Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


 

 




MỤC LỤC

 

1.               Lời đầu.

3.                  Lời thưa tái bản.

4.                  Bài giảng về Bồ Tát Thích Quảng Đức.

5.                  Ôn Già Lam đã ra đi.

6.                  Kính lễ Ôn Linh Mụ.

7.                  Hoài niệm Ôn Phúc Hộ.

8.                  Nhớ Ôn Trí Nghiêm.

9.                  Nhớ Ôn Từ Đàm.

10.              Phải hiểu Ôn (Từ Đàm).

11.              Kính nhớ Ôn Trúc Lâm.

12.              Nhớ Thầy Thích Đức Tâm.

13.              Tưởng nhớ HT Bát Nhã.

14.              Kỷ niệm với HT Bửu Thiền.

15.              Điếu văn HT Thích Đỗng Minh.

16.              Ánh mắt siêu nhiên, nụ cười thoát tục.

17.              Viếng HT Từ Mãn.

18.              Điếu HT Từ Mãn.

19.              Tâm tình với HT Tâm Thanh.

20.              Bài nói chuyện lễ Tiểu tường, HT Tâm Thanh.

21.              Bài nói chuyện lễ Đại Tường, HT Tâm Thanh.

22.              Tâm tình với người đã khuất, HT Giới Hương.

23.              Thương Pháp Hữu Chơn Kiến.

24.              Vầng mây ấm (Sư bà Thể Quán).

25.              Viếng Sư bà Hiển Quang SG.

26.              Bài nói chuyện lễ Đại Tường (Sư bà Linh Sơn).

27.              Viếng Sư bà Linh Phong.

28.              Bài nói chuyện lễ Tiểu tường (Sư bà Linh Phong).

29.              Hoài cảm Trúc Viên.

30.              Mất mà còn (tặng GĐPT).

31.              Lê Đình Thám - một vì sao.

32.              Nhớ một người Chị (Hoàng Thị Kim Cúc).

33.              Anh Tú ơi!

34.              Kỷ niệm về anh Nguyễn Khắc Từ.

35.              Điếu văn Anh Tâm Bản.

36.              Với người em đã khuất (Võ Văn Tùng).

37.              Đọc một bài thơ.

38.              Những niềm cảm xúc.

39.              Bồ Đề Phan Thiết. Tình Sư Nghĩa Đệ.

40.              Lời cuối sách.

 

 

 
Tác giả: TT Thích Minh Tâm
 

  

Lời Đầu 

 

      Có tình với quê hương, mới yêu thương sông núi, mới mến quý đồng ruộng, lũy tre.

      Có tình với nhân sinh, mới trân trọng, ấp yêu lẽ sống.

      Có tình với gia tộc, mới thương kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ, nội ngoại tôn thân.

      Có tình với Tam Bảo, mới quy kính Thầy Tổ, yêu mến đệ huynh, pháp lữ.                 

Tình Đời đã quý,

                              Nghĩa đạo càng quý hơn.     

Trong định luật vô thường, thành trú hoại không, sanh trụ dị diệt nào có ai tránh khỏi. Thế nhưng, một giờ, một ngày, một tháng, một năm, gặp nhau, biết nhau, sống gần nhau, chung vai gánh vác việc Đạo, việc Đời vui buồn vinh nhục, sướng khổ chung phần, khi chia xa ai tránh khỏi chạnh lòng hoài cảm, vì đâu phải đất đá cho cam.     

Nên, những dòng, những chữ trong quyển sách nhỏ này phát xuất tự tâm cang để tưởng nhớ ơn thầy nghĩa bạn (đã đăng trong các tập kỷ yếu, trong các lễ tưởng niệm hoặc mới viết chưa in sách báo nào). Tôi gom lại gọi là chút ân tình nhắc nhau, nhớ nhau cho ấm nồng nghĩa sống. 

Cẩn bái,

                                                                              Phật Ân Tự, Mùa Phật Đản 2552

                                                      Thích Trung Phong (Minh Tâm)

 

 

Lời thưa tái bản 

Lễ Phật Đản 2552 tập sách nhỏ này đến với quý vị, sự chân tình của người viết được đáp lại bằng yêu thương và thông cảm, điện đàm thân mật và khuyến khích từ  nhiều nơi và yêu cầu tái bản. Thứ nữa, có nhiều bài chưa kịp chữa chu đáo, hoặc chưa đưa vào sẽ bị chê trách. 

            Đón nhận nhiều ý kiến chân tình, Phật Ân xin tái bản vào dịp lễ Vu Lan 2552, chỉ sau lần in đầu 3 tháng, có sửa chữa và thêm bài, đồng thời thêm Mục Lục cho dễ tìm bài khi cần đọc. 

            Chân thành niệm ơn chư Tôn Đức và tán thán Phật tử đã tạo điều kiện cho lần tái bản này, và cũng mong được chỉ bảo thêm để những lần tái bản khác, hay xuất bản các tác phẩm khác được tốt đẹp hơn.  

Trân trọng,

Phật Ân Tự, Vu Lan 2552

Thích Trung Phong (Minh Tâm)

 


 

35 năm BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC

VỊ PHÁP THIÊU THÂN 

 

Diễn giảng tại Đạo tràng DPLH - Tổ Đình Quán Thế Âm

Phú Nhuận – Tp. Hồ Chí Minh

Ngày mồng 2 tháng 4 năm Mậu Dần.

 

Kính bạch chư Tôn Đức, cùng chư Tăng Ni.

Kính thưa quý vị thức giả cùng toàn thể nam nữ Phật tử.

 

Như quý vị đã biết 12 vị giảng sư, giáo thọ và quý vị Hòa thượng, Thượng tọa, giáo sư, học gỉả đảm trách 18 buổi giảng chủ đề Bồ Tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân năm 1963 mà ngày 20 tháng 04 âm lịch sắp đến chúng ta cử hành lễ kỷ niệm năm thứ 35.

            Như lời giới thiệu của Thượng tọa trụ trì Tổ Đình Quán Thế Âm, ngôi chùa thứ 31 di tích cuối cùng của Bồ Tát, Người đã hy sinh vì đạo pháp và dân tộc mà hôm nay chúng ta đang tụ hội quây quần trước di ảnh của Ngài, dưới mái chùa này, nếu không phải là một phước báo, một túc duyên thì thật khó mà có được!

            Trong 12 buổi giảng, 12 đêm và 6 đêm của các Hòa thượng, Thượng tọa, học giả Phật giáo diễn thuyết trước khi cử hành lễ kỷ niệm. Đây là một việc làm nên tán thán vì rất cần thiết để làm tăng thêm ý nghĩa ngày lễ và hôm nay chỉ mới là buổi giảng thứ hai theo sự phân nhiệm của Ban Giáo thọ.

            Kính bạch chư Tôn Đức,

            Kính thưa quý vị,

            Những người năm nay 40 tuổi thì năm 1963 chỉ mới 5 tuổi, chắc chắn chưa hiểu rõ về sự việc xảy ra lúc  bấy giờ, huống gì người năm nay 30 tuổi thì chắc chắn là không biết gì hơn, có chăng chỉ biết qua sách vở nên chỉ biết mù mờ. Chính vì vậy, chúng ta, những người đã nhiều tuổi, những nhân chứng thời đó phải có trách nhiệm nói rõ, nói lại cho đàn hậu học để “ôn cố tri tân”và sự hiểu rõ tường tận ấy sẽ mang một ý nghĩa thâm sâu, nhất là thâm sâu ở trong lòng Phật tử, những người đến với Đạo tràng Diệu Pháp Liên Hoa - Tổ Đình Quán Thế Âm lại càng cần phải biết rõ hơn nữa.

Chính vì vậy, chúng ta ôn lại bài học lịch sử trước đây 35 năm, một bài học mà bất cứ ai, dù Phật tử hay không phải Phật tử, dù đang nắm thế quyền hay giáo quyền đều nên ôn lại quá khứ, một quá khứ đau thương không chỉ cho riêng Phật giáo mà còn cho cả dân tộc nữa.

            Năm ấy (1963) tôi mới 26 tuổi là một trong hàng triệu nhân chứng lịch sử, hơn thế tôi lại là một trong hàng triệu nạn nhân. Hôm nay, thưa chuyện với chư Tôn Đức cùng quý Phật tử không dám đứng về sứ mệnh giáo thọ hoặc sứ mệnh giảng sư, mà chỉ xin được trình bày với tư cách của một nhân chứng, một nạn nhân, như vậy, có lẽ sẽ trung thực và cụ thể hơn.

            Chúng tôi tin chắc quý vị giảng sư khác sẽ trình bày những vấn đề, những khía cạnh chung quanh cuộc đời của Bồ Tát Quảng Đức hoặc ý nghĩa cuộc tự thiêu của Ngài một cách đầy đủ.

            Phần tôi, trước hết muốn cùng quý vị hiểu rõ nguyên nhân tại sao Hoàng thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Có hiểu rõ như thế mới thấy được ý nghĩa cao cả về sự hy sinh của Ngài.

 

            Nguyên nhân gần nhất là Ngài hưởng ứng cuộc vận động cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam dưới chế độ Đệ nhất Cộng hòa của miền Nam do Tổng thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Dưới chế độ đó, Phật giáo Việt Nam bị kỳ thị, bị đàn áp dã man, bị khủng bố liên tục và toàn khắp. Có nhiều Tăng Ni và Phật tử bị thủ tiêu, bị đọa đày trong các nhà giam, bí mật có, công khai có. Nếu hôm nay chúng ta vì vô tình không hiểu rõ, hay vô tâm không nhớ nghĩ đến, thì quả chúng ta là kẻ “ăn trái” mà không nhớ kẻ trồng cây, là người vong ân bội nghĩa.

            Thứ đến, nguyên nhân trực tiếp là sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm triêt hạ cờ Phật giáo vào mùa Phật Đản.

            Sự việc xảy ra tại Huế vào chiều ngày 14 tháng 4 âm lịch, khi những người con Phật chuẩn bị sáng Rằm đón lễ Phật Đản một cách trang trọng bằng cách treo cờ đèn, kết hoa, thiết hương án, để cúng dường Phật Đản.

            Ngay chiều ngày 14 tháng 4 âm lịch, lệnh của văn phòng phủ Tổng thống tại Sài Gòn được gởi đi khắp nơi ra lệnh triệt hạ cờ Phật giáo, không cho treo cờ trong các tư gia Phật tử. Ngay chiều hôm đó, chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa và Phật tử ở Huế đã đến tòa tỉnh trưởng Thừa Thiên để gặp ông Tỉnh trưởng để được biết sự việc, gần 5.000 tín đồ Phật giáo tụ tập trước Tỉnh đường để hỗ trợ việc này. Tỉnh trưởng Thừa Thiên, ông Nguyễn Văn Đẳng đổ thừa cho cảnh sát làm sai thượng lệnh. Sáng hôm sau (15 tháng 4 âm lịch), đoàn rước Phật từ chùa Diệu Đế lên chùa Từ Đàm để cử hành lễ Phật Đản đã trở thành cuộc tuần hành có tính tự phát của quần chúng Phật tử, vì có nhiều biểu ngữ đòi hỏi bình đẳng tôn giáo và phản đối chính quyền triệt hạ cờ Phật giáo. Quý thầy trong ban tổ chức giải thích và tạm thu biểu ngữ này thì lại có biểu ngữ khác trương lên với nội dung tỏ rõ lập trường và ý chí cương quyết rất mạnh mẽ của quần chúng Phật tử - Chứng tỏ một thái độ bất mãn chế độ đến cực điểm, nhưng đa số Phật tử cũng tỏ ra có kỷ luật rất cao, nên đoàn rước cũng đã đến chùa Từ Đàm đúng giờ quy định.

            Các biểu ngữ do quần chúng Phật tử tự động trương lên trong đoàn rước có nội dung cương quyết là:

Phản đối chính sách bất công, gian ác.

Đã đến lúc chúng tôi bắt buộc tranh đấu cho chủ trương tôn giáo bình đẳng.

Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ chánh pháp dù có phải hy sinh.

Cờ Phật giáo không thể bị triệt hạ.

Tăng tín đồ nhất tâm bảo vệ lá cờ Phật giáo chính là bảo vệ lý tưởng tôn giáo của mình. Cũng như mỗi quốc gia có lá cờ tượng trưng cho tinh thần quốc gia đó vì có biết  bao liệt sĩ đã nằm xuống để bảo vệ lá cờ của tổ quốc mình.

Thường lệ hằng năm và cũng đã được đồng ý trước, nội dung lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm được thu vào băng nhựa để tối 15 tháng 4 âm lịch sẽ phát lại trên làn sóng của đài phát thanh Huế.

            Tối hôm ấy (15 tháng 4 âm lịch), đồng bào mở sẵn radio để nghe truyền thanh lại buổi lễ, và chỉ nghe đài phát thanh Huế phát toàn nhạc. Đã bất mãn lại càng thêm nghi ngờ. Đồng bào Phật tử tự động kéo tới đài phát thanh tìm hiểu và đòi hỏi phải cho phát thanh lại buổi lễ Phật Đản sáng đó tại chùa Từ Đàm.

            Trong lúc này Thượng tọa Thích Trí Quang, ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên và ông Ngô Ganh (Giám đốc đài phát thanh Huế) đang thảo luận ở trong phòng thì ở ngoài xe xịt nước, xe tăng, thiết giáp, súng trường, súng máy, lựu đạn…. do Thiếu tá Đặng Sĩ (một tính đồ Thiên Chúa) phó Tỉnh trưởng Nội an trực tiếp điều khiển đàn áp dã man voà PHật tử đang tụ tập quanh đài phát thanh Huế. Cuộc đàn áp đẫn máu vào đêm kỷ nệm Phật Đản năm 1963 đã làm cho 08 Phật tử chết và hang trăm người bị thương.

            Lửa đang cháy, chính quyền Ngô Đình Diệm lại đổ thêm dầu. Sự đàn áp dã man công khai tại Huế, đau khổ chất thêm khổ đau, uất ức tăng thêm uất hận, chính quyền họ Ngô đã dồn ép Phật giáo vào thế tự vệ chẳng đặng đừng - sự nhẫn nại của con người có hạn. Máu Phật tử đã đổ, Phật giáo phải đứng lên đòi quyền sống của mình, trang sử Phật giáo Việt Nam lại viết thêm những chữ bằng máu Tăng tín đồ. Lá cờ Phật giáo Việt Nam nhuộm tinh thần bất khuất của người con Phật. Cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo, công bằng xã hội đã chính thức công khai dưới sự lãnh đạo của chư Tôn Đức Tăng già. Lá cờ Phật giáo đang tung bay trước mắt chúng ta hôm nay, lá cờ năm sắc được Phật giáo quốc tế công nhận, tượng trưng cho Phật giáo khắp năm châu, tượng trưng cho năm sức mạnh gọi là ngũ lực: Tín (lòng tin), Tấn (sự nỗ lực cần mẫn), Niệm (phép quán niệm), Định (sự tập trung tâm ý) và Huệ (là trí tuệ, là ánh sáng giác ngộ). Lá cờ Phật giáo có năm sắc tươi vui, tượng trưng cho niềm tin của tín đồ vào ánh sáng Từ Bi và Trí Tuệ của chư Phật. Lá cờ đó không thể bị triệt hạ!

            Đó là nguyên nhân trực tiếp để nổ ra cuộc vận động 1963 và sự kiện này xảy ra chỉ như một giọt nước cuối cùng nhỏ vào cái ly vốn đã đầy uất nghẹn nên phải tràn ra mà thôi!

            Nói như vậy có nghĩa là trước đó còn rất nhiều nguyên nhân. Đã là người Việt Nam ngoại trừ những kẻ vong bản, phản quốc không ai có thể cam tâm làm thân trâu ngựa phục vụ cho các thể chế phi đạo đức, phi nhân bản, phi dân tộc trong cái thời Bắc thuộc với Tàu, Tây thuộc với thực dân Pháp.

            Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử dân tộc đang bị sống dưới ách độ hộ của thực dân Pháp - Cả dân tộc Việt Nam, cả đạo Phật của dân Việt Nam bị những kẻ tay sai của Pháp tiếp tay với Pháp chà đạp lên quyền lợi tối thượng của dân tộc, muốn tiêu diệt nền văn hóa Việt Phật để dễ bề thống trị lâu dài, Pháp lợi dụng việc truyền đạo Thiên Chúa để cướp nước Việt Nam. Gia Long lợi dụng vũ khí của Pháp để cướp nước từ trong tay Nguyễn Huệ, vì bả lợi danh, vì chiếc ngai nhơ bẩn, Gia Long không từ chối phương thức “Cõng rắn cắn gà nhà”, “ Rước voi về dày mả tổ”, thiết lập triều Nguyễn được mấy đời – Cũng may cho dân tộc Việt Nam, con cháu Gia Long cũng lắm người yêu nước như Minh Mạng, Hàm Nghi, Duy Tân đã có những hành động yêu nước nên đã rửa bớt cái nhục cho tổ tông, gây được “ý thức” đuổi giặc trong quần chúng - tầng lớp sĩ phu, các nhà cách mạng yêu nước cũng đứng lên đuổi giặc, nhưng giặc khó đuổi được vì một số người tay sai đắc lực theo Pháp – quần chúng thì lớp này đến lớp khác đứng lên bị giặc giết - kẻ tay sai thì thế hệ này qua, Pháp đào tạo thế hệ khác tiếp tục bán nước. Thực dân Pháp thì cứ lợi dụng số người này, cứ vơ vét tài nguyên quốc gia - cứ đào tạo lũ gia nô để sai bảo.

            Gia đình họ Ngô là điển hình, nên khi Ngô Đình Diệm về nước, hứa trung thành với Bảo Đại để được làm Thủ tướng, rồi vì tham vọng thành kẻ bất nghĩa, bất tín, bất trung. Tổ chức “trưng cầu dân ý” gian lận, phản bội, hạ bệ Bảo Đại “Xanh bỏ giỏ (Bảo Đại), Đỏ bỏ bì (Đình Diệm)” khai sinh nền Đệ nhất Cộng hòa, thành lập Đảng Cần lao Nhân vị, duy trì Đạo dụ số 10 lập ấp chiến lược, tiêu diệt các tổ chức đối lập đứng đầu là Phật giáo. Đưa bà con giòng họ lên nắm quyền, thực hiện chính sách kỳ thị Phật giáo. Chính đó mới là nguyên nhân chủ yếu và là nguyên nhân sâu xa nhất để có cuộc vận động của Phật giáo và đó cũng là nguyên nhân chính để Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu.

            Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh: Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ đi ngược lại quyền lợi của dân tộc, người thấm nhuần tư tưởng Phật giáo chưa có ai phản bội quê hương giống nòi. Phật giáo Việt Nam bao giờ cũng tiên phong sát cánh với dân tộc trong việc cứu nước và dựng nước, cùng chịu với dân tộc trong mọi thịnh suy. Do đó thực dân Pháp và các tổ chức tay sai của Pháp bao giờ cũng đặt đối tượng để triệt tiêu là Phật giáo, nhà Ngô duy trì và áp dụng Đạo dụ số 10 do Pháp để lại cũng nhằm mục đích ấy.

            Như đã nói: “Hòa thượng Thích Quảng Đức sinh ra và lớn lên trong bối cảnh lịch sử đó, cùng với dân tộc chịu chung số phận đó và cũng cùng dân tộc nuôi dưỡng tinh thần bất khuất, sẵn sàng hy sinh cho sự tồn vong của đất nước và của Phật giáo Việt Nam”. Đạo dụ số 10 là một văn kiện phi nhân bản, cực kỳ bất công với các tôn giáo, ngoại trừ Thiên Chúa giáo do chính thực dân Pháp truyền vào được đặc quyền, đặc lợi. Vụ triệt hạ cờ Phật giáo là một âm mưu trong muôn ngàn âm mưu khác để củng cố địa vị quyền hành, ngoài đời cho Nhu, Diệm, Cẩn và trong đạo Thiên Chúa cho đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục.

            Vậy rõ ràng từ nguyên nhân xa đến nguyên nhân gần, để khi gặp nguyên nhân trực tiếp là bùng nổ. “Mưu thâm họa diệt thâm”, một bài học nhớ đời cho mọi thời đại, mọi con người.

            Từ vụ thảm sát ở đài phát thanh Huế, các vị lãnh đạo Phật giáo phát động phong trào vận động cho công bằng xã hội, tự do tín ngưỡng, ra tuyên ngôn đòi hỏi 5 nguyện vọng chính đáng và tối thiểu là:

Yêu cầu chính phủ thâu hồi vĩnh viễn lệnh triệt hạ cờ Phật giáo.

Yêu cầu chính phủ phải để Phật giáo được bình đẳng như các tôn giáo khác (hủy bỏ Đạo dụ số 10 bất công).

Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng bố Phật giáo.

Yêu cầu để Tăng Ni tự do hành đạo và truyền đạo.

Yêu cầu chính phủ bồi thường xứng đáng cho các Phật tử chết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải bị trừng trị.

Phương pháp vận động của Phật giáo là biểu tình, tuyệt thực, đưa thỉnh nguyện thư trong tinh thần bất bạo động. Một phương pháp mà Thánh Gandi đã thành công tại Ấn Độ để giành độc lập, đúng tinh thần từ bi, trí tuệ và dũng cảm của Phật giáo. Hòa thượng Thích Quảng Đức là vị Thánh Tăng đã áp dụng tinh thần bất bạo động đến tuyệt đỉnh, bằng sự tự thiêu của Ngài.

            Trong tư thế kiết già, ấn Cam lồ với đôi tay từ ái, một pho tượng bằng xương bằng thịt trong chiếc y vàng rực rỡ uy nghiêm. Đầu giờ Ngọ ngày 20 tháng 4 nhuần năm Quý Mão (11/06/1963) ngay giữa ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt (CMT 8 và Nguyễn Đình Chiểu bây giờ), trung tâm thành phố Sài Gòn, pho tượng ấy đã tự biến thành một ngọn đuốc thiêng, ngọn đuốc tẩm xăng cháy bốc cao ngọn.

            Các ký giả ngoại quốc kinh ngạc, các nhà báo trong và ngoài nước bàng hoàng, các nhiếp ảnh gia quốc tế trố mắt nhìn xúc động. Các ống kính, các nhãn quang tập trung hướng về cây đuốc sống.

            Xe cộ dừng lại, Tăng Ni, Phật tử và bộ hành trên đường phố bao quanh. Niềm kính cẩn dâng cao, sự yêu thương lan tỏa, một cảnh tượng hào hùng chưa từng thấy, những âm thanh phừng phựt vi diệu chưa từng nghe. Hằng vạn vạn con tim thổn thức. Hằng triệu triệu lá phổi nghẹn ngào. 15 phút ngồi yên trong lửa đỏ - 15 phút gió như ngừng thổi, mây như ngừng bay – 15 phút cả Sài Gòn rung động - mấy giờ sau cả thế giới chuyển mình. Ngài đã chứng thành quả vị.

            Hình ảnh Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu, một sự hy sinh cao cả vì dân vì nước, vì thương đạo mến đời, một ngọn đuốc thắp sáng lòng người, phản đối bất công, ủng hộ 5 nguyện vọng tối thiểu và chính đáng của Phật giáo. Cả chế độ kỳ thị gian ác rung rinh, những kẻ cầm quyền si mê hoảng hốt. Hệ thống truyền hình, báo chương quốc tế hết lời ca tụng, tràn ngập hình ảnh vụ tự thiêu của Ngài chiếm gần trọn trang đầu. Các giới, yếu nhân, chính khách hướng về Việt Nam, cả nhân loại hướng về Đông Nam Á.

 

            Thế là, cuộc vận động của Phật giáo lan rộng trở thành một phong trào đấu tranh của quần chúng. Không chỉ có những người Phật tử tham gia, mà tất cả mọi thành phần, nhất là giới trí thức, đều hưởng ứng, kể cả những người Thiên Chúa giáo có lương tri - mạnh mẽ nhất là giới giáo sư đại học, giáo viên trung học, sinh viên, học sinh, nhân sĩ, bác sĩ, kỹ sư cho đến công thương gia, tiểu thương, các giới lao động, quân đội, công nhân, xích lô, khuân vác. Nam Bắc hai miền, ai ai cũng ủng hộ cuộc đấu tranh một còn một mất này. Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã thắp sáng lòng người.

            Các Tông phái Phật giáo khác như Nam tông, Tịnh Độ cư sĩ. Mười một tập đoàn đều quy tụ thành một ban gọi là “Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo”. Mặc nhiên trên toàn quốc đã có sự lãnh đạo chung thống nhất đường lối và phương pháp vận động, do Tổng hội Phật giáo Việt Nam chỉ đạo. Đứng đầu là Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ.

            Chính quyền nhà Ngô cấp tốc thành lập Ủy ban Liên bộ để gặp Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo giải quyết hòa đàm.

            Phật giáo thì chân tình thành thật, chính quyền nhà Ngô thì mưu mẹo dã tâm, lùi một tiến ba, vẫn bí mật chỉ đạo cho các địa phương không những giảm mà còn tăng thêm tốc độ triệt tiêu Phật giáo.

            Hòa thượng Thích Quảng Đức đã phát tâm tự thiêu từ ngày 27/05/1963, các cấp Giáo hội không đồng ý, im lặng, nhưng Hòa thượng vẫn giữ vững lập trường.

Thật sự, nếu ngày 27/05/1963, Hòa thượng phát tâm như vậy, mà chính quyền chấm dứt đàn áp Phật giáo thì chắc không có ngày 11/06/1963. Trên đường tu hành, Hòa thượng đã thất rõ sự đau thương của Phật giáo và dân tộc dưới triều Ngô, nên Hòa thượng vẫn giữ ý nguyện của mình, Ngài đã để lại những vần thi kệ mang đậm nét từ bi:

            “Một tu sĩ không thể ngồi nhìn đạo pháp suy vong, một công dân không thể điềm  nhiên khi quốc gia lụn bại vì bị hôn quân tham bạo.

            Thư của ngài để lại trước khi tự thiêu, Ngài vẫn giữ được bản chất của một bậc t tu hành chân chính, trong thư không hề mang một ý hận thù, không hề có một chút yếm thế, bi quan hay thất vọng.

            Trong thư mang một ý chí dũng mãnh, yêu thương cuộc đời, trang trải lòng từ bi cùng khắp và một niềm tin tưởng mãnh liệt là Phật giáo sẽ thành công, đất nước sẽ sáng lạng, quần chúng sẽ an vui. Tâm hồn của Ngài đúng là tâm Bồ Tát. Hòa thượng nguyện sau khi Ngài tự thiêu, Ngài mong muốn rằng:

Qua vụ tự thiêu của Ngài, mong thức tỉnh Ngô triều sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo.

Ngài mong Phật pháp được trường tồn, để đem an lạc cho chúng sanh. Cuộc đời vốn đau khổ, chỉ có ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật mới giúp cho cuộc đời bớt đau thương và giúp cho người biết sống có ý nghĩa.

Ngài mong cho Tăng Ni và Phật tử tránh được tai nạn khủng bố, đàn áp, đánh đập, giam cầm, tàn sát của chế độ độc ác đương thời.

Ngài cầu cho đất nước được thanh bình, cho nhân dân an lạc.

Hòa thượng hy sinh và mong cho cả dân tộc được an vui chứ đâu chỉ có riêng gì cho Phật tử? Những người khác tôn giáo, những người không tôn giáo cũng được Ngài cầu nguyện.

Ngài mong chính quyền thi hành những chính sách đúng đắn để tịnh yên nước nhà.

Và ước nguyện sau cùng là Ngài mong muốn Tăng Ni và Phật tử phải đoàn kết để bảo toàn Phật pháp.

 

Khi chúng ta hiểu rõ mục đích việc tự thiêu của Ngài, 35 năm qua chúng ta đã làm được những gì để duy trì và phát huy tinh thần Bồ Tát Quảng Đức? Chúng ta đã thực sự đoàn kết với nhau để bảo toàn Phật pháp chưa? Mỗi một tu sĩ, mỗi một Phật tử, chúng ta tự kiểm điểm để thấy xứng đáng hay chưa xứng đáng là con cháu của Ngài, nhất là giai đoạn hiện tại.

Lúc đó, sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu, kết quả liền thấy rõ:

Thứ nhất: Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã có sức mạnh tụ hội tất cả các Tông phái Phật giáo, thống nhất ý chí và hành động, yêu thương và đoàn kết với nhau.

Thứ hai: nhà cầm quyền họ Ngô đã hoang mang lo sợ - họ lo sợ trước sức mạnh của con tim, của khối óc, của tinh thần vô úy, của chính nghĩa đại đa số quần chúng, nên họ đã nhượng bộ, ký bản Thông cáo chung với Phật giáo.

Thứ ba: Sự vĩ đại của ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức đã lay chuyển được long người. Cả nhân loại hướng về Việt Nam. Thấy rõ hào khí của dân tộc Việt Nam. Tinh thần vô úy của người con Phật của Phật tử Việt Nam.

Thứ tư: Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức có khả năng chiếu rọi vào tâm thức mọi tầng lớp nhân dân và họ tự nguyện tham gia hưởng ứng, ủng hộ cuộc vận động của Phật giáo: công xưởng thì đình công, chợ quán thì bãi thị, học đường thì bãi khóa, công sở cơ quan thì lãng công. Từ Quảng Trị đến Cà Mau nhất tề hưởng ứng.

Trước sức mạnh quần chúng như nước vỡ bờ, chính quyền phải thương lượng với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, dời ngày cử hành tang lễ của Bồ Tát Quảng Đức vào ngày 20/06/1963 thay cho ngày 16/06/1963 như dự định.

Khi hỏa thiêu với sức nóng mấy ngàn độ, quả tim của Ngài vẫn không cháy, điều vi diệu này để chứng minh cho nhân loại thấy được ý nghĩa của “Tâm kim cang bất hoại”. Cho đàn hậu bối chúng ta vững tin vào chân lý: Có tu có chứng ngộ. Quả tim bất diệt của Ngài nói lên Phật giáo bất diệt, tinh thần của Phật tử Việt Nam bất diệt, cuộc vận động của Phật giáo sẽ thành công, tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam bất diệt.

Ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức đã bắt buộc Ngô triều phải ký bản thông cáo chung, nhưng họ lại tìm cách phản bội. Các nhà lãnh đạo Phật giáo cũng biết rõ dã tâm của họ. Hòa thượng Thích Thiện Minh, Trưởng phái đoàn của Phật giáo đã thưa trước chư Tôn Đức rằng: “Nếu chúng tôi ký bản thông báo chung có những điểm nào sai lầm thì nguyện đem thân mạng này hy sinh cho đạo pháp để khỏi phụ lòng kỳ vọng của Tăng Ni và Phật tử Việt Nam”.

Điều đó chứng tỏ rằng Phật giáo sẽ phải còn tiếp tục chịu nhiều thử thách, cam go, cay đắng hơn nữa.

Quả đúng như thế, tiếp nối ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức, là ngọn lửa Thích Nguyên Hương, 23 tuổi, đã thắp lên tại Phan Thiết vào ngày 04/08/1963, đã bị nhà cầm quyền cướp xác đem đi!

Ngọn lửa kế tiếp là ngọn lửa Thích Thanh Tuệ, một Tăng sĩ trẻ, 18 tuổi, tự thiêu trước chùa Phước Duyên (Huế) vào ngày 13/08/1963, đã để lại tâm thư thức tỉnh Tổng thống Ngô Đình Diệm. Và cũng bị cướp xác đem đi.

Không chỉ có những ngọn đuốc Tăng sĩ mà cả nữ tu, chân yếu tay mềm. Tại Khánh Hòa, sư cô Thích Nữ Diệu Quang cũng thắp lên ngọn đuốc bằng chính thịt xương của mình vào ngày 15/08/1963.

Các ngọn đuốc cứ nối tiếp nhau như thế vẫn không đủ thức tỉnh nhà cầm quyền, họ vẫn phản bội bản thong cáo chung, vẫn âm mưu triệt tiêu Phật giáo.

Chùa Từ Đàm (Huế) là nơi phát khởi cuộc vận động.

 

Lúc 2giờ sáng ngày 16/08/1963, ngọn đuốc Thích Tiêu Diêu lại bừng sáng, vị Tăng sĩ 71 tuổi, trước đó đã tuyệt thực, và trì kinh Pháp Hoa trong những ngày chùa Từ Đàm bị bao vây, cúp nước, cúp điện, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Trong chùa có trên mấy ngàn người đang tập trung cầu nguyện.

Liên tiếp, khắp nơi biểu tình, tuyệt thực, đình công, bãi thị, bãi khóa… chính quyền vẫn ngoan cố không thức tỉnh, lại vạch một kế hoạch quy mô hơn, tàn bạo hơn, đó là “chiến dịch nước lũ”, tổng tấn công toàn bộ các chùa, am, tịnh thất khắp miền Nam Việt Nam vào đêm 20/08/1963.

Nhà cầm quyền đã huy động một lực lượng lớn gồm cả cảnh sát, quân đội, thanh niên cộng hòa, mở cuộc tổng tấn công bắt giam hàng trăm ngàn người con Phật từ Hòa thượng Hội chủ Thích Tịnh Khiết, đến chư Tăng, chư Ni, Đạo hữu, các em gia đình Phật tử, các học sinh, sinh viên, giáo sư, tiểu thương Phật tử đều nhất loạt vào tù. Các nhà giam trung ương, tỉnh, huyện, xã đều chật ních tù nhân Phật giáo.

Nhà cầm quyền tưởng như thế là đã dứt điểm trong cuộc triệt hạ Phật giáo thành công. Họ không ngờ chỉ làm tăng thêm công phẫn trong quần chúng.

Ngày 05/10/963, ngọn lửa Thích Quảng Hương, 37 tuổi, thắp sáng trước chợ Bến Thành (Sài Gòn). Và đến ngày 27/10/1963, ngọn lửa Thích Thiện Mỹ lại bừng cháy trước Vương Cung Thánh Đường, Sài Gòn. Trong lúc phái đoàn Liên Hiệp Quốc đang ở lại tại Sài Gòn điều tra vụ đàn áp Phật giáo.

Ngọn lửa Thích Thiện Mỹ là ngọn lửa cuối cùng kết liễu một chế độ phi nhân vô đạo.

Từ khi Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu đến các ngọn lửa kế tiếp, bà Trần Lệ Xuân - vợ của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, đệ nhất phu nhân, đã tuyên bố: “ Mấy ông thầy chùa điên, muốn nướng cho nướng luôn, không liên quan gì đến chính quyền cả!”

Sau khi chế độ sụp đổ, gia đình tan nát bà đã âm thầm “tu kín” suốt gần 35 năm. Bà Nhu đã hồi tâm sám hối, công khai viết thư xin lỗi và sám hối với Giác linh Hòa thượng Quảng Đức – 34 năm trôi qua, một con người tràn đầy tội lỗi cũng biết hồi tâm - Nhất điểm lương tâm của bà sau 34 năm đã thức dậy.

Trở lại vấn đề, nếu không có ngày 01/11/1963, nếu nền Đệ nhất Cộng hòa chưa sụp đỗ, không những còn, mà còn rất nhiều ngọn lửa khác bùng lên – Chính sư bà Diệu Huệ, mẹ của nhà bác học Bửu Hội đã công khai họp báo từ con, vì bác học đã làm tay sai cho Ngô Triều (Sau này mới biết: “Bác học Bửu Hội, có công với Phật giáo chứ không có tội, vì chính ông đã chuyển tất cả hồ sơ đàn áp PGVN đến Liên Hiệp Quốc”) – không những từ con, mà bà còn phát nguyện tự thiêu, noi gương Hòa thượng Quảng Đức để thức tỉnh lòng người. Và còn rất nhiều vị Tăng Ni Phật tử vẫn chuẩn bị noi gương Bồ Tát Quảng Đức.

Chúng ta chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu. 12 vị giáo thọ, giảng sư và 6 vị Hòa thượng, thượng tọa, học giả sẽ trình bày 18 buổi diễn giảng chung quanh đề tài Bồ Tát Quảng Đức, chắc chắn chúng ta sẽ được nhuần triêm công đức của Bồ Tát Quảng Đức. Chúng ta nhắc lại sự kiện lịch sử này chỉ có mục đích là “ôn cố tri tân” để cho lễ kỷ niệm ngày tự thiêu của Ngài thêm ý nghĩa và lợi ích thiết thực.

Chúng ta không có ý niệm khơi lại việc đã qua để gây thù hận, chúng ta không khờ khạo làm việc đó, lại càng không dại gì mà tốn công, tốn của, mất thì giờ, để làm một việc vô ích. Xin đừng ai đem tâm của kẻ tiểu nhân mà đặt để vào lòng quân tử. Chúng ta phải biết rõ việc mình làm, phải nghe rõ lời mình nói.

 

Chúng ta là con cháu Bồ Tát Quảng Đức, phải theo đúng tinh thần của Bồ Tát Quảng Đức. Bồ Tát Quảng đã tự thiêu không những cho Phật giáo Việt Nam, mà cho cả dân tộc Việt Nam và cả nhân loại lẫn muôn loài.

Chúng ta có bổn phận phải nhớ kỹ, nhớ rõ và truyền lại cho con cháu những sự kiện lịch sử này, một bài học lịch sử cần thiết trong nhiệm vụ giữ nước, giữ đạo. Muốn giữ nước phải lo giữ đạo của nước, đạo giữ nước chứ không phải đạo bán nước, Phật giáo là đạo của nước, thương nước phải thương đạo, mến đạo phải yêu nước, phá đạo của nước mình đang sống tức là bán nước. Bài học lịch sử của Chế độ Ngô triều trong thời đại cận kim đã nói lên điều đó “Mưu thâm họa diệt thâm” là vậy!

Như thế, chúng ta nói đến tinh thần Bồ Tát Quảng Đức, nhớ đến ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức, và những ngọn lửa của các Thánh tử đạo. Chính chúng ta hâm nóng lòng yêu nước và tâm mến đạo của chúng ta. Cũng như nhắc đến Lê Lợi, Quang Trung, Trưng Vương, Triệu Thị Trinh… chúng ta theo gương các bậc tiền bối để quyết tâm đuổi giặc. Nhớ đến Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc để triệt tiêu các tư tưởng bán nước cầu vinh.

Chúng ta phải duy trì và phát huy nền văn hóa Việt Phật tức là thắp sáng ngọn đuốc Bồ Tát Quảng Đức. Dù Phật tử hay không là Phật tử, chúng ta cũng đều là con Lạc cháu Hồng, các tư tưởng phân chia Nam Bắc, các hành động kỳ thị, đố kỵ, chia rẽ chỉ làm cho tiềm lực quốc gia suy yếu. Là con dân đất nước, phải cảm mến giang sơn cẩm tú, có sông Hồng miền Bắc, sông Hương miền Trung, sông Cửu Long miền Nam. Có dãy Trường Sơn hùng vĩ, có trái ngọt, có hoa thơm trải khắp mọi miền đất nước.

35 năm qua, 35 mùa lá rụng, ai quên, ai nhớ, ai phản bội, ai trung thành?

Chúng ta, phải, trong chúng ta, những tu sĩ, những cư sĩ, những con người Việt Nam, ai đã cống hiến gì cho đạo pháp, cho dân tộc? Ai đã bắt chước Quang Ngọc Nguyễn Thân? Ai đã noi gương Phan Đình Phùng, Nguyễn Đình Chiểu?

Thà đui mà giữ đạo nhà,

Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ.

Thế mà, đau đớn thay, giữa thời đại văn minh tiến bộ, thời đại vi tính này, vẫn còn có những âm mưu đen tối, tôn vinh kẻ bán nước làm thầy. Các cấp lãnh đạo Việt Nam đang kêu gọi trở về nguồn cội, bảo vệ văn hóa giống nòi, chúng ta đã làm gì để đáp ứng lời kêu gọi ấy?

Ngày 20 tháng 4 âm lịch năm nay, chúng ta tưởng niệm Bồ Tát Thích Quảng Đức, tưởng niệm công ơn chư vị vị pháp thiêu thân, chư Thánh tử đạo, chư anh hùng liệt sĩ, phải chăng, chúng ta đang trở về nguồn, đang thắp sáng ngọn lửa Bồ Tát Thích Quảng Đức trong mỗi chúng ta. Thắp sáng chưa đủ mà phải bằng tất cả tấm lòng, bằng hành động cụ thể thương nước, mến đạo, trong niệm tri ân và đền ân thì ngày đại lễ 20 tháng 4 mới thật sự có ý nghĩa.  

Nam Mô Đại Hùng Lực Quảng Đức Bồ Tát, tác đại chứng minh.


 

 

Ôn GIÀ LAM

Đã ra đi 

Trời nam ủ rủ,

Đất Việt cau mày

Sơn hà bi lụy

Mây gió ngừng bay

Tin ôn quảy dép về Tây

Một ánh sao mai vừa rụng

Thương cảm bàng hoàng tứ chúng

Niềm đau Phật tử năm châu

Hoa lá cũng rầu

Cỏ cây héo úa

Càng thương càng tiếc

Càng kính càng buồn

Càng nghĩ càng lo

Càng suy càng sợ

Lo cho tiền đồ Phật giáo

Sợ cho vận nước khó khăn

Giáo hội ai người gánh vác

Tăng Ni ai kẻ đỡ đần

Phật tử ít người hướng dẫn

Chùa chiền mấy kẻ chở che

Măng mọc mà thiếu tre

Dựng nhà mà thiếu cột 

Ôn ra đi đột ngột

Chưa căn dặn một lời

Niềm đau này khó nói nên lời,

Nỗi buồn nọ bút nào ghi được!

Những ngày gần đây

Ôn chạy xuôi chạy ngược

Mong tìm ra biện pháp cứu nguy

Nào có giờ nghỉ ngơi    

Đêm lẫn ngày vô ra

Cố gắng tìm cách giải nạn

Ôn mong muốn biến thù thành bạn

Ôn ước mơ tát cạn biển sầu

Ôn ra sức phổ biến đạo mầu

Ôn nỗ lực dựng xây Giáo hội.

Thế mà,

Ôn ơi!

Ma chướng bủa vây khắp nẻo

Vô minh phủ kín trong ngoài

Ôn muốn cho thế hệ tương lai

Được nương bóng trong hào quang chư Phật

Ôn đã chịu biết bao nhiêu khổ cực

Bao khó khăn bao trở lực đau lòng

Nợ Đạo, nợ Đời ôn đã trả xong

Miền Cực Lạc ôn thong dong tự tại

Chúng con còn ở lại

Niệm ơn ôn dâng trọn tấm lòng thành

Ôn đã chứng vô sanh

Xin nhìn lại một đàn con thơ dại

Tâm thành con lễ bái

Dưới kim đài xin trải tấm lòng son

Giáo hội mất hay còn

Cúi xin ôn từ bi gia hộ

Mong được Phật thương Tổ độ

Vượt qua chướng nạn cuộc đời

Trao truyền Phật Pháp khắp nơi

Cho HOA ĐẠO nở rực trời quê hương

Để ôn nhẹ bước lên đường

Kề bên sen báu Tây phương đón chào.  

  Kính bái!


 

 

KÍNH LỄ ÔN LINH MỤ

Hòa thượng THÍCH ĐÔN HẬU

 

Bạch ôn,

Ôn ơi,

Đêm 30 Tết Mậu Thân (1968) gặp ôn tại chùa Linh Quang, ôn la nhẹ tụi con “Mấy anh liệu mà làm việc, hăng quá xúc phạm mấy ngài khó tha thứ đó”. Chúng con Từ, Luyện, Điệp, Mai, Tùng nhìn nhau le lưỡi, xem xét lại việc làm. “Đúng rồi, chê các ngài nhát gan là phạm thượng”, sám hối đi là phải! Ôn chưa đánh đòi là may.

            Rõ ràng đêm đó, người ta cõng ôn đi, sao lại xuyên tạc bảo ôn tự ý thoát ly theo họ. Láo.

            1975, ôn trở về, con gặp ôn tại chùa Ấn Quang, ôn kêu ra đứng ở lan can ôn dặn “Người ta sẽ lập một tổ chức Phật giáo yêu nước. Không khéo, vô tình từ trước đến nay Phật giáo chúng ta không yêu nước hay sao? Bây giờ mới yêu nước! Có hiểu ý mình không?”. Con cầm tay ôn rưng rưng nước mắt. Con cảm động chỉ biết dạ dạ vâng vâng, ôn xưng với con bằng chữ “mình” con đâu dám, ôn ơi!

            Ôn bị bệnh, bệnh viện mổ, ôn dưỡng bệnh tại chùa Vạn Phước, con đến thăm, ôn dạy:”Bệnh thì chữa, mổ cứ mổ, không lành chẳng sao. Quan Công ngồi đánh cờ để thầy thuốc cạo xương lóc thịt, mình nằm, họ chưa cạo xương thì có gì mà sợ”. Ôn ơi, chỉ có ôn mới tự tại được như thế. Chúng con xin cúi đầu lễ ôn.

            Ôn nằm dưỡng bệnh tại chùa Linh Mụ con đến thăm lễ ôn, ôn lại dạy: “Cái thân tứ đại nó báo mình, Điệp có thấy không? Mình đâu chìu nó, vậy mà nó không để mình yên, Giáo hội của chúng ta bây giờ cũng vậy đó!”. Ôn ơi, con biết ôn muốn dạy con điều gì rồi, con đảnh lể ôn, thưa ôn con hiểu.

            Được tinh ôn viên tịch con bay ngay về Huế, chẳng làm được trò trống gì, thương ôn chỉ đứng gần Kim Quan mà khóc, khi Hòa thượng Huyền Quang tâm sự trước Giác linh ôn, rồi nhận con dấu của Viện Tăng thống, con cảm thấy linh thiêng quá, xúc động quá lại khóc, thấy quý thầy, Phật tử Huế lo tang lễ ôn trang nghiêm, long trọng, xúc động con lại khóc, chắc ôn cười “Cái thằng MT mau nước mắt”. Con thú nhận, tang lễ ô con khóc nhiều, vì tiếc, vì thương, vì lo cho Giáo hội, lo cho PGVN. Tang lễ ôn, con loay hoay ai nhờ gì con làm nấy, không có ban bệ nào, không có trách nhiệm gì, nên thấy việc gì làm được là nhào vô. Vậy mà cũng được chiếu cố, báo chí đăng tải tùm lum tưởng như con là nhân vật quan trọng lắm. Thật ra con có biết di chúc thật giả gì đâu, chỉ biết lúc 2 giờ sáng các thầy gọi dậy nhờ MT đánh máy cái văn thư của môn đồ pháp quyến gửi Chính quyền báo tin môn đồ tuyệt thực hôm sau. Chỉ có thế mà cũng là quan trọng sao? Vậy đó, để thấy cái tâm nghi ngờ đố kỵ của chúng sanh đã tạo ra bao rắc rối.

            Khi cung tống Kim Quan của ôn nhập tháp, thấy 2 ông cư sĩ mặc áo vét đi trong hàng ngũ chư Tăng gai mắt, con muốn lôi nó ra ngoài mà không có quyền nên phải gượng cười cho đỡ bực. Còn ôn, chắc ôn cười lớn lắm.

            Lễ Chung thất của ôn chúng con ở Sài Gòn, tập trung tại chùa Diệu Trang (Thủ Đức) làm lễ đài thật trang nghiêm, Hòa thượng Quảng Liên đến dự, phát biểu một câu có nhiều vị tâm đắc:” Đối với ôn chúng ta tuy xa mà gần, còn có kẻ tuy gần mà xa”. Mà quả thật xa gần đâu phải cần sự tướng!

            Bạch ôn,

            Cái phước duyên của chúng con là được gần ôn, gần các ngài lãnh đạo Giáo hội PGVNTN, có đầy đủ uy đức, tài năng để chúng con nương bóng.

            Hôm nay, sóng gió vẫn còn, bầu trời vẫn chưa sáng, tinh thần ôn vẫn còn đó, ánh sáng ôn vẫn lung linh, nhờ vậy chúng con mới thấy rõ hơn con đường ôn đã vạch, chúng con nguyện kiên trì theo bước chân ôn.

                                                                        Ngày giỗ ôn lần thứ 15


 

HOÀI NIỆM ÔN PHÚC HỘ

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế Từ Quang Đường Thượng Đệ Cửu Đại, húy thượng THỊ hạ CHÍ tự HÀNH THIỆN, hiệu PHÚC HỘ, Đại lão Hòa thượng Giác Linh.

 

Núi nhạn ủ sầu

Sông Đà cau mặt

Hòa thượng đã ra đi

Đá trắng mất rồi vầng mây ấm

Chúng con còn ở lại

Tuy Hòa mờ nhạt ánh từ quang

Lòng tiếc thương tâm nguyện thiết đạo tràng

Niềm kính mến chí thành cầu Tam Bảo

Ơn giáo huấn cao dầy chưa chút báo

Nghĩa dưỡng nuôi sâu nặng trả chưa tròn

Vẫn biết, vạn pháp vô thường, hữu sanh hữu diệt

Nhưng có gì bằng tử biệt sanh ly

Huống gì giữa lúc Hòa thượng Tây qui

Chúng đệ tử lại gặp nhiều ma chướng

Từ dung đã in sâu vào tâm tưởng

Giới đức còn đậm nét với môn sinh

Không ngôn từ mà tỏa sáng tợ bình minh

Thân ý giáo thấm sâu vào tâm não

Trần đời điên đảo

Mà chúng con thiếu kẻ dắt dìu

Phật sự đa đoan

Mà Giáo hội ít người gánh vác

Nhớ Giác linh xưa, hạnh đầu đà mấy chục năm rèn luyện

Nam Trung học đạo tầm sư

Tâm lục độ bao ngày tháng đảm đương

Huế Quảng hoằng truyền chánh pháp

Trong môn phái tinh cần, ngoài tín đồ lân mẫn

Danh tướng bỏ ngoài tai, lợi quyền không để mắt

Chức Tăng thống cười nhường về pháp hữu

Chữ Lục Hòa vui nhận chứng minh sư

Nay chí đã đạt, nguyện đã thành,

Thuyền bác nhã Ngài xuôi về Tây Trúc

Được tin điện, dạ bồi hồi,

Sóng trần cấu nhồi chúng con chếnh choáng

Mong được Phật thương Tổ độ,

Đón Giác linh về thượng phẩm Liên Hoa

Dù cho vật đổi sao dời

Chúng đệ tử nhất tâm quy mạng lễ.       

Cẩn Bái.

Phật Ân tự, Xuân Ất Sửu 1985

 

 

NHỚ ÔN

Hòa thượng THÍCH TRÍ NGHIÊM

 

Kính bạch Giác linh ôn!

Con cung kính đảnh lễ Hòa thượng và con xin được gọi tiếng ôn, tiếng ôn chứa đựng trọn vẹn cả niềm tôn kính chân tình mang nhiều ý nghĩa đặc biệt của miền Trung, nhất là xứ Huế.

Bạch ôn!

Vừa rồi, ngày 04 tháng 12 năm Nhâm Ngọ, con về Huế thăm chùa Quy Lai, mấy thầy trò, anh em ngồi lại với nhau, hồi tưởng quá khứ khi làm Phật sự tại Thừa Thiên mà linh tính hay những ký ức sâu sắc, những kỷ niệm đẹp đều nhắc lại mà nhắc lại nhiều nhất là ngày ôn về quy y cho Gia đình Phật tử và khuôn hội Quy Lai – Phú Vang, Thừa Thiên (1957-1958 gì đó). Nơi đó đệ tử quy y với ôn khá đông, nhắc tên ôn có người đã rớm rớm nước mắt. “Con, đệ tử Ôn TN, mấy mươi năm rồi không thấy mặt bổn sư, nhớ quá, muốn thăm mà chịu”. Thấy các đạo hữu ở đó buồn nhớ ôn con nói rõ: “Tôi có gặp ôn, ôn bệnh nhưng còn sáng suốt lắm, quý vị có nhớ, khi bắt máy phóng thanh để ôn truyền giới, tôi đã ngu ngơ hướng cái loa sắt gần chỗ ôn ngồi, máy hú liên hồi, ôn cười bảo: “chú mày ngốc nghếnh quá, xoay cái loa ra ngoài. Tôi vâng lời, máy hết reo, tôi bị ôn quở một câu nhẹ nhàng. Tôi được thêm một bài học”.

Bạch ôn!

Năm 1961, đã bốn mươi hai năm rồi, con và điệu Chỉnh mà ôn thường kêu là “Điệu Sún”, hai đứa con hầu ôn và sư phụ con. Điệu Chỉnh thật thà, hay cười, siêng làm mà cũng siêng chơi, ôn thương cả hai đứa nhưng thường bảo:”Thằng Chỉnh mày học thằng Điệp mà làm việc, nó làm chu đáo hơn mày”. Chỉnh chỉ dạ và cười, nụ cười rất dễ thương, còn con thì mở cờ trong bụng:” Được ôn khen, vui đáo để”. Rồi ôn tiếp:”Còn thằng Điệp học cái cười của thằng Chỉnh mới hay, chú mày cười cái miệng hô không đẹp”. Con tiu nghỉu, xụ mặt. Ôn lại cười: “Chú mày ngốc lắm, nó sún, cười thì vui, chú mày cời chứ đâu có sún”. Thấy ôn đùa vui, cả hai chúng con cũng vui! Thêm một kỷ niệm về ôn.

Năm 1962, rời Phật học viện Nha Trang, trước khi về Huế, con đến thăm và chào ôn, ôn hỏi:” Đã thăm và chào bà Bảy dưới bếp chưa?”. Con giật mình, cúi đầu nói nhỏ” :”Dạ chưa”, ôn cười:”Một thiếu sót lớn”. Chao ơi! Một câu nhắc nhẹ của ôn, một bài học sâu sắc, nhớ đời. Các ngài sao mà chí tình, chí thiện, chí chơn đến thế!

Bạch ôn!

Thiện duyên của gia đình con, phước của ba con, năm 1968 con đang lẫn trốn chế độ Thiệu ở Huế, ba con chết tại Nha Trang, con không vào được vì biến cố Mậu Thân, ôn đã hoan hỷ chứng minh và chỉ bảo cho các anh con tổ chức tang lễ thật chu đáo, ôn đã cho đất để chôn ba con, ôn cho các thầy về hộ niệm đầy đủ. Đặt biệt, ôn đã khuyên dạy các anh con chí tình:”Ba của mấy chú sống hiền hòa vô sự, chăm lo việc Phật, chú ruột của mấy chú vị Pháp thiêu thân (Hòa thượng Tiêu Diêu), em của mấy chú đi tu và đang vì Phật pháp mà tù tội, gia đình có truyền thống trung kiên với Tam Bảo như vậy. Mấy chú sống làm sao cho phải đạo”. Nhờ sự chỉ dạy của ôn mà các anh con đã quay về với Tam Bảo, ân đức ôn cao quý làm sao!

Tang lễ Hòa thượng Hương Tích (Phú Yên) con gặp ôn.

Đại giới đàn ở Bà Rịa – Vũng Tàu con thăm ôn. Cũng với nụ cười tươi vui, cũng với chỉ tay thân mật, cũng với hai chữ “Chú mày” rất dể thương: “Chú mày, ở đâu cũng có chú mày, nghe chùa chú mày to lắm, đệ tử đông lắm phải không? Tốt, nhưng nuôi phải dạy, dạy cho nên, chú mày nhớ không? À, mấy đứa con thằng Phúng làm ăn ra sao? Bác Thuyết ở đâu? Làm gì?”. Con cảm động ôm chân ôn sung sướng, ôn nhớ, nhớ hết, chuyện chung, chuyện riêng, nhớ từng thành viên trong gia đình con, quan tâm đến đạo nghiệp của con, nhắc nhở con khi gặp mặt với lời thăm hỏi ân cần của tình thầy trò như cha con thắm thiết.

Bạch ôn!

Ở Long Thành con nghe tin ôn yếu

Muốn ra thăm mà phước báo chưa tròn

Rồi tin ôn đã quảy gót về Tây

Trong đau xót, con nhớ lời ôn dạy

Là con Phật phải vì đời hành đạo

Dấn thân vào với chiếc áo Như Lai

Đến, đi chỉ một chứ không hai

Còn, mất tuy hai nhưng mà một

Bộ Bát Nhã, lời Thế Tôn, ôn dịch

Để cho đời, cho hậu thế-nhân sinh

Con ghi lòng, đem hết chân tình

Trước linh điện con chí thành đảnh lễ.

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn Tứ Thập Tam Thế, húy thượng TÂM hạ BỔN, tự TRUYỀN LAI, hiệu TRÍ NGHIÊM, Đại lão Hòa thượng Giác linh.

                                                Nha Trang, cuối Đông Nhâm Ngọ


 

NHỚ ÔN TỪ ĐÀM

Hòa thượng THÍCH THIỆN SIÊU

 

Ôn ơi,

Thuở nhỏ con hành điệu.

Trên đầu con còn tóc

Ôn ít nói nên nhìn ôn rất nghiêm

Ôn ít cười nhưng khi cười rất đẹp

Chẳng bao giờ ôn cười to

Chẳng mấy khi ôn nói lớn

Nên chúng con rất sợ

Kỳ, Hướng, Tuấn, Dược, Tâm

Năm điệu này đã xuống tóc

Chỉ còn con, còn vọng tưởng trần đời

còn đam mê sinh hoạt (GĐPT)

Ôn bảo quét sân

Con né tránh, vì lười

Ôn dạy tụng kinh

Con tìm cách, viện cớ

Ôn mỉm cười vì ôn biết tính con

Ôn tha thứ dạy con theo hướng khác

Ôn đã nói:

“Mày có khiếu tổ chức hành chánh

Lại có tài diễn giảng điều hành

Theo sở trường phục vụ

Bỏ sở đoản không màng”

Ôn Phổ Quang muốn dạy con nghi lễ

Thì ôn cười “Nó chẳng đam mê”

Theo chân ôn tập diễn giảng

Về Cự Lại thuyết giới Tam qui

Ôn khen “Cũng tạm được, hôm ni”

Con mừng lắm, nhớ ghi lời ôn dạy.

Và từ đó,

Bên các ôn con học

Tóc vẫn còn mà hạnh nguyện xuất gia

Ở Từ Đàm con đi đứng vô ra

Năm 63 (1963) tranh đấu

Năm 66 (1966) dấn thân

Ban hướng dẫn (GĐPT) con phục vụ tinh cần

Quận Phú Vang (GĐPT) con hăng say hoạt động

Đến 66 (1966) bị Thiệu Kỳ đàn áp

Con “cạo đầu” lộng giả thành chơn.

Chúng con thì hăng hái

Còn ôn cẩn thận đắng đo

Ma vương muống chia rẽ thầy trò

Ôn im lặng cảm thông và tha thứ

Tết Mậu Thân tại Ty Thuế vụ

Thầy gặp trò còn sống sót là may

Trong đau thương, cười gượng để chia tay

Sống trôi nổi, trên mọi miền đất nước

Nghe ôn bệnh, con về thăm cho được

Ôn dịu dàng bảo ở lại dùng cơm

Rồi dặn thêm:

Mấy chú nhớ điều này

Sống phải biết “tùy duyên mà bất biến”

Đâu ngờ được

Chỉ mấy tuần sau đó

Ôn rời xa

Cõi trần cấu này rồi

Con âm thầm vọng về Huế xa xôi

Khấu đầu lễ với tâm thành tha thiết

Ôn ơi ôn!

Vạn pháp vô thường, con biết

Nhưng mất ôn,

Lòng nuối tiếc đau buồn

Buồn cho Phật Pháp

Đau cho tín đồ

Tiếc cho chúng con

Nuối cho dân tộc

Vì từ đây

Ôn vắng bóng

Tiếng pháp âm còn đọng lại trong hồn

Và nay mai

Các giới đàn

Tìm đâu ra những lời vàng khai đạo

Sâu sắc, mà thực tế

Dí dỏm, mà oai nghiêm

Hùng hồn, mà từ ái

Cô đọng, mà đủ đầy

Đó biệt tài của ôn vì ôn là học giả

Uyên thâm Phật Pháp

Những tác phẩm ôn để lại

Phật chất ngút ngàn

Những lời ôn nói ra   

Lòng từ mẫn bao la

            Nay ôn đã đi xa

Nơi cõi Phật “Niết bàn vô ngã”

Con mong ôn nhìn lại

Cảnh Ta Bà uế trược đau thương

Có chúng con lặn hụp giữa vô thường

Ôn hội nhập cứu sinh linh đồ thán

Đời của ôn vầng hào quang tỏa sáng

Lời của con hữu hạn quê mùa

Giữa đời thường đầy tranh chấp hơn thua

Vòng xoáy ấy kéo chúng con vào cuộc

Nhớ lời ôn căn dặn

Vâng lời ôn con làm

Trước Thế Tôn ngài A Nan phát nguyện

Nay trước ôn con cũng noi theo

“Đời ngũ trược con xin nguyền vào trước

Việc khó làm con đâu dám từ nan

Con thành tâm nhờ oai lực ôn ban

Để vững tiến giữa muôn ngàn sóng gió.

Xin Giác linh ôn chứng giám”

                        Học trò ôn


 

PHẢI HIỂU ÔN

 

Tết Mậu Thân ở Huế, khu vực Từ Đàm nằm ngay trung tâm của trận địa. Ôn thoát khỏi nơi nguy hiểm đến trú tại Ty Thuế vụ Thừa Thiên.

Chúng con: Luyện, Điệp, Tùng cũng thoát chết sau khi con và Tùng (Thư ký BHD/GĐPT/TT) vào nơi nguy hiểm để vác 1 bao con dấu của các GH lên chôn dấu tại Hoàng Mai tịnh thất, chỉ đem theo 1 con dấu duy nhất của tỉnh GH Thừa Thiên tìm trao tận tay ôn tại Ty Thuế vụ, rồi ỏ lại đó với ôn mấy ngày chờ tìm cách thoát hiểm. Thấy chúng con đứa nào cũng lần chuỗi chí thành niệm Phật, ôn cười bảo: “Gặp lúc nguy hiểm mấy chú mới chịu tu, còn bình thường thì chạy rong như vượn”.

Chúng con nhìn nhau, cười, nhận khuyết điểm của mình “Ôn dạy hay la, quả đúng như thế”, nên lòng dặn lòng “đừng đợi trời đánh mới chạy vào chùa”, e trễ mất.

 

KỶ NIỆM RIÊNG VỚI ÔN TỪ ĐÀM

 

Con nhớ vài việc nho nhỏ giữa thầy trò khi con ở Từ Đàm làm điệu có tóc, con ghi lại để nhớ ôn.

Tiền của ai?

Quét màng nhện trên chánh điện, cái chổi cắc cớ móc trên kèo rớt xuống một cọc tiền cuốn tròn, con lượm ra trình ôn. Ôn cười: “Tiền của ai kệ họ, để lại chỗ củ cho người ta, trình thầy biết là tốt rồi, làm việc đi, đừng bận tâm, không tham là giỏi lắm” Được khen, mở cờ trong bụng. Để tiền lại chỗ cũ, của ai không cần biết!

Họ móc nối

Phật tử ở Đồng Di lên chùa, có một thanh niên xin ở lại vài hôm để chữa bệnh, tối tối ngủ lại giảng đường vì trời nóng nực. Lân la ca kệ chuyện trò với các điệu trong đó có tôi. Được hai hôm anh ta muốn móc nối để dùng văn phòng BHD/GĐPT/TT và nhà bếp Từ Đàm để làm cơ sở hoạt động cho Mặt trận giải phóng. Tôi trình sự việc lên ôn. Trong nét trầm ngâm suy nghĩ, ôn nói: “Rắc rối, không khéo giải quyết thì rắc rối, vậy Điệp định giải quyết như thế nào?”. Tôi hăng hái nói ngay: “Theo con, chúng ta đã mang tiếng thân Cọng, mà Phật giáo chẳng thân chẳng sơ với các thế lực chính trị, nên từ chối thẳng thừng và đuổi anh ta đi, nếu anh ta không chịu thì…”. Ôn nhíu mày:”Từ chối là lẽ đương nhiên, nhưng từ chối cách nào, cần khéo léo và tế nhị chứ thẳng thừng sẽ gây bất mãn và oán đối”. Nhận ra ý ôn, tôi cũng hăng hái: “Vậy để con giải quyết với họ, thầy yên tâm”. Tối đến tôi gặp riêng anh ta, giải thích và từ chối, anh ta cũng tỏ ra hiểu biết và rút lui trong êm đẹp.

Cô đơn

Cuối năm 1981 hay đầu năm 1982 gì đó, tôi ra khỏi trại cải tạo, tìm thăm ôn. Đến Phật học viện Hải Đức Nha Trang, lúc này ôn ẩn cư. Thui thủi một mình, thị giả có hay không chẳng biết, ôn đang loay hoay chăm sóc mấy cây kiểng. Thấy tôi, ôn vui vẻ ngừng tay gọi vào phòng khách. Ôn con tâm sự, ôn hỏi thăm sức khỏe, cuộc sống ở trong trại, các thầy cùng chung cảnh ngộ sống ra sao? Còn ăn chay hay ngã mặn, họ đối xử với tu sĩ thế nào? Tôi sự thật trình bày, ôn chăm chú nghe, thỉnh thoảng thở dài thông cảm hoặc gật đầu tán thán những gì tốt đẹp mà chúng tôi đã thực hiện trong thời gian ở tù.

Trước khi chia tay, ôn nghiêm nghị hỏi: “Chừ MT có oán trách họ không? Và định sống ra răng?”

Tôi thành thật trả lời :” Bạch thầy, lúc đầu con oán trách họ lắm, vì mình không làm gì nên tội mà phải ở tù hơn năm năm. Nhưng bây giờ thì con không hề oán trách họ nữa, vì con tin vào luật nhân quả, kiếp trước bỏ tù họ kiếp nỉ con trả nợ, còn sống ra răng thì… đến đâu hay đó, con chưa định gì cả.”

Ôn nhỏ nhẹ “Ráng tu, mọi chướng nạn sẽ qua đi, đừng lo gì cả”, tôi dạ dạ rồi ra về .


 

KÍNH NHỚ

Ôn TRÚC LÂM

 

Đọc thư thầy Tính Nghĩa muốn in tập kỷ yếu về ôn Trúc Lâm, tôi thật sự xúc động, bùi ngùi nhớ ôn. Nhiều kỷ niệm bừng dậy trong lòng, trên 10 năm, thời gian không ngắn, mà cũng không dài, vắng ôn trên cõi đời, nhưng với tôi thì khác, vì từ Tết Mậu Thân (1968) tôi đã xa Huế, mà cũng xa ôn, tính đủ thì cũng đã gần 40 năm, lúc này (2007) tóc tôi đã bạc nhiều với cái tuổi cổ lai hi. Lúc xa ôn tôi còn là một thanh niên hăng say sinh hoạt trong GĐPT, trốn chui trốn nhủi, lẫn tránh cả hai phiá Quốc Cọng vì bên nào cũng muốn bắt cho được mấy tên chủ trương Tuần báo “THANH QUANG”, cơ quan tranh đấu nghị luận của GĐPT Thừa Thiên cho sự tồn vong của Đạo pháp mà cuộc vận động của Phật giáo cho Tự do-Hoà Bình-Độc lập của dân tộc chưa hoàn thành.

Có lần bốn (4) anh em chúng tôi trốn ở Hoàng Mai tịnh thất được sư bà Thể Quán đặt cho 5 sư cô đực rựa 5 cái tên thật hay Diệu Tâm ( Khắc Từ ) đang làm sư cô Diệu Thiện ở Diệu Đức, còn 4 đứa Diệu Như (Điệp), Diệu Minh (Giác), Diệu Cảnh (Kỳ), Diệu Đài (Mai), Tâm Như Minh Cảnh Đài là một trong 4 câu kệ của Ngài Thần Tú trình sở đắc của mình lên Ngũ Tổ. Ôn đã cười vui nhắn gởi với sư bà Diệu Không:” Nói với mấy đứa dù thất bại hay thành công cũng phải giữ tâm như đài gương sáng”.

Trong một lần khác, vì ham chơi đôminô mấy anh em tôi vô ý ra góc vườn đứng mà tè. “Sư cô gì lạ rứa? Mấy chị ni ngộ chưa tề?”, sư bà Thể Quán hoảng hốt la to, chúng tôi sực nhớ mình là “sư cô giả” nên ngồi xuống, nhưng không còn kịp nữa, vì thế bị lộ. Mờ tối, một đại đội cảnh sát dã chiến bao vây cả khu vực quanh chùa Trúc Lâm, Hồng Ân và Hoàng Mai tịnh thất. Ôn đã tìm cách báo động để anh em chúng tôi tìm lối thoát thân, dù tờ báo này tôi chỉ là kẻ cầm đèn đỏ chạy sau các anh Như Tâm, Nguyên Ngộ, Tâm Bản, Tâm Kiểm. Vậy mà cũng trở thành một nhân vật cả hai bên tả hữu đều quan tâm, thật oái ăm cho cái nghiệp dĩ làm người của tôi. Chính trong lúc này mới thấy được tình cảm của ôn Trúc Lâm dành cho anh em chúng tôi.

Tối hôm ấy do sự thành khẩn cầu nguyện của đại chúng hai chùa Hồng Ân và Hoàng Mai tịnh thất cũng như chúng tôi, đức Quán Thế Âm đã thị hiện độ thoát như trong kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn) mà đức Phật đã dạy sự linh ứng này tôi đã viết một bài trong tập san Phật Ân. Đặc biệt trong Tết Mậu Thân (1968) ôn đã bao bọc che chở cả nhóm chúng tôi tá túc tại chùa Trúc Lâm khi chiến sự đang sát phạt nhau dữ dội mà chùa Trúc Lâm đang nằm trong địa bàn kiểm soát của bộ đội MTGP, họ đã biết trong nhóm chúng tôi có Thiếu úy Luyện an ninh quân đội, Trung úy Hoài công binh, dường như có Thiếu tá Nhơn đều là quân nhân Phật tử tham gia phong trào tranh đấu của Phật giáo, nhưng họ chưa bắt vội vì còn bận đánh nhau và chờ lệnh. Họ chỉ ra lịnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, nghĩa là giam lỏng chúng tôi trong chùa, lại một lần nữa ôn không ngại nguy hiểm vạch đường chỉ lối cho chúng tôi thoát thân, đứa thì xin xuống hồ hái rau rồi dọt, đứa thì xin đi rút rơm về nấu cơm rồi chuồn, đứa thì xin qua Hồng Ân kiếm thức ăn rồi cút, mà điểm hẹn là chùa Kim Tiên, đến tối thiếu mặt anh nào là xem như đã về hầu Phật hoặc được ăn cơm vắt. Lạy Phật, người trước kẻ sau, chúng tôi đã đủ mặt tại chùa Kim Tiên đúng hẹn, không sứt mẻ đứa nào. Không hiểu sau đó ôn trả lời với họ ra sao khi chúng tôi vắng mặt, đi mà không trở lại như đã xin, nhưng tôi tin với sự khôn khéo và lòng can đảm của ôn, thì ngoài bạo lực, mấy chàng này thuộc hàng hậu bối, sánh sao nổi với các bậc cao thủ tiền bối dày dạn kinh nghiệm như ôn.

Trước khi rời khỏi Huế, bôn tẩu vào Nam, chúng tôi phải né tránh cả hai phe Quốc Cọng, bên quốc gia kết tội chúng tôi là Việt Cọng nằm vùng, gặp đâu xử đó. Bên giải phóng thì tìm bắt, vì chúng tôi không cùng chung giới tuyến, thuộc thành phần thứ 3 nguy hiểm, dễ bị địch kéo lôi, đúng là hoàn cảnh lưỡng đầu thọ địch. Thấy tình hình ở Huế khó có đất dung thân, mỗi người tự tìm cho mình một con đường sống, dù vẫn liên lạc nối kết với nhau. Riêng tôi, phải thay tên đổi họ, tên Diệu Như không còn thích hợp vì là đực rựa, tên Lê Dũng hay Đoàn Đình Điệp thì ai cũng biết xưa nay, lúc này tôi chưa có pháp tự. Nhớ buổi ban đầu đến với đoàn Đồng ấu Phật giáo rồi GĐ Phật hóa phổ ở chùa An Phước, sau đó có tên GĐPT Minh Tâm, tôi lấy cái tên này thì thấy cũng hay hay, lại có kỷ niệm lúc ấu thơ, ý này có Tâm Bản và Tâm Kiểm tham gia, nhưng sợ bổn sư rầy vì tự tiện đặt tên, tôi đem việc này trình ôn Trúc Lâm. Ôn cười đôn hậu: “Yên tâm, chữ Minh Tâm hay lắm, hơn nữa chỉ là pháp hiệu thôi thì có gì mà ngại, nếu ông già râu có rầy thì cứ trình là ôn Mật Hiển đặt cho pháp hiệu và xin pháp tự sau”. Thế là tôi yên tâm với pháp hiệu của mình. Kể từ đó, tôi pháp hiệu là MT cho đến bây giờ gần 10 năm sau sư phụ tôi mới cho pháp tự, do đã quen, nên chữ MT trở thành tên thường dùng, nên khi nào ai gọi tên MT, giới thiệu MT, kí tên MT, tôi đều nhớ ôn Mật Hiển.

Đến năm 1989, một kỷ niệm đặc biệt nữa về ôn: Trong một dịp về Huế lên Trúc Lâm thăm ôn. Sau nữa giờ thầy trò ôn con thăm hỏi, chuyện hoằng pháp, chuyện chùa chiền, việc tu hành, Phật sự, hàn huyên xong, tự nhiên ôn nhìn thẳng vào mặt tôi đột ngột hỏi: “Khi mô MT vô Sàigòn?”. “Dạ, bạch ôn một, hai hôm nữa”, tôi trả lời. Ôn nghiêm nét mặt như ra lịnh:“Mai vào ngay đi, đừng ở nán vài hôm nữa, không tốt đâu, rắc rối đó, niệm Phật đi”.

Hơi ngỡ ngàng lo ngại, tôi dạ rồi ra về, cũng mai có thầy Tâm Hòa và người cháu cùng vào theo trong chuyến này, lời ôn dặn không phải đùa, nhưng tôi cứ ngỡ là rắc rối như từ lâu đã xảy ra với  tôi khi từng bước đi được “người ta” theo sát, vì cái tính ngang bướng của mình, song chỉ là một thành phần trong tranh đấu, vâng lời ôn, tôi xắp xếp vào Nam sớm hơn dư định một ngày. Trên lộ trình, 3 người đồng hành, những điều xảy ra tôi giựt mình lo lắng, về đến chùa tôi vẫn chưa yên tâm, thì ra, ôn đã thấy tai họa đến với tôi. Khi lên xe từ Huế vào Đà Nẵng đến Phú Lộc, tự nhiên xe phát hỏa bốc cháy, chúng tôi ngồi trước cabin, bênh cạnh tài xế, nhanh chân nhảy ra ngoài thoát hiểm, chỉ có anh lơ xe chữa lửa không khéo, bị phỏng một cánh tay, hành khách vô sự.

Chúng tôi đón xe khác vào Đà Nẵng, tối đến thăm thầy Từ Mẫn bệnh nặng, thị giả ngăn cản khó khăn, mà lại để mấy bà Phật tử vào thăm tự do, chúng tôi đợi gần cả giờ vẫn chưa thăm được, gai bồ đề lại khởi lên, đại náo Phổ Đà một trận, kể cũng phiền, thầy Tâm Hòa có dịp chọc quê,“ thua xì lác, gỡ bài cào”. Sáng hôm sau, đón xe từ Đà Nẵng vào Quy Nhơn, xe mới đến Quảng Ngãi thì tài xế lại lạc tay lái, xe trúc xuống lề đường, may phước chẳng ai hề hấn gì, lóp ngóp bò ra khỏi xe, đón xe khác, lần này thầy Tâm Hòa không còn chọc quê tôi nữa mà xoay qua đứa cháu:” Vía của mày nặng quá, chuyến xe nào cũng tai nạn, may mà chưa chết”. Tôi nhớ lời ôn nên chỉ âm thầm niệm Phật. Tối đó, tôi đến chùa Long Khánh (Quy Nhơn) lễ Phật và vọng hướng về Tổ đình Trúc Lâm lễ ôn đã qua 2 tai nạn mà thoát được rất hi hữu.

Hôm sau, ra bến xe Quy Nhơn, chúng tôi chọn chiếc xe mới nhất, đẹp nhất dù giá đắt để về Sài Gòn, trên xe, khách rất ít, tài xế đã lớn tuổi chạy khá cẩn thận, tôi thấy vẫn chưa yên tâm, vừa nói chuyện với thầy Tâm Hòa nhưng trong lòng vẫn niệm Phật. Đến Tuy Hoà, trời đổ mưa, xe vẫn chạy bình thường, xe qua cần Bàn Thạch mưa lớn hơn, gần đèo Cả tự nhiên xe tăng tốc, đường trơn, xe phóng như bay, tài xế lớ quớ không làm chủ được tốc độ, không dám thắng chỉ chạy lạn qua tả, lạn qua hữu, nếu gặp xe ngược chiều chắc là tan xác cả đám, trên xe nhốn nháo, tôi và thầy Tâm Hòa đủ thời gian bảo nhau,“lần này thì chết chắc rồi , niệm Phật đi mà chết”, lúc này chiếc xe nó bay chứ không phải chạy, chúng tôi nhắm mắt chờ chết. Rầm, chiếu xe đứng lại vì nó cỡi trên một con lươn cao mà ngày trước người Mỹ làm để phòng xe lướt xuống sông. Khi định thần nhìn kỹ thì 1/3 chiếc xe đã nằm ngoài bờ sông còn 2/3 cỡi lên con lươn ấy. Chúng tôi không thể bước xuống được, vì bước xuống tức là nhảy xuống sông, nên phải leo qua phía tài xế mới ra ngoài được. Dù trời đang mưa lạnh mà ông tài xế cũng toát mồ hôi, mặt thất thần, hành khách rời khỏi xe an toàn không một tì vết. Có lẽ lúc này mặt mày tôi căng thẳng lắm, nhưng miệng không rời câu niệm Phật, cả xe thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.

Thâm tâm tôi nghĩ “sự bất quá tam” ba lần thoát chết trên một chuyến đi, tôi âm thầm vọng về cố đô Huế, về Tổ đình Trúc Lâm bái tạ ôn. Tưởng thế là yên, khi chia tay với thầy Tâm Hòa còn vói theo: “Đến đây là an toàn rồi đó, chúc khỏe”. Tôi cười nhưng trong lòng vẫn còn e ngại, lên ngồi trên xe lam tôi vẫn không ngớt niệm Phật và thầm nhớ thương ôn. Tâm phục khẩu phục. Xuống xe ở ngã ba cầu Tam An, chỉ còn hơn một cây số là đến chùa, đoạn đường ngắn giữa rừng cao su, tôi đi bộ, mỗi bước chân là một câu niệm Phật như đi kinh hành, đến trước văn phòng nhà máy cao su thì chú tiểu Thiện Nhơn đạp xe ra đón, tôi chẳng chịu lên xe, bảo nó “ Thoát hiểm ba lần rồi, còn mấy trăm thước để thầy đi bộ”. Thiện Nhơn lại tha thiết khẩn khoản: “Nào là xe còn mới, đạp nhẹ lắm, nào là trời nóng đi bộ mỏi chân, nào là con đạp xe rất vững”. Tôi lại xiêu lòng, leo lên xe ngồi sau yên xe đạp và dặn:“Cẩn thận nghe con”, xe chạy chưa quá 20m đến trước trạm y tế nông trường. Không rõ lý do tự nhiên xe nhào xuống đường đất đỏ, đá sỏi ngổng ngang, tôi chống tay đứng dậy không được, cái chân kẹt vào trong căm xe, nhìn xuống đường là một vũng máu, sao chẳng thấy đau đớn gì. Mấy vị y tá trong trạm xá chạy ra đỡ tôi dậy, bây giờ mới biết chân tôi tét một đường dài hơn 1 tấc, một mảng thịt da lật ngược. Y tá dắt tôi vào trạm làm thuốc, khâu trên 10 mũi, lúc này mới thấy đau, chữa trị gần 2 tháng mới lành.

Chuyện lạ có thật trong một chuyến đi. Giờ này tôi viết lại, vẫn thắc mắc về sự cảnh báo của ôn, có cái gì huyền bí, cái gì đó khó hiểu. Nhưng thôi, vâng lời ôn con đã vào trước 1 ngày mà liên tiếp tai nạn, nếu không nghe lời có lẽ… biết sao mà nói…Lạy Giác linh ôn, con với ôn có những kỷ niệm đặc biệt đó, tuy rất nhỏ, nhưng với con nó lớn vô cùng, viết lại vài giòng kỷ niệm về ôn, nhớ thương ôn với vô vàn kính mến.

Lạy ôn!


 

NHỚ THẦY

 

Vào mùa An cư , cấm túc trong hạ ( PL.2549), lục lại các bản thảo, xúc động nhớ một vị thầy!

Bài này tôi đã đọc trong một lễ Hiệp kỵ GĐPT huyện Phú Vang tại chùa Ba La Mật(Huế) sau khi Hòa Thượng Thích Đức Tâm viên tịch.

Tôi gửi nhờ Sen Trắng đăng tải để GĐPT Phú Vang nói riêng và GĐPT/VN nói chung, tưởng nhớ một vị thầy, một ân sư, mà chúng ta khó có ngôn ngữ để diễn tả ân đức của người. Hòa thượng Thích Đức Tâm trú trì chùa Pháp Hải (Cồn Hến- Phú Vang), người Cố vấn Giáo Lý cùng 3 vị khác soạn cuốn Phật Pháp 4 bậc đầu tiên cho GĐPT/VN.

Kính bạch chư Tôn Hoà Thượng, chư Thượng toạ, Đại đức, Tăng Ni.

Kính thưa quý đạo hữu cùng các anh chị em thân mến,

Kính thưa quý vị,

Đáng lẽ, trong giờ phút thiêng liêng này, trước sự chứng minh của Tam Bảo đã có sự hiện diện của một người, một người mà tất cả chúng ta, ngưới sống cũng như kẻ chết đều hướng đến, người đó đã che mát chúng ta như một vầng mây ấm, đã đùm bọc yêu thương chúng ta như một người Mẹ, đã dạy dỗ khuyến khích chúng ta như một người Cha, đã dắt dẫn dìu đỡ chúng ta như một người Anh, đã đưa đường dẫn lối chúng ta như một người Thầy, đã chia bùi sẽ ngọt với chúng ta như một người Bạn, chí tình chí thiết. Một người mà chúng ta khó có ngôn ngữ quảng diễn, vì người đóng một vai trò quá bao quát: vừa là Thầy, vừa là Cha, vừa là Mẹ, vừa là Anh, mà cũng vừa là Bạn, vì trong suốt một hành trình tiến triển của GĐPT, chúng ta luôn có người bên cạnh, kể cả những lúc vui, buồn, sướng, khổ, tù tội, đau thương, … người đó là Hòa thượng Đức Tâm, Tọa chủ chùa Pháp Hải, mà chúng ta thường gọi với một chữ thân mật kính yêu, chân tình là “Thầy”, một người thầy khả kính.

Thầy của chúng ta vừa viên tịch cách đây không lâu. Sự viên tịch của thầy làm đất thần kinh bi lệ, làm tim chúng ta nhói đau và đau hơn là lễ hiệp kỵ này vắng bóng thầy. Các hương linh những người chị, người anh, người em của chúng ta quá cố, họ có gặp được thầy không? Hay là họ như chúng ta về dự lễ hôm nay mà bùi ngùi nhớ thầy với bao nhớ thương tiếc nuối?

Thưa các đạo hữu,

Cùng các anh chị em thương mến,

Chúng ta hình dung lại khi thầy sắp viên tịch, bệnh duyên hành hạ, hơi thở đứt quãng, thầy vẫn cười cho chúng ta yên lòng, thầy gọi chúng ta đến bênh cạnh, bên giường bệnh, thầy hỏi thăm về ngày hiệp kỵ sắp đến, rồi nhắc nhở rằng:“Có ít làm ít, có nhiều làm nhiều, anh em đừng quên lễ hiệp kỵ mà tội, vì đó là hình thức niệm ơn và chất liệu để nối kết các thế hệ, thầy tiếc là không được cùng anh em vượt qua đoạn đường cam go khó khăn hiện tại, anh em hãy đoàn kết thương yêu nhau mới vượt thắng giai đoạn này…”. Nhắc xong thầy thở dài, và đôi mắt thầy như bọng nước.

Ôi! Cao quý lời thầy, thắm thiết mà chân tình, ngọt ngào mà sâu lắng… và lễ hiệp kỵ này đã vắng bóng thầy.

Lạy thầy,

Đến giờ phút đó mà thầy vẫn nhớ ngày hiệp kỵ cuả GĐPT, vẫn nhớ các hương linh con em của thầy quá cố, vẫn đem hơi tàn nhắc nhở, dạy dỗ chúng con. Thầy ơi! sợ thầy buồn chúng con phải cắn chặt môi để khỏi bật ra tiếng khóc! Giờ này, chư Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni đã thay thầy mà về với chúng con, các ngài đang đứng đó, nhớ thầy qua hình ảnh của các ngài, chúng con tin rằng có cảm tức có ứng, Giác linh của thầy chắc chắn đang quyện tỏa trong khói trầm hương, đang rạng ngời trong ánh đèn lung linh huyền diệu trên linh án và chắc chắn hơn nữa, thầy đang hiện diện trong tiềm thức, trong tư tưởng, trong ý thức, trong niềm thương, nỗi nhớ của toàn thể anh em GĐPT chúng con.

Xin Giác linh thầy chứng minh cho chúng con, các huynh trưởng và đoàn sinh hiện diện, các hương linh huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT/VN quá cố.

Tưởng niệm thầy, tưởng niệm các anh chị em của chúng con, tưởng niệm các bậc tiền bối hữu công, vọng hướng lên linh đài, chúng con cung kính đảnh lễ tam bái .

Bạch thầy!


 

Tưởng Nhớ Hòa thượng BÁT NHÃ

THÍCH TRÍ THÀNH

 

Con về đây tiễn đưa thầy lần cuối,

Tình thâm sâu gần ba chục năm tròn.

Dù cuộc đời có lấp biển dời non,

Nghĩa sư đệ vẫn sắc son chung thủy.

 

Vì Phật sự một ngày xuân tuyệt mỹ,

Đến Tuy Hòa lòng rộn rã niềm vui.

Đất Phú Yên con tạm biệt ngậm ngùi,

Thầy căn dặn với ngôn từ thân ái.

 

Bao năm qua dù mưa dầm nắng dãi,

Giòng sông Đà vẫn lặng lẽ trong con.

Một phút giây bừng dậy sóng mất còn,

Thầy quảy gót nhẹ rời xa núi Nhạn,

 

Miền Cực Lạc, Diệu Pháp Âm là bạn,

Cõi Ta Bà, tứ chúng vọng lời đau.

Tâm chí thành con kính lễ nguyện cầu,

Sen chin phẩm Giác linh thầy chứng giám.

Kính lễ

 


 

KỶ NIỆM

Với Hòa thượng BỬU THIỀN

 

Hòa thượng Trí Tánh, Viện chủ Bửu Thiền Tự (Long Thành) đã quá già yếu thì việc xả báo thân quảy gót về Tây là điều phải đến, nên môn đồ pháp quyến và Pháp hữu đã chuẩn bị để sẳn sàng tiễn đưa Ngài về cõi Phật.

            Thế mà khi được báo tin Hòa thượng viên tịch tôi không khỏi xúc động, nén lòng buông một lời than “Hòa thượng đã về Tây, đã hoàn thành bổn phận…còn tôi, còn đây nghiệp trần, còn nặng nợ hai vai

            Nhớ Hòa thượng, trong lễ Tiểu Tường tôi ghi vài kỷ niệm, nhưng kỷ niệm khó quên trong tình Pháp lữ, nghĩ cũng là cách niệm nhớ thâm tình tôi và Hòa thượng.

            ♦ Sơ ngộ

            Mười tám năm trước, từ 1982, tôi gặp lần đầu Thượng tọa Bửu Thiền (trụ trì chùa Bửu Thiền, thị trấn Long Thành).

            Trong căn nhà thờ Phật trên gác bà Tường An. Tôi và thầy Kiến Tánh mới bước lên đã thấy thầy Trí Thâm (Bửu Lộc) và một vị sư già, người nhỏ nhắn, miệng cười vui vẻ chào hỏi móm mém rất dể thương. Tôi chào lại nhưng hơn bỡ ngỡ một chút. Thầy Bửu Lộc nhanh nhẩu giới thiệu ngay:

-         Đây, thầy Minh Tâm mới nhập cư Long Thành. Còn đây là thầy Bửu Thiền, trụ trì chùa Bửu Thiền, còn tôi và thầy Kiến Tánh khỏi giới thiệu.

Tôi chưa kịp mở lời, thì thầy Bửu Thiền đã cười vui:

-         Ở đây bốn người mà ba chữ Bửu (Bửu Lâm, Bửu Lộc, Bửu Thiền), còn thầy một mình, kiếm một Bửu nữa cho đủ số của Tăng.

Tôi ấm ớ vì lạ nước lạ cái, biết mô tê gì đâu mà kiếm thêm một Bửu. Tuy vậy, buổi sơ ngộ với thầy Bửu Thiền cũng khá thú vị, tâm đắc do đức tính hoan hỉ tự nhiên của thầy.

            ♦ Mời

            Sau lễ và thọ trai xong, khi chào nhau ra về, thầy Bửu Thiền mời tôi và thầy Kiến Tánh ngày Rằm tới đến Bửu Thiền ra mắt Phật tử. Tôi đồng ý ngay vì muốn biết chùa Bửu Thiền ra sao, ở đâu và nhân dịp làm quen, thầy Kiến Tánh như hiểu ý:

-         Đúng, đúng, đi liền, lão MT này cũng có tâm hồn ăn uống lắm, thầy Bửu Thiền làm “kép kép” đãi khách mới cho “xôm”

Tôi tiếp lời:

-         Thầy Kiến Tánh nói chí phải, ai cũng cần thuộc câu “nơi nào ăn MT có, nơi nào khó chẳng có MT”

Chúng tôi cười, chia tay nhau và hẹn ngày Rằm tái ngộ. Thầy Bửu Thiền dẫn chiếc xe đạp sườn ngang (nét độc đáo riêng của thầy) trước khi leo lên xe còn nói vọng một câu mà tôi nhớ mãi: “Nhớ nghe, Rằm tới, đất cũ đãi người mới, đừng quên Minh Tâm, Kiến Tánh phải đến Bửu Thiền mới thành Phật được”, chúng tôi đều cười vui.

            ♦ Long cốt

            Đến Bửu Thiền, chùa kiến tạo theo phong cách vừa tân vừa cổ, nằm giữa đồng ruộng thoáng mát, lối vào bằng một con đường vừa đủ cho xe chạy, hai bên cỏ mọc xanh tươi, như con đường làng khá thơ mộng.

            Thầy Kiến Tánh nằm trên bộ ván dài thả hồn vào tiểu mộng, còn thầy Bửu Thiền dẫn tôi đi dạo cảnh. Đến một đám chậu kiểng lớn nhỏ lủ khủ, trồng rất nhiều loại xương rồng khá đẹp. Tôi tò mò hỏi vì thấy nhiều loại quý hiếm tôi chưa biết, hỏi tên từng loại, thầy Bửu Thiền thành thật “Tôi không biết tên, thấy đẹp thì trồng”. Rồi thầy cười vui nói thêm:

-         Đến Long Thành phải đến Bửu Thiền xem Long Cốt. Tôi đặt tên cho nó là Long Cốt to, Long Cốt nhỏ, Long Cốt mẹ, Long Cốt con…”

-         Long Thành, chữ Long này đâu phải là Rồng, mà là…

Thầy Bửu Thiền nói ngay:

-         Bây giờ chữ Hán ít ai biết để phân biệt, người ta chỉ nghe âm để đoán nghĩa, như nghe âm tử họ nói là chết, âm lệ họ nói là nước mắt, chứ ít ai nghĩ là đẹp (mỹ lệ), chữ Nguyên Phong của thầy người ta nghĩ chữ phong là gió chứ ai biết nghĩa nó là Cao Phong, đỉnh núi….trúng trật có ai thưởng phạt gì đâu, hiểu sao cũng được, thế gian mà, tùy thuận cho dễ sống.

Thì ra, sơ ngộ thầy Bửu Thiền đã ngầm ý tặng tôi một lời khuyên, nhớ ơn thầy mãi mãi.

Mấy búa?

Ngồi vào bàn, cô Diệu Hoa bưng lên mấy dĩa bánh xèo nóng hổi thơm phức, mấy dĩa rau sống tươi xanh, tô nước tương nổi bật mấy lát ớt đỏ trông rất hấp dẫn.

Chúng tôi nhập cuộc chỉ có ba người vừa ăn vừa trò chuyện Đông Tây kim cổ. Thầy Bửu Thiền nói tôi không nên dùng đũa cứ tự nhiên theo kiểu Ấn Độ cho thoải mái. Nghe lời thầy chúng tôi áp dụng cách ăn Ấn Độ và cảm thấy ngon hơn, thầy Kiến Tánh phá lên cười như bom nổ. Tự nhiên thầy Bửu Thiền nhìn tôi hỏi: “Mấy búa?”

Tôi ngơ ngác, trố mắt nhìn chưa hiểu gì cả, thì hai thầy phá lên cười rôm rả, tôi lại ngơ ngác hơn, có lẽ thấy bộ điệu của tôi buồn cười quá nên hai thầy lại cười dữ, tôi phụ họa cười theo một cách gượng gạo. Thầy Bửu Thiền ngưng cười, đẩy dĩa bánh qua trước mặt tôi, nói tiếp:

-         Tôi yếu, ít nhất cũng 5 búa, còn thầy khỏe hơn phải đủ 10 búa mới rời khỏi bàn ăn.

Bây giờ tôi mới hiểu rõ, khoái quá lại cười to.

-         À, thì ra thế, hiểu rồi, đệ chỉ xin 5 búa là tối đa, mới nhập thất 5 ngày về, bao tử còn yếu lắm.

Chúng tôi thân nhau từ đó, suốt 18 năm qua, trong mọi sinh hoạt Tăng giới chúng tôi thường gặp nhau. Bao giờ thầy Bửu Thiền cũng dành cho chúng tôi ngững nụ cười tươi vui, những ánh mắt thâm tình, những lời nói vui vẻ ngọt ngào và nhất là những câu pha trò, đùa vui thân mật, cởi mỏ, nên mỗi khi gặp nhau đều cho nhau những kỷ niệm đẹp.

Nay vắng bóng thầy, tôi cảm thấy như thiếu một cái gì thân thiết bên mình, thị trấn Long Thành thiếu đi một vị sư già đủng đỉnh trên chiếc xe đạp sườn ngang dạo khắp phố chợ, đem niềm hoan hỷ đến cho mọi người, vì cái đức tính bình dị, chơn chất, hiền hòa và nụ cười móm mém trên đôi má nhăn nheo đầy từ ái của thầy.

Long Thành,

    Mùa Thành Đạo 2544

 

 

 

 

----o0o---
Vi tính: Huệ Ngọc

Cập nhật: 01-04-2010


Webmaster:quangduchomepage@gmail.com

Trở về Mục lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ:
quangduchomepage@gmail.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544