| ...... ... |
. |
DANH LAM
NƯỚC VIỆT
Võ Văn Tường - Huỳnh Như
Phương
Nhà Xuất Bản Mỹ Thuật - 1995
[Bản dịch tiếng Anh]
---o0o---
LỜI
GIỚI THIỆU
▲
Phật giáo bắt rễ đến
đâu là thâm nhập ngay vào mọi sinh hoạt của quần chúng nhân dân.
Phật giáo Việt Nam là một tiêu biểu rõ nét: trong suốt hai ngàn
năm gắn bó với đất nước và dân tộc, những ngôi chùa là
những chứng tích lịch sử, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, in dấu
những sinh hoạt của người Việt Nam qua các thời đại.
Trong những năm gần đây, khá nhiều
công trình nghiên cứu, giới thiệu về chùa Việt Nam đã được
xuất bản. Đây là dấu hiệu đáng mừng trong việc khơi dậy tinh
thần tôn trọng văn hóa dân tộc cũng như văn hóa Phật giáo. Cuốn
sách DANH
LAM NƯỚC VIỆT do Võ
Văn Tường và Huỳnh Như Phương biên soạn là một đóng góp đáng
kể cho nỗ lực đầy ý nghĩa ấy. Đặc biệt, qua những hình ảnh và
các bài viết miêu tả các ngôi chùa nổi tiếng, hai soạn giả còn
giới thiệu một số sinh hoạt, hành trạng, có khi cả những tình
cảm, tư duy và sự khéo léo tế nhị của Phật gia, danh nhân lịch
sử, văn thi gia, nghệ nhân qua các mẩu chuyện, truyền thuyết, bài
thơ gắn liền với những khung thời gian, không gian liên hệ. Tất cả
tạo thành một màu sắc truyền thống, đa dạng và sáng tạo, khi thì
rực rỡ sống động, khi thì lung linh thi vị.
Ở đây, dù khá công phu và cẩn
thận khi trình bày các tư liệu, những người biên soạn hình như
không đặt nặng tính chất khảo cứu khoa học mà chỉ nhằm giới
thiệu một số nét kiến trúc và điêu khắc độc đáo của chùa
Việt Nam lồng trong một tấm lòng hoài cổ.
Hơn mười bốn ngàn ngôi chùa
được thống kê - và có lẽ con số thực sự còn cao hơn nữa -
đã tô điểm cho non sông nước Việt. Người Việt thường dùng hai
từ ghép "danh lam thắng cảnh" như mặc nhiên công nhận chùa
nổi danh đi đôi với cảnh xinh đẹp. Thực vậy, thiên nhiên làm
đẹp ngôi chùa và ngôi chùa tạo duyên dáng cho thiên nhiên. Ngay
cả những nơi đô hội, sự hiện diện của ngôi chùa hẳn cũng làm
dịu bớt không khí náo nhiệt, sôi nổi đến gần như hời hợt vô
tình của nếp sống hiện đại. Trong ý nghĩa này, thật khó mà chọn
hết được những ngôi chùa nổi tiếng.
Tại sao soạn giả chọn 45 trong số
lượng lớn các danh lam của nước Việt? Hiển nhiên, trước hết
là do khuôn khổ giới hạn của cuốn sách; kế đến, theo như Lời
nói đầu, "? đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho
sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng
như các địa phương trên cả nước". Có thể có độc giả sẽ
không đồng ý về sự lựa chọn trên, vì tiêu chuẩn chọn lựa
còn bị hạn chế ít nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là một thống
kê khoa học. Có lẽ những người biên soạn chỉ muốn cố gắng
giới thiệu một số di sản văn hóa với lòng cảm xúc, sự kính
mộ đối với tôn giáo Từ bi và Trí tuệ đã truyền sức sống
của mình vào dân tộc và mang sức sống của chính dân tộc.
Nhận định như thế, tôi nghĩ rằng DANH LAM NƯỚC
VIỆT của Võ Văn
Tường và Huỳnh Như Phương là một công trình có giá trị và xin
trân trọng giới thiệu cùng chư độc giả.
Chùa Từ Đàm, Trọng Đông Quý
Dậu, 1993
Hòa Thượng THÍCH
THIỆN SIÊU
LỜI NÓI ĐẦU
▲
Từ lâu, nhiều ngôi
chùa ở Việt Nam đã trở thành nơi lưu giữ các giá
trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Tìm hiểu ngôi chùa
không chỉ là để nhận thức con đường du nhập và
truyền bá đạo Phật ở nước ta mà còn là để lĩnh
hội nhiều phương diện của văn hóa Việt Nam. Chính điều
đó sẽ góp phần nâng cao lòng tự hào và ý thức
bảo tồn những di sản văn hóa quý giá mà tiền nhân
đã sáng tạo.
Trong bối cảnh đất
nước đang đổi mới, hòa vào phong trào bảo vệ và
phát triển văn hóa dân tộc, nhiều công trình nghiên
cứu về chùa Việt Nam đã được công bố. Biên soạn
cuốn sách DANH LAM THẮNG CẢNH này, chúng tôi muốn góp
phần khiêm tốn của mình giới thiệu với bạn đọc
những nét khái quát về lịch sử, cảnh quan, lễ hội,
nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cùng những sự
kiện văn học có liên quan đến 45 ngôi chùa nổi tiếng
trên đất nước ta. Theo thiển ý, đây là những ngôi
chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo
Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa
phương trên cả nước. Bên cạnh các bài viết là
những tấm ảnh màu ghi lại phong cảnh, công trình kiến
trúc và điêu khắc các ngôi chùa. Tất nhiên vẫn còn
rất nhiều danh lam tiêu biểu khác mà hoặc do chưa có
đầy đủ tư liệu, hoặc do khuôn khổ tập sách, chúng
tôi chưa thể giới thiệu ở đây. Xin bạn đọc rộng
lòng lượng thứ.
Viết cuốn sách này,
chúng tôi được may mắn tiếp thu, kế thừa những tư
liệu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước
qua các công trình biên khảo về Phật giáo Việt Nam cũng
như về lịch sử các ngôi chùa. Kết hợp với các
chuyến đi thực tế đến các địa phương, chúng tôi đã
tìm hiểu, đối chiếu, bổ sung tư liệu để hoàn thành
các bài viết của mình. Nhân dịp cuốn sách được xuất
bản, chúng tôi chân thành cảm ơn chư vị trụ trì các
tự viện, tịnh xá đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thu
thập nhiều tư liệu; cảm ơn các tác giả những công
trình mà chúng tôi đã tham khảo qua thư mục in ở cuốn
sách; đặc biệt cảm ơn các ông Trương Ngọc Tường,
Trần Tuấn Mẫn và Nguyễn Thái Hòa đã đóng góp nhiều
ý kiến quý báu. Dù vậy, cuốn DANH LAM NƯỚC VIỆT chắc
chắn vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu
sót.
Cuốn sách này rất vinh
dự được Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch
Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo
Việt Nam kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, viết lời
giới thiệu. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm
của Hòa thượng. Chúng tôi chân thành cảm ơn các dịch
giả tiếng Anh - Trần Phương Lan, Nguyễn Văn Nghệ, Châu
Văn Thuận và Thùy Dương. Chúng tôi cũng xin cảm tạ Ban
Giám đốc Nhà xuất bản Mỹ Thuật đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho cuốn sách được ra mắt.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-1993
VÕ VĂN
TƯỜNG - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
---o0o---
Chùa DÂU
(PHÁP VÂN TỰ)
▲
Dù
ai đi đâu về đâu,
Hễ
trông thấy tháp chùa Dâu thì về.
Dù
ai buôn bán trăm nghề,
Nhớ
ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Mấy câu ca dao trên gợi
lên nỗi nhớ về một ngôi chùa thuộc vào loại cổ nhất
nước ta, được xây dựng vào đầu thế kỷ III sau Công
nguyên, nằm ở trung tâm của cố đô Luy Lâu, nay thuộc
thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh
Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Đó là chùa Dâu hay
Pháp Vân Tự, đời Lý mang tên Cổ Châu, đời Trần
mang tên Thiền Định, đời Lê mang tên Diên Ứng.
Vào những thế kỷ đầu
Công nguyên, chùa Dâu đã chứng kiến sự phát triển
của một khu buôn bán sầm uất nằm trên giao điểm những
con đường lớn thời xưa mà nay chỉ còn lại di tích đổ
nát là thành Luy Lâu nằm ở ngã tư Thuận Thành (Hà Bắc)
giữa hai tỉnh lộ: một về phía Bắc đến Đông Triều -
Phả Lại, một về phía Nam đến Khoái Châu - Hải Hưng.
Lịch sử chùa Dâu gắn
liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn
Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ
Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la
người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật
Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp
việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng
dân gian nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu.
Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một
hôm, đang lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành
lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai. Một
năm hai tháng sau, nhằm ngày 8 tháng 4 âm lịch, Man Nương
sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng
đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần
chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt
ra, đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại
và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng
mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo
lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất
đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương lại cắm cây
thiền trượng xuống đất, cất lời cầu nguyện, thì phép
màu lại hiện ra: trời đổ mưa. Một đêm mưa to gió lớn,
cây đa cổ thụ nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương,
bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về
làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương
dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy
dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây
tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ bốn
vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp: Pháp Vân (tức bà
Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu),
thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng,
thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ
ở chùa Phương Quang).
Huyền thoại Man Nương, người
mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp, đã
khiến cho hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, các vị sư
tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu
thơ trên kia đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để
các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để
tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp.
Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng
(gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng
bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về qui tụ với chị cả là
bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Sau lễ múc nước, dâng nước
và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng
Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Vào ngày hội,
trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa
hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ
người.
Nằm trên một khu đất
rộng ven sông Dâu - một nhánh của sông Đuống - Chùa Pháp
Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả
nước. Chính đây là nơi tu trì và thuyết pháp của các
Thiền sư danh tiếng: Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, người Nam
Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, dịch bộ kinh Tổng Trì Đại
Thừa), Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện
Hội? Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ
và tâm truyền độc đáo giữa Ti-ni-đa-lưu-chi và Pháp
Hiền diễn ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của
Thiền trong đời sống văn hóa dân tộc.
Vốn là một ngôi đền
mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và
trùng tu nhiều lần: giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối
thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII
vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi
chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời
Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng
tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí
đã ghi lại: "Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa
trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn
còn". Chùa làm theo kiểu "Nội công ngoại quốc".
Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa
Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện,
sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà
dài vây quanh theo hình chữ "Quốc". Trong Phật điện,
tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi
trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là
tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong
cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.
Nói đến kiến trúc chùa
Dâu, không thể không nhắc đến ngọn tháp Hòa Phong vượt
trên mái ngói nâu nổi bật giữa màu xanh của nền trời
và bóng che. Được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào
cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp
Hòa Phong vốn có 9 tầng. Thời gian làm cho đổ nát, nay
tháp chỉ còn 3 tầng, cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi
cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính
nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống.
Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài
từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu
khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến
trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng
tu vào năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn
đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng
đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.
Được xây bằng gạch
mộc to bản, xưa kia tháp Hòa Phong cao chót vót như một
thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi
vô minh thổi tới.
Chùa PHẬT TÍCH
(VẠN PHÚC TỰ)▲
Chùa Phật Tích có tên
là Vạn Phúc Tự - nguyên tên ban đầu là Thiên Phúc
Tự - nằm trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện
Tiên Du; nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh
Hà Bắc.
Từ Hà Nội muốn đến
thăm chùa, du khách có thể đi bằng ô tô hoặc các
phương tiện sẵn có theo hai đường: một đường theo
tả ngạn sống Đuống, đi dọc bờ đê chừng 15km, sau
đó có lối rẽ trái 1km nữa thì đến chùa. Một
đường chạy qua núi Lim rẽ về bên phải đi khoảng 15km
thì đến làng Phật Tích rồi vào chùa. Chùa ở sát
làng, nhìn ra sông Đuống, chỉ cách bờ đê 1km.
Theo văn bia Vạn Phúc
Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686), "Vua
thứ ba triều Lý (tức Lý Thánh Tông) vào năm Long
Thụy Thái Bình thứ tư (1057) cất lên cây tháp quí ngàn
trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao sáu thước,
cấp cho hơn trăm thửa ruộng, xây chùa hơn trăm
tòa". Tấm bia này còn ca ngợi vẻ đẹp của cảnh
chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn
Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi
Phượng Lĩnh bao bọc? Phía tả Thanh Long nước chảy
vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà
khai bàn đá?".
Năm 1071, vua Lý Thánh
Tông đã đến thăm chùa, chính tay nhà vua viết chữ
"Phật" dài một trượng sáu thước và khắc
vào bia đá để dựng trước chùa. Sang đời Trần,
chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần Nghệ Tông cho
dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm 1384 Vua đã mở kỳ thi
Thái học sinh ở chùa này.
Năm Chính Hòa thứ bảy
đời vua Lê Hy Tông (1686), chùa được xây dựng lại
với qui mô đồ sộ và có giá trị nghệ thuật cao.
Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa
Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô
Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở
chùa này. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi có ghi:
"Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, sáng như
ngọc lưu ly? Trên thềm đằng trước có bày mười con
thú, phía sau có ao rộng. Gác cao vẽ chim phượng và sao
Ngưu Đẩu sáng lấp lánh. Lầu rộng, tay rồng với tới
trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng?".
Chùa xây theo kiểu
"Nội công ngoại quốc", có đến hơn trăm gian,
trước chùa có ngọn "tháp dựa mây xanh vút vút
tầng" như Nguyễn Xướng đã miêu tả trong bài thơ
Tiên Du Vạn Phúc Tự. Đằng sau chùa có long từ, thạch
thất có nơi giảng kinh. Bên cạnh chùa là miếu Tiên
chúa thờ bà Trần Ngọc Am, có câu đối "Đệ nhất
cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên
hương".
Trong chiến tranh chống Pháp,
quân đội viễn chinh đã tàn phá chùa Vạn Phúc. Ngày nay ngôi chùa cũ còn
lại di tích là ba bậc nền bạt vào sườn núi, hình chữ nhật, mỗi nền dài
khoảng 60m, rộng khoảng 33m. Nơi đây những năm 1949-1941, các nhà khảo cổ
học đã tìm thấy những viên gạch lớn ghi rõ niên hiệu Long Thụy Thái Bình
năm thứ tư (1057) và Chương Thánh Gia Khánh năm thứ bảy (1065). Trong các
tác phẩm điêu khắc cổ, còn lưu lại 5 cặp tượng sư tử, tê giác, voi, trâu,
ngựa nằm trên bệ hoa sen tạc bằng những phiến đá lớn, cao khoảng 2m. Ngoài
ra còn có đá ốp tường, đấu kê, chân tảng chạm khắc các hình rồng, nhạc
công, vũ nữ?
Tên chùa Phật Tích gắn
liền với tượng Phật - một tác phẩm điêu khắc nổi
tiếng hiện được thờ phụng trong ngôi chùa nhỏ mới
xây sau này. Tương truyền rằng xưa kia có lần ngọn tháp
của chùa bỗng đổ sụp, để lộ ra pho tượng này. Từ
đó xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành
thôn Phật Tích. Tượng Phật này bằng đá cao 1,85m, cả
bệ là 3m. Tượng tạng đức Phật đang ngồi thiền định
trên tòa sen, bệ tượng tạc hình rồng và hoa lá.
Tượng có nét mặt thanh tú, dáng thanh thoát từ bi,
đường nét chạm rất tỉ mỉ và công phu.
Các địa danh Lạn Kha,
Tiên Du còn gợi lên những huyền thoại người gặp
tiên được lưu truyền mấy ngàn năm nay. Lạn Kha có
nghĩa là cán búa nát, ghi lại tích Vương Chất lên núi
đốn củi gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem không
hay rằng cán búa bị mục nát vì thời gian trên trần
thế đã trôi qua đến bảy đời rồi. Trên núi Lạn Kha
này còn có tảng đá vuông, mặt phẳng lì gọi là bàn
cờ tiên.
Còn Tiên Du nhắc nhở
sự tích quan tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn,
gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ
Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức
từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động
núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích
này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn
hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân
xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.
Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn
Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:
Đoản
trạo hệ tà dương
Thông
thông yết thượng phương
Vần
quy thiền sáp lãnh
Hoa
lạc giản lưu hương
Nhật
mộ viên thanh cấp
Sơn
không trúc ảnh trường
Có
trung chân hữu ý
Dục
ngữ hốt hoàn vương.
Nghĩa là:
Bóng
xế thuyền con buộc
Vội
lên lễ Phật đài
Mây
về giường sãi lạnh
Hoa
rụng suối hương trôi
Chiều
tối vượn kêu rộn
Núi
quang, trúc bóng dài
Ở
trong dường có ý
Muốn
nói bỗng quên rồi.
(Đào Duy Anh dịch)
Chùa BÚT
THÁP
▲
(NINH PHÚC TỰ)
Đi lối cầu Đuống theo
đường đê hữu ngạn hoặc rẽ trái từ ga Phú Thụy
trên đường đi Hải Phòng, khoảng 15km, du khách sẽ đến
xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc - trước
kia là làng Á Lữ, xã Nhạn Tháp, huyện Siêu Loại -
nơi có chùa Bút Tháp nằm giữa cánh đầng nhìn về
phía Nam.
Chùa có tên là Ninh Phúc Tự.
Khi Thiền sư Huyền Quang đến tu tại đây, ông đã cho xây tháp cao 9 tầng
trang trí hình hoa sen , nhưng ngọn tháp đó ngày nay không còn nữa. Tháp
Báo Nghiêm mang hình dáng quản bút khổng lồ vươn lên trời cao mà chúng ta
thấy ngày nay được Thiền sư Minh Hành (1596-1659) dựng năm 1647. Năm 1876
tháp này được vua Tự Đức đặt tên là Tháp Bút, ngôi chùa từ đó mang tên Bút
Tháp. Tháp xây bằng đá ghép, có 5 tầng, hình 8 cạnh, cao 13,05m, đỉnh tháp
hình nậm rượu, giữa các tầng có gờ mái uốn cong. Bệ tháp mỗi bề rộng hơn
3m, có 2 lần tường bao bọc. Lòng bệ tháp đặt tượng Thiền sư Chuyết Công
(1590 - 1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và
trụ trì ở chùa. Trước phút viên tịch, Thiền sư đọc cho đệ tử nghe bài kệ:
Tre
gầy thông vót nước rơi thơm
Gió
thoảng trăng non mát mát rờn
Nguyên Tây ai ở người nào biết?
Mỗi
chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.
(Thích
Thanh Từ dịch)
Vua Lê Chân Tông đã
sắc phong cho Hòa Thượng Chuyết Công hiệu "Minh Việt
Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư".
Sau đó, Hoàng Thái Hậu
Trị?h Thị Ngọc Trúc, hiệu Pháp Tánh, người làng Á
Lữ? xin cha là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cho trùng tu
lại chùa Bút Tháp ở quê nhà. Bà đã cùng Thiền sư
Minh Hành chăm sóc việc trùng tu. Đến khi vua Lê Thần
Tông băng hà, Bà đã về tu hẳn ở chùa.
Phong cách kiến trúc
đời Hậu Lê để lại rất rõ nét trên kiến trúc
chùa Bút Tháp. Được xây dưng theo kiểu "Nội công
ngoại quốc" như chùa Dâu, chùa Bút Tháp có một
quần thể kiến trúc bao gồm: tam quan, gác chuông, tòa
thiêu hương, thượng điện, cầu đá, tòa Cửu phẩm
Liên hoa (Tích thiện am), nhà chung, phủ thờ, hậu
đường. Tất cả gồm 10 tòa nhà, nằm trên một trục
dài hơn 100m. Bên trái chùa là nhà tổ và tháp Báo
Nghiêm. Lùi về phía sau có tháp Tôn Đức. Xung quanh tòa
thượng điện là hàng lan can đá gồm 36 phiến chạm trổ
tinh vi những cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước
với hình ảnh cò bay trên đầm sen, cá lội, trẻ chăn
trâu và một số điển tích khác như cá hóa rồng, tứ
linh, tứ quí, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh?
Bước vào tòa thượng
điện, cảm xúc về cái trác tuyệt hiện lên khi ta
đứng trước tác phẩm điêu khắc nổi tiếng: tượng
Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.
Tượng Quan Âm cao 3,70m
bằng gỗ phủ sơn được một nghệ nhân họ Trương tạc
vào năm 1656. Tượng có 11 khuôn mặt , 994 tay với 994 con
mắt nằm trong lòng mỗi bàn tay. Dưới chiếc mũ hoa sen,
khuôn mặt chính diện trang nghiêm mà hiền hòa, hai bên
má còn có hai khuôn mặt khác. Lại thêm 8 đầu nhỏ
xếp thành hình tháp 3 tầng, trên đỉnh là một pho
tượng nhỏ. Trước ngực hai tay chắp lại, sau lưng 40
cánh tay vươn ra hài hòa như hình lá sen, phía ngoài là
952 cánh tay nâng con mắt tạo thành một vòng hào quang.
Trên đỉnh tượng là một đôi chim thần đầu người
xòe cánh rộng áp vào nhau. Tượng đặt trên tòa sen, do
một con rồng vươn lên mặt nước đội đỡ. Bốn góc
là 4 pho tượng lực sĩ thân hình vạm vỡ ra sức nâng
bệ tượng.
Bao thế kỷ qua, Quan Âm
vẫn ngồi đó, nghìn mắt để nhìn thấy mọi trầm luân
của trần gian và nghìn tay để sẵn sàng cứu vớt chúng
sinh. Chiêm ngưỡng pho tượng, ta có cảm giác như đức
Phật nghe được tất cả những âm vang của cuộc đời
và truyền cho con người lòng nhân ái khoan dung cùng sự
bình thản trong tâm hồn.
Chùa TRẤN QUỐC
▲
(TRẤN
BẮC TỰ)
Từ vườn Bách Thảo
qua đường Hoàng Hoa Thám sẽ đến một trong những con
đường thơ mộng nhất của thủ đô Hà Nội: đường
Cổ Ngư, ngày nay là đường Thanh Niên, nằm giữa hai
hàng cây và hai hồ nước xanh lặng sóng. Hai hồ này
ngày xưa chỉ là một với nhiều tên: Xác Cáo, Kim Ngưu
(Trâu Vàng), Lãng Bạc (Sóng lớn), Dâm Đàm (đầm Mù
Sương). Cách đây 400 năm, người ta đắp con đường Cố
Ngự (nghĩa là cố giữ vững, sau đọc chệch thành Cổ
Ngư) ngăn đôi hồ này: hồ nhỏ là Trúc Bạch, hồ
lớn là hồ Tây.
Với diện tích 466ha, chu vi
17km, chung quanh có nhiều đền chùa, thắng cảnh, hồ Tây đã là nguồn cảm
hứng của nhiều thi sĩ. Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Đức Quý đã có thơ vịnh Tây
Hồ:
Thuyền
chứa nguyệt đài ngần ánh tuyết
Viện
lồng hoa diệp biếc đầm sương
Sen
xanh in trúc lung lay nguyệt
Vầng
biếc hoa mai phảng phất hương.
Bài Phú tụng Tây Hồ
của Nguyễn Huy Lượng là một áng văn nôm trác tuyệt
đậm đà bản sắc dân tộc, thi hứng ngợi ca hùng khí
triều đại Tây Sơn hòa trong cảm hứng trước vẻ đẹp
hồ Tây.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
trong một chiều thu Hà Nội đã bắt gặp dưới ánh
hoàng hôn hồ Tây hình ảnh "mặt nước vàng lay bờ
xa mờ gọi, màn sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ
vỗ cánh mặt trời" và đã sáng tác nên một ca
khúc thật đẹp.
Từ con đường Cổ Ngư
có lối dẫn vào một doi đất nằm bên mép hồ Tây,
hình qui nên gọi là bãi Rùa, còn có tên là bãi Kim
Ngư (Cá Vàng). Chính trên bãi đất này các vua nhà Lý
đã dựng cung Thúy Hoa làm nơi nghỉ mát, các vua nhà
Trần dựng điện Hàm Nguyên để ra vân cảnh. Nền cũ
của cung và điện này ngày nay là vị trí của ngôi chùa
vào loại cổ nhất nước ta: chùa Trấn Quốc.
Chùa này nguyên trước
là chùa Khai Quốc (Mở Nước) khai sáng từ triều Lý
Nam Đế (544 - 548) ở ngoài bãi sông Hồng, phía Đông
Bắc phường Yên Hoa tức Yên Phụ, gần cầu Long Biên
bây giờ. Tại chùa Khai Quốc, dưới triều Lý Nhân
Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã từng mở tiệc chay thết đãi
các vị cao tăng. Bà cũng thường lui tới chùa cùng chư
tăng đàm đạo.
Đến đời Lê Thái
Tông (1434 - 1442) chùa được đổi tên là chùa An Quốc.
Hàng năm nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bờ
sông. Vì vậy, năm 1615, vào đời vua Lê Kính Tông, dân
làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngư. Dưới
triều vua Lê Hy Tông (1676 - 1705) chùa mới được đổi
tên là Trấn Quốc, bức hoành phi mang chữ "Trấn
Quốc Tự" treo ở gian nhà đại bái hiện nay được
làm từ lúc đó. Thời Lê-Trịnh, nơi đây được chọn
làm hành cung Trấn Quốc dành cho vua chúa nghỉ ngơi khi
dạo chơi hồ Tây. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa
đổi tên thành Trấn Bắc, nhưng nhân dân vẫn quen gọi
tên cũ là chùa Trấn Quốc.
Chùa Trấn Quốc không
chỉ tự hào về bề dày của lịch sử xây dựng mà
còn về các vị cao tăng và danh nhân đã gắn bó với
ngôi chùa. Các Thiền sư và Pháp sư Vân Phong, Khuông
Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không,
Trần Tú Uyên đều thụ giáo hoặc tu trì ở chùa này.
Năm 580, Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Việt Nam
cũng đã dừng chân tại đây một thời gian.
Năm 1069, vua Lý Thánh
Tông đem quân sang đánh Chiêm Thành, bắt cả vua Chiêm
là Chế Củ và một số tù nhân, trong đó có một vị
sư rất am hiểu kinh pháp đạo Phật. Truy nguyên ra mới
biết đó là Thiền sư Thảo Đường. Lý Thánh Tông phong
Thảo Đường chức Quốc sư và mời Ngài trụ trì chùa
Khai Quốc, từ đó mở ra Thiền phái Thảo Đường ở
nước ta. Chùa cũng là Tổ đình của Thiền phái Tào
Động truyền ở Việt Nam đời Hậu Lê.
Từ khi dời vào bãi
Cá Vàng, chùa Trấn Quốc đã nhiều lần được kiến
thiết và trùng tu. Năm 1624, dưới triều vua Lê Thần
Tông, tòa Tam bảo, tòa thiêu hương và tiền đường
được xây dựng. Đến năm 1639, xây thêm tam quan, hậu
đường và hành lang tả hữu. Ở hiên phải nhà đại
bái hiện còn tấm bia ghi lại việc trùng tu này do Trạng
nguyên Nguyễn Xuân Chính lập.
Sau một thời gian bị
chiến tranh tàn phá, theo nội dung tấm bia do Tiến sĩ Phạm
Quí Thích dựng năm 1815, thì từ năm 1813 đến năm 1815,
chùa Trấn Quốc lại được Sư trụ trì là Khoan Nhân tổ
chức trùng tu lại chính điện, nhà thiêu hương, tiền
đường, hành lang, gác chuông, hậu đường, đồng thời
đắp tượng Phật và đúc chuông lớn. Chùa Trấn Quốc
là một trong số rất ít những ngôi chùa ở miền Bắc
có pho tượng Thích-ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng
rất đẹp.
Ngay cổng chùa có hai câu đối:
Vang
tai xe ngựa qua đường tục
Mở
mặt non sông tới cửa Thiền
Trước cửa chùa lại thêm hai câu đối trên hai cột:
Trải
bao phen gió Á mưa Âu, trơ đá vững đồng, chót vót
cột trời chùa Trấn Quốc.
Riêng
một thú hoa đàm đuốc tuệ, sớm chuông chiều trống,
thênh thang cửa Phật cảnh Tây Hồ.
Trong vườn chùa, cùng với
những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, có một cây bồ
đề được chiết cành từ cội bồ đề, nơi 25 thế kỷ
trước đức Phật Thích-ca thành đạo, do Tổng thống Ấn Độ
R. Prasat mang sang Việt Nam tặng năm 1958.
Cảnh thiên nhiên tĩnh mịch bao quanh
chùa giữa mùa sen nở trắng, hồng trên mặt nước hồ Tây dễ gợi lên cho con người
không khí hoài cổ từng được lưu giữ trong những dòng thơ của Bà Huyện Thanh
Quan:
Trấn
Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh
niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy
tòa sen tỏa hơi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu!
Chùa MỘT
CỘT ▲
(DIÊN HỰU TỰ)
Chùa Một Cột nằm
giữa lòng thủ đô Hà Nội, có nguồn gốc từ một
giấc mơ lành của vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Theo
truyền thuyết, vào năm 1049, một hôm nhà vua nằm mộng
thấy Phật Quan Âm dắt Vua lên tòa sen. Tỉnh giấc, Vua đem
việc ấy hỏi các quần thần , trong đó có các nhà sư
đạo cao đức trọng. Sư Thiền Tuệ khuyên Vua xây chùa,
dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột
như đã thấy trong chiêm bao.
Chùa xây chỉ có một
gian gọi là Liên Hoa đài (đài hoa sen) nằm trên một
cột đá ở giữa hồ nhỏ gọi là Linh Chiểu tỉnh, nên
được gọi là chùa Nhất Trụ (một cột). Ở chùa Long
Đọi (Nam Hà) có một tấm bia còn ghi lại sự tích này:
"Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vươn lên một cột
đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng
tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm.
Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì,
mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu
đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly".
Chùa nằm trong khu vườn
Tây Cấm thuộc thôn Thạch Bảo, huyện Vĩnh Thuận, kinh
thành Thăng Long. Khi chùa được khánh thành, các Sư chay
đàn, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu. Vì thế chùa còn
có tên là Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).
Hằng năm cứ đến
ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm
lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng
Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Vua
đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay
đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui
của một ngày hội.
Đến năm 1105, vua Lý
Nhân Tông cho sửa ngôi chùa, trước sân dựng một
ngọn bảo tháp. Năm 1108. Ỷ Lan phu nhân sai đúc một cái
chuông rất to, nặng một vạn hai nnghìn cân, đặt tên là
"Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người
đời). Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn
công trình lớn của nước ta thời đó - là: tháp Báo
Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh
Lâm. Giác thế chung đúc xong nặng quá không treo lên
được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu.
Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu
bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có
tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ XV,
giặc Minh xâm lược nước ta, chiếm thành Đông Quan (Hà
Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh,
vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược,
tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền
lấy đồng. Quân Minh thua, đất nước ta lại được
hưởng nền thịnh trị thái bình nhưng chuông Quy Điền thì
không còn nữa.
Chùa Một Cột được
trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922.
Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm
1955. Đài hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong,
dựng trên cột cao 4m, đường kính 1,20m gồm 2 trụ đá
ghép chồng lên nhau liền thành một khối. Tầng trên là
là một khung gỗ kiên cố đỡ ngôi đài với mái
ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều
nguyệt. Hình dáng ngôi chùa như một đóa hoa sen vươn
thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan
can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Đi qua
ao theo lối nhỏ lát bằng gạch, ta sẽ đến một cầu thang
dẫn lên Phật đài có một tấm biển bằng chữ Hán
đề trước cửa: Liên Hoa Đài.
Thiền sư Huyền Quang đã có thơ
vịnh chùa Diên Hựu:
Đêm thu chùa thoảng
tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt tan
In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đô bóng tháp, ngón tiêu hàn.
(Huệ Chi dịch)
Hoa sen lúc mới nở
đã có "quả" lại có "nhân" tượng
trưng cho giáo lý nhà Phật. Hoa sen cũng là loài hoa tinh
khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục lụy.
Chùa Một Cột, vì lẽ đó, là biểu tượng của cõi
Thiền "bất nhiễu", "vô ưu". Gắn liền
với lịch sử thủ đô, đó cũng là biểu tượng của
Hà Nội ngàn năm văn vật.
Chùa
LÁNG ▲
(CHIÊU
THIỀN TỰ)
Sự tích chùa Láng gắn
liền với truyền thuyết Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một vị cao
tăng dưới đời Lý Nhân Tông. Đạo Hạnh tục danh làng
Từ Lộ, con viên Tăng quan Đô Án Từ Vinh. Hồi còn trẻ
Từ Vinh trọ học ở làng Láng - tức là Yên Lãng, huyện
Từ Liêm, Hà Nội ngày nay - ông lấy bà Tăng Thị Loan và
sinh ra Từ Lộ. Do có sự bất đồng dẫn đến hiềm khích mà
Diên Thành Hầu đã nhờ Pháp sư Đại Điên đánh chết Từ
Vinh. Quyết trả thù cho cha, Từ Lộ vào ẩn trong hang đá Trì
Sơn, tu luyện rồi sau đó đánh Đại Điên mang bệnh đến
chết.
Cởi mối oan nghiệt, Từ
Đạo Hạnh tập trung tu học pháp thiền. Ông có hai người
bạn đồng đạo gần gũi là Thiền sư Minh Không và Thiền sư
Giác Hải, cả ba đều biết nhiều pháp thuật. Sau Từ Đạo
Hạnh về tu ở chùa Thiên Phúc tức chùa Thầy ở núi Sài
Sơn. Tương truyền rằng Từ Đạo Hạnh đã hóa thân và đầu
thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông, tên
là Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con, nên Dương
Hoán được lập làm Đông Cung Thái Tử và trở thành vua
Lý Thần Tông (1128 - 1138). Về sau con của Lý Thần Tông là
Lý Anh Tông (1138 - 1175) đã cho dựng chùa Láng để thờ vua
cha và tiền thân của cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong
chùa, ngoài tượng Phật còn có tượng vua Lý Thần Tông
và tượng Thánh Từ Đạo Hạnh.
Chùa Láng có tên chữ là
Chiêu Thiền Tự với ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt
rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại
Thánh nên gọi là Thiền". Ngày 7 tháng 3 âm lịch là
ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, trở thành ngày hội
chùa Láng.
Nhớ
ngày mồng bảy tháng ba,
Trở
về hội Láng, trở ra hội Thầy
Chiêu Thiền Tự nằm cách
trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 7km về phía Tây. Xưa kia
chùa dựng trên một địa thế rất đẹp nằm giữa cánh
đồng bao la, chung quanh có những cây muỗm và cây đa cổ thụ
khiến cho cảnh chùa thêm u tịch. Chùa đã trải qua nhiều lần
trùng tu, kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào giữa
thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một
danh lam từ tám thế kỷ trước.
Nét độc đáo đầu tiên
đập vào mắt du khách là cổng chùa hao hao giống kiến trúc
cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa: đó là một hàng bốn
cột hoa kiểu bằng gạch với ba mái cong thanh thoát. Ba mái
này không phủ lên đỉnh cột mà gắn vào sườn cột, mái
giữa cao hơn hai mái bên . Sân chùa lát gạch Bát Tràng,
nối cổng chùa với cửa tam quan. Qua tam quan là một con
đường rộng lát gạch, hai bên có tường hoa dẫn tới Bát
giác đình, nơi ngày hội đặt tượng Thánh cho dân làng làm
lễ dâng hoa. Trong cùng là chùa chính bao gồm tiền đường,
tòa thiêu hương, thượng điện, hành lang, nhà tổ, tăng
phòng và các gian nhà phụ.
Vẻ bề thế của quần thể
kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng
khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng
lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.
Chùa
QUÁN SỨ▲
Chùa Quán Sứ được
xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An
Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là
tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương; ngày nay là phố
Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội. Nguyên xưa
ở phường này chưa có chùa, chỉ có mấy gian nhà tranh
ở phía Nam, dân làng dùng làm chỗ tế thần cầu yên
gọi là xóm An Tập. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí,
vào thời vua Lê Thế Tông, các nước Chiêm Thành, Ai
Lao thường cử sứ giả sang triều cống nước ta. Nhà
vua cho dựng một tòa nhà gọi là Quán Sứ để tiếp
đón các sứ thần đến Thăng Long. Vì sứ thần các
nước này đều sùng đạo Phật nên lại dựng thêm
một ngôi chùa cũng nằm trong khuôn viên Quán Sứ để
họ có điều kiện hành lễ. Thời gian đã xóa đi dấu
khu nhà Quán Sứ nhưng ngôi chùa thì vẫn tồn tại.
Năm 1934, Tổng hội Phật
giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn
làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây
dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn
Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm
duyệt. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí kết hợp tất
cả tinh hoa các đại già lam miền Bắc. Chùa Quán Sứ
có lẽ là một trong rất ít ngôi chùa ở nước ta mà
tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết
bằng chữ quốc ngữ. Phải chăng vì ngôi chùa được
xây dựng lại vào giữa thế kỷ XX và vì chùa đã
trở thành trụ sở trung tâm của Tổng hội Phật giáo
Bắc Việt, nay là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi
Quốc tự chung của các thiện nam tín nữ trên đất
Việt.
Tam quan chùa có ba tầng
mái, ở giữa là lầu chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ,
bước lên 11 bậc thềm là tới chánh điện. Điện Phật
được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá
lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ ba vị
Tam Thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ
tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan
Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa
thờ Phật Thích-ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc
thấp nhất , ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng
giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh
điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với
hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và
tượng Châu Sương, Quan Bình.
Các nhà chính và nhà
phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi. Nơi đây từng là
trụ sở báo Đuốc Tuệ và văn phòng Tổng hội Phật
giáo Bắc Kỳ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện,
là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học
Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì
hòa bình (ở Việt Nam).
Nửa thế kỷ nay, chùa
Quán Sứ đã chứng kiến nhiều hoạt động quan trọng
của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự thống nhất tổ
chức Phật giáo trong cả nước và sự hòa nhập của
Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Chính nơi
đây vào ngày 13-5-1951 (mồng 8-4 năm Tân Mão) lần đầu
tiên lá cờ Phật giáo thế giới do Thượng tọa Tố
Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện trên bầu trời
Hà Nội.
Chùa
KIM LIÊN ▲
(ĐẠI
BI TỰ)
Chùa Kim Liên được
dựng trên một dải đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát
chân đê Yên Phụ, nước hồ bao quanh, tựa như một hòn
đảo. Từ phía xa, đi trên mặt đê ta đã trông thấy
mái chùa màu xám rêu và những ngọn tháp vươn lên
giữa những bụi tre xanh thấp thoáng quanh chùa. Hai trăm
năm trước, cảnh quan này đã được Phạm Đình Hổ ghi
lại trong Tang Thương ngẫu lục: "Chùa xoay lưng ra sông
Nhị Hà, Hồ Tây diễu quanh ở trước mặt, khói sóng man
mác, trời nước một màu? Đằng phía tả có mấy
cái gò, xen lẫn vào trong khoảng nước hồ, tháp gạch
xây ở trên, khóm trúc cội tùng phơ phất?".
Chùa nằm trên địa
phận huyện Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành
phố Hà Nội, nên còn được gọi là chùa Nghi Tàm. Xưa
kia đây nguyên là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà
Trần (1225 - 1413) trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ
thời nhà Lý. Tương truyền rằng Công chúa Từ Hoa con
vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) đã đem cung nữ đến mảnh
đất này trồng dâu nuôi tằm, mở ra trại Tàm Tang, sau
đổi tên thành Tích Ma, rồi phường Nghi Tàm. Năm 1639,
dưới triều vua Lê Thần Tông, chùa được tu sửa lại,
gọi là chùa Đại Bi. Một bia dựng bên tả sân chùa do
Ngô Độn Phu soạn có khắc năm chữ to: Trùng tu Đại Bi
Tự. Một tấm bia dựng ở bên tả trong tiền đường do
Bùi Huy Cận soạn cũng khẳng định chùa vốn tên là
Đại Bi. Đến thời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái
(1720 - 1728) có vị Hòa thượng tên là Huệ, nguyên là
nội thị của Chúa Trịnh Uy Vương, đến tu tại đây. Năm
1771 Chúa Trịnh Sâm sai dỡ chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa
này và đổi tên là Kim Liên. Việc này được ghi lại
trong tấm bia do quan Đại học sĩ Phan Trọng Phiên lập. Vào
năm 1792 chùa lại được đại tu. mang dấu ấn nghệ
thuật kiến trúc thời Tây Sơn. Lần tu sửa gần đây
nhất kéo dài từ năm 1983 đến năm 1987 đã phục hồi
lại diện mạo ngôi chùa 200 năm trước đây.
Chùa KIm Liên gồm ba
nếp nhà: chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, xếp song
song theo kiểu chữ "Tam". Cột xà kiên cố, chạm
khắc tinh vi, tường xây gạch cổ dày, không trát vữa.
Mỗi nếp nhà có hai tầng mái, kiểu chồng diêm, lớp
ngói cổ, với bốn góc đao uốn cong có gắn đầu
phượng. Cổng tam quan là một kiến trúc độc đáo bằng
gỗ, đượm dáng vẻ cung đình, với những bức chạm
nổi trên mặt gỗ hình rồng, hoa văn hết sức tinh xảo.
Trong chùa còn lưu giữ
đủ các tượng Phật và tượng Bồ-tát. Đặc biệt có
pho tượng tạc hình một người trung niên, râu ba chòm,
mặc áo văn lĩnh, đầu đội mũ miện, tay cầm hốt ở
tư thế đứng. Theo Phạm Đình Hổ, thì tương truyền rằng
đó là tượng chân dung Uy Nam Vương Trịnh Giang.
Chùa THẦY ▲
- (THIÊN PHÚC TỰ)
-
Nếu chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của
cuộc đời ngài Từ Đạo Hạnh thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng
đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12
thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này.
Chùa Thầy dựa vào sườn Tây Nam một ngọn núi đá
vôi có nhiều hang động là núi Thầy tức núi Sài Sơn thuộc làng
Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà
Nội khoảng 30km. Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Cãn
đ?phác họa cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám
sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn m?. Động tr? hệt như
cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu
độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong, sông như
dải lụa".
Ban đầu ch? Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương
Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho
xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi
và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu
thế kỷ XVII, Dĩnh Quận Công c?g hoàng tộc chăm lo việc trùng tu ,
xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia,
gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế
đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu,
lưng ch? và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về
hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ
rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Thủy
đình mọc lên giữa Long Chiểu, nơi thường diễn trò rối nước
đặc sắc, chính là viên ngọc ở đầu rồng. Hai giếng là hai mắt
rồng. Hai cầu cổ có mái ngói do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây
dựng năm 1602 là hai răng nanh của miệng rồng: Cầu Nhật Tiên ở
bên trái trông vào đền Tam Phủ xây trên một đảo nhỏ giữa ao.
Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải dẫn vào đường lên chùa Cao trên
núi.
Đối diện với thủy đình là chùa Cả được xây
dựng theo kiểu chữ "Tam" gồm 3 nếp nhà dựng trên nền cao
bó đá hộc xanh. Nếp ngoài là nhà tiền tế, nếp giữa thờ Phật,
nếp trong cùng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa có đặt 3 pho
tượng diễn tả 3 "kiếp" của Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Tãng,
Phật và Đế Vương. B? trái là tượng toàn thân Thiền sư bằng
gỗ bạch đàn lắp máy tự động có thể đứng l? ngồi xuống
được, nhắc nhở thời kỳ Ngài đi tu ở Hương Hải am đ?làm
thuốc trị bệnh cứu người và dày công sáng tạo môn nghệ thuật
múa rối nước cổ truyền để cho dân giải trí. Chính giữa là
tượng Thiền sư khi đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước
ngực, khoác áo cà sa vóc vàng. Bên phải là tượng Thiền sư sau
khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành
nhà vua Lý Thần Tông (1) . Tượng Lý Thần Tông đầu đội
mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng.
Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng
Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết
của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa
là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán.
Đường qua cầu Nguyệt Ti? dẫn đến những bậc đá
đi l? núi, nơi có chùa Cao vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là
Đỉnh Sơn Tự. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh
của Nguyễn Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động
Phật Tích ở sau chùa là nơi Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác, nên
còn gọi là hang Thánh Hóa.
Phía trên chùa Cao có một mặt
bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu
… trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây
ngày xưa các bậc trích tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và
ngâm thơ giữa thiên nhiên khoáng đạt như hình ảnh trong bài thơ của Nguyễn
Khuyến:
- Hóa công xây đắp biết bao đời
- Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời
- Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng gắt
- Ban chiều mây họp tối trãng chơi
- Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn
- Giãi thủ giang sơn bốn mặt ngồi
- Bán lợi mua danh nào những kẻ
- Chẳng lên mặc cả một đôi lời.
Theo lối mòn ven núi, leo lên
vài chục bậc đá nữa sẽ đến hang Cắc Cớ, nơi tình tự của trai gái ngày xưa
trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:
- Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ,
- Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.
Từ hang Cắc Cớ, một con đường có nhiều cây đại
thụ dẫn l? đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với
nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật.
Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u và hang Gió với những
ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.
Ở chân núi Thầy, về phía Tây có chùa Bối Am còn
gọi là chùa Một Mái, vì chùa chỉ có một mái lợp bằng ngói,
còn mái kia chính là vòm hang.
Nét độc đáo của thắng cảnh ch? Thầy là ở sự
kết hợp giữa những con đường, những mái chùa vươn lên tầm
cao, với những vẻ đẹp của hồ nước trải rộng và những bí ẩn
trong chiều sâu lòng đất. Cả ba chiều không gian đó kết tụ lại
trong một quần thể thi? nhiên đa dạng về kiến trúc và màu sắc.
Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba âm
lịch hàng năm, là dịp để con người chiêm bái danh lam thắng cảnh
này. Trong ngày hội, nhiều Tăng Ni từ các nơi khác trong vùng cùng
về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa,
miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn
- một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có
sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.
Nhưng hội chùa Thầy không chỉ
có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc
thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở cả nước ngoài. Trai thanh gái
lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo
núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong một khung cảnh thiên nhiên rộng mở:
- Rủ nhau lên núi Sài Sơn
- Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
- Hỏi non, non những làm thinh
- Phải rằng non đ?vô tình với ai?
- Nước non ví chẳng chiều đời
- Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
- Yêu nhau ta dắt nhau cùng
- Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.
- (Á Nam Trần Tuấn Khải)
Chùa
TRĂM GIAN ▲
(QUẢNG
NGHIÊM TỰ)
Trên miền Bắc nước ta
có hai ngôi chùa mang tên chùa Trăm Gian: một ở Hà
Bắc, một ở Hà Tây. Cả hai ngôi chùa đều nằm trên
đỉnh núi, có những sắc thái kiến trúc và phong cảnh
độc đáo. Riêng chùa Trăm Gian ở Hà Tây thì gắn
liền với truyền thuyết về một vị cao tăng tên là
Nguyễn Lữ (hoặc Nhữ) hiệu là Bình An, quê ở Bối
Khê, huyện Thanh Oai, Hà Tây, được người đời gọi
là đức Thánh Bối.
Truyền thuyết kể rằng
vào đời Trần, ở làng Bối Khê có một người phụ
nữ nằm mộng thấy đức Phật giáng sinh, rồi có mang,
sinh ra một con trai. Năm lên 6 tuổi, cha mẹ mất, người
con phải đi chăn trâu, nhưng rất mộ đạo Phật, thường
làm bàn thờ cúng lễ. Đến năm 9 tuổi, người con trai
ấy bỏ nhà vào tu ở chùa Đại Bi trong làng. Lên 15
tuổi, đi vân du khắp nơi, đến thôn Tiên Lữ, xã Tiên
Phương, huyện Hoài Đức, Hà Tây ngày nay, thấy cảnh
đẹp, Người xin yết kiến và theo học kinh kệ với vị
trưởng lão tu tại ngôi chùa trên núi. Mười năm học
đạo, người thanh niên đó hiểu thấu mọi phép linh
thông. Vua Trần nghe tiếng, sắc phong là Hòa Thượng,
đặt đạo hiệu là Đức Minh rồi mời về tu ở chùa
trong kinh đô.
Sau khi vị trưởng lão
ở chùa Tiên Lữ viên tịch, Hòa Thượng Đức Minh xin
về làng dựng ngôi chùa mới. Tương truyền rằng Ngài
có phép hóa cỗ bàn cơm chay, thợ xây chùa ăn mãi
không hết. Khi chùa dựng xong, Hòa thượng mang guốc gỗ
đi qua đi lại trên kèo như đi trên mặt đất, ai nấy
đều bái phục vái lạy phép thần thông của Ngài. Năm
95 tuổi, Ngài ngồi vào một cái khám gỗ, từ biệt đệ
tử rồi siêu thoát. Một trăm ngày sau, đệ tử mở
cửa khám, kim quang Ngài bay mùi thơm nức, ngào ngạt
gần xa. Dân làng và đệ tử xây tháp để gìn giữ kim
thân và tôn thờ là đức Thánh Bối.
Sách Lĩnh Nam chích quái
cũng có ghi sự tích đức Thánh Bối có thể làm mưa,
gọi gió. Truyền thuyết còn kể rằng vào đầu thế kỷ
XV, quân Minh xâm lược nước ta, có một toán giặc nghe
nói chùa Tiên Lữ rất thiêng, bèn phóng hỏa đốt
chùa, phá tượng. Đức Thánh Bối nổi giận hóa phép
làm ra một trận mưa kéo dài ba ngày ba đêm, nước đỏ
như máu, dâng cao tới ba thước dìm chết hết lũ giặc
bạo ngược kia. Sau đó một đám mây năm sắc hiện lên
nền trời, cuộc sống thanh bình trở lại, ngôi chùa vẫn
nguyên như cũ. Dân làng quanh năm hương khói, mỗi khi
gặp đại hạn, làm lễ cầu mưa tại chùa, rất được
linh ứng. Các triều vua sau đều phong đức Thánh Bối là
"Thượng đẳng tối linh Đại Thánh".
Trên đây là sự tích
chùa Trăm Gian ở làng Tiên Lữ, còn có tên là Quảng
Nghiêm Tự. Nhiều tài liệu ghi rằng chùa được lập
năm 1185 đời vua Lý Cao Tông. Đây vốn là ngôi chùa
một gian hai trái nằm trên một quả núi cao 50m gọi là
núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ tuổi khoảng vài
thế kỷ như trám, trắc, thông, tàn lá xòe rộng tỏa
bóng mát che rợp mái chùa.
Qua nhiều lần trùng tu,
ngôi chùa hiện nay bao gồm ba cụm kiến trúc chính, với
tất cả 104 gian.
Cụm thứ nhất ở lối
ra vào gồm có hai trụ cột cao với hai quán ở hai bên,
trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội.
Tiếp đó là nhà Giá Ngự nhìn ra hồ sen, nơi đặt kiệu
Thánh để xem trò múa rối nước.
Cụm thứ hai nằm trên
một độ cao hơn một trăm bậc gạch xây. Tại đây có
gác chuông cao 2 tầng 8 mái tách hẳn lên phía trước
mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc thế kỷ
XVI - XVII. Quả chuông đúc năm 1794 có khắc một bài minh
của Phan Huy Ích.
Muốn lên cụm thứ ba,
phải leo 25 bậc đá xanh đến sân trên, rồi lại leo 9
bậc đá có lan can chạm hình rồng cuộn khúc. Đây là
chùa chính gồm nhà bái đường, tòa thiêu hương,
thượng điện, hai dãy hành lang, nhà tổ và lầu trống.
Chùa có 3 gian thờ chính: gian thờ Phật; gian thờ
Thánh; gian thờ Quan Âm, gia đình Đô đốc Đặng Tiến
Đông, một tướng lĩnh của vua Quang Trung, là người có
công trùng tu ngôi chùa.
Trong 153 pho tượng ở
chùa mà hầu hết làm bằng gỗ, đáng chú ý nhất về
mặt lịch sử là tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông và
tượng đức Thánh Bối, cốt đan bằng mây, ngoài bọc
vải sơn, đặt trong khám gỗ. Ngoài ra, tượng Tuyết Sơn,
tượng Quan Âm, bộ Thập bát La-hán? cũng là những
công trình điêu khắc độc đáo.
Chùa
MÍA ▲
(SÙNG
NGHIÊM TỰ)
Vào thế kỷ XVII ở làng
Mía, nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà
Tây, có bà Nguyễn Thị Dong tức Nguyễn Thị Ngọc Diệu là
vợ của Chúa Thanh Đo Vương Trịnh Tráng, nên còn được
gọi là Bà Chúa Mía. Một trong những công đức mà Bà
Chúa Mía để lại cho quê hương là đã đứng ra hưng công
đại trùng tu ngôi chùa Mía, tức Sùng Nghiêm Tự (nguyên
được dựng từ đời Trần) vào năm 1632.
Nằm trên một ngọn đồi
đá ong, lúc đầu chùa Mía chỉ có` cổng và hai tòa thượng
điện, hậu đường, mỗi tòa 7 gian dựng song song. Chùa
được tu bổ và hoàn chỉnh dần vào thế kỷ XVII và XIX.
Khuôn viên chùa được
chia làm ba khu tương đối tách bạch nhau: ngoài cùng là
cửa tam quan trông ra một bãi đất rộng bên cạnh là chợ
Mía. Trên gác có treo một chuông đồng đúc năm 1743 và
một khánh đồng đúc năm 1846.
Qua khỏi tam quan là hai
khoảng sân liên tiếp, cách nhau bởi một cổng gạch giữa
bức tường hoa cánh gà. Ở góc phải sân thứ nhất có
một cây đa khoảng vài trăm tuổi, kế cây đa là Liên
Đài bảo tháp cao 13,5m. Sân thứ hai có những bồn hoa và
hòn non bộ. Phía bên trái có dãy nhà tổ và nhà trai.
Nằm trên độ cao cách
sân 7 bậc thềm là khu chùa chính gồm: tiền đường,
trung điện, nhà thiêu hương, hành lang và hậu điện. Tiền
đường gồm 5 gian 2 chái, gian bên trái có một tấm bia dựng
năm 1632 đặt trên lưng rùa, nội dung ghi lại sự tích Bà
Chúa Mía xây chùa. Trung điện và hậu điện được nối
với nhau bởi hai dãy hành lang quanh nhà thiêu hương.
Trung điện và nhà thiêu hương nối vào nhau theo kiểu chuôi
vồ.
Nghệ thuật điêu khắc
ở chùa Mía nổi bật ở những đường nét chạm trổ
tinh vi trên tòa gác chuông với các góc mái đều gắn
đao triện, ở các hàng lan can, các ván long, xà nách?
Nhưng di sản đáng quí nhất ở chùa là 287 pho tượng lớn
nhỏ, trong đó một nửa tạc bằng gỗ, một nửa bằng đất
luyện, sơn son thếp vàng. Tiêu biểu là tượng hai vị Hộ
Pháp cao gần tới nóc nhà, tượng Bát bộ Kim Cương bằng
đất luyện khắc họa những nét điển hình về ngoại hình,
dung mạo của những con người giàu tinh thần thượng võ,
sẵn sàng bảo vệ chính pháp. Chùa có tôn trí tượng
Tuyết Sơn, biểu hiện đức Phật Thích-ca thời kỳ tu khổ
hạnh, thân thể gầy gò đến mức tất cả xương cốt đều
lộ ra, nhưng thần sắc của tư duy thì vẫn tồn tại. Chùa
Mía còn có một tuyệt tác về điêu khắc là pho tượng
Quan Âm tống tử, thường gọi là tượng Bà Thị Kính. Với
đường nét chạm khắc mềm mại và sinh động, pho tượng
này tái hiện hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam hiền
hòa, tay ẫm đứa bé bụ bẫm, vẻ mặt đượm buồn, mắt
nhìn xuống đầy vẻ chịu đựng và bao dung.
Người làng Mía tự hào về pho
tượng là điều dễ hiểu:
Nổi danh chùa Mía làng
ta,
Có pho Tống Tử Phật Bà Quan Âm.
Và có lẽ đó là niềm
tự hào không chỉ của riêng người làng Mía.
Chùa HƯƠNG ▲
Ngày
trước có một người con gái mùa xuân theo cha mẹ đi
trẩy hội chùa Hương đã phải lòng một chàng trai tài
hoa phong nhã. Tâm tình của cô gái ấy với những lời
lẽ e ấp vụng dại đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
ghi lại qua một thiên ký sự bằng thể thơ năm chữ nổi
tiếng trên đất Việt hơn nửa thế kỷ qua. Ngày nay cảnh
vật Hương Sơn có khác đi ít nhiều, nhưng hành trình đến
chùa Hương vẫn là một cuộc hành trình trở về thiên
nhiên và cội nguồn. Chúng ta hãy lần theo dấu chân cô
gái ngày trước mà tìm đến với "Nam thiên đệ nhất
động" (Động đẹp nhất trời Nam).
Chùa Hương nằm trên
địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, cách
Hà Nội 60km. Thật ra chùa Hương không phải là một ngôi
chùa mà là một hệ thống chùa chiền, đền thờ và
hang động nằm trong khu vực có những ngọn núi đá vôi
và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng
6km2.
Theo truyền thuyết, vùng
núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai
nghìn năm và đã được đặt tên Hương Sơn - lấy tên
một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn
Độ), nơi đức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng
rã. Đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã có am thờ Phật
dựng trên mảnh dất chùa Thiên Trù. Theo sách Hương Sơn
Thiên Trù thiên phú thì chùa Hương được xây dựng từ
đời Lê Huy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705). Bia tại
chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc
đá và tôn tạo Kim Dung bảo điện của chùa được thực
hiện vào năm 1686; còn pho tượng chính trong chùa - tượng
Bồ-tát Quan Âm - xưa kia vốn bằng đồng được đúc năm
1767.
Hàng năm, hội chùa Hương
mở từ ngày mồng sáu tháng giêng đến rằm tháng ba âm
lịch , trải dài trên ba tuyến chính: tuyến động Hương Tích,
tuyến chùa Tuyết và tuyến chùa Long Vân. Trên thực tế,
suốt trong tháng giêng và tháng hai, cảnh chùa luôn luôn
đông vui tấp nập và khách thập phương chủ yếu vãn cảnh
chùa theo tuyến động Hương Tích.
Từ Hà Nội, đi xe vào
thị xã Hà Đông, lên thị trấn Vân Đình, qua gần 20km nữa
là tới Bến Đục, nằm bên bờ sông Đáy. Đây là cửa
ngõ vào khu danh lam thắng cảnh, thuyền đò chen chúc. Từ
Bến Đục, khách đi bộ gần 1km sẽ đến bến đò để lên
thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là Yến Vĩ (đuôi
con chim én).
Thuyền
đi, Bến Đục qua.
Mỗi
lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói:
Nam
mô A-di đà!.
Thuyền đưa du khách lướt bên
những ngọn núi đá nên thơ như núi Voi, núi Rồng? cùng với nhịp cầu ở phía
xa gợi lên khung cảnh non Tiên nước Phật:
Réo
rắt suối đưa quanh
Ven
bờ, ngọn núi xanh
Dịp
cầu xanh nho nhỏ
Cảnh
đẹp gần như tranh
Đến đền Trình, thuyền
ghé vào để du khách "trình diện" với sơn thần
sở tại trước khi đặt chân lên cõi Phật. Đền nằm dưới
chân một quả núi dựng lên năm ngọn nên được đặt
tên là Ngũ Nhạc. Đền còn có tên Quan Lớn, thờ một
bộ tướng của vua Hùng.
Rời đền Trình, du khách tiếp
tục cuộc hành trình bằng đường thủy ngắm cảnh hai bên dòng suối:
Sau
núi Oản, Gà, Xôi
Bao
nhiêu là khỉ ngồi
Tới
núi con Voi phục
Có
đủ cả đầu đuôi.
Thuyền dừng ở Bến Trò
cho du khách bước lên khu vực chùa Thiên Trù (Bếp Trời),
tức là chùa Ngoài. Ngày xưa, chùa được xây khuất
trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị
tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng
dưới triều vua Gia Long (năm 1809) cũng bị phá hủy. Một
kiến trúc cổ còn lại là Viên Công bảo tháp được
xây dựng từ thế kỷ XVII, nơi đặt xá lợi Thiền sư
Viên Quang, người có công trùng tu chùa Hương sau nhiền
năm hoang phế. Nhìn từ xa, tháp như cây bút hồng ngọn
vút cao lên trời. Ở đây còn có Thiên Thủy tháp là
một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo,
nước mưa trên núi theo tháp chảy xuống. Năm 1986, chùa
Thiên Trù đã được phục dựng lại gác chuông và đến
năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ
"Đinh". Đầu năm 1994, chùa đã xây dựng lại Nam
Thiên môn (cửa trời Nam) theo nguyên mẫu.
Từ khu vực chùa Ngoài,
du khách lần theo con đường dốc trên các sườn núi đá
để ghé thăm chùa Tiên Sơn xây trong động giữa lòng
một quả núi, có bốn pho tượng quí bằng hồng thạch.
Tiếp đó là chùa Giải Oan, nơi có giếng nước trong vắt
gọi là "Thiên nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng
Long Tuyền. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối
Giải Oan. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích, nơi
có tảng đá tương truyền lưu dấu chân Quan Âm Bồ-tát.
Cách đó không bao xa, du khách bước chân đến núi Chấn
Song để thăm viếng cửa Võng.
Đích xa nhất mà du khách
vãn cảnh chùa muốn đạt đến là động Hương Tích nằm
sâu ở phía trong. Du khách bước qua một cổng lớn ở
phía trên, rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động.
Cửa động trông như hàm rồng, phía trong có năm chữ Hán
"Nam Thiên đệ nhất động", tạc vào đá, tương
truyền là bút tích của Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm khắc vào
năm 1770. Hai hàng cây cổ thụ tầng cao bóng cả chen cành
kết lá phủ lên cửa động. Ánh nắng lọt qua lá cây
tạo nên một thứ ánh sáng mờ ảo trải trên các bậc
đá, cộng với khói hương từ lòng động bay lên tạo
thành một không gian huyền diệu như lời ca trong bài hát
Chùa Hương của Nhạc sĩ Hoàng Quý: "Chùa Hương khói
trầm ngút bay những khi nắng tàn, phút giây chìm đắm
trong mơ màng".
Vào trong động, du khách
chiêm ngưỡng tượng Bà Chúa Ba (Bồ-tát Quan Thế Âm)
cùng nhiều tượng Phật, Bồ-tát? Trên vách động thạch
nhũ rũ xuống muôn hình muôn vẻ, màu sắc biến ảo:
hình Đụn Gạo, Đụn Tiền, Cây Vàng, Cây Bạc, Buồng Tằm, Nong Kén, Hòn Cậu,
Hòn Cô? Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh
động gọi là tòa Cửu Long. Ngắm nhìn những dáng hình kỳ tú đó của thiên
nhiên, cô gái trong thơ Nguyễn Nhược Pháp đã thốt lên:
Ôi!
Chùa Trong đây rồi!
Động
thắm bóng xanh ngời
Gấm
thêu trần thạch nhũ
Ngọc
nhốm hương trần rơi.
Còn nhà thơ Chu Mạnh Trinh ở thế kỷ trước thì cảm tác
thành bài Thú Hương Sơn nổi tiếng:
Bầu
trời cảnh bụt
Thú
Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa
non non, nước nước, mây mây
"Đệ nhất động" hỏi rằng đây có phải!
Nhác
trông lên ai khéo họa hình
Đá
ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm
thẳm một hang lồng bóng nguyệt
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây?
Như trên đã nói, ngoài
động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua rừng mơ
thăm chùa Hinh Bồng, theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi
đến núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử,
vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn
vào chùa Bảo Đài. Leo núi đến Bạch Tuyết môn, vào điện
Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là
Ngọc Long động. Nơi đây, vào năm 1770, Trịnh Sâm có làm
bài thơ Đăng Tuyết sơn hữu hứng.
Ở hướng khác, một
nhánh của dòng suối Yến đưa du khách qua núi Ông Sư Bà
Vãi, lên thuyền vào thăm chùa Long Vân, leo núi thăm chùa
Cây Khế, và hang Sũng Sàm, một di chỉ khảo cổ ghi dấu tích
người xưa.
Giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, du
khách có thể mang về làm kỷ vật một gậy trúc đã chống trên đường hành
hương, vài mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhỏ hạt
và mấy mớ rau đắng nấu canh hương vị thơm ngon. Nhưng cái quí nhất mà
người đi chùa Hương có được là một tâm hồn như đã tẩy sạch bụi trần, lâng
lâng một niềm vui thoát tục với những ấn tượng không phai mờ bề một chốn
Thiên Thai ngay trên trần gian như ca dao đã miêu tả:
Một
vùng non nước bao la
Rằng
đây Lạc quốc hay là Đào nguyên
Hương
Sơn là chốn non tiên
Bồng
lai mà thấy ở miền trần gian.
Chùa
TÂY PHƯƠNG ▲
(SÙNG
PHÚC TỰ)
Cách Hà Nội 37km về hướng
Tây, ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh
Hà Tây có một quả núi cao khoảng 50m nằm trên một địa
thế rất đẹp: giữa một rừng cây cối tre trúc xanh rờn
che kín những mái nhà tranh ẩn trên sườn núi.
Đó là núi Câu Lậu.
Có tài liệu cho rằng sở dĩ ngọn núi này có tên như
vậy vì hình nó cong cong như chiếc lưỡi câu. Nhưng xét
về từ nguyên học, thì tên núi theo âm cổ vốn là
"Klâu", nghĩa là núi Trâu, về sau có sách vở
ghi theo âm chữ Hán là Câu Lậu. Người ta sẽ hiểu
được điều này khi đứng từ xa nhìn ngọn núi này kết
hợp với các ngọn đồi vùng Kim Quan tạo thành một dãy
núi đồi chạy dài từ Ba Vì xuống giữa đồng bằng, trông
chẳng khác nào một đàn trâu mà núi Câu Lậu là con
trâu mẹ đang quay đầu nhìn lại đàn con.
Từ chân núi Câu Lậu,
leo lên 239 bậc đá ong, chúng ta sẽ đứng trước cổng
danh lam thuộc loại tiêu biểu về nghệ thuật kiến trúc và
điêu khắc ở nước ta: Chùa Tây Phương, tên chữ là
Sùng Phúc Tự, còn có tên khác là Hoành Sơn Thiếu Lâm
Tự.
Năm 1632, vào đời vua
Lê Thần Tông, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu
cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657 - 1682, Tây
Đô Vương Trịnh Tạc lại cho phá chùa cũ, xây lại chùa
mới và tam quan. Đến năm 1794 dưới thời Tây Sơn, chùa
lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây
Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến trúc còn để lại
như ngày nay.
Bia chùa Tây Phương lập
năm 1924 có ghi lại sự việc "Sadi Thiết Tử, tên tự
là Thanh Ngọc, quê làng Cao Xá, huyện Đan Phượng, tỉnh
Hà Đông, xuất gia từ nhỏ, đến năm 1893 đến ở chùa
Sùng Phúc tức chùa Tây Phương núi Câu Lậu. Vùng núi
này là nơi danh lam thắng cảnh tích phát anh tài, hương
thiền phảng phất. Vì vậy các thân hào kỳ lý trong xã
họp lại nhất trí tu tạo và sửa sang 3 tòa tự vũ, nhiều
lần chấn chỉnh, đồng thời tạc tượng Quan Âm trăm tay
cùng tượng Thiện Tài Long Nữ. Cũng trong thời gian này
còn tạc thêm tượng Bát bộ Kim Cương, Thập bát La-hán
vàng son lộng lẫy?".
Chùa gồm 3 nếp nhà làm
bằng gỗ lim rắn chắc xếp theo hình chữ "Tam": tòa
bái đường, tòa chính điện và tòa hậu cung. Ba tòa nhà
này cách nhau 1,60m, tạo nên một nhịp điệu kiến trúc độc
đáo. Hệ thống cửa sổ hứng lấy ánh sáng lung linh từ
bên ngoài, tạo cho nội thất một khung cảnh thoát tục,
phù hợp với triết lý sắc sắc không không của nhà
Phật.
Mỗi nếp chùa có hai tầng
mái kiểu chồng diêm, tám mái và tám góc là các đầu
đao vươn lên cong vút với những đường nét nổi lên
hình hoa, lá, rồng, phượng. Vật liệu xây chùa chủ yếu
là gạch Bát Tràng để trần, các cột gỗ đều kê trên
tảng đá xanh tròn khắc hình cánh sen. Mái lợp gồm hai lớp
ngói: lớp trên là ngói đầu mũi đúc hình lá đề nổi,
lớp dưới là ngói lót hình vuông sơn ngũ sắc. Xung
quanh diềm mái của ba tòa nhà đều chạm trổ tinh tế theo
hình lá triện cuốn, trên mái gắn nhiều con giống bằng
đất nung.
Khắp chùa hầu như chỗ
nào có gỗ là có chạm trổ những hình tượng trang trí
quen thuộc của dân tộc ta: hình lá dâu, lá đề, hoa sen,
hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù? rất tinh xảo.
Du khách đến thăm chùa
Tây Phương chưa hết bàng hoàng trước vẻ đẹp hoành
tráng của kiến trúc thì lại càng sửng sốt khi chiêm ngưỡng
thế giới sinh động của 72 pho tượng gỗ sơn son thếp vàng.
Trên đất nước ta không ở đâu có được một phòng
triển lãm tuyệt vời và độc đáo như thế với nghệ
thuật điêu khắc tôn giáo nhưng lại phản ánh những đặc
điểm dân tộc của con người Việt Nam. 72 pho tượng gỗ
của chùa Tây Phương là 72 công trình nghệ thuật đích thực,
mỗi pho tượng biểu hiện không chỉ cuộc đời, tính cách
mà cả thế giới tâm linh của các vị Phật, Bồ-tát và
La-hán?
Hệ thống tượng ở chùa Tây
Phương gồm:
1- Bộ tượng Tam Thế với
ba pho tượng Phật: Quá khứ, Hiện tại, Vị lai (còn gọi
là Tam thân: Pháp thân, Ứng thân và Hóa thân) ngồi
ở tư thế tọa thiền, y phục gập nếp đơn giản phủ kín
cơ thể.
2- Bộ tượng Di-đà Tam
Tôn: gồm tượng đức Phật A-di-đà, đứng hai bên là
Bồ-tát Quan Âm và Bồ-tát Thế Chí.
3- Tượng Tuyết Sơn miêu
tả đức Phật Thích-ca trong thời kỳ tu khổ hạnh: mỗi
ngày ăn một hạt kê, một hạt vừng, tự hành xác để
vươn lên thế giới tinh thần sáng láng. Tượng màu đen
thẫm khoác áo cà sa mỏng, tay chân gầy khẳng khiu, xương
nổi lên trước ngực. Toàn bộ cơ thể chìm trong suy tưởng,
mắt trũng sâu, hướng về nội tâm.
4- Tượng đức Phật
Di-lặc tượng trưng cho vị Phật của thế giới cực lạc
tương lai. Người mập mạp, ngồi hơi ngả về phía sau, toàn
thân toát ra sự thỏa mãn, sung sướng.
5- Tượng Bồ-tát Văn-thù: đứng chắp tay, chân đi đất, các ngón chân bấm móng
xuống mặt bệ.
6- Tượng Bồ-tát Phổ
Hiền: chắp tay trước ngực, khuôn mặt sáng rộng nổi
lên trên tấm thân phủ đầy y phục.
7- Tượng Bát bộ Kim Cương,
thể hiện trình độ rất cao về nghệ thuật lắp ghép gỗ
và cách bố cục, chuyển động của một thân thể mang giáp
trụ trong các thế võ.
8- Mười sáu pho tượng
Tổ với phong cách hiện thực: Đó là Ưu-ba-cầu-đa, Đê-đa-ca,
Di-trà-ca, Ba-tu-mật, Phật-đà Nan-đề, Phục-đa-mật-đa,
Hiếp Tôn giả, Phương Nam Hòa Tu, Mã Minh, Ca-tỳ-ma-la, Long
Thụ Tôn giả, La-hầu-la-đà, Tăng-già Nan-đề, Già-gia-xá-đa,
Cưu-ma-la-đa, Chà-dạ-đa.
Thế giới tượng trong
nội thất chùa Tây Phương đã từng là nguồn cảm hứng
cho nhiều văn nhân, nghệ sĩ . Năm 1960, nhà thơ Huy Cận đến
thăm chùa, đã làm những câu thơ rất sống động và gợi
cảm về hình tượng những con người đắc đạo mà lòng
vẫn trầm ngâm suy tưởng về những khổ đau quần quại
của chúng sinh. Những pho tượng sống động này phản ánh
những sự tích của nhà Phật, đồng thời biểu hiện thế
giới tinh thần của những nghệ nhân đã sáng tạo ra. Tất
cả những bộ phận trên cơ thể đều mang dấu vết của
nỗi đau trần thế: mắt giương, mày nhíu xệch, trán
như nổi sóng, môi cong chua chát, bàn tay cân vặn, đôi tai rộng dài ngang
gối nghe đủ chuyện buồn vui của đời người. Tất cả các giác quan của con
người như đều căng lên trong từng thớ gỗ:
Các
vị ngồi đây trong lặng yên
Mà
nghe giông bão nổ trăm miền
Như
từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng
tối đùn ra trận gió đen.
Từ những biểu hiện
sinh động đó của nỗi đau đời thương người, nhà thơ
rút ra một nét đặc trưng chung của các vị: niềm băn
khoăn, day dứt trước lẽ tử sinh, ý nghĩa và hướng
đi của cuộc đời. Câu hỏi đè nặng tâm hồn các vị
không tìm lấy sự giải thoát cho riêng mình mà tìm sự
giải thoát cho cả chúng sinh.
Mặt
cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay
theo tám hướng hỏi trời sâu
Một
câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho
đến bây giờ mặt vẫn chau.
Câu hỏi đó không chỉ
ám ảnh những con người sống trong buổi hoàng hôn của
một thế kỷ chìm trong đau thương, mà vẫn còn là nỗi băn
khoăn day dứt khôn nguôi của con người trên con đường
đến Chân - Thiện - Mỹ.
Chùa
CÔN SƠN ▲
(TƯ
PHÚC TỰ)
Thời nhà Trần, nước
ta có các trung tâm Phật giáo lớn là Yên Tử, Côn Sơn,
Quỳnh Lâm và Vĩnh Nghiêm. Nhà tổ ổ Côn Sơn còn thờ
tượng Trúc Lâm tam Tổ (ba vị Tổ phái Thiền Trúc Lâm)
là Trần Nhân Tông (1258 - 1308), Thiền sư Pháp Loa (1284 -
1330) và Thiền sư Huyền Quang (1254 - 1334).
Không phải ngẫu nhiên
mà Thiền sư Pháp Loa đã dựng am Bạch Vân ở Côn Sơn
và Thiền sư Huyền Quang đã chọn nơi đây tu hành vào những
năm tháng cuối đời. Côn Sơn (cách thị xã Hải Dương
15km, nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng,
vốn là tên một ngọn núi cao khoảng 200m so với mặt biển,
có ba nhóm nhô lên như một con kỳ lân phủ phục, nên
còn tên là Lân Sơn. Leo khỏi 600 bậc đá, đứng trên
đỉnh núi nhìn khắp chung quanh sẽ thấy hiện ra "Một vùng
cây cỏ tận hưởng niềm vui thưởng thức, sông núi bao
la thu vào tầm mắt ngóng trông" (Nhật thiên thảo mộc
cùng ngu hưởng. Bất tận giang sơn nhập chỉ huy) như vua Lê
Thánh Tông đã viết.
Và không phải ngẫu nhiên
mà vua Trần Nghệ Tông đã đặt tên cho mấy nếp nhà bên
suối dưới khe núi Côn Sơn, với thạch bàn giữa thiên
nhiên đầy cỏ hoa và khóm trúc, trên đầu non khói tỏa
là Thanh Hư động: nơi ở thanh tịnh vắng vẻ như động
tiên giữa chốn hư không. Khi trụ trì ở đây, Thiền sư Pháp Loa đã cảm hứng
giữa đất trời tao nhã:
Sự
đời quên cả chẳng lôi thôi
Chiếc
chõng quanh năm bó gối ngồi
Ngày
tháng chẳng còn sờ đến lịch
Thấy
hoa cúc nở đoán thu rồi.
(Nguyễn
Trọng Thuật dịch)
Nằm ở chân núi phía
Nam, chùa Côn Sơn, tên chữ là Tư Phúc Tự, được xây
dựng từ thời Lý, dân gian thường gọi là chùa Hun (nơi
đốt than). Tương truyền rằng vua Trần Thái Tông (1225 -
1258) đã từng đến thăm chùa. Vào đời Lê, lúc Thiền
sư Mai Trí Bản hiệu Pháp Nhãn trụ trì, chùa được trùng
tu và mở rộng, có đến 83 gian, bao gồm tam quan, thượng
hạ điện, tả hữu vu, lầu chuông, gác trống? Bị chiến
tranh tàn phá, ngày nay chùa Hun chỉ còn là một ngôi chùa
nép mình dưới tàn lá xanh của những cây cổ thụ: thông,
đại và hương bài.
Phía trước, ngay lối đi
vào chùa có một tấm bia đá đặt trên lưng rùa khắc
ba chữ "Thanh Hư Động", bút tích của vua Trần Nghệ
Tông. Bên trái là nhà bia cũ dựng năm 1608, có tấm
bia ghi bài minh nhan đề "Côn Sơn Tư Phúc Thiền Tự
Bi" nói về việc trùng tu chùa.
Bên đường dẫn lên
đỉnh núi rợp bóng cây phía sau chùa là khu mộ tháp, nổi
bật là Đăng Minh bảo tháp dựng bằng đá xanh, cao 3 tầng,
trong đặt xá lợi và tượng Thiền sư Huyền Quang.
Chùa Côn Sơn đã chứng kiến một
chặng đường đời và bi kịch của người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa
Nguyễn Trãi. Thanh Hư động chính là nơi Băng Hồ tướng công Trần Nguyên
Đán, ông ngoại nhà thơ, ẩn dật. Mấy gốc thông già trải qua sương nắng hơn
sáu thế kỷ còn đứng đó là do chính tay Trần Nguyên Đán trồng, như thơ của
Băng Hồ tướng công đã ghi lại:
Xuân
nhật tảo di hoa ảnh động
Thu
phong vãn tống hạc thanh lai
Lưu
Quang điện hạ tùng thiên thụ
Tận
thị kình thiên nhất thủ tài.
Nghĩa là:
Nắng
xuân sớm động bóng hoa
Gió
thu hiu hắt chiều tà hạc kêu
Lưu
Quang thềm điện xanh rêu
Chống
trời thu biếc do đều một tay.
Một phần tuổi thơ của
mình, từ lúc 5 tuổi đến lúc 10 tuổi, Nguyễn Trãi sống
với ông ngoại. Sau những năm tham gia triều chính, Nguyễn
Trãi lui về Côn Sơn. Dòng suối Côn Sơn đã in bóng nhà
thơ ngồi trên thạch bàn những ngày ẩn dật. Cảnh đẹp
Côn Sơn đã gợi nên cảm hứng để Nguyễn Trãi sáng
tác nhiều bài thơ trong Quốc Âm thi tập:
Côn
Sơn có suối rì rầm
Ta
nghe tiếng suối như cầm bên tai
Côn
Sơn có đá rêu phơi
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm?
Nhưng bi kịch của lịch sử
đã không để cho nhà thơ được yên nghỉ tuổi già dưới
bóng thông và ngâm thơ nhàn. Vụ án Lệ Chi Viên với
cái chết đột tử của Lê Thái Tông vào tháng 9 năm
1442 đã dẫn đến hình phạt tru di tam tộc đối với Khai
quốc công thần Nguyễn Trãi. Học trò Nguyễn Trãi đã
đưa thi hài nhà thơ về mai táng trên núi Giáp Sơn, phía
Đông Bắc núi Côn Sơn. Gần đó, trên đỉnh núi Tam Tiên
là ngôi mộ Nguyễn Phi Khanh, thân sinh Nguyễn Trãi.
Một lần về Côn Sơn, nhà thơ
Trần Đăng Khoa chợt thức giấc lúc nửa đêm và cảm nhận được hồn thiêng của
Ức Trai còn hòa lẫn với thiên nhiên cảnh vật:
Ngang
trời kêu một tiếng chuông
Rừng
xưa nổi gió, suối tuôn ào ào.
Đồi
thông sáng dưới trăng cao
Như
hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm.
Chùa
DƯ HÀNG ▲
(PHÚC
LÂM TỰ)
Tọa lạc ở phố Dư Hàng,
phường Hồ Nam, quận Lê Chân, đây là ngôi chùa cổ nổi
tiếng ở thành phố Hải Phòng. Chùa có tên chữ là
Phúc Lâm Tự, lúc đầu chỉ dựng bằng tre lá. Tương
truyền vào đời Trần, Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân
Tông và Thiền sư Huyền Quang vẫn thường đến dây thuyết
giảng đạo pháp. Đến đời Lê Gia Tông, năm 1672, quan Đô
úy Nguyễn Đình Sách từ quan xuất gia, lấy đạo hiệu là
Chân Huyền, thấy cảnh chùa đổ nát, mới đứng ra vận
động nhân dân sửa chùa. Đến đời vua Thành Thái, Hòa
thượng Thông Hạnh tự Phúc Nguyên thuộc phái Vĩnh Nghiêm
đã trùng tu mở rộng chùa, xây gác chuông. Năm 1917 chùa
lại được sửa sang một lần nữa với quy mô như ngày
nay.
Chùa Dư Hàng được xây
dựng theo kiểu "Đinh", có cổng tam quan ba tầng mái
cao vút. Một chuông lớn được treo trên gác chuông năm
gian hai tầng, mái cong. Qua gác chuông là một sân rộng có
đặt một đỉnh lớn và tượng Bồ-tát Quán Thế Âm.
Tiền đường gồm bảy gian dựng theo kiểu vì kèo giá
chiêng; bên phải là năm gian nhà tổ, nhà trai và nhà
ngang; còn bên trái là năm gian nhà hậu. Năm gian thượng
điện cũng được dựng bằng gỗ có những vì kèo
được chạm trổ tinh tế.
Chính điện có nhiều tượng
được chạm khắc tinh xảo, như tượng Phật, tượng Hộ
Pháp, tượng Trúc Lâm tam Tổ và câu đối chạm khắc
theo phong cách nghệ thuật triều Nguyễn. Bức chạm lộng sơn
son thếp vàng rực rỡ ở chánh điện do các nghệ nhân
Hà Nam Ninh tạc vào đầu thế kỷ XIX. Chùa còn giữ
được nhiều di vật quý như đỉnh đồng, khánh đồng, bát
hương, tủ chạm.
Ngoài vườn chùa có 9
tháp mộ, trong đó có nhóm tháp "Trúc Lâm tam Tổ",
tháp của Thiền sư Chân Huyền Nguyễn Đình Sách và các
vị cao tăng từng trụ trì ở chùa.
Phúc Lâm Tự xứng đáng là một di
tích kiến trúc cổ kính, một danh lam nơi đất cảng Hải Phòng
Chùa
THÁP ▲
(PHỒ
MINH TỰ)
Nhà Trần là một triều
đại làm vẻ vang cho lịch sử dân tộc Việt Nam với ba lần
đại thắng quân Nguyên xâm lược vào thế kỷ XIII. Tổ
tiên nhà Trần vốn làm nghề chài lưới trên sông Châu
chảy qua đất Nam Định . Ở hữu ngạn sông Châu đã hình
thành hương Tức Mạc, nay thuộc xã Lộc Vượng, cách thành
phố Nam Định khoảng 5km về phía Bắc, là nơi sinh của người
anh hùng Trần Quốc Tuấn và cũng là đất tổ của nhà
Trần.
Khi vừa lên ngôi, Trần
Thái Tông đã biến quê hương Tức Mạc của mình thành
một công trường lớn. Từ năm 1239 thợ thuyền được
tuyển chọn cùng với phu lính làm việc ròng rã mấy chục
năm liền để xây dựng những lâu đài, cung điện, đền
miếu, dinh thự, chùa chiền trên mảnh đất này. Mùa xuân
năm 1262 Trần Thánh Tông về hành cung Tức Mạc ban yến lớn,
hậu thưởng các hương lão và đổi hương Tức Mạc thành
phủ Thiên Trường. Trong phủ Thiên Trường có hai cung điện
được xây cất nguy nga lộng lẫy là cung Trùng Quang và
cung Trùng Hoa để vua nối ngôi ở khi về chầu. Ngày nay
hai cung điện đó đã bị chiến tranh tàn phá nhưng các
địa danh ở đây đều gắn liền với những sự tích xa
xưa: cảnh nội cung trước kia là sân trong phủ, cánh đồng
cũ xưa là nơi giam giữ tù nhân dùng vào việc xây cất
cung điện. Các xóm làng ở quanh phủ như Liễu Nhai xưa là
vườn liễu; làng Lựu Phố xưa là vườn lựu; trường
giảng văn, bình thơ; làng Phường Bông xưa là nơi diễn
ca múa nhạc của hoàng tộc.
Nằm ở phía Tây cung Trùng
Quang, chùa Phổ Minh vốn được xây dựng từ thời Lý.
Đến thời Trần, chùa đã được trùng tu và mở rộng
cho tương xứng với vị trí tôn quý của phủ Thiên Trường.
Kiến trúc chính của chùa bao gồm chín gian tiền đường,
ba gian thiêu hương và tòa thượng điện, xếp theo hình chữ
"Công". Gian giữa nhà tiền đường có bộ cửa
gồm 4 cánh bằng gỗ lim, chạm rồng, sóng nước, hoa lá
và hoa văn hình học. Hai cánh ở giữa chạm đôi rồng lớn
chầu mặt trời là tác phẩm điêu khắc gỗ đời Trần
còn lưu lại cho đến ngày nay.
Tam quan chùa có ba gian bằng
gỗ, tường xây gạch, mái lợp ngói cổ, trên cửa có
bốn chữ "Đại hùng bảo điện", dưới thềm đá
ba cấp làm thành bậc ở gian giữa, hai bên có đôi sấu
đá chầu. Một con đường nhỏ chạy thẳng giữa một ao
tròn, dẫn đến bức tường "bình phong" rồi đến
sân trước chùa và hai nhà bia. Bia đá bên phải đề dòng
chữ "Phổ Minh Thiền Tự" khắc năm Mậu Thân
1668. Bia đá bên trái có dòng chữ "Phổ Minh Bảo Tháp
Từ Bi" khắc năm Bính Thìn 1916.
Trong chùa ngoài hệ thống
tượng Phật, Bồ-tát? được thờ ở chánh điện, có
thờ tượng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, tượng Thiền
sư Pháp Loa, Thiền sư Huyền Quang ở hậu điện. Chuông lớn
của chùa có khắc bản văn "Phổ Minh Đỉnh Tự"
đúc năm Cảnh Thịnh thứ tư (1796). Ngoài ra, xưa kia chùa
còn có một vạc lớn được xem là một trong "Tứ
đại khí" của nước ta.
Sau thượng điện, cách
một khoảng sân hẹp là tòa nhà mười một gian kéo dài
theo hình chữ "Nhất". Giữa là năm gian nhà tổ,
bên trái là ba gian nhà tăng, bên phải là ba gian điện
thờ. Trong nhà tổ có pho tượng Bà Chúa Mạc, người từng
về tu ở chùa, tạc bằng đá trắng ngồi trên tòa sen, dựa
lưng vào bức nền có trang trí vòng ánh sáng với ba chữ
"Thường tịch quang". Hai dãy hành lang nối liền nhà
tiền đường và tòa nhà 11 gian tạo thành vòng ngoài của
chữ "Quốc". Phía sau nhà tổ là vườn tháp, có
tháp Bà Chúa Mạc bằng đất nung.
Công trình kiến trúc quý
giá mang phong cách đời Trần còn được bảo tồn khá
nguyên vẹn cho đến ngày nay là tháp Phổ Minh. Do công trình
này mà chùa Phổ Minh còn được gọi là chùa Tháp. Tháp
dựng vào khoảng năm 1305, niên hiệu Hưng Long thứ mười
ba, đời vua Trần Anh Tông. Tháp cao khoảng 21m, gồm 14 tầng,
xây trên 12 bậc gạch, càng lên cao càng thu hẹp dần và
kết thúc bằng một chỏm nhọn hình bầu rượu có nhiều
cạnh. Tầng trên đều trổ bốn cửa cuốn tò vò ra bốn
phía. Lúc đầu 13 tầng trên được xây bằng gạch trần
màu đỏ sơn son, về sau một tín chủ đã bỏ tiền trát vữa.
Bệ thờ đặt trong lòng tầng tháp thứ nhất. Trang trí
trên tháp đơn giản song rất mỹ quan: các lớp cánh sen
và những hoa văn dây uốn lượn quanh cửa tháp cùng với
hình rồng uốn khúc, vờn mây khắc họa trên các viên
gạch ốp mặt ngoài trông rất ngoạn mục.
Nằm giữa vùng chiêm
trũng với mái chùa cổ kính, cây cổ thụ sum sê, toàn
bộ tòa tháp Phổ Minh nặng tới 700 tấn, gần 7 thế kỷ
vẫn đứng vững, góp phần tạo nên phong cảnh uy nghiêm,
siêu thoát. Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông đã
ca ngợi thắng cảnh này như một "tiên châu" trong
những tiên châu tươi đẹp của đất nước:
Sư
về trong viện câu kinh vắng
Quán
ở bên sông bóng nguyệt treo
Ba
chục cung tiên cây tháp đặt
Trăm
ngàn cõi Phật tiếng triều reo.
(Thiên
Trường hành cung)
Tương truyền rằng trong tháp
Phổ Minh có tàng trữ xá lợi vua Trần Nhân Tông. Mười bốn vua nhà Trần được
thờ phụng ở đền Thiên Trường, còn gọi là đền Trần, gần chùa Phổ Minh. Bên
cạnh đền Thiên Trường là đền Cố Trạch thờ anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo.
Sự kết hợp hài hòa giữa đạo và đời trên mảnh đất tổ của một dòng họ danh
tiếng minh chứng cho lời khẳng định của câu ca dao cổ:
Đất
Tức Mạc, phủ Thiên Trường
Từ
xưa vốn dĩ danh hương lưu truyền
Nhà thờ Bùi Huy Bích (1744
-1818) đã viết bài thơ Du Phổ Minh Tự (Thăm chùa Phổ Minh) như sau:
Loạn
hậu trùng tầm đáo Phổ Minh
Nhàn
hoa dã thảo mãn nham quynh
Bi
văn tước lạc hòa yên bích
Phật
nhãn thê lương chiếu dạ thanh
Pháp
giới dữ đồng thiên quảng đại
Thổ
nhân do thuyết địa anh linh
Liêu
liêu cổ đỉnh kim hà tại
Thức
đắc vô hình thắng hữu hình
Nghĩa là:
Sau
loạn tìm về đến Phổ Minh
Hoa
đồng có nội ngút trời xanh
Văn
bia sứt mẻ nhòe mây khói
Mắt
Phật âu sầu dõi ngũ canh
Cõi
phép cùng trời bao rộng lớn
Người
đây vẫn nói đất linh thiêng
Nao lòng đỉnh cổ rày đâu tá?
Mới
biết vô hình thắng hữu hình.
(Ngô
Đức Thô dịch)
Chùa
CỒ LỄ ▲
(THẦN
QUANG TỰ)
Cách thành phố Nam Định
15km về hướng Đông, thị trấn Cổ Lễ được nối liền
với trung tâm tỉnh lỵ Nam Hà bằng con đường số 21. Cổ
Lễ vốn là tên một làng trước đây thuộc xã Trực
Nghĩa, huyện Nam Ninh; đồng thời cũng là tên một ngôi
chùa có từ lâu đời và đã trở thành một di tích lịch
sử - văn hóa của tỉnh Nam Hà.
Tương truyền rằng chùa
Cổ Lễ được sáng lập năm 1109 do Thiền sư Minh Không,
tên thật là Nguyễn Chí Thành, sinh năm 1076 tại làng Loại
Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định. Thiền sư Minh Không đã
có công sang Trung Quốc xin vua Tống cấp đồng để về nước
đúc "An Nam Tứ Khí" (tượng Quỳnh Lâm, chuông
Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh). Ông cũng chính
là vị y sư đã chữa cho vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) khỏi
bệnh "hóa hổ" nên được vua phong làm Đại Pháp
Thiền Sư kiêm Quốc sư. Sư viên tịch năm 1154, thọ 78 tuổi.
Kiến trúc chùa Cổ Lễ
hiện nay là do Hòa thượng Phạm Quang Tuyên hạ giải ba
ngôi chùa nhỏ ở làng Cổ Lễ và lập thành vào năm
1920. Hòa thượng Phạm Quang Tuyên là một cao tăng có kiến
thức uyên bác. Chính Ngài đã thiết kế và trông coi
việc xây dựng ngôi chùa. Vật liệu xây dựng không phải
là xi măng, sắt thép mà là gạch, vôi vữa, mật mía,
giấy bản tạo nên độ cố kết vững bền của toàn bộ
kiến trúc ngôi chùa.
Đứng trước chùa, vươn
lên nền trời giữa những cây cổ thụ bốn mùa xanh tươi
là tháp Cửu Phẩm Liên Hoa rất độc đáo. Tháp được
xây dựng những năm 1926 - 1927, có 12 tầng và một tầng
đế tháp đặt trên lưng một con rùa lớn đầu hướng
vào chùa. Tháp cao 32m, có 8 mặt, các cạnh tháp đều đắp
hình rồng, mái cong. Trong lòng tháp có 62 bậc dẫn lên bàn
thờ Phật trên đỉnh theo đường xoáy trôn ốc. Tháp
đứng giữa một hồ vuông, bốn góc là bốn hòn giả sơn.
Một cầu cong ba nhịp, mặt
cầu lát gạch, nối liền khu tháp với một tòa kiến trúc
mái vòm cao: đó là Phật giáo hội quán. Bên trái hội
quán là dãy nhà ba gian thờ Trần Hưng Đạo và hai danh sĩ
đời Trần quê ở Cổ Lễ là Bảng nhãn Đào Sư Mỗ và
Tiến sĩ đệ tam giáp Đào Toàn Mỗ.
Sau khu Hội quán Phật giáo
là một khoảng sân rộng. Giữa sân chùa đặt một quả
đại hồng chung cao 4,20m, đường kính 2,20m, nặng 9 tấn, do
Hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936. Chùa chính
có cấu trúc mái vòm, bên trong thờ Phật và Thiền sư
Minh Không. Sau thượng điện là nhà khách và nhà tổ.
Nhờ kết hợp tinh hoa
kiến trúc cổ truyền Việt Nam với các yếu tố của phong
cách kiến trúc phương Tây, chùa Cổ Lễ đã trở thành
một danh lam ở vùng đồng bằng sông Hồng.
Chùa
HOA YÊN
(HOA
YÊN TỰ)
Ở Việt Nam không hiếm
các nhà vua am hiểu sâu sắc Phật học và có những cống
hiến lớn lao cho sự phát triển của Phật giáo. Nhưng làm
vua mà hai lần lãnh đạo nhân dân đánh đuổi giặc Nguyên,
đuổi xong giặc lại chuyên tâm với kinh Phật, rồi tìm nơi
tu luyện, lập ra cả một Thiền phái, thì chỉ có vua Trần
Nhân Tông (1258 - 1308) mà thôi. Thật ra thì ngay từ khi còn
là Thái tử, ngài đã từng trốn khỏi thành, định vào
tu ở núi Yên Tử, nhưng vua cha là Trần Thánh Tông đã
cho người gọi về. Sau những năm tháng tham gia triều chính,
Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con và đến năm 1299, Ngài
thanh thản trở lại Yên Tử.
Đây không phải là lần
đầu Yên Tử đón một vị vua đến trụ trì. 63 năm trước,
đau khổ vì vận nước và ray rứt vì chuyện riêng, vua
Trần Thái Tông - vị vua sáng lập nhà Trần - đã từ bỏ
ngai vàng trốn lên Yên Tử, nhưng lần đó chuyện xuất
gia không thành vì Trần Thủ Độ cho các quan lên núi đón
vua về lại kinh đô.
Có lẽ phải có một lòng
quyết chí lớn lắm và một nhân duyên đặc biệt người
ta mới đến được với Yên Tử. Nằm ở giáp giới 3
tỉnh Hải Dương, Bắc Giang và Quảng Yên (cũ), cách thị xã
Uông Bí (Quảng Ninh) khoảng 15km về phía Tây Bắc, Yên Tử
là ngọn núi cao nhất (1068m) và hiểm trở nhất miền Hải
Đông xưa. Đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước
có tên là Bạch Vân Sơn. Nhìn từ xa núi giống hình một
con voi nên lại có tên là Tượng Sơn. Tương truyền vào
thế kỷ X có một đạo sĩ là Yên Kỳ Sinh tới núi này
tu hành, sau hóa thành đá. Tượng đá đó cao 2,50m bây
giờ vẫn còn đứng bên đường lên đỉnh núi (ở độ
cao 824m) khi qua khỏi Cửa Trời. Núi mang tên Yên Tử có
lẽ là do truyền thuyết đó.
Nói đến Yên Tử là
nói đến một hệ thống chùa và những thắng cảnh trên
con đường hành hương từ chân núi lên đỉnh núi cao
chót vót. Ở chân núi bên suối Cấm có chùa Cấm Thực
còn có tên là Linh Nhâm Tự; bên suối Lân có chùa
Lân còn mang tên là Long Động Tự. Nằm bên suối Giải
Oan, tên cũ là Hồ Khê, có chùa Giải Oan. Có truyền
thuyết kể rằng khi Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vào
núi, vua Trần Anh Tông sai cung nữ theo mời về, nhưng Ngài
quyết chí tu hành nên đã cự tuyệt. Các cung nữ nhảy
xuống suối này trầm mình. Một số được cứu sống,
ở lại sinh cơ lập nghiệp phía ngoài chùa. Còn số chết,
vua cho lập đàn cầu siêu, dựng chùa Giải Oan, trong có
thờ tượng các cung nữ.
Qua dốc Voi Xô thì đến
núi Hạ Kiệu, nơi các vua nhà Trần đến yết kiến Trần
Nhân Tông phải xuống kiệu đi bộ. Trên con đường rợp
bóng cổ tùng gồm thanh tùng, thủy tùng và xích tùng, ta
sẽ gặp Hòn Ngọc, rồi Huệ Quang Kim Tháp. Đây là khu mộ
tháp gồm tháp Tổ thờ ngài Điều Ngự Giác Hoàng (Trần
Nhân Tông) làm bằng đá cao 10m có 6 tầng; phía ngoài tường
gạch quây quần 44 ngôi tháp, là nơi tôn trí hài cốt của
các vị sư tu hành ở đây.
Nằm trên lưng chừng núi
ở độ cao 516m, chùa Hoa Yên là ngôi chùa to nhất và đẹp
nhất nên còn gọi là chùa Cả. Chùa này vốn được dựng
từ đời Lý, tên là Phù Vân; tới đời Trần đổi
tên là Vân Yên: vào đời Lê, vua Lê Thánh Tông ngự
du thăm chùa, thấy hoa cỏ xanh tươi, mới đặt tên là
Hoa Yên.
Con đường quanh co dẫn
lên đỉnh núi nối liền chùa Hoa Yên với chùa Một Mái,
chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu và chùa Thiên Trúc tức
chùa Đồng (độ cao 1068m). Chùa Đồng trước đây đã bị
hư hại, nay đã được sửa sang lại. Ở đây, còn một
bia đá cao 3m, mặt trước khắc ba chữ "Thiên Trúc Tự",
mặt sau khắc chữ "Phật".
Không gian quanh chùa Hoa Yên
gây ấn tượng sâu sắc trước hết ở những cây đại già và những hàng tùng sống
qua 5-7 thế kỷ nay. Hình ảnh bóng trăng lồng vào những cành cây cổ thụ đã
hơn một lần đi vào thơ Huyền Quang:
Hơi
đêm phả lạnh bức rèm lan
Xào
xạc cây sân thu đã sang
Quên
đến trúc đường hương lựu tắt
Cành
thông ngời khắp lưới trăng đan
(Ngô
Linh Ngọc dịch)
Còn Nguyễn Trãi khi đến thăm chùa thì lại bắt gặp cái
thời khắc giao tiếp giữa bóng đêm vừa tan và ánh ngày đã ló rạng:
Trên
non Yên Tử chòm cao nhất
Trời
mới canh năm đã sáng tinh
Vũ
trụ mắt đưa ngoài biển cả
Nói
cười người ở giữa mây xanh
Muôn
hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao
dải tua châu đá rũ mành
Dấu
cũ Nhân Tông vẫn còn đấy.
Mặt
rồng thấy giữa ánh quang minh
(Đề
chùa Hoa Yên núi Yên Tử)
Vâng, dấu cũ Nhân Tông
vẫn còn đó! Còn nơi chùa Thiền Định, chỗ vua Trần xưa
đọc kinh niệm Phật. Còn nơi chùa Một Mái, chỗ vua Trần
đọc sách nghiên cứu đạo Thiền.
Chùa Hoa Yên cùng với
toàn bộ hệ thống chùa Yên Tử nằm hài hòa giữa thiên
nhiên hùng vĩ là một dẫn chứng rõ nét về sự dung hợp
hai quan niệm đạo và đời của dân tộc ta.
Chùa
KEO ▲
(THẦN
QUANG TỰ)
Hằng năm vào ngày mùng
bốn tháng giêng âm lịch, nhân dân làng Keo xã Duy Nhất,
huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lại mở hội xuân ngay ở
ngôi chùa mang tên làng.
Hơn chín tháng sau, vào
các ngày 13, 14, 15 tháng 9 âm lịch, chùa Keo lại mở hội
mùa thu. Đây là hội chính, kỷ niệm 100 ngày Thiền sư
Không Lộ (1016 - 1094), người sáng lập ngôi chùa, qua
đời (Ngài qua đời ngày 3 tháng 6 âm lịch). Trong ngày
hội, người ta tổ chức lễ rước kiệu, hương án, long
đình, thuyền rồng và tiểu đỉnh. Trên con sông Trà Linh
ngang trước chùa chảy ra sông Hồng, người đi hội đổ
về xem cuộc thi bơi trải, thi kèn trống, thi bơi thuyền và
biểu diễn các điệu múa cổ. Trong chùa thì có cuộc thi
diễn xướng về đề tài lục cúng: hương, đăng, hoa, trà,
quả, thực, thật sinh động.
Dù
cho cha đánh mẹ treo,
Em
không bỏ hội chùa Keo hôm rằm.
Nếu có dịp về thăm chùa
Keo, thì du khách hãy đến vào hội mùa thu. Từ thành phố
Nam Định, qua phà Tân Đệ, rẽ phải, theo đê sông Hồng
đi khoảng 10km là đến chùa. Nằm ở chân đê sông Hồng
giữa vùng đồng bằng không một bóng núi non, chùa Keo với
gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn
được vun bón bởi phù sa sông Hồng do nước sông Trà
Linh bồi đắp.
Chùa Keo có tên chữ là
Thần Quang Tự, được xây dựng từ năm 1630 đến năm
1632 theo phong cách kiến trúc thời Lê, nhờ sự vận động
của bà Lại Thị Ngọc, vợ Tuần Thọ Hầu Hoàng Nhân Dũng
và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ.
Nhưng lịch sử của ngôi
chùa thì có bề dày đến hơn 9 thế kỷ. Theo sách Không
Lộ Thiền Sư ký ngữ lục, năm 1061, Không Lộ dựng chùa
Nghiêm Quang tại làng Giao Thủy (tên nôm là làng Keo) bên
hữu ngạn sông Hồng. Sau khi Thiền sư Không Lộ qua đời,
chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự. Theo
thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa và
đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi cả làng
mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải bỏ quê cha đất
tổ ra đi: một nửa dời về Đông Nam hữu ngạn sông Hồng,
về sau dựng nên chùa Keo - Hành Thiện (nay thuộc tỉnh Nam
Hà); một nửa vượt sông đến định cư ở phía Đông
Bắc tả ngạn sông Hồng, về sau dựng nên chùa Keo - Thái
Bình này.
Văn bia và địa bạ chùa
Keo còn ghi lại diện tích toàn khu kiến trúc chùa rộng đến
58.000 m2. Hiện nay toàn bộ kiến trúc chùa còn lại
17 ông trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu "Nội công
ngoại quốc". Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp
cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ
đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa
chạm rồng chầu thế kỷ XVI. Sau đó là chùa thờ Phật,
gồm 3 ngôi nhà nối vào nhau. Trong cùng là tòa gác chuông,
nhà tổ và khu tăng xá.
Gác chuông chùa Keo là
một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo, tiêu biểu
cho kiến trúc cổ Việt Nam thời Hậu Lê. Được dựng
trên một nền gạch xây vuông vắn, gác chuông cao 11,04m
gồm 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên
nhau. Bộ khung gác chuông làm bằng gỗ liên kết với nhau
bằng mộng ngậm, nâng bổng 12 mái ngói với 12 đao loan uốn
cong dáng vẻ thanh thoát, nhẹ nhàng. Tầng trên treo khánh
đá 1,20m và chuông đồng cao 1,30m, đường kính 1m đúc vào
đời Lê Hy Tông (1686); hai tầng trên treo chuông nhỏ cao
0,62m, đường kính 0,69m đúc vào năm1796.
Đứng soi mình xuống hồ nước
phẳng lặng giữa một không gian thoáng đãng, chùa Keo không chỉ lưu giữ
nhiều di vật quý giá mà còn chứa đựng những điều huyền bí gắn liền với
cuộc đời Thiền sư Không Lộ. Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản
hành thiền uyển ngữ lục tập yếu, Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra
trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Sau đây
là một bài thơ Thiền của Không Lộ có đề tài ngư nhàn:
Vạn
lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất
thôn tang giá, nhất thôn yên
Ngư
ông thụy trước vô nhân hoán
Quá
ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền
Nghĩa là:
Bát
ngát sông xanh, bát ngát trời
Một
thôn mây khói, một dâu gai
Ông
chài ngủ tít không người gọi
Tỉnh
dậy thuyền trưa ngập tuyết rơi.
(Ngọc
Liễn dịch)
Tương truyền rằng từ
khi đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay lên
không, đi trên mặt nước và thuần phục được rắn, hổ.
Truyền thuyết còn kể rằng trước khi viên tịch, Ngài hóa
thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ
biến thành tượng, Thánh tượng này nay còn lưu giữ
trong hậu cung quanh năm khóa kín cửa.
Cứ 12 năm một lần, làng
Keo lại cử ra một người hội chủ và bốn viên chấp sự
để làm lễ trang hoàng tượng Thánh. Những người này
phải ăn chay, mặc quần áo mới, họ rước Thánh tượng
từ cấm cung ra rồi dùng nước dừa pha tinh bưởi để
tắm và tô son lại cho tượng Thánh. Công việc này phải
làm theo một nghi thức được qui định rất nghiêm ngặt,
những người chấp sự phải tuyệt đối giữ kín những
gì đã thấy trong khi trang hoàng tượng Thánh.
Đến thăm chùa, khách
có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền
là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt
bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc lóng lánh như dát
vàng mà người ta kể lại rằng chính do Không Lộ nhặt
được thuở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén
uống nước trong những năm tháng tu hành.
Chùa THIÊN MỤ ▲
(LINH
MỤ TỰ)
Câu ca dao từ bao đời
đã để lại trong lòng người dân Huế và du khách đến
Huế hình ảnh một cảnh chùa thơ mộng.
Chùa tọa lạc trên đồi
Hà Khê, thuộc xã Hương Long, thành phố Huế.
Trong Ô Châu cận lục
viết đời Mạc, đã thấy ghi chép chùa Linh Mụ được
Chúa Nguyễn Hoàng cho tái thiết vào đầu thế kỷ XVII.
Theo truyền thuyết, năm Tân Sửu (1601), Đoan Quốc Công
Nguyễn Hoàng nhân đi du ngoạn núi non sông biển, khi đặt
chân đến đây, thấy phong cảnh tuyệt đẹp, địa thế thật
tốt. Vua nghe kể có người trông thấy một bà già đầu
tóc bạc phơ, mặc áo đỏ quần xanh ngồi chơi ở đỉnh gò
mà nói: "Rồi đây sẽ có chân Chúa đến dựng lại
chùa ở nơi này để tụ linh khí mà làm bền cho long mạch".
Nói xong, người đàn bà biến mất. Từ đó, dân chúng
gọi tên núi là Thiên Mụ sơn, và Chúa Nguyễn Hoàng cho
dựng lại chùa, viết biển đề "Thiên Mụ Tự" (đến
đời vua Tự Đức, chùa được đổi tên là Linh Mụ Tự).
Ban đầu chùa còn đơn sơ,
chưa có những công trình kiến trúc và mỹ thuật nổi
tiếng. Năm 1665, Chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa,
qui mô kiến trúc còn nhỏ.
Năm 1695, Thiền sư Thạch
Liêm tức Thích Đại Sán, người Chiết Tây, Trung Quốc,
thuộc phái Tào Động, được Chúa Nguyễn mời sang Việt
Nam lập đại giới đàn. Ngài là một danh nhân đời nhà
Thanh, đã được Chúa Nguyễn Phúc Chu mời làm trụ trì
chùa Thiên Mụ. Tháng 7 năm 1696, trước khi trở về Trung
Quốc, Ngài đã truyền giới Bồ-tát cho Chúa Nguyễn Phúc
Chu, ban đạo hiệu là Thiên Túng Đạo nhân, nối pháp
đời thứ 30 Tào Động chánh tông. Từ chùa Thiên Mụ
và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài có công truyền bá Thiền
phái Tào Động ở đàng Trong.
Năm 1710, Chúa Nguyễn Phúc
Chu cho đúc quả đại hồng chung nặng 3285 cân, là một tác
phẩm mỹ thuật quí giá. Tiếng chuông chùa từ đấy đã
an nhiên trong lòng người dân xứ Huế, đã đi vào thơ
ca.
Thiên
Mụ chung thanh
Cao
cương cổ sát trấn tiền xuyên
Nguyệt
tướng thường viên tự tại thiên.
Bách
bát hồng thanh tiêu bách kết
Tam
thiên thế giới tỉnh tam duyên.
Tăng
hoằng ngọ nhật u minh cảm
Liêu
lượng dần tiêu đạo vị huyền
Phật
tích Thánh công thùy hải vũ
Thiện
nhân tăng quả phổ cai diên.
(Thiệu
Trị ngự đề)
Nghĩa là:
Tiếng
chuông chùa Thiên Mụ
Gò
cao chùa cổ bên sông,
An
nhiên nguyệt tướng mặt vòng tròn gương.
Niệm
tan phiền não sầu thương,
Ba
ngàn thế giới tỉnh đường ba sinh.
Chuông
rền cảm giới u minh,
Ban
mai tiếng tụng hiển linh đạo huyền.
Thánh
công Phật tích lưu truyền,
Nhân
lành quả tốt khắp miền nước non.
(Nguyễn
Quảng Tuân dịch)
Năm 1714, Chúa Nguyễn Phúc
Chu lại tiếp tục cho xây dựng thêm nhiều công trình huy
hoàng, tráng lệ. Đó là lần trùng tu qui mô nhất gồm:
cổng tam quan, điện Thiên vương, điện Ngọc Hoàng, điện
Thập Vương, nhà thuyết pháp, lầu Tàng kinh, lầu chuông,
lầu trống, nhà Vân Thủy, nhà thiền, điện Đại Bi, điện
Dược sư, tăng phòng? Chúa lại cho mở an cư kiết hạ
trong vườn Tỳ Da suốt 3 tháng, và cho người sang Trung Quốc
thỉnh Tam Tạng kinh Luật, Luận Đại thừa hơn một ngàn bộ
đem về lưu giữ tại chùa.
Vào đầu thế kỷ XIX, các
vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng đã cho trùng tu, sửa
sang chùa. Giữa là điện Đại Hùng, phía sau là điện
Di-lặc, điện Quan Âm và Tàng Kinh. Hai bên là điện Đại
Hùng và điện Thập Vương.
Đến năm 1844, vua Thiệu
Trị cho dựng tháp Từ Nhân (về sau đổi tên là tháp Phước
Duyên), bảy tầng, cao 21m, bằng gạch, mỗi tầng thờ một
pho tượng Phật. Đã 150 năm qua, tháp Phước Duyên ngày
ngày soi bóng xuống dòng sông Hương , gây nhiều cảm xúc
khó tả cho biết bao du khách đến với cố đô. Trước
tháp, vua cho dựng đình Hương Nguyện ba gian, sườn bằng
gỗ chạm khắc tinh xảo. Hai bên, dựng hai nhà bia ghi kiến
trúc tháp Phước Duyên, đình Hương Nguyên và nhiều bài
thơ của vua Thiệu Trị.
Qua đầu thế kỷ XX, chùa
bị hư hỏng nặng do cơn bão năm Giáp Thìn (1904). Vua Thành
Thái đã cho trùng tu chùa vào năm 1907 và cho đến ngày
nay, qua công lao của Hòa thượng Thích Đôn Hậu cùng nhiều
Tăng, Ni, Phật tử, du khách xa gần, ngồi chùa cổ Thiên
Mụ được xây dựng lại, tuy không còn qui mô to lớn
như trước, nhưng vẫn trang nghiêm, hùng tráng.
Du khách đến thăm chùa,
sau khi bước lên 15 bậc tam cấp ở cổng tam quan sẽ gặp
nền đá của đình Hương Nguyện xưa kia và tháp Phước
Duyên. Hai bên đình Hương Nguyện cũ có hai nhà bia, và
hai bên tháp Phước Duyên có một nhà bia và một nhà
chuông thời Chúa Nguyễn Phúc Chu. Sau lưng tháp là một
tấm bia nhỏ.
Sau khi tham quan các công
trình có tính chất lưu niệm ở khu vực phía ngoài, du khách
vào phía trong cửa Nghi Môn cũng được bao quanh bằng khuôn
tường xây đá. Ở đây có các điện Đại Hùng, điện
Địa Tạng, điện Quan Âm, nhà trai, nhà khách, vườn hoa.
Sau cùng là tháp mộ Hòa thượng Thích Đôn Hậu nằm giữa
vườn thông.
Điện Đại Hùng ở chùa
Thiên Mụ được bài trí đơn giản. Tượng đức Phật
Di-lặc được tôn trí ở tiền điện, hai bên có chuông
và khánh đá. Ở căn giữa, trong án thờ được chạm
khắc công phu và sơn son thếp vàng lộng lẫy là tượng
Tam Thân (Pháp thân, Ứng thân, Hóa thân), phía trước
là tượng đức Phật Thích-ca. Ngoài cùng là bàn chuông,
mõ. Gian hai bên thờ Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền.
Du khách đến chùa không
quên đến bên trái tháp Phước Duyên, xem bài minh ở
tấm bia được dựng vào năm 1715, thời Chúa Nguyễn Phúc
Chu, ca ngợi ngôi danh lam cổ tự bậc nhất này.
Phía Nam nước Việt chừ, núi sông đẹp đẽ,
Ngôi
chùa hùng tráng chừ, cửa Thiền nắng chiếu,
Tánh
vốn trong sạch chừ, nước chảy róc rách,
Đất
nước an ổn chừ, bốn cảnh thanh nhàn.
Chùa
BÁO QUỐC ▲
(SẮC
TỨ BÁO QUỐC TỰ)
Dừng
chân ở giếng Hàm Long để tận hưởng những giây phút
mát mẻ nhờ những gàu nước trong trẻo được kéo lên
ở độ sâu hơn 4m, du khách sẽ thanh thản khi bước lên
những bậc cấp vào chùa Báo Quốc trên đồi Hàm Long.
Tọa lạc ở đường Báo
Quốc, thuộc phường Phường Đúc, thành phố Huế, chùa
Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự,
do Thiền sư Giác Phong dựng vào cuối thế kỷ XVII, đời
Chúa Nguyễn Phúc Tần. Đến năm 1747, Chúa Nguyễn Phúc
Khoát ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Báo Quốc Tự"
có ghi dòng chữ: "Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự
đề".
Vào thời Nguyễn, chùa
đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1808, Hoàng Hậu Hiếu
Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng
chung, bảo khánh? và đổi tên là chùa Thiên Thọ. Thiền
sư Phổ Tịnh được cử làm trụ trì trong thời gian này.
Năm 1824, vua Minh Mạng ngự
thăm chùa và sắc lấy tên "Báo Quốc Tự". Nhà
vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ Vạn
thọ tứ tuần đại khánh vào năm 1830.
Đến năm 1858, do chùa bị
hư hỏng nhiều, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ
đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình
khác. Chùa đã được liên tục trùng tu, mở rộng đến
cuối thế kỷ XIX.
Trong phong trào chấn hưng
Phật giáo vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng
góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935,
trường Sơ đẳng Phật giáo được mở tại chùa. Đến
năm 1940, trường Cao đẳng Phật giáo cũng lại được mở
tại đây. Chùa trở thành một trung tâm đào tạo Tăng
Ni cho đến ngày nay.
Năm 1957, Giáo hội Tăng
già Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại
trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là
Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã
có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và
cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với những
nét kiến trúc cổ kính nói riêng.
Chùa được xây dựng
kiểu chữ "Khẩu" trong khuôn viên rộng khoảng 2
ha. Qua cổng tam quan cổ kính, đồ sộ, du khách đi qua một
sân rộng, đến sân trong trồng nhiều cây tùng và các
cây cảnh khác, có lan can bao bọc. Phía trái là khu tháp
Tổ, cổ nhất là tháp Ngài Giác Phong, xây năm 1714, cao
3,30m. Ở tiền điện có 4 trụ đắp rồng nổi, ở thành
bậc tam cấp cũng có đôi rồng, hai vách trang trí hoa văn
bằng mảnh sành rất công phu.
Điện Phật được bài
trí tôn nghiêm. Các tượng thờ đều đặt trong khung kính.
Án thờ cao nhất ở gian giữa là tượng Phật Tam Thân
và hai bộ kinh tạng Đại Thừa. Trước tượng Tam Thân
là bảo tháp thờ xá-lợi Phật. Án thờ kế là tượng
đức Phật Thích-ca, hai bên là tượng A-nan và Ca-diếp. Án
ngoài cùng đặt một bộ kinh Pháp Hoa, hai bên là chuông,
mõ. Án hai bên thờ đức Phật Dược Sư và Bồ-tát
Quan Âm. Đây là cách thờ tự đã được sửa đổi từ
khi Hòa thượng Phước Hậu được phong Tăng cang và trụ
trì chùa Báo Quốc vào năm 1939. Còn trước phong trào
Chấn hưng Phật giáo, chùa Báo Quốc cũng như đa số các
chùa cổ ở Huế đều chịu ảnh hưởng thuyết "Tam giáo
đồng nguyên".
Từ năm 1959, trong khuôn
viên của chùa, trường tiểu học Hàm Long được thành
lập do thầy Thiên Ân làm Hiệu trưởng. Đến năm học
1961 -1962, trường mở thêm bậc trung học do thầy Thân Trọng
Hy làm Hiệu trưởng. Kế tiếp Hiệu trưởng là các thầy
Trương Như Thung, Thích Phước Hải, Thích Thiện Hạnh, Thích
Đức Thanh, Thích Hải Ấn. Ban đầu trường có tên là Trường
trung tiểu học tư thục Hàm Long, sau đổi tên là Trường
Bồ Đề Hàm Long, hoạt động đến năm 1975.
Ngày nay, tên trường Hàm
Long chỉ là một kỷ niệm ngọt ngào như nước giếng Hàm
Long, nhưng đóng góp của chùa Báo Quốc về mặt giáo dục
thật đáng ghi nhận.
Chùa
QUỐC ÂN ▲
(SẮC
TỨ QUỐC ÂN TỰ)
Bối điệp phiêu vân, lục thời thiền tụng kỳ phong nẫm;
Ca
sa thấp vũ, nhất vị thanh cơ kiến đạo xương
(Mây
phất phơ trên kinh lá bối, sáu thời thiền tụng, cầu
hoa lợi phong đăng.
Mưa
thấm khắp nếp áo cà-sa, nhất vị thanh tu, gây cơ duyên
phát đạt)
Bát bảo xán kim lương, biểu nhật lâm quan, tiện hữu nhân hữu cảnh;
Ngũ
vân sinh ngọc đống, xuân quan triển tọa, hỷ bất túc bất
ly.
(Đồ
bát bảo rực rỡ rường vàng, vừng nhật chiếu đến
thiền quang,
mến
được có người có cảnh.
Mây
ngũ sắc chói ngời cột ngọc, ánh xuân dồn về bảo tọa,
vui
thay không mất, không xa)
Đó
là nội dung ca ngợi ngôi chùa Quốc Ân và vị Thiền sư
khai sáng được khắc trên hai cặp liễn đối treo ở ngôi
chánh điện do Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu ban.
Chùa
Quốc Ân tọa lạc ở lưng chừng một quả đồi thấp thuộc
phường Trường An, thành phố Huế. Du khách qua cầu Phú
Cam ở đường Nguyễn Trường Tộ, đi khoảng 2km thì đến
chùa.
Chùa
Quốc Ân do Thiền sư Nguyên Thiều khai sáng khoảng năm
1682 - 1685, đời vua Lê Huy Tông, lúc đầu mang tên chùa Vĩnh
Ân.
Thiền
sư Nguyên Thiều hay Thọ Tôn, húy là Siêu Bạch, hiệu là
Hoán Bích (1648 - 1728), thọ giới với Hòa Thượng Khoáng
Viên ở Quảng Đông. Năm 1677 Ngài theo thuyền buôn sang
Việt Nam, lập chùa Thập Tháp Di-đà ở Bình Định. Sau khi
khai sơn chùa này, Thiền sư Nguyên Thiều đi khắp nơi truyền
đạo, ra Huế dựng chùa Hà Trung ở Vinh Hà (Phú Vang) rồi
lên khu vực núi Ngự Bình dựng chùa Vĩnh Ân. Đến năm
1689, Chúa Nguyễn Phúc Trân đã đổi tên chùa Vĩnh Ân
là Quốc Ân, ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Quốc Ân
Tự" và chuẩn phê miễn thuế ruộng đất cho chùa.
Chùa Quốc Ân là ngôi Tổ đình nổi tiếng của miền Trung. Thiền sư Nguyên
Thiều là vị Tổ đời 33 Thiền phái Lâm Tế. Ngài đem vào Việt Nam hai dòng
kệ:
Tổ
đạo giới định tông
Phương
quảng chứng viên thông
Hạnh
siêu minh thiệt tế
Liễu
đạt ngộ chơn không
Như
nhật quang thường chiếu
Phổ
châu lợi ích đồng
Tín
hương sanh phước huệ
Tương
kế chấn từ phong
Và:
Đạo
bổn nguyên thành Phật Tổ Tiên
Minh
như hồng nhật lệ trung thiên
Linh
nguyên quảng nhuận từ phong phổ
Kế
thế chân đăng vạn cổ huyền
Theo
qui định, cứ mỗi đời lấy một chữ đặt pháp danh cho
đệ tử. Ngày nay đa số Phật tử ở miền Trung và miền
Nam đều bắt nguồn từ hai dòng kệ này.
Thiền sư Nguyên Thiều viên tịch trong khi trụ trì tại chùa Hà Trung. Ngài
để lại cho đệ tử bài kệ sau đây:
Tịch
tịch cảnh vô ảnh,
Minh
minh châu bất dung.
Đường
đường vật phi vật,
Liê
liêu không vật không.
Nghĩa là:
Lặng
lẽ gương không chiếu bóng
Sáng
trưng ngọc chẳng thâu hình
Rõ
ràng Vật không phải Vật
Mênh
mông Không chẳng là Không.
(Trích
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật
giáo sử luận, tập 2, tr.189)
Sau
khi Thiền sư Nguyên Thiều mất, Chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc
Chu đã truy tặng Ngài thụy hiệu Hạnh Đoan Thiền sư.
Vào
thời Nguyễn, chùa Quốc Ân được trùng tu nhiều lần.
Năm 1805, bà Long Thành (chị ruột vua Gia Long) đã cúng dường
tiền bạc để trùng tu chùa. Nhưng lúc bấy giờ đây cũng
chỉ là một ngôi chùa tranh tre đơn giản. Năm 1822, Hòa thượng
Hoằng (Tăng cang chùa Linh Mụ) được vua Minh Mạng giao nhiệm
vụ trùng tu chùa Quốc Ân. Năm1825, Hòa thượng viên tịch,
tháp mộ được xây dựng trong vườn chùa. Năm 1837 và
năm 1842, chùa lại được tiếp tục trùng tu. Từ năm
1846 đến năm 1863, vị Hòa thượng kế nghiệp cho xây cổng
tam quan, hai miếu thờ Ngũ hành và Thiên Y A Na.
Chùa
kiến trúc theo dạng chữ "Khẩu". Phía trước là
tiền đường và chánh điện, phía sau là nhà Tổ, hai bên
là phương trượng và tăng xá.
Chùa
Quốc Ân còn bảo lưu mô hình thờ tự truyền thống. Án
giữa thờ tượng Tam Thân, tiếp theo là tượng Bổn sư,
Thích-ca đản sinh, Quan Âm Chuẩn Đề. Án tả thờ Quan Công,
Châu Xương và Quan Bình. Án hữu thờ Bồ-đề Đạt-ma.
Hai bên tả hữu thờ Thiện Hữu, Ác Hữu và Thập điện
Minh Vương.
Trong
chùa có nhiều hoành phi và câu đối với nét bút điêu
luyện, chạm trổ tinh xảo.
Ở
sân trước chùa có dựng tấm bia khắc bài minh của Chúa
Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu vào năm 1729, ca ngợi đạo
đức của Thiền sư Nguyên Thiều:
Ưu
ưu bát nhã
Đường
đường phạm thất
Thủy
nguyệt ưu du
Giới
trì chiến lật
Trạm
tịch cô kiên
Trác
lập khả tất
Thị
thân bản không
Hoằng
giáo lợi vật
Biến
phú từ vân
Phổ
chiếu huệ nhật
Chiêm
chi, nghiêm chi
Tháo
sơn ngật ngật.
Tạm dịch:
Bát
nhã cao vời
Cửa
Thiền tỏ rõ
Ung
dung trăng nước
Ngiêm
trì giới luật
Sáng
lặng riêng vững
Đứng
thẳng đã chắc
Quán
thân vốn không
Hoằng
pháp lợi vật
Mây
lành che khắp
Trí
tuệ sáng soi
Nhìn
ngài kính Ngài
Núi
Thái cao ngất
(Theo
Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê Văn Sách. Danh
lam xứ Huế, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1993, tr.163)
Chùa TỪ ĐÀM▲
Quê
hương tôi miền Trung
Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung?
Ôi, uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm
Nơi yêu thương phát nguồn Đạo Vàng?
Tiếng nhạc nhẹ nhàng của
bài hát Từ Đàm quê hương tôi của Nguyên Thông nhắc
nhở biết bao du khách đã từng đến thăm Huế không bao
giờ quên những phút thư thái, tĩnh lặng của tâm hồn
ở ngôi chùa cổ danh tiếng này.
Chùa Từ Đàm tọa lạc
ở đường Từ Đàm, thuộc phường Trường An, thành
phố Huế.
Chùa do Thiền sư Minh Hoằng
- Tử Dung (đời thứ 34 dòng Lâm Tế) khai sơn vào cuối
thế kỷ XVII, đời vua Lê Hy Tông, trên đồi Long Sơn.
Nguyên chùa có tên là
chùa Ấn Tôn. Vào đầu thế kỷ XVIII, năm 1703, Chúa Nguyễn
Phúc Chu đã ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Ấn Tôn
Tự". Đến năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), chùa
được đổi tên là Từ Đàm để tránh tên húy của
vua.
Hơn 150 năm qua, chùa Từ
Đàm đã gắn bó thiết thân với đời sống tinh thần
người dân xứ Huế nói riêng, với Phật tử miền
Trung nói chung.
Nơi yêu thương phát nguồn
Đạo Vàng,
Qua bao giông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn?
Chùa đã được các vị
trụ trì tiền bối cho trùng tu sửa chữa nhiều lần, đó
là Hòa thượng Thiệt Vinh, Đại sư Tế Ngữ kế tục Ngài
Minh Hoằng - Tử Dung. Đến thế kỷ XIX, Hòa thượng Đạo
Trung và Đại sư Từ Vân đã tổ chức trùng kiến ngôi
chùa, đúc đại hồng chung. Sang nửa thế kỷ XX. Sư bà
Diệu Không đã có thời gian trùng tu, lập chùa sư nữ
năm 1932. Sau một thời gian, Hội Phật học Trung Việt đặt
trụ sở ở chùa, đã tổ chức xây ngôi chánh điện mới
theo kiểu "chùa hội".
Năm 1939, bà Karpelès, Tổng
thư ký Viện Phật học Phnom-Pênh (Campuchia) đã thỉnh một
cây bồ-đề được chiết cành từ cây bồ-đề nơi
đức Phật Thích-ca thành đạo ở Ấn Độ tặng cho chùa,
đem trồng ở sân trước.
Hơn nửa thế kỷ trôi
qua, cây bồ-đề đã tạo bóng uy nghiêm cho ngôi chùa và
che mát cho hàng triệu người Phật tử, khách tham quan.
Ôi uy nghiêm bóng chùa
Từ Đàm,
Nơi Bắc Nam nối liền một nhà?
Vào năm 1951, chùa là nơi
họp 51 đại biểu Phật giáo toàn quốc chuẩn bị thống nhất
Giáo hội Phật giáo. Tại đại hội này, Hòa thượng Thích
Tịnh Khiết được suy tôn làm Hội chủ. Và cũng trong đại
hội này, lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên đã
được treo ở chùa.
Đến năm 1961, chùa
được Hòa thượng Thích Thiện Siêu cùng với Hội Phật
học tổ chức xây dựng các cơ sở phụ của chùa. Đây
là ngôi chùa với những công trình kiến trúc hiện đại
nhưng vẫn giữ đường nét truyền thống, theo kiểu kiến
trúc "chùa hội" mẫu mực.
Quê
hương tôi là đây,
Sớm
hôm hương trầm nhẹ bay,
Vấn vương lời kinh chiều nay vơi đầy?
Ôi, thân yêu bóng chùa Từ Đàm, Từ Đàm ơi!
Lời ca vang trong tận đáy
lòng của những ai còn lưu giữ những kỷ niệm về mái
chùa thân yêu này.
Chùa
THUYỀN TÔN ▲
(THIÊN
THAI THUYỀN TÔN TỰ)
Đàm hoa lạc khứ hữu dư
hương
Hương thơm của hoa ưu đàm mãi
mãi thơm ngát như đạo đức của Thiền sư Liễu Quán tỏa sáng
muôn đời.
Ngài Liễu Quán húy Thiệt Diệu, quê ở
Sông Cầu (Phú Yên) ra Thuận Hóa vào cuối thế kỷ XVII. Thiền sư khai sơn chùa
Thuyền Tôn vào khoảng năm 1708, lúc bấy giờ chỉ là một am tranh, nơi xây ngôi
bảo tháp của ngài hiện nay, và ở cổng tháp đã khắc ghi câu trên. Thiền sư đã
biệt xuất một bài kệ truyền cho các đời kế tiếp đặt pháp danh:
Thiệt
tế đại đạo, tánh hải thanh trừng
Tâm
nguyên quảng nhuận, đức bổn từ phong
Giới
định phước huệ, thể dụng viên thông
Vĩnh
siêu trí quả, mật khế thành công
Truyền
trì diệu lý, diễn xướng chánh tông
Hạnh
giải tương ưng, đạt ngộ chơn không.
Nghĩa là:
Đường
lớn thực tại, biến thế tính trong,
Nguồn
tâm thấm khắp, gốc đức vun trồng,
Giới
định cùng tuệ, thể dụng viên thông,
Quả
trí siêu việt, biểu thấu nên công,
Truyền
giữ lý mầu, tuyên dương chính tông,
Hành
giải song song, đạt ngộ chân không.
(Nguyễn
Lang dịch)
Chùa Thuyền Tôn hiện nay tọa
lạc ở thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, thành phố Huế. Chùa
được dựng bên trái núi Thiên Thai, nên còn có tên là
Thiên Thai Thuyền Tôn Tự.
Vào khoảng giữa thế kỷ
XVIII, Chưởng Thái giám Mai Văn Hoan đã vận động tiền của
để xây dựng ngôi chùa quy mô, cách thảo am khoảng 1km. Đại
hồng chung được đúc vào thời kỳ này, có khắc niên hiệu
Cảnh Hưng thứ 8 (1747). Chùa đã được bà Lê Thị Tạ phát
tâm trùng tu vào năm 1808.
Các vị kế tục trụ trì chùa
trong buổi đầu là Tế Hiệp, Tế Mẫn. Sau đó là các vị Đại
Huệ, Đại Nghĩa, Đạo Tâm. Theo dòng kệ truyền thừa, kế tiếp
là các vị Đạo Tại, Tánh Thiện, Hải Nhuận, Thanh Liêm, Thanh
Đức.
Đến năm 1937, Hòa thượng
Trừng Thủy - Giác Nhiên đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa.
Hòa thượng đã có nhiều công lao trong công cuộc chấn hưng
Phật giáo ở nửa đầu thế kỷ XX. Từ năm 1973, Hòa thượng
đã đảm nhận trọng trách Tăng Thống Giáo Hội Phật giáo
Việt Nam Thống Nhất đến năm 1979 thì viên tịch, thọ 102 tuổi.
Chùa Thuyền Tôn bảo lưu
được đường nét kiến trúc cổ và hệ thống thờ tự
truyền thống. Ở chánh điện, án giữa thờ Phật Tam Thân,
phía trước là tượng đức Phật Thích-ca. Tiền án thờ tượng
Bồ-tát Chuẩn Đề hai bên là ảnh vẽ Bồ-tát Văn-thù và
Bồ-tát Phổ Hiền. Tiếp đến là bàn chuông, mõ. Án tả thờ
Bồ-tát Quan Âm, hai bên có ngài Xá Lợi Phất và ngài
Ca-diếp. Án hữu thờ Bồ-tát Địa Tạng. Ngoài ra còn có hai
án thờ Thập điện Minh Vương ở hai bên vách. Phía ngoài là
hai bàn thờ Hộ Pháp và Quan Thánh.
Từ tam quan đi vào mé phải
ngôi chùa, căn phòng của Hòa thượng Giác Nhiên ngày xưa
vẫn còn đó. Bức chân dung của Ngài đã gây sự cảm nhận
thanh thoát, gần gũi và niềm tin kính vô hạn. Từ cửa phòng
của Ngài, nhìn ra ngôi bảo tháp, cảnh quan ngôi chùa và ngọn
núi Thiên Thai, lòng khách lâng lâng khó tả.
Đến viếng chùa năm xưa, nhà thơ
Nguyễn Du cũng mang nỗi lòng đó:
?
Cổ tự thu mai hoàng diệp lý
Tiền
triều tăng lão bạch vân trung
Khả
liên bạch phát cung khu dịch
Bất
dữ thanh sơn tương thủy chung.
Nghĩa là:
Chùa
cổ lá vàng thu phủ kín
Triều
xưa mây trắng sãi già rồi
Thương
cho đầu bạc còn vướng lụy
Cùng
với non xanh trót phụ lời.
(Phan
Khắc Hoan và Lê Thước dịch)
Thật vậy, ngày nay du khách và Phật tử đến chùa, sẽ được tận
hưởng một cảnh quan đầy thiền vị:
Bảo
đạc trường minh, bất đoạn môn tiền lưu lục thủy,
Pháp
thân độc lộ, y nhiên tọa lý khán thanh sơn.
Nghĩa là:
Mõ
báu dài kêu, chẳng dứt trước cửa dòng biếc chảy
Pháp
thân lộ rõ, tự nhiên ngồi đó ngắm núi xanh.
(Trương
Ngọc Tường dịch)
Chùa LINH ỨNG▲
Từ trung tâm thành phố
Đà Nẵng, vượt qua cầu sông Hàn đi khoảng 8km trên một
quãng đồng bằng phẳng thuộc xã Hòa Hải, huyện Hòa
Vang, du khách sẽ thấy Ngũ Hành Sơn hiện ra ở ven biển
Đông. Thắng cảnh bậc nhất của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng
này gồm nhiều ngọn núi mọc lên giữa thiên nhiên kỳ
tú: Thủy Sơn ở phía Đông Bắc; Mộc Sơn ở phía Nam;
Kim Sơn, Thổ Sơn ở phía Tây và Dương Hỏa Sơn ở phía
Tây Nam. Nơi đây gió lộng quanh năm, bốn bề sông biển
bát ngát. Dân gian thường gọi chung Ngũ Hành Sơn là hòn
Non Nước.
Quê
em có dải sông Hàn
Có
hòn Non Nước, có hang Sơn Trà
Còn người châu Âu thì
đặt tên cho Ngũ Hành Sơn là núi "Cẩm Thạch"
(Montagnes de Marbre) vì ở dây có loại đá cẩm thạch rất
quý được dùng trong xây dựng cũng như sản xuất các
đồ mỹ nghệ tinh xảo.
Nằm trong khu thắng cảnh
Ngũ Hành Sơn này có hai ngôi chùa cổ danh tiếng là Tam
Thai và Linh Ứng. Cả hai ngôi chùa này đều được xây
ở lưng chừng núi Thủy Sơn trong vị trí hài hòa với cảnh
quan thiên nhiên chung quanh. Chùa Tam Thai ở sườn núi phía
Nam, phải đi lên 156 bậc đá mới đến nơi. Còn chùa
Linh Ứng nằm trên sườn núi phía Đông, đường đi lên
phải qua 108 bậc đá. Gần chùa Tam Thai có Vọng Giang đài
(Đài ngắm sông), từ đó nhìn thấy sông Hàn nước
xanh uốn khúc giữa làng xóm, ruộng đồng; xa xa là đèo
Hải Vân và dãy Trường Sơn trùng điệp ở phía Tây.
Cạnh chùa Linh Ứng lại có Vọng Hải đài (Đài ngắm
biển) nhìn về phía biển Đông bao la có cù lao Chàm mờ
mờ ẩn hiện.
Chùa Linh Ứng được xây
dựng vào khoảng thế kỷ XVI, tương truyền là do một vị
Tiên hiền khai sáng làng Khải Đông đến ẩn tu tại động
Tàng Chơn lập ra. Lúc đầu nơi đây gọi là Dưỡng Chơn
am, sau đổi thành Dưỡng Chơn đường. Đến đời Minh Mạng
trở thành ngôi chùa có tên Ứng Chơn Tự do Hòa thượng
Quang Chánh, hiệu là Bảo Đài trụ trì. Tên Linh Ứng Tự
ngày nay chính thức được đổi từ đời vua Thành Thái.
Hiện trong chùa Linh Ứng có bộ tượng Thập bát La-hán
rất quý được tạc công phu bằng đá Ngũ Hành Sơn theo
mẫu của chùa Phước Lâm ở thị xã Hội An. Tượng cao
0,34m, ngang gối 0,23m, đế 0,04m.
Từ động Tàng Chơn phía
sau chùa Linh Ứng có đường dẫn đến động Tam Thanh, động
Chiêm Thành và hang Gió. Gần đó là động Ngũ Cốc:
thạch nhũ nơi đây tượng hình những trái phật thủ, củ
khoai, bắp cải, hạt mè, hạt đậu. Dân gian còn gọi đây
là hang Lồng Đèn vì có nhiều thạch nhũ hình lồng đèn.
Trước cửa tam quan chùa Linh Ứng có giếng Tiên, trên
đường xuống núi du khách đi qua hang Âm Phủ thông ra biển
Đông.
Trải qua gần 4 thế kỷ
tồn tại, chùa Linh Ứng bị hư hại và đã được trùng
tu nhiều lần. Gần đây nhất, vào năm 1993, Thượng tọa
Thích Thiện Nguyên đã tổ chức trùng tu và xây dựng
thêm một số công trình phía trước như tượng đức Phật
Thích-ca cao 10m (phần tượng cao 7,50m), mười bức tranh minh
họa cuộc đời đức Phật Thích-ca và Quan Âm Phật đài
cao 5m.
Điều đáng tiếc là hiện
nay, do việc khai thác vật liệu xây dựng một cách vô ý
thức, cảnh quan Ngũ Hành Sơn đang bị tàn phá một cách
nghiêm trọng. Bảo vệ quần thể di tích này là một việc
làm cần thiết để cho mai hậu cảnh đẹp này không chỉ
là danh thắng được ghi lại trong những áng văn thơ mà
thôi.
Chùa CHÚC THÁNH ▲
Từ lâu Hội An đã
được biết đến như một trong những đô thị cổ hiếm
hoi trên thế giới còn giữ được nguyên vẹn những
đường nét kiến trúc của nó. Theo bản đồ thời Hồng
Đức (thế kỷ XV) thị xã này vốn tên là Đại Chiêm hải
- một cảng biển của Vương quốc Chămpa. Về sau nó đã
được ghi nhận trên tấm bản đồ Đại Việt của Giáo sĩ
Alexandre de Rhodes (Đác Lộ) được công bố năm 1653, như
một thị trấn ven biển của người Việt có tên gọi là
Hải Phố. Do cách phát âm của người phương Tây, Hải
Phố đã biến thành Faifo.
Đô thị cổ Hội An nằm
trên tả ngạn sông Thu Bồn cách thành phố Đà Nẵng 25km
về phía Đông Nam, cách biển Đông chỉ 5km. Từ Đà Nẵng,
ngoài đường số 1A, du khách có thể đến Hội An bằng
con đường nhỏ chạy ven theo bờ biển qua khu thắng cảnh
Ngũ Hành Sơn và xã Điện Ngọc.
Chúc Thánh Tự là một
trong hai mươi ngôi chùa và hội quán cổ của thị xã Hội
An. Nằm trên địa phận phường Cẩm Phô, chùa này đã
được công nhận là một di tích lịch sử văn hóa quốc
gia từ ngày 19-11-1991.
Theo sách Việt Nam Phật
giáo sử luận của Nguyễn Lang, chùa Chúc Thánh đã
được Thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo khai sơn vào thế kỷ
XVII. Vị Thiền sư này người tỉnh Phước Kiến, sang nước
ta vào thời Chúa Nguyễn Phúc Trân (1687 - 1691). Ông đã
tự giới đàn tại chùa Linh Mụ, sau đó vào Hội An dựng
chùa Chúc Thánh. Dần dần ngôi chùa này trở nên một
ngôi tổ đình lớn ở miền Trung và miền Nam.
Thiền sư Minh Hải có hai vị đệ
tử nổi tiếng là Chánh Hiền và An Triêm. Ông có để lại một bài kệ truyền
pháp như sau:
Minh
thiệt pháp toàn chương
Ấn
chân như thị đồng
Chúc
Thánh thọ thiên cửu
Kỳ
Quốc tộ địa trường
Đắc
chính luật vi tuyên
Tổ
đạo hạnh giải thông
Giác
hoa bồ đề thô
Sung
mãn nhân thiên trung.
Nghĩa là:
Hiểu
thấu pháp chân thực
Ấn
chân như hiện tiền
Cầu
Thánh quân tuổi thô
Chúc
đất nước vững bền
Giới
luật nêu trước tiên
Giải
và Hạnh nối liền
Hoa
nở cây giác ngộ
Hương
thơm lừng nhân thiên
(Nguyễn
Lang dịch)
Chùa Chúc Thánh đã
từng được trùng tu vào những năm 1845, 1849, 1892, 1894? Đằng sau cổng tam quan là một kiến trúc giản dị, khiêm
tốn, mái lợp ngói âm dương, trên đỉnh có đôi rồng
chầu mặt nguyệt . Một trong những bảo vật được lưu giữ
bên trong chùa là bộ tượng Thập bát La-hán bằng đất
nung đặt trên tòa sen, mỗi pho tượng cao 0,45m, bề ngang gối
0,28m, đế 0,16m.
Trong khuôn viên chùa có
tháp Tổ Minh Hải - Pháp Bảo. Chùa hiện nay do Hòa thượng
Thích Trí Nhãn trụ trì.
Chùa THIÊN ẤN ▲
Thiên Ấn niêm hà (Ấn
trời đóng trên sông) là thắng cảnh thứ nhất trong mười
cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi. Nằm bên tả ngạn sông
Trà Khúc, núi Thiên Ấn cùng với giòng sông trở thành
biểu tượng cho sự vĩnh hằng của vùng đất này, như
hai câu thơ của thi sĩ Bích Khê:
Ngàn
năm quả Ấn nằm trơ mốc,
Một
dải sông Trà chảy sậm xanh.
Từ chân cầu Trà Khúc
hai mươi nhịp, đi theo con đường về phía Cổ Lũy khoảng
2km, du khách sẽ gặp lối đi lên chùa Thiên Ấn trên núi.
Núi Thiên Ấn xưa kia có
tên là núi Hó, nay thuộc địa phận xã Tịnh Ấn, huyện Sơn
Tịnh. Núi cao khoảng 105m, đỉnh núi bằng phẳng, rộng độ
10 ha. Từ phương Đông nhìn lên thấy bốn phía núi đe?
có hình thang cân trông giống như cái ấn trên sông. ở
phía Nam, dưới chân núi có gò nhỏ gọi là hòn Triện.
phía Đông giáp núi Tam Thai, phía Bắc tiếp núi Lã Vọng.
phía Tây có núi Long Đầu. Xưa kia núi Thiên Ấn có nhiều
đá son dùng mài mực son chấm quyển chữ nho. Đường lên
núi nay không còn là lối mòn mà được mở rộng, tuy
chưa bằng phẳng, nhưng xe hơi có thể lên tới chùa
được.
Do vị trí địa lý của nó,
năm Minh Mạng thứ 11 (1830) hình núi Thiên Ấn được chạm
vào Di Đỉnh (một trong chín đỉnh đồng ở Huế được đúc
dưới triều vua Minh Mạng). Đến năm Tự Đức thứ ba
(1850), Thiên Ấn được liệt vào hàng danh thắng.
Chùa Thiên Ấn được Thiền sư
Pháp Hóa khai sơn năm 1694. Ông tên là Lê Diệt, người Phúc Kiến, hiệu là
Minh Hải - Phật Bảo, sinh năm 1670, viên tịch năm 1754, trụ trì tại chùa
này suốt 60 năm. Bên cạnh chùa có giếng sâu 21m, nước mát ngọt, cũng là
một công trình của Thiền sư Pháp Hóa. Núi cao, đá cứng, thiếu dụng cụ,
nhưng Ngài vẫn kiên trì đào giếng suốt bốn năm ròng. Một hôm có vị tăng
trẻ từ đâu không rõ phát nguyện cùng đào giếng với Thiền sư. Cùng làm việc
suốt ba tháng ròng, họ mới chuyển được một tảng đá lớn chắn ngang, từ đó,
mạch nước mới tuôn ra. Nhưng lúc giếng có nước cũng là lúc mà vị tăng trẻ
ra đi biệt tích. Câu chuyện này còn được truyền tụng qua câu ca dao:
Ông
thầy đào giếng trên non,
Đến
khi có nước không còn tăm hơi
Gắn liền với chùa Thiên
Ấn còn có sự tích quả đại hồng chung linh thiêng. Chuông
này vốn được dân làng Chí Tượng (nay là xã Đức
Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) đúc cho chùa làng
nhưng đánh không kêu. Vào năm 1845, Thiền sư Bảo Ấn, vị
Tổ sư thứ ba của chùa đang tham thiền, thì thấy một vị
Hộ Pháp tới bảo thỉnh quả chuông ấy về chùa. Xuất
định, Thiền sư Bảo Ấn nhờ sư Diên Tọa đến làng Chí
Tượng thỉnh chuông về. Trong ngày lễ khai chuông, sau khi
chú nguyện, Thiền sư Bảo Ấn đã gióng lên tiếng chuông
tròn ấm ngân vọng khắp vùng. Chuông này nay treo ở bên
trái chính điện của chùa.
Tổ đình "Thiên Ấn
Tự" được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch
"Sắc tứ Thiên Ấn Tự" năm 1716. Ngày nay bên cạnh
chùa, dưới bóng mát của tàn cây đa cổ thụ còn có
tháp của Thiền sư Pháp Hóa và 5 vị trụ trì kế tiếp là
Khánh Văn, Bảo Ấn, Giác Tịnh, Hoằng Phúc, Diệu Quang.
Ngoài ra, phía trước chùa,
trên núi, còn có mộ chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng được
nhân dân an táng tại đây năm 1947.
Cũng năm 1947, chùa Thiên
Ấn bị giặc Pháp ném bom sụp đổ. Sau năm 1954, Giáo hội
Tăng già tỉnh Quảng Ngãi được thành lập, đã phác họa
chương trình trùng kiến chùa Thiên Ấn. Dưới sự chỉ đạo
của hai thầy Huyền Tân và Hồng Ân, chùa được khởi
công xây dựng từ năm 1959 và khánh thành vào ngày mùng
8 tháng giêng năm Tân Sửu (1961).
Là một thắng tích của đất nước,
chùa Thiên Ấn đã trở thành đề tài ngâm vịnh của nhiều văn nhân thi sĩ. Bài
thơ nổi tiếng nhất viết về chùa là bài Vịnh Thiên Ấn niêm hà của Nguyễn Cư
Trinh (1716 - 1767):
Phong
cảnh nơi đây thật rất xinh
Niêm
hà có ấn của trời sinh
Xem
kia dấu tích còn vuông vức
Nhận
lại non sông rõ dạng hình
Cách
thức như in đồ Cổ Tự
Cỏ
cây nào phụ tiếng chuông linh
Châu
sa đổ dưới chân chờ mãi
Trấn
chỉ sau lưng núi Cẩm Thành.
Chùa
THẬP THÁP ▲
(THẬP
THÁP DI-ĐÀ TỰ)
Chùa Thập Tháp Di-đà
gắn liền với tên tuổi của người khai sơn là Tổ sư
Nguyên Thiều hay Thọ Tôn, người họ Tạ, húy Siêu Bạch
hiệu Hoán Bích, quê huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu, tỉnh
Quảng Đông. Theo thuyền buôn sang Việt Nam vào năm 1677,
Ngài đến lưu trú tại phủ Qui Ninh nay thuộc tỉnh Bình Định,
cách thành phố Qui Nhơn 25km. Nơi đây, trên ngọn đồi
Long Bích nằm yểm hậu sát cạnh thành Đồ Bàn, nay thuộc
thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, vốn có 10
ngôi tháp của người Chăm gọi là Thập Tháp. Thiền sư
Nguyên Thiều đã dựng một thảo am trên ngọn đồi này
để thờ Phật. Di-đà là danh hiệu Giáo chủ cõi Cực
lạc, đồng thời cũng có nghĩa là lý tánh, bản giác
của chúng sinh. Tập hợp các ý nghĩa trên, tổ đình này
được mệnh danh là Thập Tháp Di-đà Tự.
Từ thị trấn Đập Đá,
theo quốc lộ 1A, đến cầu Vạn Thuận, có một con đường
đất bên trái dẫn tới khuôn viên chùa Thập Tháp Di-đà
với một ao sen ngay phía trước. Cổng chùa là hai cột
cao, có đôi sấu ngồi trên đỉnh cột. Chùa kiến trúc
theo hình chữ "Khẩu"; gồm chánh điện, Đông
đường, Tây dường và nhà phương trượng. Tất cả có
4 dãy nhà ba gian hai chái, lợp ngói âm dương, xây bằng
gạch và đá ong. Cột lớn làm bằng danh mộc, kèo, trính,
quyết đều bằng gỗ sao và muỗm.
Năm 1691, chùa Thập Tháp
Di-đà được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch và
câu đối . Năm 1749, Hòa thượng Liễu Triệt trùng tu chánh
điện, xung quanh có một hành lang bao bọc, bên trong thờ
Tam Thế Phật (Di-đà, Thích-ca và Di-lạc), Tôn giả A-nan và
Ca-diếp. Hai bên thờ Thập bát La-hán và Thập điện Minh
Vương. Phía sau chánh điện có một tấm bia ghi bài minh tựa
đề "Sắc tứ Thập Tháp Di-đà Tự bi minh" lập
năm 1876 và một tấm bia ghi bài chí chùa Thập Tháp của
Thị giảng Học sĩ Võ Khắc Triển lập năm 1928.
Tổ đình Thập Tháp Di-đà
được truyền cho dòng Lâm Tế chánh phái. Kể từ Tổ
khai sơn đến nay, tổ đình truyền thừa được 15 đời
trải qua 328 năm. Trong các vị Tổ, Hòa thượng Phước Huệ
đã được suy tôn làm Quốc Sư. Ngài đã được mời
vào giảng kinh trong hoàng cung nhà Nguyễn từ đời vua Thành
Thái đến vua Bảo Đại. Ngài còn giảng dạy Phật pháp
cho chư tăng ở Phật học đường Trúc Lâm và Tây Thiên
(Huế) từ năm 1935. Ngày nay trong khuôn viên chùa còn mộ
tháp của Ngài bên cạnh các mộ tháp của các vị Tổ
khác.
Chùa PHƯỚC SƠN▲
Phú Yên là tỉnh có
nhiều ngôi tổ đình danh tiếng: chùa Bảo Tịnh, chùa Kim
Cang, chùa Hồ Sơn? ở Tuy Hòa; chùa Bát Nhã, chùa Từ
Quang, chùa Viên Quang, chùa Bảo Sơn, chùa Châu Lâm, chùa
Thiên Hưng? ở Tuy An; chùa Triều Tôn ở Sông Cầu; chùa Phước Sơn
ở Đồng Xuân v.v?
Chùa Sắc tứ Phước Sơn
tọa lạc tại thôn Tân Phước, xã Xuân Sơn Bắc, huyện
Đồng Xuân, thường được người dân địa phương gọi
là chùa Phước Sơn Đồng Tròn.
Có hai hướng đến chùa.
Một là theo con đường vào chùa Triều Tôn ở xã Xuân
Thọ 2, huyện Sông Cầu (gần cầu Lò Vôi), đi tiếp khoảng
6km. Hai là từ thị trấn Chí Thạnh, rẽ vào chùa Bảo Sơn
ở xã An Định, huyện Tuy An, đi tiếp đến chùa Phước Sơn.
Chùa Phước Sơn do Tổ
húy Thượng Liễu Hạ Năng, hiệu Đức Chất sáng lập vào
năm Gia Long nguyên niên (năm 1802). Chùa Triều Tôn và chùa
Bảo Sơn do hai vị sư đệ của Tổ Liễu Năng là Liễu Diệu
và Liễu Căn khai sơn vào năm Gia Long nhị niên (1803). Đây
là ba ngôi tam bảo danh tiếng của chi phái Chúc Thánh, dòng
Lâm Tế chánh tông tại Phú Yên. Chùa Phước Sơn
được xây trên núi Phú Mỹ, quay mặt về hướng Nam, nhìn
ra đồng ruộng mênh mông. Con sông La Hai chảy xuống cầu
Ngân Sơn tạo một cảnh sắc đẹp đẽ bội phần cho ngôi
già lam cổ sát Phước Sơn.
Với lịch sử gần 200 năm,
chùa đã trải qua 6 đời truyền thừa. Từ ngôi chùa lợp
tranh vách đất ban đầu, các vị trụ trì kế tiếp liên tục
trùng tu phát triển. Các Ngài đều là những danh tăng
của Phật giáo: Ngài Liễu Năng, Ngài Quảng Thiện, Ngài
Huệ Nhãn, Ngài Pháp Tạng, Ngài Thiền Phương và hiện
nay là Hòa thượng Thích Phước Trí, trụ trì từ năm
1950.
Hòa thượng Thích Phước
Trí đã xây dựng lại ngôi chùa bằng vật liệu kiên cố
(đá chẻ và bê-tông) vào năm 1960, nhưng chùa bị cháy
vào năm 1965. Sau năm 1975, Hòa thượng đã tổ chức tái
thiết và khánh thành ngôi chùa mới vào ngày 26 tháng
9 năm 1993.
Chánh điện rộng thoáng,
điện Phật được bài trí trang nghiêm. Nổi bật ở trung
tâm là tượng đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni ngồi thiền
định trên tòa sen. Phía trước là bộ tượng Di-đà Tam
Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí) và hai vị Hộ Pháp. Án thờ
tả hữu tôn trí các tượng Bồ-tát Quan Âm, Chuẩn Đề
và Địa Tạng. Sau điện Phật là nhà tổ thờ tổ sư Đạt-ma
và long vị chư tổ của chùa.
Đứng trước cửa chùa
lộng gió quanh năm, lòng du khách cảm thấy thư thái lạ
lùng và bồi hồi nhớ đến ân đức của các vị tiền
bối đã khai sơn và tô bồi cho ngôi chùa. Dọc theo triền
núi, phía trái có hai ngôi tháp cổ, đó là bảo tháp
của Tổ khai sơn Liễu Năng và Ngài Thiền Phương. Phía tay
phải trên đường vào chùa, là bảo tháp của các Ngài
Huệ Nhãn, Quảng Thiện và Pháp Tạng.
Ngoài 5 ngôi tháp cổ còn
nguyên vẹn qua năm tháng là những bảo vật của chùa,
ngôi tổ đình này còn có những bảo vật được triều
đình nhà Nguyễn ban thưởng 6 lần. Lần thứ nhất: cây
gấm có tên Vạn Thọ Như Ý vào niên hiệu Tự Đức năm
thứ 34 (1881); lần thứ hai: 1 bộ y cà sa màu đỏ, 1 chiếc
mão Quan Âm, 1 đồng kim tiền có khắc 2 chữ Tam Thọ vào
niên hiệu Thành Thái thứ 8 (năm1896); lần thứ ba: một
đại hồng chung, một cặp bảo cái, mộ y càsa và một
chiếc mão Quan Âm vào niên hiệu Thành Thái thứ 9 (năm
1897); lần thứ tư: chiếc kim khánh có khắc chữ Khâm
Tai, một đồng tiền có khắc chữ Triệu dân lại chi vào
niên hiệu Thành Thái thứ 10 (năm 1898); lần thứ năm:
một đồng ngân tiền vào niên hiệu Thành Thái thứ 13
(năm 1901) và lần thứ sáu: ban "Biểu ngạch Sắc Tứ"
vào niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (năm 1939).
Đến Phú Yên, hành hương
về chốn Tổ Liễu Quán, du khách và Phật tử xa gần
đừng quên ghé chùa Sắc Tứ Phước Sơn, ngôi danh lam
của miền Trung nước Việt.
Chùa
LONG SƠN ▲
Chùa
Long Sơn trước có tên là Đăng Long Tự, tọa lạc ở số 22 đường 23 tháng
10, phường Phương Sơn, dưới chân
núi Trại Thủy, thành phố Nha Trang. Ở khu vực này có
hai ngôi chùa nổi tiếng là chùa Long Sơn ở phía dưới
và chùa Hải Đức ở phía trên.
Trước đây, chùa Long Sơn
được dựng trên núi vào năm 1886 do Hòa thượng Thích
Ngộ Chí (1856 - 1935) trụ trì. Hoà thượng là người huyện
Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa, lúc nhỏ tham gia phong trào chống
Pháp, sau xuất thế đi tu. Năm Canh Tý (1900), sau một trận
bão lớn, chùa phải dời từ trên núi xuống vị trí hiện
nay. Năm 1936, chùa được Hội Phật học chọn làm trụ sở
Phật giáo tỉnh Khánh Hòa. Năm 1940, chùa được trùng tu
do công lao chính của Hội trưởng Tôn Thất Quyền và Phật
tử Võ Đình Thụy. Năm 1968, do chiến tranh tàn phá, chùa
bị sạt mái ngói. Năm 1971, Thượng tọa Thích Thiện Bình
đứng ra lo trùng tu chùa và cho đến năm 1975, việc trùng
tu mới thực hiện được 60% theo họa đồ của kiến trúc
sư Võ Đình Diệp.
Từ khi được thành lập
đến nay, chùa do các nhà sư sau đây trụ trì: Hòa thượng
Thích Ngộ Chí (từ 1886 đến 1935), Thượng tọa Thích Chánh
Hóa (từ 1936 đến 1957), Thượng tọa Thích Chí Tín (từ
1957 về sau).
Từ chùa Long Sơn có
đường lớn dẫn lên chùa Hải Đức ở lưng đồi và
lên pho tượng Kim thân Phật Tổ nơi đỉnh đồi. Tượng
được xây dựng bằng bê-tông ngay trên nền cũ của
chùa Long Sơn. Việc đúc tượng được khởi công năm
1964, hoàn thành năm 1965, do Thượng tọa Thích Đức Minh,
lúc đó là Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa
và điêu khắc gia Kim Điền thực hiện. Tượng có chiều
cao từ mặt bằng lên 24m, từ đế lên 21m , phần tượng
cao 14m, đài sen 7m, đường kính đài sen 10m. Xung quanh đài
là hình bảy vị Thánh tử vì đạo. Trước Phật đài có
cặp rồng, chiều dài 7,20m. Du khách từ Bắc vào hay từ
Nam ra, đi trên đường ô tô hay đường xe lửa, đều có
thể nhìn thấy tượng Kim thân Phật Tổ uy nghi với nụ cười
vô vi trên khuôn mặt đầy vẻ bao dung.
Nhìn toàn cảnh, chùa
Long Sơn có địa thế rất đẹp, lại thuận tiện cho khách
tham quan. Chùa được dựng trên một khu đất cao, thoáng
mát, cây cối xanh tươi, nằm bên cạnh đường giao thông
và phố xá đông đúc mà giữ được vẻ thâm u, tĩnh
mịch. Những dãy nhà làm học viện, văn phòng, tịnh thất
hợp với ngôi chùa đồ sộ, tạo thành một cấu trúc
hoàn chỉnh ẩn bóng dưới những hàng cây bồ đề cao lớn,
cành lá sum suê cùng những cây ăn quả bao quanh.
Chùa
LINH SƠN▲
Chùa
Linh Sơn tọa lạc trên một ngọn đồi ở số 120, đường
Nguyễn Văn Trỗi, phường 2, cách trung tâm thành phố Đà
Lạt 700m về phía Tây Bắc. Chùa được xây dựng từ năm
1938 và khánh thành năm 1940, do công đức của thập phương
bá tánh, nhất là sự đóng góp của hai Phật tử Võ
Đình Dung và Nguyễn Văn Tiến.
Trên
đường vào chùa, du khách đi dưới những hàng thông,
bạch đàn và cây sao cao vút. Ngay trước sân chùa là tượng
Bồ-tát Quan Thế Âm đứng trên một đài sen. Bên trái
tòa trang viện là một bảo tháp ba tầng hình bát giác,
mái ngói, cao 4m. Bên phải sân chùa, giữa đám cỏ xanh
là hồ nước trong lúc nào cũng có hoa súng khoe màu và
cá vàng bơi lội. Khu này còn có những cụm giả sơn và
cây cảnh rất đẹp. Hai bên 12 bậc thềm dẫn vào chánh
điện là cặp rồng há miệng tượng trưng cho Long thần hộ
trì Phật pháp.
Chùa xây theo lối kiến trúc Á
Đông, giản dị và hài hòa. Hai bên góc chùa có hai con rồng chầu mặt nguyệt
ở giữa nóc. Trước tiền đường có treo nhiều cặp câu đối đượm ngát thiền vị
như:
Sơn
sắc đạm tùy nhân nhập viện
Tùng
thanh tĩnh thính khách đàm thiền
Dịch là:
Màu
núi nhạt theo người vào viện
Tiếng
tùng im nghe khách bàn thiền.
Điện
Phật được bài trí trang nghiêm. Ở giữa chính điện là
tượng Phật Thích-ca bằng đồng ngồi trên tòa sen, nặng
1250kg, được đúc vào năm 1952, và được khánh thành
với sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết.
Trải
qua hơn nửa thế kỷ, chư vị trụ trì chùa được biết đến
như sau: Hòa thượng Thích Trí Thủ (năm 1940), Hòa thượng
Thích Diệu Hoằng (từ 1940 đến 1947), Hòa thượng Thích Từ
Mãn (từ 1947 đến 1952), Hòa thượng Thích Bích Nguyên (từ
1952 đến 1964), Hòa thượng Thích Từ Mãn (từ 1964 về
sau).
Hiện
nay, Văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng đặt
tại chùa. Tuy chỉ mới được xây dựng trong thế kỷ XX,
chùa Linh Sơn đã trở thành một danh lam của Đà Lạt nhờ
cảnh đẹp và đạo vị. Hằng năm, nhất là vào mùa xuân,
chùa đón nhận rất nhiều du khách và Phật tử đến thă m
chùa, lễ Phật.
Thiền
viện TRÚC LÂM ▲
Từ
khu vực Hòa Bình ở trung tâm thành phố Đà Lạt đi đến
giữa đèo Prenn, có con đường bên tay phải dẫn vào hồ
Tuyền Lăm và Thiền viện Trúc Lâm, lộ trình khoảng 10km.
Trên
con đường vòng theo núi lên chùa, từ xa đã thấy lầu
chuông và mái nóc ngói chánh điện lúc ẩn lúc hiện
giữa những rừng thông ngút ngàn. Đến một ngã rẽ,
du khách và Phật tử hoặc rẽ phải theo con đường nhựa
vào cổng bên của chùa với 61 bậc, hoặc đi thẳng đến
hồ Tuyền Lâm rồi theo 222 bậc cấp qua ba cổng tam quan để
vào thẳng sân trước của điện.
Thiền
viện tọa lạc trên núi Phượng Hoàng với diện tích 24
hecta. Diện tích xây dựng khoảng 2 hecta gồm hai khu ngoại
viện và nội viện. Nội viện được chia hai khu vực Tăng,
Ni. Mỗi khu vực có hai Tăng đường, một thiền đường,
một nhà bếp, một nhà ăn và một nhà kho. Đây là khu
vực giới hạn khách tham quan, hiện nay là nơi tu thiền của
50 Tăng và 50 Ni. Ngoại viện ở một khu đất rộng, bằng
phẳng, độ cao 1300m (so với mặt biển), đối diện dãy núi
Benhuit chập chùng và hồ nước Tuyền Lâm mênh mông,
xanh biếc. Ở đây, một số công trình tiêu biểu của
Thiền viện được xây cất do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ
phác thảo và kiến trúc sư Nguyễn Tín, thầy Trị sự Thích
Thông Tạng cùng nhiều Tăng Ni, Phật tử góp công của
thực hiện, đã khánh thành long trọng vào ngày 19-3-1994.
Đó là ngôi chánh điện uy nghi ở vị trí trung tâm, bên
phải là Tham vấn đường và lầu chuông, bên trái là
nhà khách, nhà bếp, nhà kho. Trước nhà khách là một
vườn hoa đẹp, và ở triền dốc xuống phía trước cổng
là hồ nước nhân tạo của Thiền viện có sức chứa
15.000 mét khối nước cho Tăng, Ni sử dụng.
Tượng
thờ trong chánh điện được bài trí đơn giản mà trang
nghiêm. Ở điện Phật, tượng đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni
uy nghi thiền định trên tòa sen, hai bên có hai bức tranh
Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền tượng trưng cho Đại trí và
Đại hạnh.
Tham vấn
đường bên cạnh ngôi chánh điện là nơi mỗi tháng vào
ngày 14 và 29 âm lịch, Hòa thượng Viện trưởng cùng
thiền sinh tham vấn các vấn đề về Thiền học.
Mục
đích của Thiền viện Trúc Lâm là làm sống lại tinh thần
Thiền tông đời Trần (thế kỷ XIII - XIV). Đây là
đường lối tụ tập đặc biệt do vua Trần Nhân Tông tức
Sơ Tổ Trúc Lâm sáng lập. Ngài đã kết hợp cả ba Thiền
phái thời bấy giờ: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông,
Thảo Đường thành một Thiền phái Việt Nam. Chính vị vua
từng lãnh đạo quân dân hai lần chiến thắng quân Nguyên
Mông ấy đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và
xuất gia tu hành tại núi Yên Tử với pháp hiệu Trúc
Lâm Đầu Đà. Sau đó, Ngài lại cùng các môn đồ xuống
núi đi du hóa khắp nơi. Ngài đã sống cuộc đời tích cực
hành đạo của một Thiền sư nhập thế trong mọi lãnh vực
đời sống. Đây là thời kỳ có nhiều Thiền sư Việt
Nam tham gia việc nước, song các Ngài vẫn không tham luyến
thế tục.
Thiền
phái Trúc Lâm đặc biệt nhấn mạnh sự tụ tập nội tâm
ở bất cứ hoàn cảnh nào ta sống, dù là tu sĩ hay người
tại gia. Đường lối tụ tập hướng nội đưa đến thanh
tịnh hóa bản thân, khiến lòng không còn vướng bận
ngoại cảnh và tự tánh hiển lộ. Đây là tâm trạng thực
sự an ổn trong chính mỗi người, không cần tìm kiếm cực
lạc ở tận Tây phương. Đường lối này đã được Sơ
Tổ Trúc Lâm diễn tả qua vần thơ Xuân vãn (Cuối xuân)
thật thanh thoát.
Xuân
vãn
Niên
thiếu hà tằng liễu sắc, không
Nhất
xuân tâm sự bách hoa trung
Như
kim khám phá Đông hoàng diện
Thiền
bản bồ đoàn khán trụy hồng.
Nghĩa
là:
Thuở
bé chưa từng rõ sắc, không
Xuân
về hoa nở tại trong lòng,
Chúa
Xuân nay bị ta khám phá,
Chiếu
trải giường thiền ngắm cánh hồng.
(Thích
Thanh Từ dịch)
Phương pháp tu tập trở về với nội tâm
ấy được thể hiện rõ nhất qua câu kệ kết thúc bài phú Cư Trần Lạc Đạo của Sơ Tổ
Trúc Lâm:
Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cư
tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa là:
Ở
trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói
đến thì ăn, nhọc ngủ liền.
Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối
cảnh không tâm, chớ bói thiền.
(Thích
Thanh Từ dịch)
Sơ tổ Trúc
Lâm quả thật là tấm gương sáng ngời đạo hạnh của bậc
hiền nhân. Sau khi hoàn thành sứ mạng của một vị anh quân,
Ngài đã trở thành vị Thiền sư thanh tịnh, đồng thời là một
bậc cao tăng uyên thâm giáo lý. Với châm ngôn"Thiền
Giáo song hành", Ngài truyền đệ tử là Pháp Loa, Nhị Tổ
Trúc Lâm, tiến hành việc khắc ấn bản Đại Tạng kinh kéo dài
suốt 24 năm ròng (1295 - 1319) dưới sự bảo trợ của vua Trần
Anh Tông và sự ủng hộ nhiệt tình của mọi tầng lớp Tăng
sĩ, Phật tử. Đây là công tác vĩ đại nhất được chư Tổ
Thiền tông đời Trần thực hiện với hơn 5000 ấn bản Đại
Tạng được lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm.
Kế tiếp Nhị
Tổ Pháp Loa là Thiền sư Huyền Quang, hợp thành Trúc Lâm Tam
Tổ, biểu tượng của thời Phật giáo cực thịnh trên đất
Việt. Thiền sư Huyền Quang là một bậc cao tăng, cũng là bậc
thi hào đã lui về ẩn dật tại núi Côn Sơn sau hơn 20 năm vừa
phụng sự triều đình vừa phụ tá Sơ Tổ Trúc Lâm trên
đường hành đạo và soạn kinh sách dạy học về Thiền tông
Việt Nam. Sồng giữa dòng thiên nhiên, Ngài cảm nhận tâm trạng
thanh thản của một người thực sự hòa mình vào vạn vật
làm một, đi đứng nằm ngồi, giờ phút nào cũng an nhiên tự
tại, nên đã sáng tác những vần thơ tuyệt diệu như trong bài
Vịnh cúc hoa:
Vịnh
cúc hoa
Hoa
tại trung đình, nhân tại lâu
Phần
hương độc tọa tự vong âu
Chủ
nhân dữ vật hồn vô cạnh
Hoa
hương quần phương xuất nhất đầu
Nghĩa
là:
Người
ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô
tư ngồi ngắm khói trầm xông
Hồn
nhiên người với hoa vô biệt
Một
đóa hoa vừa mới nở tung
(Nguyễn
Lang dịch)
Đời
sống hằng ngày của một hành giả hướng đến thanh tịnh
bản tâm theo Thiền phái Trúc Lâm đã được qui định điều
hòa bằng nghi thức "Lục thời sám hối" do vua Trần
Thái Tông biên soạn. Đây là nghi thức sám hối đặc
biệt Việt Nam gồm sáu phần sám hối trong ngày với mục
đích thanh lọc nội tâm, khác với nghi thức sám hối của
Phật giáo Trung Hoa nhằm cầu xin xá tội cho bản thân cùng
người khác. Từ sáng tinh sương, vị hành giả Thiền tông
bắt đầu một ngày an lành bằng các bài kệ tụng đơn
giản hỗ trợ cho việc tinh cần tụ tập thân tâm như sau:
Bài
kệ dâng hương
Ngào
ngạt trầm hương rừng Chánh Định
Chiên
đàn vườn Tuệ đã vun trồng
Giới
đao đẽo gọt nên hình núi
Đốt
tại lò tâm để hiến dâng.
Bài
kệ dâng hoa
Hoa
nở sáng ngời trên đất Tâm
Hoa
tiên rải xuống chẳng thơm bằng
Hái
dâng từng đóa lên chư Phật
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.
Đây
là phương pháp thực tiễn tu tập Tam Học Pháp: Giới -
Định - Tuệ, rất phù hợp giáo lý nguyên thủy thời
đức Phật, đã được Thiền tông thời cực thịnh của
Phật giáo Việt Nam triều Trần ứng dụng hàng ngày, nay
lại được Thiền phái Trúc Lâm do Hòa thượng Viện chủ
Thích Thanh Từ khởi xướng khôi phục và duy trì những
đặc điểm của Thiền tông Việt Nam, đem lại niềm tự hào
dân tộc cho người Phật tử Việt Nam.
Để phương
pháp tu học trên đạt được nhiều hiệu quả, Hòa thượng
Viện chủ thường khích lệ các thiền sinh ứng dụng nguyên
tắc "lục hòa " trong cuộc sống phạm hạnh: thân
hòa đồng trú, khẩu hòa vô tránh, ý hòa đồng duyệt,
giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải, lợi hòa đồng
quân. Theo tinh thần Trúc Lâm Đầu Đà, các thiền sinh phải
nỗ lực rèn luyện ba đức tính: tinh cần tu tập hường
đến giác ngộ giải thoát, kiên quyết vượt mọi khó
khăn chướng ngại, và thiển dục tri túc sống đời đạm
bạc không thụ hưởng mọi xa hoa.
Về mặt
tổ chức, ban lãnh đạo Viện gồm có: Viện trưởng, Phó
Viện trưởng, Thủ bổn (Thủ quỹ), Thư ký và Ban chức sự
gồm Quản chúng, Tri sự, Tri khách, Tri khố, Hương đăng,
Trưởng ban vườn, trưởng ban rẫy và Ban khám bệnh.
Ni chúng
cũng có một Ban chức sự như tăng chúng.
Viện
trưởng hiện nay: Hòa thượng Thích Thanh Từ; Phó Viện
trưởng: Thương tọa Thích Nhật Quang; Quản chúng Tăng:
Thượng tọa Thích Thông Phương; Quản chúng Ni: Ni sư Thích
nữ Như Tâm.
Bước
chân vào Thiền viện Trúc Lâm, Phật tử cũng như du khách
dường như quên hẳn cái lạnh cố hữu cửa xứ Đà Lạt
hoa đào để tận hưởng cái khoáng đạt của phong cảnh
thiên nhiên, cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp sáng tạo của
các công trình kiến trúc mới mẻ nhưng mang đậm tính dân
tộc. Đặc biệt những giờ phút tĩnh lặng, thư thái
trong tâm hồn sẽ khiến du khách tưởng chừng như đang trở
về với thế giới quá khứ cũa Thiền phái Trúc Lâm
thời chư tổ Trúc Lâm trên non cao yên tử.
Chùa
GIÁC LÂM▲
Vị trí
bề thế, nhưng quy mô lại khiêm tốn, chùa Giác Lâm là
một trong những ngôi chùa cổ nhất của thành phố Hồ Chí
Minh đã được Bộ Văn hóa ra quyết định số 1288 VH/QĐ
ngày 16 - 11 - 1988 công nhận là một di tích lịch sử - văn
hóa. Chùa tọa lạc ở số 118 đường lạc Long Quân, phường
23, quận Tân Bình, trong vùng Phú Thọ Hòa.
Chùa
vốn ở trên gò Cẩm Sơn, còn gọi là Cẩm Đệm và Sơn
Can, do ông Lý Thụy Long, người Minh Hương, quyên tiền của
xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý (1744), đời Chúa
Nguyễn Phúc Khoát. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh
Hoài Đức miêu tả khu vực này như sau: rộng ba dăm, cây
cao như rừng, hoa nở tựa gấm, sáng chiều mây khói nổi
bay quanh quất, địa thế tuy nhỏ mà có nhã thú. Thi nhân
du khách, mỗi dịp tết Thanh minh, Trùng cửu rảnh rỗi, kết
bầy năm ba người đến mở tiệc thưởng hoa, chuốc chén
ngâm vịnh, ngó xuống chợ búa rộn ràng xa cách ra ngoài
tầm mắt?"
Năm
1772, Hòa thượng Viên Quang thuộc dòng Lâm tế tới trụ
trì, từ đó mới đổi tên là Giác Lâm.
Chùa
đã trải qua nhiều lần trùng tu. Lần thứ nhất, vào khoảng
năm 1799 - 1804, Hòa thượng Viên Quang cho xây lại ngôi
chùa. Đến năm 1906 - 1909, Hòa thượng Hồng Hưng với sự
giúp sức của Hòa thượng Như Phòng, đã cho tôn tạo
lại ngôi chùa một lần nữa. Các sự kiện này được
ghi lại trong đôi liễn mừng lạc thành, nay còn treo ở
chánh điện.
Khuôn
viên chùa khá rông, nằm lọt giữa phố phường đông
đúc, chung quanh là những bức tường xây. Qua cổng chùa,
ngay giữa sân có dựng tượng Bồ - tát Quan Thế Âm dưới
bóng cây bồ đề tán lá xanh tốt. Đây là cây bồ đề
do Đại đức Narada mang từ SriLanca sang trồng ngày
18-6-1953. Nhân dịp này Ngài cũng cúng cho chùa Xá-Lợi
Phật Thích-ca.
Ngày
17 tháng 6 năm 1994, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ
chức lễ khánh thánh Bảo tháp Xá-lợi và cung nghinh Xá-lợi
Phật từ chùa Long Vân, Bình Thạnh về chùa Giác Lâm, tôn
trí tại Bảo tháp (nguyên từ năm 1953, Xá-lợi Phật
được đưa về tôn trí tại chính điện chùa Long Vân).
Bảo tháp gồm 7 tầng, hình lục giác, mỗi tầng đều có
mái ngói, cửa ra vào. Tháp được xây từ năm 1970
theo đồ án của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975
thì tạm ngưng cho đến năm 1993 mới được tiếp tục. Tháp
cao 32m, mặt hướng Đông, là một trong những bảo tháp lớn
và nổi triếng nhất thành phố.
Ngôi
chùa có hình chữ nhật, dài 65m, rộng 22m, gồm 3 lớp nhà
chính: chánh điện, giảng đường và nhà trai, không kể
các dãy nhà phụ. Chùa có tất cả 98 cột. Trên cột có
khắc 86 câu đối dính liền, chữ thếp vàng, khung viền
chung quanh được trạm trổ rất công phu. Các đầu kèo đều
tạc hình đầu rồng. Các bàn thờ trong chánh điện đều
được làm bằng gỗ quý nên rất chắc chắn. Gian giữa
có ba tấm bao lam hình Tứ quí (mai, lan, cúc, trúc), Tứ
linh (long, lân, qui, phụng) và Cửu Long.
Chùa
có 113 pho tượng cổ, chủ yêu bằng danh mộc (gỗ mít nài)
được sơn son thếp vàng. Ngoài ra có 7 pho tượng đồng.
Toàn bộ tượng, bao lam, ghế bàn, bảo tháp đều được
chạm khắc cực kỳ tinh xảo. Pho tượng Phật cổ nhất
ở chùa là tượng đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngồi trên
tòa sen, bằng gỗ, cao 0,65m; bề ngang hai gối 0,38m, được
tôn trí ở giảng đường, có niên đại vào khoảng thế
kỷ XVIII. Toà Cửu Long diễn tả sự tích đức Phật Thích-ca
đản sinh, được đúc bằng đồng, tôn trí ở bàn thờ
chánh điện. Khá đặc sắc về nghệ thuật tạc tượng là
hai bộ Thập bát La-hán. Bộ La-hán nhỏ, mỗi pho tượng
cao khoảng 0,57m (tượng cao 0.50m và đế cao 0.07m) được tạo
tác vào đầu thế kỷ XIX; bộ La-hán lớn, mỗi pho tượng
cao khoảng 0.95m (tượng cao 0.80m và đế cao 0.15m) được tạo
tác vào những năm đầu thế kỷ XX, đặt hai bên điện
Phật ở chánh điện.
Bên
trái khuôn viên chùa có khu mộ tháp của các vị Tổ đã
trụ trì ở đây: Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm,
Như Lợi, Như Phòng? Ở đây còn có cả tháp của Tổ
Phật Ý, thầy của Tổ Viên Quang, trụ trì Sắc tứ Từ Ân,
được dời về chùa Giác Lâm vào năm 1923.
Chùa
ẤN QUANG▲
Tổ đình Ấn Quang được
xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí
rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt
Nam.
Nơi đây đã từng chứng
kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng
trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Chùa Ấn
Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam
Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), văn phòng
Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), nay là trụ
sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí
Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982).
Chùa Ấn Quang hiện tọa
lạc tại 243 Sư Vạn Hạnh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa được Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh
Ứng ở Ngũ Hành Sơn, Đà nẵng vào lập nên vào năm
1948. Lúc đầu đây chỉ là một ngôi Phật tự nhỏ bằng
cây lợp lá, mang tên là Ứng Quang Tự.
Năm 1950, Hòa thượng Thích
Thiện Hòa (1907 - 1978), thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ
43, sau 10 năm tu học về đạo pháp và giới luật tại Tây
Thiên Phật học đường, Báo Quốc Phật học đường và
chùa Quán Sứ, trở về Sài Gòn. Ngài được Hòa thuợng
Thích Trí Hữu giao cho quyền quản lý chùa Ứng Quang để
hoằng dương Phật pháp. Với tư cách là Viện chủ, Hòa
thượng Thích Thiện Hòa đã cho xây dựng ngôi chánh điện
theo kiểu chùa Từ Đàm ở Huế. Từ đó trong suốt hơn
một phần tư thế kỷ, Hòa thượng Thích Thiện Hòa đã
hiến trọn tâm trí và công đức để tôn tạo ngôi chùa
và thành lập trường Phật học để giáo dục và hoằng
pháp.
Đầu năm 1951, Hòa thượng
Thích Thiện Hòa đã vận động các trường Phật học Liên
Hải, Mai Sơn, Sùng Đức và Ứng Quang hiệp nhất thành
Phật học đường Nam Việt. Chùa Ứng Quang được đổi
tên thành Ấn Quang và được chọn làm trụ sở của Phật
học đường. Hòa thượng Thích Thiện Hòa được bầu làm
Tổng giám đốc.
Năm 1955, chùa xây dựng
thêm dãy lẫu nhà tổ và trai đưởng. Liên tục hai năm
sau đó, xây nhà in Sen Vàng, xưởng nhang Bổ Đè, thư viên,
nhà xuất bản, nhà phát hành Hương đạo. Năm 1959, xây
lại dãy lầu giảng đường. Đến năm 1966, chánh điện
được tôn tạo; năm sau lầu tăng xá, nhà trai được
tái thiết. Kiến trúc chùa được xây dựng theo đồ án
của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Bên trong chùa ngoài
tượng đức Bổn Sư Thích-ca và tượng các vị Phật
được tôn trí trang nghiêm tại chánh điện, còn có tượng
Tổ Sư Đạt ma (tạc bằng gỗ) và bộ tranh sơn mài Quan Âm,
Văn-thù, Phổ Hiền do nghệ nhân Trương Văn Thanh (tức Đại
đức Minh Tịnh) thực hiện.
Từ năm 1974, do Hòa thượng
Thích Thiện Hòa lâm bệnh nặng, một Hội đồng Quản trị
Tổ đình Ấn Quang gồm chín vị, do Hòa thượng Thích Huệ Hưng
làm Tổng lý, đã được bầu ra để đảm đương Phật sự.
Hòa thương Thích Thiện Hòa viên tịch năm 1978. Tên tuổi
Hòa thương gắn liền không chỉ với sự nghiệp mở mang
chùa Ấn Quang và còn với sự nghiệp đào tạo hàng trăm
giảng sư và hàng nghìn Tăng Ni sinh làm sứ giả của Như
Lai đi bổ xứ trụ trì các chùa ở các tỉnh miền Nam.
Chùa
XÁ
LỢI ▲
Chùa
Xá Lợi nằm trên một khuôn viên rộng 2500m2,
giữa một khu phố khá yên tĩnh, cổng chính nhìn ra
đường Bà Huyện Thanh Quan, cổng phụ nhìn ra đường Sư
Thiện Chiếu. Chùa được khởi công xây dựng vào
ngày 5-8-1956 dưới sự quản đốc công trường của hai
kỹ sư Dư Ngọc Ánh và Hà Tố Thuận, thi công theo họa
đồ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá
Vinh. Chủa được khách thành vào các ngày 2-3-4 tháng 5
năm 1958. Có được kết quả này là nhờ vào sự
đóng góp của Phật tử 21 tỉnh miền Nam lúc đó, dưới
sự tổ chức xây dựng của Hội Phật học Việt Nam.
Tương
truyền rằng trong quá trình xây cất, ở đây có biển
đề "Công trình Chùa thờ Xá-lợi Phật". Do
đó, nhân dân quen gọi là chùa Xá Lợi. Đến khi khánh
thành, theo ý kiến Hòa thượng Khánh Anh, chùa đã lấy
tên này như cách gọi của nhân dân.
Cấu
trúc ngôi chùa gồm có: chánh điện, giảng đường,
thư viện, văn phòng, phòng hội đồng, phòng họp, phòng
khách, phòng tăng và vãn sinh đường. Chánh điện ở
lầu một, dài 31m, rộng 15m. Trong lễ đường chỉ tôn trí
một vị Phật là đức Thích-ca Mâu-ni. Tượng này do
Trường Mỹ nghệ Biên Hòa thực hiện năm1958 bằng bột
đá mầu hồng. Trên tường chánh điện có những bức
tranh minh họa đời sống đức Phật Thích-ca từ lúc
đản sinh cho đến khi nhập niết bàn. Các tác phẩm này
do họa sĩ Nguyễn Văn Long thực hiện vào các năm
1959-1960.
Phía
bên trái tam quan chùa trên đường Bà Huyện Thanh Quan
có một tháp chuông cao 7 tầng, được khởi công xây
dựng vào ngày 15-12-1960 và khánh thánh vào ngày
23-12-1961. Đại hồng chung đã phải đúc hai lần mới
thành công và được đem lên tháp ngày 17-10-1961 với
sự chứng minh của Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh
Khiết.
Nếu
chùa Ấn Quang gắn liền với sự ra đời và hoạt động
của Phật học đường Nam Việt, thì chùa Xá Lợi lại
có quan hệ mật thiết với lịch sử của Hội Phật học
Nam Việt. Hội này thành lập năm 1951 tại Sài Gòn, do
bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, thầy Quảng Minh và cụ Chánh
Trí Mai thọ Truyền lần lượt làm Hội trưởng. Hội đã
từng có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh miền Nam trước
đây với cơ quan ngôn luận là tạp chí Từ Quang. Chùa
Xá Lợi từng được chọn làm trụ sở của Ủy ban
Liên phái bảo vệ Phật giáo năm 1963 và là nơi tổ
chức thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất
họp từ ngày 30-12-1963 đến ngày 01-01-1964. Chùa cũng là
nơi tổ chức lễ tiếp nhận và phát hành hai tập kinh
đầu tiên Đại Tạng Kinh Việt Nam vào ngày 31-8-1991.
Từ
năm 1981 đấn tháng 5 năm 1993, chùa đặt trụ sở Văn
phòng II Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại phía Nam. Kể
từ rằm tháng tư năm Quí Dâu - 1993, Văn phòng II
được dời về Thiền Viện Quảng Đức ở 294 nam Kỳ
khởi Nghĩa, Quận 3.
Do vị
trí quan trọng và sự đóng góp lớn lao của chùa trong
việc hoằng dương chánh pháp, chùa Xá Lợi đã nhiều
lần đón các vị khách quốc tế và là nơi thường
xuyên có nhiều du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm
bái.
Chùa
VĨNH
NGHIÊM ▲
Từ phi trường Tân Sơn
Nhất đi về trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, trên
đường Nam Kỳ Khở Nghĩa, qua khỏi cầu Công Lý, du
khách sẽ thấy hiện lên sừng sững ngọn tháp của
chùa Vĩnh Nghiêm.
Có thể nói đây là
ngôi chùa có kiến trúc bề thế vào bậc nhất nước ta
hiện nay. Chùa mang tên Vĩnh Nghiêm, một trung tâm Phật
giáo thời Trần ở tỉnh Bắc Giang cũ, nay là Hà Bắc.
Vĩnh Nghiêm còn là tên tôn xưng Sư tổ Thanh Hanh (1838 -
1936), một cao tăng được tấn tôn Thiền gia Pháp chủ
Giáo hội Phật giáo Bắc Kỳ. Trước năm 1975, Tăng Ni
Phật tử miền Bắc sinh sống tại miền Nam tụ tập thành
miền Vĩnh Nghiêm, mà trung tâm chính là ngôi chùa này.
Chùa được khởi công
xây dựng từ năm 1964 và khánh thành năm 1971 do kiến
trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế với sự cộng tác
của hai kiến trúc sư Lê Tấn Chuyên và Cổ Văn Hậu.
Chùa làm theo kiểu chữ "Công" hai lớp mái
chồng diêm, mang dáng dấp kiến trúc cổ kính Á Đông.
Chùa gồm một tầng
trệt và một tầng lầu. Tầng trệt có phòng đọc sách,
giảng đường, văn phòng, phòng tăng chúng. Tầng lầu
có sân thượng rộng khoảng 10m, bên trái là tháp Quan
Âm với 7 tầng mái, bên phải có tháp chuông treo quả
đại hồng chung do Giáo hội Phật giáo Nhật Bản hiến
cúng. Bái điện là một tòa phạm vũ nguy nga, bề rộng
22m, dài 35m. Những công trình chạm khắc gỗ ở đây có
bao hàm tứ linh, bao lam Cửu Long. Đặc biệt có phù
điêu trên hương án chạm các ngôi chùa danh tiếng trong
nước và các nước châu Á.
Bàn thờ Phật được
thiết kế rất trang nghiêm. Ở bảo điện: chính giữa
thờ dức Phật Thích-ca, hai bên là Bồ-tát Phổ Hiền
tượng trưng cho đạo hạnh và Bồ-tát Văn-thù tượng
trưng cho trí tuệ.
Tại chánh điện đât 6
bức phù điêu La-hán: Khuyến Học La-hán, Thuyết Pháp
Văn Pháp La-hán, Đạo Sơn Địa Ngục Tiếp Hóa La-hán,
Cúng Dàng La-hán, Cúng Dàng Bố Thí La-hán, Đại Hàn
Địa Ngục Tiếp Hóa La-hán. Đó là những tác phẩm
chạm khắc gỗ dựa vào bản chính của phái Tịnh độ
Nhật Bản. Ở hàng hiên, trước lối vào chánh điện
mỗi bên có một pho tượng Kim Cương lớn.
Các mái chùa đều uốn
cong theo kiểu chùa miền Bắc, mái trước chồng diêm.
Giữa đỉnh nóc có bánh xe pháp luân và các góc chạm
hình đầu phượng.
Nói đến chùa Vĩnh
Nghiêm, ngoài tháp chuông, không thể quên hai ngôi tháp
đặc sắc là tháp Quan Âm và tháp Xá Lợi Cộng Đồng.
Tháp Quan Âm dựng ở bên trái sân thượng trên một
diện tích 200m2 . Tháp có 7 tầng mái, từ mặt
đất lên đến đỉnh tháp cao 35m. Tháp xây hình vuông,
mỗi cạnh ở tầng một dài 7m. hai bên cửa ra vào có
hai pho tượng Kim Cương đắp nổi, cao 1,48m, ngang 0,74m. Ở 7
tầng của tháp, trên vách đắp nổi 25 tượng Thất Phật
Thế Tôn và các vị Tổ, mỗi tượng có khung vuông,
cạnh 1,05m.
Tháp Xá Lợi Cộng Đồng xây ở
phía sau chùa về bên phải, khởi công năm 1982 và hoàn thành năm 1984. Tháp
có 4 tầng, cao 25m, mang nét đặc trưng của kiến trúc Việt Nam. Tháp là nơi
đặt thờ tro hài cốt của những người do gia đình ký gởi, trong đó có những
văn nhân thi sĩ tên tuổi như Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương?
Chùa Vĩnh Nghiêm hiện
là nơi đặt trụ sở của trường Cơ bản Phật học
thành phố Hồ Chí Minh.
Tịnh
xá TRUNG TÂM ▲
Tịnh xá Trung Tâm tọa lạc tại
số 7 đường Nguyễn Trung Trực, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Đây
là ngôi tịnh xá thuộc hệ phái Tăng già Khất sĩ Việt Nam. Hệ phái này do Tổ
sư Minh Đăng Quang, thế danh là Nguyễn Thành Đạt, người làng Phú Hậu, tổng
Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, sáng lập từ năm 1944 với hạnh
nguyện mà cũng là danh nghĩa để sau này trở thành truyền thống:
"Nối
truyền Thích-ca chánh pháp
Đạo
Phật Khất sĩ Việt Nam"
Ngài
lập phương châm hành đạo với chủ trương:
"Nên tập sống chung tu học" trong giới tăng đồ. Ngài cũng khuyến khích mọi
người cùng chung xây dựng một cõi đời hạnh phúc, nhân đạo tại trần gian
bằng cách:
Mỗi
người phải biết chữ,
Mỗi
người phải thuộc giới,
Mỗi
người phải tránh ác,
Mỗi
người phải (học đạo) làm thiện.
Ngài phát tâm thể hiện chí
nguyện đi theo và tái tạo con đường phạm hạnh sa môn khất sĩ của chư Phật
- Tăng xưa bằng hình ảnh:
Nhất
bát thiên gia phạn
Cô
thân vạn lý du
Dục
cùng sanh tử lộ
Khất
hóa dộ xuân thu
Nghĩa là:
Một
bát cơm ngàn nhà
Thân
đi muôn dặm xa
Muốn
thoát đường sinh tử
Xin
độ tháng ngày qua
Tịnh xá
được bắt đầu xây dựng vào tháng 4 năm 1965 và kéo
dài suốt 10 năm, trong một khuôn viên rộng 5490m2
do Bà Phán Nguyễn Văn Chà, pháp danh Diệu Kiến phát tâm
cúng dường. Lúc đầu Tịnh xá bao gồm tòa chánh điện,
nhà thờ Cửu huyền thất tổ, hai dãy nhà tăng và các
cốc của chư tăng. Nơi đây trở thành trụ sở của
Trung ương Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam từ năm
1966 đến năm 1980.
Từ
tháng 11 năm 1980, Thượng tọa Giác Toàn (trụ trì) và Thượng
tọa Giác Phúc (giáo phẩm hệ phái) đã tổ chức trùng
tu Tịnh xá bao gồm tầng trệt và tầng lầu. Chánh điện
xây pháp tháp kiểu bát giác, theo họa đồ của kiến trúc
sư Nguyễn Hữu Thiện. Phần tháp cao 4,40m, mỗi cạnh 2,25m.
Ở nóc tháp có 13 tầng, tượng trưng cho 13 tầng nấc tiến
hóa của chúng sinh (lục phàm, tứ thánh, tam tôn). Tháp
được làm bằng gỗ giáng hương, chung quanh chạm nổi hình
hoa sen. Phần trên là 12 bức chạm nổi minh họa cuộc
đời đức Phật Thích-ca. Toàn bộ cấu trúc của tháp do
ông Thiện Ngộ và nhóm thợ Trường Mỹ nghệ Long An thực
hiện từ năm 1982 đến năm 1984.
Bên
trong pháp tháp chánh điện tôn trí bảo tượng đức Phật
Thích-ca. Chung quanh vách tường có 8 bức phù điêu, mỗi
bức cao 2,20m, dài 4,50m, giới thiệu cuộc đời đức Phật.
Đây là công trình của các điêu khắc gia Minh Dung và
Hai Long.
Phía
sau chánh điện là nơi thờ Cửu huyền thất tổ, giữa
có tháp thờ Bồ-tát Địa Tạng. Ngoài sân trước có
pho tượng Bồ-tát Quan Thế Âm cao 9m, đứng trên tòa sen
cao 3m.
Trước năm1975, trên toàn miền
Nam. Giáo hội Tăng già Khất sĩ có khoảng 300 tịnh xá, mà văn phòng trung
ương là Tịnh xá Trung Tâm. Hội đồng lãnh đạo Giáo hội do ngài Trưởng lão
Giác Chánh làm Tăng chủ và Thượng tọa Giác Nhiên làm Tổng trị sự trưởng
tức Viện trưởng Viện Hành Đạo. Theo gương của Tôn sư Minh Đăng Quang, các
đệ tử của Ngài đã thành lập nhiều đoàn du tăng khất sĩ, gồm 6 giáo đoàn
chư tăng và 3 giáo đoàn ni giới. Với bộ y vàng, không nón mũ, giày dép,
tay bưng bát, các nhà sư khất sĩ đã dấn bước trên khắp các thành phố và
làng mạc miền Nam. Đi đến đâu họ cũng tổ chức thuyết pháp, xây cất tịnh
xá, tích cực tham gia quyên góp cứu trợ đồng bào nạn nhân chiến tranh và
thiên tai. Trên những nẻo đường hành đạo, nhà thơ Trần Quê Hương đã cảm
tác thành những dòng thơ in trong tập Suối về Hoa Nghiêm:
Mỹ
Tho thành phố quê hương mẹ
Gót
trải đầu tiên bước nhịp nhàng
Bình
bát ngàn nhà cơm gạo tẻ
Nhớ
tình phụ mẫu, nhớ mang mang.
An
Đức già lam dừng bước nghỉ
Bên
con sông nhỏ nước êm đềm
Khi
đêm dìu dịu hương lan lý
Say
ngất mùi thiền, vượt cõi thiên.
Mỹ Tho
cũng chính là nơi mà năm 1946, Tôn sư Đăng Minh Quang, sau
một thời gian hơn 2 năm tu trì tại chùa Linh Bửu, đã bắt
đầu dẫn đoàn du tăng đi hành đạo. Từ 1976 đến nay,
những đệ tử của Ngài đã tiếp nối bước chân hoằng
hóa bằng cách tĩnh tu và hành đạo tại những ngôi tịnh
xá của hệ phái, dưới ánh sáng những lời giáo huấn
và sự chứng giám của chân dung Tổ sư được tôn trí
thờ phụng tại Tịnh xá Ngọc Viên (Tổ đình), Tịnh xá
Trung Tâm và tịnh xá các nơi.
Thiền
viện VẠN HẠNH ▲
Tại
thành phố Hồ Chí Minh, trên đường từ Phú Nhuận đi Gò
Vấp, đến số 716 đường Nguyễn Kiệm, du khách sẽ thấy
hiện ra cổng tam quan bề thế của Thiền viện Vạn Hạnh.
Trước
năm 1975 nơi đây là Phân khoa Khoa học ứng dụng thuộc
Viện Đại học Vạn Hạnh do Hòa thượng Thích Minh Châu làm
Viện trưởng. Năm 1976, Hòa thượng đã tạo lập thiền
viện này làm nơi tu trì và nghiên cứu Phật học.
Thiền
viện tọa lạc trên một diện tích khoảng 1 hecta, bao gồm
ngôi chánh điện; một nhà tổ; các dãy nhà làm trụ
sở trường Cao cấp Phật học Việt Nam, văn phòng Viện
nghiên cứu Phật học, văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại
Tạng Kinh Việt Nam; dãy nhà tăng và trai đường.
Cổng
thiền viện được xây dựng năm 1990 theo kiểu kiến trúc
cổ Phật giáo ở Huế do Đại đức Tâm Đoan và Đại
đức Tịnh Quang đảm trách. Ngôi chánh điện gồm hai tầng.
Ở tầng trệt, gian giữa thờ tượng đức Phật Thích-ca
màu trắng ngà ngồi trên tòa sen, vẻ mặt đầy bao dung. Nơi
đây bài trí đơn sơ nhưng rất nghiêm cẩn. Hai bên là
phòng đọc sách của thư viện với nhiều sách quý. Tầng
lầu là phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng
Viện chủ.
Ngôi
nhà Tổ cũng có hai tầng. Tầng lầu thờ Phật và thờ
Tổ. Trên bàn thờ Tổ có chân dung cố Đại lão Hòa thượng
Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống nhất trước đây. Tầng trệt là giảng đường, nơi
thường tổ chức các buổi giảng kinh, thuyết pháp, nói
chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ?
Thiền
viện Vạn Hạnh giữ một vị trí rất quan trọng trong việc
nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp. Đây là nơi làm
việc của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng
Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết học và Phật học, làm Viện
trưởng. Cơ cấu của Viện gồm có: Ban Phật giáo Việt
Nam, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Phật giáo chuyên môn, Ban
in ấn và xuất bản. Ngoài ra, ở đây còn đặt văn phòng
Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam do Hòa thượng
Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong bốn năm qua, Viện đã
xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng kinh điển như: Kinh
Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập), Kinh Tương Ưng (5
bộ)? được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên
bản Pali ra tiếng Việt; Kinh Trường A Hàm (2 tập), Trung A
Hàm (3 tập), Tạp A Hàm (2 tập)? được các vị Hòa thượng
Thích Trí Tịnh, Thích Trị Siêu? dịch từ bản Hán tạng
ra tiếng Việt. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời sống văn hóa
dân tộc.
Thiền viện Vạn Hạnh còn là một
trung tâm đào tạo tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi đây đặt trường Cao
cấp Phật học Việt Nam. Ban Giám hiệu của Trường hiện nay (khóa III, nhiệm
kỳ III, 1993 - 1997) gồm có:
Hiệu
trưởng: Hòa thượng Thích Minh Châu
Phó
Hiệu trưởng: Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Phó
Hiệu trưởng: Thượng tọa Thích Giác Toàn
Phó
Hiệu trưởng: Cư sĩ Tống Hồ Cầm
Tổng
Thư ký: Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn
Chánh
văn phòng: Đại đức Thích Đạt Đạo
Trường
đào tạo theo phương thức tập trung thông qua một kỳ thi
tuyển, mỗi khóa học kéo dài 4 năm, với văn bằng tương
đương trình độ đại học. Từ năm 1984 đến nay, Trường
đã mở được 3 khóa, đào tạo hơn 400 Tăng Ni sinh. Chương
trình giảng dạy gồm phần nội điển do chư tôn túc giảng
sư của Giáo hội phụ trách và phần ngoại điển do các
giáo sư, giảng viên các trường Đại học đảm nhiệm.
Ngoài
các trách vụ lãnh đạo Viện nghiên cứu Phật học và
trường Cao cấp Phật học, Hòa thượng Thích Minh Châu còn
đảm đương nhiệm vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội
đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng
ban Phật giáo quốc tế, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Châu
Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa
thượng đã nhiều lần tham gia các diễn đàn, hội thảo,
hội nghị về văn hóa Phật giáo ở nước ngoài.
Thiền viện Vạn Hạnh thường
xuyên được vinh dự đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo hội Phật giáo trên
thế giới và nhiều đoàn khách quốc tế đến làm việc, thăm viếng, cùng đông
đảo du khách, Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào ngày lễ Phật đản,
Vu lan?
Chùa BỬU PHONG
-- ĐỔNG NAI▲
Chùa Bửu Phong là một
danh lam thắng cảnh không chỉ của tỉnh Đồng Nai mà còn của
cả miền Nam. Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long thuộc thôn
Bình Điện, xã Tân Bửu, cách thành phố Biên Hòa 4km.
Do địa danh ấy nên còn có tên là chùa Bình Điện.
Chùa được Hòa thượng
Bửu Phong dựng vào khoảng thế kỷ XVII, lúc đầu chỉ là
một am tranh nhỏ thờ Phật. Sách Đại Nam nhất thống chí
viết rằng: "Núi Bửu Phong ở phía Nam huyện Phước
Chánh 13 dặm, phía Tây trông xuống sông lớn, phía sau làm
hộ vệ cho núi Long Ẩn. Trên núi có chùa Bửu Phong khói
mây man mác, cây cối um tùm là thắng cảnh thứ nhất
trên tỉnh hạt. Xưa có nhà sư là Hòa thượng Bửu Phong
lập chùa trên núi, cho nên thường gọi tên là núi Bửu
Phong".
Vào cuối thế kỷ XVIII,
số người Hoa đến vùng đất này sinh sống ngày càng đông,
trong đó có những người mộ đạo Phật đã xây cất
lại ngôi chùa bằng gạch ngói. Họ đã mời Thiền sư
Thành Trí, pháp danh Pháp Thông - Thiện Hỉ, thuộc Thiền
phái Tào Động thế hệ thứ 36, đến trụ trì và tôn làm
vị Tổ đầu tiên của chùa. Thiền sư Pháp Thông cũng là
người có công khai sơn chùa Long Ẩn dựng trên núi Long
Ẩn phía trước núi Bửu Long. Ngày nay tại chùa này còn
tháp của Tổ sư Pháp Thông xây theo hình khối lục giác.
Theo tài liệu của ông
Nguyễn Hiền Đức in trong sách Thiền sư Việt Nam của Hòa
thượng Thích Thanh Từ, thì Hòa thượng Pháp Thông không
có đệ tử thay thế, nên Thiền sư Viên Quang là người
Minh Hương thuộc Thiền phái Lâm Tế đời thứ 36 được
cử về trụ trì chùa Bửu Phong. Năm 1760, Thiền sư Viên
Quang đã trùng tu chùa này.
Đến năm Ký Sửu (1829)
chùa được xây cất lại và mở rộng do Tham tướng
Nguyễn Văn Hiệp và Hương bảo Nguyễn Văn Tâm pháp nguyện
hiến cúng. Ngoài ra chùa còn được sửa chữa nhiều lần
vào cuối thế kỷ XIX và những năm gần đây.
Đến thăm chùa Bửu
Phong, sau khi leo lên 100 bậc cấp, du khách có ấn tượng
sâu sắc khi đứng trước tòa kiến trúc này. Mặt tiền
có ba cửa vòng cung lớn, hai bên lại có bốn ô cửa
vòng cung nhỏ.
Bên trên mặt tiền trang trí các
hoa văn đắp nổi bằng mảnh sành, mảnh sứ rất công phu và độc đáo. Trước
chùa có tượng Bồ-tát Quan Thế Âm do Yết-ma Thiện Giáo dựng vào năm 1963.
Hai câu đối ở hai cột chính nói lên ý nghĩa của tên chùa:
Bửu
nhạc phối đề y Thứu Lĩnh
Phong
sơn qún mỹ tự Kỳ Viên
Nghĩa là:
Bửu
nhạc dịu dàng như Thứu Lĩnh
Phong
sơn đẹp đẽ tựa Ký Viên
(Giản
Chi dịch)
Bên trong chánh điện có
tượng Phật Di-đà cổ. Điện Phật được trang hoàng rực
rỡ. Xá-lợi Phật được tôn trí ở ngôi bảo tháp
sau chánh điện.
Hiện nay vùng núi Bửu Long đã
trở thành một quần thể di tích thắng cảnh du lịch của tỉnh Đồng Nai. Du
khách đến Đồng Nai không thể không viếng chùa Bủu Phong nằm trong toàn
cảnh núi Bửu Long hay núi Bình Điện và sông Trường Giang, tức sông Đồng
Nai:
Phía
sau Bình Điện ngăn phong lãnh
Mé
trước Trường Giang nước chảy quanh
Chung quanh khu vực này còn có
các ngôi tháp cổ và những pho tượng lộ thiên khá lớn như tượng đức Phật
đản sinh, tượng đức Phật thiền định, tượng đức Phật nhập niết bàn?
Chùa HỘI
KHÁNH - SÔNG BÉ▲
Chùa Hội Khánh được
Thiền sư Đại Ngạn (thuộc dòng Lâm Tế) khai sơn năm Cảnh
Hưng thứ 2, đời Lê Hiển Tông, tức năm Tân Dậu
(1741). Lúc đầu chùa được xây trên một ngọn đồi
cao, nhưng đến năm thứ 14 đời Tự Đức, tức năm Tân
Dậu (1861), chiến tranh đã thiêu hủy toàn bộ ngôi chùa.
Bảy năm sau (1868), chùa được Hòa thượng Chánh Đắc
cho xây dựng lại dưới chân đồi, cách vị trí chùa cũ
khoảng 100m về phía Nam. Địa chỉ của chùa hiện nay là 35
đường Yersin, phường Phú Cường, thị xã Thủ Đầu Một,
tỉnh Sông Bé, cách thành phố Hồ Chí Minh 25km về phía
Nam.
Chùa nằm cách đường
lộ 150m. Sau cổng tam quan cổ kính có chạm trổ rồng phượng
là khuôn viên chùa yên tĩnh, với nhiều cây cao bóng cả,
trong đó đặc biệt có bốn cây dầu cao chót vót , cành
lá sum suê, được trồng lúc chùa mới bắt đầu xây dựng,
nay tuổi cây đã trên một thế kỷ.
Chùa đã được tôn tạo
và trùng tu nhiều lần , nhưng vẫn giữ được kiến trúc
cổ mang màu sắc dân tộc. Giảng đường và Đông lang
được xây lại năm 1917, Tây lang được xây lại năm
1984. Ngôi chánh điện được xây dựng trong hai năm
1990-1991. Và gần đây nhất , ngày 29-2-1992, Ban Trị sự Tỉnh
hội Phật giáo tỉnh Sông Bé đã tổ chức lễ lạc thành
trùng tu di tích chùa Hội Khánh.
Trong chùa, toàn bộ diện
tích chánh điện, giảng đường, Đông lang và Tây lang rộng
đến 700 m2. Ở chánh điện, các pho tượng Phật
Thích-ca, Địa Tạng, Chuẩn Đề? đều được tạc bằng
gỗ, sơn son thếp vàng. Ba tấm bao lam chạm khắc Tứ linh, Tứ
quí, Cửu long và Thập bát La-hán rất tinh vi, có giá trị
nghệ thuật cao. Hai bên tường của chánh điện có bộ tượng
Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La-hán. Các tác
phẩm chạm khắc gỗ này được tạc vào những năm cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do nhóm thợ điêu khắc nổi
tiếng ở Thủ Dầu Một lúc đó thực hiện.
Hơn 250 năm nay, chùa Hội
Khánh lưu truyền kế vị đến 10 đời, trong đó có 9 vị
đã viên tịch là: Đại Ngạn, Chân Kính, Chánh Đắc, Trí
Tập, Thiện Quới, Từ Văn, Ấn Bửu - Thiện Quới, Thiện
Hương, Quảng Viên. Trước sân chùa có những ngôi tháp
của các vị trụ trì đã viên tịch. Hiện nay trụ trì chùa
là Đại đức Thích Huệ Thông, Chánh Thư ký Ban Trị sự
Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Sông Bé.
Chùa Hội Khánh là trung
tâm Phật giáo Cổ truyền của cả vùng đất Bình An xưa
kia. Đây cũng là trung tâm đào tạo tầng lớp sĩ phu của
đất Bình An và đất Thủ Dầu Một sau này. Các nhà sư
cũng chính là người dạy học chữ Hán. Chùa Hội Khánh
đã góp phần đào tạo nhiều thế hệ tu sĩ để trụ trì
các chùa khác trong vùng. Một trong những danh tăng xuất
thân từ chùa là Hòa thượng Thích Từ Văn được xem
là Tăng thống Phật giáo Nam Kỳ và được mời sang
Marseille (Pháp) làm lễ cầu siêu và thuyết pháp vào năm
1920. Chính Ngài đã thỉnh tượng Phật và đưa thợ thủ
công sang Pháp để xây dựng chùa Hội Khánh bên đó.
TRong những năm 1923 -
1926, ở chùa Hội Khánh có lập Hội Danh dự Yêu nước
gồm các sĩ phu tham gia chữa bệnh, dạy học để truyền bá
đạo lý. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đã sống và hoạt động tại chùa trong thời gian này.
Sau năm 1945, chùa Hội
Khánh là nơi qui tụ các Tăng Ni của 40 ngôi chùa khác
trong tỉnh Thủ Dầu Một, lập ra Hội Phật giáo Cứu quốc
do Thượng tọa Thích Minh Tịnh làm Chủ tịch.
Do bề dày lịch sử của
chùa Hội Khánh, ngày nay nơi đây đã vinh dự được
chọn đặt trụ sở Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo tỉnh
Sông Bé và được Bộ Văn hóa công nhận là di tích lịch
sử - văn hóa quốc gia.
Chùa VĨNH
TRÀNG▲
Du khách đến Mỹ Tho mà
không thăm chùa Vĩnh Tràng là một điều thiếu sót. Đây
là ngôi chùa cổ danh tiếng và là một công trình kiến
trúc tiêu biểu ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc trên mảnh vườn
cây ăn trái rộng gần 2 hecta, thuộc làng Mỹ Hóa, nay là
xã Mỹ Phong, bên con rạch Bảo Định hiền hòa nước ngọt
quanh năm.
Vào nửa đầu thế kỷ
XIX, chùa vốn là một thảo am do ông Tri Huyện Bùi Công
Đạt phát nguyện xây cất để di dưỡng tinh thần sau khi
về hưu. Ông thỉnh Hòa thượng Từ Lâm ở chùa Bửu Lâm
về trụ trì. Sau khi ông Bùi Công Đạt qua đời, Hòa thượng
Huệ Đăng dã vận động tín đồ xây dựng thành ngôi
đại tự với tên Vĩnh Tran2g, hoàn thành vào mùa hè năm
Canh Tuất (1850).
Khi thực dân Pháp đánh
chiếm Định Tường, chùa Vĩnh Tràng bị hư hại khá nặng.
Người kế vị Hòa thượng Huệ Đăng là Hòa thượng
Thiện Đề, sư đệ của Ngài, nối tiếp công việc trùng
tu ngôi chùa. Sau khi Hòa thượng Thiện Đề viên tịch, chùa
Vĩnh Tràng hương tàn khói lạnh. Năm 1890 tín đồ đã đến
chùa Sắc tứ Linh Thứu thỉnh Hòa thượng Trà Chánh Hậu
về trụ trì. Ngài quê ổ Mỹ Tho, là đệ tử Hòa thượng
Minh Phước gốc Tổ đình Bửu Lâm. Năm 1895 Hòa thượng
Chánh Hậu cùng bổn đạo trùng tu toàn bộ ngôi chùa. Đến
năm 1904, do một trận bão lớn, chùa lại bị tàn phá, vì
vậy mà 3 năm sau (1907), chùa Vĩnh Tràng được trùng tu
một lần nữa. Hòa thượng Chánh Hậu trụ trì 33 năm
(1890 - 1923) thì qua đời, Kế tục sự nghiệp của Ngài ,
Hòa thượng Minh Đàn, pháp danh Tâm Liễu, cho xây dựng
cổng tam quan, mặt tiền, chánh điện và nhà thờ tổ.
Trước cửa chùa có
tam quan tráng lệ do tốp thợ người Huế thực hiện năm
1933, với sự tài trợ về kinh phí của hai ông Huỳnh Trí
Phú và Lý Văn Quang. Chiếc cổng giữa bằng sắt lâu nay
vẫn đóng kín. Hai cổng bên bằng bê-tông cốt thép vươn
cao như hai tòa lâu đài cổ. Nét độc đáo của tam quan
chùa Vĩnh Tràng thể hiện ở nghệ thuật ghép mảnh sành,
mảnh sứ để tạo nên những bức tranh với màu sắc hài
hòa, minh họa những sự tích nhà Phật, những truyện tích
dân gian và những đề tài Tứ quí, Tứ linh, hoa lá?
Tầng lầu thượng của cổng tam quan có vòm cửa rộng, bên
phải đặt tượng Hòa thượng Chánh Hậu, bên trái đặt
tượng Hòa thượng Minh Đàn. Cả hai tượng này đều đắp
bằng xi măng giống như người thật, do điêu khắc gia
Nguyễn Phi Hoanh thực hiện.
Mặt tiền chùa Vĩnh Tràng
trang trí theo kiểu kết hợp đặc điểm kiến trúc cả Á
lẫn Âu. Ở đây có những hoa văn theo kiểu thời Phục
Hưng, vòm cửa theo kiểu La Mã, bông sắt của Pháp, gạch
men của Nhật Bản? Chữ Hán viết theo lối chữ triện
cổ kính , còn chữ quốc ngữ lại viết theo lối chữ gô-tích.
Từ xa trông vào, du khách có thể hình dung ngôi chùa như
đền Ăng-co có năm tháp. Theo lời truyền tụng của nhân
dân địa phương, thì Hòa thượng Minh Đàn và ông Huỳnh
Trí Phú đã từng du lịch sang xứ Chùa Tháp nên tiếp
thu được cái đẹp trong kiến trúc ngôi chùa bên đó,
kết hợp với kiến trúc phương Tây.
Ở chánh điện có các
bao lam được chạm trổ công phu, trong đó có bộ phù điêu
Bát Tiên cỡi thú do các nghệ nhân tại địa phương thực
hiện vào khoảng năm 1907 - 1908. Trên bàn thờ có nhiều
pho tượng Phật như A-di-đà, Thích-ca, La-hán và tượng
các vị Bồ-tát. Hai bên bàn thờ là tượng chân dung Hòa
thượng Chánh Hậu và người kế pháp là Hòa thượng
Minh Đàn. Các Hòa thượng Huệ Đăng, Chánh Hậu, Minh Đàn
đều thuộc Thiền phái Lâm Tế.
Bộ tượng cổ nhất ở
chùa Vĩnh Tràng là bộ Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí)
bằng đồng. Tiếc rằng tượng Quan Âm đã bị thất lạc từ
lâu. Sau này Hòa thượng Chánh Hậu phải thuê thợ làm
tượng khác bằng gỗ thế vào cho đủ bộ. Tượng Ngọc
Hoàng cũng bằng đồng, to gần bằng người thật, cùng
phong cách với tượng Già Lam, Đạt-ma ở chùa Bửu Lâm.
Khác với thông lệ xưa nay, Ngọc Hoàng ở đây không có
Nam Tào, Bắc Đẩu cầm sổ sinh tử đứng hầu hai bên.
Thay vào chỗ đó là Ông Thiện và Ông Ác.
Hai bên tường chánh điện
là bàn thờ Thập điện Minh Vương. Đặc biệt ở đây
có bộ Thập bát La-hán là những tác phẩm chạm khắc
gỗ độc đáo mà một số nghệ nhân ở Nam Bộ đã tạc
vào năm 1907 theo sự chỉ đạo của Hòa thượng Chánh Hậu.
Bộ tượng này bằng danh mộc, mỗi tượng cao khoảng
0,80m, bề ngang 0,58m, được đặt hai bên điện Phật gọi
là sáu căn: mắt, tai, lưỡi, mũi, thân và ý; ở ba
thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Các tượng La-hán
này được tạo hình cân đối, sinh động, cỡi trên các
con thú như trâu, bò, ngựa, lạc đà, hà mã, tê giác
v.v?
Trong khuôn viên chùa Vĩnh
Tràng có nhiều chậu cây cảnh, hòn non bộ được chăm
sóc thường xuyên. Dưới bóng cây, tháp Hòa thượng
Chánh Hậu và gia đình được xây dựng bề thế có tường
rào bao bọc.
Nhìn chung, vẻ đẹp của
chùa Vĩnh Tràng tập trung ở nghệ thuật tạo hình. Có ý
kiến cho rằng có thể xem chùa Vĩnh Tràng là một bản tổng
kết lịch sử mỹ thuật của đất Tiền Giang.
Hiện chùa Vĩnh Tràng l2 nơi đặt
văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo và trường Cơ bản Phật học tỉnh
Tiền Giang. Chùa đã trở thành điểm du lịch và hành hương của tỉnh, thu hút
du khách và Phật tử hàng ngày. Tết Tân Dậu (1982) nhà thơ Xuân Thủy đã đến
viếng chùa và viết tặng một bài thơ:
Đức
Phật giàu tình thương
Nên
chùa tên Vĩnh Tràng
Nhà
sư vốn yên nước
Lòng
như sông Tiền Giang
Chùa KH'LEANG▲
Thị xã Sóc Trăng có
khá nhiều ngôi chùa, trong đó Kh'Leang là ngôi chùa cổ
nhất. Bên cạnh những ngôi chùa Việt mà chúng ta thường
thấy, đây là một công trình kiến trúc khá độc đáo
mang đậm dấu ấn của văn hóa Khmer.
Tọa lạc trên một khuôn
viên rộng 3,5 hecta với nhiều cây cao bóng cả, lúc đầu
đây chỉ là một ngôi chùa làm bằng gỗ lợp la, sau mới
sửa lại bằng gỗ lợp ngói. Từ khi xây dựng (năm
1533) đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần, lần
trùng tu gần nhất cách nay cũng đã trên 80 năm. Tính từ
vị tổ đầu tiên là Đại đức Thạch Sóc cho đến Đại
đức Tăng Nô trụ trì hiện nay, chùa Kh?Leang đã trải
qua 21 đời truyền thừa.
Có hai lối đi vào chùa: cổng chính ở số 71 đường Mậu Thân, cổng phụ ở
đường Nguyễn Chí Thanh. Nền chùa cao hơn mặt đường
khoảng 1m có ba bậc sân, mỗi bậc được bao bọc bởi một
tường rào xây bằng gạch. Có bốn cửa ra vào mở theo
theo bốn hướng. Cửa ngoài cùng xây rất công phu, gần
như cổng chính.
Ở trung tâm nền chùa,
ngôi chánh điện vươn cao lên nền trời, với diện tích
gần 200 m2 (chiều rộng (,20m, chiều dài 20,80m). Bộ
khung mái gồm ba cấp, chia thành 9 nếp, làm toàn bằng gỗ.
Mái được đỡ bằng 12 cây cột to, xây theo kiểu
corinthien của Hy Lạp, có chu vi tới 1,10m, phủ sơn đen bóng
và có vẽ hình rồng, hình cá uốn lượn màu vàng lộng
lẫy. Trước bàn thờ có một tấm bao lam cao tới mái,
được sơn son thếp vàng. Ở chính giữa tôn trí pho tượng
đức Phật Thích-ca chiều cao 6,80m, phần tượng cao 2,70m. Tấm
bia bằng chữ Khmer phía sau pho tượng cho biết L "Đại
đức Liêu Đuông, đời truyền thừa thứ 17, đã đứng
ra lập tượng Phật vào năm Phật lịch 2460 với sự cúng
dường của gia đình ông Lum Sum".
Nói đến kiến trúc đặc biệt của
chùa Kh'Leang, cần lưu ý các khái niệm và hình tượng có liên quan đến văn
hóa Khmer sau đây:
- Hô Cheang là tên gọi
hai đầu hồi được các nghệ nhân Khmer chạm trổ rất công
phu với các họa tiết trang trí và theo phép đối xứng.
- Krud hay Garuda là hình tượng
một loại chim thần có mình người; đầu, chân và hai cánh
của chim, mỏ ngậm một viên hồng ngọc. Loài chim này là
kẻ thù truyền kiếp của rắn. Cho nên, nếu hình tượng
khúc đuôi rắn dài và cong vút được đắp trên đầu
các góc mái chùa, thì hình tượng Krud được án ngữ
ở chỗ tiếp giáp đầu cột với đuôi mái chùa.
- Yeak (Chằn) trong các
chuyện cổ Khmer là nhân vật tượng trưng cho cái Ác, thường
gieo điều dữ cho con người. Hình tượng Yeakcó dáng vẻ
của một người mang bộ mặt dữ tợn, miệng to, răng
nanh dài, mắt lồi, lông mày xếch. Mình Yeak mặc áo giáp,
đầu đội mũ nhọn và tay cầm cái chày dài. Trong nghệ
thuật trang trí chùa Khmer, Yeak đã được đức Phật cải
hóa và đặt đứng hai bên bậc thềm ở phía trước chánh
điện nhằm mục đích bảo vệ ngôi chùa.
- Reach Cha Sei là con vật
mà Tiên nữ và Yeak đứng trên đó khi giao đấu với
nhau. Hình tượng này được chạm trổ trên hai cánh cửa
ra vào chánh điện.
- Teahu là hình tượng người
có bộ mặt hung dữ, hai tay bưng mặt trời hay mặt trăng
chuẩn bị nuốt vào bụng. Hình tượng này cũng được
trang trí tren khung cửa ra vào.
- Sala là dãy nhà sàn
rộng rãi, thông thoáng được xây bên cạnh chánh điện,
dùng làm chỗ cử hành lễ dâng cơm cho sư sãi và nơi
hội họp của các Phật tử trong các ngày lễ hội.
Trong khuôn viên chùa có
sáu tháp để cốt của các sư sãi và Phật tử đã qua
đời. Chùa Kh'Leang đã được Bộ Văn hóa công nhận là
di tích lịch sử - văn hóa ngày 27-4-1990. Đợt trùng tu mới
nhất của chùa được hoàn thành vào cuối năm 1994.
Chùa
TÂY AN▲
Chùa Tây An là một
trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Nam bộ, có giá
trị về mặt lịch sử và kiến trúc. Chùa do Tổng đốc tỉnh
An Giang là Doãn Uẩn xây dựng năm 1847, tọa lạc ở ngã
ba Núi Sam, cách thị xã Châu Đốc 5km. Sách Đại Nam nhất
thống chí đã giới thiệu: "Chùa ở định phận thôn
Vĩnh Tế, huyện Tây Xuyên, nguyên Tổng đốc mưu lược tướng
Trung Tĩnh Tử Doãn Uẩn kiến trúc năm Thiệu Trị thứ 7
(1847). Chùa đứng trên núi, mặt trước trông ra tỉnh thành,
phía sau dựa theo vòm núi, tiếng người lặng vắng , cổ
thụ âm u, cũng một thắng cảnh thiền lâm vậy".
Gần 150 năm qua, chùa Tây
An đã được sữa chữa nhiều lần. Hai lần sửa chữa
lớn nhất là: Năm 1861, Hòa thượng Nhất Thừa trùng tu
lại chánh điện và hậu tổ. Đến năm 1958, Hòa thượng
Bửu Thọ đứng ra vận động dân góp tiền của, công sức
xây dựng ba ngôi lầu cổ, mặt chính của chùa và sữa
chữa ngôi chính điện. Kiến trúc chùa mang phong cách nghệ
thuật Ấn Độ và Hồi giáo kết hợp với kiến trúc cổ
dân tộc.
Nơi cổng tam quan có bức
tượng Quan Âm Thị Kính bế con Thị Mầu. Trước thềm chùa
có hai con voi - một con màu đen hai ngà, một con màu trắng
sáu ngà - đứng chầu. Bên trong chánh điện có khoảng
200 pho tượng Phật, Bồ-tát, La-hán, Thần và Tiên, đa
số bằng danh mộc, mang ý nghĩa triết lý Phật giáo và có
giá trị nghệ thuật cao. Sinh động nhất là bộ tượng Tứ
Thiên Vương (Đông Thiên Vương, Tây Thiên Vương, Nam Thiên
Vương, Bắc Thiên Vương) và bộ tượng Bát bộ Kim Cương.
Chùa còn có nhiều câu
đối và hoành phi trạm trổ rất công phu. Tất cả công
trình được tạo tác bởi bàn tay điêu luyện của các
nghệ nhân An Giang, Đồng Tháp vào thế kỷ XIX.
Phía sau chùa có nhiều
tháp mộ, Trong đó đáng chú ý nhất là mộ Phật Thầy
Tây An. Thầy tên là Đoàn Minh Huyên quê ở Tòng Sơn
(Sa Đéc), sinh năm Đinh Mão (1807), mất năm Bính Thìn
(1856). Là người có tinh thần cải cách tôn giáo, Từ
năm 1849, Thầy đã đi truyền đạo nhiều nơi và chữa bệnh
cho nhiều người nên có uy tín lớn trong nhân dân. Sau đó
Thầy về tu tại chùa Tây An. Nhân dân kính trọng tài năng
và đức độ của thầy nên đã tôn xưng là Phật Thầy
Tây an.
Hằng năm, chùa Tây An
có các ngày lễ chính: rằm tháng giêng (thượng nguyên),
rằm tháng mười (hạ nguyên) và 12 tháng 8 âm lịch (giỗ
thầy Tây An). Vào các ngày lễ ấy và các tháng lễ hội
núi Sam, Châu Đốc (từ tháng 1 đến hết tháng 4 âm lịch
hàng năm), khách hàng hương các nơi đến chùa chiêm bái
rất đông.
Chùa
SẮC TỨ TAM BẢO▲
Tỉnh Kiên Giang có hai ngôi
chùa nổi tiếng đều tên là Tam Bảo: một chùa ở Rạch
Giá, một chùa ở Hà Tiên. Chùa Tam Bảo ở Rạch Giá
vốn là nơi tu hành của bà Dương Thị Cán tục gọi là
bà Hoặng. Bà là ân nhân đã giúp đỡ Nguyễn Ánh lúc
còn bôn ba, nên sau khi vua Gia Long lên ngôi, chùa này
được Vua sắc tứ để tạ ơn.
Chùa tọa lạc tại số 6
đường Thích Thiện Ân, thị xã Rạch Giá . Từ trên
đường Nguyễn Trung Trực, du khách đã thấy tấm bản đề
"Sắc tứ Tam Bảo Tự". Ngôi chánh điện của chùa
kiến trúc theo kiểu thượng lầu hạ hiên. Ở mặt tiền
bên trên hàng hiên là ngọn bảo tháp ba tầng tượng trưng
Cửu phẩm Liên hoa. Chánh điện có chiều ngang 14,50m, chiều
dọc 22m. Năm bao lam ở các bàn thờ được chạm trổ công
phu, thếp vàng rực rỡ. Các tượng Phật Di-đà, Thích-ca
và các vị Bồ-tát được bài trí trang nghiêm.
Đông lang được dùng
làm phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng trụ
trì. Tây lang và giảng đường của chùa được dùng làm
Tuệ Tĩnh đường, nơi chữa bệnh miễn phí cho đồng bào.
Lịch sử chùa Sắc tứ
Tam Bảo gắn liền với tên tuổi Hòa thượng Thích Trí
Thiền, thế danh là Nguyễn Văn Đồng, sinh năm 1882, tịch năm
1943. Chính Ngài đã chăm lo việc trùng kiến ngôi chùa như
ta thấy hiện nay vào năm 1917. Hòa thượng Trí Thiền cũng
là người có công sáng lập Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật
học vào năm 1931. Hội này đặt trụ sở tại chùa Linh Sơn,
số 149 đường Douaumont (nay là Cô Giang), Saigon. Hội xuất
bản tạp chí Từ Bi Âm để truyền bá giáo lý, lập Pháp
Bảo phường, thỉnh Tam Tạng Kinh làm tài liệu nghiên cứu.
Sau đó Hòa thượng Trí
Thiền và sư Thiện Chiếu trở về Rạch Giá lập Phật giáo
Kiêm Tế Hội, chủ trương vừa truyền bá giáo lý nhà
Phật, vừa vận động tín đồ làm công tác xã hội. Sau
Nam Kỳ khởi nghĩa, một số cán bộ mượn chùa Tam Bảo
làm nơi chế tạc đạn, chuẩn bị nổi dậy chống Pháp. Nhưng
công việc bị phát hiện, Hòa thượng Trí Thiền can đảm
nhận trách nhiệm nên bị thực dân Pháp bắt đầy ra Côn
Đảo và hi sinh tại đó năm 1943. Một đệ tử của Ngài
là nhà sư trẻ Thiện Ân, lúc bị địch bắt, đã dũng cảm
hi sinh bằng cách cho tạc đạn nổ để tiêu diệt bọn mật
thám. Tấm lòng ưu dân ái quốc của các vị sư ở chùa
Tam Bảo đã được Hòa thượng Thích Bổn Châu, nhắc tới
trong tập thơ Việt Nam anh kiệt.
Ngày nay, chùa đặt văn
phòng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang . Chùa đã
được Bộ Văn Hóa ra quyết định công nhận di tích lịch
sử - văn hóa vào ngày 23-3-1988.
THÍCH
CA PHẬT ĐÀI▲
Du khách
đến thăm thành phố biển Vũng Tàu đừng quên viếng Thích
Ca Phật đài, một danh lam thắng cảnh nổi tiếng nằm ở
Tây Bắc sườn núi Lớn. Đây là công trình do hệ phái
Phật giáo Nam tông xây dựng năm 1961 và hoàn thành năm
1963.
Khu vực
này rộng khoảng 5 hecta, gồm Thiền Lâm Tự phía dưới và
Thích-ca Phật đài phía trên. Thiền Lâm Tự vốn là một
ngôi chùa nhỏ bằng gạch do một công chức hồi hưu quê
quán ở Vũng Tàu xây dựng từ năm 1957. Đến năm
1961, Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy đã tổ chức trùng
tu ngôi chùa bên dưới và xây cất Thích-ca Phật đài
trên núi. Cạnh đó còn xây một nhà tạm trú dành cho
Phật tử từ xa đến hành hương.
Đến
Vũng Tàu, từ chợ Bến Đình rẽ trái đi hơn 1km là tới
chân núi Lớn. Tại đây, sát bên đường đi xuất hiện
một cổng tam quan khá to với 4 cây cột vươn lên vững
chắc nhưng thanh thoát. Qua khỏi tam quan, bước trên từng
bậc đá men sườn núi, du khách sẽ đi dần lên núi theo
một con đường khá đẹp: một bên vách núi
nhẵn nhụi như tường thành, một bên là vũng sâu soải
dài ra phía biển. Gần đến đỉnh, du khách như bước vào
một khu rừng thưa, có tiếng chim ríu rít trong các tàn cây.
Theo con
đường làm bằng những bậc đá, rải rác trên sườn
núi, du khách sẽ chiêm ngưỡng các pho tượng minh họa sự
tích đức Phật: Thích-ca đản sinh,Thích-ca xuất gia, Thích-ca
thành đạo, Thích-ca chuyển pháp luân, Thích-ca nhập niết
bàn, voi và khỉ dâng quả. Bên cạnh đó là một khu vườn
với nhiều chậu cảnh, hoa nở suốt bốn mùa, bao quanh một
ngôi nhà hình bát giác, tượng trưng vườn Lộc (vườn
Nai), nơi đức Phật giảng kinh cho năm đệ tử đầu tiên
của Ngài là chư tôn giả Kiều Trần NHư, Ác-bệ, Bà-phả,
Ma-ha-nam, Bạc-đề. Trên đường lên núi còn có một cây
bồ đề xanh tươi do ngài Trưởng lão Narada Maha Thera cung
thỉnh một nhánh của cây bồ đề từ Tích Lan trồng tại
đây ngày 2-11-1960. Đường lên Thích-ca Phật đài được
nối dài bằng hệ thống bậc thang lớn, hai bên có 6 con
rồng uốn mình. Trên cao, ở phía đuôi rồng là hai con sư
tử lớn, tượng trưng cho Đại Hùng và Đại Lực. Kế
đó là một cái sân rộng lát đá, ở giữa xây tháp
Xá Lợi hình bát giác cao 19m bốn phía đặt bốn đỉnh lớn.
Các đỉnh này chứa dất mang về từ bốn Thánh địa ở
Ấn Độ là vườn Lâm-tỳ-ni, nơi đức Phật đản sinh;
Bồ-đề Đạo tràng, nơi dức Phật thành đạo; vườn Lộc
Uyển, nơi đức Phật chuyển pháp luân và rừng Sala Song
Thọ tại Kusinara, nơi đức Phật nhập diệt.
Nhìn về
bên phải , du khách sẽ thấy hiện ra tượng đức Phật
Thích-ca ngồi kiết guià trên một tòa sen. Tượng này cao
10,20m, đường kính bệ dài 6m, khánh thành ngày 10-3-1963.
Tượng Phật Thích-ca và tháp Xá-lợi đều màu trắng nổi
bật trên màu xanh của nền trời và lá cây.
Từ vị
trí của Thích-ca Phật đài, nhìn chung quanh sườn núi lớn,
biển hiện ra ở cả 3 phía. Từ đây có thể thu vào tầm
mắt mũi Cần Giờ, đảo Long Sơn và tổ hợp giàn khoan
dầu khí ngoài khơi xa. Do địa thế thiên nhiên và cảnh
quan hùng vĩ, khu vực Thích-ca Phật đài đã trở thành
điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông
đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu.
Tài
liệu Tham Khảo
1. Di tích văn hóa ở An Giang.Sở Văn hoá
và Thông tin An Giang,1990.
2. Đặng Đức Siêu (chủ biên), NguyễnVinh
Phúc,Phan Khanh, Phạm Mai Hùng.Việt Nam di tích và thắng cảnh.
NXB Đà Nẵng - Công ty phát hành sách Hà Nội. 1991.
3. Đinh Gia Khánh, Trần Tiến (chủ biên).
Địa chỉ văn hóa dân gian: Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.
Sở Văn hóa và Thông tin Hà Nội. 1991.
4. Hà Văn Tấn, Nguyễn văn Kự, Phạm Ngọc
Long. Chùa Việt Nam. NXB Khoa học Xã hội, H., 1993.
5. Hoàng Thiếu Sơn, Tạ Thị Bảo Kim. Việt
Nam non xanh nước biếc. NXB giáo dục, H., 1991.
6. Huỳnh Ngọc Đáng, Phú Cường - lịch sử
văn hóa và truyền thống cách mạng, Sông Bé, 1990.
7. Kim Cương Tử, Bút tích của Hòa thượng
Kim Cương Tử. Chùa Trấn Quốc, Hà Nội, 1990.
8. Lê Hồng Dương (Chủ biên). Địa chí Hà
Bắc, Ty Văn hóa và Thông tin - Thư viện tỉnh Hà Bắc xuất
bản, 1982
9. Lê Trung Vũ (chủ biên). Lễ hội cổ
truyền, NXB Khoa học Xã hội, H., 1989.
10. Lê Văn Hảo. Huế giữa chúng ta. NXB
Thuận Hóa, Huế, 1984.
11. Lê Văn Hảo, Trần Hợp, Nguyễn Hồng Đảng.
Việt Nam non nước thần tiên. NXB Khoa học và kỹ thuật,
H., 1989.
12. Lịch sử 34 ngôi chùa miền Bắc Việt
Nam. Tài liệu in ronéo. Tu thư Phật học Vạn Hạnh, S. 1983.
13. Lữ Huy Nguyên, Giang Tấn. Đất thắng cảnh
Vũng Tàu. NXB Văn hóa H ., 1987.
14. Ngô Đức Thọ (chủ biên). Từ điển
di tích văn hóa Việt Nam. NXB Mũi Cà Mau, 1993.
15. Nguyễn Bá Lăng. Kiến trúc Phật Giáo
Việt Nam (tập I) Viện Đại học Vạn Hạnh. S., 1972.
16. Nguyễn Duy Hinh. Tháp cổ Việt Nam, NXB Khoa
học Xã hội, H., 1992.
17. Nguyễn Gia Nùng, Nguyễn Thế Sang, Phú Khánh
- di tích và thắng cảnh (không ghi nơi và năm xuất bản).
18. Nguyễn Khắc Viện. Kể chuyện đất nước.
NXB Ngoại văn, H., 1988.
19. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật Giáo sử luận
(2 tập) NXB Văn học -Công ty phát hành sách Hà Nội,
1992.
20. Nguyễn Quang Tuân. Những ngôi chùa danh
tiếng. Viện Nghiên cứu Phật học - NXB Trẻ, TP. Hồ Chí
Minh, 1990.
21. Nguyễn Quảng Tuân (chủ biên), Huỳnh Lứa,
Trần Hồng Liên. Những ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí
Minh,NXB Tp. Hồ Chí Minh,1993.
22. Nguyễn Quân, Phan Cầm Thượng.Mỹ thuật
của người Việt.NXB Mỹ thuật, H., 1989.
23. Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử Phật
giáo Việt Nam. NXB Khoa học Xã Hội, H., 1988.
24. Phạm Lê Hoàn, Lê Tấn. Việt Nam - cảnh
đẹp và di tích. NXB Tp.Hồ chí Minh, 1989.
25. Phạm Trung Việt. Non nước xứ Quảng Tân
biên. S., 1973.
26. Phan Phong Linh. Thắng cảnh Việt Nam qua thi
ca. Tủ sách văn nghệ S., 1956.
27. Thanh Tùng. Thăm chùa Huế, Hội Văn Nghệ
Tp.Huế., 1989.
28. Thích Trí Hữu. Lịch sử Ngũ Hành Sơn -
Chùa Non nước S., 1971.
29. Thích Mật Thể. Việt Nam Phật giáo sử
lược, Hà Nội, 1944.
30. Thích Thanh Từ. Thiền sư Việt Nam. Thành
hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, 1992.
31. Thích Thanh Từ. Thiền tông Việt Nam cuối
thế kỷ XX. Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992
32. Thích Thiện Hoa. 50 năm chấn hưng Phật
giáo Viêt Nam. Viện hóa đạo, Giáo hội Phật giáo Việt
Nam Thống Nhất, S., 1970.
33. Thiền uyển tập anh. Phân viện nghiên cứu
Phật học NXB Văn học, H., 1990.
34. Tìm hiểu phong tục Việt Nam. Nếp cũ: Tết,
lễ, hội hè. NXB Thanh Niên, H., 1991
35. Trần Đại Vinh, Nguyễn Hữu Thông, Lê
Văn Sách.Danh lam xứ Huế. NXB Hội Nhà văn, H., 1993
36. Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Quang Dũng.
Gương mặt hồ Tây. NXB Hà Nội, 1984.
37. Trần Nho Thìn. Vào chùa thăm Phật,NXB công
an nhân dân,H.,1990.
38. Trương Thìn (chủ biên). Hội hè Việt
Nam. NXB Văn hóa dân tộc, H., 1990.
39. Tập văn Thành đạo. Ban Văn hóa trung
ương, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1990.
40. Tập văn Vu Lan. Ban Văn hóa trung ương,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 1992.
41. Tập văn Vu Lan. Ban Văn hóa trung ương,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 1993.
42. Văn Tạo (chủ biên). Đô thị cổ Việt
Nam. Viện sử học, H., 1989.
43. Việt Nam - đất nước, lịch sử văn hóa.
NXB Sự thật, H,. 1991
44. Võ văn Tường. Việt Nam danh lam cổ tự.
NXB Khoa học xã hội, H.,1992
45. Vũ Tam Lang. Kiến trúc cổ Việt Nam. NXB
Xây dựng - NXB Khoa học kỹ thuật, H., 1991
---o0o---
Xem thêm:
CD-Rom những ngôi Chùa nổi tiếng VN
[Bản dịch tiếng Anh]
---o0o---
| Thư
Mục Tác Giả |
---o0o---
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Võ Văn Tường đã gởi tặng phiên bản điện tử
tập sách này.
( Quang Duc Homepage 01/08/2000)
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-01-2002
|
|