Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

DANH LAM NƯỚC VIỆT

Võ Văn Tường - Huỳnh Như Phương

Nhà Xuất Bản Mỹ Thuật - 1995

 

[Bản dịch tiếng Anh]

---o0o---

Mục Lục 

Lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Lời nói đầu

Chùa Dâu (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Phật Tích (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Bút Tháp (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Trấn Quốc (Hà Nội)

Chùa Một Cột (Hà Nội)

Chùa Láng (Hà Nội)

Chùa Quán Sứ (Hà Nội)

Chùa Kim Liên (Hà Nội)

Chùa Thầy (Hà Tây)

Chùa Trăm Gian (Hà Tây)

Chùa Mía (Hà Tây)

Chùa Hương (Hà Tây) 

Chùa Tây Phương (Hà Tây)

Chùa Côn Sơn (Hải Hưng)

Chùa Dư Hàng (Hải Phòng)

Chùa Tháp (Phổ Minh) (Nam Hà)

Chùa Cổ Lễ (Nam Hà)

Chùa Hoa Yên (Quảng Ninh)

Chùa Keo (Thái Bình)

Chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Báo Quốc (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Quốc Ân (Thừa Thiên - Huế) 

Chùa Từ Đàm (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Thuyền Tôn (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Linh Ứng (Quảng Nam - Đà Nẵng)

Chùa Chúc Thánh (Quảng Nam - Đà Nẵng)

Chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi)

Chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định)

Chùa Phước Sơn (Phú Yên)

Chùa Long Sơn (Khánh Hòa)

Chùa Linh Sơn (Lâm Đồng)

Thiền Viện Trúc Lâm (Lâm Đồng)

Chùa Giác Lâm (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Ấn Quang (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Xá Lợi (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Vĩnh Nghiêm (Tp. Hồ Chí Minh)

Tịnh Xá Trung Tâm (Tp. Hồ Chí Minh)

Thiền Viện Vạn Hạnh (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Bửu Phong (Đồng Nai)

Chùa Hội Khánh (Sông Bé)

Chùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang)

Chùa Kh'leang (Sóc Trăng)

Chùa Tây An (An Giang)

Chùa Tam Bảo (Kiên Giang)

Thích Ca Phật Đài (Bà Rịa - Vũng Tàu)

Tài liệu Tham Khảo

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU  

Phật giáo bắt rễ đến đâu là thâm nhập ngay vào mọi sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Phật giáo Việt Nam là một tiêu biểu rõ nét: trong suốt hai ngàn năm gắn bó với đất nước và dân tộc, những ngôi chùa là những chứng tích lịch sử, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, in dấu những sinh hoạt của người Việt Nam qua các thời đại.

Trong những năm gần đây, khá nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về chùa Việt Nam đã được xuất bản. Đây là dấu hiệu đáng mừng trong việc khơi dậy tinh thần tôn trọng văn hóa dân tộc cũng như văn hóa Phật giáo. Cuốn sách DANH LAM NƯỚC VIỆT do Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương biên soạn là một đóng góp đáng kể cho nỗ lực đầy ý nghĩa ấy. Đặc biệt, qua những hình ảnh và các bài viết miêu tả các ngôi chùa nổi tiếng, hai soạn giả còn giới thiệu một số sinh hoạt, hành trạng, có khi cả những tình cảm, tư duy và sự khéo léo tế nhị của Phật gia, danh nhân lịch sử, văn thi gia, nghệ nhân qua các mẩu chuyện, truyền thuyết, bài thơ gắn liền với những khung thời gian, không gian liên hệ. Tất cả tạo thành một màu sắc truyền thống, đa dạng và sáng tạo, khi thì rực rỡ sống động, khi thì lung linh thi vị.

Ở đây, dù khá công phu và cẩn thận khi trình bày các tư liệu, những người biên soạn hình như không đặt nặng tính chất khảo cứu khoa học mà chỉ nhằm giới thiệu một số nét kiến trúc và điêu khắc độc đáo của chùa Việt Nam lồng trong một tấm lòng hoài cổ.

Hơn mười bốn ngàn ngôi chùa được thống kê - và có lẽ con số thực sự còn cao hơn nữa - đã tô điểm cho non sông nước Việt. Người Việt thường dùng hai từ ghép "danh lam thắng cảnh" như mặc nhiên công nhận chùa nổi danh đi đôi với cảnh xinh đẹp. Thực vậy, thiên nhiên làm đẹp ngôi chùa và ngôi chùa tạo duyên dáng cho thiên nhiên. Ngay cả những nơi đô hội, sự hiện diện của ngôi chùa hẳn cũng làm dịu bớt không khí náo nhiệt, sôi nổi đến gần như hời hợt vô tình của nếp sống hiện đại. Trong ý nghĩa này, thật khó mà chọn hết được những ngôi chùa nổi tiếng.

Tại sao soạn giả chọn 45 trong số lượng lớn các danh lam của nước Việt? Hiển nhiên, trước hết là do khuôn khổ giới hạn của cuốn sách; kế đến, theo như Lời nói đầu, "? đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa phương trên cả nước". Có thể có độc giả sẽ không đồng ý về sự lựa chọn trên, vì tiêu chuẩn chọn lựa còn bị hạn chế ít nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là một thống kê khoa học. Có lẽ những người biên soạn chỉ muốn cố gắng giới thiệu một số di sản văn hóa với lòng cảm xúc, sự kính mộ đối với tôn giáo Từ bi và Trí tuệ đã truyền sức sống của mình vào dân tộc và mang sức sống của chính dân tộc.

Nhận định như thế, tôi nghĩ rằng DANH LAM NƯỚC VIỆT của Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương là một công trình có giá trị và xin trân trọng giới thiệu cùng chư độc giả.

Chùa Từ Đàm, Trọng Đông Quý Dậu, 1993

Hòa Thượng THÍCH THIỆN SIÊU

 

LỜI NÓI ĐẦU

Từ lâu, nhiều ngôi chùa ở Việt Nam đã trở thành nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Tìm hiểu ngôi chùa không chỉ là để nhận thức con đường du nhập và truyền bá đạo Phật ở nước ta mà còn là để lĩnh hội nhiều phương diện của văn hóa Việt Nam. Chính điều đó sẽ góp phần nâng cao lòng tự hào và ý thức bảo tồn những di sản văn hóa quý giá mà tiền nhân đã sáng tạo.

Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, hòa vào phong trào bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc, nhiều công trình nghiên cứu về chùa Việt Nam đã được công bố. Biên soạn cuốn sách DANH LAM THẮNG CẢNH này, chúng tôi muốn góp phần khiêm tốn của mình giới thiệu với bạn đọc những nét khái quát về lịch sử, cảnh quan, lễ hội, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cùng những sự kiện văn học có liên quan đến 45 ngôi chùa nổi tiếng trên đất nước ta. Theo thiển ý, đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa phương trên cả nước. Bên cạnh các bài viết là những tấm ảnh màu ghi lại phong cảnh, công trình kiến trúc và điêu khắc các ngôi chùa. Tất nhiên vẫn còn rất nhiều danh lam tiêu biểu khác mà hoặc do chưa có đầy đủ tư liệu, hoặc do khuôn khổ tập sách, chúng tôi chưa thể giới thiệu ở đây. Xin bạn đọc rộng lòng lượng thứ.

Viết cuốn sách này, chúng tôi được may mắn tiếp thu, kế thừa những tư liệu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước qua các công trình biên khảo về Phật giáo Việt Nam cũng như về lịch sử các ngôi chùa. Kết hợp với các chuyến đi thực tế đến các địa phương, chúng tôi đã tìm hiểu, đối chiếu, bổ sung tư liệu để hoàn thành các bài viết của mình. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, chúng tôi chân thành cảm ơn chư vị trụ trì các tự viện, tịnh xá đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thu thập nhiều tư liệu; cảm ơn các tác giả những công trình mà chúng tôi đã tham khảo qua thư mục in ở cuốn sách; đặc biệt cảm ơn các ông Trương Ngọc Tường, Trần Tuấn Mẫn và Nguyễn Thái Hòa đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Dù vậy, cuốn DANH LAM NƯỚC VIỆT chắc chắn vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.

Cuốn sách này rất vinh dự được Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, viết lời giới thiệu. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm của Hòa thượng. Chúng tôi chân thành cảm ơn các dịch giả tiếng Anh - Trần Phương Lan, Nguyễn Văn Nghệ, Châu Văn Thuận và Thùy Dương. Chúng tôi cũng xin cảm tạ Ban Giám đốc Nhà xuất bản Mỹ Thuật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cuốn sách được ra mắt.

 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-1993

VÕ VĂN TƯỜNG - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

---o0o---

 

Chùa DÂU (PHÁP VÂN TỰ)

Dù ai đi đâu về đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

Mấy câu ca dao trên gợi lên nỗi nhớ về một ngôi chùa thuộc vào loại cổ nhất nước ta, được xây dựng vào đầu thế kỷ III sau Công nguyên, nằm ở trung tâm của cố đô Luy Lâu, nay thuộc thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Đó là chùa Dâu hay Pháp Vân Tự, đời Lý mang tên Cổ Châu, đời Trần mang tên Thiền Định, đời Lê mang tên Diên Ứng.

Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, chùa Dâu đã chứng kiến sự phát triển của một khu buôn bán sầm uất nằm trên giao điểm những con đường lớn thời xưa mà nay chỉ còn lại di tích đổ nát là thành Luy Lâu nằm ở ngã tư Thuận Thành (Hà Bắc) giữa hai tỉnh lộ: một về phía Bắc đến Đông Triều - Phả Lại, một về phía Nam đến Khoái Châu - Hải Hưng.

Lịch sử chùa Dâu gắn liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng dân gian nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu. Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một hôm, đang lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai. Một năm hai tháng sau, nhằm ngày 8 tháng 4 âm lịch, Man Nương sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt ra, đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương lại cắm cây thiền trượng xuống đất, cất lời cầu nguyện, thì phép màu lại hiện ra: trời đổ mưa. Một đêm mưa to gió lớn, cây đa cổ thụ nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương, bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ bốn vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp: Pháp Vân (tức bà Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu), thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng, thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ ở chùa Phương Quang).

Huyền thoại Man Nương, người mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp, đã khiến cho hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, các vị sư tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu thơ trên kia đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp. Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng (gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về qui tụ với chị cả là bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Sau lễ múc nước, dâng nước và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Vào ngày hội, trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ người.

Nằm trên một khu đất rộng ven sông Dâu - một nhánh của sông Đuống - Chùa Pháp Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả nước. Chính đây là nơi tu trì và thuyết pháp của các Thiền sư danh tiếng: Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, người Nam Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, dịch bộ kinh Tổng Trì Đại Thừa), Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện Hội? Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ và tâm truyền độc đáo giữa Ti-ni-đa-lưu-chi và Pháp Hiền diễn ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của Thiền trong đời sống văn hóa dân tộc.

Vốn là một ngôi đền mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần: giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại: "Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn còn". Chùa làm theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện, sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà dài vây quanh theo hình chữ "Quốc". Trong Phật điện, tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.

Nói đến kiến trúc chùa Dâu, không thể không nhắc đến ngọn tháp Hòa Phong vượt trên mái ngói nâu nổi bật giữa màu xanh của nền trời và bóng che. Được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp Hòa Phong vốn có 9 tầng. Thời gian làm cho đổ nát, nay tháp chỉ còn 3 tầng, cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống. Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng tu vào năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.

Được xây bằng gạch mộc to bản, xưa kia tháp Hòa Phong cao chót vót như một thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi vô minh thổi tới.

 

Chùa PHẬT TÍCH (VẠN PHÚC TỰ)

Chùa Phật Tích có tên là Vạn Phúc Tự - nguyên tên ban đầu là Thiên Phúc Tự - nằm trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du; nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.

Từ Hà Nội muốn đến thăm chùa, du khách có thể đi bằng ô tô hoặc các phương tiện sẵn có theo hai đường: một đường theo tả ngạn sống Đuống, đi dọc bờ đê chừng 15km, sau đó có lối rẽ trái 1km nữa thì đến chùa. Một đường chạy qua núi Lim rẽ về bên phải đi khoảng 15km thì đến làng Phật Tích rồi vào chùa. Chùa ở sát làng, nhìn ra sông Đuống, chỉ cách bờ đê 1km.

Theo văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686), "Vua thứ ba triều Lý (tức Lý Thánh Tông) vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) cất lên cây tháp quí ngàn trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao sáu thước, cấp cho hơn trăm thửa ruộng, xây chùa hơn trăm tòa". Tấm bia này còn ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc? Phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá?".

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đã đến thăm chùa, chính tay nhà vua viết chữ "Phật" dài một trượng sáu thước và khắc vào bia đá để dựng trước chùa. Sang đời Trần, chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần Nghệ Tông cho dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm 1384 Vua đã mở kỳ thi Thái học sinh ở chùa này.

Năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông (1686), chùa được xây dựng lại với qui mô đồ sộ và có giá trị nghệ thuật cao. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi có ghi: "Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, sáng như ngọc lưu ly? Trên thềm đằng trước có bày mười con thú, phía sau có ao rộng. Gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu Đẩu sáng lấp lánh. Lầu rộng, tay rồng với tới trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng?".

Chùa xây theo kiểu "Nội công ngoại quốc", có đến hơn trăm gian, trước chùa có ngọn "tháp dựa mây xanh vút vút tầng" như Nguyễn Xướng đã miêu tả trong bài thơ Tiên Du Vạn Phúc Tự. Đằng sau chùa có long từ, thạch thất có nơi giảng kinh. Bên cạnh chùa là miếu Tiên chúa thờ bà Trần Ngọc Am, có câu đối "Đệ nhất cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương".

Trong chiến tranh chống Pháp, quân đội viễn chinh đã tàn phá chùa Vạn Phúc. Ngày nay ngôi chùa cũ còn lại di tích là ba bậc nền bạt vào sườn núi, hình chữ nhật, mỗi nền dài khoảng 60m, rộng khoảng 33m. Nơi đây những năm 1949-1941, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những viên gạch lớn ghi rõ niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ tư (1057) và Chương Thánh Gia Khánh năm thứ bảy (1065). Trong các tác phẩm điêu khắc cổ, còn lưu lại 5 cặp tượng sư tử, tê giác, voi, trâu, ngựa nằm trên bệ hoa sen tạc bằng những phiến đá lớn, cao khoảng 2m. Ngoài ra còn có đá ốp tường, đấu kê, chân tảng chạm khắc các hình rồng, nhạc công, vũ nữ?

Tên chùa Phật Tích gắn liền với tượng Phật - một tác phẩm điêu khắc nổi tiếng hiện được thờ phụng trong ngôi chùa nhỏ mới xây sau này. Tương truyền rằng xưa kia có lần ngọn tháp của chùa bỗng đổ sụp, để lộ ra pho tượng này. Từ đó xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích. Tượng Phật này bằng đá cao 1,85m, cả bệ là 3m. Tượng tạng đức Phật đang ngồi thiền định trên tòa sen, bệ tượng tạc hình rồng và hoa lá. Tượng có nét mặt thanh tú, dáng thanh thoát từ bi, đường nét chạm rất tỉ mỉ và công phu.

Các địa danh Lạn Kha, Tiên Du còn gợi lên những huyền thoại người gặp tiên được lưu truyền mấy ngàn năm nay. Lạn Kha có nghĩa là cán búa nát, ghi lại tích Vương Chất lên núi đốn củi gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem không hay rằng cán búa bị mục nát vì thời gian trên trần thế đã trôi qua đến bảy đời rồi. Trên núi Lạn Kha này còn có tảng đá vuông, mặt phẳng lì gọi là bàn cờ tiên.

Còn Tiên Du nhắc nhở sự tích quan tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.

Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vần quy thiền sáp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Sơn không trúc ảnh trường

Có trung chân hữu ý

Dục ngữ hốt hoàn vương.

Nghĩa là:

Bóng xế thuyền con buộc

Vội lên lễ Phật đài

Mây về giường sãi lạnh

Hoa rụng suối hương trôi

Chiều tối vượn kêu rộn

Núi quang, trúc bóng dài

Ở trong dường có ý

Muốn nói bỗng quên rồi.

(Đào Duy Anh dịch)

Chùa BÚT THÁP

 (NINH PHÚC TỰ)

 

Đi lối cầu Đuống theo đường đê hữu ngạn hoặc rẽ trái từ ga Phú Thụy trên đường đi Hải Phòng, khoảng 15km, du khách sẽ đến xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc - trước kia là làng Á Lữ, xã Nhạn Tháp, huyện Siêu Loại - nơi có chùa Bút Tháp nằm giữa cánh đầng nhìn về phía Nam.

Chùa có tên là Ninh Phúc Tự. Khi Thiền sư Huyền Quang đến tu tại đây, ông đã cho xây tháp cao 9 tầng trang trí hình hoa sen , nhưng ngọn tháp đó ngày nay không còn nữa. Tháp Báo Nghiêm mang hình dáng quản bút khổng lồ vươn lên trời cao mà chúng ta thấy ngày nay được Thiền sư Minh Hành (1596-1659) dựng năm 1647. Năm 1876 tháp này được vua Tự Đức đặt tên là Tháp Bút, ngôi chùa từ đó mang tên Bút Tháp. Tháp xây bằng đá ghép, có 5 tầng, hình 8 cạnh, cao 13,05m, đỉnh tháp hình nậm rượu, giữa các tầng có gờ mái uốn cong. Bệ tháp mỗi bề rộng hơn 3m, có 2 lần tường bao bọc. Lòng bệ tháp đặt tượng Thiền sư Chuyết Công (1590 - 1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Trước phút viên tịch, Thiền sư đọc cho đệ tử nghe bài kệ:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm

Gió thoảng trăng non mát mát rờn

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

(Thích Thanh Từ dịch)

Vua Lê Chân Tông đã sắc phong cho Hòa Thượng Chuyết Công hiệu "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư".

Sau đó, Hoàng Thái Hậu Trị?h Thị Ngọc Trúc, hiệu Pháp Tánh, người làng Á Lữ? xin cha là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cho trùng tu lại chùa Bút Tháp ở quê nhà. Bà đã cùng Thiền sư Minh Hành chăm sóc việc trùng tu. Đến khi vua Lê Thần Tông băng hà, Bà đã về tu hẳn ở chùa.

Phong cách kiến trúc đời Hậu Lê để lại rất rõ nét trên kiến trúc chùa Bút Tháp. Được xây dưng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" như chùa Dâu, chùa Bút Tháp có một quần thể kiến trúc bao gồm: tam quan, gác chuông, tòa thiêu hương, thượng điện, cầu đá, tòa Cửu phẩm Liên hoa (Tích thiện am), nhà chung, phủ thờ, hậu đường. Tất cả gồm 10 tòa nhà, nằm trên một trục dài hơn 100m. Bên trái chùa là nhà tổ và tháp Báo Nghiêm. Lùi về phía sau có tháp Tôn Đức. Xung quanh tòa thượng điện là hàng lan can đá gồm 36 phiến chạm trổ tinh vi những cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước với hình ảnh cò bay trên đầm sen, cá lội, trẻ chăn trâu và một số điển tích khác như cá hóa rồng, tứ linh, tứ quí, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh?

Bước vào tòa thượng điện, cảm xúc về cái trác tuyệt hiện lên khi ta đứng trước tác phẩm điêu khắc nổi tiếng: tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.

Tượng Quan Âm cao 3,70m bằng gỗ phủ sơn được một nghệ nhân họ Trương tạc vào năm 1656. Tượng có 11 khuôn mặt , 994 tay với 994 con mắt nằm trong lòng mỗi bàn tay. Dưới chiếc mũ hoa sen, khuôn mặt chính diện trang nghiêm mà hiền hòa, hai bên má còn có hai khuôn mặt khác. Lại thêm 8 đầu nhỏ xếp thành hình tháp 3 tầng, trên đỉnh là một pho tượng nhỏ. Trước ngực hai tay chắp lại, sau lưng 40 cánh tay vươn ra hài hòa như hình lá sen, phía ngoài là 952 cánh tay nâng con mắt tạo thành một vòng hào quang. Trên đỉnh tượng là một đôi chim thần đầu người xòe cánh rộng áp vào nhau. Tượng đặt trên tòa sen, do một con rồng vươn lên mặt nước đội đỡ. Bốn góc là 4 pho tượng lực sĩ thân hình vạm vỡ ra sức nâng bệ tượng.

Bao thế kỷ qua, Quan Âm vẫn ngồi đó, nghìn mắt để nhìn thấy mọi trầm luân của trần gian và nghìn tay để sẵn sàng cứu vớt chúng sinh. Chiêm ngưỡng pho tượng, ta có cảm giác như đức Phật nghe được tất cả những âm vang của cuộc đời và truyền cho con người lòng nhân ái khoan dung cùng sự bình thản trong tâm hồn.

Chùa TRẤN QUỐC

  (TRẤN BẮC TỰ)

Từ vườn Bách Thảo qua đường Hoàng Hoa Thám sẽ đến một trong những con đường thơ mộng nhất của thủ đô Hà Nội: đường Cổ Ngư, ngày nay là đường Thanh Niên, nằm giữa hai hàng cây và hai hồ nước xanh lặng sóng. Hai hồ này ngày xưa chỉ là một với nhiều tên: Xác Cáo, Kim Ngưu (Trâu Vàng), Lãng Bạc (Sóng lớn), Dâm Đàm (đầm Mù Sương). Cách đây 400 năm, người ta đắp con đường Cố Ngự (nghĩa là cố giữ vững, sau đọc chệch thành Cổ Ngư) ngăn đôi hồ này: hồ nhỏ là Trúc Bạch, hồ lớn là hồ Tây.

Với diện tích 466ha, chu vi 17km, chung quanh có nhiều đền chùa, thắng cảnh, hồ Tây đã là nguồn cảm hứng của nhiều thi sĩ. Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Đức Quý đã có thơ vịnh Tây Hồ:

Thuyền chứa nguyệt đài ngần ánh tuyết

Viện lồng hoa diệp biếc đầm sương

Sen xanh in trúc lung lay nguyệt

Vầng biếc hoa mai phảng phất hương.

Bài Phú tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng là một áng văn nôm trác tuyệt đậm đà bản sắc dân tộc, thi hứng ngợi ca hùng khí triều đại Tây Sơn hòa trong cảm hứng trước vẻ đẹp hồ Tây.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong một chiều thu Hà Nội đã bắt gặp dưới ánh hoàng hôn hồ Tây hình ảnh "mặt nước vàng lay bờ xa mờ gọi, màn sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời" và đã sáng tác nên một ca khúc thật đẹp.

Từ con đường Cổ Ngư có lối dẫn vào một doi đất nằm bên mép hồ Tây, hình qui nên gọi là bãi Rùa, còn có tên là bãi Kim Ngư (Cá Vàng). Chính trên bãi đất này các vua nhà Lý đã dựng cung Thúy Hoa làm nơi nghỉ mát, các vua nhà Trần dựng điện Hàm Nguyên để ra vân cảnh. Nền cũ của cung và điện này ngày nay là vị trí của ngôi chùa vào loại cổ nhất nước ta: chùa Trấn Quốc.

Chùa này nguyên trước là chùa Khai Quốc (Mở Nước) khai sáng từ triều Lý Nam Đế (544 - 548) ở ngoài bãi sông Hồng, phía Đông Bắc phường Yên Hoa tức Yên Phụ, gần cầu Long Biên bây giờ. Tại chùa Khai Quốc, dưới triều Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã từng mở tiệc chay thết đãi các vị cao tăng. Bà cũng thường lui tới chùa cùng chư tăng đàm đạo.

Đến đời Lê Thái Tông (1434 - 1442) chùa được đổi tên là chùa An Quốc. Hàng năm nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bờ sông. Vì vậy, năm 1615, vào đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngư. Dưới triều vua Lê Hy Tông (1676 - 1705) chùa mới được đổi tên là Trấn Quốc, bức hoành phi mang chữ "Trấn Quốc Tự" treo ở gian nhà đại bái hiện nay được làm từ lúc đó. Thời Lê-Trịnh, nơi đây được chọn làm hành cung Trấn Quốc dành cho vua chúa nghỉ ngơi khi dạo chơi hồ Tây. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa đổi tên thành Trấn Bắc, nhưng nhân dân vẫn quen gọi tên cũ là chùa Trấn Quốc.

Chùa Trấn Quốc không chỉ tự hào về bề dày của lịch sử xây dựng mà còn về các vị cao tăng và danh nhân đã gắn bó với ngôi chùa. Các Thiền sư và Pháp sư Vân Phong, Khuông Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không, Trần Tú Uyên đều thụ giáo hoặc tu trì ở chùa này. Năm 580, Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Việt Nam cũng đã dừng chân tại đây một thời gian.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân sang đánh Chiêm Thành, bắt cả vua Chiêm là Chế Củ và một số tù nhân, trong đó có một vị sư rất am hiểu kinh pháp đạo Phật. Truy nguyên ra mới biết đó là Thiền sư Thảo Đường. Lý Thánh Tông phong Thảo Đường chức Quốc sư và mời Ngài trụ trì chùa Khai Quốc, từ đó mở ra Thiền phái Thảo Đường ở nước ta. Chùa cũng là Tổ đình của Thiền phái Tào Động truyền ở Việt Nam đời Hậu Lê.

Từ khi dời vào bãi Cá Vàng, chùa Trấn Quốc đã nhiều lần được kiến thiết và trùng tu. Năm 1624, dưới triều vua Lê Thần Tông, tòa Tam bảo, tòa thiêu hương và tiền đường được xây dựng. Đến năm 1639, xây thêm tam quan, hậu đường và hành lang tả hữu. Ở hiên phải nhà đại bái hiện còn tấm bia ghi lại việc trùng tu này do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính lập.

Sau một thời gian bị chiến tranh tàn phá, theo nội dung tấm bia do Tiến sĩ Phạm Quí Thích dựng năm 1815, thì từ năm 1813 đến năm 1815, chùa Trấn Quốc lại được Sư trụ trì là Khoan Nhân tổ chức trùng tu lại chính điện, nhà thiêu hương, tiền đường, hành lang, gác chuông, hậu đường, đồng thời đắp tượng Phật và đúc chuông lớn. Chùa Trấn Quốc là một trong số rất ít những ngôi chùa ở miền Bắc có pho tượng Thích-ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng rất đẹp.

Ngay cổng chùa có hai câu đối:

Vang tai xe ngựa qua đường tục

Mở mặt non sông tới cửa Thiền

Trước cửa chùa lại thêm hai câu đối trên hai cột:

Trải bao phen gió Á mưa Âu, trơ đá vững đồng, chót vót cột trời chùa Trấn Quốc.

Riêng một thú hoa đàm đuốc tuệ, sớm chuông chiều trống, thênh thang cửa Phật cảnh Tây Hồ.

Trong vườn chùa, cùng với những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, có một cây bồ đề được chiết cành từ cội bồ đề, nơi 25 thế kỷ trước đức Phật Thích-ca thành đạo, do Tổng thống Ấn Độ R. Prasat mang sang Việt Nam tặng năm 1958.

Cảnh thiên nhiên tĩnh mịch bao quanh chùa giữa mùa sen nở trắng, hồng trên mặt nước hồ Tây dễ gợi lên cho con người không khí hoài cổ từng được lưu giữ trong những dòng thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau

Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu!

 

Chùa MỘT CỘT  

(DIÊN HỰU TỰ)

 

Chùa Một Cột nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội, có nguồn gốc từ một giấc mơ lành của vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Theo truyền thuyết, vào năm 1049, một hôm nhà vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm dắt Vua lên tòa sen. Tỉnh giấc, Vua đem việc ấy hỏi các quần thần , trong đó có các nhà sư đạo cao đức trọng. Sư Thiền Tuệ khuyên Vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao.

Chùa xây chỉ có một gian gọi là Liên Hoa đài (đài hoa sen) nằm trên một cột đá ở giữa hồ nhỏ gọi là Linh Chiểu tỉnh, nên được gọi là chùa Nhất Trụ (một cột). Ở chùa Long Đọi (Nam Hà) có một tấm bia còn ghi lại sự tích này: "Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vươn lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly".

Chùa nằm trong khu vườn Tây Cấm thuộc thôn Thạch Bảo, huyện Vĩnh Thuận, kinh thành Thăng Long. Khi chùa được khánh thành, các Sư chay đàn, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu. Vì thế chùa còn có tên là Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).

Hằng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội.

Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa, trước sân dựng một ngọn bảo tháp. Năm 1108. Ỷ Lan phu nhân sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nnghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời). Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn công trình lớn của nước ta thời đó - là: tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm. Giác thế chung đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu. Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, chiếm thành Đông Quan (Hà Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh, vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền lấy đồng. Quân Minh thua, đất nước ta lại được hưởng nền thịnh trị thái bình nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa.

Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955. Đài hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong, dựng trên cột cao 4m, đường kính 1,20m gồm 2 trụ đá ghép chồng lên nhau liền thành một khối. Tầng trên là là một khung gỗ kiên cố đỡ ngôi đài với mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Hình dáng ngôi chùa như một đóa hoa sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Đi qua ao theo lối nhỏ lát bằng gạch, ta sẽ đến một cầu thang dẫn lên Phật đài có một tấm biển bằng chữ Hán đề trước cửa: Liên Hoa Đài.

Thiền sư Huyền Quang đã có thơ vịnh chùa Diên Hựu:

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt tan
In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đô bóng tháp, ngón tiêu hàn.

(Huệ Chi dịch)

Hoa sen lúc mới nở đã có "quả" lại có "nhân" tượng trưng cho giáo lý nhà Phật. Hoa sen cũng là loài hoa tinh khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục lụy. Chùa Một Cột, vì lẽ đó, là biểu tượng của cõi Thiền "bất nhiễu", "vô ưu". Gắn liền với lịch sử thủ đô, đó cũng là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật.

 

Chùa LÁNG 

(CHIÊU THIỀN TỰ)

Sự tích chùa Láng gắn liền với truyền thuyết Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một vị cao tăng dưới đời Lý Nhân Tông. Đạo Hạnh tục danh làng Từ Lộ, con viên Tăng quan Đô Án Từ Vinh. Hồi còn trẻ Từ Vinh trọ học ở làng Láng - tức là Yên Lãng, huyện Từ Liêm, Hà Nội ngày nay - ông lấy bà Tăng Thị Loan và sinh ra Từ Lộ. Do có sự bất đồng dẫn đến hiềm khích mà Diên Thành Hầu đã nhờ Pháp sư Đại Điên đánh chết Từ Vinh. Quyết trả thù cho cha, Từ Lộ vào ẩn trong hang đá Trì Sơn, tu luyện rồi sau đó đánh Đại Điên mang bệnh đến chết.

Cởi mối oan nghiệt, Từ Đạo Hạnh tập trung tu học pháp thiền. Ông có hai người bạn đồng đạo gần gũi là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải, cả ba đều biết nhiều pháp thuật. Sau Từ Đạo Hạnh về tu ở chùa Thiên Phúc tức chùa Thầy ở núi Sài Sơn. Tương truyền rằng Từ Đạo Hạnh đã hóa thân và đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông, tên là Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con, nên Dương Hoán được lập làm Đông Cung Thái Tử và trở thành vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Về sau con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông (1138 - 1175) đã cho dựng chùa Láng để thờ vua cha và tiền thân của cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa, ngoài tượng Phật còn có tượng vua Lý Thần Tông và tượng Thánh Từ Đạo Hạnh.

Chùa Láng có tên chữ là Chiêu Thiền Tự với ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền". Ngày 7 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, trở thành ngày hội chùa Láng.

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,

Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy

Chiêu Thiền Tự nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 7km về phía Tây. Xưa kia chùa dựng trên một địa thế rất đẹp nằm giữa cánh đồng bao la, chung quanh có những cây muỗm và cây đa cổ thụ khiến cho cảnh chùa thêm u tịch. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào giữa thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một danh lam từ tám thế kỷ trước.

Nét độc đáo đầu tiên đập vào mắt du khách là cổng chùa hao hao giống kiến trúc cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa: đó là một hàng bốn cột hoa kiểu bằng gạch với ba mái cong thanh thoát. Ba mái này không phủ lên đỉnh cột mà gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn hai mái bên . Sân chùa lát gạch Bát Tràng, nối cổng chùa với cửa tam quan. Qua tam quan là một con đường rộng lát gạch, hai bên có tường hoa dẫn tới Bát giác đình, nơi ngày hội đặt tượng Thánh cho dân làng làm lễ dâng hoa. Trong cùng là chùa chính bao gồm tiền đường, tòa thiêu hương, thượng điện, hành lang, nhà tổ, tăng phòng và các gian nhà phụ.

Vẻ bề thế của quần thể kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.

 

Chùa QUÁN SỨ

 

Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương; ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội. Nguyên xưa ở phường này chưa có chùa, chỉ có mấy gian nhà tranh ở phía Nam, dân làng dùng làm chỗ tế thần cầu yên gọi là xóm An Tập. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vào thời vua Lê Thế Tông, các nước Chiêm Thành, Ai Lao thường cử sứ giả sang triều cống nước ta. Nhà vua cho dựng một tòa nhà gọi là Quán Sứ để tiếp đón các sứ thần đến Thăng Long. Vì sứ thần các nước này đều sùng đạo Phật nên lại dựng thêm một ngôi chùa cũng nằm trong khuôn viên Quán Sứ để họ có điều kiện hành lễ. Thời gian đã xóa đi dấu khu nhà Quán Sứ nhưng ngôi chùa thì vẫn tồn tại.

Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí kết hợp tất cả tinh hoa các đại già lam miền Bắc. Chùa Quán Sứ có lẽ là một trong rất ít ngôi chùa ở nước ta mà tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết bằng chữ quốc ngữ. Phải chăng vì ngôi chùa được xây dựng lại vào giữa thế kỷ XX và vì chùa đã trở thành trụ sở trung tâm của Tổng hội Phật giáo Bắc Việt, nay là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi Quốc tự chung của các thiện nam tín nữ trên đất Việt.

Tam quan chùa có ba tầng mái, ở giữa là lầu chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ, bước lên 11 bậc thềm là tới chánh điện. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ ba vị Tam Thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ Phật Thích-ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất , ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương, Quan Bình.

Các nhà chính và nhà phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi. Nơi đây từng là trụ sở báo Đuốc Tuệ và văn phòng Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện, là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam).

Nửa thế kỷ nay, chùa Quán Sứ đã chứng kiến nhiều hoạt động quan trọng của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự thống nhất tổ chức Phật giáo trong cả nước và sự hòa nhập của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Chính nơi đây vào ngày 13-5-1951 (mồng 8-4 năm Tân Mão) lần đầu tiên lá cờ Phật giáo thế giới do Thượng tọa Tố Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện trên bầu trời Hà Nội.

 

Chùa KIM LIÊN 

(ĐẠI BI TỰ)

Chùa Kim Liên được dựng trên một dải đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát chân đê Yên Phụ, nước hồ bao quanh, tựa như một hòn đảo. Từ phía xa, đi trên mặt đê ta đã trông thấy mái chùa màu xám rêu và những ngọn tháp vươn lên giữa những bụi tre xanh thấp thoáng quanh chùa. Hai trăm năm trước, cảnh quan này đã được Phạm Đình Hổ ghi lại trong Tang Thương ngẫu lục: "Chùa xoay lưng ra sông Nhị Hà, Hồ Tây diễu quanh ở trước mặt, khói sóng man mác, trời nước một màu? Đằng phía tả có mấy cái gò, xen lẫn vào trong khoảng nước hồ, tháp gạch xây ở trên, khóm trúc cội tùng phơ phất?".

Chùa nằm trên địa phận huyện Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nên còn được gọi là chùa Nghi Tàm. Xưa kia đây nguyên là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225 - 1413) trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời nhà Lý. Tương truyền rằng Công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) đã đem cung nữ đến mảnh đất này trồng dâu nuôi tằm, mở ra trại Tàm Tang, sau đổi tên thành Tích Ma, rồi phường Nghi Tàm. Năm 1639, dưới triều vua Lê Thần Tông, chùa được tu sửa lại, gọi là chùa Đại Bi. Một bia dựng bên tả sân chùa do Ngô Độn Phu soạn có khắc năm chữ to: Trùng tu Đại Bi Tự. Một tấm bia dựng ở bên tả trong tiền đường do Bùi Huy Cận soạn cũng khẳng định chùa vốn tên là Đại Bi. Đến thời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái (1720 - 1728) có vị Hòa thượng tên là Huệ, nguyên là nội thị của Chúa Trịnh Uy Vương, đến tu tại đây. Năm 1771 Chúa Trịnh Sâm sai dỡ chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa này và đổi tên là Kim Liên. Việc này được ghi lại trong tấm bia do quan Đại học sĩ Phan Trọng Phiên lập. Vào năm 1792 chùa lại được đại tu. mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc thời Tây Sơn. Lần tu sửa gần đây nhất kéo dài từ năm 1983 đến năm 1987 đã phục hồi lại diện mạo ngôi chùa 200 năm trước đây.

Chùa KIm Liên gồm ba nếp nhà: chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, xếp song song theo kiểu chữ "Tam". Cột xà kiên cố, chạm khắc tinh vi, tường xây gạch cổ dày, không trát vữa. Mỗi nếp nhà có hai tầng mái, kiểu chồng diêm, lớp ngói cổ, với bốn góc đao uốn cong có gắn đầu phượng. Cổng tam quan là một kiến trúc độc đáo bằng gỗ, đượm dáng vẻ cung đình, với những bức chạm nổi trên mặt gỗ hình rồng, hoa văn hết sức tinh xảo.

Trong chùa còn lưu giữ đủ các tượng Phật và tượng Bồ-tát. Đặc biệt có pho tượng tạc hình một người trung niên, râu ba chòm, mặc áo văn lĩnh, đầu đội mũ miện, tay cầm hốt ở tư thế đứng. Theo Phạm Đình Hổ, thì tương truyền rằng đó là tượng chân dung Uy Nam Vương Trịnh Giang.

 

Chùa THẦY 

(THIÊN PHÚC TỰ)
 

Nếu chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời ngài Từ Đạo Hạnh thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12 thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này.

Chùa Thầy dựa vào sườn Tây Nam một ngọn núi đá vôi có nhiều hang động là núi Thầy tức núi Sài Sơn thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 30km. Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Cãn đ?phác họa cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn m?. Động tr? hệt như cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong, sông như dải lụa".

Ban đầu ch? Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ XVII, Dĩnh Quận Công c?g hoàng tộc chăm lo việc trùng tu , xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng ch? và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Thủy đình mọc lên giữa Long Chiểu, nơi thường diễn trò rối nước đặc sắc, chính là viên ngọc ở đầu rồng. Hai giếng là hai mắt rồng. Hai cầu cổ có mái ngói do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây dựng năm 1602 là hai răng nanh của miệng rồng: Cầu Nhật Tiên ở bên trái trông vào đền Tam Phủ xây trên một đảo nhỏ giữa ao. Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải dẫn vào đường lên chùa Cao trên núi.

Đối diện với thủy đình là chùa Cả được xây dựng theo kiểu chữ "Tam" gồm 3 nếp nhà dựng trên nền cao bó đá hộc xanh. Nếp ngoài là nhà tiền tế, nếp giữa thờ Phật, nếp trong cùng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa có đặt 3 pho tượng diễn tả 3 "kiếp" của Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Tãng, Phật và Đế Vương. B? trái là tượng toàn thân Thiền sư bằng gỗ bạch đàn lắp máy tự động có thể đứng l? ngồi xuống được, nhắc nhở thời kỳ Ngài đi tu ở Hương Hải am đ?làm thuốc trị bệnh cứu người và dày công sáng tạo môn nghệ thuật múa rối nước cổ truyền để cho dân giải trí. Chính giữa là tượng Thiền sư khi đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực, khoác áo cà sa vóc vàng. Bên phải là tượng Thiền sư sau khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành nhà vua Lý Thần Tông (1) . Tượng Lý Thần Tông đầu đội mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng.

Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán.

Đường qua cầu Nguyệt Ti? dẫn đến những bậc đá đi l? núi, nơi có chùa Cao vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là Đỉnh Sơn Tự. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh của Nguyễn Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động Phật Tích ở sau chùa là nơi Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác, nên còn gọi là hang Thánh Hóa.

Phía trên chùa Cao có một mặt bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu … trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây ngày xưa các bậc trích tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và ngâm thơ giữa thiên nhiên khoáng đạt như hình ảnh trong bài thơ của Nguyễn Khuyến:

Hóa công xây đắp biết bao đời
Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời
Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng gắt
Ban chiều mây họp tối trãng chơi
Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn
Giãi thủ giang sơn bốn mặt ngồi
Bán lợi mua danh nào những kẻ
Chẳng lên mặc cả một đôi lời.

Theo lối mòn ven núi, leo lên vài chục bậc đá nữa sẽ đến hang Cắc Cớ, nơi tình tự của trai gái ngày xưa trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:

Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ,
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.

Từ hang Cắc Cớ, một con đường có nhiều cây đại thụ dẫn l? đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u và hang Gió với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.

Ở chân núi Thầy, về phía Tây có chùa Bối Am còn gọi là chùa Một Mái, vì chùa chỉ có một mái lợp bằng ngói, còn mái kia chính là vòm hang.

Nét độc đáo của thắng cảnh ch? Thầy là ở sự kết hợp giữa những con đường, những mái chùa vươn lên tầm cao, với những vẻ đẹp của hồ nước trải rộng và những bí ẩn trong chiều sâu lòng đất. Cả ba chiều không gian đó kết tụ lại trong một quần thể thi? nhiên đa dạng về kiến trúc và màu sắc. Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba âm lịch hàng năm, là dịp để con người chiêm bái danh lam thắng cảnh này. Trong ngày hội, nhiều Tăng Ni từ các nơi khác trong vùng cùng về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.

Nhưng hội chùa Thầy không chỉ có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở cả nước ngoài. Trai thanh gái lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong một khung cảnh thiên nhiên rộng mở:

Rủ nhau lên núi Sài Sơn
Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
Hỏi non, non những làm thinh
Phải rằng non đ?vô tình với ai?
Nước non ví chẳng chiều đời
Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
Yêu nhau ta dắt nhau cùng
Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.
(Á Nam Trần Tuấn Khải)

 

Chùa TRĂM GIAN 

(QUẢNG NGHIÊM TỰ)

 

Trên miền Bắc nước ta có hai ngôi chùa mang tên chùa Trăm Gian: một ở Hà Bắc, một ở Hà Tây. Cả hai ngôi chùa đều nằm trên đỉnh núi, có những sắc thái kiến trúc và phong cảnh độc đáo. Riêng chùa Trăm Gian ở Hà Tây thì gắn liền với truyền thuyết về một vị cao tăng tên là Nguyễn Lữ (hoặc Nhữ) hiệu là Bình An, quê ở Bối Khê, huyện Thanh Oai, Hà Tây, được người đời gọi là đức Thánh Bối.

Truyền thuyết kể rằng vào đời Trần, ở làng Bối Khê có một người phụ nữ nằm mộng thấy đức Phật giáng sinh, rồi có mang, sinh ra một con trai. Năm lên 6 tuổi, cha mẹ mất, người con phải đi chăn trâu, nhưng rất mộ đạo Phật, thường làm bàn thờ cúng lễ. Đến năm 9 tuổi, người con trai ấy bỏ nhà vào tu ở chùa Đại Bi trong làng. Lên 15 tuổi, đi vân du khắp nơi, đến thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, Hà Tây ngày nay, thấy cảnh đẹp, Người xin yết kiến và theo học kinh kệ với vị trưởng lão tu tại ngôi chùa trên núi. Mười năm học đạo, người thanh niên đó hiểu thấu mọi phép linh thông. Vua Trần nghe tiếng, sắc phong là Hòa Thượng, đặt đạo hiệu là Đức Minh rồi mời về tu ở chùa trong kinh đô.

Sau khi vị trưởng lão ở chùa Tiên Lữ viên tịch, Hòa Thượng Đức Minh xin về làng dựng ngôi chùa mới. Tương truyền rằng Ngài có phép hóa cỗ bàn cơm chay, thợ xây chùa ăn mãi không hết. Khi chùa dựng xong, Hòa thượng mang guốc gỗ đi qua đi lại trên kèo như đi trên mặt đất, ai nấy đều bái phục vái lạy phép thần thông của Ngài. Năm 95 tuổi, Ngài ngồi vào một cái khám gỗ, từ biệt đệ tử rồi siêu thoát. Một trăm ngày sau, đệ tử mở cửa khám, kim quang Ngài bay mùi thơm nức, ngào ngạt gần xa. Dân làng và đệ tử xây tháp để gìn giữ kim thân và tôn thờ là đức Thánh Bối.

Sách Lĩnh Nam chích quái cũng có ghi sự tích đức Thánh Bối có thể làm mưa, gọi gió. Truyền thuyết còn kể rằng vào đầu thế kỷ XV, quân Minh xâm lược nước ta, có một toán giặc nghe nói chùa Tiên Lữ rất thiêng, bèn phóng hỏa đốt chùa, phá tượng. Đức Thánh Bối nổi giận hóa phép làm ra một trận mưa kéo dài ba ngày ba đêm, nước đỏ như máu, dâng cao tới ba thước dìm chết hết lũ giặc bạo ngược kia. Sau đó một đám mây năm sắc hiện lên nền trời, cuộc sống thanh bình trở lại, ngôi chùa vẫn nguyên như cũ. Dân làng quanh năm hương khói, mỗi khi gặp đại hạn, làm lễ cầu mưa tại chùa, rất được linh ứng. Các triều vua sau đều phong đức Thánh Bối là "Thượng đẳng tối linh Đại Thánh".

Trên đây là sự tích chùa Trăm Gian ở làng Tiên Lữ, còn có tên là Quảng Nghiêm Tự. Nhiều tài liệu ghi rằng chùa được lập năm 1185 đời vua Lý Cao Tông. Đây vốn là ngôi chùa một gian hai trái nằm trên một quả núi cao 50m gọi là núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ tuổi khoảng vài thế kỷ như trám, trắc, thông, tàn lá xòe rộng tỏa bóng mát che rợp mái chùa.

Qua nhiều lần trùng tu, ngôi chùa hiện nay bao gồm ba cụm kiến trúc chính, với tất cả 104 gian.

Cụm thứ nhất ở lối ra vào gồm có hai trụ cột cao với hai quán ở hai bên, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội. Tiếp đó là nhà Giá Ngự nhìn ra hồ sen, nơi đặt kiệu Thánh để xem trò múa rối nước.

Cụm thứ hai nằm trên một độ cao hơn một trăm bậc gạch xây. Tại đây có gác chuông cao 2 tầng 8 mái tách hẳn lên phía trước mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc thế kỷ XVI - XVII. Quả chuông đúc năm 1794 có khắc một bài minh của Phan Huy Ích.

Muốn lên cụm thứ ba, phải leo 25 bậc đá xanh đến sân trên, rồi lại leo 9 bậc đá có lan can chạm hình rồng cuộn khúc. Đây là chùa chính gồm nhà bái đường, tòa thiêu hương, thượng điện, hai dãy hành lang, nhà tổ và lầu trống. Chùa có 3 gian thờ chính: gian thờ Phật; gian thờ Thánh; gian thờ Quan Âm, gia đình Đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng lĩnh của vua Quang Trung, là người có công trùng tu ngôi chùa.

Trong 153 pho tượng ở chùa mà hầu hết làm bằng gỗ, đáng chú ý nhất về mặt lịch sử là tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông và tượng đức Thánh Bối, cốt đan bằng mây, ngoài bọc vải sơn, đặt trong khám gỗ. Ngoài ra, tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm, bộ Thập bát La-hán? cũng là những công trình điêu khắc độc đáo.

 

Chùa MÍA 

(SÙNG NGHIÊM TỰ)

Vào thế kỷ XVII ở làng Mía, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, có bà Nguyễn Thị Dong tức Nguyễn Thị Ngọc Diệu là vợ của Chúa Thanh Đo Vương Trịnh Tráng, nên còn được gọi là Bà Chúa Mía. Một trong những công đức mà Bà Chúa Mía để lại cho quê hương là đã đứng ra hưng công đại trùng tu ngôi chùa Mía, tức Sùng Nghiêm Tự (nguyên được dựng từ đời Trần) vào năm 1632.

Nằm trên một ngọn đồi đá ong, lúc đầu chùa Mía chỉ có` cổng và hai tòa thượng điện, hậu đường, mỗi tòa 7 gian dựng song song. Chùa được tu bổ và hoàn chỉnh dần vào thế kỷ XVII và XIX.

Khuôn viên chùa được chia làm ba khu tương đối tách bạch nhau: ngoài cùng là cửa tam quan trông ra một bãi đất rộng bên cạnh là chợ Mía. Trên gác có treo một chuông đồng đúc năm 1743 và một khánh đồng đúc năm 1846.

Qua khỏi tam quan là hai khoảng sân liên tiếp, cách nhau bởi một cổng gạch giữa bức tường hoa cánh gà. Ở góc phải sân thứ nhất có một cây đa khoảng vài trăm tuổi, kế cây đa là Liên Đài bảo tháp cao 13,5m. Sân thứ hai có những bồn hoa và hòn non bộ. Phía bên trái có dãy nhà tổ và nhà trai.

Nằm trên độ cao cách sân 7 bậc thềm là khu chùa chính gồm: tiền đường, trung điện, nhà thiêu hương, hành lang và hậu điện. Tiền đường gồm 5 gian 2 chái, gian bên trái có một tấm bia dựng năm 1632 đặt trên lưng rùa, nội dung ghi lại sự tích Bà Chúa Mía xây chùa. Trung điện và hậu điện được nối với nhau bởi hai dãy hành lang quanh nhà thiêu hương. Trung điện và nhà thiêu hương nối vào nhau theo kiểu chuôi vồ.

Nghệ thuật điêu khắc ở chùa Mía nổi bật ở những đường nét chạm trổ tinh vi trên tòa gác chuông với các góc mái đều gắn đao triện, ở các hàng lan can, các ván long, xà nách? Nhưng di sản đáng quí nhất ở chùa là 287 pho tượng lớn nhỏ, trong đó một nửa tạc bằng gỗ, một nửa bằng đất luyện, sơn son thếp vàng. Tiêu biểu là tượng hai vị Hộ Pháp cao gần tới nóc nhà, tượng Bát bộ Kim Cương bằng đất luyện khắc họa những nét điển hình về ngoại hình, dung mạo của những con người giàu tinh thần thượng võ, sẵn sàng bảo vệ chính pháp. Chùa có tôn trí tượng Tuyết Sơn, biểu hiện đức Phật Thích-ca thời kỳ tu khổ hạnh, thân thể gầy gò đến mức tất cả xương cốt đều lộ ra, nhưng thần sắc của tư duy thì vẫn tồn tại. Chùa Mía còn có một tuyệt tác về điêu khắc là pho tượng Quan Âm tống tử, thường gọi là tượng Bà Thị Kính. Với đường nét chạm khắc mềm mại và sinh động, pho tượng này tái hiện hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam hiền hòa, tay ẫm đứa bé bụ bẫm, vẻ mặt đượm buồn, mắt nhìn xuống đầy vẻ chịu đựng và bao dung.

Người làng Mía tự hào về pho tượng là điều dễ hiểu:

Nổi danh chùa Mía làng ta,
Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm.

Và có lẽ đó là niềm tự hào không chỉ của riêng người làng Mía.

 

Chùa HƯƠNG

Ngày trước có một người con gái mùa xuân theo cha mẹ đi trẩy hội chùa Hương đã phải lòng một chàng trai tài hoa phong nhã. Tâm tình của cô gái ấy với những lời lẽ e ấp vụng dại đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại qua một thiên ký sự bằng thể thơ năm chữ nổi tiếng trên đất Việt hơn nửa thế kỷ qua. Ngày nay cảnh vật Hương Sơn có khác đi ít nhiều, nhưng hành trình đến chùa Hương vẫn là một cuộc hành trình trở về thiên nhiên và cội nguồn. Chúng ta hãy lần theo dấu chân cô gái ngày trước mà tìm đến với "Nam thiên đệ nhất động" (Động đẹp nhất trời Nam).

Chùa Hương nằm trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 60km. Thật ra chùa Hương không phải là một ngôi chùa mà là một hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực có những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6km2.

Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai nghìn năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã. Đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh dất chùa Thiên Trù. Theo sách Hương Sơn Thiên Trù thiên phú thì chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Huy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim Dung bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686; còn pho tượng chính trong chùa - tượng Bồ-tát Quan Âm - xưa kia vốn bằng đồng được đúc năm 1767.

Hàng năm, hội chùa Hương mở từ ngày mồng sáu tháng giêng đến rằm tháng ba âm lịch , trải dài trên ba tuyến chính: tuyến động Hương Tích, tuyến chùa Tuyết và tuyến chùa Long Vân. Trên thực tế, suốt trong tháng giêng và tháng hai, cảnh chùa luôn luôn đông vui tấp nập và khách thập phương chủ yếu vãn cảnh chùa theo tuyến động Hương Tích.

Từ Hà Nội, đi xe vào thị xã Hà Đông, lên thị trấn Vân Đình, qua gần 20km nữa là tới Bến Đục, nằm bên bờ sông Đáy. Đây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh, thuyền đò chen chúc. Từ Bến Đục, khách đi bộ gần 1km sẽ đến bến đò để lên thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là Yến Vĩ (đuôi con chim én).

Thuyền đi, Bến Đục qua.

Mỗi lúc gặp người ra,

Thẹn thùng em không nói:

Nam mô A-di đà!.

Thuyền đưa du khách lướt bên những ngọn núi đá nên thơ như núi Voi, núi Rồng? cùng với nhịp cầu ở phía xa gợi lên khung cảnh non Tiên nước Phật:

Réo rắt suối đưa quanh

Ven bờ, ngọn núi xanh

Dịp cầu xanh nho nhỏ

Cảnh đẹp gần như tranh

Đến đền Trình, thuyền ghé vào để du khách "trình diện" với sơn thần sở tại trước khi đặt chân lên cõi Phật. Đền nằm dưới chân một quả núi dựng lên năm ngọn nên được đặt tên là Ngũ Nhạc. Đền còn có tên Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng.

Rời đền Trình, du khách tiếp tục cuộc hành trình bằng đường thủy ngắm cảnh hai bên dòng suối:

Sau núi Oản, Gà, Xôi

Bao nhiêu là khỉ ngồi

Tới núi con Voi phục

Có đủ cả đầu đuôi.

Thuyền dừng ở Bến Trò cho du khách bước lên khu vực chùa Thiên Trù (Bếp Trời), tức là chùa Ngoài. Ngày xưa, chùa được xây khuất trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng dưới triều vua Gia Long (năm 1809) cũng bị phá hủy. Một kiến trúc cổ còn lại là Viên Công bảo tháp được xây dựng từ thế kỷ XVII, nơi đặt xá lợi Thiền sư Viên Quang, người có công trùng tu chùa Hương sau nhiền năm hoang phế. Nhìn từ xa, tháp như cây bút hồng ngọn vút cao lên trời. Ở đây còn có Thiên Thủy tháp là một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo, nước mưa trên núi theo tháp chảy xuống. Năm 1986, chùa Thiên Trù đã được phục dựng lại gác chuông và đến năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Đinh". Đầu năm 1994, chùa đã xây dựng lại Nam Thiên môn (cửa trời Nam) theo nguyên mẫu.

Từ khu vực chùa Ngoài, du khách lần theo con đường dốc trên các sườn núi đá để ghé thăm chùa Tiên Sơn xây trong động giữa lòng một quả núi, có bốn pho tượng quí bằng hồng thạch. Tiếp đó là chùa Giải Oan, nơi có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích, nơi có tảng đá tương truyền lưu dấu chân Quan Âm Bồ-tát. Cách đó không bao xa, du khách bước chân đến núi Chấn Song để thăm viếng cửa Võng.

Đích xa nhất mà du khách vãn cảnh chùa muốn đạt đến là động Hương Tích nằm sâu ở phía trong. Du khách bước qua một cổng lớn ở phía trên, rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động. Cửa động trông như hàm rồng, phía trong có năm chữ Hán "Nam Thiên đệ nhất động", tạc vào đá, tương truyền là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm khắc vào năm 1770. Hai hàng cây cổ thụ tầng cao bóng cả chen cành kết lá phủ lên cửa động. Ánh nắng lọt qua lá cây tạo nên một thứ ánh sáng mờ ảo trải trên các bậc đá, cộng với khói hương từ lòng động bay lên tạo thành một không gian huyền diệu như lời ca trong bài hát Chùa Hương của Nhạc sĩ Hoàng Quý: "Chùa Hương khói trầm ngút bay những khi nắng tàn, phút giây chìm đắm trong mơ màng".

Vào trong động, du khách chiêm ngưỡng tượng Bà Chúa Ba (Bồ-tát Quan Thế Âm) cùng nhiều tượng Phật, Bồ-tát? Trên vách động thạch nhũ rũ xuống muôn hình muôn vẻ, màu sắc biến ảo: hình Đụn Gạo, Đụn Tiền, Cây Vàng, Cây Bạc, Buồng Tằm, Nong Kén, Hòn Cậu, Hòn Cô? Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là tòa Cửu Long. Ngắm nhìn những dáng hình kỳ tú đó của thiên nhiên, cô gái trong thơ Nguyễn Nhược Pháp đã thốt lên:

Ôi! Chùa Trong đây rồi!

Động thắm bóng xanh ngời

Gấm thêu trần thạch nhũ

Ngọc nhốm hương trần rơi.

Còn nhà thơ Chu Mạnh Trinh ở thế kỷ trước thì cảm tác thành bài Thú Hương Sơn nổi tiếng:

Bầu trời cảnh bụt

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay

Kìa non non, nước nước, mây mây

"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!

Nhác trông lên ai khéo họa hình

Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt

Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt

Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?

Như trên đã nói, ngoài động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua rừng mơ thăm chùa Hinh Bồng, theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi đến núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn vào chùa Bảo Đài. Leo núi đến Bạch Tuyết môn, vào điện Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là Ngọc Long động. Nơi đây, vào năm 1770, Trịnh Sâm có làm bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng.

Ở hướng khác, một nhánh của dòng suối Yến đưa du khách qua núi Ông Sư Bà Vãi, lên thuyền vào thăm chùa Long Vân, leo núi thăm chùa Cây Khế, và hang Sũng Sàm, một di chỉ khảo cổ ghi dấu tích người xưa.

Giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, du khách có thể mang về làm kỷ vật một gậy trúc đã chống trên đường hành hương, vài mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhỏ hạt và mấy mớ rau đắng nấu canh hương vị thơm ngon. Nhưng cái quí nhất mà người đi chùa Hương có được là một tâm hồn như đã tẩy sạch bụi trần, lâng lâng một niềm vui thoát tục với những ấn tượng không phai mờ bề một chốn Thiên Thai ngay trên trần gian như ca dao đã miêu tả:

Một vùng non nước bao la

Rằng đây Lạc quốc hay là Đào nguyên

Hương Sơn là chốn non tiên

Bồng lai mà thấy ở miền trần gian.

 

 

Chùa TÂY PHƯƠNG 

(SÙNG PHÚC TỰ)

Cách Hà Nội 37km về hướng Tây, ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây có một quả núi cao khoảng 50m nằm trên một địa thế rất đẹp: giữa một rừng cây cối tre trúc xanh rờn che kín những mái nhà tranh ẩn trên sườn núi.

Đó là núi Câu Lậu. Có tài liệu cho rằng sở dĩ ngọn núi này có tên như vậy vì hình nó cong cong như chiếc lưỡi câu. Nhưng xét về từ nguyên học, thì tên núi theo âm cổ vốn là "Klâu", nghĩa là núi Trâu, về sau có sách vở ghi theo âm chữ Hán là Câu Lậu. Người ta sẽ hiểu được điều này khi đứng từ xa nhìn ngọn núi này kết hợp với các ngọn đồi vùng Kim Quan tạo thành một dãy núi đồi chạy dài từ Ba Vì xuống giữa đồng bằng, trông chẳng khác nào một đàn trâu mà núi Câu Lậu là con trâu mẹ đang quay đầu nhìn lại đàn con.

Từ chân núi Câu Lậu, leo lên 239 bậc đá ong, chúng ta sẽ đứng trước cổng danh lam thuộc loại tiêu biểu về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở nước ta: Chùa Tây Phương, tên chữ là Sùng Phúc Tự, còn có tên khác là Hoành Sơn Thiếu Lâm Tự.

Năm 1632, vào đời vua Lê Thần Tông, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657 - 1682, Tây Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa mới và tam quan. Đến năm 1794 dưới thời Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại như ngày nay.

Bia chùa Tây Phương lập năm 1924 có ghi lại sự việc "Sadi Thiết Tử, tên tự là Thanh Ngọc, quê làng Cao Xá, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông, xuất gia từ nhỏ, đến năm 1893 đến ở chùa Sùng Phúc tức chùa Tây Phương núi Câu Lậu. Vùng núi này là nơi danh lam thắng cảnh tích phát anh tài, hương thiền phảng phất. Vì vậy các thân hào kỳ lý trong xã họp lại nhất trí tu tạo và sửa sang 3 tòa tự vũ, nhiều lần chấn chỉnh, đồng thời tạc tượng Quan Âm trăm tay cùng tượng Thiện Tài Long Nữ. Cũng trong thời gian này còn tạc thêm tượng Bát bộ Kim Cương, Thập bát La-hán vàng son lộng lẫy?".

Chùa gồm 3 nếp nhà làm bằng gỗ lim rắn chắc xếp theo hình chữ "Tam": tòa bái đường, tòa chính điện và tòa hậu cung. Ba tòa nhà này cách nhau 1,60m, tạo nên một nhịp điệu kiến trúc độc đáo. Hệ thống cửa sổ hứng lấy ánh sáng lung linh từ bên ngoài, tạo cho nội thất một khung cảnh thoát tục, phù hợp với triết lý sắc sắc không không của nhà Phật.

Mỗi nếp chùa có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tám mái và tám góc là các đầu đao vươn lên cong vút với những đường nét nổi lên hình hoa, lá, rồng, phượng. Vật liệu xây chùa chủ yếu là gạch Bát Tràng để trần, các cột gỗ đều kê trên tảng đá xanh tròn khắc hình cánh sen. Mái lợp gồm hai lớp ngói: lớp trên là ngói đầu mũi đúc hình lá đề nổi, lớp dưới là ngói lót hình vuông sơn ngũ sắc. Xung quanh diềm mái của ba tòa nhà đều chạm trổ tinh tế theo hình lá triện cuốn, trên mái gắn nhiều con giống bằng đất nung.

Khắp chùa hầu như chỗ nào có gỗ là có chạm trổ những hình tượng trang trí quen thuộc của dân tộc ta: hình lá dâu, lá đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù? rất tinh xảo.

Du khách đến thăm chùa Tây Phương chưa hết bàng hoàng trước vẻ đẹp hoành tráng của kiến trúc thì lại càng sửng sốt khi chiêm ngưỡng thế giới sinh động của 72 pho tượng gỗ sơn son thếp vàng. Trên đất nước ta không ở đâu có được một phòng triển lãm tuyệt vời và độc đáo như thế với nghệ thuật điêu khắc tôn giáo nhưng lại phản ánh những đặc điểm dân tộc của con người Việt Nam. 72 pho tượng gỗ của chùa Tây Phương là 72 công trình nghệ thuật đích thực, mỗi pho tượng biểu hiện không chỉ cuộc đời, tính cách mà cả thế giới tâm linh của các vị Phật, Bồ-tát và La-hán?

Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm:

1- Bộ tượng Tam Thế với ba pho tượng Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai (còn gọi là Tam thân: Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân) ngồi ở tư thế tọa thiền, y phục gập nếp đơn giản phủ kín cơ thể.

2- Bộ tượng Di-đà Tam Tôn: gồm tượng đức Phật A-di-đà, đứng hai bên là Bồ-tát Quan Âm và Bồ-tát Thế Chí.

3- Tượng Tuyết Sơn miêu tả đức Phật Thích-ca trong thời kỳ tu khổ hạnh: mỗi ngày ăn một hạt kê, một hạt vừng, tự hành xác để vươn lên thế giới tinh thần sáng láng. Tượng màu đen thẫm khoác áo cà sa mỏng, tay chân gầy khẳng khiu, xương nổi lên trước ngực. Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng, mắt trũng sâu, hướng về nội tâm.

4- Tượng đức Phật Di-lặc tượng trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc tương lai. Người mập mạp, ngồi hơi ngả về phía sau, toàn thân toát ra sự thỏa mãn, sung sướng.

5- Tượng Bồ-tát Văn-thù: đứng chắp tay, chân đi đất, các ngón chân bấm móng xuống mặt bệ.

6- Tượng Bồ-tát Phổ Hiền: chắp tay trước ngực, khuôn mặt sáng rộng nổi lên trên tấm thân phủ đầy y phục.

7- Tượng Bát bộ Kim Cương, thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ và cách bố cục, chuyển động của một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ.

8- Mười sáu pho tượng Tổ với phong cách hiện thực: Đó là Ưu-ba-cầu-đa, Đê-đa-ca, Di-trà-ca, Ba-tu-mật, Phật-đà Nan-đề, Phục-đa-mật-đa, Hiếp Tôn giả, Phương Nam Hòa Tu, Mã Minh, Ca-tỳ-ma-la, Long Thụ Tôn giả, La-hầu-la-đà, Tăng-già Nan-đề, Già-gia-xá-đa, Cưu-ma-la-đa, Chà-dạ-đa.

Thế giới tượng trong nội thất chùa Tây Phương đã từng là nguồn cảm hứng cho nhiều văn nhân, nghệ sĩ . Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến thăm chùa, đã làm những câu thơ rất sống động và gợi cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quần quại của chúng sinh. Những pho tượng sống động này phản ánh những sự tích của nhà Phật, đồng thời biểu hiện thế giới tinh thần của những nghệ nhân đã sáng tạo ra. Tất cả những bộ phận trên cơ thể đều mang dấu vết của nỗi đau trần thế: mắt giương, mày nhíu xệch, trán như nổi sóng, môi cong chua chát, bàn tay cân vặn, đôi tai rộng dài ngang gối nghe đủ chuyện buồn vui của đời người. Tất cả các giác quan của con người như đều căng lên trong từng thớ gỗ:

Các vị ngồi đây trong lặng yên

Mà nghe giông bão nổ trăm miền

Như từ vực thẳm đời nhân loại

Bóng tối đùn ra trận gió đen.

Từ những biểu hiện sinh động đó của nỗi đau đời thương người, nhà thơ rút ra một nét đặc trưng chung của các vị: niềm băn khoăn, day dứt trước lẽ tử sinh, ý nghĩa và hướng đi của cuộc đời. Câu hỏi đè nặng tâm hồn các vị không tìm lấy sự giải thoát cho riêng mình mà tìm sự giải thoát cho cả chúng sinh.

Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau

Quay theo tám hướng hỏi trời sâu

Một câu hỏi lớn. Không lời đáp

Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

Câu hỏi đó không chỉ ám ảnh những con người sống trong buổi hoàng hôn của một thế kỷ chìm trong đau thương, mà vẫn còn là nỗi băn khoăn day dứt khôn nguôi của con người trên con đường đến Chân - Thiện - Mỹ.

 

Chùa CÔN SƠN 

(TƯ PHÚC TỰ)

 

Thời nhà Trần, nước ta có các trung tâm Phật giáo lớn là Yên Tử, Côn Sơn, Quỳnh Lâm và Vĩnh Nghiêm. Nhà tổ ổ Côn Sơn còn thờ tượng Trúc Lâm tam Tổ (ba vị Tổ phái Thiền Trúc Lâm) là Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Thiền sư Pháp Loa (1284 - 1330) và Thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334).

Không phải ngẫu nhiên mà Thiền sư Pháp Loa đã dựng am Bạch Vân ở Côn Sơn và Thiền sư Huyền Quang đã chọn nơi đây tu hành vào những năm tháng cuối đời. Côn Sơn (cách thị xã Hải Dương 15km, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng, vốn là tên một ngọn núi cao khoảng 200m so với mặt biển, có ba nhóm nhô lên như một con kỳ lân phủ phục, nên còn tên là Lân Sơn. Leo khỏi 600 bậc đá, đứng trên đỉnh núi nhìn khắp chung quanh sẽ thấy hiện ra "Một vùng cây cỏ tận hưởng niềm vui thưởng thức, sông núi bao la thu vào tầm mắt ngóng trông" (Nhật thiên thảo mộc cùng ngu hưởng. Bất tận giang sơn nhập chỉ huy) như vua Lê Thánh Tông đã viết.

Và không phải ngẫu nhiên mà vua Trần Nghệ Tông đã đặt tên cho mấy nếp nhà bên suối dưới khe núi Côn Sơn, với thạch bàn giữa thiên nhiên đầy cỏ hoa và khóm trúc, trên đầu non khói tỏa là Thanh Hư động: nơi ở thanh tịnh vắng vẻ như động tiên giữa chốn hư không. Khi trụ trì ở đây, Thiền sư Pháp Loa đã cảm hứng giữa đất trời tao nhã:

Sự đời quên cả chẳng lôi thôi

Chiếc chõng quanh năm bó gối ngồi

Ngày tháng chẳng còn sờ đến lịch

Thấy hoa cúc nở đoán thu rồi.

(Nguyễn Trọng Thuật dịch)

Nằm ở chân núi phía Nam, chùa Côn Sơn, tên chữ là Tư Phúc Tự, được xây dựng từ thời Lý, dân gian thường gọi là chùa Hun (nơi đốt than). Tương truyền rằng vua Trần Thái Tông (1225 - 1258) đã từng đến thăm chùa. Vào đời Lê, lúc Thiền sư Mai Trí Bản hiệu Pháp Nhãn trụ trì, chùa được trùng tu và mở rộng, có đến 83 gian, bao gồm tam quan, thượng hạ điện, tả hữu vu, lầu chuông, gác trống? Bị chiến tranh tàn phá, ngày nay chùa Hun chỉ còn là một ngôi chùa nép mình dưới tàn lá xanh của những cây cổ thụ: thông, đại và hương bài.

Phía trước, ngay lối đi vào chùa có một tấm bia đá đặt trên lưng rùa khắc ba chữ "Thanh Hư Động", bút tích của vua Trần Nghệ Tông. Bên trái là nhà bia cũ dựng năm 1608, có tấm bia ghi bài minh nhan đề "Côn Sơn Tư Phúc Thiền Tự Bi" nói về việc trùng tu chùa.

Bên đường dẫn lên đỉnh núi rợp bóng cây phía sau chùa là khu mộ tháp, nổi bật là Đăng Minh bảo tháp dựng bằng đá xanh, cao 3 tầng, trong đặt xá lợi và tượng Thiền sư Huyền Quang.

Chùa Côn Sơn đã chứng kiến một chặng đường đời và bi kịch của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi. Thanh Hư động chính là nơi Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán, ông ngoại nhà thơ, ẩn dật. Mấy gốc thông già trải qua sương nắng hơn sáu thế kỷ còn đứng đó là do chính tay Trần Nguyên Đán trồng, như thơ của Băng Hồ tướng công đã ghi lại:

Xuân nhật tảo di hoa ảnh động

Thu phong vãn tống hạc thanh lai

Lưu Quang điện hạ tùng thiên thụ

Tận thị kình thiên nhất thủ tài.

Nghĩa là:

Nắng xuân sớm động bóng hoa

Gió thu hiu hắt chiều tà hạc kêu

Lưu Quang thềm điện xanh rêu

Chống trời thu biếc do đều một tay.

Một phần tuổi thơ của mình, từ lúc 5 tuổi đến lúc 10 tuổi, Nguyễn Trãi sống với ông ngoại. Sau những năm tham gia triều chính, Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn. Dòng suối Côn Sơn đã in bóng nhà thơ ngồi trên thạch bàn những ngày ẩn dật. Cảnh đẹp Côn Sơn đã gợi nên cảm hứng để Nguyễn Trãi sáng tác nhiều bài thơ trong Quốc Âm thi tập:

Côn Sơn có suối rì rầm

Ta nghe tiếng suối như cầm bên tai

Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm?

Nhưng bi kịch của lịch sử đã không để cho nhà thơ được yên nghỉ tuổi già dưới bóng thông và ngâm thơ nhàn. Vụ án Lệ Chi Viên với cái chết đột tử của Lê Thái Tông vào tháng 9 năm 1442 đã dẫn đến hình phạt tru di tam tộc đối với Khai quốc công thần Nguyễn Trãi. Học trò Nguyễn Trãi đã đưa thi hài nhà thơ về mai táng trên núi Giáp Sơn, phía Đông Bắc núi Côn Sơn. Gần đó, trên đỉnh núi Tam Tiên là ngôi mộ Nguyễn Phi Khanh, thân sinh Nguyễn Trãi.

Một lần về Côn Sơn, nhà thơ Trần Đăng Khoa chợt thức giấc lúc nửa đêm và cảm nhận được hồn thiêng của Ức Trai còn hòa lẫn với thiên nhiên cảnh vật:

Ngang trời kêu một tiếng chuông

Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào.

Đồi thông sáng dưới trăng cao

Như hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm.

 

 

Chùa DƯ HÀNG 

(PHÚC LÂM TỰ)

Tọa lạc ở phố Dư Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, đây là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở thành phố Hải Phòng. Chùa có tên chữ là Phúc Lâm Tự, lúc đầu chỉ dựng bằng tre lá. Tương truyền vào đời Trần, Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông và Thiền sư Huyền Quang vẫn thường đến dây thuyết giảng đạo pháp. Đến đời Lê Gia Tông, năm 1672, quan Đô úy Nguyễn Đình Sách từ quan xuất gia, lấy đạo hiệu là Chân Huyền, thấy cảnh chùa đổ nát, mới đứng ra vận động nhân dân sửa chùa. Đến đời vua Thành Thái, Hòa thượng Thông Hạnh tự Phúc Nguyên thuộc phái Vĩnh Nghiêm đã trùng tu mở rộng chùa, xây gác chuông. Năm 1917 chùa lại được sửa sang một lần nữa với quy mô như ngày nay.

Chùa Dư Hàng được xây dựng theo kiểu "Đinh", có cổng tam quan ba tầng mái cao vút. Một chuông lớn được treo trên gác chuông năm gian hai tầng, mái cong. Qua gác chuông là một sân rộng có đặt một đỉnh lớn và tượng Bồ-tát Quán Thế Âm. Tiền đường gồm bảy gian dựng theo kiểu vì kèo giá chiêng; bên phải là năm gian nhà tổ, nhà trai và nhà ngang; còn bên trái là năm gian nhà hậu. Năm gian thượng điện cũng được dựng bằng gỗ có những vì kèo được chạm trổ tinh tế.

Chính điện có nhiều tượng được chạm khắc tinh xảo, như tượng Phật, tượng Hộ Pháp, tượng Trúc Lâm tam Tổ và câu đối chạm khắc theo phong cách nghệ thuật triều Nguyễn. Bức chạm lộng sơn son thếp vàng rực rỡ ở chánh điện do các nghệ nhân Hà Nam Ninh tạc vào đầu thế kỷ XIX. Chùa còn giữ được nhiều di vật quý như đỉnh đồng, khánh đồng, bát hương, tủ chạm.

Ngoài vườn chùa có 9 tháp mộ, trong đó có nhóm tháp "Trúc Lâm tam Tổ", tháp của Thiền sư Chân Huyền Nguyễn Đình Sách và các vị cao tăng từng trụ trì ở chùa.

Phúc Lâm Tự xứng đáng là một di tích kiến trúc cổ kính, một danh lam nơi đất cảng Hải Phòng

 

Chùa THÁP 

(PHỒ MINH TỰ)

Nhà Trần là một triều đại làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc Việt Nam với ba lần đại thắng quân Nguyên xâm lược vào thế kỷ XIII. Tổ tiên nhà Trần vốn làm nghề chài lưới trên sông Châu chảy qua đất Nam Định . Ở hữu ngạn sông Châu đã hình thành hương Tức Mạc, nay thuộc xã Lộc Vượng, cách thành phố Nam Định khoảng 5km về phía Bắc, là nơi sinh của người anh hùng Trần Quốc Tuấn và cũng là đất tổ của nhà Trần.

Khi vừa lên ngôi, Trần Thái Tông đã biến quê hương Tức Mạc của mình thành một công trường lớn. Từ năm 1239 thợ thuyền được tuyển chọn cùng với phu lính làm việc ròng rã mấy chục năm liền để xây dựng những lâu đài, cung điện, đền miếu, dinh thự, chùa chiền trên mảnh đất này. Mùa xuân năm 1262 Trần Thánh Tông về hành cung Tức Mạc ban yến lớn, hậu thưởng các hương lão và đổi hương Tức Mạc thành phủ Thiên Trường. Trong phủ Thiên Trường có hai cung điện được xây cất nguy nga lộng lẫy là cung Trùng Quang và cung Trùng Hoa để vua nối ngôi ở khi về chầu. Ngày nay hai cung điện đó đã bị chiến tranh tàn phá nhưng các địa danh ở đây đều gắn liền với những sự tích xa xưa: cảnh nội cung trước kia là sân trong phủ, cánh đồng cũ xưa là nơi giam giữ tù nhân dùng vào việc xây cất cung điện. Các xóm làng ở quanh phủ như Liễu Nhai xưa là vườn liễu; làng Lựu Phố xưa là vườn lựu; trường giảng văn, bình thơ; làng Phường Bông xưa là nơi diễn ca múa nhạc của hoàng tộc.

Nằm ở phía Tây cung Trùng Quang, chùa Phổ Minh vốn được xây dựng từ thời Lý. Đến thời Trần, chùa đã được trùng tu và mở rộng cho tương xứng với vị trí tôn quý của phủ Thiên Trường. Kiến trúc chính của chùa bao gồm chín gian tiền đường, ba gian thiêu hương và tòa thượng điện, xếp theo hình chữ "Công". Gian giữa nhà tiền đường có bộ cửa gồm 4 cánh bằng gỗ lim, chạm rồng, sóng nước, hoa lá và hoa văn hình học. Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn chầu mặt trời là tác phẩm điêu khắc gỗ đời Trần còn lưu lại cho đến ngày nay.

Tam quan chùa có ba gian bằng gỗ, tường xây gạch, mái lợp ngói cổ, trên cửa có bốn chữ "Đại hùng bảo điện", dưới thềm đá ba cấp làm thành bậc ở gian giữa, hai bên có đôi sấu đá chầu. Một con đường nhỏ chạy thẳng giữa một ao tròn, dẫn đến bức tường "bình phong" rồi đến sân trước chùa và hai nhà bia. Bia đá bên phải đề dòng chữ "Phổ Minh Thiền Tự" khắc năm Mậu Thân 1668. Bia đá bên trái có dòng chữ "Phổ Minh Bảo Tháp Từ Bi" khắc năm Bính Thìn 1916.

Trong chùa ngoài hệ thống tượng Phật, Bồ-tát? được thờ ở chánh điện, có thờ tượng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, tượng Thiền sư Pháp Loa, Thiền sư Huyền Quang ở hậu điện. Chuông lớn của chùa có khắc bản văn "Phổ Minh Đỉnh Tự" đúc năm Cảnh Thịnh thứ tư (1796). Ngoài ra, xưa kia chùa còn có một vạc lớn được xem là một trong "Tứ đại khí" của nước ta.

Sau thượng điện, cách một khoảng sân hẹp là tòa nhà mười một gian kéo dài theo hình chữ "Nhất". Giữa là năm gian nhà tổ, bên trái là ba gian nhà tăng, bên phải là ba gian điện thờ. Trong nhà tổ có pho tượng Bà Chúa Mạc, người từng về tu ở chùa, tạc bằng đá trắng ngồi trên tòa sen, dựa lưng vào bức nền có trang trí vòng ánh sáng với ba chữ "Thường tịch quang". Hai dãy hành lang nối liền nhà tiền đường và tòa nhà 11 gian tạo thành vòng ngoài của chữ "Quốc". Phía sau nhà tổ là vườn tháp, có tháp Bà Chúa Mạc bằng đất nung.

Công trình kiến trúc quý giá mang phong cách đời Trần còn được bảo tồn khá nguyên vẹn cho đến ngày nay là tháp Phổ Minh. Do công trình này mà chùa Phổ Minh còn được gọi là chùa Tháp. Tháp dựng vào khoảng năm 1305, niên hiệu Hưng Long thứ mười ba, đời vua Trần Anh Tông. Tháp cao khoảng 21m, gồm 14 tầng, xây trên 12 bậc gạch, càng lên cao càng thu hẹp dần và kết thúc bằng một chỏm nhọn hình bầu rượu có nhiều cạnh. Tầng trên đều trổ bốn cửa cuốn tò vò ra bốn phía. Lúc đầu 13 tầng trên được xây bằng gạch trần màu đỏ sơn son, về sau một tín chủ đã bỏ tiền trát vữa. Bệ thờ đặt trong lòng tầng tháp thứ nhất. Trang trí trên tháp đơn giản song rất mỹ quan: các lớp cánh sen và những hoa văn dây uốn lượn quanh cửa tháp cùng với hình rồng uốn khúc, vờn mây khắc họa trên các viên gạch ốp mặt ngoài trông rất ngoạn mục.

Nằm giữa vùng chiêm trũng với mái chùa cổ kính, cây cổ thụ sum sê, toàn bộ tòa tháp Phổ Minh nặng tới 700 tấn, gần 7 thế kỷ vẫn đứng vững, góp phần tạo nên phong cảnh uy nghiêm, siêu thoát. Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông đã ca ngợi thắng cảnh này như một "tiên châu" trong những tiên châu tươi đẹp của đất nước:

Sư về trong viện câu kinh vắng

Quán ở bên sông bóng nguyệt treo

Ba chục cung tiên cây tháp đặt

Trăm ngàn cõi Phật tiếng triều reo.

(Thiên Trường hành cung)

Tương truyền rằng trong tháp Phổ Minh có tàng trữ xá lợi vua Trần Nhân Tông. Mười bốn vua nhà Trần được thờ phụng ở đền Thiên Trường, còn gọi là đền Trần, gần chùa Phổ Minh. Bên cạnh đền Thiên Trường là đền Cố Trạch thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời trên mảnh đất tổ của một dòng họ danh tiếng minh chứng cho lời khẳng định của câu ca dao cổ:

Đất Tức Mạc, phủ Thiên Trường

Từ xưa vốn dĩ danh hương lưu truyền

Nhà thờ Bùi Huy Bích (1744 -1818) đã viết bài thơ Du Phổ Minh Tự (Thăm chùa Phổ Minh) như sau:

Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ Minh

Nhàn hoa dã thảo mãn nham quynh

Bi văn tước lạc hòa yên bích

Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh

Pháp giới dữ đồng thiên quảng đại

Thổ nhân do thuyết địa anh linh

Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại

Thức đắc vô hình thắng hữu hình

Nghĩa là:

Sau loạn tìm về đến Phổ Minh

Hoa đồng có nội ngút trời xanh

Văn bia sứt mẻ nhòe mây khói

Mắt Phật âu sầu dõi ngũ canh

Cõi phép cùng trời bao rộng lớn

Người đây vẫn nói đất linh thiêng

Nao lòng đỉnh cổ rày đâu tá?

Mới biết vô hình thắng hữu hình.

(Ngô Đức Thô dịch)

 

Chùa CỒ LỄ

(THẦN QUANG TỰ)

 

Cách thành phố Nam Định 15km về hướng Đông, thị trấn Cổ Lễ được nối liền với trung tâm tỉnh lỵ Nam Hà bằng con đường số 21. Cổ Lễ vốn là tên một làng trước đây thuộc xã Trực Nghĩa, huyện Nam Ninh; đồng thời cũng là tên một ngôi chùa có từ lâu đời và đã trở thành một di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Nam Hà.

Tương truyền rằng chùa Cổ Lễ được sáng lập năm 1109 do Thiền sư Minh Không, tên thật là Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1076 tại làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định. Thiền sư Minh Không đã có công sang Trung Quốc xin vua Tống cấp đồng để về nước đúc "An Nam Tứ Khí" (tượng Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh). Ông cũng chính là vị y sư đã chữa cho vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) khỏi bệnh "hóa hổ" nên được vua phong làm Đại Pháp Thiền Sư kiêm Quốc sư. Sư viên tịch năm 1154, thọ 78 tuổi.

Kiến trúc chùa Cổ Lễ hiện nay là do Hòa thượng Phạm Quang Tuyên hạ giải ba ngôi chùa nhỏ ở làng Cổ Lễ và lập thành vào năm 1920. Hòa thượng Phạm Quang Tuyên là một cao tăng có kiến thức uyên bác. Chính Ngài đã thiết kế và trông coi việc xây dựng ngôi chùa. Vật liệu xây dựng không phải là xi măng, sắt thép mà là gạch, vôi vữa, mật mía, giấy bản tạo nên độ cố kết vững bền của toàn bộ kiến trúc ngôi chùa.

Đứng trước chùa, vươn lên nền trời giữa những cây cổ thụ bốn mùa xanh tươi là tháp Cửu Phẩm Liên Hoa rất độc đáo. Tháp được xây dựng những năm 1926 - 1927, có 12 tầng và một tầng đế tháp đặt trên lưng một con rùa lớn đầu hướng vào chùa. Tháp cao 32m, có 8 mặt, các cạnh tháp đều đắp hình rồng, mái cong. Trong lòng tháp có 62 bậc dẫn lên bàn thờ Phật trên đỉnh theo đường xoáy trôn ốc. Tháp đứng giữa một hồ vuông, bốn góc là bốn hòn giả sơn.

Một cầu cong ba nhịp, mặt cầu lát gạch, nối liền khu tháp với một tòa kiến trúc mái vòm cao: đó là Phật giáo hội quán. Bên trái hội quán là dãy nhà ba gian thờ Trần Hưng Đạo và hai danh sĩ đời Trần quê ở Cổ Lễ là Bảng nhãn Đào Sư Mỗ và Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ.

Sau khu Hội quán Phật giáo là một khoảng sân rộng. Giữa sân chùa đặt một quả đại hồng chung cao 4,20m, đường kính 2,20m, nặng 9 tấn, do Hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936. Chùa chính có cấu trúc mái vòm, bên trong thờ Phật và Thiền sư Minh Không. Sau thượng điện là nhà khách và nhà tổ.

Nhờ kết hợp tinh hoa kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các yếu tố của phong cách kiến trúc phương Tây, chùa Cổ Lễ đã trở thành một danh lam ở vùng đồng bằng sông Hồng.

 

Chùa HOA YÊN 

(HOA YÊN TỰ)

Ở Việt Nam không hiếm các nhà vua am hiểu sâu sắc Phật học và có những cống hiến lớn lao cho sự phát triển của Phật giáo. Nhưng làm vua mà hai lần lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc Nguyên, đuổi xong giặc lại chuyên tâm với kinh Phật, rồi tìm nơi tu luyện, lập ra cả một Thiền phái, thì chỉ có vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) mà thôi. Thật ra thì ngay từ khi còn là Thái tử, ngài đã từng trốn khỏi thành, định vào tu ở núi Yên Tử, nhưng vua cha là Trần Thánh Tông đã cho người gọi về. Sau những năm tháng tham gia triều chính, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con và đến năm 1299, Ngài thanh thản trở lại Yên Tử.

Đây không phải là lần đầu Yên Tử đón một vị vua đến trụ trì. 63 năm trước, đau khổ vì vận nước và ray rứt vì chuyện riêng, vua Trần Thái Tông - vị vua sáng lập nhà Trần - đã từ bỏ ngai vàng trốn lên Yên Tử, nhưng lần đó chuyện xuất gia không thành vì Trần Thủ Độ cho các quan lên núi đón vua về lại kinh đô.

Có lẽ phải có một lòng quyết chí lớn lắm và một nhân duyên đặc biệt người ta mới đến được với Yên Tử. Nằm ở giáp giới 3 tỉnh Hải Dương, Bắc Giang và Quảng Yên (cũ), cách thị xã Uông Bí (Quảng Ninh) khoảng 15km về phía Tây Bắc, Yên Tử là ngọn núi cao nhất (1068m) và hiểm trở nhất miền Hải Đông xưa. Đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước có tên là Bạch Vân Sơn. Nhìn từ xa núi giống hình một con voi nên lại có tên là Tượng Sơn. Tương truyền vào thế kỷ X có một đạo sĩ là Yên Kỳ Sinh tới núi này tu hành, sau hóa thành đá. Tượng đá đó cao 2,50m bây giờ vẫn còn đứng bên đường lên đỉnh núi (ở độ cao 824m) khi qua khỏi Cửa Trời. Núi mang tên Yên Tử có lẽ là do truyền thuyết đó.

Nói đến Yên Tử là nói đến một hệ thống chùa và những thắng cảnh trên con đường hành hương từ chân núi lên đỉnh núi cao chót vót. Ở chân núi bên suối Cấm có chùa Cấm Thực còn có tên là Linh Nhâm Tự; bên suối Lân có chùa Lân còn mang tên là Long Động Tự. Nằm bên suối Giải Oan, tên cũ là Hồ Khê, có chùa Giải Oan. Có truyền thuyết kể rằng khi Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào núi, vua Trần Anh Tông sai cung nữ theo mời về, nhưng Ngài quyết chí tu hành nên đã cự tuyệt. Các cung nữ nhảy xuống suối này trầm mình. Một số được cứu sống, ở lại sinh cơ lập nghiệp phía ngoài chùa. Còn số chết, vua cho lập đàn cầu siêu, dựng chùa Giải Oan, trong có thờ tượng các cung nữ.

Qua dốc Voi Xô thì đến núi Hạ Kiệu, nơi các vua nhà Trần đến yết kiến Trần Nhân Tông phải xuống kiệu đi bộ. Trên con đường rợp bóng cổ tùng gồm thanh tùng, thủy tùng và xích tùng, ta sẽ gặp Hòn Ngọc, rồi Huệ Quang Kim Tháp. Đây là khu mộ tháp gồm tháp Tổ thờ ngài Điều Ngự Giác Hoàng (Trần Nhân Tông) làm bằng đá cao 10m có 6 tầng; phía ngoài tường gạch quây quần 44 ngôi tháp, là nơi tôn trí hài cốt của các vị sư tu hành ở đây.

Nằm trên lưng chừng núi ở độ cao 516m, chùa Hoa Yên là ngôi chùa to nhất và đẹp nhất nên còn gọi là chùa Cả. Chùa này vốn được dựng từ đời Lý, tên là Phù Vân; tới đời Trần đổi tên là Vân Yên: vào đời Lê, vua Lê Thánh Tông ngự du thăm chùa, thấy hoa cỏ xanh tươi, mới đặt tên là Hoa Yên.

Con đường quanh co dẫn lên đỉnh núi nối liền chùa Hoa Yên với chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu và chùa Thiên Trúc tức chùa Đồng (độ cao 1068m). Chùa Đồng trước đây đã bị hư hại, nay đã được sửa sang lại. Ở đây, còn một bia đá cao 3m, mặt trước khắc ba chữ "Thiên Trúc Tự", mặt sau khắc chữ "Phật".

Không gian quanh chùa Hoa Yên gây ấn tượng sâu sắc trước hết ở những cây đại già và những hàng tùng sống qua 5-7 thế kỷ nay. Hình ảnh bóng trăng lồng vào những cành cây cổ thụ đã hơn một lần đi vào thơ Huyền Quang:

Hơi đêm phả lạnh bức rèm lan

Xào xạc cây sân thu đã sang

Quên đến trúc đường hương lựu tắt

Cành thông ngời khắp lưới trăng đan

(Ngô Linh Ngọc dịch)

Còn Nguyễn Trãi khi đến thăm chùa thì lại bắt gặp cái thời khắc giao tiếp giữa bóng đêm vừa tan và ánh ngày đã ló rạng:

Trên non Yên Tử chòm cao nhất

Trời mới canh năm đã sáng tinh

Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả

Nói cười người ở giữa mây xanh

Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa

Bao dải tua châu đá rũ mành

Dấu cũ Nhân Tông vẫn còn đấy.

Mặt rồng thấy giữa ánh quang minh

(Đề chùa Hoa Yên núi Yên Tử)

Vâng, dấu cũ Nhân Tông vẫn còn đó! Còn nơi chùa Thiền Định, chỗ vua Trần xưa đọc kinh niệm Phật. Còn nơi chùa Một Mái, chỗ vua Trần đọc sách nghiên cứu đạo Thiền.

Chùa Hoa Yên cùng với toàn bộ hệ thống chùa Yên Tử nằm hài hòa giữa thiên nhiên hùng vĩ là một dẫn chứng rõ nét về sự dung hợp hai quan niệm đạo và đời của dân tộc ta.

 

Chùa KEO 

(THẦN QUANG TỰ)

Hằng năm vào ngày mùng bốn tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lại mở hội xuân ngay ở ngôi chùa mang tên làng.

Hơn chín tháng sau, vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch, chùa Keo lại mở hội mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm 100 ngày Thiền sư Không Lộ (1016 - 1094), người sáng lập ngôi chùa, qua đời (Ngài qua đời ngày 3 tháng 6 âm lịch). Trong ngày hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Linh ngang trước chùa chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống, thi bơi thuyền và biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa thì có cuộc thi diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà, quả, thực, thật sinh động.

Dù cho cha đánh mẹ treo,

Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.

Nếu có dịp về thăm chùa Keo, thì du khách hãy đến vào hội mùa thu. Từ thành phố Nam Định, qua phà Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng đi khoảng 10km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng không một bóng núi non, chùa Keo với gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn được vun bón bởi phù sa sông Hồng do nước sông Trà Linh bồi đắp.

Chùa Keo có tên chữ là Thần Quang Tự, được xây dựng từ năm 1630 đến năm 1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ.

Nhưng lịch sử của ngôi chùa thì có bề dày đến hơn 9 thế kỷ. Theo sách Không Lộ Thiền Sư ký ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất tổ ra đi: một nửa dời về Đông Nam hữu ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam Hà); một nửa vượt sông đến định cư ở phía Đông Bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình này.

Văn bia và địa bạ chùa Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng đến 58.000 m2. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại 17 ông trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu thế kỷ XVI. Sau đó là chùa thờ Phật, gồm 3 ngôi nhà nối vào nhau. Trong cùng là tòa gác chuông, nhà tổ và khu tăng xá.

Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu cho kiến trúc cổ Việt Nam thời Hậu Lê. Được dựng trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Tầng trên treo khánh đá 1,20m và chuông đồng cao 1,30m, đường kính 1m đúc vào đời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo chuông nhỏ cao 0,62m, đường kính 0,69m đúc vào năm1796.

Đứng soi mình xuống hồ nước phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Sau đây là một bài thơ Thiền của Không Lộ có đề tài ngư nhàn:

Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên

Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên

Ngư ông thụy trước vô nhân hoán

Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền

Nghĩa là:

Bát ngát sông xanh, bát ngát trời

Một thôn mây khói, một dâu gai

Ông chài ngủ tít không người gọi

Tỉnh dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi.

(Ngọc Liễn dịch)

Tương truyền rằng từ khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay lên không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biến thành tượng, Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.

Cứ 12 năm một lần, làng Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước Thánh tượng từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải làm theo một nghi thức được qui định rất nghiêm ngặt, những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.

Đến thăm chùa, khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành.

 

Chùa THIÊN MỤ

(LINH MỤ TỰ)

Câu ca dao từ bao đời đã để lại trong lòng người dân Huế và du khách đến Huế hình ảnh một cảnh chùa thơ mộng.

Chùa tọa lạc trên đồi Hà Khê, thuộc xã Hương Long, thành phố Huế.

Trong Ô Châu cận lục viết đời Mạc, đã thấy ghi chép chùa Linh Mụ được Chúa Nguyễn Hoàng cho tái thiết vào đầu thế kỷ XVII. Theo truyền thuyết, năm Tân Sửu (1601), Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn núi non sông biển, khi đặt chân đến đây, thấy phong cảnh tuyệt đẹp, địa thế thật tốt. Vua nghe kể có người trông thấy một bà già đầu tóc bạc phơ, mặc áo đỏ quần xanh ngồi chơi ở đỉnh gò mà nói: "Rồi đây sẽ có chân Chúa đến dựng lại chùa ở nơi này để tụ linh khí mà làm bền cho long mạch". Nói xong, người đàn bà biến mất. Từ đó, dân chúng gọi tên núi là Thiên Mụ sơn, và Chúa Nguyễn Hoàng cho dựng lại chùa, viết biển đề "Thiên Mụ Tự" (đến đời vua Tự Đức, chùa được đổi tên là Linh Mụ Tự).

Ban đầu chùa còn đơn sơ, chưa có những công trình kiến trúc và mỹ thuật nổi tiếng. Năm 1665, Chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa, qui mô kiến trúc còn nhỏ.

Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm tức Thích Đại Sán, người Chiết Tây, Trung Quốc, thuộc phái Tào Động, được Chúa Nguyễn mời sang Việt Nam lập đại giới đàn. Ngài là một danh nhân đời nhà Thanh, đã được Chúa Nguyễn Phúc Chu mời làm trụ trì chùa Thiên Mụ. Tháng 7 năm 1696, trước khi trở về Trung Quốc, Ngài đã truyền giới Bồ-tát cho Chúa Nguyễn Phúc Chu, ban đạo hiệu là Thiên Túng Đạo nhân, nối pháp đời thứ 30 Tào Động chánh tông. Từ chùa Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài có công truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng Trong.

Năm 1710, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung nặng 3285 cân, là một tác phẩm mỹ thuật quí giá. Tiếng chuông chùa từ đấy đã an nhiên trong lòng người dân xứ Huế, đã đi vào thơ ca. 

Thiên Mụ chung thanh

 

Cao cương cổ sát trấn tiền xuyên

Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên.

Bách bát hồng thanh tiêu bách kết

Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên.

Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm

Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền

Phật tích Thánh công thùy hải vũ

Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.

(Thiệu Trị ngự đề)

Nghĩa là:

 Tiếng chuông chùa Thiên Mụ

 

Gò cao chùa cổ bên sông,

An nhiên nguyệt tướng mặt vòng tròn gương.

Niệm tan phiền não sầu thương,

Ba ngàn thế giới tỉnh đường ba sinh.

Chuông rền cảm giới u minh,

Ban mai tiếng tụng hiển linh đạo huyền.

Thánh công Phật tích lưu truyền,

Nhân lành quả tốt khắp miền nước non.

(Nguyễn Quảng Tuân dịch)

Năm 1714, Chúa Nguyễn Phúc Chu lại tiếp tục cho xây dựng thêm nhiều công trình huy hoàng, tráng lệ. Đó là lần trùng tu qui mô nhất gồm: cổng tam quan, điện Thiên vương, điện Ngọc Hoàng, điện Thập Vương, nhà thuyết pháp, lầu Tàng kinh, lầu chuông, lầu trống, nhà Vân Thủy, nhà thiền, điện Đại Bi, điện Dược sư, tăng phòng? Chúa lại cho mở an cư kiết hạ trong vườn Tỳ Da suốt 3 tháng, và cho người sang Trung Quốc thỉnh Tam Tạng kinh Luật, Luận Đại thừa hơn một ngàn bộ đem về lưu giữ tại chùa.

Vào đầu thế kỷ XIX, các vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng đã cho trùng tu, sửa sang chùa. Giữa là điện Đại Hùng, phía sau là điện Di-lặc, điện Quan Âm và Tàng Kinh. Hai bên là điện Đại Hùng và điện Thập Vương.

Đến năm 1844, vua Thiệu Trị cho dựng tháp Từ Nhân (về sau đổi tên là tháp Phước Duyên), bảy tầng, cao 21m, bằng gạch, mỗi tầng thờ một pho tượng Phật. Đã 150 năm qua, tháp Phước Duyên ngày ngày soi bóng xuống dòng sông Hương , gây nhiều cảm xúc khó tả cho biết bao du khách đến với cố đô. Trước tháp, vua cho dựng đình Hương Nguyện ba gian, sườn bằng gỗ chạm khắc tinh xảo. Hai bên, dựng hai nhà bia ghi kiến trúc tháp Phước Duyên, đình Hương Nguyên và nhiều bài thơ của vua Thiệu Trị.

Qua đầu thế kỷ XX, chùa bị hư hỏng nặng do cơn bão năm Giáp Thìn (1904). Vua Thành Thái đã cho trùng tu chùa vào năm 1907 và cho đến ngày nay, qua công lao của Hòa thượng Thích Đôn Hậu cùng nhiều Tăng, Ni, Phật tử, du khách xa gần, ngồi chùa cổ Thiên Mụ được xây dựng lại, tuy không còn qui mô to lớn như trước, nhưng vẫn trang nghiêm, hùng tráng.

Du khách đến thăm chùa, sau khi bước lên 15 bậc tam cấp ở cổng tam quan sẽ gặp nền đá của đình Hương Nguyện xưa kia và tháp Phước Duyên. Hai bên đình Hương Nguyện cũ có hai nhà bia, và hai bên tháp Phước Duyên có một nhà bia và một nhà chuông thời Chúa Nguyễn Phúc Chu. Sau lưng tháp là một tấm bia nhỏ.

Sau khi tham quan các công trình có tính chất lưu niệm ở khu vực phía ngoài, du khách vào phía trong cửa Nghi Môn cũng được bao quanh bằng khuôn tường xây đá. Ở đây có các điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm, nhà trai, nhà khách, vườn hoa. Sau cùng là tháp mộ Hòa thượng Thích Đôn Hậu nằm giữa vườn thông.

Điện Đại Hùng ở chùa Thiên Mụ được bài trí đơn giản. Tượng đức Phật Di-lặc được tôn trí ở tiền điện, hai bên có chuông và khánh đá. Ở căn giữa, trong án thờ được chạm khắc công phu và sơn son thếp vàng lộng lẫy là tượng Tam Thân (Pháp thân, Ứng thân, Hóa thân), phía trước là tượng đức Phật Thích-ca. Ngoài cùng là bàn chuông, mõ. Gian hai bên thờ Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền.

Du khách đến chùa không quên đến bên trái tháp Phước Duyên, xem bài minh ở tấm bia được dựng vào năm 1715, thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, ca ngợi ngôi danh lam cổ tự bậc nhất này.

Phía Nam nước Việt chừ, núi sông đẹp đẽ,

Ngôi chùa hùng tráng chừ, cửa Thiền nắng chiếu,

Tánh vốn trong sạch chừ, nước chảy róc rách,

Đất nước an ổn chừ, bốn cảnh thanh nhàn.

 

Chùa BÁO QUỐC 

(SẮC TỨ BÁO QUỐC TỰ)

Dừng chân ở giếng Hàm Long để tận hưởng những giây phút mát mẻ nhờ những gàu nước trong trẻo được kéo lên ở độ sâu hơn 4m, du khách sẽ thanh thản khi bước lên những bậc cấp vào chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long.

Tọa lạc ở đường Báo Quốc, thuộc phường Phường Đúc, thành phố Huế, chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong dựng vào cuối thế kỷ XVII, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần. Đến năm 1747, Chúa Nguyễn Phúc Khoát ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Báo Quốc Tự" có ghi dòng chữ: "Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề".

Vào thời Nguyễn, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1808, Hoàng Hậu Hiếu Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng chung, bảo khánh? và đổi tên là chùa Thiên Thọ. Thiền sư Phổ Tịnh được cử làm trụ trì trong thời gian này.

Năm 1824, vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc lấy tên "Báo Quốc Tự". Nhà vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh vào năm 1830.

Đến năm 1858, do chùa bị hư hỏng nhiều, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình khác. Chùa đã được liên tục trùng tu, mở rộng đến cuối thế kỷ XIX.

Trong phong trào chấn hưng Phật giáo vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935, trường Sơ đẳng Phật giáo được mở tại chùa. Đến năm 1940, trường Cao đẳng Phật giáo cũng lại được mở tại đây. Chùa trở thành một trung tâm đào tạo Tăng Ni cho đến ngày nay.

Năm 1957, Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với những nét kiến trúc cổ kính nói riêng.

Chùa được xây dựng kiểu chữ "Khẩu" trong khuôn viên rộng khoảng 2 ha. Qua cổng tam quan cổ kính, đồ sộ, du khách đi qua một sân rộng, đến sân trong trồng nhiều cây tùng và các cây cảnh khác, có lan can bao bọc. Phía trái là khu tháp Tổ, cổ nhất là tháp Ngài Giác Phong, xây năm 1714, cao 3,30m. Ở tiền điện có 4 trụ đắp rồng nổi, ở thành bậc tam cấp cũng có đôi rồng, hai vách trang trí hoa văn bằng mảnh sành rất công phu.

Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Các tượng thờ đều đặt trong khung kính. Án thờ cao nhất ở gian giữa là tượng Phật Tam Thân và hai bộ kinh tạng Đại Thừa. Trước tượng Tam Thân là bảo tháp thờ xá-lợi Phật. Án thờ kế là tượng đức Phật Thích-ca, hai bên là tượng A-nan và Ca-diếp. Án ngoài cùng đặt một bộ kinh Pháp Hoa, hai bên là chuông, mõ. Án hai bên thờ đức Phật Dược Sư và Bồ-tát Quan Âm. Đây là cách thờ tự đã được sửa đổi từ khi Hòa thượng Phước Hậu được phong Tăng cang và trụ trì chùa Báo Quốc vào năm 1939. Còn trước phong trào Chấn hưng Phật giáo, chùa Báo Quốc cũng như đa số các chùa cổ ở Huế đều chịu ảnh hưởng thuyết "Tam giáo đồng nguyên".

Từ năm 1959, trong khuôn viên của chùa, trường tiểu học Hàm Long được thành lập do thầy Thiên Ân làm Hiệu trưởng. Đến năm học 1961 -1962, trường mở thêm bậc trung học do thầy Thân Trọng Hy làm Hiệu trưởng. Kế tiếp Hiệu trưởng là các thầy Trương Như Thung, Thích Phước Hải, Thích Thiện Hạnh, Thích Đức Thanh, Thích Hải Ấn. Ban đầu trường có tên là Trường trung tiểu học tư thục Hàm Long, sau đổi tên là Trường Bồ Đề Hàm Long, hoạt động đến năm 1975.

Ngày nay, tên trường Hàm Long chỉ là một kỷ niệm ngọt ngào như nước giếng Hàm Long, nhưng đóng góp của chùa Báo Quốc về mặt giáo dục thật đáng ghi nhận.

 

Chùa QUỐC ÂN 

(SẮC TỨ QUỐC ÂN TỰ)

 

Bối điệp phiêu vân, lục thời thiền tụng kỳ phong nẫm;

Ca sa thấp vũ, nhất vị thanh cơ kiến đạo xương

(Mây phất phơ trên kinh lá bối, sáu thời thiền tụng, cầu hoa lợi phong đăng.

Mưa thấm khắp nếp áo cà-sa, nhất vị thanh tu, gây cơ duyên phát đạt)

Bát bảo xán kim lương, biểu nhật lâm quan, tiện hữu nhân hữu cảnh;

Ngũ vân sinh ngọc đống, xuân quan triển tọa, hỷ bất túc bất ly.

(Đồ bát bảo rực rỡ rường vàng, vừng nhật chiếu đến thiền quang,

mến được có người có cảnh.

Mây ngũ sắc chói ngời cột ngọc, ánh xuân dồn về bảo tọa,

vui thay không mất, không xa)

Đó là nội dung ca ngợi ngôi chùa Quốc Ân và vị Thiền sư khai sáng được khắc trên hai cặp liễn đối treo ở ngôi chánh điện do Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu ban.

Chùa Quốc Ân tọa lạc ở lưng chừng một quả đồi thấp thuộc phường Trường An, thành phố Huế. Du khách qua cầu Phú Cam ở đường Nguyễn Trường Tộ, đi khoảng 2km thì đến chùa.

Chùa Quốc Ân do Thiền sư Nguyên Thiều khai sáng khoảng năm 1682 - 1685, đời vua Lê Huy Tông, lúc đầu mang tên chùa Vĩnh Ân.

Thiền sư Nguyên Thiều hay Thọ Tôn, húy là Siêu Bạch, hiệu là Hoán Bích (1648 - 1728), thọ giới với Hòa Thượng Khoáng Viên ở Quảng Đông. Năm 1677 Ngài theo thuyền buôn sang Việt Nam, lập chùa Thập Tháp Di-đà ở Bình Định. Sau khi khai sơn chùa này, Thiền sư Nguyên Thiều đi khắp nơi truyền đạo, ra Huế dựng chùa Hà Trung ở Vinh Hà (Phú Vang) rồi lên khu vực núi Ngự Bình dựng chùa Vĩnh Ân. Đến năm 1689, Chúa Nguyễn Phúc Trân đã đổi tên chùa Vĩnh Ân là Quốc Ân, ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Quốc Ân Tự" và chuẩn phê miễn thuế ruộng đất cho chùa.

Chùa Quốc Ân là ngôi Tổ đình nổi tiếng của miền Trung. Thiền sư Nguyên Thiều là vị Tổ đời 33 Thiền phái Lâm Tế. Ngài đem vào Việt Nam hai dòng kệ:

Tổ đạo giới định tông

Phương quảng chứng viên thông

Hạnh siêu minh thiệt tế

Liễu đạt ngộ chơn không

Như nhật quang thường chiếu

Phổ châu lợi ích đồng

Tín hương sanh phước huệ

Tương kế chấn từ phong

Và:

Đạo bổn nguyên thành Phật Tổ Tiên

Minh như hồng nhật lệ trung thiên

Linh nguyên quảng nhuận từ phong phổ

Kế thế chân đăng vạn cổ huyền

Theo qui định, cứ mỗi đời lấy một chữ đặt pháp danh cho đệ tử. Ngày nay đa số Phật tử ở miền Trung và miền Nam đều bắt nguồn từ hai dòng kệ này.

Thiền sư Nguyên Thiều viên tịch trong khi trụ trì tại chùa Hà Trung. Ngài để lại cho đệ tử bài kệ sau đây:

Tịch tịch cảnh vô ảnh,

Minh minh châu bất dung.

Đường đường vật phi vật,

Liê liêu không vật không.

Nghĩa là:

Lặng lẽ gương không chiếu bóng

Sáng trưng ngọc chẳng thâu hình

Rõ ràng Vật không phải Vật

Mênh mông Không chẳng là Không.

(Trích Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 2, tr.189)

Sau khi Thiền sư Nguyên Thiều mất, Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu đã truy tặng Ngài thụy hiệu Hạnh Đoan Thiền sư.

Vào thời Nguyễn, chùa Quốc Ân được trùng tu nhiều lần. Năm 1805, bà Long Thành (chị ruột vua Gia Long) đã cúng dường tiền bạc để trùng tu chùa. Nhưng lúc bấy giờ đây cũng chỉ là một ngôi chùa tranh tre đơn giản. Năm 1822, Hòa thượng Hoằng (Tăng cang chùa Linh Mụ) được vua Minh Mạng giao nhiệm vụ trùng tu chùa Quốc Ân. Năm1825, Hòa thượng viên tịch, tháp mộ được xây dựng trong vườn chùa. Năm 1837 và năm 1842, chùa lại được tiếp tục trùng tu. Từ năm 1846 đến năm 1863, vị Hòa thượng kế nghiệp cho xây cổng tam quan, hai miếu thờ Ngũ hành và Thiên Y A Na.

Chùa kiến trúc theo dạng chữ "Khẩu". Phía trước là tiền đường và chánh điện, phía sau là nhà Tổ, hai bên là phương trượng và tăng xá.

Chùa Quốc Ân còn bảo lưu mô hình thờ tự truyền thống. Án giữa thờ tượng Tam Thân, tiếp theo là tượng Bổn sư, Thích-ca đản sinh, Quan Âm Chuẩn Đề. Án tả thờ Quan Công, Châu Xương và Quan Bình. Án hữu thờ Bồ-đề Đạt-ma. Hai bên tả hữu thờ Thiện Hữu, Ác Hữu và Thập điện Minh Vương.

Trong chùa có nhiều hoành phi và câu đối với nét bút điêu luyện, chạm trổ tinh xảo.

Ở sân trước chùa có dựng tấm bia khắc bài minh của Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu vào năm 1729, ca ngợi đạo đức của Thiền sư Nguyên Thiều:

Ưu ưu bát nhã

Đường đường phạm thất

Thủy nguyệt ưu du

Giới trì chiến lật

Trạm tịch cô kiên

Trác lập khả tất

Thị thân bản không

Hoằng giáo lợi vật

Biến phú từ vân

Phổ chiếu huệ nhật

Chiêm chi, nghiêm chi

Tháo sơn ngật ngật.

Tạm dịch:

Bát nhã cao vời

Cửa Thiền tỏ rõ

Ung dung trăng nước

Ngiêm trì giới luật

Sáng lặng riêng vững

Đứng thẳng đã chắc

Quán thân vốn không

Hoằng pháp lợi vật

Mây lành che khắp

Trí tuệ sáng soi

Nhìn ngài kính Ngài

Núi Thái cao ngất

(Theo Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách. Danh lam xứ Huế, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1993, tr.163)

 

Chùa TỪ ĐÀM

 

Quê hương tôi miền Trung
Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung?
Ôi, uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm
Nơi yêu thương phát nguồn Đạo Vàng?

Tiếng nhạc nhẹ nhàng của bài hát Từ Đàm quê hương tôi của Nguyên Thông nhắc nhở biết bao du khách đã từng đến thăm Huế không bao giờ quên những phút thư thái, tĩnh lặng của tâm hồn ở ngôi chùa cổ danh tiếng này.

Chùa Từ Đàm tọa lạc ở đường Từ Đàm, thuộc phường Trường An, thành phố Huế.

Chùa do Thiền sư Minh Hoằng - Tử Dung (đời thứ 34 dòng Lâm Tế) khai sơn vào cuối thế kỷ XVII, đời vua Lê Hy Tông, trên đồi Long Sơn.

Nguyên chùa có tên là chùa Ấn Tôn. Vào đầu thế kỷ XVIII, năm 1703, Chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Ấn Tôn Tự". Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), chùa được đổi tên là Từ Đàm để tránh tên húy của vua.

Hơn 150 năm qua, chùa Từ Đàm đã gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần người dân xứ Huế nói riêng, với Phật tử miền Trung nói chung.

Nơi yêu thương phát nguồn Đạo Vàng,
Qua bao giông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn?

Chùa đã được các vị trụ trì tiền bối cho trùng tu sửa chữa nhiều lần, đó là Hòa thượng Thiệt Vinh, Đại sư Tế Ngữ kế tục Ngài Minh Hoằng - Tử Dung. Đến thế kỷ XIX, Hòa thượng Đạo Trung và Đại sư Từ Vân đã tổ chức trùng kiến ngôi chùa, đúc đại hồng chung. Sang nửa thế kỷ XX. Sư bà Diệu Không đã có thời gian trùng tu, lập chùa sư nữ năm 1932. Sau một thời gian, Hội Phật học Trung Việt đặt trụ sở ở chùa, đã tổ chức xây ngôi chánh điện mới theo kiểu "chùa hội".

Năm 1939, bà Karpelès, Tổng thư ký Viện Phật học Phnom-Pênh (Campuchia) đã thỉnh một cây bồ-đề được chiết cành từ cây bồ-đề nơi đức Phật Thích-ca thành đạo ở Ấn Độ tặng cho chùa, đem trồng ở sân trước.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, cây bồ-đề đã tạo bóng uy nghiêm cho ngôi chùa và che mát cho hàng triệu người Phật tử, khách tham quan.

Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm,
Nơi Bắc Nam nối liền một nhà?

Vào năm 1951, chùa là nơi họp 51 đại biểu Phật giáo toàn quốc chuẩn bị thống nhất Giáo hội Phật giáo. Tại đại hội này, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn làm Hội chủ. Và cũng trong đại hội này, lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên đã được treo ở chùa.

Đến năm 1961, chùa được Hòa thượng Thích Thiện Siêu cùng với Hội Phật học tổ chức xây dựng các cơ sở phụ của chùa. Đây là ngôi chùa với những công trình kiến trúc hiện đại nhưng vẫn giữ đường nét truyền thống, theo kiểu kiến trúc "chùa hội" mẫu mực.

Quê hương tôi là đây,

Sớm hôm hương trầm nhẹ bay,

Vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy?

Ôi, thân yêu bóng chùa Từ Đàm, Từ Đàm ơi!

Lời ca vang trong tận đáy lòng của những ai còn lưu giữ những kỷ niệm về mái chùa thân yêu này.

Chùa THUYỀN TÔN 

(THIÊN THAI THUYỀN TÔN TỰ)  

Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương

Hương thơm của hoa ưu đàm mãi mãi thơm ngát như đạo đức của Thiền sư Liễu Quán tỏa sáng muôn đời.

Ngài Liễu Quán húy Thiệt Diệu, quê ở Sông Cầu (Phú Yên) ra Thuận Hóa vào cuối thế kỷ XVII. Thiền sư khai sơn chùa Thuyền Tôn vào khoảng năm 1708, lúc bấy giờ chỉ là một am tranh, nơi xây ngôi bảo tháp của ngài hiện nay, và ở cổng tháp đã khắc ghi câu trên. Thiền sư đã biệt xuất một bài kệ truyền cho các đời kế tiếp đặt pháp danh:

Thiệt tế đại đạo, tánh hải thanh trừng

Tâm nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong

Giới định phước huệ, thể dụng viên thông

Vĩnh siêu trí quả, mật khế thành công

Truyền trì diệu lý, diễn xướng chánh tông

Hạnh giải tương ưng, đạt ngộ chơn không.

Nghĩa là:

Đường lớn thực tại, biến thế tính trong,

Nguồn tâm thấm khắp, gốc đức vun trồng,

Giới định cùng tuệ, thể dụng viên thông,

Quả trí siêu việt, biểu thấu nên công,

Truyền giữ lý mầu, tuyên dương chính tông,

Hành giải song song, đạt ngộ chân không.

(Nguyễn Lang dịch)

Chùa Thuyền Tôn hiện nay tọa lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế. Chùa được dựng bên trái núi Thiên Thai, nên còn có tên là Thiên Thai Thuyền Tôn Tự.

Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, Chưởng Thái giám Mai Văn Hoan đã vận động tiền của để xây dựng ngôi chùa quy mô, cách thảo am khoảng 1km. Đại hồng chung được đúc vào thời kỳ này, có khắc niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8 (1747). Chùa đã được bà Lê Thị Tạ phát tâm trùng tu vào năm 1808.

Các vị kế tục trụ trì chùa trong buổi đầu là Tế Hiệp, Tế Mẫn. Sau đó là các vị Đại Huệ, Đại Nghĩa, Đạo Tâm. Theo dòng kệ truyền thừa, kế tiếp là các vị Đạo Tại, Tánh Thiện, Hải Nhuận, Thanh Liêm, Thanh Đức.

Đến năm 1937, Hòa thượng Trừng Thủy - Giác Nhiên đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng đã có nhiều công lao trong công cuộc chấn hưng Phật giáo ở nửa đầu thế kỷ XX. Từ năm 1973, Hòa thượng đã đảm nhận trọng trách Tăng Thống Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đến năm 1979 thì viên tịch, thọ 102 tuổi.

Chùa Thuyền Tôn bảo lưu được đường nét kiến trúc cổ và hệ thống thờ tự truyền thống. Ở chánh điện, án giữa thờ Phật Tam Thân, phía trước là tượng đức Phật Thích-ca. Tiền án thờ tượng Bồ-tát Chuẩn Đề hai bên là ảnh vẽ Bồ-tát Văn-thù và Bồ-tát Phổ Hiền. Tiếp đến là bàn chuông, mõ. Án tả thờ Bồ-tát Quan Âm, hai bên có ngài Xá Lợi Phất và ngài Ca-diếp. Án hữu thờ Bồ-tát Địa Tạng. Ngoài ra còn có hai án thờ Thập điện Minh Vương ở hai bên vách. Phía ngoài là hai bàn thờ Hộ Pháp và Quan Thánh.

Từ tam quan đi vào mé phải ngôi chùa, căn phòng của Hòa thượng Giác Nhiên ngày xưa vẫn còn đó. Bức chân dung của Ngài đã gây sự cảm nhận thanh thoát, gần gũi và niềm tin kính vô hạn. Từ cửa phòng của Ngài, nhìn ra ngôi bảo tháp, cảnh quan ngôi chùa và ngọn núi Thiên Thai, lòng khách lâng lâng khó tả.

Đến viếng chùa năm xưa, nhà thơ Nguyễn Du cũng mang nỗi lòng đó:

? Cổ tự thu mai hoàng diệp lý

Tiền triều tăng lão bạch vân trung

Khả liên bạch phát cung khu dịch

Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.

Nghĩa là:

Chùa cổ lá vàng thu phủ kín

Triều xưa mây trắng sãi già rồi

Thương cho đầu bạc còn vướng lụy

Cùng với non xanh trót phụ lời.

(Phan Khắc Hoan và Lê Thước dịch)

Thật vậy, ngày nay du khách và Phật tử đến chùa, sẽ được tận hưởng một cảnh quan đầy thiền vị:

Bảo đạc trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy,

Pháp thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn.

Nghĩa là:

Mõ báu dài kêu, chẳng dứt trước cửa dòng biếc chảy

Pháp thân lộ rõ, tự nhiên ngồi đó ngắm núi xanh.

(Trương Ngọc Tường dịch)

 

Chùa LINH ỨNG

Từ trung tâm thành phố Đà Nẵng, vượt qua cầu sông Hàn đi khoảng 8km trên một quãng đồng bằng phẳng thuộc xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, du khách sẽ thấy Ngũ Hành Sơn hiện ra ở ven biển Đông. Thắng cảnh bậc nhất của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng này gồm nhiều ngọn núi mọc lên giữa thiên nhiên kỳ tú: Thủy Sơn ở phía Đông Bắc; Mộc Sơn ở phía Nam; Kim Sơn, Thổ Sơn ở phía Tây và Dương Hỏa Sơn ở phía Tây Nam. Nơi đây gió lộng quanh năm, bốn bề sông biển bát ngát. Dân gian thường gọi chung Ngũ Hành Sơn là hòn Non Nước.

Quê em có dải sông Hàn

Có hòn Non Nước, có hang Sơn Trà

Còn người châu Âu thì đặt tên cho Ngũ Hành Sơn là núi "Cẩm Thạch" (Montagnes de Marbre) vì ở dây có loại đá cẩm thạch rất quý được dùng trong xây dựng cũng như sản xuất các đồ mỹ nghệ tinh xảo.

Nằm trong khu thắng cảnh Ngũ Hành Sơn này có hai ngôi chùa cổ danh tiếng là Tam Thai và Linh Ứng. Cả hai ngôi chùa này đều được xây ở lưng chừng núi Thủy Sơn trong vị trí hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh. Chùa Tam Thai ở sườn núi phía Nam, phải đi lên 156 bậc đá mới đến nơi. Còn chùa Linh Ứng nằm trên sườn núi phía Đông, đường đi lên phải qua 108 bậc đá. Gần chùa Tam Thai có Vọng Giang đài (Đài ngắm sông), từ đó nhìn thấy sông Hàn nước xanh uốn khúc giữa làng xóm, ruộng đồng; xa xa là đèo Hải Vân và dãy Trường Sơn trùng điệp ở phía Tây. Cạnh chùa Linh Ứng lại có Vọng Hải đài (Đài ngắm biển) nhìn về phía biển Đông bao la có cù lao Chàm mờ mờ ẩn hiện.

Chùa Linh Ứng được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVI, tương truyền là do một vị Tiên hiền khai sáng làng Khải Đông đến ẩn tu tại động Tàng Chơn lập ra. Lúc đầu nơi đây gọi là Dưỡng Chơn am, sau đổi thành Dưỡng Chơn đường. Đến đời Minh Mạng trở thành ngôi chùa có tên Ứng Chơn Tự do Hòa thượng Quang Chánh, hiệu là Bảo Đài trụ trì. Tên Linh Ứng Tự ngày nay chính thức được đổi từ đời vua Thành Thái. Hiện trong chùa Linh Ứng có bộ tượng Thập bát La-hán rất quý được tạc công phu bằng đá Ngũ Hành Sơn theo mẫu của chùa Phước Lâm ở thị xã Hội An. Tượng cao 0,34m, ngang gối 0,23m, đế 0,04m.

Từ động Tàng Chơn phía sau chùa Linh Ứng có đường dẫn đến động Tam Thanh, động Chiêm Thành và hang Gió. Gần đó là động Ngũ Cốc: thạch nhũ nơi đây tượng hình những trái phật thủ, củ khoai, bắp cải, hạt mè, hạt đậu. Dân gian còn gọi đây là hang Lồng Đèn vì có nhiều thạch nhũ hình lồng đèn. Trước cửa tam quan chùa Linh Ứng có giếng Tiên, trên đường xuống núi du khách đi qua hang Âm Phủ thông ra biển Đông.

Trải qua gần 4 thế kỷ tồn tại, chùa Linh Ứng bị hư hại và đã được trùng tu nhiều lần. Gần đây nhất, vào năm 1993, Thượng tọa Thích Thiện Nguyên đã tổ chức trùng tu và xây dựng thêm một số công trình phía trước như tượng đức Phật Thích-ca cao 10m (phần tượng cao 7,50m), mười bức tranh minh họa cuộc đời đức Phật Thích-ca và Quan Âm Phật đài cao 5m.

Điều đáng tiếc là hiện nay, do việc khai thác vật liệu xây dựng một cách vô ý thức, cảnh quan Ngũ Hành Sơn đang bị tàn phá một cách nghiêm trọng. Bảo vệ quần thể di tích này là một việc làm cần thiết để cho mai hậu cảnh đẹp này không chỉ là danh thắng được ghi lại trong những áng văn thơ mà thôi.

 

Chùa CHÚC THÁNH 

 

Từ lâu Hội An đã được biết đến như một trong những đô thị cổ hiếm hoi trên thế giới còn giữ được nguyên vẹn những đường nét kiến trúc của nó. Theo bản đồ thời Hồng Đức (thế kỷ XV) thị xã này vốn tên là Đại Chiêm hải - một cảng biển của Vương quốc Chămpa. Về sau nó đã được ghi nhận trên tấm bản đồ Đại Việt của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đác Lộ) được công bố năm 1653, như một thị trấn ven biển của người Việt có tên gọi là Hải Phố. Do cách phát âm của người phương Tây, Hải Phố đã biến thành Faifo.

Đô thị cổ Hội An nằm trên tả ngạn sông Thu Bồn cách thành phố Đà Nẵng 25km về phía Đông Nam, cách biển Đông chỉ 5km. Từ Đà Nẵng, ngoài đường số 1A, du khách có thể đến Hội An bằng con đường nhỏ chạy ven theo bờ biển qua khu thắng cảnh Ngũ Hành Sơn và xã Điện Ngọc.

Chúc Thánh Tự là một trong hai mươi ngôi chùa và hội quán cổ của thị xã Hội An. Nằm trên địa phận phường Cẩm Phô, chùa này đã được công nhận là một di tích lịch sử văn hóa quốc gia từ ngày 19-11-1991.

Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, chùa Chúc Thánh đã được Thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo khai sơn vào thế kỷ XVII. Vị Thiền sư này người tỉnh Phước Kiến, sang nước ta vào thời Chúa Nguyễn Phúc Trân (1687 - 1691). Ông đã tự giới đàn tại chùa Linh Mụ, sau đó vào Hội An dựng chùa Chúc Thánh. Dần dần ngôi chùa này trở nên một ngôi tổ đình lớn ở miền Trung và miền Nam.

Thiền sư Minh Hải có hai vị đệ tử nổi tiếng là Chánh Hiền và An Triêm. Ông có để lại một bài kệ truyền pháp như sau:

Minh thiệt pháp toàn chương

Ấn chân như thị đồng

Chúc Thánh thọ thiên cửu

Kỳ Quốc tộ địa trường

Đắc chính luật vi tuyên

Tổ đạo hạnh giải thông

Giác hoa bồ đề thô

Sung mãn nhân thiên trung.

Nghĩa là:

Hiểu thấu pháp chân thực

Ấn chân như hiện tiền

Cầu Thánh quân tuổi thô

Chúc đất nước vững bền

Giới luật nêu trước tiên

Giải và Hạnh nối liền

Hoa nở cây giác ngộ

Hương thơm lừng nhân thiên

(Nguyễn Lang dịch)

 Chùa Chúc Thánh đã từng được trùng tu vào những năm 1845, 1849, 1892, 1894? Đằng sau cổng tam quan là một kiến trúc giản dị, khiêm tốn, mái lợp ngói âm dương, trên đỉnh có đôi rồng chầu mặt nguyệt . Một trong những bảo vật được lưu giữ bên trong chùa là bộ tượng Thập bát La-hán bằng đất nung đặt trên tòa sen, mỗi pho tượng cao 0,45m, bề ngang gối 0,28m, đế 0,16m.

Trong khuôn viên chùa có tháp Tổ Minh Hải - Pháp Bảo. Chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Trí Nhãn trụ trì.

 

Chùa THIÊN ẤN 

Thiên Ấn niêm hà (Ấn trời đóng trên sông) là thắng cảnh thứ nhất trong mười cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi. Nằm bên tả ngạn sông Trà Khúc, núi Thiên Ấn cùng với giòng sông trở thành biểu tượng cho sự vĩnh hằng của vùng đất này, như hai câu thơ của thi sĩ Bích Khê:

Ngàn năm quả Ấn nằm trơ mốc,

Một dải sông Trà chảy sậm xanh.

Từ chân cầu Trà Khúc hai mươi nhịp, đi theo con đường về phía Cổ Lũy khoảng 2km, du khách sẽ gặp lối đi lên chùa Thiên Ấn trên núi.

Núi Thiên Ấn xưa kia có tên là núi Hó, nay thuộc địa phận xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh. Núi cao khoảng 105m, đỉnh núi bằng phẳng, rộng độ 10 ha. Từ phương Đông nhìn lên thấy bốn phía núi đe? có hình thang cân trông giống như cái ấn trên sông. ở phía Nam, dưới chân núi có gò nhỏ gọi là hòn Triện. phía Đông giáp núi Tam Thai, phía Bắc tiếp núi Lã Vọng. phía Tây có núi Long Đầu. Xưa kia núi Thiên Ấn có nhiều đá son dùng mài mực son chấm quyển chữ nho. Đường lên núi nay không còn là lối mòn mà được mở rộng, tuy chưa bằng phẳng, nhưng xe hơi có thể lên tới chùa được.

Do vị trí địa lý của nó, năm Minh Mạng thứ 11 (1830) hình núi Thiên Ấn được chạm vào Di Đỉnh (một trong chín đỉnh đồng ở Huế được đúc dưới triều vua Minh Mạng). Đến năm Tự Đức thứ ba (1850), Thiên Ấn được liệt vào hàng danh thắng.

Chùa Thiên Ấn được Thiền sư Pháp Hóa khai sơn năm 1694. Ông tên là Lê Diệt, người Phúc Kiến, hiệu là Minh Hải - Phật Bảo, sinh năm 1670, viên tịch năm 1754, trụ trì tại chùa này suốt 60 năm. Bên cạnh chùa có giếng sâu 21m, nước mát ngọt, cũng là một công trình của Thiền sư Pháp Hóa. Núi cao, đá cứng, thiếu dụng cụ, nhưng Ngài vẫn kiên trì đào giếng suốt bốn năm ròng. Một hôm có vị tăng trẻ từ đâu không rõ phát nguyện cùng đào giếng với Thiền sư. Cùng làm việc suốt ba tháng ròng, họ mới chuyển được một tảng đá lớn chắn ngang, từ đó, mạch nước mới tuôn ra. Nhưng lúc giếng có nước cũng là lúc mà vị tăng trẻ ra đi biệt tích. Câu chuyện này còn được truyền tụng qua câu ca dao:

Ông thầy đào giếng trên non,

Đến khi có nước không còn tăm hơi

Gắn liền với chùa Thiên Ấn còn có sự tích quả đại hồng chung linh thiêng. Chuông này vốn được dân làng Chí Tượng (nay là xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) đúc cho chùa làng nhưng đánh không kêu. Vào năm 1845, Thiền sư Bảo Ấn, vị Tổ sư thứ ba của chùa đang tham thiền, thì thấy một vị Hộ Pháp tới bảo thỉnh quả chuông ấy về chùa. Xuất định, Thiền sư Bảo Ấn nhờ sư Diên Tọa đến làng Chí Tượng thỉnh chuông về. Trong ngày lễ khai chuông, sau khi chú nguyện, Thiền sư Bảo Ấn đã gióng lên tiếng chuông tròn ấm ngân vọng khắp vùng. Chuông này nay treo ở bên trái chính điện của chùa.

Tổ đình "Thiên Ấn Tự" được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn Tự" năm 1716. Ngày nay bên cạnh chùa, dưới bóng mát của tàn cây đa cổ thụ còn có tháp của Thiền sư Pháp Hóa và 5 vị trụ trì kế tiếp là Khánh Văn, Bảo Ấn, Giác Tịnh, Hoằng Phúc, Diệu Quang.

Ngoài ra, phía trước chùa, trên núi, còn có mộ chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng được nhân dân an táng tại đây năm 1947.

Cũng năm 1947, chùa Thiên Ấn bị giặc Pháp ném bom sụp đổ. Sau năm 1954, Giáo hội Tăng già tỉnh Quảng Ngãi được thành lập, đã phác họa chương trình trùng kiến chùa Thiên Ấn. Dưới sự chỉ đạo của hai thầy Huyền Tân và Hồng Ân, chùa được khởi công xây dựng từ năm 1959 và khánh thành vào ngày mùng 8 tháng giêng năm Tân Sửu (1961).

Là một thắng tích của đất nước, chùa Thiên Ấn đã trở thành đề tài ngâm vịnh của nhiều văn nhân thi sĩ. Bài thơ nổi tiếng nhất viết về chùa là bài Vịnh Thiên Ấn niêm hà của Nguyễn Cư Trinh (1716 - 1767):

Phong cảnh nơi đây thật rất xinh

Niêm hà có ấn của trời sinh

Xem kia dấu tích còn vuông vức

Nhận lại non sông rõ dạng hình

Cách thức như in đồ Cổ Tự

Cỏ cây nào phụ tiếng chuông linh

Châu sa đổ dưới chân chờ mãi

Trấn chỉ sau lưng núi Cẩm Thành.

 

 

 

Chùa THẬP THÁP 

(THẬP THÁP DI-ĐÀ TỰ)

Chùa Thập Tháp Di-đà gắn liền với tên tuổi của người khai sơn là Tổ sư Nguyên Thiều hay Thọ Tôn, người họ Tạ, húy Siêu Bạch hiệu Hoán Bích, quê huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông. Theo thuyền buôn sang Việt Nam vào năm 1677, Ngài đến lưu trú tại phủ Qui Ninh nay thuộc tỉnh Bình Định, cách thành phố Qui Nhơn 25km. Nơi đây, trên ngọn đồi Long Bích nằm yểm hậu sát cạnh thành Đồ Bàn, nay thuộc thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, vốn có 10 ngôi tháp của người Chăm gọi là Thập Tháp. Thiền sư Nguyên Thiều đã dựng một thảo am trên ngọn đồi này để thờ Phật. Di-đà là danh hiệu Giáo chủ cõi Cực lạc, đồng thời cũng có nghĩa là lý tánh, bản giác của chúng sinh. Tập hợp các ý nghĩa trên, tổ đình này được mệnh danh là Thập Tháp Di-đà Tự.

Từ thị trấn Đập Đá, theo quốc lộ 1A, đến cầu Vạn Thuận, có một con đường đất bên trái dẫn tới khuôn viên chùa Thập Tháp Di-đà với một ao sen ngay phía trước. Cổng chùa là hai cột cao, có đôi sấu ngồi trên đỉnh cột. Chùa kiến trúc theo hình chữ "Khẩu"; gồm chánh điện, Đông đường, Tây dường và nhà phương trượng. Tất cả có 4 dãy nhà ba gian hai chái, lợp ngói âm dương, xây bằng gạch và đá ong. Cột lớn làm bằng danh mộc, kèo, trính, quyết đều bằng gỗ sao và muỗm.

Năm 1691, chùa Thập Tháp Di-đà được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch và câu đối . Năm 1749, Hòa thượng Liễu Triệt trùng tu chánh điện, xung quanh có một hành lang bao bọc, bên trong thờ Tam Thế Phật (Di-đà, Thích-ca và Di-lạc), Tôn giả A-nan và Ca-diếp. Hai bên thờ Thập bát La-hán và Thập điện Minh Vương. Phía sau chánh điện có một tấm bia ghi bài minh tựa đề "Sắc tứ Thập Tháp Di-đà Tự bi minh" lập năm 1876 và một tấm bia ghi bài chí chùa Thập Tháp của Thị giảng Học sĩ Võ Khắc Triển lập năm 1928.

Tổ đình Thập Tháp Di-đà được truyền cho dòng Lâm Tế chánh phái. Kể từ Tổ khai sơn đến nay, tổ đình truyền thừa được 15 đời trải qua 328 năm. Trong các vị Tổ, Hòa thượng Phước Huệ đã được suy tôn làm Quốc Sư. Ngài đã được mời vào giảng kinh trong hoàng cung nhà Nguyễn từ đời vua Thành Thái đến vua Bảo Đại. Ngài còn giảng dạy Phật pháp cho chư tăng ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên (Huế) từ năm 1935. Ngày nay trong khuôn viên chùa còn mộ tháp của Ngài bên cạnh các mộ tháp của các vị Tổ khác.

 

Chùa PHƯỚC SƠN

Phú Yên là tỉnh có nhiều ngôi tổ đình danh tiếng: chùa Bảo Tịnh, chùa Kim Cang, chùa Hồ Sơn? ở Tuy Hòa; chùa Bát Nhã, chùa Từ Quang, chùa Viên Quang, chùa Bảo Sơn, chùa Châu Lâm, chùa Thiên Hưng? ở Tuy An; chùa Triều Tôn ở Sông Cầu; chùa Phước Sơn ở Đồng Xuân v.v?

Chùa Sắc tứ Phước Sơn tọa lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, thường được người dân địa phương gọi là chùa Phước Sơn Đồng Tròn.

Có hai hướng đến chùa. Một là theo con đường vào chùa Triều Tôn ở xã Xuân Thọ 2, huyện Sông Cầu (gần cầu Lò Vôi), đi tiếp khoảng 6km. Hai là từ thị trấn Chí Thạnh, rẽ vào chùa Bảo Sơn ở xã An Định, huyện Tuy An, đi tiếp đến chùa Phước Sơn.

Chùa Phước Sơn do Tổ húy Thượng Liễu Hạ Năng, hiệu Đức Chất sáng lập vào năm Gia Long nguyên niên (năm 1802). Chùa Triều Tôn và chùa Bảo Sơn do hai vị sư đệ của Tổ Liễu Năng là Liễu Diệu và Liễu Căn khai sơn vào năm Gia Long nhị niên (1803). Đây là ba ngôi tam bảo danh tiếng của chi phái Chúc Thánh, dòng Lâm Tế chánh tông tại Phú Yên. Chùa Phước Sơn được xây trên núi Phú Mỹ, quay mặt về hướng Nam, nhìn ra đồng ruộng mênh mông. Con sông La Hai chảy xuống cầu Ngân Sơn tạo một cảnh sắc đẹp đẽ bội phần cho ngôi già lam cổ sát Phước Sơn.

Với lịch sử gần 200 năm, chùa đã trải qua 6 đời truyền thừa. Từ ngôi chùa lợp tranh vách đất ban đầu, các vị trụ trì kế tiếp liên tục trùng tu phát triển. Các Ngài đều là những danh tăng của Phật giáo: Ngài Liễu Năng, Ngài Quảng Thiện, Ngài Huệ Nhãn, Ngài Pháp Tạng, Ngài Thiền Phương và hiện nay là Hòa thượng Thích Phước Trí, trụ trì từ năm 1950.

Hòa thượng Thích Phước Trí đã xây dựng lại ngôi chùa bằng vật liệu kiên cố (đá chẻ và bê-tông) vào năm 1960, nhưng chùa bị cháy vào năm 1965. Sau năm 1975, Hòa thượng đã tổ chức tái thiết và khánh thành ngôi chùa mới vào ngày 26 tháng 9 năm 1993.

Chánh điện rộng thoáng, điện Phật được bài trí trang nghiêm. Nổi bật ở trung tâm là tượng đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni ngồi thiền định trên tòa sen. Phía trước là bộ tượng Di-đà Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) và hai vị Hộ Pháp. Án thờ tả hữu tôn trí các tượng Bồ-tát Quan Âm, Chuẩn Đề và Địa Tạng. Sau điện Phật là nhà tổ thờ tổ sư Đạt-ma và long vị chư tổ của chùa.

Đứng trước cửa chùa lộng gió quanh năm, lòng du khách cảm thấy thư thái lạ lùng và bồi hồi nhớ đến ân đức của các vị tiền bối đã khai sơn và tô bồi cho ngôi chùa. Dọc theo triền núi, phía trái có hai ngôi tháp cổ, đó là bảo tháp của Tổ khai sơn Liễu Năng và Ngài Thiền Phương. Phía tay phải trên đường vào chùa, là bảo tháp của các Ngài Huệ Nhãn, Quảng Thiện và Pháp Tạng.

Ngoài 5 ngôi tháp cổ còn nguyên vẹn qua năm tháng là những bảo vật của chùa, ngôi tổ đình này còn có những bảo vật được triều đình nhà Nguyễn ban thưởng 6 lần. Lần thứ nhất: cây gấm có tên Vạn Thọ Như Ý vào niên hiệu Tự Đức năm thứ 34 (1881); lần thứ hai: 1 bộ y cà sa màu đỏ, 1 chiếc mão Quan Âm, 1 đồng kim tiền có khắc 2 chữ Tam Thọ vào niên hiệu Thành Thái thứ 8 (năm1896); lần thứ ba: một đại hồng chung, một cặp bảo cái, mộ y càsa và một chiếc mão Quan Âm vào niên hiệu Thành Thái thứ 9 (năm 1897); lần thứ tư: chiếc kim khánh có khắc chữ Khâm Tai, một đồng tiền có khắc chữ Triệu dân lại chi vào niên hiệu Thành Thái thứ 10 (năm 1898); lần thứ năm: một đồng ngân tiền vào niên hiệu Thành Thái thứ 13 (năm 1901) và lần thứ sáu: ban "Biểu ngạch Sắc Tứ" vào niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (năm 1939).

Đến Phú Yên, hành hương về chốn Tổ Liễu Quán, du khách và Phật tử xa gần đừng quên ghé chùa Sắc Tứ Phước Sơn, ngôi danh lam của miền Trung nước Việt.

Chùa LONG SƠN 

Chùa Long Sơn trước có tên là Đăng Long Tự, tọa lạc ở số 22 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, dưới chân núi Trại Thủy, thành phố Nha Trang. Ở khu vực này có hai ngôi chùa nổi tiếng là chùa Long Sơn ở phía dưới và chùa Hải Đức ở phía trên.

Trước đây, chùa Long Sơn được dựng trên núi vào năm 1886 do Hòa thượng Thích Ngộ Chí (1856 - 1935) trụ trì. Hoà thượng là người huyện Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa, lúc nhỏ tham gia phong trào chống Pháp, sau xuất thế đi tu. Năm Canh Tý (1900), sau một trận bão lớn, chùa phải dời từ trên núi xuống vị trí hiện nay. Năm 1936, chùa được Hội Phật học chọn làm trụ sở Phật giáo tỉnh Khánh Hòa. Năm 1940, chùa được trùng tu do công lao chính của Hội trưởng Tôn Thất Quyền và Phật tử Võ Đình Thụy. Năm 1968, do chiến tranh tàn phá, chùa bị sạt mái ngói. Năm 1971, Thượng tọa Thích Thiện Bình đứng ra lo trùng tu chùa và cho đến năm 1975, việc trùng tu mới thực hiện được 60% theo họa đồ của kiến trúc sư Võ Đình Diệp.

Từ khi được thành lập đến nay, chùa do các nhà sư sau đây trụ trì: Hòa thượng Thích Ngộ Chí (từ 1886 đến 1935), Thượng tọa Thích Chánh Hóa (từ 1936 đến 1957), Thượng tọa Thích Chí Tín (từ 1957 về sau).

Từ chùa Long Sơn có đường lớn dẫn lên chùa Hải Đức ở lưng đồi và lên pho tượng Kim thân Phật Tổ nơi đỉnh đồi. Tượng được xây dựng bằng bê-tông ngay trên nền cũ của chùa Long Sơn. Việc đúc tượng được khởi công năm 1964, hoàn thành năm 1965, do Thượng tọa Thích Đức Minh, lúc đó là Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa và điêu khắc gia Kim Điền thực hiện. Tượng có chiều cao từ mặt bằng lên 24m, từ đế lên 21m , phần tượng cao 14m, đài sen 7m, đường kính đài sen 10m. Xung quanh đài là hình bảy vị Thánh tử vì đạo. Trước Phật đài có cặp rồng, chiều dài 7,20m. Du khách từ Bắc vào hay từ Nam ra, đi trên đường ô tô hay đường xe lửa, đều có thể nhìn thấy tượng Kim thân Phật Tổ uy nghi với nụ cười vô vi trên khuôn mặt đầy vẻ bao dung.

Nhìn toàn cảnh, chùa Long Sơn có địa thế rất đẹp, lại thuận tiện cho khách tham quan. Chùa được dựng trên một khu đất cao, thoáng mát, cây cối xanh tươi, nằm bên cạnh đường giao thông và phố xá đông đúc mà giữ được vẻ thâm u, tĩnh mịch. Những dãy nhà làm học viện, văn phòng, tịnh thất hợp với ngôi chùa đồ sộ, tạo thành một cấu trúc hoàn chỉnh ẩn bóng dưới những hàng cây bồ đề cao lớn, cành lá sum suê cùng những cây ăn quả bao quanh.

 

Chùa LINH SƠN

Chùa Linh Sơn tọa lạc trên một ngọn đồi ở số 120, đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 2, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 700m về phía Tây Bắc. Chùa được xây dựng từ năm 1938 và khánh thành năm 1940, do công đức của thập phương bá tánh, nhất là sự đóng góp của hai Phật tử Võ Đình Dung và Nguyễn Văn Tiến.

Trên đường vào chùa, du khách đi dưới những hàng thông, bạch đàn và cây sao cao vút. Ngay trước sân chùa là tượng Bồ-tát Quan Thế Âm đứng trên một đài sen. Bên trái tòa trang viện là một bảo tháp ba tầng hình bát giác, mái ngói, cao 4m. Bên phải sân chùa, giữa đám cỏ xanh là hồ nước trong lúc nào cũng có hoa súng khoe màu và cá vàng bơi lội. Khu này còn có những cụm giả sơn và cây cảnh rất đẹp. Hai bên 12 bậc thềm dẫn vào chánh điện là cặp rồng há miệng tượng trưng cho Long thần hộ trì Phật pháp.

Chùa xây theo lối kiến trúc Á Đông, giản dị và hài hòa. Hai bên góc chùa có hai con rồng chầu mặt nguyệt ở giữa nóc. Trước tiền đường có treo nhiều cặp câu đối đượm ngát thiền vị như:

Sơn sắc đạm tùy nhân nhập viện

Tùng thanh tĩnh thính khách đàm thiền

Dịch là:

Màu núi nhạt theo người vào viện

Tiếng tùng im nghe khách bàn thiền.

Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Ở giữa chính điện là tượng Phật Thích-ca bằng đồng ngồi trên tòa sen, nặng 1250kg, được đúc vào năm 1952, và được khánh thành với sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.

Trải qua hơn nửa thế kỷ, chư vị trụ trì chùa được biết đến như sau: Hòa thượng Thích Trí Thủ (năm 1940), Hòa thượng Thích Diệu Hoằng (từ 1940 đến 1947), Hòa thượng Thích Từ Mãn (từ 1947 đến 1952), Hòa thượng Thích Bích Nguyên (từ 1952 đến 1964), Hòa thượng Thích Từ Mãn (từ 1964 về sau).

Hiện nay, Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng đặt tại chùa. Tuy chỉ mới được xây dựng trong thế kỷ XX, chùa Linh Sơn đã trở thành một danh lam của Đà Lạt nhờ cảnh đẹp và đạo vị. Hằng năm, nhất là vào mùa xuân, chùa đón nhận rất nhiều du khách và Phật tử đến thăm chùa, lễ Phật.

 

Thiền viện TRÚC LÂM 

Từ khu vực Hòa Bình ở trung tâm thành phố Đà Lạt đi đến giữa đèo Prenn, có con đường bên tay phải dẫn vào hồ Tuyền Lăm và Thiền viện Trúc Lâm, lộ trình khoảng 10km.

Trên con đường vòng theo núi lên chùa, từ xa đã thấy lầu chuông và mái nóc ngói chánh điện lúc ẩn lúc hiện giữa những rừng thông ngút ngàn. Đến một ngã rẽ, du khách và Phật tử hoặc rẽ phải theo con đường nhựa vào cổng bên của chùa với 61 bậc, hoặc đi thẳng đến hồ Tuyền Lâm rồi theo 222 bậc cấp qua ba cổng tam quan để vào thẳng sân trước của điện.

Thiền viện tọa lạc trên núi Phượng Hoàng với diện tích 24 hecta. Diện tích xây dựng khoảng 2 hecta gồm hai khu ngoại viện và nội viện. Nội viện được chia hai khu vực Tăng, Ni. Mỗi khu vực có hai Tăng đường, một thiền đường, một nhà bếp, một nhà ăn và một nhà kho. Đây là khu vực giới hạn khách tham quan, hiện nay là nơi tu thiền của 50 Tăng và 50 Ni. Ngoại viện ở một khu đất rộng, bằng phẳng, độ cao 1300m (so với mặt biển), đối diện dãy núi Benhuit chập chùng và hồ nước Tuyền Lâm mênh mông, xanh biếc. Ở đây, một số công trình tiêu biểu của Thiền viện được xây cất do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ phác thảo và kiến trúc sư Nguyễn Tín, thầy Trị sự Thích Thông Tạng cùng nhiều Tăng Ni, Phật tử góp công của thực hiện, đã khánh thành long trọng vào ngày 19-3-1994. Đó là ngôi chánh điện uy nghi ở vị trí trung tâm, bên phải là Tham vấn đường và lầu chuông, bên trái là nhà khách, nhà bếp, nhà kho. Trước nhà khách là một vườn hoa đẹp, và ở triền dốc xuống phía trước cổng là hồ nước nhân tạo của Thiền viện có sức chứa 15.000 mét khối nước cho Tăng, Ni sử dụng.

Tượng thờ trong chánh điện được bài trí đơn giản mà trang nghiêm. Ở điện Phật, tượng đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni uy nghi thiền định trên tòa sen, hai bên có hai bức tranh Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền tượng trưng cho Đại trí và Đại hạnh.

Tham vấn đường bên cạnh ngôi chánh điện là nơi mỗi tháng vào ngày 14 và 29 âm lịch, Hòa thượng Viện trưởng cùng thiền sinh tham vấn các vấn đề về Thiền học.

Mục đích của Thiền viện Trúc Lâm là làm sống lại tinh thần Thiền tông đời Trần (thế kỷ XIII - XIV). Đây là đường lối tụ tập đặc biệt do vua Trần Nhân Tông tức Sơ Tổ Trúc Lâm sáng lập. Ngài đã kết hợp cả ba Thiền phái thời bấy giờ: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thành một Thiền phái Việt Nam. Chính vị vua từng lãnh đạo quân dân hai lần chiến thắng quân Nguyên Mông ấy đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và xuất gia tu hành tại núi Yên Tử với pháp hiệu Trúc Lâm Đầu Đà. Sau đó, Ngài lại cùng các môn đồ xuống núi đi du hóa khắp nơi. Ngài đã sống cuộc đời tích cực hành đạo của một Thiền sư nhập thế trong mọi lãnh vực đời sống. Đây là thời kỳ có nhiều Thiền sư Việt Nam tham gia việc nước, song các Ngài vẫn không tham luyến thế tục.

Thiền phái Trúc Lâm đặc biệt nhấn mạnh sự tụ tập nội tâm ở bất cứ hoàn cảnh nào ta sống, dù là tu sĩ hay người tại gia. Đường lối tụ tập hướng nội đưa đến thanh tịnh hóa bản thân, khiến lòng không còn vướng bận ngoại cảnh và tự tánh hiển lộ. Đây là tâm trạng thực sự an ổn trong chính mỗi người, không cần tìm kiếm cực lạc ở tận Tây phương. Đường lối này đã được Sơ Tổ Trúc Lâm diễn tả qua vần thơ Xuân vãn (Cuối xuân) thật thanh thoát. 

Xuân vãn

Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung

Như kim khám phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.

Nghĩa là:

 

Thuở bé chưa từng rõ sắc, không

Xuân về hoa nở tại trong lòng,

Chúa Xuân nay bị ta khám phá,

Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng.

(Thích Thanh Từ dịch)

Phương pháp tu tập trở về với nội tâm ấy được thể hiện rõ nhất qua câu kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Sơ Tổ Trúc Lâm:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cư tắc xan hề khốn tắc miên.

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

 

Nghĩa là:

Ở trần vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền.

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh không tâm, chớ bói thiền.

(Thích Thanh Từ dịch)

Sơ tổ Trúc Lâm quả thật là tấm gương sáng ngời đạo hạnh của bậc hiền nhân. Sau khi hoàn thành sứ mạng của một vị anh quân, Ngài đã trở thành vị Thiền sư thanh tịnh, đồng thời là một bậc cao tăng uyên thâm giáo lý. Với châm ngôn"Thiền Giáo song hành", Ngài truyền đệ tử là Pháp Loa, Nhị Tổ Trúc Lâm, tiến hành việc khắc ấn bản Đại Tạng kinh kéo dài suốt 24 năm ròng (1295 - 1319) dưới sự bảo trợ của vua Trần Anh Tông và sự ủng hộ nhiệt tình của mọi tầng lớp Tăng sĩ, Phật tử. Đây là công tác vĩ đại nhất được chư Tổ Thiền tông đời Trần thực hiện với hơn 5000 ấn bản Đại Tạng được lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm.

Kế tiếp Nhị Tổ Pháp Loa là Thiền sư Huyền Quang, hợp thành Trúc Lâm Tam Tổ, biểu tượng của thời Phật giáo cực thịnh trên đất Việt. Thiền sư Huyền Quang là một bậc cao tăng, cũng là bậc thi hào đã lui về ẩn dật tại núi Côn Sơn sau hơn 20 năm vừa phụng sự triều đình vừa phụ tá Sơ Tổ Trúc Lâm trên đường hành đạo và soạn kinh sách dạy học về Thiền tông Việt Nam. Sồng giữa dòng thiên nhiên, Ngài cảm nhận tâm trạng thanh thản của một người thực sự hòa mình vào vạn vật làm một, đi đứng nằm ngồi, giờ phút nào cũng an nhiên tự tại, nên đã sáng tác những vần thơ tuyệt diệu như trong bài Vịnh cúc hoa: 

Vịnh cúc hoa

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu

Phần hương độc tọa tự vong âu

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh

Hoa hương quần phương xuất nhất đầu

Nghĩa là:

 

Người ở trên lầu, hoa dưới sân

Vô tư ngồi ngắm khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa vô biệt

Một đóa hoa vừa mới nở tung

(Nguyễn Lang dịch)

Đời sống hằng ngày của một hành giả hướng đến thanh tịnh bản tâm theo Thiền phái Trúc Lâm đã được qui định điều hòa bằng nghi thức "Lục thời sám hối" do vua Trần Thái Tông biên soạn. Đây là nghi thức sám hối đặc biệt Việt Nam gồm sáu phần sám hối trong ngày với mục đích thanh lọc nội tâm, khác với nghi thức sám hối của Phật giáo Trung Hoa nhằm cầu xin xá tội cho bản thân cùng người khác. Từ sáng tinh sương, vị hành giả Thiền tông bắt đầu một ngày an lành bằng các bài kệ tụng đơn giản hỗ trợ cho việc tinh cần tụ tập thân tâm như sau: 

Bài kệ dâng hương

Ngào ngạt trầm hương rừng Chánh Định

Chiên đàn vườn Tuệ đã vun trồng

Giới đao đẽo gọt nên hình núi

Đốt tại lò tâm để hiến dâng.

 

Bài kệ dâng hoa

Hoa nở sáng ngời trên đất Tâm

Hoa tiên rải xuống chẳng thơm bằng

Hái dâng từng đóa lên chư Phật

Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.

Đây là phương pháp thực tiễn tu tập Tam Học Pháp: Giới - Định - Tuệ, rất phù hợp giáo lý nguyên thủy thời đức Phật, đã được Thiền tông thời cực thịnh của Phật giáo Việt Nam triều Trần ứng dụng hàng ngày, nay lại được Thiền phái Trúc Lâm do Hòa thượng Viện chủ Thích Thanh Từ khởi xướng khôi phục và duy trì những đặc điểm của Thiền tông Việt Nam, đem lại niềm tự hào dân tộc cho người Phật tử Việt Nam.

Để phương pháp tu học trên đạt được nhiều hiệu quả, Hòa thượng Viện chủ thường khích lệ các thiền sinh ứng dụng nguyên tắc "lục hòa " trong cuộc sống phạm hạnh: thân hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt, giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, lợi hòa đồng quân. Theo tinh thần Trúc Lâm Đầu Đà, các thiền sinh phải nỗ lực rèn luyện ba đức tính: tinh cần tu tập hường đến giác ngộ giải thoát, kiên quyết vượt mọi khó khăn chướng ngại, và thiển dục tri túc sống đời đạm bạc không thụ hưởng mọi xa hoa.

Về mặt tổ chức, ban lãnh đạo Viện gồm có: Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Thủ bổn (Thủ quỹ), Thư ký và Ban chức sự gồm Quản chúng, Tri sự, Tri khách, Tri khố, Hương đăng, Trưởng ban vườn, trưởng ban rẫy và Ban khám bệnh.

Ni chúng cũng có một Ban chức sự như tăng chúng.

Viện trưởng hiện nay: Hòa thượng Thích Thanh Từ; Phó Viện trưởng: Thương tọa Thích Nhật Quang; Quản chúng Tăng: Thượng tọa Thích Thông Phương; Quản chúng Ni: Ni sư Thích nữ Như Tâm.

Bước chân vào Thiền viện Trúc Lâm, Phật tử cũng như du khách dường như quên hẳn cái lạnh cố hữu cửa xứ Đà Lạt hoa đào để tận hưởng cái khoáng đạt của phong cảnh thiên nhiên, cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp sáng tạo của các công trình kiến trúc mới mẻ nhưng mang đậm tính dân tộc. Đặc biệt những giờ phút tĩnh lặng, thư thái trong tâm hồn sẽ khiến du khách tưởng chừng như đang trở về với thế giới quá khứ cũa Thiền phái Trúc Lâm thời chư tổ Trúc Lâm trên non cao yên tử.

 

Chùa GIÁC LÂM

Vị trí bề thế, nhưng quy mô lại khiêm tốn, chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất của thành phố Hồ Chí Minh đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 1288 VH/QĐ ngày 16 - 11 - 1988 công nhận là một di tích lịch sử - văn hóa. Chùa tọa lạc ở số 118 đường lạc Long Quân, phường 23, quận Tân Bình, trong vùng Phú Thọ Hòa.

Chùa vốn ở trên gò Cẩm Sơn, còn gọi là Cẩm Đệm và Sơn Can, do ông Lý Thụy Long, người Minh Hương, quyên tiền của xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744), đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức miêu tả khu vực này như sau: rộng ba dăm, cây cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú. Thi nhân du khách, mỗi dịp tết Thanh minh, Trùng cửu rảnh rỗi, kết bầy năm ba người đến mở tiệc thưởng hoa, chuốc chén ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn ràng xa cách ra ngoài tầm mắt?"

Năm 1772, Hòa thượng Viên Quang thuộc dòng Lâm tế tới trụ trì, từ đó mới đổi tên là Giác Lâm.

Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần thứ nhất, vào khoảng năm 1799 - 1804, Hòa thượng Viên Quang cho xây lại ngôi chùa. Đến năm 1906 - 1909, Hòa thượng Hồng Hưng với sự giúp sức của Hòa thượng Như Phòng, đã cho tôn tạo lại ngôi chùa một lần nữa. Các sự kiện này được ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành, nay còn treo ở chánh điện.

Khuôn viên chùa khá rông, nằm lọt giữa phố phường đông đúc, chung quanh là những bức tường xây. Qua cổng chùa, ngay giữa sân có dựng tượng Bồ - tát Quan Thế Âm dưới bóng cây bồ đề tán lá xanh tốt. Đây là cây bồ đề do Đại đức Narada mang từ SriLanca sang trồng ngày 18-6-1953. Nhân dịp này Ngài cũng cúng cho chùa Xá-Lợi Phật Thích-ca.

Ngày 17 tháng 6 năm 1994, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ khánh thánh Bảo tháp Xá-lợi và cung nghinh Xá-lợi Phật từ chùa Long Vân, Bình Thạnh về chùa Giác Lâm, tôn trí tại Bảo tháp (nguyên từ năm 1953, Xá-lợi Phật được đưa về tôn trí tại chính điện chùa Long Vân). Bảo tháp gồm 7 tầng, hình lục giác, mỗi tầng đều có mái ngói, cửa ra vào. Tháp được xây từ năm 1970 theo đồ án của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến năm 1993 mới được tiếp tục. Tháp cao 32m, mặt hướng Đông, là một trong những bảo tháp lớn và nổi triếng nhất thành phố.

Ngôi chùa có hình chữ nhật, dài 65m, rộng 22m, gồm 3 lớp nhà chính: chánh điện, giảng đường và nhà trai, không kể các dãy nhà phụ. Chùa có tất cả 98 cột. Trên cột có khắc 86 câu đối dính liền, chữ thếp vàng, khung viền chung quanh được trạm trổ rất công phu. Các đầu kèo đều tạc hình đầu rồng. Các bàn thờ trong chánh điện đều được làm bằng gỗ quý nên rất chắc chắn. Gian giữa có ba tấm bao lam hình Tứ quí (mai, lan, cúc, trúc), Tứ linh (long, lân, qui, phụng) và Cửu Long.

Chùa có 113 pho tượng cổ, chủ yêu bằng danh mộc (gỗ mít nài) được sơn son thếp vàng. Ngoài ra có 7 pho tượng đồng. Toàn bộ tượng, bao lam, ghế bàn, bảo tháp đều được chạm khắc cực kỳ tinh xảo. Pho tượng Phật cổ nhất ở chùa là tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi trên tòa sen, bằng gỗ, cao 0,65m; bề ngang hai gối 0,38m, được tôn trí ở giảng đường, có niên đại vào khoảng thế kỷ XVIII. Toà Cửu Long diễn tả sự tích đức Phật Thích-ca đản sinh, được đúc bằng đồng, tôn trí ở bàn thờ chánh điện. Khá đặc sắc về nghệ thuật tạc tượng là hai bộ Thập bát La-hán. Bộ La-hán nhỏ, mỗi pho tượng cao khoảng 0,57m (tượng cao 0.50m và đế cao 0.07m) được tạo tác vào đầu thế kỷ XIX; bộ La-hán lớn, mỗi pho tượng cao khoảng 0.95m (tượng cao 0.80m và đế cao 0.15m) được tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX, đặt hai bên điện Phật ở chánh điện.

Bên trái khuôn viên chùa có khu mộ tháp của các vị Tổ đã trụ trì ở đây: Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Như Phòng? Ở đây còn có cả tháp của Tổ Phật Ý, thầy của Tổ Viên Quang, trụ trì Sắc tứ Từ Ân, được dời về chùa Giác Lâm vào năm 1923.

 

Chùa ẤN QUANG

Tổ đình Ấn Quang được xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Chùa Ấn Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), nay là trụ sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982).

Chùa Ấn Quang hiện tọa lạc tại 243 Sư Vạn Hạnh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ứng ở Ngũ Hành Sơn, Đà nẵng vào lập nên vào năm 1948. Lúc đầu đây chỉ là một ngôi Phật tự nhỏ bằng cây lợp lá, mang tên là Ứng Quang Tự.

Năm 1950, Hòa thượng Thích Thiện Hòa (1907 - 1978), thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43, sau 10 năm tu học về đạo pháp và giới luật tại Tây Thiên Phật học đường, Báo Quốc Phật học đường và chùa Quán Sứ, trở về Sài Gòn. Ngài được Hòa thuợng Thích Trí Hữu giao cho quyền quản lý chùa Ứng Quang để hoằng dương Phật pháp. Với tư cách là Viện chủ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện theo kiểu chùa Từ Đàm ở Huế. Từ đó trong suốt hơn một phần tư thế kỷ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã hiến trọn tâm trí và công đức để tôn tạo ngôi chùa và thành lập trường Phật học để giáo dục và hoằng pháp.

Đầu năm 1951, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã vận động các trường Phật học Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành Phật học đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang được đổi tên thành Ấn Quang và được chọn làm trụ sở của Phật học đường. Hòa thượng Thích Thiện Hòa được bầu làm Tổng giám đốc.

Năm 1955, chùa xây dựng thêm dãy lẫu nhà tổ và trai đưởng. Liên tục hai năm sau đó, xây nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bổ Đè, thư viên, nhà xuất bản, nhà phát hành Hương đạo. Năm 1959, xây lại dãy lầu giảng đường. Đến năm 1966, chánh điện được tôn tạo; năm sau lầu tăng xá, nhà trai được tái thiết. Kiến trúc chùa được xây dựng theo đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Bên trong chùa ngoài tượng đức Bổn Sư Thích-ca và tượng các vị Phật được tôn trí trang nghiêm tại chánh điện, còn có tượng Tổ Sư Đạt ma (tạc bằng gỗ) và bộ tranh sơn mài Quan Âm, Văn-thù, Phổ Hiền do nghệ nhân Trương Văn Thanh (tức Đại đức Minh Tịnh) thực hiện.

Từ năm 1974, do Hòa thượng Thích Thiện Hòa lâm bệnh nặng, một Hội đồng Quản trị Tổ đình Ấn Quang gồm chín vị, do Hòa thượng Thích Huệ Hưng làm Tổng lý, đã được bầu ra để đảm đương Phật sự. Hòa thương Thích Thiện Hòa viên tịch năm 1978. Tên tuổi Hòa thương gắn liền không chỉ với sự nghiệp mở mang chùa Ấn Quang và còn với sự nghiệp đào tạo hàng trăm giảng sư và hàng nghìn Tăng Ni sinh làm sứ giả của Như Lai đi bổ xứ trụ trì các chùa ở các tỉnh miền Nam.

 

Chùa XÁ LỢI 

Chùa Xá Lợi nằm trên một khuôn viên rộng 2500m2, giữa một khu phố khá yên tĩnh, cổng chính nhìn ra đường Bà Huyện Thanh Quan, cổng phụ nhìn ra đường Sư Thiện Chiếu. Chùa được khởi công xây dựng vào ngày 5-8-1956 dưới sự quản đốc công trường của hai kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà Tố Thuận, thi công theo họa đồ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh. Chủa được khách thành vào các ngày 2-3-4 tháng 5 năm 1958. Có được kết quả này là nhờ vào sự đóng góp của Phật tử 21 tỉnh miền Nam lúc đó, dưới sự tổ chức xây dựng của Hội Phật học Việt Nam.

Tương truyền rằng trong quá trình xây cất, ở đây có biển đề "Công trình Chùa thờ Xá-lợi Phật". Do đó, nhân dân quen gọi là chùa Xá Lợi. Đến khi khánh thành, theo ý kiến Hòa thượng Khánh Anh, chùa đã lấy tên này như cách gọi của nhân dân.

Cấu trúc ngôi chùa gồm có: chánh điện, giảng đường, thư viện, văn phòng, phòng hội đồng, phòng họp, phòng khách, phòng tăng và vãn sinh đường. Chánh điện ở lầu một, dài 31m, rộng 15m. Trong lễ đường chỉ tôn trí một vị Phật là đức Thích-ca Mâu-ni. Tượng này do Trường Mỹ nghệ Biên Hòa thực hiện năm1958 bằng bột đá mầu hồng. Trên tường chánh điện có những bức tranh minh họa đời sống đức Phật Thích-ca từ lúc đản sinh cho đến khi nhập niết bàn. Các tác phẩm này do họa sĩ Nguyễn Văn Long thực hiện vào các năm 1959-1960.

Phía bên trái tam quan chùa trên đường Bà Huyện Thanh Quan có một tháp chuông cao 7 tầng, được khởi công xây dựng vào ngày 15-12-1960 và khánh thánh vào ngày 23-12-1961. Đại hồng chung đã phải đúc hai lần mới thành công và được đem lên tháp ngày 17-10-1961 với sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết.

Nếu chùa Ấn Quang gắn liền với sự ra đời và hoạt động của Phật học đường Nam Việt, thì chùa Xá Lợi lại có quan hệ mật thiết với lịch sử của Hội Phật học Nam Việt. Hội này thành lập năm 1951 tại Sài Gòn, do bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, thầy Quảng Minh và cụ Chánh Trí Mai thọ Truyền lần lượt làm Hội trưởng. Hội đã từng có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh miền Nam trước đây với cơ quan ngôn luận là tạp chí Từ Quang. Chùa Xá Lợi từng được chọn làm trụ sở của Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo năm 1963 và là nơi tổ chức thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất họp từ ngày 30-12-1963 đến ngày 01-01-1964. Chùa cũng là nơi tổ chức lễ tiếp nhận và phát hành hai tập kinh đầu tiên Đại Tạng Kinh Việt Nam vào ngày 31-8-1991.

Từ năm 1981 đấn tháng 5 năm 1993, chùa đặt trụ sở Văn phòng II Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại phía Nam. Kể từ rằm tháng tư năm Quí Dâu - 1993, Văn phòng II được dời về Thiền Viện Quảng Đức ở 294 nam Kỳ khởi Nghĩa, Quận 3.

Do vị trí quan trọng và sự đóng góp lớn lao của chùa trong việc hoằng dương chánh pháp, chùa Xá Lợi đã nhiều lần đón các vị khách quốc tế và là nơi thường xuyên có nhiều du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái.

 

Chùa VĨNH NGHIÊM 

Từ phi trường Tân Sơn Nhất đi về trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, trên đường Nam Kỳ Khở Nghĩa, qua khỏi cầu Công Lý, du khách sẽ thấy hiện lên sừng sững ngọn tháp của chùa Vĩnh Nghiêm.

Có thể nói đây là ngôi chùa có kiến trúc bề thế vào bậc nhất nước ta hiện nay. Chùa mang tên Vĩnh Nghiêm, một trung tâm Phật giáo thời Trần ở tỉnh Bắc Giang cũ, nay là Hà Bắc. Vĩnh Nghiêm còn là tên tôn xưng Sư tổ Thanh Hanh (1838 - 1936), một cao tăng được tấn tôn Thiền gia Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Bắc Kỳ. Trước năm 1975, Tăng Ni Phật tử miền Bắc sinh sống tại miền Nam tụ tập thành miền Vĩnh Nghiêm, mà trung tâm chính là ngôi chùa này.

Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1964 và khánh thành năm 1971 do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế với sự cộng tác của hai kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu. Chùa làm theo kiểu chữ "Công" hai lớp mái chồng diêm, mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông.

Chùa gồm một tầng trệt và một tầng lầu. Tầng trệt có phòng đọc sách, giảng đường, văn phòng, phòng tăng chúng. Tầng lầu có sân thượng rộng khoảng 10m, bên trái là tháp Quan Âm với 7 tầng mái, bên phải có tháp chuông treo quả đại hồng chung do Giáo hội Phật giáo Nhật Bản hiến cúng. Bái điện là một tòa phạm vũ nguy nga, bề rộng 22m, dài 35m. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có bao hàm tứ linh, bao lam Cửu Long. Đặc biệt có phù điêu trên hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng trong nước và các nước châu Á.

Bàn thờ Phật được thiết kế rất trang nghiêm. Ở bảo điện: chính giữa thờ dức Phật Thích-ca, hai bên là Bồ-tát Phổ Hiền tượng trưng cho đạo hạnh và Bồ-tát Văn-thù tượng trưng cho trí tuệ.

Tại chánh điện đât 6 bức phù điêu La-hán: Khuyến Học La-hán, Thuyết Pháp Văn Pháp La-hán, Đạo Sơn Địa Ngục Tiếp Hóa La-hán, Cúng Dàng La-hán, Cúng Dàng Bố Thí La-hán, Đại Hàn Địa Ngục Tiếp Hóa La-hán. Đó là những tác phẩm chạm khắc gỗ dựa vào bản chính của phái Tịnh độ Nhật Bản. Ở hàng hiên, trước lối vào chánh điện mỗi bên có một pho tượng Kim Cương lớn.

Các mái chùa đều uốn cong theo kiểu chùa miền Bắc, mái trước chồng diêm. Giữa đỉnh nóc có bánh xe pháp luân và các góc chạm hình đầu phượng.

Nói đến chùa Vĩnh Nghiêm, ngoài tháp chuông, không thể quên hai ngôi tháp đặc sắc là tháp Quan Âm và tháp Xá Lợi Cộng Đồng. Tháp Quan Âm dựng ở bên trái sân thượng trên một diện tích 200m2 . Tháp có 7 tầng mái, từ mặt đất lên đến đỉnh tháp cao 35m. Tháp xây hình vuông, mỗi cạnh ở tầng một dài 7m. hai bên cửa ra vào có hai pho tượng Kim Cương đắp nổi, cao 1,48m, ngang 0,74m. Ở 7 tầng của tháp, trên vách đắp nổi 25 tượng Thất Phật Thế Tôn và các vị Tổ, mỗi tượng có khung vuông, cạnh 1,05m.

Tháp Xá Lợi Cộng Đồng xây ở phía sau chùa về bên phải, khởi công năm 1982 và hoàn thành năm 1984. Tháp có 4 tầng, cao 25m, mang nét đặc trưng của kiến trúc Việt Nam. Tháp là nơi đặt thờ tro hài cốt của những người do gia đình ký gởi, trong đó có những văn nhân thi sĩ tên tuổi như Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương?

Chùa Vĩnh Nghiêm hiện là nơi đặt trụ sở của trường Cơ bản Phật học thành phố Hồ Chí Minh.

 

Tịnh xá TRUNG TÂM 

Tịnh xá Trung Tâm tọa lạc tại số 7 đường Nguyễn Trung Trực, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là ngôi tịnh xá thuộc hệ phái Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Hệ phái này do Tổ sư Minh Đăng Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, người làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, sáng lập từ năm 1944 với hạnh nguyện mà cũng là danh nghĩa để sau này trở thành truyền thống:

"Nối truyền Thích-ca chánh pháp

Đạo Phật Khất sĩ Việt Nam"

Ngài lập phương châm hành đạo với chủ trương: "Nên tập sống chung tu học" trong giới tăng đồ. Ngài cũng khuyến khích mọi người cùng chung xây dựng một cõi đời hạnh phúc, nhân đạo tại trần gian bằng cách:

Mỗi người phải biết chữ,

Mỗi người phải thuộc giới,

Mỗi người phải tránh ác,

Mỗi người phải (học đạo) làm thiện.

Ngài phát tâm thể hiện chí nguyện đi theo và tái tạo con đường phạm hạnh sa môn khất sĩ của chư Phật - Tăng xưa bằng hình ảnh:

Nhất bát thiên gia phạn

Cô thân vạn lý du

Dục cùng sanh tử lộ

Khất hóa dộ xuân thu

Nghĩa là:

Một bát cơm ngàn nhà

Thân đi muôn dặm xa

Muốn thoát đường sinh tử

Xin độ tháng ngày qua

Tịnh xá được bắt đầu xây dựng vào tháng 4 năm 1965 và kéo dài suốt 10 năm, trong một khuôn viên rộng 5490m2 do Bà Phán Nguyễn Văn Chà, pháp danh Diệu Kiến phát tâm cúng dường. Lúc đầu Tịnh xá bao gồm tòa chánh điện, nhà thờ Cửu huyền thất tổ, hai dãy nhà tăng và các cốc của chư tăng. Nơi đây trở thành trụ sở của Trung ương Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1980.

Từ tháng 11 năm 1980, Thượng tọa Giác Toàn (trụ trì) và Thượng tọa Giác Phúc (giáo phẩm hệ phái) đã tổ chức trùng tu Tịnh xá bao gồm tầng trệt và tầng lầu. Chánh điện xây pháp tháp kiểu bát giác, theo họa đồ của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Phần tháp cao 4,40m, mỗi cạnh 2,25m. Ở nóc tháp có 13 tầng, tượng trưng cho 13 tầng nấc tiến hóa của chúng sinh (lục phàm, tứ thánh, tam tôn). Tháp được làm bằng gỗ giáng hương, chung quanh chạm nổi hình hoa sen. Phần trên là 12 bức chạm nổi minh họa cuộc đời đức Phật Thích-ca. Toàn bộ cấu trúc của tháp do ông Thiện Ngộ và nhóm thợ Trường Mỹ nghệ Long An thực hiện từ năm 1982 đến năm 1984.

Bên trong pháp tháp chánh điện tôn trí bảo tượng đức Phật Thích-ca. Chung quanh vách tường có 8 bức phù điêu, mỗi bức cao 2,20m, dài 4,50m, giới thiệu cuộc đời đức Phật. Đây là công trình của các điêu khắc gia Minh Dung và Hai Long.

Phía sau chánh điện là nơi thờ Cửu huyền thất tổ, giữa có tháp thờ Bồ-tát Địa Tạng. Ngoài sân trước có pho tượng Bồ-tát Quan Thế Âm cao 9m, đứng trên tòa sen cao 3m.

Trước năm1975, trên toàn miền Nam. Giáo hội Tăng già Khất sĩ có khoảng 300 tịnh xá, mà văn phòng trung ương là Tịnh xá Trung Tâm. Hội đồng lãnh đạo Giáo hội do ngài Trưởng lão Giác Chánh làm Tăng chủ và Thượng tọa Giác Nhiên làm Tổng trị sự trưởng tức Viện trưởng Viện Hành Đạo. Theo gương của Tôn sư Minh Đăng Quang, các đệ tử của Ngài đã thành lập nhiều đoàn du tăng khất sĩ, gồm 6 giáo đoàn chư tăng và 3 giáo đoàn ni giới. Với bộ y vàng, không nón mũ, giày dép, tay bưng bát, các nhà sư khất sĩ đã dấn bước trên khắp các thành phố và làng mạc miền Nam. Đi đến đâu họ cũng tổ chức thuyết pháp, xây cất tịnh xá, tích cực tham gia quyên góp cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và thiên tai. Trên những nẻo đường hành đạo, nhà thơ Trần Quê Hương đã cảm tác thành những dòng thơ in trong tập Suối về Hoa Nghiêm:

Mỹ Tho thành phố quê hương mẹ

Gót trải đầu tiên bước nhịp nhàng

Bình bát ngàn nhà cơm gạo tẻ

Nhớ tình phụ mẫu, nhớ mang mang.

 

An Đức già lam dừng bước nghỉ

Bên con sông nhỏ nước êm đềm

Khi đêm dìu dịu hương lan lý

Say ngất mùi thiền, vượt cõi thiên.

Mỹ Tho cũng chính là nơi mà năm 1946, Tôn sư Đăng Minh Quang, sau một thời gian hơn 2 năm tu trì tại chùa Linh Bửu, đã bắt đầu dẫn đoàn du tăng đi hành đạo. Từ 1976 đến nay, những đệ tử của Ngài đã tiếp nối bước chân hoằng hóa bằng cách tĩnh tu và hành đạo tại những ngôi tịnh xá của hệ phái, dưới ánh sáng những lời giáo huấn và sự chứng giám của chân dung Tổ sư được tôn trí thờ phụng tại Tịnh xá Ngọc Viên (Tổ đình), Tịnh xá Trung Tâm và tịnh xá các nơi.

 

Thiền viện VẠN HẠNH 

Tại thành phố Hồ Chí Minh, trên đường từ Phú Nhuận đi Gò Vấp, đến số 716 đường Nguyễn Kiệm, du khách sẽ thấy hiện ra cổng tam quan bề thế của Thiền viện Vạn Hạnh.

Trước năm 1975 nơi đây là Phân khoa Khoa học ứng dụng thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Năm 1976, Hòa thượng đã tạo lập thiền viện này làm nơi tu trì và nghiên cứu Phật học.

Thiền viện tọa lạc trên một diện tích khoảng 1 hecta, bao gồm ngôi chánh điện; một nhà tổ; các dãy nhà làm trụ sở trường Cao cấp Phật học Việt Nam, văn phòng Viện nghiên cứu Phật học, văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam; dãy nhà tăng và trai đường.

Cổng thiền viện được xây dựng năm 1990 theo kiểu kiến trúc cổ Phật giáo ở Huế do Đại đức Tâm Đoan và Đại đức Tịnh Quang đảm trách. Ngôi chánh điện gồm hai tầng. Ở tầng trệt, gian giữa thờ tượng đức Phật Thích-ca màu trắng ngà ngồi trên tòa sen, vẻ mặt đầy bao dung. Nơi đây bài trí đơn sơ nhưng rất nghiêm cẩn. Hai bên là phòng đọc sách của thư viện với nhiều sách quý. Tầng lầu là phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng Viện chủ.

Ngôi nhà Tổ cũng có hai tầng. Tầng lầu thờ Phật và thờ Tổ. Trên bàn thờ Tổ có chân dung cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước đây. Tầng trệt là giảng đường, nơi thường tổ chức các buổi giảng kinh, thuyết pháp, nói chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ?

Thiền viện Vạn Hạnh giữ một vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp. Đây là nơi làm việc của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết học và Phật học, làm Viện trưởng. Cơ cấu của Viện gồm có: Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Phật giáo chuyên môn, Ban in ấn và xuất bản. Ngoài ra, ở đây còn đặt văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong bốn năm qua, Viện đã xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng kinh điển như: Kinh Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập), Kinh Tương Ưng (5 bộ)? được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali ra tiếng Việt; Kinh Trường A Hàm (2 tập), Trung A Hàm (3 tập), Tạp A Hàm (2 tập)? được các vị Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trị Siêu? dịch từ bản Hán tạng ra tiếng Việt. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời sống văn hóa dân tộc.

Thiền viện Vạn Hạnh còn là một trung tâm đào tạo tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi đây đặt trường Cao cấp Phật học Việt Nam. Ban Giám hiệu của Trường hiện nay (khóa III, nhiệm kỳ III, 1993 - 1997) gồm có:

Hiệu trưởng: Hòa thượng Thích Minh Châu

Phó Hiệu trưởng: Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Phó Hiệu trưởng: Thượng tọa Thích Giác Toàn

Phó Hiệu trưởng: Cư sĩ Tống Hồ Cầm

Tổng Thư ký: Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn

Chánh văn phòng: Đại đức Thích Đạt Đạo

Trường đào tạo theo phương thức tập trung thông qua một kỳ thi tuyển, mỗi khóa học kéo dài 4 năm, với văn bằng tương đương trình độ đại học. Từ năm 1984 đến nay, Trường đã mở được 3 khóa, đào tạo hơn 400 Tăng Ni sinh. Chương trình giảng dạy gồm phần nội điển do chư tôn túc giảng sư của Giáo hội phụ trách và phần ngoại điển do các giáo sư, giảng viên các trường Đại học đảm nhiệm.

Ngoài các trách vụ lãnh đạo Viện nghiên cứu Phật học và trường Cao cấp Phật học, Hòa thượng Thích Minh Châu còn đảm đương nhiệm vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Phật giáo quốc tế, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng đã nhiều lần tham gia các diễn đàn, hội thảo, hội nghị về văn hóa Phật giáo ở nước ngoài.

Thiền viện Vạn Hạnh thường xuyên được vinh dự đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo hội Phật giáo trên thế giới và nhiều đoàn khách quốc tế đến làm việc, thăm viếng, cùng đông đảo du khách, Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào ngày lễ Phật đản, Vu lan?

 

Chùa BỬU PHONG -- ĐỔNG NAI

Chùa Bửu Phong là một danh lam thắng cảnh không chỉ của tỉnh Đồng Nai mà còn của cả miền Nam. Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long thuộc thôn Bình Điện, xã Tân Bửu, cách thành phố Biên Hòa 4km. Do địa danh ấy nên còn có tên là chùa Bình Điện.

Chùa được Hòa thượng Bửu Phong dựng vào khoảng thế kỷ XVII, lúc đầu chỉ là một am tranh nhỏ thờ Phật. Sách Đại Nam nhất thống chí viết rằng: "Núi Bửu Phong ở phía Nam huyện Phước Chánh 13 dặm, phía Tây trông xuống sông lớn, phía sau làm hộ vệ cho núi Long Ẩn. Trên núi có chùa Bửu Phong khói mây man mác, cây cối um tùm là thắng cảnh thứ nhất trên tỉnh hạt. Xưa có nhà sư là Hòa thượng Bửu Phong lập chùa trên núi, cho nên thường gọi tên là núi Bửu Phong".

Vào cuối thế kỷ XVIII, số người Hoa đến vùng đất này sinh sống ngày càng đông, trong đó có những người mộ đạo Phật đã xây cất lại ngôi chùa bằng gạch ngói. Họ đã mời Thiền sư Thành Trí, pháp danh Pháp Thông - Thiện Hỉ, thuộc Thiền phái Tào Động thế hệ thứ 36, đến trụ trì và tôn làm vị Tổ đầu tiên của chùa. Thiền sư Pháp Thông cũng là người có công khai sơn chùa Long Ẩn dựng trên núi Long Ẩn phía trước núi Bửu Long. Ngày nay tại chùa này còn tháp của Tổ sư Pháp Thông xây theo hình khối lục giác.

Theo tài liệu của ông Nguyễn Hiền Đức in trong sách Thiền sư Việt Nam của Hòa thượng Thích Thanh Từ, thì Hòa thượng Pháp Thông không có đệ tử thay thế, nên Thiền sư Viên Quang là người Minh Hương thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 36 được cử về trụ trì chùa Bửu Phong. Năm 1760, Thiền sư Viên Quang đã trùng tu chùa này.

Đến năm Ký Sửu (1829) chùa được xây cất lại và mở rộng do Tham tướng Nguyễn Văn Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm pháp nguyện hiến cúng. Ngoài ra chùa còn được sửa chữa nhiều lần vào cuối thế kỷ XIX và những năm gần đây.

Đến thăm chùa Bửu Phong, sau khi leo lên 100 bậc cấp, du khách có ấn tượng sâu sắc khi đứng trước tòa kiến trúc này. Mặt tiền có ba cửa vòng cung lớn, hai bên lại có bốn ô cửa vòng cung nhỏ.

Bên trên mặt tiền trang trí các hoa văn đắp nổi bằng mảnh sành, mảnh sứ rất công phu và độc đáo. Trước chùa có tượng Bồ-tát Quan Thế Âm do Yết-ma Thiện Giáo dựng vào năm 1963. Hai câu đối ở hai cột chính nói lên ý nghĩa của tên chùa:

Bửu nhạc phối đề y Thứu Lĩnh

Phong sơn qún mỹ tự Kỳ Viên

Nghĩa là:

Bửu nhạc dịu dàng như Thứu Lĩnh

Phong sơn đẹp đẽ tựa Ký Viên

(Giản Chi dịch)

Bên trong chánh điện có tượng Phật Di-đà cổ. Điện Phật được trang hoàng rực rỡ. Xá-lợi Phật được tôn trí ở ngôi bảo tháp sau chánh điện.

Hiện nay vùng núi Bửu Long đã trở thành một quần thể di tích thắng cảnh du lịch của tỉnh Đồng Nai. Du khách đến Đồng Nai không thể không viếng chùa Bủu Phong nằm trong toàn cảnh núi Bửu Long hay núi Bình Điện và sông Trường Giang, tức sông Đồng Nai:

Phía sau Bình Điện ngăn phong lãnh

Mé trước Trường Giang nước chảy quanh

Chung quanh khu vực này còn có các ngôi tháp cổ và những pho tượng lộ thiên khá lớn như tượng đức Phật đản sinh, tượng đức Phật thiền định, tượng đức Phật nhập niết bàn?

 

Chùa HỘI KHÁNH -  SÔNG BÉ

Chùa Hội Khánh được Thiền sư Đại Ngạn (thuộc dòng Lâm Tế) khai sơn năm Cảnh Hưng thứ 2, đời Lê Hiển Tông, tức năm Tân Dậu (1741). Lúc đầu chùa được xây trên một ngọn đồi cao, nhưng đến năm thứ 14 đời Tự Đức, tức năm Tân Dậu (1861), chiến tranh đã thiêu hủy toàn bộ ngôi chùa. Bảy năm sau (1868), chùa được Hòa thượng Chánh Đắc cho xây dựng lại dưới chân đồi, cách vị trí chùa cũ khoảng 100m về phía Nam. Địa chỉ của chùa hiện nay là 35 đường Yersin, phường Phú Cường, thị xã Thủ Đầu Một, tỉnh Sông Bé, cách thành phố Hồ Chí Minh 25km về phía Nam.

Chùa nằm cách đường lộ 150m. Sau cổng tam quan cổ kính có chạm trổ rồng phượng là khuôn viên chùa yên tĩnh, với nhiều cây cao bóng cả, trong đó đặc biệt có bốn cây dầu cao chót vót , cành lá sum suê, được trồng lúc chùa mới bắt đầu xây dựng, nay tuổi cây đã trên một thế kỷ.

Chùa đã được tôn tạo và trùng tu nhiều lần , nhưng vẫn giữ được kiến trúc cổ mang màu sắc dân tộc. Giảng đường và Đông lang được xây lại năm 1917, Tây lang được xây lại năm 1984. Ngôi chánh điện được xây dựng trong hai năm 1990-1991. Và gần đây nhất , ngày 29-2-1992, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Sông Bé đã tổ chức lễ lạc thành trùng tu di tích chùa Hội Khánh.

Trong chùa, toàn bộ diện tích chánh điện, giảng đường, Đông lang và Tây lang rộng đến 700 m2. Ở chánh điện, các pho tượng Phật Thích-ca, Địa Tạng, Chuẩn Đề? đều được tạc bằng gỗ, sơn son thếp vàng. Ba tấm bao lam chạm khắc Tứ linh, Tứ quí, Cửu long và Thập bát La-hán rất tinh vi, có giá trị nghệ thuật cao. Hai bên tường của chánh điện có bộ tượng Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La-hán. Các tác phẩm chạm khắc gỗ này được tạc vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do nhóm thợ điêu khắc nổi tiếng ở Thủ Dầu Một lúc đó thực hiện.

Hơn 250 năm nay, chùa Hội Khánh lưu truyền kế vị đến 10 đời, trong đó có 9 vị đã viên tịch là: Đại Ngạn, Chân Kính, Chánh Đắc, Trí Tập, Thiện Quới, Từ Văn, Ấn Bửu - Thiện Quới, Thiện Hương, Quảng Viên. Trước sân chùa có những ngôi tháp của các vị trụ trì đã viên tịch. Hiện nay trụ trì chùa là Đại đức Thích Huệ Thông, Chánh Thư ký Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Sông Bé.

Chùa Hội Khánh là trung tâm Phật giáo Cổ truyền của cả vùng đất Bình An xưa kia. Đây cũng là trung tâm đào tạo tầng lớp sĩ phu của đất Bình An và đất Thủ Dầu Một sau này. Các nhà sư cũng chính là người dạy học chữ Hán. Chùa Hội Khánh đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ tu sĩ để trụ trì các chùa khác trong vùng. Một trong những danh tăng xuất thân từ chùa là Hòa thượng Thích Từ Văn được xem là Tăng thống Phật giáo Nam Kỳ và được mời sang Marseille (Pháp) làm lễ cầu siêu và thuyết pháp vào năm 1920. Chính Ngài đã thỉnh tượng Phật và đưa thợ thủ công sang Pháp để xây dựng chùa Hội Khánh bên đó.

TRong những năm 1923 - 1926, ở chùa Hội Khánh có lập Hội Danh dự Yêu nước gồm các sĩ phu tham gia chữa bệnh, dạy học để truyền bá đạo lý. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã sống và hoạt động tại chùa trong thời gian này.

Sau năm 1945, chùa Hội Khánh là nơi qui tụ các Tăng Ni của 40 ngôi chùa khác trong tỉnh Thủ Dầu Một, lập ra Hội Phật giáo Cứu quốc do Thượng tọa Thích Minh Tịnh làm Chủ tịch.

Do bề dày lịch sử của chùa Hội Khánh, ngày nay nơi đây đã vinh dự được chọn đặt trụ sở Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Sông Bé và được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

 

Chùa VĨNH TRÀNG

Du khách đến Mỹ Tho mà không thăm chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến trúc tiêu biểu ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc trên mảnh vườn cây ăn trái rộng gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là xã Mỹ Phong, bên con rạch Bảo Định hiền hòa nước ngọt quanh năm.

Vào nửa đầu thế kỷ XIX, chùa vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công Đạt phát nguyện xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi về hưu. Ông thỉnh Hòa thượng Từ Lâm ở chùa Bửu Lâm về trụ trì. Sau khi ông Bùi Công Đạt qua đời, Hòa thượng Huệ Đăng dã vận động tín đồ xây dựng thành ngôi đại tự với tên Vĩnh Tran2g, hoàn thành vào mùa hè năm Canh Tuất (1850).

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Định Tường, chùa Vĩnh Tràng bị hư hại khá nặng. Người kế vị Hòa thượng Huệ Đăng là Hòa thượng Thiện Đề, sư đệ của Ngài, nối tiếp công việc trùng tu ngôi chùa. Sau khi Hòa thượng Thiện Đề viên tịch, chùa Vĩnh Tràng hương tàn khói lạnh. Năm 1890 tín đồ đã đến chùa Sắc tứ Linh Thứu thỉnh Hòa thượng Trà Chánh Hậu về trụ trì. Ngài quê ổ Mỹ Tho, là đệ tử Hòa thượng Minh Phước gốc Tổ đình Bửu Lâm. Năm 1895 Hòa thượng Chánh Hậu cùng bổn đạo trùng tu toàn bộ ngôi chùa. Đến năm 1904, do một trận bão lớn, chùa lại bị tàn phá, vì vậy mà 3 năm sau (1907), chùa Vĩnh Tràng được trùng tu một lần nữa. Hòa thượng Chánh Hậu trụ trì 33 năm (1890 - 1923) thì qua đời, Kế tục sự nghiệp của Ngài , Hòa thượng Minh Đàn, pháp danh Tâm Liễu, cho xây dựng cổng tam quan, mặt tiền, chánh điện và nhà thờ tổ.

Trước cửa chùa có tam quan tráng lệ do tốp thợ người Huế thực hiện năm 1933, với sự tài trợ về kinh phí của hai ông Huỳnh Trí Phú và Lý Văn Quang. Chiếc cổng giữa bằng sắt lâu nay vẫn đóng kín. Hai cổng bên bằng bê-tông cốt thép vươn cao như hai tòa lâu đài cổ. Nét độc đáo của tam quan chùa Vĩnh Tràng thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành, mảnh sứ để tạo nên những bức tranh với màu sắc hài hòa, minh họa những sự tích nhà Phật, những truyện tích dân gian và những đề tài Tứ quí, Tứ linh, hoa lá? Tầng lầu thượng của cổng tam quan có vòm cửa rộng, bên phải đặt tượng Hòa thượng Chánh Hậu, bên trái đặt tượng Hòa thượng Minh Đàn. Cả hai tượng này đều đắp bằng xi măng giống như người thật, do điêu khắc gia Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.

Mặt tiền chùa Vĩnh Tràng trang trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á lẫn Âu. Ở đây có những hoa văn theo kiểu thời Phục Hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt của Pháp, gạch men của Nhật Bản? Chữ Hán viết theo lối chữ triện cổ kính , còn chữ quốc ngữ lại viết theo lối chữ gô-tích. Từ xa trông vào, du khách có thể hình dung ngôi chùa như đền Ăng-co có năm tháp. Theo lời truyền tụng của nhân dân địa phương, thì Hòa thượng Minh Đàn và ông Huỳnh Trí Phú đã từng du lịch sang xứ Chùa Tháp nên tiếp thu được cái đẹp trong kiến trúc ngôi chùa bên đó, kết hợp với kiến trúc phương Tây.

Ở chánh điện có các bao lam được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu Bát Tiên cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực hiện vào khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều pho tượng Phật như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng các vị Bồ-tát. Hai bên bàn thờ là tượng chân dung Hòa thượng Chánh Hậu và người kế pháp là Hòa thượng Minh Đàn. Các Hòa thượng Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn đều thuộc Thiền phái Lâm Tế.

Bộ tượng cổ nhất ở chùa Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) bằng đồng. Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ lâu. Sau này Hòa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc Hoàng cũng bằng đồng, to gần bằng người thật, cùng phong cách với tượng Già Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm. Khác với thông lệ xưa nay, Ngọc Hoàng ở đây không có Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên. Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.

Hai bên tường chánh điện là bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây có bộ Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đã tạc vào năm 1907 theo sự chỉ đạo của Hòa thượng Chánh Hậu. Bộ tượng này bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng 0,80m, bề ngang 0,58m, được đặt hai bên điện Phật gọi là sáu căn: mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý; ở ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Các tượng La-hán này được tạo hình cân đối, sinh động, cỡi trên các con thú như trâu, bò, ngựa, lạc đà, hà mã, tê giác v.v?

Trong khuôn viên chùa Vĩnh Tràng có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm sóc thường xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng Chánh Hậu và gia đình được xây dựng bề thế có tường rào bao bọc.

Nhìn chung, vẻ đẹp của chùa Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý kiến cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng kết lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.

Hiện chùa Vĩnh Tràng l2 nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và trường Cơ bản Phật học tỉnh Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút du khách và Phật tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đã đến viếng chùa và viết tặng một bài thơ:

Đức Phật giàu tình thương

Nên chùa tên Vĩnh Tràng

Nhà sư vốn yên nước

Lòng như sông Tiền Giang

 

 

Chùa KH'LEANG

Thị xã Sóc Trăng có khá nhiều ngôi chùa, trong đó Kh'Leang là ngôi chùa cổ nhất. Bên cạnh những ngôi chùa Việt mà chúng ta thường thấy, đây là một công trình kiến trúc khá độc đáo mang đậm dấu ấn của văn hóa Khmer.

Tọa lạc trên một khuôn viên rộng 3,5 hecta với nhiều cây cao bóng cả, lúc đầu đây chỉ là một ngôi chùa làm bằng gỗ lợp la, sau mới sửa lại bằng gỗ lợp ngói. Từ khi xây dựng (năm 1533) đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần, lần trùng tu gần nhất cách nay cũng đã trên 80 năm. Tính từ vị tổ đầu tiên là Đại đức Thạch Sóc cho đến Đại đức Tăng Nô trụ trì hiện nay, chùa Kh?Leang đã trải qua 21 đời truyền thừa.

Có hai lối đi vào chùa: cổng chính ở số 71 đường Mậu Thân, cổng phụ ở đường Nguyễn Chí Thanh. Nền chùa cao hơn mặt đường khoảng 1m có ba bậc sân, mỗi bậc được bao bọc bởi một tường rào xây bằng gạch. Có bốn cửa ra vào mở theo theo bốn hướng. Cửa ngoài cùng xây rất công phu, gần như cổng chính.

Ở trung tâm nền chùa, ngôi chánh điện vươn cao lên nền trời, với diện tích gần 200 m2 (chiều rộng (,20m, chiều dài 20,80m). Bộ khung mái gồm ba cấp, chia thành 9 nếp, làm toàn bằng gỗ. Mái được đỡ bằng 12 cây cột to, xây theo kiểu corinthien của Hy Lạp, có chu vi tới 1,10m, phủ sơn đen bóng và có vẽ hình rồng, hình cá uốn lượn màu vàng lộng lẫy. Trước bàn thờ có một tấm bao lam cao tới mái, được sơn son thếp vàng. Ở chính giữa tôn trí pho tượng đức Phật Thích-ca chiều cao 6,80m, phần tượng cao 2,70m. Tấm bia bằng chữ Khmer phía sau pho tượng cho biết L "Đại đức Liêu Đuông, đời truyền thừa thứ 17, đã đứng ra lập tượng Phật vào năm Phật lịch 2460 với sự cúng dường của gia đình ông Lum Sum".

Nói đến kiến trúc đặc biệt của chùa Kh'Leang, cần lưu ý các khái niệm và hình tượng có liên quan đến văn hóa Khmer sau đây:

- Hô Cheang là tên gọi hai đầu hồi được các nghệ nhân Khmer chạm trổ rất công phu với các họa tiết trang trí và theo phép đối xứng.

- Krud hay Garuda là hình tượng một loại chim thần có mình người; đầu, chân và hai cánh của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Loài chim này là kẻ thù truyền kiếp của rắn. Cho nên, nếu hình tượng khúc đuôi rắn dài và cong vút được đắp trên đầu các góc mái chùa, thì hình tượng Krud được án ngữ ở chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa.

- Yeak (Chằn) trong các chuyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác, thường gieo điều dữ cho con người. Hình tượng Yeakcó dáng vẻ của một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch. Mình Yeak mặc áo giáp, đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong nghệ thuật trang trí chùa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải hóa và đặt đứng hai bên bậc thềm ở phía trước chánh điện nhằm mục đích bảo vệ ngôi chùa.

- Reach Cha Sei là con vật mà Tiên nữ và Yeak đứng trên đó khi giao đấu với nhau. Hình tượng này được chạm trổ trên hai cánh cửa ra vào chánh điện.

- Teahu là hình tượng người có bộ mặt hung dữ, hai tay bưng mặt trời hay mặt trăng chuẩn bị nuốt vào bụng. Hình tượng này cũng được trang trí tren khung cửa ra vào.

- Sala là dãy nhà sàn rộng rãi, thông thoáng được xây bên cạnh chánh điện, dùng làm chỗ cử hành lễ dâng cơm cho sư sãi và nơi hội họp của các Phật tử trong các ngày lễ hội.

Trong khuôn viên chùa có sáu tháp để cốt của các sư sãi và Phật tử đã qua đời. Chùa Kh'Leang đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch sử - văn hóa ngày 27-4-1990. Đợt trùng tu mới nhất của chùa được hoàn thành vào cuối năm 1994.

 

Chùa TÂY AN

Chùa Tây An là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Nam bộ, có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc. Chùa do Tổng đốc tỉnh An Giang là Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tọa lạc ở ngã ba Núi Sam, cách thị xã Châu Đốc 5km. Sách Đại Nam nhất thống chí đã giới thiệu: "Chùa ở định phận thôn Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, nguyên Tổng đốc mưu lược tướng Trung Tĩnh Tử Doãn Uẩn kiến trúc năm Thiệu Trị thứ 7 (1847). Chùa đứng trên núi, mặt trước trông ra tỉnh thành, phía sau dựa theo vòm núi, tiếng người lặng vắng , cổ thụ âm u, cũng một thắng cảnh thiền lâm vậy".

Gần 150 năm qua, chùa Tây An đã được sữa chữa nhiều lần. Hai lần sửa chữa lớn nhất là: Năm 1861, Hòa thượng Nhất Thừa trùng tu lại chánh điện và hậu tổ. Đến năm 1958, Hòa thượng Bửu Thọ đứng ra vận động dân góp tiền của, công sức xây dựng ba ngôi lầu cổ, mặt chính của chùa và sữa chữa ngôi chính điện. Kiến trúc chùa mang phong cách nghệ thuật Ấn Độ và Hồi giáo kết hợp với kiến trúc cổ dân tộc.

Nơi cổng tam quan có bức tượng Quan Âm Thị Kính bế con Thị Mầu. Trước thềm chùa có hai con voi - một con màu đen hai ngà, một con màu trắng sáu ngà - đứng chầu. Bên trong chánh điện có khoảng 200 pho tượng Phật, Bồ-tát, La-hán, Thần và Tiên, đa số bằng danh mộc, mang ý nghĩa triết lý Phật giáo và có giá trị nghệ thuật cao. Sinh động nhất là bộ tượng Tứ Thiên Vương (Đông Thiên Vương, Tây Thiên Vương, Nam Thiên Vương, Bắc Thiên Vương) và bộ tượng Bát bộ Kim Cương.

Chùa còn có nhiều câu đối và hoành phi trạm trổ rất công phu. Tất cả công trình được tạo tác bởi bàn tay điêu luyện của các nghệ nhân An Giang, Đồng Tháp vào thế kỷ XIX.

Phía sau chùa có nhiều tháp mộ, Trong đó đáng chú ý nhất là mộ Phật Thầy Tây An. Thầy tên là Đoàn Minh Huyên quê ở Tòng Sơn (Sa Đéc), sinh năm Đinh Mão (1807), mất năm Bính Thìn (1856). Là người có tinh thần cải cách tôn giáo, Từ năm 1849, Thầy đã đi truyền đạo nhiều nơi và chữa bệnh cho nhiều người nên có uy tín lớn trong nhân dân. Sau đó Thầy về tu tại chùa Tây An. Nhân dân kính trọng tài năng và đức độ của thầy nên đã tôn xưng là Phật Thầy Tây an.

Hằng năm, chùa Tây An có các ngày lễ chính: rằm tháng giêng (thượng nguyên), rằm tháng mười (hạ nguyên) và 12 tháng 8 âm lịch (giỗ thầy Tây An). Vào các ngày lễ ấy và các tháng lễ hội núi Sam, Châu Đốc (từ tháng 1 đến hết tháng 4 âm lịch hàng năm), khách hàng hương các nơi đến chùa chiêm bái rất đông.

 

Chùa SẮC TỨ TAM BẢO

Tỉnh Kiên Giang có hai ngôi chùa nổi tiếng đều tên là Tam Bảo: một chùa ở Rạch Giá, một chùa ở Hà Tiên. Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá vốn là nơi tu hành của bà Dương Thị Cán tục gọi là bà Hoặng. Bà là ân nhân đã giúp đỡ Nguyễn Ánh lúc còn bôn ba, nên sau khi vua Gia Long lên ngôi, chùa này được Vua sắc tứ để tạ ơn.

Chùa tọa lạc tại số 6 đường Thích Thiện Ân, thị xã Rạch Giá . Từ trên đường Nguyễn Trung Trực, du khách đã thấy tấm bản đề "Sắc tứ Tam Bảo Tự". Ngôi chánh điện của chùa kiến trúc theo kiểu thượng lầu hạ hiên. Ở mặt tiền bên trên hàng hiên là ngọn bảo tháp ba tầng tượng trưng Cửu phẩm Liên hoa. Chánh điện có chiều ngang 14,50m, chiều dọc 22m. Năm bao lam ở các bàn thờ được chạm trổ công phu, thếp vàng rực rỡ. Các tượng Phật Di-đà, Thích-ca và các vị Bồ-tát được bài trí trang nghiêm.

Đông lang được dùng làm phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng trụ trì. Tây lang và giảng đường của chùa được dùng làm Tuệ Tĩnh đường, nơi chữa bệnh miễn phí cho đồng bào.

Lịch sử chùa Sắc tứ Tam Bảo gắn liền với tên tuổi Hòa thượng Thích Trí Thiền, thế danh là Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1882, tịch năm 1943. Chính Ngài đã chăm lo việc trùng kiến ngôi chùa như ta thấy hiện nay vào năm 1917. Hòa thượng Trí Thiền cũng là người có công sáng lập Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học vào năm 1931. Hội này đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn, số 149 đường Douaumont (nay là Cô Giang), Saigon. Hội xuất bản tạp chí Từ Bi Âm để truyền bá giáo lý, lập Pháp Bảo phường, thỉnh Tam Tạng Kinh làm tài liệu nghiên cứu.

Sau đó Hòa thượng Trí Thiền và sư Thiện Chiếu trở về Rạch Giá lập Phật giáo Kiêm Tế Hội, chủ trương vừa truyền bá giáo lý nhà Phật, vừa vận động tín đồ làm công tác xã hội. Sau Nam Kỳ khởi nghĩa, một số cán bộ mượn chùa Tam Bảo làm nơi chế tạc đạn, chuẩn bị nổi dậy chống Pháp. Nhưng công việc bị phát hiện, Hòa thượng Trí Thiền can đảm nhận trách nhiệm nên bị thực dân Pháp bắt đầy ra Côn Đảo và hi sinh tại đó năm 1943. Một đệ tử của Ngài là nhà sư trẻ Thiện Ân, lúc bị địch bắt, đã dũng cảm hi sinh bằng cách cho tạc đạn nổ để tiêu diệt bọn mật thám. Tấm lòng ưu dân ái quốc của các vị sư ở chùa Tam Bảo đã được Hòa thượng Thích Bổn Châu, nhắc tới trong tập thơ Việt Nam anh kiệt.

Ngày nay, chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang . Chùa đã được Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận di tích lịch sử - văn hóa vào ngày 23-3-1988.

 

THÍCH CA PHẬT ĐÀI

Du khách đến thăm thành phố biển Vũng Tàu đừng quên viếng Thích Ca Phật đài, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng nằm ở Tây Bắc sườn núi Lớn. Đây là công trình do hệ phái Phật giáo Nam tông xây dựng năm 1961 và hoàn thành năm 1963.

Khu vực này rộng khoảng 5 hecta, gồm Thiền Lâm Tự phía dưới và Thích-ca Phật đài phía trên. Thiền Lâm Tự vốn là một ngôi chùa nhỏ bằng gạch do một công chức hồi hưu quê quán ở Vũng Tàu xây dựng từ năm 1957. Đến năm 1961, Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy đã tổ chức trùng tu ngôi chùa bên dưới và xây cất Thích-ca Phật đài trên núi. Cạnh đó còn xây một nhà tạm trú dành cho Phật tử từ xa đến hành hương.

Đến Vũng Tàu, từ chợ Bến Đình rẽ trái đi hơn 1km là tới chân núi Lớn. Tại đây, sát bên đường đi xuất hiện một cổng tam quan khá to với 4 cây cột vươn lên vững chắc nhưng thanh thoát. Qua khỏi tam quan, bước trên từng bậc đá men sườn núi, du khách sẽ đi dần lên núi theo một con đường khá đẹp: một bên vách núi nhẵn nhụi như tường thành, một bên là vũng sâu soải dài ra phía biển. Gần đến đỉnh, du khách như bước vào một khu rừng thưa, có tiếng chim ríu rít trong các tàn cây.

Theo con đường làm bằng những bậc đá, rải rác trên sườn núi, du khách sẽ chiêm ngưỡng các pho tượng minh họa sự tích đức Phật: Thích-ca đản sinh,Thích-ca xuất gia, Thích-ca thành đạo, Thích-ca chuyển pháp luân, Thích-ca nhập niết bàn, voi và khỉ dâng quả. Bên cạnh đó là một khu vườn với nhiều chậu cảnh, hoa nở suốt bốn mùa, bao quanh một ngôi nhà hình bát giác, tượng trưng vườn Lộc (vườn Nai), nơi đức Phật giảng kinh cho năm đệ tử đầu tiên của Ngài là chư tôn giả Kiều Trần NHư, Ác-bệ, Bà-phả, Ma-ha-nam, Bạc-đề. Trên đường lên núi còn có một cây bồ đề xanh tươi do ngài Trưởng lão Narada Maha Thera cung thỉnh một nhánh của cây bồ đề từ Tích Lan trồng tại đây ngày 2-11-1960. Đường lên Thích-ca Phật đài được nối dài bằng hệ thống bậc thang lớn, hai bên có 6 con rồng uốn mình. Trên cao, ở phía đuôi rồng là hai con sư tử lớn, tượng trưng cho Đại Hùng và Đại Lực. Kế đó là một cái sân rộng lát đá, ở giữa xây tháp Xá Lợi hình bát giác cao 19m bốn phía đặt bốn đỉnh lớn. Các đỉnh này chứa dất mang về từ bốn Thánh địa ở Ấn Độ là vườn Lâm-tỳ-ni, nơi đức Phật đản sinh; Bồ-đề Đạo tràng, nơi dức Phật thành đạo; vườn Lộc Uyển, nơi đức Phật chuyển pháp luân và rừng Sala Song Thọ tại Kusinara, nơi đức Phật nhập diệt.

Nhìn về bên phải , du khách sẽ thấy hiện ra tượng đức Phật Thích-ca ngồi kiết guià trên một tòa sen. Tượng này cao 10,20m, đường kính bệ dài 6m, khánh thành ngày 10-3-1963. Tượng Phật Thích-ca và tháp Xá-lợi đều màu trắng nổi bật trên màu xanh của nền trời và lá cây.

Từ vị trí của Thích-ca Phật đài, nhìn chung quanh sườn núi lớn, biển hiện ra ở cả 3 phía. Từ đây có thể thu vào tầm mắt mũi Cần Giờ, đảo Long Sơn và tổ hợp giàn khoan dầu khí ngoài khơi xa. Do địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích-ca Phật đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu.

 

Tài liệu Tham Khảo

1. Di tích văn hóa ở An Giang.Sở Văn hoá và Thông tin An Giang,1990.

2. Đặng Đức Siêu (chủ biên), NguyễnVinh Phúc,Phan Khanh, Phạm Mai Hùng.Việt Nam di tích và thắng cảnh. NXB Đà Nẵng - Công ty phát hành sách Hà Nội. 1991.

3. Đinh Gia Khánh, Trần Tiến (chủ biên). Địa chỉ văn hóa dân gian: Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Sở Văn hóa và Thông tin Hà Nội. 1991.

4. Hà Văn Tấn, Nguyễn văn Kự, Phạm Ngọc Long. Chùa Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội, H., 1993.

5. Hoàng Thiếu Sơn, Tạ Thị Bảo Kim. Việt Nam non xanh nước biếc. NXB giáo dục, H., 1991.

6. Huỳnh Ngọc Đáng, Phú Cường - lịch sử văn hóa và truyền thống cách mạng, Sông Bé, 1990.

7. Kim Cương Tử, Bút tích của Hòa thượng Kim Cương Tử. Chùa Trấn Quốc, Hà Nội, 1990.

8. Lê Hồng Dương (Chủ biên). Địa chí Hà Bắc, Ty Văn hóa và Thông tin - Thư viện tỉnh Hà Bắc xuất bản, 1982

9. Lê Trung Vũ (chủ biên). Lễ hội cổ truyền, NXB Khoa học Xã hội, H., 1989.

10. Lê Văn Hảo. Huế giữa chúng ta. NXB Thuận Hóa, Huế, 1984.

11. Lê Văn Hảo, Trần Hợp, Nguyễn Hồng Đảng. Việt Nam non nước thần tiên. NXB Khoa học và kỹ thuật, H., 1989.

12. Lịch sử 34 ngôi chùa miền Bắc Việt Nam. Tài liệu in ronéo. Tu thư Phật học Vạn Hạnh, S. 1983.

13. Lữ Huy Nguyên, Giang Tấn. Đất thắng cảnh Vũng Tàu. NXB Văn hóa H ., 1987.

14. Ngô Đức Thọ (chủ biên). Từ điển di tích văn hóa Việt Nam. NXB Mũi Cà Mau, 1993.

15. Nguyễn Bá Lăng. Kiến trúc Phật Giáo Việt Nam (tập I) Viện Đại học Vạn Hạnh. S., 1972.

16. Nguyễn Duy Hinh. Tháp cổ Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, H., 1992.

17. Nguyễn Gia Nùng, Nguyễn Thế Sang, Phú Khánh - di tích và thắng cảnh (không ghi nơi và năm xuất bản).

18. Nguyễn Khắc Viện. Kể chuyện đất nước. NXB Ngoại văn, H., 1988.

19. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo sử luận (2 tập) NXB Văn học -Công ty phát hành sách Hà Nội, 1992.

20. Nguyễn Quang Tuân. Những ngôi chùa danh tiếng. Viện Nghiên cứu Phật học - NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1990.

21. Nguyễn Quảng Tuân (chủ biên), Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên. Những ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí Minh,NXB Tp. Hồ Chí Minh,1993.

22. Nguyễn Quân, Phan Cầm Thượng.Mỹ thuật của người Việt.NXB Mỹ thuật, H., 1989.

23. Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật giáo Việt Nam. NXB Khoa học Xã Hội, H., 1988.

24. Phạm Lê Hoàn, Lê Tấn. Việt Nam - cảnh đẹp và di tích. NXB Tp.Hồ chí Minh, 1989.

25. Phạm Trung Việt. Non nước xứ Quảng Tân biên. S., 1973.

26. Phan Phong Linh. Thắng cảnh Việt Nam qua thi ca. Tủ sách văn nghệ S., 1956.

27. Thanh Tùng. Thăm chùa Huế, Hội Văn Nghệ Tp.Huế., 1989.

28. Thích Trí Hữu. Lịch sử Ngũ Hành Sơn - Chùa Non nước S., 1971.

29. Thích Mật Thể. Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội, 1944. 

30. Thích Thanh Từ. Thiền sư Việt Nam. Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1992.

31. Thích Thanh Từ. Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ XX. Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992

32. Thích Thiện Hoa. 50 năm chấn hưng Phật giáo Viêt Nam. Viện hóa đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, S., 1970.

33. Thiền uyển tập anh. Phân viện nghiên cứu Phật học NXB Văn học, H., 1990.

34. Tìm hiểu phong tục Việt Nam. Nếp cũ: Tết, lễ, hội hè. NXB Thanh Niên, H., 1991

35. Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách.Danh lam xứ Huế. NXB Hội Nhà văn, H., 1993

36. Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Quang Dũng. Gương mặt hồ Tây. NXB Hà Nội, 1984.

37. Trần Nho Thìn. Vào chùa thăm Phật,NXB công an nhân dân,H.,1990.

38. Trương Thìn (chủ biên). Hội hè Việt Nam. NXB Văn hóa dân tộc, H., 1990.

39. Tập văn Thành đạo. Ban Văn hóa trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1990.

40. Tập văn Vu Lan. Ban Văn hóa trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1992.

41. Tập văn Vu Lan. Ban Văn hóa trung ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 1993.

42. Văn Tạo (chủ biên). Đô thị cổ Việt Nam. Viện sử học, H., 1989.

43. Việt Nam - đất nước, lịch sử văn hóa. NXB Sự thật, H,. 1991

44. Võ văn Tường. Việt Nam danh lam cổ tự. NXB Khoa học xã hội, H.,1992

45. Vũ Tam Lang. Kiến trúc cổ Việt Nam. NXB Xây dựng - NXB Khoa học kỹ thuật, H., 1991

 

---o0o---

Xem thêm:  CD-Rom những ngôi Chùa nổi tiếng VN
 

[Bản dịch tiếng Anh]

---o0o---

| Thư Mục Tác Giả |

---o0o---

 

Chân thành cảm ơn Đạo hữu Võ Văn Tường đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.

( Quang Duc Homepage 01/08/2000)


---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-01-2002

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com