Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

Mục Lục

 

Lời giới thiệu HT Thích Đổng Minh

Đôi dòng dẫn nhập Tuệ Khai cư sĩ

01. Khảo xét Chùa Bạch Mã. Cao Vĩnh Tiêu

02. Khảo xét Chùa Khai Nguyên ở Quế Lâm. Trần Chí Lương

03. Ðạo tràng của Sơ Tổ Đạt ma tại Chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn. Ðông Sơ

04. Khái thuật về chùa tháp thờ Bắc Triều. Tôn Tông Văn

05. Nam Triều, Bốn Trăm Tám Mươi Ngôi Chùa. Tôn Tông Văn

06.Thê Hà Cổ Tự – di tích thời lục triều. Tử Long

07. Lược Khảo Chùa Ðại Minh ở Dương Châu. Tôn Úy Dân

08. Những Ghi Chép Về Khảo Cổ Của Chùa Song Lâm.Chu Trung Hàn

09. Sự hiểu biết của chúng ta về chùa Phật và cung điện đời Ðường. Lương Tư Thành.

10. Chùa Ðại Từ Ân Ðạo Tràng Của Ngài Tam Tạng Huyền Trang. Ðông Sơ

11. Chùa Từ Ân Và Tháp Ðại Nhạn. Võ Bá Luân

12. Tứ Minh Ðệ Nhất Sơn Tuyết Ðậu Thiền Tự. Ðông Sơ

13. Niên Ðại Xây Dựng Ngôi Bạch Tháp Của Chùa Bạch Tháp Ở Bắc Kinh Và Sự Giao Lưu Văn Hóa Trung - Ni. Hoàng Thịnh Chương

14. Chùa Pháp Hải ở Bắc Kinh.Lý Tùng

15. Danh Lam Ký. Bán Tăng

16. Phật Pháp lược khảo. Chấn Hoa

17. Qui chế của tháp Phật Trung Quốc. Hàn Viên

18. Hình tượng cùng sự phát triển của "A Dục Vương Tháp" quan hệ với Trung Quốc. Trương Ngự Hoàn

19. Danh tháp của Trung Quốc. Mẫn Như

20. Bốn đại danh sơn của Phật giáo

Sách tham khảo

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

B“Hiện Ðại Phật Giáo Học Thuật Tùng San” này, gồm có 100 tập, mỗi tập độ 300, 400 trang, do cư sĩ Trương Mạn Ðào chủ trương biên tập. Thời gian biên tập, từ năm Dân Quốc thứ nhất (1911) đến năm Dân Quốc thứ 67 (1978) mới xong. Trong 100 tập này, có 823 tác giả, viết 1776 bài, trình bày với tính nghiên cứu uyên thâm 10 chủ đề: Thiền tông, Phật giáo sử, Duy thức, Hoa nghiêm, Tam luận, Thiên thai, Tịnh độ, Mật tông, Luận tông và Phật giáo Ấn Ðộ.

Tập thứ 59 này, tác giả nghiên cứu về chùatháp của Phật giáo Trung Quốc; cư sĩ Tuệ Khai vừa mới dịch xong.

Chúng ta đọc tập sách này, mới thấy sự hùng vĩ đầy thiền vị, sự thiêng liêng đầy cao cả, sự mầu nhiệm tuyệt vời của chùa và tháp Phật giáo Trung Quốc; đồng thời, chúng ta cũng thấy được chư Tôn Ðức Tăng, Ni và Thiện Nam, Tín Nữ Trung Quốc, bằng cách nào, với tấm lòng vì đạo của họ, mà họ đã xây dựng, và bảo tồn những chùa và tháp đó, trải qua hàng ngàn năm?

Khi cư sĩ Tuệ Khai chọn chủ đề này để dịch, có nói với chúng tôi là:“Dịch để học về sự nghiệp chùa tháp của họ”. Ðây là một câu nói có ý thức và ý nghĩa...

Như vậy, 100 tập của bộ “Hiện Ðại Phật Giáo Học Thuật Tùng San” này, thì tập mang số 59 được ra mắt chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả trước nhất. Nhưng theo thứ thự được sắp xếp vào “Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam”, thì nó mang số 79, chứ không phải 59 như nguyên vị của nó, mong chư Tôn Ðức cùng quí Ðộc giả cảm thông.

Với tất cả sự trân trọng ngưỡng mộ sự nghiệp chùa tháp của Phật giáo Trung Quốc, chúng tôi xin mạng phép giới thiệu cùng chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả tập Pháp Tạng mang số 79 này.

Trong công tác dịch thuật, không sao tránh khỏi sự nhầm lẫn sai sót, mong quí vị hoan hỷ chỉ giáo cho, để khi tái bản được hoàn chỉnh hơn.

Chúng tôi xin chân thành tri ân quí liệt vị.

Cẩn bạch,

Tỳ-kheo Thích Ðỗng Minh

 

 

ÐÔI DÒNG DẪN NHẬP

Tuệ Khai Cư Sĩ

Chùa – Tháp, hai hình thức kiến trúc độc đáo biểu trưng cho Phật giáo: Nơi nào có Chùa – Tháp thì nơi đó có Phật giáo, nước nào nhiều Chùa – Tháp  là nhân dân nước đó thâm tín Phật giáo, địa phương nào bảo tồn được cảnh chùa ngôi tháp cổ lâu đời thì Phật giáo địa phương đó rễ sâu gốc bền trong tâm linh của nhân dân địa phương. Có điều thú vị là từ “Chùa” (Tự) có nguồn gốc Trung Quốc, một nước không phải là nơi phát tích Phật giáo, còn từ “Tháp” (Phù-đồ) lại có nguồn gốc Ấn Ðộ, nơi cội nguồn của Phật giáo. Thuở đức Phật còn tại thế, tùy theo địa bàn hành hóa của Ngài và các đệ tử mà thành lập những cơ sở cố định gọi là “Tinh xá” (tinh xá chứ không phải tịnh xá). Những tinh xá này có qui mô nhỏ hay lớn tùy theo nhu cầu sử dụng, như tinh xá Kỳ Hoàn do ngài Xá-lợi Phất thiết kế xây dựng với sự phụ trợ về tài lực vật lực của trưởng giả Cấp-cô-độc và thái tử Kỳ Ðà, có qui mô rất lớn, nhà cửa đình viện rất nhiều, một trong những địa điểm đức Phật thường lưu trú hay nói đầu Kinh (mở đầu các bộ kinh hay nhắc đến địa danh này với tên gọi “Kỳ Thọ Cấp-cô-độc Viên”), là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng lúc bấy giờ (tại đây đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận với ngoại đạo). Thế tại sao hiện nay Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Quốc không tọi Tinh Xá – Tháp mà gọi là Chùa–Tháp? Thật ra việc này có liên quan đến sự kiện đoàn sứ giả do Thái Âm cầm đầu cùng hai vị tăng Tây Vực là Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan dùng ngựa trắng chở Kinh về Lạc Dương được vua Hán Minh Ðế mời ở tạm nơi nhà khách tên là Hồng Lô Tự, trong thời gian xây dựng chùa Bạch Mã (ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Trung Quốc – có thuyết cho là chùa Bạch Mã do Hồng Lô Tự cải biến). Có lẽ do hai vị khách tăng ở tạm nơi Hồng Lô Tự nên khi xây xong ngôi Bạch Mã mà gọi luôn là Bạch Mã Tự, và từ “Tự” là Chùa Phật phát sinh từ đây vậy.

Từ từ “Tinh Xá” đến từ “Chùa” chúng ta thấy nội dung của chúng có một điểm giống nhau là nhà ở tinh khiết của đức Phật và chư tăng. Nhà tinh khiết tức là người ở trong nhà phải tinh khiết và những người đến với nhà ấy cũng phải tinh khiết (dù là tinh khiết tạm thời!). Như vậy tinh xá hay chùa không phải là một đền thờ mà là một ngôi nhà ở của Phật và Tăng. Ðây là điểm khác biệt cơ bản giữa tinh xá – chùa với đền thờ của các tôn giáo khác, như nhà thờ Thiên Chúa Giáo, đền thờ Hồi Giáo v.v...

Nơi mà Phật giáo để thờ phụng chính là Tháp, do đó nơi nào có chùa, có tinh xá thì nơi ấy phải có tháp. Ông Cấp-cô-độc đã mở đầu công việc này bằng cách xin phép đức Phật được xây ngôi Tháp tại tinh xá Kỳ Hoàn để thờ móng tay của đức Phật, ông trở thành người đầu tiên ở cõi này xây dựng Tháp Phật. Vậy nên Chùa – Tháp kết thành một chỉnh thể trong nghệ thuật kiến trúc Già Lam Phật giáo và trở thành một biểu trưng độc đáo của Phật giáo.

Phật giáo Việt Nam có hơn một nghìn năm chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc (tôi có nhận định này là căn cứ theo những biểu hiện thật tế của Phật giáo Việt Nam qua các thời đại Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Thật ra có thể ở Việt Nam, Phật giáo du nhập sớm hơn Trung Quốc, bằng chứng là Khương-tăng-hội theo gia đình từ Khương Cư đến tỵ nạn ở Giao Chỉ (Việt Nam) khi mới mười tuổi rồi xuất gia, học đạo tại đây mà trở thành một danh tăng, sang Trung Quốc truyền bá Phật giáo thời Tam Quốc), Chùa – Tháp  được xây dựng rất nhiều. Chẳng những ở kinh đô và những nơi thị tứ, Chùa – Tháp  được xây dựng với mật độ dày, có qui mô rộng lớn tráng lệ mà hầu như mỗi làng mỗi ấp đều có Chùa–Tháp, thậm chí có những địa phương đã trở thành Ðất Phật như vùng Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây, vùng Yên Tử ở Uông Bí – Quảng Ninh .v.v... Có thể nói Phật giáo đã hòa quyện vào tâm thức của từng người dân Việt, bàng bạc trong từng ngọn núi, dòng sông của quê hương Vạn Thắng. Nhưng khó thay! Nếu có người hỏi: Phật giáo Việt Nam vào thời cực thịnh có bao nhiêu Chùa–Tháp? Hiện nay trên toàn nước ta có bao nhiêu Chùa – Tháp? Bao nhiêu cái còn? Bao nhiêu cái mất? .v.v... thì rõ ràng chúng ta không có câu trả lời chính xác được! Tôi biết, hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam có thống kê chùa, viện, tinh xá, tịnh thất, niệm Phật đường và Tăng Ni trong toàn quốc (tổng hợp qua thống kê của từng tỉnh, thành), nhưng hình như việc thống kê này mang tính chất quản lý hành chính (chỉ thống kê những Chùa – Tháp hiện có và được giáo hội quản lý mà thôi!). Dân tộc ta có hơn một nghìn năm xây dựng Chùa–Tháp, những công trình kiến trúc ấy nhất định phải là những di sản nghệ thuật kiến trúc trân quí vô cùng mà tiền nhân đã trao lại cho chúng ta. Ðáng ra chúng ta phải có những công trình nghiên cứu nghiêm túc, chuẩn xác về các phương diện: nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử xây dựng, quá trình hưng phế tu tạo .v.v... và nhất là đối với những ngôi cổ tự, cổ tháp danh tiếng một thời (có cái còn, có cái mất mà mất hay còn đều phải khảo sát cả!). Ngoài ra chúng ta phải thành tâm đem hết nhiệt tình miêu tả giới thiệu địa danh, vị trí, khung cảnh thiên nhiên của cảnh chùa, ngôi tháp bằng tất cả niềm tự hào sảng khoái hay với nỗi ưu tư ngậm ngùi trước những cảnh quan thiêng liêng tráng lệ hay hoang tàn hiu quạnh. Ðiều đáng buồn là đến nay tôi chưa được đọc một công trình nghiên cứu hay một tác phẩm văn học về Chùa – Tháp Việt Nam để giúp tôi hiểu biết về hệ thống Chùa – Tháp  Việt Nam qua các thời đại. Mùa xuân năm Tân Tỵ (năm 2001) tôi vượt 700 cây số bằng tàu hỏa về cố đô Huế tham dự lễ Lạc Thành Chùa Thiền Tôn, một ngôi cổ tự danh tiếng ở đất Sông Hương núi Ngự, dù đã được nghe nhiều bài phát biểu trong buổi lễ và đọc qua một số bài viết trong tập kỷ yếu lạc thành, tôi vẫn mơ mơ hồ hồ về quá trình khai sơn lập tự và nghệ thuật kiến trúc của ngôi cổ tự có ba trăm năm tuổi này. Hơn nữa, tôi lại bất hạnh không được nhìn thấy ngôi chùa cũ, trước khi phá để xây mới, tôi ngắm nhìn ngôi chùa mới tráng lệ bằng kỹ thuật xi măng cốt thép trong ngày khánh thành mà bâng khuâng bày tỏ lòng mình:

 

Thiên thai sơn hạ vũ phân phân

Vụ tỏa sơn phong từng ủng vân

Cổ tự mao hiên hà xứ tại

Tân đường phạm vũ kỷ thời toàn

Linh sơn Phật tích lưu Thiền đạo

Cát địa nhân tung kế thế truyền

Thất thập dư niên thân nhất hiện

Sắc không tam bách hiện toàn chân

Gần đây Hòa thượng Thích Ðổng Minh trao cho tôi quyển “Trung Quốc Phật Giáo Tự Tháp Sử Chí” do Trương Mạn Ðào chủ biên, nhà xuất bản Ðại Thừa Văn Hóa ấn hành, để đọc và dịch ra Việt ngữ . Ðọc xong tác phẩm này, tôi bỗng dưng ngậm ngùi thương cảm cho số phận những chùa tháp Phật giáo trên đất nước ta. Tôi nghĩ tập sách này có thể giúp chúng ta, nhất là những nhà trí thức nghiên cứu Phật giáo, có được một cách thể hiện tấm lòng yêu quý trân trọng văn hóa Phật giáo, và một phương pháp bảo tồn, lưu truyền, quảng bá nghệ thuật kiến trúc Phật giáo của dân tộc để tạo một động lực hấp dẫn mọi người trở về với cội nguồn tôn giáo truyền thống có hàng ngàn năm gắn bó với số phận của dân tộc. Tôi nôn nóng quyết tâm dịch tác phẩm này ra Việt ngữ , phổ biến đến với độc giả với nguyện vọng gợi ý cho quí độc giả làm những điều cần làm cho hàng ngàn cảnh chùa, ngôi tháp trên đất nước ta đang từng giờ, từng ngày chịu sự tàn phá của thiên nhiên, sự hủy hoại của con người và nhiều “ác duyên” khác... Tôi cũng mong rằng những danh sơn thắng địa của Phật giáo Việt Nam như vùng núi Yên Tử, vùng núi Hương Sơn:

“.  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .

Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái

Lửng lơ khe Yến cá nghe Kinh

Thoảng bên tai một tiếng Chày Kình

Khách tang hải giật mình trong

giấc mộng

 .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .”

(Hương Sơn Phong Cảnh Ca -

Chu Mạnh Trinh)

Ðược trở về đúng với trí tịch tịnh thiêng liêng ban đầu của nó, đừng để những lễ hội hành hương ở chốn thanh tịnh này biến thành trò kinh doanh du lịch trần tục, thấp hèn, tệ hại! Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải làm một cái gì đó vậy!

Những tác giả với những bài viết trong tập “Trung Quốc Phật Giáo Tự Pháp Sử Chí” đã cho chúng ta một cái nhìn bao quát về quá trình hình thành nền nghệ thuật kiến trúc Chùa – Tháp của Trung Quốc từ khởi thủy đến nay, đồng thời sự thịnh suy của Phật giáo Trung Quốc qua các thời đại cũng hiển hiện trong từng trang sách, những ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Phật giáo như thấm đượm từng gốc cây ngọn cỏ, bàng bạc khắp non sông, ngấm sâu vào từng thớ đất, dào dạt trong lòng mỗi con người... làm lây lan đến độc giả chúng ta.

Có tác giả đưa chúng ta vào cả một thế giới nghệ thuật kiến trúc bằng những chất liệu gỗ, đá, gạch ngói, kim loại... có qui mô rộng lớn, đậm đà nét mỹ thuật tráng lệ huy hoàng với những tác phẩm điêu khắc, tô đắp, hội họa tuyệt vời “vô tiền khoáng hậu”. Có thể chúng là những vật thật hiện còn có tuổi đời hơn nghìn năm, có thể chúng chỉ là những công trình Chùa – Tháp còn lại trong văn hiến, trên bia đá hay ở những vết chạm khắc nổi (phù điêu) trong hang động, nhưng chung qui chúng đều thể hiện được quá trình giao hòa dung hợp của ba nền kiến trúc Chùa – Tháp Ấn Ðộ – Tây Vực – Trung Hoa để hình thành thứ nghệ thuật kiến trúc Chùa Tháp Phật giáo mang màu sắc Trung Quốc.

Có tác giả dẫn ta vào những vùng danh sơn, thắng địa của Phật giáo Trung Quốc với biết bao cảnh tượng hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ ảo (hùng, tú, u, kỳ)... làm lay động lòng người. Trong bối cảnh thiên nhiên ấy, một hệ thống Chùa – Tháp được phối trí hài hòa, tạo ra cho cảnh quan một mạch sống tâm linh rào rạc ngấm ngầm lan tỏa vào từng ngọn núi, dòng thác, con suối, cây tùng, gốc bách... Hoa núi sặc sỡ níu chân người, hương thơm nồng nàn vương tay áo, chim hót líu lo, tiếng suối rì rào, tiếng thác ầm ì, tiếng linh leng keng, tiếng chuông chiều trầm mặc, dáng sơn tăng khoan thai nhã đạm, khách hành hương chiêm bái kính cẩn tâm thành... Tôi độc mà có cảm tưởng như chính mình được đi vào đất Phật tiêu sái thoát trần vậy! Kỳ diệu thay! Trên ngọn núi cao chót vót, đường leo lên quanh co hiểm trở mà sừng sững một cảnh chùa với những điện, đường, lâu, các... to rộng nguy nga, tú lệ lạ thường. Tôi thầm nghĩ lòng tin Phật của con người quả thật vạn năng, không gì chẳng làm được! Trên những đỉnh núi cao hơn ba nghìn mét (cách mực nước biển) tuyết băng giá lạnh, không vật liệu xây dựng truyền thống chịu đựng nổi sự khắc nghiệt của thời tiết, người ta đã sáng tạo phương pháp ốp mái, ốp tường chùa bằng vỏ cây rừng gọi là “Mộc Bì Tự”, thật là một động thái thích nghi tuyệt vời vậy!

Có tác giả đưa ta trở lại cuộc sống đời thường của những danh tăng một thời với những hành xử đầy tính nhân bản mà một người tu hành thánh thiện đã sống và làm việc. Một pháp sư Huyền Trang tài năng xuất chúng, năng nổ quật cường, một lòng vì dân vì nước và nhất là vì sự nghiệp truyền bá đạo pháp của Ðức Thế Tôn. Ngài đã bất chấp vương pháp, bỏ nước ra đi trong vô vàn gian khổ, đến đất Phật học hỏi giáo pháp ròng rã mười chín năm. Trở về nước, ngài đã hiến trọn hai mươi năm cuối năm đời phiên dịch kinh Phật. Ðiều đáng nói ở đây là ý chí kiên định vượt khó khăn đi tìm học và tinh thần cần lao tích cực hoằng hóa lợi sinh của ngài. Việc ngài lặn lội suốt gần mười chín năm tìm học ở Ấn Ðộ và hơn hai mươi năm cuối đời luôn tuân thủ một lịch làm việc mỗi ngày duy nhất đã nói lên điều ấy. Những lời ca ngợi về ngài trong những bài viết ở tập sách này có lẽ chúng ta khó tìm được lời ngợi khen nào hay hơn! Nhưng cái “rất người” của ngài đã được Tục Cao Tăng Truyện nêu rằng: “Ôi dùng lời tán thán ôm giữ con kỳ lân, đời có dấu vết ấy, biết người khó thành, ngàn năm ít gặp! Nhưng mà Trang sư hại hiền, ngăn học thì cũng chưa đáng gọi là bậc thịnh đức chất chồng được, tại bởi vật chẳng hai cái lớn, lý chắc chắn đều vậy thôi!” (Chuyện Trang sư đối với ngài Na-đề Tam Tạng – Do tác giả Ðông Sơ trích dẫn trong bài “Chùa Ðại Từ Ân – Ðạo Tràng của ngài Tam Tạng Huyền Trang”). Nhân vật Ðường Tăng, ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang đầy huyền thoại ly kỳ trong đầu óc giàu tưởng tượng của chúng ta (điều này phần lớn do Ngô Thừa Ân tạo nên), sẽ được lột bỏ đi khi chúng ta đọc về ngài trong những bài viết ở tập sách này. Rồi những Nhiếp-ma-đằng, Trúc-pháp-lan, Ðạt-ma Sư Tổ được các tác giả gắn liền với những công trình xây dựng Chùa – Tháp  và việc mở Tông lập Phái của Phật giáo Trung Quốc. Nhưng có điều sẽ làm cho chúng ta bâng khuâng nghĩ ngợi khi biết có thuyết cho rằng những nhân vật này là hư cấu, không có thật (quyết đoán của học giả Lương Khải Siêu). Ôi! Một vị tổ sư khai sáng Thiền Tông mà hầu như các chùa Phật ở Việt Nam đều thờ ở vị trí chính tại tổ đường mà lại hư cấu ư? Không thật ư? Ðiều này nhất định chúng ta phải quyết tâm tra cứu lại, chứ không khéo chúng ta lại xúm nhau thờ một ngẫu tượng vậy!!!

Ðiều làm cho tôi tâm đắc nhất là trong bất cứ bài viết nào các tác giả cũng thể hiện được tấm lòng ưu ái của mình đối với Phật giáo. Họ tự hào vui sướng trước những cống hiến vĩ đại của Phật giáo đối với văn học, triết học, hội họa, điêu khắc, kiến trúc... của dân tộc Trung Quốc. Họ hân hoan sảng khoái chiêm ngưỡng những danh lam thắng địa hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ ảo... tồn tại qua hàng nghìn năm của Phật giáo trên quê hương mình. Họ cũng ngậm ngùi tiếc nuối trước những cảnh Chùa – Tháp đổ nát hoang tàn hiu quạnh và bâng khuâng nghĩ đến đạo lý vô thường, hận mà không oán! Họ khảng khái trưng ra những bằng chứng, những nhận định nhằm đính chính, sửa sai, bổ sung những lầm lẫn, thiếu sót trong quá trình lịch sử xây dựng Chùa – Tháp ở Trung Quốc với mục đích củng cố niềm tin của Phật giáo đồ trong và ngoài nước. Quả thật những tác giả trong tập sách này là những Phật tử đầy tâm huyết đã trải lòng mình theo những bước thịnh suy của Phật giáo suốt chiều dài lịch sử xây dựng Chùa – Tháp  của Trung Quốc. Chính họ đã gợi ra cho tôi và có lẽ cũng cho quí độc giả nữa, cách suy nghĩ, cách hành động của chúng ta đối với những danh lam, thắng địa, Chùa – Tháp  của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay vậy. Mong sao quí vị, nhất là những vị tăng sĩ trí thức trẻ tuổi, tài đức kiêm toàn, những vị học giả Phật giáo giàu nhiệt huyết, tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể đối với Chùa – Tháp Việt Nam của chúng ta vậy. Mong thay!

Tôi mạo muội phiên dịch tập sách này cũng vì một ham muốn luôn nung nấu trong lòng là mình phải làm một cái gì đó cho Phật giáo trong phần còn lại của cuộc đời. Vậy nên, với vốn Hán học ít ỏi, kiến thức Phật học nông cạn, lối diễn đạt tiếng Việt quê mùa lủng củng, tôi nghĩ chắc chắn có rất nhiều sai sót, nhầm lẫn, không làm cho quí độc giả hài lòng lắm, tôi chỉ mong quí vị thông cảm chỉ giáo và bớt đi lời quở trách mà thôi!

Khi dịch tập sách này tôi cố ý làm cho văn ý và văn cảnh trở thành khách quan hơn, chung cho mọi người, nên tôi thay chữ “Ngã” chỉ cái thuộc về tác giả bằng từ “Trung Quốc” (như ngã quốc thành Trung Quốc). Và tôi đành lược bỏ đi một ít lời phê phán quá chủ quan, bất lợi của tác giả (tôi có lỗi với các tác giả – đành vậy biết sao?). Tôi cũng không dịch bài “Thanh Hải Hữu Ninh Tự Cập Danh Tăng” của Hàn Nho Lâm và bài “Phúc Ngải Khắc Giáo Thọ Luận Lục Triều Chi Tháp” của Lưu Ðôn Trinh. Bài của Hàn Nho Lâm tôi cảm thấy hơi xa lạ và có vẻ Phật giáo Tây Vực nhiều hơn (chủ quan mà!), còn bài của Lưu Ðông Trinh thì hình như không phải một bài luận văn hòan chỉnh, nên tôi tạm thời loại hai bài này mà không dịch, mong độc giả lượng thứ! Ngoài ra, sự chứng nghĩa của ngài Hòa thượng Thích Ðổng Minh cho bản dịch Việt văn của tôi cũng đã làm cho tôi an tâm và vô cùng cảm động vậy. 

Tuệ Khai Cư Sĩ

Phan Rang, ngày 26.3.2002

 

 

SÁCH THAM KHẢO

 

Trung văn bách khoa đại từ điển (Trung Quốc nghiên cứu sở ấn hành)

Hán ngữ đại từ điển (Kiến Hoành xuất bản)

Từ Hải (Ðài Loan Trung Hoa thư cục ấn hành)

Hán ngữ đại từ điển (Tam Dân thư cục)

Tân tu Khang Hy tự điển (Khải Nghiệp thư cục)

Chánh trung hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển (Chánh Trung thư cục)

Phật quang đại từ điển (Phật quang xuất bản xã)

Thục dung Phật học từ điển (Cao Quán Hùng biên toản, Phật Ðà giáo dục cơ kim hội ấn tặng)

Phật giáo tiểu tự điển (Tổng chủ biên: Nhậm Kế Dũ, Thượng Hải từ thơ xuất bản xã)

Phật học đại từ điển (Ban biên tập: Giang Tô, Vô Tích Ðinh ..., Ðài Bắc – Hoa Ngiêm Liên Xã ảnh ấn)

Nam Sơn tự điển luật học (Thích Trí Dụ chủ biên, Tây liên tịnh ảnh xuất bản xã)

Pháp tướng tự điển (Châu Phi Hoàng biên soạn, Ðài Loan thương vụ thư quán ấn hành)

Phật học thưòng kiến tư vựng (Trúc Ma Pháp sư giám định, cư sĩ Trần Nghĩa Hiếu biên – Diệu âm học Phật thị thính đồ thư quán ấn tặng)

Tự điển Phật học Hán Việt (Kim Cương Tử chủ biên, nxb Khoa học Xã Hội)

Tự điển Phật học (Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách – nxb Thuận Hoá)

Trung Quốc Phật giáo nhân danh từ điển (Chấn Hoa pháp sư di cảo – Thượng Hải từ thư xuất bản xã)

Phật giáo nan tự tự điển (Thường Xuân Thọ Thư Phường xuất bản)

Tự điển Thiền tông Hán Việt (Hân Mẫn, Thông Thiên biên dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh)

Sanskrit – Enghlish Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)

The Pali Text Society’s – Pali English Dictionary (Edited by T. W. Rhys Davids .... The Pali Text Society. London)

A Dictionary of  Buddhism Thai-Pali-Chinese (Published by The Library, Wat Pho Maen Khunaram)

The Seeker’s Glossary or Buddhism (The Corporate Body of the Buddha Educational Foundation)

A Dictionary of  Chinese Buddhist Terms (Buddhist Culture Service)

Concise Pali–English Dictionary (The Colombo Apothecarie’ co., Ltd)

English – Pali Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)

Buddhist Dictionary manual of Buddhist terms and doctrines (Frewin and Co., Ltd., Colombo)

Dictionary of   Pali Proper names (G.P. Malalasekera, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt Ltd)

The Oxford Dictionary of   World Religions (Edited by John Bowker)

Phạn – Hòa đại từ điển (Giảng Ðàm Xả xuất bản)

Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Việt - Pháp - Anh (Phạm Hữu Dụng)

Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Anh - Hán – Việt (Nguyên Hảo, Về Nguồn xuất bản)

 Hán-Anh đại từ điển (Lục Cốc Tôn chủ biên, Thượng Hải dịch văn xuất bản xã)

Quốc tế Anh Hán đại từ điển (Trương Phương Kiệt chủ biên, Hoa văn đồ thư công ty xuất bản)

Nhật Anh Hán - Thế giới địa danh từ điển (Hoắc Úc Hoa chủ biên)

Từ điển tên riêng Thế giới (Nguyễn Trọng Ðịnh chủ biên, Nxb Văn hoá thông tin)

Tân thời đại Hán Anh đại từ điển (Trình Chấn Cầu chủ biên, Thương vụ ấn thư quán)

Trung Việt từ điển (Văn Tân, Nxb Sự Thật)

Từ điển Hán Việt hiện đại (Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nxb Thế giới)

Hán Việt tự điển (Thiều Chửu, nhà sách Trẻ)

Hán Việt tân tự điển (Hoàng Thúc Trâm)

Vương Vân Ngũ đại từ điển (Hối Thông thư điếm xuất bản)

Từ Nguyên chánh tục biên hợp đính bổn (Lâm Vận Truyền chủ biên, Thương vụ ấn thư quán xã)

Trung Quốc thành ngữ đại từ điển (Vương Kiến Dẫn chủ biên, Thượng Hải từ thư xuất bản xã)

Almanach, những nền văn m9inh thế giới (Nxb Văn hoá thông tin)

Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, nhà sách Trẻ)

Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hoá thông tin)

Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb văn nghệ TP. HCM)

Ðường Thi giám thưởng từ điển (Thượng Hải từ thư xuất bản xã)

Từ điển Việt Nam (Lê Văn Ðức, nhà sách Khai trí)

Ðại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, (Nxb Văn hoá thông tin)

Việt ngữ chính tả từ vị (Lê Ngọc Trụ)

Hiện địa Hán ngữ hư từ từ điển (Bắc Kinh đại học xuất bản xả)

Cổ đại Hán ngữ hư từ từ điển (Thương vụ ấn thư quán)

Hán Việt từ điển (Nguyễn Văn Khôn)

Hán Việt từ điển (Ðào Duy Anh)

Từ điển Anh Việt (Viện ngôn ngữ học, Nxb TP. HCM)

Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa Việt (Lê Trí Viễn, Nxb Tp. HCM)

Tầm nguyên từ điển (Bửu Kế, nhà sách Khai Trí)

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Ghi chú: Xin sử dụng phông chữ: Chn FFangsong S5

để đọc được những chú thích bằng chữ Hán

---o0o---

Chân thành cảm ơn TK Thích Tâm Nhãn đã gởi tặng bản điện tử tập sách này.

TK Thích Nguyên Tạng, 1-3-2004

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au