc trời. Tôi mong sao mưa thật dồn dập hơn để trôi hết những cát sỏi lợn cợn trong đầu, nghe rõ tiếng mưa, thấy rõ được mình và thôi đi lang thang trên những ý tưởng phiêu diêu lạc điệu.

Đưa Thầy tới cầu Song Chiếu, giữa trời dông gió chị vẫn còn dưới ruộng. Tôi kêu to tên chị và vẫy tay gọi về. Chị ngẩng đầu lên. Một nụ cười ướt đẫm trong mưa. Pháp vũ ngập trời.

 

13.Chánh pháp trong tôi

Từ phương trượng, Thầy tôi bước ra. Màu hậu vàng uy nghi như màu chánh pháp. Ngồi xuống chiếc ghế mây, Thầy nhìn một lượt khắp chúng đệ tử:

- Tất cả hãy ngồi vào ghế.

Mọi người đều thấy lạ. Cái khung cảnh đoanh vây dưới chân Thầy đã thành nếp. Hôm nay sao Thầy thay đổi? Tôi vẫn chưa hết ngỡ ngàng khi ngồi xuống chiếc ghế sau cùng cuối dãy bàn, thì lại nghe Thầy bảo:

- Tất cả hãy chấp tay lại niệm Phật cầu gia bị.

Tiếng hòa kinh của Thầy tôi, các pháp huynh tôi bất chợt như đọng lại trong hiện tại cái khung cảnh Linh Thứu sơn của quá khứ ngàn năm. Và giọng Thầy chậm rãi:

- Hôm nay, Thầy bắt đầu cùng với tụi con đọc lại thật kỹ những bản kinh, luận, sử mà chúng ta đã được học qua. Lần đọc này, có gì chưa hiểu tụi con cứ đưa ra, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu, suy nghiệm cho thật sáng tỏ, đồng thời tất cả cùng góp ý tu chỉnh những bản kinh Thầy đã giảng được hoàn bị hơn. Kinh giáo là phương tiện trợ giúp cho người thực tâm tu hành đi đến kết quả viên mãn, nên chúng ta không thể khinh suất. Để tỏ lòng tôn quí Pháp bảo, nên khi trùng tụng lại, Thầy muốn Tăng Ni phải dọn mình cho trang nghiêm thanh tịnh. Và sau này, những lúc không có Thầy, huynh đệ tụi con vẫn giữ theo tinh thần ấy, tiếp tục công việc Thầy còn dở dang. Mong sao việc làm này sẽ đem lại lợi ích cho bản thân chúng ta và cho mọi người trong hiện tại cũng như mai sau.

Thật là tinh khôi mà lại cổ xưa không cùng. Lời Thầy mới như hôm nay mà sao nghe cũ như hôm nao, làm tôi nhớ quá cái giây phút hơn hai ngàn năm trước trong hang núi Kỳ Xà Quật. Lúc đó, đức Phật vừa tịch khoảng hơn ba tháng. Nỗi đau mất thầy của Tôn giả A Nan chưa nguôi thì cái buồn bị tội bị rầy khi nghe Sư huynh Đại Ca Diếp trách cứ càng dồn dập. Nào là A Nan không chịu thỉnh Phật trụ thế, nào là tại A Nan mà nữ giới xuất gia, làm “giảm thọ” chánh pháp, nào là ai người ta cũng chứng Thánh mà A Nan thì cứ một bề đa văn cho đến ra nông nổi… Vậy là cuối cùng, Tôn giả không được vào dự đại hội kết tập kinh điển.

A Nan khổ quá chừng. Ngài vào rừng quyết hạ thủ công phu phen này. Sau bao ngày đêm không ngủ và trong lúc tuyệt cùng mọi nghĩ tưởng, Tôn giả vừa nghiêng mình định ngả lưng thì bỗng dưng sao mai bừng sáng. Lập tức Tôn giả nghiễm nhiên trở thành bậc A-la-hán, đệ nhất trùng tụng tạng kinh lần kết tập đầu tiên ấy. Để bây giờ, chúng ta mới có được những bản kinh của “Một thời đức Phật còn tại thế”. Mới thấy Sư huynh Đại Ca Diếp thương Nan đệ biết chừng nào!

Tinh thần giáo dục của Trưởng lão cũng đủ cho chúng ta thấy được thâm ý của Ngài. Đa văn bác học chỉ là phần thứ, sáng đạo tỏ tâm mới là việc chính yếu của người xuất gia tu Phật. Tuy nhiên ngôn hạnh tương ưng, tu học song hành mới có thể gọi là Tăng bảo. Và chỉ có Tăng bảo mới có thể hiểu được trọn vẹn thế nào là Pháp bảo, Phật bảo. Làm sao cho giáo đoàn hiểu được Phật và sống đúng như những gì Phật hiểu, Phật dạy, phải chăng chính là mục đích của những lần kết tập kinh điển?

Đó là câu chuyện thời chánh pháp.

Tôi sinh ra trong thời mạt pháp. Vì vậy ánh hào quang của chánh pháp như bị tư tưởng thời đại vô tình làm nhòa đi cái lung linh kỳ diệu vốn có của nó. Bất chợt hôm nay, được nép mình dưới uy quang của Thầy và các bậc huynh trưởng, tôi như thấy được những niềm tin, những đường nét sáng trong vừa ló dạng trên từng vóc dáng hình hài, trên đất, trên lá cây và trên mỗi khuôn mặt hôm nay. Không có thời gian và không gian phân cách sự cảm thông giữa người trước kẻ sau, giữa thiên nhiên cây cỏ với chim kiến trùng dế…

Và như thế, tôi có thể tạm gọi giây phút ấy là giây phút của chánh pháp được không? Khi mà sự sống và đạo không có gì tách rời nhau. Tất cả đều như ẩn hiện trong từng hơi thở, giọng đọc, ánh nhìn, nụ cười, nói nín… thật chân thành, kính tín, độ lượng của những người con Phật cùng hướng về nếp sống đạo. Và phải chăng sống đạo thì lúc nào cũng là thời đại chánh pháp. Sống đạo thì giờ phút nào cũng là giờ phút thiêng liêng, giờ vui bất tuyệt?

Giọng đọc của pháp huynh tôi mỗi lúc mỗi lúc như rõ hơn, sáng hơn: “Này Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc; thọ tưởng hành thức cũng lại như vậy…” Bất chợt tôi nghe một cảm giác tràn đầy hạnh phúc như được đi qua cái ranh giới của quá khứ, hiện tại ngàn năm.

 

 

14. Cánh thư xa

… “ Chị còn nhớ cái lần em mò ra chùa thăm chị, cũng là lần cuối cùng tụi mình gặp nhau. Hôm ấy, thấy chị, em đứng như trời tròng. Lặng câm, rồi em khóc… ”

Nhớ chứ Nhạn. Nhớ cả đoạn đường dài từ nhà tới trường mà ngày nào Nhạn cũng è lưng ra đèo tôi trên chiếc xe đạp cà tàng, vì không thể chịu nổi khi thấy tôi ôm cặp lội bộ dưới cái nắng Sàigòn. Tôi nhớ Nhạn. Vẫn cái nhớ thật nhiều của những chiều tan trường, hai đứa rủ nhau vào chùa Xá Lợi, xin Phật đi tu. Thế mà nhân duyên, nghiệp dĩ đã đưa đẩy… Nhạn theo chồng sang xứ người. Tôi ở lại, thực hiện ước nguyện của hai đứa. Giã từ Sàigòn.

Sáng nay, cánh thư Nhạn bất chợt như một cánh chim xa, đáp xuống sân chùa trao vội chút tin.

… “Mười mấy năm rồi. Giữa đất lạ quê người, cuộc sống em luôn thay đổi. Nhưng phải chăng niềm vui thường hay tỉ lệ nghịch với tuổi đời. Em bơ vơ hụt hẫng trước hạnh phúc như bóng câu qua cửa, chập chờn, vụn vỡ. Hai đứa nhỏ không biết sẽ ra sao? Em lại nhớ chị, nhớ đến tà áo nhật bình thanh thoát tụi mình mơ ước năm xưa. Chị, em muốn…”

Đừng Nhạn! Đã sinh ra làm kiếp chim trời thì trôi dạt mây khói là chuyện phải vậy thôi. Cánh chim nào lại chẳng vượt gió trước khi trở về được tổ ấm bình yên. Dù muốn dù không, Nhạn cũng phải lo cho hai đứa nhỏ. Tụi nó đã mất cha rồi, đừng để cho nó phải mất mẹ nữa Nhạn ơi. Có nhiều khi ta cứ nghĩ mình sẽ không sống nổi, không thể chịu đựng được cái hoàn cảnh đau lòng trước mắt. Nhưng mà không sao cả, nó sẽ qua đi. Bởi vì tất cả đều vô thường. Không có giọt nước nào chảy hai lần qua một điểm trên cùng một dòng sông. Cuộc đời của ai rồi cũng sẽ trở thành câu chuyện cổ tích cho con cháu ngàn năm sau. Có điều trong mỗi câu chuyện, nhân vật có thể hiện được tính cách, có để lại được điều gì tốt đẹp, có làm nên cho cuộc đời hôm nay và hôm mai những âm hưởng hay không lại là chuyện khác. Suy cho cùng thì nước mắt trần gian đâu phải của riêng ai. Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, nỗi khổ khác nhau, khó khăn khác nhau. Nhưng dù khó khăn nào đi nữa, cái khó nhất phải chăng là biết vượt lên chính mình? Tới một ngày nào đó, tất cả chúng ta đều trở nên già cỗi và chỉ có những đổi thay, thâm trầm nhào nặn thành chất sống là trẻ mãi mà thôi. Vậy thì tại sao ta không chắt chiu từng chút niềm vui, giữ hoài nét sơn sơ cho tâm hồn mãi non tươi.

Quế và Tía Tô đang rất cần sự chăm sóc, tưới tắm của mẹ nó. Đừng để cho cọng rau xanh phải ủ rủ héo hon trước khi chúng nẩy tược đâm chồi. Tôi thích cái tên Nhạn đặt cho hai đứa nhỏ quá. Ngọt ngọt, thơm thơm. Cái mùi của quê hương sao mà dễ nhớ, khó quên. Nhạn ơi, thương con và vượt khó là màu áo lam tôi muốn gởi đến cho Nhạn. Sống tha thứ, làm việc và chấp nhận những gì hiện có, không mong cầu là quá đủ để ta hạnh phúc rồi. Tôi vẫn nghĩ, bình an hay không là ở tại lòng mình, chứ chiếc áo có nghĩa lý gì đâu.

Hồi xưa, vua Trần Thái Tông cũng có chuyện buồn, quân vương lên núi đòi tu. Trần Thủ Độ không chịu, rượt theo thỉnh về. Thấy Thái Tông khó xử quá, Quốc sư Trúc Lâm cầm tay vua nói: “Phàm làm đấng nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ hạ, Bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên, việc nghiên cứu nội điển (kinh Phật), xin Bệ hạ đừng phút nào quên”. Lời khuyên ấy đã đưa Trần Thái Tông lên ngôi và trở thành vì vương sáng chói, mở đầu triều đại nhà Trần với tất cả cốt cách của một cư sĩ tại gia thoát tục.

Nhạn không quan trọng như thế. Nhưng đối với hai đứa nhỏ, Nhạn còn cần thiết hơn cả nhà vua đối với lương dân. Vui lên đi Nhạn. Bởi vì toàn bộ dòng đời lưu chuyển mang theo những chất ngọt bùi đều là tặng vật cho chúng ta. Hãy trân trọng nhận lấy với tất cả lòng biết ơn thì hạnh phúc sẽ ngay trong tầm tay. Đừng có ở núi này mà trông núi nọ, để rồi sau một vòng đời lẩn quẩn, ta lại thẩn thờ thốt lên bốn câu thơ đá vàng của thi hào họ Tô thuở nọ:

Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang,

Khi chưa đến đó luống mơ màng.

Đến rồi cũng vẫn không gì khác,

Mù tỏa Lô sơn sóng triết giang.

Cho tôi gởi hai mảnh rau nhỏ, nhờ Nhạn chăm sóc giùm với thật nhiều niềm tin và hy vọng. Để một ngày không xa, nếu chúng mình có gặp lại, ngồi bên nhau ta chợt thèm tô bún chan nước tương, có Quế và Tía Tô nữa. Còn gì hạnh phúc hơn, phải không Nhạn?

 

15.Tiếng hải triều âm

Tôi không ở phố biển nhưng rất gần với biển. Vì thầy tôi ở núi. Núi nằm cạnh biển.

Ngày xưa, con đường dẫn lên Chân Không đối với tôi quen lắm. Mùi đá núi hăng hắc sau một ngày nhuộm nắng hây hây mùi biển. Có hôm về thăm thầy, Sư phụ dẫn lên mút trên cao nhìn xuống biển. Một non, một nước, một trời riêng. Tôi rất thích.

Thật ra, đã bao lần ngắm biển nhưng chưa một lần tôi rõ thấu. Biển nào là biển một cành lao của tổ Bồ-đề-đạt-ma về Tây. Biển nào là biển ba đại tạng kinh của Bồ-tát Long Thọ. Biển nào là biển nhét vào lỗ chân lông của các bậc tác gia. Và, biển nào là biển của ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba… Ngắm biển như tôi thì quả thật là bối rối đó. Bởi vì biển có nói gì đâu?

Phật bảo chúng sanh khổ là tại nghĩ ngợi nhiều quá đi, rồi đổ thừa cho người ta làm khổ mình. Thì đó, biển vẫn vô tư mà có biết bao nhiêu tên gọi, bao nhiêu nỗi niềm. Biển nhớ. Biển buồn. Biển thì thầm… Biển cũng chẳng thèm minh oan làm chi. Đâu có cần.

Hôm đi Chân Nguyên, thầy dạo trên biển thưởng gió. Sóng vỗ rì rào, áo thiền tăng phất phới. Tôi cứ theo sau thầy, chụp lấy những dấu chân trên cát đùa với sóng biển. Đùa quên thôi. Không ngờ, thầy xoay lại hỏi:

- Con có nghe gì không?

Tôi thưa:

- Dạ không.

Thầy cười. Tôi cũng chẳng biết thầy cười cái gì. Lát sau, thầy khẽ nói:

- Có tiếng hải triều âm.

Từ đó đến nay có trên mười năm. Tiếng hải triều âm xa xưa cứ văng vẳng trong lòng tôi. Có lẽ vì thế mà tôi lại đến với phố biển chăng? Để từ giảng đường của Từ Quang tự này, mỗi sáng thứ bảy tôi được cùng đại chúng, lắng nghe lại tiếng hải triều âm từ năm xưa vọng về.

16. Thanh Mai sơn với Thiền sư Pháp Loa

Rời Côn Sơn, xe chạy theo những con đường quê đất đỏ đến Thanh Mai sơn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng.

Không đẹp và trầm mình giữa rừng thông cúc nở tiết trùng dương như Côn Sơn, không màu sắc chơi vơi gợi sắc màu như “Đường đi lên” của Trúc Thiên, không chập chùng mây nổi theo nhịp bước của người lên kẻ xuống như Hương Sơn, Yên Tử Sơn… Thanh Mai sơn trầm mặc khiêm cung, bình lặng sơn sơ. Một màu núi. Một màu không. Có lẽ vì thế, Thanh Mai sơn đã được Thiền sư Pháp Loa chọn làm nơi yên nghỉ sau cùng.

Thiền sư Pháp Loa với phát tích kỳ đặc của Ngài cũng đủ để cho ta thấy Thiền sư là một bậc pháp khí hiếm có. Và đã là tăng sĩ Việt Nam, thiết tưởng chúng ta không thể không biết sơ lược đôi nét về Ngài.

Sư sinh năm 1284. Trước khi sinh, thân mẫu Sư nằm mộng thấy có người trao cho thanh thần kiếm. Từ đó bà biết mình có thai. Nhưng vì quá chán ngán với tám lần sinh trước toàn là con gái, nên lần này bà cố tình uống thuốc phá thai. Phá tới bốn lần mà thai nhi vẫn chẳng sợ. Bà đành chịu. Đến khi sinh ra Sư, hay tin là trai, bà vui mừng khôn tả và vì thế nên Ngài có tên là Đồng Kiên Cương.

Càng lớn, Sư càng đỉnh ngộ khác người. Miệng không nói lời ác, ăn không thích thịt cá. Năm 21 tuổi, Sư gặp Điều Ngự Giác Hoàng liền xin xuất gia. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói:

- Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây.

Sư hầu hạ bên cạnh Điều Ngự, ra vào đều thưa hỏi, lâu ngày có chỗ tỉnh. Một hôm, Sư trình kệ bị Điều Ngự chê. Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, bỗng thấy bông đèn tàn rụng, Sư chợt đại ngộ. Sư đem chỗ ngộ trình lên Điều Ngự và được ấn chứng. Từ đây, Sư thệ nguyện tu theo mười hai hạnh Đầu-đà. Sau khi thọ đại giới, thấy chỗ tu học của Sư đã thành đạt, Điều Ngự ban cho Sư hiệu Pháp Loa.

Phật giáo đời Trần bắt đầu mở ra một thời kỳ phát triển rộng khắp kể từ khi Giáo hội Trúc Lâm Yên Tử có được cánh tay hỗ trợ đắc lực của Sư. Có thể nói, ngoài việc nối nắm tông phong, lãnh đạo Giáo hội Trúc Lâm Yên Tử do Điều Ngự ủy thác, Ngài còn hoàn thành xuất sắc các công tác Phật sự quan trọng khác như tạo tự, độ tăng, thuyết giảng và đáng kể nhất là in ấn bộ Đại Tạng kinh Việt Nam đầu tiên, nhưng rất tiếc đến nay đã không còn. Ngài quả thật là một tấm gương sáng cho tăng sĩ Việt Nam, suốt một đời hành đạo và hóa đạo không biết mệt mỏi.

Càng đi lên, Thanh Mai sơn càng u tịch sâu kín. Để bất ngờ, qua một ghềnh suối vắng, bật lên tòa cổ tháp rêu phong với hai chữ “Viên Thông” hiển hiện như chính công hạnh tròn đầy của Tổ sư. Ngài để nhục thân lại Thanh Mai sơn như một sự gắn bó chung thủy với núi rừng của một sơn tăng thoát tục, dù bao năm gót chân có dẫm mòn lối vào cung vàng điện ngọc hay qua lại dọc ngang trong cát bụi phù du.

Tôi nhớ tuổi của Tổ sư tịch nhưng tôi không dám nhắc đến. Bởi vì tuổi thọ của một Thiền sư thật ngắn ngủi mà cũng thật vô tận trong giới hạn của một trần gian này. Bài thơ từ biệt chúng của Ngài đã nói lên được tất cả điều đó:

Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,

Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.

Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,

Na biên phong nguyệt cánh man khoan.

Dịch:

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn,

Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng.

Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,

Bên kia trăng gió rộng thênh thang.

Trong các nỗi khổ của nhân sinh, có lẽ nỗi khổ lớn nhất là nỗi khổ tử biệt. Nhưng bài thơ của Thiền sư tuyệt nhiên không có nỗi đau thương, không có lời nuối tiếc mà ngược lại toát lên phong thái ung dung, thanh thản của một thiền tăng trở về quê xưa. Nẻo thiên sơn vạn thủy, cảnh bát cơm ngàn nhà… vạn sự giai không. Ngài trả giấc mộng lại cho muôn duyên để đi về “Bên kia trăng gió rộng thênh thang”. Nhẹ nhàng, thanh thản đến vô cùng.

Chiều quá. Tôi theo Thầy xuống núi. Cả một tòa Thanh Mai sừng sững giữa trời. Cỏ cây cũng bàng bạc trong sắc sắc không không, như nói như cười, như có như không.

Sư có nói

một chiều

ghé Thanh Mai.

Tăng bào

chúng duyên

Thần tăng gởi lại.

Vạn cổ

thiên nhai

Sư đi về…

Thôi nhé! Thanh Mai

17.  Khúc đời dạo qua

Viết cho Kỷ yếu 10 năm Trúc Lâm - 2002

Cách đây hơn nửa thế kỷ, khoảng tháng tư, một chiếc thuyền con đã âm thầm tách bến qua sông. Khuya hôm ấy dòng sông Hậu nước triều dâng, bầu trời tỏa ánh trăng đêm trung tuần, lấp lánh những viên ngọc nước nổi lên từ đáy sâu, tiếng chèo khua róc rách giữa thinh không cô tịch. Thuyền một bóng, sông một dòng. Con nước rẽ đôi.

Chuyện đời người không biết phải bắt đầu từ đâu? Bởi lẽ phút cuối bên cửa tử là giây đầu nơi chốn sinh. Thầy đã đến và Thầy sẽ đi, hay Thầy đã đi và Thầy đã đến? Chúng con không biết. Nhưng chắc chắn là Thầy đã có mặt, đang có mặt và mãi mãi có mặt. Tất cả đều hiển nhiên nhưng thật bất ngờ. Bất ngờ như chiếc áo phong sương hôm nào thoáng chốc biến thành chiếc cà-sa khoác lên vai người sông Hậu năm xưa. Để từ đó, qua nhiều khúc trôi dạt nổi nênh, Thầy độc hành độc bộ đi vào cõi thiền sắc sắc không không.

Thầy về núi Tương Kỳ. Vì núi cao sẽ làm cho lòng người cao hơn, suối sâu sẽ làm cho lòng người sâu hơn. Hai cung bậc, một nhịp duyên sinh vỡ tung trong khoảnh khắc mà thiên thu tĩnh tại. Ở núi dễ tu. Lòng sơn tăng cũng sừng sững như non, tiêu dao phóng khoáng, vương bổng chẳng thể buộc ràng. Chân Không khiêm cung, giản dị. Nơi đây dòng thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 được khơi mạch chảy tràn về đồng bằng phố thị. Thường Chiếu, Viên Chiếu, Linh Chiếu, Huệ Chiếu, Phổ Chiếu… ra đời nói lên tâm nguyện của Thầy, mong cho dòng thiền nước Việt sáng mãi, sáng khắp đến không cùng.

Ta-bà là cuộc chơi, Thầy cũng dạo cho vui. Hai mươi năm sau lại lên non Phụng Hoàng. Cánh chim Phụng tung gió một ở đầu non, một cuối ghềnh. Chiều Đà Lạt, sương un khói nhạt, hồ Tuyền Lâm lặng lẽ như gương. Chúng con trở về trước khi nắng tan, bất chợt thấy Thầy đã ngự trên đỉnh non tự bao giờ. Thong dong, tiêu sái.

Trúc Lâm Đà Lạt bây giờ hay Trúc Lâm Yên Tử thuở trước, đầu hay cuối? Thật ra điều này không quan trọng mà quan trọng là hồn Trúc Lâm ở đâu? “Chỉn Bụt là lòng”, vua Nhân Tông đã nói như thế. Bao nhiêu năm qua Thầy dạy chúng con xoay về mình, biết được mình, sống với mình là tự đầy đủ rồi. Vạn sự giai không, buông bỏ hết được mất hơn thua, thương ghét chẳng để lòng, sống thảnh thơi nhẹ nhàng. Thế thôi!

Nơi đây, con không dám viết về Thầy với dòng Thiền Việt Nam của những năm, những tháng đánh dấu một thời. Tại vì con biết ngòi bút của mình không với tới. Con chỉ biết Thầy là Thầy. Có gì lạ có gì quen của Thầy với Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 hay Thầy với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thuở trước, thì Thầy vẫn là Thầy. Tâm thông trí sáng, lòng khoan dung độ lượng, nhậm vận tùy duyên. An vui, thanh thoát.

Giờ đây, chính Thầy cũng không ngờ ở tuổi tám mươi, mình lại chống gậy lên non một lần nữa. Về Yên Tử. Rừng trúc núi thiêng sau 700 năm chợt tỉnh giấc u trầm. Phong lai sơ trúc. Nhạn quá trường không. Bóng thiền tăng lại hiển hiện về. Ra đi hay trở lại? Muôn đời chỉ thế thôi. Con nhớ, hôm cuối cùng được gọi về hầu một bên Tổ, Thiền sư Bảo Sát đã thưa: “Tôn đức đi đến chỗ nào?”. Tổ dùng kệ đáp:

Nhất thiết pháp bất sanh,

Nhất thiết pháp bất diệt.

Nhược năng như thị giải,

Chư Phật thường hiện tiền.

Dịch:

Tất cả pháp chẳng sanh,

Tất cả pháp chẳng diệt.

Nếu hay hiểu như thế,

Chư Phật thường hiện tiền.

- Nào có đến đi gì?

Nói xong, Tổ nằm an nhiên mà tịch như sư tử vương. Điều Ngự Giác Hoàng Tổ Phật, Ngài đứng lên như mặt trời, nằm xuống tựa trăng sao. Chẳng sanh chẳng diệt, nào có đến đi gì? Trăm năm sau, nghìn năm sau, ánh sáng vằng vặc giữa trời không. Cội xưa lá rụng về.

Xưa Tổ lên núi để rồi xuống núi, về với nhân gian dựng lại chút mộng đời. Nay Thầy ở núi mà chưa bao giờ bỏ chúng con trong vạn nẻo tử sanh. Tại vì, mỗi chúng con là hạt mầm của Thầy, là hoa trái của Tổ. Khu vườn tuy cũng có lúc hoang phế, xanh rêu nhưng con tin hóa thân Người luôn lẩn quất đâu đây chăm chút, tưới tắm, chắt chiu, đợi chờ. Duyên Thầy trò có thể trong một phút tình cờ nhưng lại là muôn thuở.

Thiền tông Việt Nam có được Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là Phật giáo Việt Nam có được viên ngọc sáng mang dấu ấn Như Lai. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có được Trần triều Thánh Tổ là dân tộc Việt Nam có được sức đại hùng đại lực chiến thắng giặc ngoại bang và cội gốc tham sân phiền não. Trần triều Thánh Tổ có được Thiền tăng Việt Nam 700 năm trước, 700 năm sau với trí tuệ và từ bi tròn đầy, là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có được mạng mạch cửu trụ trong lòng Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.

Và như thế,

Khúc đời dạo qua không còn là chuyện của một người, mà đã trở thành chuyện của trăm người, nghìn người, trăm nghìn người… nối tiếp nhau trao truyền ngọn Tổ đăng đất Việt, sáng mãi trong lòng nhân loại từ nghìn xưa cho đến nghìn sau.

18. Thưởng biển

Xe lăn bánh.

Một ngày thưởng biển của Linh Chiếu đã tàn khi chiều buông. Tôi vẫn còn sót lại trên bãi chiều hôm ấy lẫn tiếng sóng cồn. Một tia nắng già vừa rủ xuống. Ánh tà huy đã vụt tắt. Tôi không thể chần chừ dưới bãi biển được nữa.

Con đường dẫn lên Chân Chiếu chưa quen lắm, cỏ cây còn lạ dấu chân người. Tôi vào chùa, ngồi trước hiên chơi một chút. Cô bước tới hỏi:

- Sao Chiếu không đi Ngọc Hải chơi?

- Dạ… thôi.

- Chiều nay ở đây làm gì vậy?

- Dạ, không có làm gì.

- Đọc sách không?

- Dạ.

- Có sách Nhi Đồng nè.

Tôi bật cười. Cầu trời cho tôi mãi mãi là trẻ nhỏ.

***

Tôi quan hệ khá lâu với cô qua những lần sách vở nhưng ít khi gặp gỡ. Cho đến bây giờ, mỗi lần đối diện nhau tôi vẫn chưa quen bắt chuyện.

Xoay sang chị Mai, tôi hỏi:

- Chiều nay chị chở cô đi Ngọc Hải, chụp được mấy “pô” mặt trời lặn rồi?

- Chụp chụp cái quỷ gì! Ba đám mây hắc ám.

Cô nhìn tôi nhướng mắt khoe:

- Chị chụp cho Mai một kiểu “giang tay ôm mặt trời rụng”.

Cả ba cùng cười. Mâm cơm đã có sẵn, cô và chị Mai chỉ việc ăn.

Tôi bước xuống thềm, lần ra phiến đá trước ngõ. Mệt mỏi sau một ngày nhảy sóng với huynh đệ, bây giờ được thả bước một mình giữa núi rừng thanh vắng, tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Từ trên cao, nhìn thấy sóng đêm trắng xóa như thách đố, như trêu ngươi cùng tuế nguyệt, cùng mặt nước mênh mông, bất chợt tôi rùng mình… Một tình cờ nào đó đã xui khiến chúng ta quay cuồng trong những cơn lốc vọng động bất kể đêm ngày, để rồi sau đó ai sẽ phải chịu bao cảnh thăng trầm đây? Thật không mà như có. Rồi cũng sẽ có một tình cờ nào đó, khi chúng ta hết sức vất vả để giành lấy sự sống ngay bên bờ vực thẳm, thì bỗng nhiên mọi sự đời được rũ sạch đi hết, trả lại cái uyên nguyên buổi ban đầu. Thật có mà như không.

- Hạnh Chiếu ơi! Chiếu đâu rồi?

- Dạ em đây.

- Đi đâu vậy?

- Em hóng mát một tí.

- Vô đây nói nghe nè. Trời tối rồi, đi đâu một mình ở ngoãi vậy, ma bắt đó nghen.

- Dạ, em vô ngay.

- Bây giờ Chiếu muốn thức chơi hay muốn ngủ?

- Dạ ngủ.

- Ờ, ngủ đi. Chị cũng mệt quá rồi.

Chung vô mùng chớ dễ gì mà tôi ngủ được. Cái cửa sổ đã đóng kín mít. Ngộp thấy mồ, mà tôi đâu dám mở tại vì cô sợ gió.

Xoay qua trở lại, thấy chỉ toàn là đầu trọc chung quanh. Tôi tự hỏi:

- Tại sao mình đi tu?

Rồi tự trả lời:

- Cũng chẳng biết tại sao.

Tuổi nhỏ theo nhau như trang sách. Lớn lên là đã vào chùa rồi. Thú thật, tôi có hơi nhát khi thấy cái thảm cảnh vỡ tan, khổ đau của bao người đi trước nên thay vì bon chen trên đường đời, tôi đã muốn náu mình một nơi khiêm tốn hơn từ thuở còn cắp sách đến trường. Chứ cũng chẳng hay ho gì.

Ở ngoài trắng cả một trời trăng. Nhờ có mấy khuôn bông gió nên tôi ké được đôi sợi ánh sáng. Giờ này mà dạo mát một vòng thì sướng biết mấy.

- Cái gì mà lăn qua lộn lại hoài vậy Chiếu?

- Dạ, ngủ không được cô ơi.

- Cái gì mà không được. Ngủ đi.

Ghê thật. Cô có máu lãnh đạo đầy mình. Đã vào giấc mà cũng còn kiểm soát khít khao. Bận này thì ngủ được hay không gì, tôi cũng nằm im re. Mất tự do quá.

***

Đêm đã qua.

Ngồi trong phòng thoáng nghe tiếng ai hát, nhưng không rõ hát cái gì. Tôi bật dậy ra ngoài và bắt gặp cô… Cô hát thì được.

- Sáng nay Chiếu về hả?

- Dạ.

- Mấy giờ?

- Có lẽ em về sớm. Nhưng còn tùy chị Mai.

- À, chị có nhờ Mai ra bến xe một chút. Chiếu đợi nha.

Tôi gật đầu và ngồi vào bàn ăn.

Chân Chiếu vẫn còn đơn sơ lắm. Cùng với Chân Nguyên, cả hai ra đời như một giấc mơ. Và có lẽ giấc mơ của Chân Nguyên huyền ảo hơn nhiều. Hãy đợi xem.

Cơm sáng xong. Mọi người cũng lần lượt kéo nhau ra biển.

- Chiếu ơi! Tắm cái rồi hãy về.

Tôi lưỡng lự vì không biết chị Mai đi lâu mau.

- Chị lấy đồ cho thay nha?

- Dạ thôi.

- Hỏng tắm hả?

- Em dạo bờ biển thôi. Cô thay đồ đi.

- Ờ, chờ chị chút.

Trong khi chờ đợi, tôi phóng nhanh lên những tảng đá chênh chếch sừng sững phía trước chùa, lặng nhìn xuống biển. Thật không cường điệu chút nào để nói rằng có một hấp lực vô hình giữa núi và biển khi trăng lên và vào lúc này:

Trời đất thanh thanh màu như ý,

Rừng ôm bóng ngủ dưới sương gầy,

Trăng và trăng lưng trời đáy nước,

Đêm trở mình người vẫn ngồi đây.

Trời thấp xuống làn mây,

Mây nghiêng xuống đầu cây,

Cây nghiêng mình xuống đất,

Đất vòng lên trời mây…

                                               (Có mặt - Trúc Thiên)

Đứng thả hồn thật lâu đến khi nghe tiếng gọi, tôi giật mình chạy xuống bên cô, không quên kèm theo một cái nhìn biết lỗi.

- Đi đâu hoài vậy, chăn Chiếu còn cực hơn chăn trâu nữa à. Nè, đội nón vô.

Tôi le lưỡi đón lấy chiếc nón và cả hai cùng hướng ra biển. Trên đường đi cô gợi chuyện:

- Hạnh Chiếu nè, ở Linh Chiếu vui không vậy?

- Dạ cũng bình thường.

- Bình thường là sao?

Chợt lúc ấy, tôi mới nhận ta mình ăn nói vô duyên tận cùng. Sợ cô cụt hứng, tôi bèn chống chỏi:

- Dạ vui. Nhưng lâu lâu cũng có buồn. Còn cô thì sao?

- Ờ, cũng được.

Lại một câu trả lời tương tự. Tôi mừng thầm, đâu phải chỉ có mình tôi nói chuyện như vậy… A! Xin lỗi.

- Nhưng…

Một tiếng “nhưng” ngập ngừng dường như hữu ý. Tôi im lặng chờ đợi. Chúng tôi đi thật chậm và cô bắt đầu nói:

- Không biết có phải tự bào chữa khi nói rằng ở vào vai trò và trách nhiệm của chị, bình tĩnh để quán sát, đối đầu, quyết định mọi công việc trong cũng như ngoài mà vẫn không quên mình thì thật khó quá. Mối quan hệ giữa sự chịu đựng, tổn thất và tình yêu thương huynh đệ luôn là những vế đối khiến chị có nhiều suy nghĩ. Chị không trách ai cũng không bênh vực cho mình. Nhưng phải nói, tất cả đã dạy chị biết bao điều. Trải qua không ít lần thử thách, phạm những sai lầm, có lẽ chị đã trưởng thành nhanh chóng hơn. Chị tin như vậy.

Ngày xưa, khi còn ở Ni trường, với khái niệm mơ hồ về sự khó khăn của một vị thầy, một người chị dẫn dắt đàn em, chị chưa thể có sự thông cảm nào. Đến bây giờ mới thấm tận xương tủy. Nhất là khi thầy chị không còn nữa.

Cô ngừng lại ở đó. Và tôi cũng hiểu tại sao. Bãi biển trải dài trước mắt. Màu xanh của biển và màu trắng của cát tạo thành một đường nét sống thực, hài hòa thanh tú. Ngang qua bãi tắm có tiếng gọi ơi ới:

- Tắm, tắm cô, tắm Chiếu.

Cô cười gật đầu:

- Chút xíu nữa đi. Bây giờ trời còn lạnh.

Và tôi tiếp tục đi bên cô. Cô chỉ về một tảng đá xa xa đề nghị:

- Mình tới đó xem thử.

Tôi gật đầu ngoan ngoãn. Sóng biển ban mai cũng ngoan ngoãn. Tôi nhìn cô chờ đợi. Câu chuyện được tiếp tục:

- Nhớ lại khi thầy còn sống, chị đã không làm được điều gì đáng kể cho thầy vui. Ngay cả ước nguyện viết lại một đoạn đời của thầy, chị cũng chưa thực hiện kịp. Bây giờ thầy mất rồi, có hối tiếc ăn năn cũng đã muộn.

Bao nhiêu năm nuôi nấng,

Làm phật ý Thầy nhiều.

Lòng bâng khuâng tự hỏi

Biết con còn đáng yêu?

- Chị dở quá phải không Chiếu?

Tôi siết chặt tay cô hơn:

- Bây giờ cô có về trong đó thường không?

- Ít lắm.

Gương mặt cô thoáng buồn. Tôi cũng hiểu tại sao. Để vui hơn, tôi chuyển hướng:

- Có bao giờ cô nghĩ rằng mình sẽ kết tóc trọn đời với Viên Chiếu không?

- Chị chưa nghĩ đến điều đó bao giờ. Nhưng nếu thật sự như vậy thì cũng tốt thôi. Mà câu trả lời đúng nhất là “tùy duyên”. Hạnh Chiếu đồng ý không?

Tôi gật đầu nhìn cô nửa xa nửa gần. Cô thọc tay trong cát, bươi dưới đó ra một mãnh võ sò còn nguyên, lấp lánh nhiều màu sắc lạ, vân vê trong lòng bàn tay vẻ thích thú. Rồi cũng với giọng đều đều khi nãy, cô nói tiếp:

- Cho đến bây giờ, Viên Chiếu đối với chị không còn nhọc nhằn như xưa nữa. Mấy huynh đệ lớn hết rồi, đều tự ý thức và biết gánh vác công việc phụ chị. Nhưng phải nói rằng, điều đáng quí hơn hết là sự hiện diện của Ông già. Chị cảm thấy sức gia trì, che chở, bảo ban của Thầy là một nguồn phước báu vô biên cho chúng ta. Chị thầm nguyện thầy sống lâu mạnh khỏe, để chúng ta còn đủ thời gian trưởng thành, cứng cáp trước khi thầy…

Cả hai chúng tôi bỗng dưng đều im lặng. Tôi nghe như từng tiếng nói của Thầy hôm nào chợt rót vào tai trong lúc này:

- Trên đường tu tập của tụi con, có hai điều mà thầy lo lắng nhất. Đó là ý chí và sự miên trường. Người có ý chí mà không miên trường thì trước sau gì cũng bỏ cuộc. Kẻ được miên trường mà không ý chí thì không đi tới đâu. Tụi con thương thầy, thương đời tu của tụi con, thì phải nhớ lấy điều này và tự biết mình phải làm sao.

Đó là tất cả những gì còn lại trong lòng tôi. Trên cao một đám mây mỏng vừa tan nhanh. Cái gì rồi cũng tan. Còn lại gì?

- Hạnh Chiếu!

- Dạ.

- Đang nghĩ cái gì vậy?

- Cô làm em nhớ thầy.

Cô kéo tay tôi lôi đi tới một đồi đá trên cao:

- Nè, đố Hạnh Chiếu tại sao những tảng đá này ở tít trên xa, mực nước không dâng lên được mà đá cũng mòn lẵn như từng bị xói mòn vậy?

- Có lẽ bao thế kỷ trước, mực nước đã dâng tới đây.

- Ờ, giỏi. Nhà Phật gọi là sinh, trụ, dị, diệt đó nhỏ. Chị thuyết pháp một chút được không?

- Dạ được.

Cô cười huề:

- Nói chơi chứ chị rầu lắm. Không biết làm sao đứng trước sự vô thường mà lòng mình vẫn thường đây? Có nhiều khi chị muốn nhập thất tu rục để chăn con trâu hoang của mình, thử coi chừng nào nó được “sờ sờ, đuổi cũng hỏng đi”.

- Chắc cô thích nhập thất lắm phải không?

- Ờ, mà nhập lỏng lỏng thôi.

Cả cô và tôi đều bắt gặp nhau trên ánh mắt mỗi người một nụ cười hóm hỉnh. Ngoài kia mặt biển lấp lánh ánh dương. Tia nắng đã bắt đầu xuyên qua mỏm đá rót lên đỉnh đầu.

- Cô, nắng lên cao nhiều rồi đó.

Cả hai cùng phóng sang những tảng đá thấp bên cạnh. Chúng tôi lách mình qua những khe đá có hình thù kỳ đặc tợ như thạch động. Tôi sờ vào một tảng đá nằm khuất bên trong rồi gọi cô:

- Cô nè! Nhìn xuống đây xem. Không biết nước chảy kiểu nào mà nó bị xiết mòn với một dạng đá thiệt đẹp.

- Đâu?

- Nè, cô khum thấp xuống.

- Ờ, ờ. Chị thấy rồi. Í! Hạnh Chiếu đừng thọc tay vào đó, ruổi có con gì nó cắn à.

- Không sao mà.

- Biết đâu được. Hạnh Chiếu đừng cãi chị.

Cô kéo tôi về hướng bãi cát và theo lối cũ lần trở về. Bỏ lại sau lưng những dấu chân trên cát. Hai chúng tôi tiến về phía trước gần nơi quí cô tắm. Cô sủi sủi chân trong bọt nước nói thì thầm, dường như không cần ai nghe:

- Kể cũng lạ! Biển thường tự trụ vị, mà con người lại gán cho nó quá nhiều biểu tượng. Trong một bản nhạc, nghệ sĩ nào đó đã viết: “Ngày mai em đi biển nhớ tên em gọi về, gọi hồn liễu rũ lê thê, gọi bờ cát trắng đê mê…” Có nghĩa biển là một khung trời kỷ niệm đầy chất nhớ nhung của những anh chàng si tình. Ngược lại, trong kinh thì nói “Ái hà thiên xích lãng, khổ hải vạn trùng ba”, nghĩa là sông ái ngàn lượn sóng, biển khổ dậy ba đào. Thì ra, đại dương là biển khổ đối với chúng sanh. Còn chư Phật chư Tổ thì “Giác hải Tỳ Lô Giá Na thênh thang trùm khắp, không sanh, không diệt, không hình không tướng, nhi nhiên lặng lẽ”… Bây giờ mình biết nghe ai, Hạnh Chiếu?

- Mình con Phật. Thôi nghe theo Phật đi.

- Ờ, cũng được.

Đã đến bãi tắm. Tôi lay tay cô:

- Cô xuống tắm. Em về.

- Bây giờ cũng trưa quá rồi, thôi để chị đưa Chiếu về.

Tôi lo lắng nói với cô:

- Sáng giờ chắc Bạch Mai trông lắm.

- Ờ, dám ảnh đổ quạo cũng nên.

- Không sao, chị hay la um sùm nhưng rất tốt.

- Chị cũng nghĩ vậy.

Có một khoảng cát dầy dẫn xuống bãi biển đầy những cọng cỏ cứng và nhọn. Nếu lỡ dẫm chân lên thì thật nhức nhói, chớ chẳng chơi. Hai chiếc bóng cứ né tới né lui, mãi một lúc mới lên tới mặt đường. Con đường nhựa chập chờn sóng nắng. Cô nheo nheo mắt bảo tôi:

- Hạnh Chiếu về giờ này nắng dữ đa.

- Nhưng không thể trễ hơn được nữa cô à. Em đã quá phép rồi.

Cô nhìn tôi ái ngại:

- Về trễ có bị rầy không?

- Nếu về kịp sáng nay thì không trễ.

Chiếc Honda đã chờ sẵn.

Chị Mai rồ máy. Tôi lên xe. Cô vội với tay trao cho tôi chiếc nón rơm và không quên gởi theo một nụ cười.

 

19. Trang đời là một trang kinh

 

Chiều nay, cũng vẫn chiều của những trang kinh bên khung cửa sổ quen thuộc. Giọt nắng thủy tinh nhểu lại một vài tia sau cuối trên đọt lá trước khi trời sập tối vì đổ mưa. Gió hắt cay xè qua cửa mắt.

Tôi vẫn im lặng ngồi đó nghe tiếng chiều ngân dài bên trang kinh vừa khép. Mưa thật rồi. Mưa như trút xuống ký ức tôi cái chiều lang thang ở Huế. Đói, khát và mưa thầm thì đã làm cho nước sông Hương thêm ngấn lệ và câu chuyện lão hành khất, lại hiện về như một trang kinh còn sủng mực…

Ông già ấy, xanh xao gầy guộc với chiếc nón lá tả tơi chẳng buồn che kín đôi vai trần run rẩy. Đôi bàn tay héo úa chìa ra, lạc lõng cô đơn giữa dòng người tất bật vô tình. Chiều xếp bóng, ngày sắp tắt. Cơn đói khát lên tiếng cồn cào, chiếc thân gầy nhũn xuống mặc cho đôi tay vẫn trơ lỳ đờ đẫn. Và giữa lúc ấy, giữa lúc mà tia hy vọng mong manh sắp tắt thì một bàn tay bé bỏng ấm áp đặt lên, xiết chặt đôi tay còm cõi giá rét. Để từ đó, hai cảnh đời, hai tâm hồn kết tập thành một bài kinh:

- Cháu xin lỗi ông, cháu đã tìm khắp, đã lục lạo trong túi áo, trong cặp, trong thân mình. Cháu muốn biếu ông một vật gì đó, chút xíu thôi cũng được, nhưng cháu không có một cái gì cả.

- Cám ơn cháu… Cháu… đã cho ông… thật nhiều.

Và cứ thế, bàn tay vẫn trong lòng bàn tay. Một già một trẻ, một dòng suối cam lồ tuôn chảy giữa đôi cung bậc đầu và cuối trong bản giao hưởng về đời người. Giây phút ấy thật ngắn ngủi mà cũng thật thiên thu!

Em bé,

Xin cho tôi được cúi đầu trước em như cúi đầu trước một hóa thân Bồ-tát. Cái gì em đã cho thì không bao giờ mất và cái gì ông lão đã nhận thì không bao giờ là mãi mãi của riêng ông. Em có biết, chính em đã chấp cánh cho ông lão vượt lên trên số phận và đồng tiền để hiển lộ chân tánh bằng tình thương muôn thuở…

Xin cảm ơn chút mảnh đời ven đường đã cho tôi những rung động sâu thẳm. Có những khoảnh khắc mà vì ta quá miệt mài bên trang kinh nên vô tình hờ hững những trang đời kỳ diệu, mà trong đó trí tuệ và tình thương đầy ăm ắp vẫn tuôn chảy len sâu giữa dòng đời.

Tiếng mưa rào đã dứt. Thiền đường im vắng. Chút ký ức đi qua dòng hiện thực nhả lại một tia ấm yêu thương. Tôi vội viết đôi dòng gởi ông lão. “Đừng buồn nha ông. Bởi vì giữa dòng đời bọt bèo huyễn hóa, vẫn thơm ngát - Tình người - một đóa hoa

 

20. Đôi mắt Tổ sư

Thiền viện tôi có treo một bức chân dung tổ Bồ-đề-đạt-ma. Đó là một bức họa bằng nước lã và mực tàu với bút khí thật hùng mạnh. Cặp lông mày, đôi mắt và chiếc càm bạnh râu của Ngài biểu lộ một phong cách thật ngang tàng, khí phách, tương phản với cành sen dịu dàng trước hồ nửa búp nửa nở, cũng thật tự nhiên, thật tươi tắn.

Cứ mỗi lần ngắm sen nở là tôi lại thấy Tổ sư nhìn mình, rồi nhìn sen, đôi mắt sáng. Đôi mắt ấy, cành hoa ấy, có gì giống có gì khác đôi mắt xưa, cành hoa xưa của câu chuyện “niêm hoa vi tiếu”?

Một hôm đức Phật ở trước chúng hội Linh Sơn, quí thầy im lặng chờ đợi bài thuyết pháp thường nhật. Nhưng đức Phật vẫn không nói năng gì. Lâu lắm, Phật mới cầm một cành hoa sen đưa lên, đôi mắt nhìn thẳng về đại chúng. Hội Linh Sơn im phăng phắc. Thời gian như ngừng trôi, không gian như bất động. Giữa lúc ấy có một thầy nhìn Phật mỉm cười, đôi mắt sáng. Đức Phật vui quá, liền nói ngay lập tức:

- Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, pháp môn vi diệu. Nay phó chúc lại cho ông. Ông nên khéo giữ gìn và làm cho hưng thịnh.

Thầy ấy chính là Tôn giả Đại Ca Diếp.

Tôn giả đã đạt được sự giác ngộ triệt để khi nhìn thấy một cành hoa sen nên nhận được phần thưởng thật xứng đáng. Đó là tâm ấn của Như Lai. Bấy giờ, Tôn giả trở thành con người hạnh phúc nhất trần gian, không còn bị lệ thuộc và khống chế của sanh, lão, bệnh, tử. Tôn giả là đệ tử của Phật và cũng là tri âm tri kỷ của Phật. Bởi vì Tôn giả hiểu Phật.

Trong bài “Nhân duyên ngộ đạo”, có một đoạn Thiền sư Chân Nguyên viết như vầy:

Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,

Tương truyền tứ mục cố phân minh.

Liên phương tục diệm quang vô tận,

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.

Dịch:

Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,

Truyền nhau bốn mắt thấy phân minh.

Đèn đèn nối mãi vô tận sáng,

Trao gởi thiền lâm dạy hữu tình.

Bài kệ đủ tình đủ lý đã nói được thật sâu và thật tròn đầy cái giây phút thiêng liêng giữa hai thầy trò. Ngài Đại Ca Diếp đã nhận được trọn vẹn những gì Phật muốn trao. Mà thật ra hai thầy trò có nói gì với nhau đâu! Và, đó chính là cốt tủy của thiền.

Với con mắt của một kẻ phàm phu tục tử, tôi không dám lạm bàn về sự chứng ngộ của Tổ sư. Nơi đây, tôi chỉ xin được đón nhận và chiêm ngưỡng đôi mắt Tổ sư trước một cành hoa. Nếu là ngài Vân Môn, Ngài sẽ bảo: “Ca Diếp thấy cành hoa là cành hoa”. Thế thôi. Nhưng đôi mắt ấy, cành hoa ấy đối với những ai còn đứng ngoài ngõ, muốn gõ cửa nhà thiền vẫn là một giai thoại “như tiêu nguyệt chỉ” thật tuyệt vời. Bởi vì thông qua ánh mắt đó, nụ cười đó, Tổ sư thầm gởi đến những người bạn đồng hành một bức thông điệp với nhiều mật ý. Thấy cành hoa là cành hoa tức là thấy được sự hiện hữu của chính mình và sự hiện hữu của muôn sự muôn vật, mà không cần trí quán. Là thấy được thực tại. Là thấy tánh. Vì vậy mà Tổ sư đã mỉm cười. Và có lẽ, Ngài cũng đã cố gắng hết sức để cho chúng ta cũng mỉm cười, khi đối diện với một niềm vui chớm nở hay một nỗi buồn sắp tàn. Là vì Ngài không muốn chúng ta chìm trong đau khổ mà là ung dung trên đau khổ, thoát khổ. Đôi mắt ấy, nụ cười ấy vì thế được tiếp nối mãi.

Theo đó mà đôi mắt của Bồ-đề-đạt-ma dù ở trong tranh, nhưng khi nhìn ngắm một cành hoa vẫn động sinh như đôi mắt của tổ Ca Diếp vào thời Phật còn tại thế. Bởi vì, đối với Thiền sư, khuôn sáo thời gian và không gian có nghĩa lý gì đâu! Đôi mắt nào cũng biết nhìn, cành hoa nào cũng thật xinh. Cho nên các Ngài thấy hoa là thấy Phật. Đôi mắt của tổ Bồ-đề-đạt-ma vì thế mang biểu tượng của lòng tự tín, của trí dũng, của tuệ nhãn trực giác. Phong cách và tinh thần của Tổ sư vì thế trở thành thần tượng của những ai muốn có được một sự trầm tĩnh lớn, một an định lớn, một đức vô úy lớn, một sức mạnh tâm linh lớn. Có lẽ đó là nguyên do mà các thiền viện đều tôn thờ chân dung Tổ sư.

Tôi không phải là một Thiền sư, nhưng tôi cũng hữu duyên để làm một thiền sinh. Vì vậy, mỗi khi nhìn hoa sen, tuy không đủ diễm phúc thấy hết sự huyền nhiệm của hoa sen hay của chính mình, để cười nụ cười của ngài Ca Diếp, nhìn bằng ánh nhìn của ngài Đạt-ma, nhưng tôi tin tưởng luôn có sự hiện diện của các Ngài bên cạnh tôi, trợ lực tôi. Sự hiện diện đó không chỉ trên những biểu tượng hay những câu chuyện đi vào lịch sử quá vãng, mà sự hiện diện đó chính là sự có mặt thường xuyên của mỗi cánh sen, cành sen, cọng sen, rễ sen đang cắm sâu trong bùn sình và sẵn sàng vươn lên một đóa sen hồng tinh khiết, để cúng dường cho sự có mặt của mỗi vị Phật đương lai. Trong đó, có tôi và huynh đệ tôi.

Sáng nay, tôi nhìn thấy Tổ sư đang ngắm một cành sen. Cành sen hé nhụy ngắm cả một bầu trời xanh. Bầu trời xanh trở lại thênh thang trong đôi mắt Tổ sư. Và đôi mắt Tổ sư hiển hiện tròn đầy trong đôi mắt tôi.

 

 

---o0o---

Nguồn: chuyenphapluan.com

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-2-2007 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thiền Định Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.