Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
TẠI CỐ ÐÔ HUẾ
 

TT Thích Tín Nghĩa
Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại - 2003
---o0o---
 

 


 

 

VÀI NÉT VỀ NGÔI TỔ ÐÌNH TRÚC LÂM TẠI CỐ ÐÔ HUẾ

Sơ Lược:

Tổ Ðình Trúc Lâm được hình thành năm Duy Tân thứ ba (1902), Ðầu tiên do bà Tỳ kheo Ni Hồ Thị Nhàn, pháp danh Thanh Linh, hiệu là Diên Trường đứng ra thành lập. Trúc Lâm khi còn trong tình trạng chỉ là mái tranh vách đất đơn sơ, thì Sư bà Diên Trường đã cung thỉnh Hòa thượng Giác Tiên làm tọa chủ Khai sơn. 

Cảnh chùa được tạo dựng trên một ngọn đồi rất thanh lịch và hữu tình. Ðồi có tên là Dương Xuân Thượng, thuộc làng Thuận Hòa, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy - Cố đô Huế. 

Ngọn đồi tuy không cao lớn, quang cảnh tuy không hùng vĩ; nhưng, ngọn đồi ấy đã thể hiện được sự hiền dịu, cân đối và thích hợp cho những tâm hồn yêu thiên nhiên hơn. 

Ðồi Dương Xuân Thượng nầy nằm thoai thoải mà hai bên sườn đồi có khe và suối làm tả phù hữu bậc. Toàn ngọn đồi là một dãy thông xanh biếc. Ðồi thông lúc nào cũng hòa âm với gió để tạo những bản nhạc thiền muốn đưa người thoát tục. 

Về địa dư:

Ngọn đồi, Bắc giáp với đàn Nam Giao. Ðàn Nam Giao nầy quanh năm dân chúng cúng tế tỏa hương trầm quyện, khói trầm bay, hướng dẫn lòng người đi vào nếp sống đạo đức, nhân ái đầy tình người muôn đời của tổ tiên, nòi giống; không vọng ngoại, không bị ngoại lai.

Nam giáp với dãy núi Truồi dài thăm thẳm đến xứ Quãng Ðà. Dãy núi nầy cao ngất nghễu đã tạo thành một chiếc bình phong kiên cố để bảo vệ cho ngọn đồi thêm phần vững chắc của mặt tiền. 

Hướng Ðông thì có núi Thiên Thai luôn luôn im lìm để chờ đón nắng nhạt khi chiều về mát dịu. 

Phía Tây, kết bạn với núi Kim Phụng luôn dang đôi cánh vàng để khoe sắc với thiên nhiên và tô thắm cho phong cảnh của ngọn đồi thêm phần thoát tục. 

Ngọn đồi cũng được đổi sắc thay màu tùy theo thời tiết của bốn mùa, tạo thành những vầng thơ không lời tuyệt diệu cho cả tình đời nghĩa đạo. 

Xuân đến hoa rừng nở rộ, khoe sắc đổi màu điểm tô cho cảh vật của ngọn dồi càng thêm phần duyên dáng.

Thu về, một vầng mây trắng phủ mờ cảnh vật, đưa cảnh vật vào khung cảnh thâm u huyền diệu. 

Mùa đông với giá rét căm căm, nhưng lũy tre và đồi thông lúc nào cũng giữ màu nguyên ủy của nó trư thế bất biến vẹn toàn, nói lên cái định lực thiền quán của Trúc Lâm mà chư Tăng ở đạy đang dồn hết tâm lực và ý lực để chấn hưng Phật giáo miền Trung. 

Trên mấy dãy thông xanh, chim chóc thi nhau hòa nhữg bản nhạc thiền ca trầm tĩnh như mời gọi khác thập phương đưa lòng mình vào sự tĩnh thức của hương đạo mỗi lần ngoạn cảnh chốn Trúc Lâm thiền tự. 

Những ai đã hơn một lần bước chân đến đây để viếng cảnh thì cũng tưởng tượng được cảnh vật ở chùa Hương (Bắc Việt) mà nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu đã từng xưng tụng: 

 ... “Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái,

Lững lờ khe yên cá nghe kinh...”. 

Dưới chân đồi là một dòng khe uốn khúc lượn quanh co. Tiếng nước chảy róc rách qua các kẻ đá đã tạo nên một bài ca bất tận.  Lưu huyền vạn cổ cầm là ở đây. 

Hè đến, một bầu trời xanh thăm thẳm tỏa xuống ngọn đồi. Cảnh vật chung quanh chùa hòa đồng với sự tịnh tâm thiền quán của chư Tăng trong chùa dệt nên một tấm thảm sống thảm sống động, vô giá. Trước mặt của ngôi chùa có một cái hồ đào theo hình cong chư S, hình bản đồ Việt Nam như muốn nhắc nhở cho quần chúng và Phật tử xa gần biết rằng: Ðạo Pháp gắn liền với Dân Tộc. Hồ được trồng toàn sen. Mùa sen nở, những làn gió mạnh thổi qua mặt hồ mang theo hương vị của sen đưa vào tận thiền thất để cúng dường chư Tăng và lam cho tâm hồn của chư Tăng càng thắm đượm hưong thiền Từ Bi Hỷ Xả. 

Cảnh vật của Tổ đình Trúc Lâm tuy không hùng vĩ, nhưng oai nghiêm và có một lối sống đạo giải thoát làm sao. Với cuộc sống đầy tình đời nghĩa đạo, cụ cư sĩ Ðoàn Lục Quán mỗi lần lên chùa lạy Phật, viếng cảnh hay đàm đạo giaó lý với Hòa thượng Thích Mật Hiển cũng phải thốt lên thành thơ:

Vịnh Cảnh Trúc Lâm

 

Trúc Lâm chùa ở chốn Thần kinh,

Phong cảnh nhìn xem thật hữu tình,

Trước mặt, bờ khe ùn cát trắng,

Sau lưng, chòm núi lợp cây xanh.

Gió Từ, quét sạch rừng phiền não,

Mưa Pháp, trôi đùa áng lợi danh.

Y Bát, mai sau truyền gốc Ðạo,

Tre già, măng mọc ngắm càng xinh.

     Ðoàn LụcQuán 

Tất cả những khách thập phương từ kinh thành Huế muốn viếng cảnh Trúc Lâm thì phải theo con đường Nam Giao, hướng về quận Nam Hòa, đổ xuống dốc Cầu Lim độ năm trăm mét (500 mét), rẽ vào con đường đất phía bên tay trái. Con đường đất nầy, hai bên được trồng toàn dương liễu song song nhau (Khi người viết và là hậu duệ của Trúc Lâm thiền phái chưa ra khỏi quê hương thì như vậy, bây giờ thì ra sao không biết được. Vì khi viết tác phẩm nầy và cho đến bây giờ là năm 2000, chúng tôi chưa một lần được về với quê hương). Ðây là con đường chính sẽ dẫn du khách vào tận chùa khoảng một cây số hơn. (Quý vị nào có về quê thăm, có lên viếng cảnh Trúc lâm, nếu biết thêm chi tiết cùng những hình ảnh sinh hoạt nơi đây của chư Tăng và Ðại chúng, xin vui lòng cho chúng tôi, để chúng tôi bổ sung vào những phần thiếu sót. Ða tạ). 

Ðặc biệt bờ khe chạy uốn quanh ngôi cổ tự nầy trồng toàn tre. Lá tre xanh um, chụm đầu vào nhau tạo thành những hòn giả sơn, nhìn từ xa trông khá đẹp. Vưuờn chùa trông toàn những thứ gỗ quý như: Lim, Sến, Gõ, Bạc hà, Thông, ... tỏa lá, cành sum sê như những tàng lộng. Ðây là những loại gỗ đặc biệt và quý để gia dụng. 

Cảnh vật lúc nào cũng nên thơ. Mỗi lần cụ Ðại thần Hồ Ðắc Trung là thân phụ của quý Sư bà Diệu Huệ và Diệu Không. Hai Sư bà nầy là tiêu biểu cho giới Nữ đạo Ni lưu xuất sắc của Ni phái Việt Nam và miền Trung, mà đặc biệt là tại cố đô Huế. (Cụ Ðại thần Hồ Ðắc Trung đã từng đứng ra bảo bọc và viết thư chịu tội với Pháp để cho nhà vua yêu nước Duy Tân khỏi bị đày ải). 

Bài thơ của cụ Ðại thần Hồ Ðắc Trung vịnh về Tổ đình Trúc Lâm như sau: 

Trúc Lâm Vịnh

Trúc Lâm phong cảnh tối thâm u,

Ẩn tại sơn trung, thiểu lộ du,

Nguyệt chiếu, phong xuy, thân bất động,

Vân lai, vũ khứ, thể vô thù,

Ðầu đầu thủy địa, tâm phương dẫn,

Tiết tiết không tậm, chỉ hướng tu.

Quán trúc tri nhơn, nhơn thị trúc,

Trúc nhơn phi dị, cảnh tưong phù.

 

Dịch:

 

Trúc Lâm phong cảnh thật thâm u,

Ẩn tại trong non, khách thiểu du,

Trăng rọi, gió lay, tâm chẳng động,

Mây đi, nước đến, thể không thù.

Ðầu đầu sát đất, tìm phưong dẫn,

Giữa đốt không tâm, chỉ hướng tu.

Thấy trúc biết người, người tựa trúc,

Trúc người không khác, cảnh tương phù. 

Trên đây là vài nét của ngọn đồi Dương Xuân Thượng, nhưng kỳ thật, đây chính là vị trí của ngôi Tổ Ðình Trúc Lâm Ðại Thánh. 

Ghi chú: Vị nào muốn rõ thêm cảnh trí, cách thờ phụng, cách cấu trúc của Trúc Lâm Ðại Thanh tự, xin trực tiếp đón đọc cuốn Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế của tác giả ghi trên đây. Mọi chi tiết xin liên lạc theo số điện thoại, Fax, và E-Mail đã có sẵn trong Website nầy. Kính đa tạ.

 

TIỂU SỬ TỔ GIÁC TIÊN
Khai Sơn TỔ ÐÌNH TRÚC LÂM TẠI CỐ ÐÔ HUẾ


 

 

1. Thân thế:

Pháp danh: Trừng Thành, 

Pháp tự:  Chí Thông, 

Pháp hiệu:  Thích Giác Tiên 

Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 

Thế danh: Ngài họ Nguyễn Duy húy là Quyển. 

Thọ sanh năm Canh thìn, niên hiệu Tự Ðức đời thứ 33 (1879).  

Chánh quán làng Giạ Lệ Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. 

Năm 1883, lên bốn tuổi thì song thân đều mất. Ngài được ông bà bác đồng tộc đem về nuôi dưỡng. 

Nhờ bẩm chất thông minh nên thân thuộc cho theo Nho học một thời gian. Nhận thấy giáo lý Phật đà mới là con đườg hướng đến cảnh giải thoát; từ đó, ngài xin với thân thuộc xuất gia đầu Phật. 

Năm 1890, được 11 tuổi, ngài cầu thọ giáo với tổ Tâm Tịnh. 

2. Sự nghiệp tu học: 

Ðầu tiên, ngài lên tu học tại Tổ đình Từ Hiếu. Nơi đây, ngài Hải Thiệu đang là Trú trì và ngài Tâm Tịnh làm Giám tự. 

Năm 1883, lên 14 tuổi, ngài được tổ Tâm Tịnh cho thọ Sa di Thập giới. 

Năm Ðinh Mùi (1907), Hòa thượng Ðàn đầu Vĩnh Gia, tổ chức Ðại giới đàn tại chùa Phước Lâm, thị xã Ðà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Ngài được bổn sư cho đăng đàn thọ Cụ túc giới và đỗ Thủ khoa, đúng 28 tuổi.

Sau khi đắc giới, ngài đang chuyên tinh hành trì giới luật và nghiên cứu những bộ kinh khó; đồng thời, hầu cận bên cạnh sư phụ, thì ngài Hải Thiệu lại công cử đứng ra lo cho chùa Phổ Quang gần dốc Bến Ngự. Vì, ngài Trú tyrì chùa Phổ Quang đã viên tịch và cúng dưòng chùa lại cho ngài Hải Thiệu. 

Cùng chung lo Phật sự với ngài tại Phổ Quang có sư bà Diên Trường. Sư bà cũng thọ Ðại giới cùng một lần với ngài ở Ðại giới đàn Vĩnh Gia (Ðà Nẵng). 

Vì sự huyên náo của ngành hỏa xa ở trước cổng chùa Phổ Quang có ảnh hưỏng đến sự tu niệm của ngài cũng như của chúng lý; năm Tân hợi (1911), sư bà Diên Trường vào thôn Thuận Hòa, đồi Dương Xuân Thượng lập thảo am để tịnh tu. Sư bà đã cung thỉnh ngài nhận ngôi Hóa chủ cho chùa. 

Trước khi nhận nhiệm vụ làm Tổ khai sơn, ngài đã cùng với Sư bà đi tham vấn đó đây, nhất là vùng Yên Tử (Bắc Việt). Khi đến Trúc Lâm Yên Tử, ngài đã ở lại đây một thời gian ngắn. Ngài đã sưu tầm một số pháp bảo ở Trúc Lâm và lấy làm mãn nguyện lắm. 

Sau khi trở lại Huế, ngài quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm với thâm ý của ngài là muốn nối chí truyền thống Trúc Lâm tam tổ ở núi Yên Tử vậy. 

Ngài là vị đệ tử xuất sắc nhất của tổ Tâm Tịnh (Khai sơn Tổ đình Tây Thiên Di Ðà). Ngài đã xứng đáng là vị Tổ khai sơn cũng như sự mong cầu và ngưỡng mộ của sư bà Diên Trường nữa. 

Với công trình hành đạo của ngài như vậy, trong Việt Nam Sử luận của Giáo sư Nguyễn Lang có đoạn viết: 

“... Như ta đã biết, hội An nam Phật học không những đã có được sự yểm trợ của hầu hết các phần tử trong sơn môn mà còn có được sự cộng tác tích cực của những vị Tăng trẻ tuổi và có học của sơn môn đào tạo nữa. Sự cộng tác nầy phần lớn nằm trong phạm vi hoằng pháp; giảng diễn cho tín đồ, trước thuật bài vở và kinh sách. Tuy nhiên, nhìn hội An nam Phật học với những thành quả mà nó thu lượm được chỉ là nhìn thấy một bông hoa nở trên một nhánh cây mà chưa nhìn thấy từ thân cái cây ấy.  

Tuy nói rằng: Phật giáo suy yếu, cần phải phục hưng, nhưng nếu căn bản và tiềm lực không có thì sự phục hưng ấy sẽ trở nên rất khó khăn.  

Sở dĩ ta có được một Mật Khế, một Tâm Minh Lê Ðình Thám là nhờ có được Giác Tiên chẳng hạn thì ta thấy được Tâm Tịnh, bổn sư của Ông, Huệ Pháp, Giáo thọ sư của Ông, Viên Thành là bạn thân của Ông. ...”

 (Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, quyển 3, trang 112 và 113). 

Ngài không những chỉ đem hết tâm lực và tâm nguyện để lo cho Trúc Lâm trở thành một chốn già lam đầy thiền vị như ý nguyện, mà ngài còn nhìn xa hơn nữa cho tiền đồ của Ðạo pháp, bằng cách biến Trúc Lâm trở thành nơi đào tạo Tăng tài, hoằng pháp lợi sanh và nhất là quần chúng hóa Phật giáo ngày một hưng thịnh. 

Với công hạnh và đức độ, tổ Tâm Tịnh đã làm một bài kệ phú pháp cho ngài như sau: 

Giác đạo kiếp không tiên,

Không không bát nhã thuyền,

Quả nhân phù hạnh giải,

Xứ xứ tức an nhiên.

Dịch:

Ðường giác vượt hậu tiền,

Thuyến bát nhã không không,

Hạnh giải hợp nhân quả,

Ở đâu cũng thông dong. 

Bài kệ trên cũng phù hợp với sự chuyên tâm hành thiền của ngài. Hằng ngày ngài thường nghiên cứu vào những câu thoại đầu để làm công án thiền như sau:

- “Chư pháp tùng bản lại,

Thường tự tịch diệt tướng.”.

Dịch:

Các pháp vốn xưa nay,

Tự tướng thường vắng lặng. 

Ngài ngồi thiền định liên tiếp ba bốn giờ là chuyện thường. Có lúc ngài ngồi nhập định luôn cả hai ngày. Xả định rồi, thấy thời gian như bóng câu qua cửa sổ, thân người rồi cũng tự lụi tàn theo năm tháng; ngài tự nhủ: Nếu như không chịu tự tu chứng lấy cho bản thân, không chịu hành trì giới luật, không chuyên tâm tu niệm rồi một ngày nào đó rất gần, cái thân giả huyễn nầy cũng sẽ ra tro bụi, vô minh rồi cũng sẽ đến với mình. Vĩnh kiếp luân hồi trong lục đạo. Ngài đã cảm nhận được cơn vô thường của kiếp sống, nên sau khi xả thiền, ngài có làm bài thơ như sau:

Giác mộng tàn tinh điểm bán không,

Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung,

Sơ minh nguyệt sắc tà lan ý,

Tức nhập thiền tâm tiêu tức trung.

 

Dịch:

 

Tỉnh mộng tàn canh thấy cảnh không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tông,

Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,

Thâm nhập thiền tâm, tiêu tức trung.

 

Dịch theo vần Lục bát:

 

Tàn canh thấy mộng trống không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tông (tích) loài.

Vầng trăng chiếu rọi hiên ngoài,

Thiền tâm chứng nhập, trong ngoài tiêu tan.

3. Ảnh Hưởng Của Ngài Ðối Với Ðạo Pháp:

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Giáo sư Nguyễn Lang có đoạn:

- “Thiền sư Giác Tiên có thể nói là người khởi xướng công trình phục hưng Phật Giáo tại miền Trung. Giác Tiên Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật Học được bốn năm thì thị tịch. 

Các đệ tử của Giác Tiên Thiền sư là Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào phục hưng Phật Giáo sau nầy, ...”  (Việt nam Phật giáo Sử luận quyển 3, trang 85 và 86) 

Năm Giáp tý (1924), đời vua Ðồng Khánh thứ 9, ngài vân tập Ðại Tăng và tổ chức an cư kết hạ. 

Năm Giáp ngọ (*), đời vua Khải Ðịnh thứ ba, ngài mở giới đàn ở chùa Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng bổn sư là tổ Tâm Tịnh đăng đàn truyền giới. 

Năm Ất sửu (1925), đời vua Bảo Ðại thứ nhất, ngài được chiếu chỉ của triều đình mời làm Trú trì Diệu Ðế quốc tự. 

Năm Bính dần (1926), ngài lo đại trùng tu Phật điện và Tăng xá của Trúc Lâm. 

Năm Mậu thìn (1928), ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo Tăng tài và cũng là khởi điểm đầu tiên cho Ðại học Phật giáo tại Cố đô Huế. nói riêng và miền Trung nói chung. 

Năm Kỷ tỵ (1929), ngài vào tận Tổ đình Thập Tháp Di Ðà để cung thỉnh Hòa thượng Phước Huệ ra làm chủ giảng cho lớp Ðại học đầu tiên nầy. 

Năm Canh ngọ (1930), ngài khuyến khích và giúp đỡ cho Sư bà Diệu Hương mở Ni trường Diệu Ðức. 

Năm Tân mùi (1931), ngài đứng ra vận động thành lập hội An Nam Phật Học. Ngài một mình tự đi cung thỉnh chư vị Hòa thượng, Thượng tọa có tài đức ra chung lo Phật pháp. 

Năm Quý dậu (1933), ngài ủy thác cho Thiền sư Mật Khế, vị đệ tử lớn và xuất sắc nhất của ngài mở một trường Tiểu học Phật học tại chùa Vạn Phước, để cho lớp Sa di của các chùa có nơi đến học. 

Năm Giáp tuất (1934), ngài cùng với đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm, thu nhận đúng 50 học tăng. Cuối năm nầy ngài quy tụ các học tăng có trình độ khá cao về Trúc Lâm để mở trường Ðại học Phật giáo. Ðại học Phật giáo đầu tiên có từ đó. 

Ngoài vị đệ tử lớn là thiền sư Mật Khế ra, ngài còn có một vị đệ tử lớn thọ tại gia Bồ tát giới đã theo học với ngài từ năm 1928 là Bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám. Cụ Tâm Minh vâng lời sư phụ để lo cho hội An Nam Phật Học, lo soạn thảo chương trình giáo dục thanh thiếu nhi và kết hợp thành đoàn ngũ hóa quần chúng Phật tử có tu học. Hạnh nguyện của ngài là làm thế nào đưa Phật giáo vào lòng dân tộc một cách trong sáng và hữu hiệu. Tuy nhiên, việc làm vừa được một đoạn đường thì ngài thọ bệnh. 

Ngày mồng Hai (Tân sửu), tháng Mười (Kỷ hợi), năm Bính tý (nhằm ngày 15 tháng 11 năm 1936), ngài cho vân tập Tăng chúng đứng chung quanh giường để nghe ngài giảng kinh Pháp Bảo Ðàn. Hai hôm sau, khi ngài giảng xong phẩm Bát Nhã, rồi ngài nhìn từng vị đệ tử một để truyền kệ. 

Vào lúc 20giờ, ngày mồng Bốn (Ất mão), tháng Mười cùng năm (tức ngày 17-11-1936), niên hiệu Bảo Ðại thứ 11, ngài im lặng và từ từ đi vào cõi tịnh. Ngài thọ thế 57 tuổi. 

Chư Tôn đức Tăng già, quần chúng Phật tử và hội An Nam Phật Học tề tựu về Trúc Lâm Ðại Thánh tự để lo lễ cúng dường cũng như phò nhục thân ngài nhập bảo tháp rất trọng thể. 

Ngài viên tịch trong lúc đang đãm nhiệm trách vụ Trú trì hai chùa Trúc Lâm và Diệu Ðế và Chứng minh Ðại đạo sư cho hội An Nam Phật Học. 

Trước sự thương kính của hội, Hội đã thành tâm cúng dường câu đối như sau:

* Trúc Lâm không quãi tam canh nguyệt, 

* Diệu Ðế tri văn ngũ dạ chung. 

Ðại diện hội Phật giáo Bắc kỳ cúng dường hai câu: 

* Vân nạp Bắc lai, đàm luận di tuần kham Giác chỉ,

 * Trúc lâm Nam vọng, vãng sanh hà xứ mích Tiên tung. 

Trước tháp ngài, cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám có cúng dường hai câu để ghi nhớ và vâng chỉ di huấn của Tổ trên con đường chấn hưng, phục vụ Phật pháp, như sau: 

Quán tướngnguyên vọng, quán tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã,

 Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừa đương di huấn khởi vô nhơn. 

Nghĩa là: 

Quán sắc tướng vốn vọng, quán thể tánh vốn chơn, viên giác diệu tâm đâu còn ngã, 

Chúc chánh pháp khiến truyền, chúc chúng sanh khiến độ, thừa đương di huấn vẫn còn có người. 

Ngài đã đi vào cõi tịnh, nhưng âm ba và uy đức của ngài vẫn còn nối tiếp mãi mãi. Nhìn những vị đệ tử xuất gia lẫn tại gia và hậu duệ của ngài còn gánh vác việc Giáo hội thì đủ rõ.

 

Không những ngài là vị xuất trần thượng sĩ, ngài còn là một thi sĩ đã để lại những áng thơ hay, những di bút xuất thần mà các tổ đình Tường Vân, Từ Quang, Tra Am, v.. v... vẫn còn tôn thờ trong hậu tổ hay nơi chan1h điện. Bên cạnh đó, mỗi lần Giáo hội tại cố đô Huế hữu sự vẫn còn tưởng niệm đến danh hiệu ngài.

Những vị đệ tử xuất gia của ngài gồm có: Mật Tín, Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Nhơn, Mật Thể, Diệu Huệ và Diệu Không.

Tại gia thì có: Ðại thần Hồ Ðắc Trung, bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám (Linh hồn của tổ chức Gia đình Phật tử miền Trung và Việt nam) và bác sĩ Trương Xướng.

Ghi chú: (*) Trong bài minh của Ngài thì cụ Thượng thơ Lê Nhữ Lâm phụng soạn đề là: Khải Ðịnh Giáp ngọ niên, tập thiền môn pháp lữ, kiến Giới đàn Từ Hiếu tự, thỉnh Tâm Tịnh Hòa thượng truyền thọ Tỳ ni. ... Nghĩa là: Năm Giáp ngọ, đời vua Khải Ðịnh, ngài mở Giới đàn tại chùa Từ Hiếu, cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh truyền trao giới pháp.

Theo vấn đề tra cứu lịch Vạn niên thì: Từ năm 1906 đến năm 1930, không có năm nào là Giáp ngọ hết; chỉ có: Bính ngọ (1906), Mậu ngọ (1918) và Canh ngọ (1930). Chỉ có năm Giáp ngọ đời vua Thành Thái thứ sáu, thì Ngài mới xuất gia. Vậy thì, lòng bài minh là năm Mậu ngọ (1918) thì không phù hợp. Có lẻ là năm Mậu ngọ (1930). ???

Y sử, đối chiếu cũng có một vài chỗ chưa ổn. Người viết tra lục, đưa ra đây một vài dữ kiện để sau nầy những nhà chép sử Phật giáo lưu ý cho.

*

*  *

 

DỊCH ÂM BÀI MINH 

(tức là bài Bia văn bằng Hán tự nói về tiểu sử và hạnh nguyện của Tổ)

Ghi chú: Bài Minh nầy trong tác phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Tại Huế là có chữ Nho, có phiên âm, có dịch nghĩa hẵn hoi. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại phần phiên âm và dịch nghĩa mà thôi.).

Phần phiên âm: 

Ngự chế Diệu Ðế tự Trú trì, Lâm tế tứ thập nhị thế, Khai sơn Trúc Lâm Ðại thánh tự Giác Tiên Hòa thượng chi tháp. 

Khai sơn Trúc Lâm Ðại thánh tự, sáng lập An Nam Phật Học hội, chứng minh Ðại đạo sư Trừng Thành Chí Thông Giác Tiên Hòa thượng chi minh. 

Giác Tiên Hòa thượng, Lâm tế chánh tông tứ thập nhị thế chi đại sư giả. Sư bản tánh nguyên tịch, Thừa Thiên phủ, Hương Thủy huyện, Dã Lê Thượng xã, dĩ Tự Ðức thập tam Canh thìn lạc trần. 

Thành Thái lục niên Giáp ngọ (*), thị khô tử tán sư, cảm thế sự vô thường, nhân đô Báo Quốc tự giới đàn, phiêu nhiên hữu xuất trần chi chí.

Toại chiêu Từ Hiếu tự, lễ Tâm Tịnh Hòa thượng, viện tức thế nhiễm. Căn tánh thông lợi, kinh luật am tường, lũ dục Dương Xuân sơn kết am vị tự tu chi vị cánh. Tỳ kheo ni Hồ Thị Nhàn pháp danh Thanh Linh, hiệu Diên Trường gia kỳ chí, vị kiến Trúc Lâm tự, thỉnh sư vi khai sơn tọa chủ. Ư thị thiền tâm viên đốn, pháp vũ hoằng khai. Tự ngộ Quảng Nam tỉnh, Phước Lâm tự, Vĩnh Gia Hòa thượng khai Ðại giới đàn, sự thọ Cụ túc giới thời, vu Thiên Hưng tự, tăng ni đại chúng, lợi ích đàm triêm; cầu Tâm Tịnh Hòa thượng, diệu khế phú pháp kệ vân: 

Giác đạo kiếp không tiên,

Không không Bát nhã thuyền,

Quả nhân phù hạnh giải,

Xứ xứ tức an nhiên.

Phật ngôn tý bát, thánh thiền thiệu long, sư phục hà khả giải.

Khải Ðịnh Giáp ngọ niên, tập thiền môn pháp lữ, kiến Giới đàn Từ Hiếu tự, thỉnh Tâm Tịnh Hòa thượng truyền thọ Tỳ ni, hành hóa viễn diêu, sái dương chi thủy, cam bị Tây Thiên. Kỵ Khải Ðịnh cửu niên Giáp tý, đại tập thiền hòa ư Tường Vân tự, cửu tuần kết tập giới, hạnh mãn công viên, phước huệ song tu, tự tha kiêm lợi, Phật Tổ chi cán ty, thiền hòa chi lương đống sư tai. Bình nhật thường tham chi kệ vân:

“Chư pháp tùng bản lai,

Tự tánh thường diệt tướng.”. 

Bảo Ðại nguyên niên, mông chỉ chuẩn chi Diệu Ðế Trú trì. Bảo Ðại lục niên, sùng tu Trúc Lâm tự điện vũ, Phật Tăng xá, hoán nhiến nhất tân. Nhi sư hành, Phổ Hiền thị tâm, nguyện độ nhất thế, viên thỉnh Phước Huệ Hòa thượng, trách tịch Trúc Lâm tự, khai đàn giảng kinh, lực giác quần mộng. Sát na gian, thiện nam tín nữ, phát bồ đề tâm gia vân tập. Dĩ nguyện lực hoằng thâm, cố Phật học triêu xướng chi mộ thành. Kế tắc đại, tiểu chư Học đường, diệc ư yên sáng thỉ. Ngã An Nam Phật Học hội chi khoáng trương, duy ngô sư thị nguyện.

Ư Bảo Ðại thập nhất niên, thập nguyệt, sơ nhị nhật triệu thỉnh đệ tử tụng Bảo Ðàn kinh, chí Bát Nhã phó chúc Phật pháp gia nghiệp vãng sơ tứ nhựt hốt xả thế duyên, du nhiên viên tịch, thế thọ ngũ thập thất, hạ lạp thập cửu. Kiến tháp vu tự bàng chi tả.

Bát nhã vân:

- “Viễn ly mộng tưởng,

cứu cánh niết bàn, tín tai.”. 

Pháp giới vô sanh tử, ư hà hữu giác duyên ?

Tư trích trần lự, tiếu niêm tháp chi bi, chi kệ, chi tụng, chi pháp môn. Hữu kế năng vô kềnh chi lũng, chi hồ. Hành kính bất ma năng vô kim thạch chi hồ. Ðạo phong cao diệu, pháp độ hoằngviên, như ngã sư giả, hậu nhơn nghi tư. Sở dĩ xiển dương, nhi lịch lịch di tích, soạn thứ như tả, dữ thế gian tưong cập nhơn đạo nhơn duyên, tích chú (1) vu thạch. Duy nguyện Phật nhựt bồi bồi, tăng huy yên nhỉ.

Minh viết:

Hương bình linh dục,

Viện đản Phật tăng,

Ðồng niên diệu ngộ,

Trần lự trừng (2) trừng,

Xả thân tuyên pháp,

Thiện nghiệp trung hưng,

Hồng chung lôi hống,

Quần mộng thần linh,

Tăng đồ tế tế,

Duy sư thị thừa,

Man man trường dạ,

Sư chúc chi đăng,

Mang mang bỉ ngạn,

Sư dẫn chi đăng,

Ðàm hoa nhứt tiếu,

Bí diễn thiên tằng,

Trần hoàn khả chuyển,

Ðạo sơn bất băng,

Hoàng hoàng tư kiệt,

Miên miên tụng xưng.

Hoàng triều Bảo Ðại thập nhị niên, tuế thứ Ðinh sửu, lạp nguyệt, Phật thành đạo nhựt.

An Nam Phật Học Hội trưởng Hiệp tá Ðại học sĩ Nguyễn Ðình Hòe đồng bổn hội đồng phụng lập. 

Phó hội Trưởng Thượng thơ sung Quốc sử quán Tổng tài Lê Nhữ Lâm phụng soạn.  

Ghi chú: (1) Trong bài viết chữ Thọ, nó không hợp nghĩa. Phải viết là chữ Chú thức là Ghi, Khắc vào, mới đúng nghĩa bài minh. 

(2) Trong bài viết chữ Chứng, nhưng theo bài minh thì phải viết là Trừng. (Trừng trừng: nghĩa là sạch trong, tức là sạch sẽ một cách trong suốt). 

Vậy, quý vị, khi được đọc bài chữ Nho thì nó là Chứng Trừng ??? Còn theo đúng nghĩa của nó là Trừng Trừng. Xin lưu ý. Người viết cố tra cứu thì biết đến ngang đây. Xin quý thức giả và độc giả cao minh tha thứ và bổ khuyết cho. Kính cám ơn. Tín Nghĩa.

 

VIỆT DỊCH BÀI MINH

 Bia ký tạm dịch:

Bài minh khắc nơi tháp của Hòa thượng Giác Tiên, pháp danh Trừng Thành, thụy hiệu Chí Thông, thuộc giòng Lâm Tế chánh tông dời thứ 42. 

Nguyên Trú trì Ngự chế Diệu Ðế, khai sơn chùa Trúc Lâm Ðại Thánh, sáng lập hội An Nam Phật Học và Chứng minh Ðại đạo sư cho hội ấy.

Ðại sư nguyên người Giạ Lê Thượng, huyện Hương Thủy, phủ Thừa Thiên. Sinh năm Canh thìn niên hiệu Tự Ðức thứ 33.

Năm Giáp ngọ, niên hiệu Thành Thái thứ sáu, nhân đám tang thầy mà cảm nhận về tánh chất vô thường của cuộc đời; thêm vào đó, nhờ xem Giới đàn ở chùa Báo Quốc cố đô Huế, nên bỗng nhiên khơi dậy chí nguyện xuất trần (đi tu). Ngài đến chùa Từ Hiếu đảnh lễ Hòa thượng Tâm Tịnh và xin xuống tóc xuất gia.

Ngài là người căn tánh thông lợi, khá am tường về kinh luật đã nhiều lần muốn dựng am ở núi Dương Xuân để tịnh tu, nhưng không thành.

Thế nhưng, sau đó Tỳ kheo ni họ Hồ, pháp danh Thanh Linh, hiệu Diên Trường tán thưởng ý chí của ngài, đứng ra lập chùa Trúc Lâm và mời ngài làm tọa chủ. 

Gặp lúc Hòa thượng Vĩnh Gia mở Ðại giới đàn ở chùa Phước Lâm, tỉnh Quảng Nam, ngài liền xin thọ Cụ túc giới, bấy giờ vừa đúng 29 tuổi. 

Thọ Cụ túc giới xong, ngài trở về chùa Thiên Hưng, Huế, mở trường dạy học; rất nhiều Tăng Ni nhờ sự giaó huấn của ngài mà được thấm nhuần Phật pháp.Ngài đắc pháp với Hòa thượng Tâm Tịnh qua bài kệ phú pháp như sau:

“Giác đạo vượt hậu tiền,

Không không thuyền bát nhã,

Hạnh giải hợp quả nhân,

Nơi nơi đều an lạc.”.

Ngài quả thật đã thấu rõ yếu chỉ cửa Phật giòng Thiền.

Năm Giáp Ngọ (*) (Ðã có chú thích ở phần âm), đời vua Khải Ðịnh, mở Giới đàn ở chùa Từ Hiếu và cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh truyền thọ giới pháp. Khắp nơi xa gần đều nhờ ơn tế độ, nước cành dương đã rưới đến Tây thiên. 

Ðến năm Giáp tý (1924), niên hiệu Khái Ðịnh thứ chín, ngài tập họp Ðại Tăng và tổ chức an cư kết hạ ba tháng ở chùa Tường Vân. Mãn hạ, cũng tức là phương thức lợi mình, lợi người, phước huệ song tu một cách đầy đủ. Ngài đúng là rường cột của cửa thiền, sứ giả của Phật Tổ. 

Hằng ngày thường tham cứu: 

“Các pháp tứ xưa nay,

Chơn tướngvốn tịch diệt.”. 

Ðời vua Bảo Ðại thứ Nhất, ngài được sắc chỉ làm Trú trì chùa Diệu Ðế, qua năm sau, lo trùng tu Phật điện, Tăng xá Trúc Lâm. 

Noi theo đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền, muốn độ thoát tất cả; do đó, ngài mời Hòa thượng Phước Huệ từ Bình Ðịnh đến chùa Trúc Lâm để giảng dạy kinh điển. Chẳng bao lâu, thiện tín phát tâm tu học khắp nơi tụ tập về và cũng nhờ thế mà hội An Nam Phật Học đã được hình thành trong một thời gian rất ngắn. Tiếp theo, các Phật học đường lớn nhỏ bắt đầu dựng lên.

 

Hội Phật Học ngày nay lớn mạnh, phần nhiều cũng đều do nguyện lực của ngài. Thế rồi, ngày mồng Hai, tháng Mười năm Bảo Ðại thứ 11, ngài cho mời các đệ tử tới tụng kinh Pháp Bảo Ðàn, đến phẩm Bát Nhã; đem sự nghiệp Phật pháp phú thác xong xuôi, vào ngày mồng Bốn tháng Mười, Bảo Ðại năm ấy, ngài an nhiên viên tịch. Ngài thọ thế 57 tuổi đời và 29 tuổi đạo. Tháp ngài được xây bên chùa Trúc Lâm.

Ðúng như Bát Nhã tâm kinh:

- “Xa lìa mộng tưởng điên đảo,

đạt đến niết bàn.” 

Trong pháp giới nếu không có mê mờ sanh tử thì lấy gì làm duyên cho giải thoát giác ngộ ? 

Vì thế, tôi đem một vài ý nghĩ thô cạn viết thành bia, kệ, tụng, pháp môn niêm khắc nơi tháp với hy vọng người sau sẽ nhân đây mà tiến xa hơn, hoàn bị hơn.

Ðạo phong cao diệu, pháp độ hoằng viên như Ðại sư, thật đáng để cho đời sau suy tư, tuyên dương. 

Nay đem di tích của ngài soạn thành văn, khắc vào đá để lại cho đời; đồng thời, kính nguyện Phật giáo ngày một thêm rạng rỡ, huy hoàng. 

Nội dung bài minh như sau: 

“Ðất linh Hương Bình,

Sinh được cao Tăng,

Diệu ngộ từ bé,

Trần niệm sạch trong,

Xả thân vì đạo,

Thiền nghiệp vượng hưng,

Hồng chung vang dội,

Vua dân đều mừng,

Tăng đồ đông đúc,

Chỉ một mình Thầy,

Ðêm dài mờ mịt,

Thầy là đuốc soi,

Bờ giác mênh mông,

Thầy là hải đăng,

Hoa đàm một tập,

Bí điển một tầng,

Sao dời vật đổi,

Núi đạo không băng,

Bia đá rạng rỡ,

Xưng tụng vĩnh hằng.”.

 

Tháp Chạp năm Ðinh sửu, niên hiệu Bảo Ðại thứ 12, ngày đức Phật Thành đạo,

Dựng bia: 

Hiệp tá Ðại học sĩ Nguyễn Ðình Hòe, Hội trưởng hội An Nam Phật Học và toàn thể hội viên, (Dựng bia), 

Soạn văn: 

Thượng thơ phụ trách Tổng tài Quốc sử quán kiêm Phó hội Trưởng hội Phật học Lê Nhữ Lâm.

 

 

TIỂU SỬ
THIỀN SƯ
THÍCH MẬT KHẾ 
 

Ngài họ Lê, quý danh là Chánh. Quê quán làng Thần Phù, xã Thủy Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. 

Ngài thọ sanh năm Giáp Thìn (1904). 

Năm Quý Sửu (1913), lên chín tuổi, xuất gia đầu Phật với tổ Giác Tiên, chùa Trúc Lâm, cố đô Huế. 

Ngài tỏ ra thông minh xuất chúng trước tuổi. 

Năm Giáp Tý (1924), được đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Từ Hiếu. Tổ Tâm Tịnh làm Đàn đầu Hòa thượng. Ngài đổ thủ khoa vào năm 21 tuổi tròn.

Pháp danh: Tâm Địa,

Pháp tự: Mật Khế,

Thuộc giòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 43. 

Sau khi đắc giới, ngài xin với bổn sư ra tổ đình Thiên Hưng để tham cầu thêm giáo lý với Hòa thượng Huệ Pháp. 

Năm 23 tuổi, ngài xin vào thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ ở chùa Thập Tháp, tỉnh Bình Định.

Năm 1932, ngài cùng với bổn sư là tổ Giác Tiên và chư tôn đức Tăng già đứng ra thành lập An Nam Phật Học hội. Ngài là vị giảng sư đầu tiên của hội. Và, ngài cũng là vị sư trẻ đầu tiên tại cố đô Huế sớm ý thức đem đời vào đạo và đem đạo vào đời bằng con đường chấn hưng Phật giáo. 

Với tư chất và hạnh nguyện ấy, nên được tổ Tâm Tịnh (Tổ khai sơn Tây Thiên Di Đà tự) tặng y bát để hành trì.  

Năm Quý Dậu (1933), ngài vâng lời sư phụ đứng ra lập trường Tiểu học Phật giáo tại chùa Vạn Phước và trực tiếp làm Hiệu trưởng. 

Năm Giáp Tuất (1934), ngài hợp tác với Hòa thượng Giác Nhiên (tọa chủ tổ đình Thuyền tôn, đệ nhị Tăng Thống Giáo Hội PGVN Thống Nhất 1973-1979), mở trường An Nam Phật Học tại Trúc Lâm. Ngài làm việc với hội trong tư thế là Tổng thư ký. 

Các bài giảng của ngài dạy tại trường Vạn Phước và chùa Từ Quang gồm: Tam quy ngũ giới, Trạch pháp tu tâm, Thanh văn thừa, Bồ tát thừa, Pháp môn niệm Phật, … đều có đăng trong báo Viên Âm.

Năm Ất Hợi (1935), ngài muốn cho quần chúng thấy sự hưng thịnh của Phật giáo tại miền Trung, nhất là tại tỉnh nhà và cố đô Huế, ngài đã đi đó đây để vận động giới Tăng sĩ bản tỉnh đem hết tâm lực ra để cúng dường ngày Đản sanh thật long trọng, thật vĩ đại. 

Ngày 10 tháng 05 năm 1935, trong lúc đại lễ Phật đản đang được cử hành rất trọng thể tại chùa Diệu Đế, thì ngài lại viên tịch ở Trúc Lâm. 

Tổ Giác Tiên không có mặt trong ngày đại lễ này. Trước khi viên tịch, ngài bảo huynh đệ trong chúng mang bức tượng Di Đà phóng quang để trước mặt ngài. Ngài ngồi ngay ngắn như nhập định, chấp tay và niệm: Nam Mô A Di Đà Phật. 

Lúc ấy, tổ Giác Tiên vào đứng bên cạnh và phú kệ như sau: 

Tâm Địa (*) quai hàm pháp tánh viên,

Tây lai diệu chỉ hiểu Nam thiên,

Hoát nhiên trực triệt Tào Khê lộ,

Miễn tại linh bình ngũ thập niên.

Dịch:

Cõi tạm bao hàm pháp giới tánh,

Trời Nam sáng tỏ ý Tây truyền,

Bỗng nhiên thấu triệt Tào Khê lộ,

Khỏi mất công dài năm chục năm. 

(*) Tâm Địa là Pháp danh của ngài. Nguyễn Lang dịch. 

Ngài bái nhận phú kệ xong, xin Tổ được lấy ảnh Di Đà đắp lên mặt và từ từ nhắm mắt thị tịch. 

Ngài xả thân tứ đại đúng vào lúc 08 giờ sáng, ngày mồng Tám tháng Tư năm Ất Hợi (tức ngày 20 tháng 05 năm 1935). Hưởng dương trần thế 31 tuổi. 

Ngài là vị sư trẻ duy nhất được Giáo hội xây tháp phụng thờ và lo liệu mọi nghi lễ trong lúc nhục thân của ngài chưa nhập tháp. 

Giáo hội đã tặng câu đối: 

* Khả hạnh giải, chánh đạo bất chung yên, nguyệt san đề xuất, Phật học liên trường cố đa cô vũ, phông trào vô tận đăng quang tường phúc lãng, 

* Thử nhật tùng tâm, cang phùng khánh tiết, thiên tãi hạ trùng quang Phật nhựt, hồ nhi lạc quốc thốc tiên đăng. 

Câu đối Nôm của thầy Vân Đàm tặng như sau: 

 * Rừng mai đạp tuyết, cay đắng trải bao phen, cơ hóa độ còn nhiều hy vọng chứa chan, tằm kéo tơ lòng thêu sử Phật,

* Sàng Trúc trổ hoa, tỉnh mê trong nửa kiếp, tình tương tri quá nặng, sầu trường man mác, quyện rơi giọt lụy gọi hồn thiêng. 

Ngài ra đi giải thoát cho chính ngài, nhưng An Nam Phật Học hội mất đi một vị tăng trẻ tài cao, học chúng Trúc Lâm mất đi một hướng đạo sư tận tụy, đồng sự pháp lữ mất đi một bạn hiền vô giá. 

Hằng năm, cứ vào ngày tưởng niệm ngài, chư Tăng Ni và Giáo hội bản tỉnh đều vào Trúc Lâm thắp nén hương long và đảnh lễ trước long vị của ngài. Di ảnh cũng như long vị được phụng thờ bên gian tả của hậu tổ. 

Sự ra đi sớm của ngài, theo Giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận quyển ba, trang 102 có đoạn nói như sau: 

- “… Có lẽ giảng sư Mật Khế đã phí sức nhiều quá trong những ngày vận động cho lễ Phật Đản, một cuộc biểu dương đầu tiên của lực lượng quần chúng Phật giáo trong phong trào phục hưng. Như ta đã biết, đại lễ này có vua Bảo Đại tham dự, đã làm cho báo chí trong nước nói lên nhiều lần và câu hỏi về sự cần thiết hay không cần thiết của một sự phục hưng Phật giáo đã được đặt ra giữa dư luận quần chúng quảng đại. 

… Trước đó đã vận động vua Bảo Đại chấp nhận vị Hội Trưởng Danh Dự của hội. Từ năm trước, tức năm 1934, vua Bảo Đại đã ban hành sắc tứ cho các chùa Tường Vân, Tây Thiên và Trúc Lâm.  Chùa Tường Vân nguyên trước đã được sắc tứ rồi, bây giờ lại được sắc tứ một lẫn nữa, chùa Tây Thiên bây giờ là: “Tây Thiên Di Đà tự” và chùa Trúc Lâm: “Sắc Tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự”,  

Đại Thánh Trúc Lâm tức là vua Trần Nhân Tông ngày xưa vậy. 

Đến đây chúng ta hiểu thêm một phần nữa là: Qua biển sắc mà nhà vua ban cho Trúc Lâm Đại Thánh tự bây giờ có một phần liên hệ với Trúc Lâm Đại Đầu Đà ở núi Yên Tử (Bắc Việt) vậy.

 

TIỂU SỬ
THIỀN SƯ THÍCH MẬT HIỂN
 
 

1.Thân Thế: 

Hòa thượng họ Nguyễn Duy húy là Quảng. 

Thọ sanh dưới triều Nguyễn, đời vua Duy Tân năm thứ ba, ngày 04 tháng 03 năm 1907 (tức nhằm ngày Nhâm Tý 20 tháng Giêng năm Đinh Mùi theo lịch vạn niên), tại làng Gịa Lê Thượng, xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Một làng chạy dọc theo dãy Trường Sơn và quốc lộ số Một, nhưng có một đồng ruộng phì nhiêu nổi tiếng nhất ở Hương Thủy. 

Thân phụ là cụ Nguyễn Duy Bút, một bậc thâm nho lại có nghiên cứu về Phật học, đạo đức, khi xả báo thân thọ 93 tuổi.  

Thân mẫu là bậc mẫu nghi hiền hòa, hiếu đạo. Nhờ phúc ấm ấy mà ngài đã sớm xuất gia, tầm sư phỏng đạo.

Lên năm tuổi, ngài được theo Nho học và Phật học với phụ thân.

Năm Giáp Dần (1914), được bảy tuổi liền đầu sư với tổ Giác Tiên tại Tổ đình Trúc Lâm.

2. Sự Nghiệp Tu Học:

Với bẩm chất thông minh, ngài học kinh điển rất nhậm lẹ. Thời công phu mà chúng tăng thường tụng mỗi buổi sáng, ngài chỉ học trong một tuần là thuộc nằm lòng. Sư phụ cũng hài lòng mà chúng lý ai ai cũng nể phục. Chuyên tinh học hành kinh, luật và luận với sư phụ suốt bảy năm liền.

Năm Tân Dậu (1921), nhơn cậu Hoàng Cả (tức vua Khải Định khi chưa tức vị), lên chùa lạy Phật và viếng cảnh, nhận thấy ngài thông minh đỉnh ngộ, cậu Hoàng Cả bèn xin tổ Giác Tiên cho đưa vào hoàng cung để đào tạo thêm phần Nho học. Nhưng vì quyết chí học đạo giải thoát, chí xuất trần quá mạnh, ngài chỉ ở trong hoàng cung nội phủ vỏn vẹn một năm rồi cũng xin trở lại chùa cùng sư phụ.

Năm Nhâm Tuất (1922), lên 15 tuổi, được bổn sư cho đăng đàn thọ Sa di Thập giới tại Đại giới đàn Từ Hiếu.

Pháp danh: Tâm Hương, 

Pháp tự: Mật Hiển,

Thuộc giòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 43.

Với đạo hạnh và uy đức ấy, bổn sư cho ngài ra đảm nhiệm việc sơn môn để phát huy đạo pháp trong thập niên đang chấn hưng Phật giáo tại miền Trung, mặc dầu trong lúc này ngài chưa thọ Cụ túc giới. 

Năm Ất Sửu (1927), vừa tròn 20 tuổi, ngài thọ giáo Mật tông với một vị Pháp sư người Tây Tạng tại nhà ông Lương Tế Xuyên, ở Quảng Nam (bấy giờ là tòa Hành Chánh của thị xã Đà Nẵng). Theo học được hai năm, trong chuyến về thăm chùa và sư phụ, ngài định muốn sang tận Trung hoa để học thêm Mật tông và có cơ hội nghiên cứu thêm giáo lý Phật đà, thì Tổ bảo ở nhà để cùng sơn môn chung lo công cuộc chấn hưng Phật giáo đang còn phôi thai, cán bộ thì hiếm hoi, cuối cùng ngài đành phải vâng lời và ở nhà lo Phật sự.

Lớp Đại học Phật giáo đầu tiên được mở tại Trúc Lâm, sau đó dời qua Tổ đình Tây Thiên, ngài đã theo học hết tất cả những chương trình một cách rốt ráo và trọn vẹn. Bẩm chất thông minh nên ban Giảng huấn vô cùng thương mến. Đặc biệt Hòa thượng Giám đốc Phước Huệ thường tấm tắc khen thầm trong lúc chấm bài nộp quyển của ngài cũng như khi đang giảng dạy tại lớp.

Hòa thượng Phước Huệ vì tuổi già sức yếu, vả lại, cán bộ của đạo lúc này cũng tương đối vững mạnh, ngài trở về lại Tổ đình Thập Tháp (Bình Định). Trước khi trở về, đức Từ Cung (mẹ của vua Bảo Đại) có thưa hỏi lên ngài Phước Huệ như sau: 

- “Sau khi Hòa thượng về rồi, chúng con muốn học thêm giáo lý, kinh điển thì biết làm sao ?”.

Hòa thượng hoan hỉ trả lời:

- “Sau này quý vị nào muốn học thêm kinh điển thì nên theo học với chú Hiển (tức Hòa thượng Thích Mật Hiển bây giờ).

Cũng chính từ lời dạy ấy của Hòa thượng Phước Huệ, mà năm Đinh Sửu (1937), vua Khải Định và đức Từ Cung đã cung thỉnh ngài về cung An Định ở An Cựu để hướng dẫn kinh điển cho Nguyễn Phước tộc.

Vì hoàn cảnh của đất nước trong thời tao loạn do thực dân Pháp chiếm giữ làm thuộc địa, việc đi lại ngày càng thêm khó khăn, mọi sinh hoạt từ chốn thiền môn ra đến dân dã cũng đều bị đình trệ.

Năm Bính Tý (1936), vừa đúng 29 tuổi mới có Đại giới đàn mở tại Bình Định, ngài được đăng đàn cầu thọ. Ngài thọ Tỳ kheo và Bồ tát giới do ngài Phước Huệ làm Đàn đầu, đổ Thủ khoa, được chư vị Trưởng lão trong đàn giới truyền trao Y bát và Tích trượng.

Tổ Giác Tiên cũng truyền kệ phú pháp như sau:

Tâm Hương (*) pháp giới huân,

Xứ xứ kết tường vân,

Phú nhữ Tâm Hương tánh,

Cừ kim chánh thị quân.

(*) Tâm Hương là Pháp danh của ngài Mật Hiển. Căn cứ vào Pháp danh để Tổ đặt kệ phú pháp. 

3. Ảnh Hưởng Của Ngài Đối Với Đạo:

Ngài là một trong bảy vị giảng sư đầu tiên Cốt Tủy Nghi Lễ Phật Giáo”.

Năm Kỷ Mão (1939) được bộ Lễ và Sơn môn cung thỉnh chức vị Trú trì quốc tự Thánh Duyên (tức chùa Túy Vân tại quận Vĩnh Lộc bây giờ).

Năm Nhâm Ngọ (1942), ngài đứng ra vận động chư Tôn đức Tăng già để mở Đại giới đàn tại Tổ đình Thuyền Tôn. Thiền sư Mật Thể và Sư bà Diệu Không đắc giới ở Đại giới đàn này.

Năm 1949-1951, vì nhu cầu hoằng truyền giới pháp, ngài phải vào tận Sa Đéc để giảng dạy kinh điển cho Tăng Ni ở đây. Có đến 106 vị theo học với ngài trong thời gian này. Trong số 106 vị ấy, có vị là cán bộ cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bây giờ. (trước 30 tháng Tư – 1975).

Năm 1953-1955, Sơn môn Tăng già cung thỉnh ngài đảm nhận chức Tổng trị sự Tăng già Trung Việt.

Năm Bính Thân (1956), ngài đại diện Giáo hội và chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đi dự Đại lễ Phật đản tại Đông Hồi. Nhân dịp này, ngài đã được đi chiêm bái, thăm viếng các Phật tích, chùa chiền, thắng cảnh của các nước Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện và Ai Lao … Khi trở về, ngài có thuật lại chuyến đi này bằng một tác phẩm nhỏ: Phật Đản Đông Hồi

(Năm 1965, người viết có đọc được một lần, Tết Mậu Thân (1968), chùa chiền bị hư hại, nên tác phẩm này cũng tan nát theo tủ kinh sách của người viết).

Năm Mậu Tuất (1958), Giáo hội và chính phủ cử đi dự Đại hội Hòa bình thế giới tại Nhật Bản.

Kể từ năm 1962 trở về sau này, ngài là vị Đặc ủy Tăng sự của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ngài cũng là vị Giám luật của Tăng Ni bản tỉnh.

Năm Quý Mão (1963), ngài là Trưởng ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2507 tại Thừa Thiên. Cũng trong mùa Phật Đản lịch sử này đã mở ra một trang sử mới cho Phật giáo là xóa tan dụ số 10 mà nhà Ngô Đình đã lợi dụng để tận dụng trong thời gian cầm quyền đàn áp Phật giáo cũng như các giáo phái và đảng phái chân chính khác.

Sau ngày Cách mạng 01-11-1963 thành công, Giáo hội đi đến vấn đề thống nhất các giáo phái Phật giáo; Hòa thượng Đôn Hậu là Trưởng phái đoàn miền Vạn Hạnh, ngài là Trưởng phái đoàn Thừa Thiên - Huế.

Ngài cùng với quý Hòa thượng Thiện Hoà, Trí Thủ đứng ra thành lập Ban bảo trợ cho các Phật học đường trên toàn miền Nam Việt Nam.

Năm Ất Tỵ (1965), là Đệ tứ Tôn chứng sư Đại giới đàn Vạn Hạnh tại Tổ đình Từ Hiếu

(Hòa thượng Trí Chơn, Phó chủ tịch Giáo Hột PGVN Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đắc giới ở giới đàn này).

Năm Đinh Mùi (1967), ngài cùng quý Hòa thượng Đôn Hậu, Mật Nguyên và Thiện Siêu đứng ra mở lớp Chuyên khoa Phật học nội trú bốn năm tại Tổ đình Linh Quang

(Ở hải ngoại hiện đang hành hóa Phật pháp có các vị như: Thượng tọa Thích Tín Nghĩa khai sáng Tổ đình Từ Đàm Hải Ngoại tại Dallas, tiểu bang Texas, Thượng tọa Thích Tịnh Từ khai sáng kiêm Viện trưởng Tu viện Kim Sơn, thành phố Watsonville, tiểu bang California, Thượng tọa Thích Thiện Trì tọa chủ chùa Kim Quang tại thành phố Sacto, CA, đều xuất thân từ khóa này).

 Năm Mậu Thân (1968), được Hội đồng viện Tăng Thống suy cử lên ngôi vị Hòa Thượng để tán dương công hạnh tu niệm và hành đạo của ngài. Và, cũng trong năm này, ngài là Giáo thọ A xà lê sư cho Đại giới đàn mở ra tại Phật học viện Hải Đức, Nha trang.

Năm Canh Tuất (1970), làm Giáo thọ A xà lê sư tại Đại giới đàn Vĩnh Gia, tổ chức tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng.

Năm Canh Tý (1972), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn Bảo Quốc.

Năm Quý Sửu (1973), ngài được suy cử vào Hội đồng viện Tăng Thống.

Trong lúc này, Hòa thượng Mật Nguyện, pháp đệ của ngài vừa viên tịch, ngài lại phải nhiếp hóa Tăng chúng của Linh Quang nữa.

Cũng trong năm 1973, Hội đồng lưỡng viện cung thỉnh ngài vào ngôi vị Giám luật cho Tăng tín đồ toàn quốc. 

Năm Ất Mão (1975), làm Giáo thọ A xà lê sư cho giới đàn Bảo Quốc.

Hiện tại (kể từ năm 1978 đến ngày viên tịch), ngài là Phó Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Tháng Tư - 1975, tinh thần dân chúng miền Nam Việt Nam, trong đó có Giáo hội Phật giáo chịu không biết bao nhiêu là thống khổ dưới mọi hình thức; đứng trước mối gian nguy ấy, ngài phải đứng chịu mũi cắm sào để xử thế với thời cuộc. Không những ngài chỉ lo cho Đạo pháp mà còn lo cho cả Đại khối dân tộc nữa.

Trong những biến chuyển của lịch sử Đạo cũng như Đời, kể từ Nhật, Pháp thuộc, Đệ nhất, Đệ nhị Cộng Hòa và giai đoạn chuyển tiếp từ năm 1975 về sau này nữa, không lúc nào mà ngài không dấn thân để lèo lái vận mệnh Giáo hội từ Trung ương cho đến địa phương.

Hình ảnh của ngài trong các Đại hội GHPGVNTN kỳ 5, kỳ 6, và kỳ 7; nếu không có ngài trong Đại hội, thì chúng ta cũng thừa biết rằng: Đại hội khó đi đến thành công.

(Những ai đã biết đến ngài, những ai đã từng thọ giáo với ngài hay đã từng tham gia Giáo hội các cấp, có tham dự các Đại hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Trung ương thì rõ ràng nhất).

Tiếng nói và hình ảnh của ngài cũng đủ để cho lòng người bớt tham, sân, và si. Cuộc đời ngài là bóng mát từ bi. Đúng là bậc danh tăng, thiền đức. Xứng đáng với các đức tính Đại hùng, Đại lực, Đại trí và Đại từ bi.

Ngài thường dạy đồ chúng sống theo hạnh của ngài Bác Trượng thiền sư là:

- “Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực”.

Nghĩa là:

- Một ngày không làm là một ngày không được ăn.

Đệ tử của ngài dù có theo tân học, nhưng vẫn sống đúng theo quy củ thiền môn như ngài đã dạy. Đặc biệt Tổ đình Trúc Lâm sống theo nông thuyền dù bất cứ chế độ nào.

Những ai đã được tôi luyện ở chốn già lam Trúc Lâm, ít ra cũng có được một số kiến thức căn bản về Phật pháp, đạo hạnh để tự tu niệm và hành trì.

Hiện thân của ngài cùng với cảnh trí thiền viện Trúc Lâm, thật xứng đáng:

- “Y Bát mai sau, truyền gốc đạo,

Tre già, măng mọc ngắm càng xinh …”

  (Đoàn Lục Quán)

Cuộc đời ngài luôn luôn gắn liền với Đạo pháp và Dân tộc. Không lúc nào mà ngài không lo nghĩ và để tâm cho Tăng Ni và quần chúng Phật tử cũng như đồng bào.

 Bẩm tính cương trực, vừa mật cũng vừa hiển, phù hợp với đạo hiệu của Ngài. Sư bà Diệu Không đã tặng ngài một bài thơ đúng với Pháp hiệu, bẩm tánh và hạnh nguyện của ngài như sau: 

Hòa thượng kim triêu ngoại thất tuần,

Hoa niên xuất tục thậm gian truân,

Trực tâm nhất niệm kinh thường diễn,

Phật tánh viên dung luận quán quân.

MẬT tại ý trung vô trú trước,

HIỂN ư tướng ngoại hữu nghiêm huân,

Đồng trần ly nhiễm nan tư nghị,

Huấn thị ban truyền đại chúng tuân.

  Diệu Không - Giáp Dần - 1975

Và cụ Đoàn Lục Quán cũng biết về hạnh nguyện và bẩm tánh của ngài nên cũng đề thơ tặng như sau: 

Mật Hiển thanh niên tánh hiếu kỳ,

Thâm uyên nguyệt tại thiểu nhân tri,

Đáo giả ân cần chơn Phật tử,

Lai sanh đương kế cửu liên trì. 

Trước cảnh Đạo pháp đang gặp phải lắm đau thương, Dân tộc thì lâm vào cảnh lầm than khốn khổ; Tăng Ni thì bị đày xa xứ, kẻ thì tù tội không có ngày về, hằng ngày Ngài cứ than dài thở vắn cho tình đời nghĩa đạo. Một ngày như mọi ngày, với tuổi trời ngoài tám mươi mà vẫn kéo bộ cái thân già ốm yếu ra tận văn phòng Giáo hội để làm điểm tựa và niềm tin cho Tăng Ni tín đồ bản tỉnh, nhất là lớp Tăng Ni trẻ tuổi có tâm đạo nhiệt thành, một lòng dĩ chí phụng đạo. 

4. Những Ngày Cuối Cùng: 

Đầu Xuân năm Nhâm Thân (1992), ngài như có linh cảm cho sự ra đi của mình, nên trong ngày húy nhật của đấng thân sinh, ngài đã về quê thăm viếng mộ phần của Tổ tiên lần cuối cùng những nấm mồ quý kính.

Cũng trong dịp tết Nhâm thân này, chư Thượng Tọa, Đại Đức Tăng Ni trong Ban Trị sự đã đến Tổ đình Trúc Lâm để đảnh lễ và chúc thọ ngài. Khác hẳn những năm trước, năm nay, ngài đã dạy Tăng chúng Trúc Lâm lạy đáp lễ Ban Trị sự, rồi ngài ân cần khuyên nhủ với giọng nghiêm và buồn làm sao, như là những lời di huấn tối hậu:

“… Tôi cám ơn quý Thầy. Trong năm qua, quý Thầy đã cùng tôi chung lo việc Giáo hội, tuy có nhiều cực nhọc, song cũng có nhiều kết quả tốt. Tôi thiết tha mong mỏi quý Thầy hãy thương mến, hòa hợp với nhau để chung lo Phật sự; thấy thành công quý Thầy đừng kiêu hãnh, thấy khó khăn cũng đừng nản lòng. Hãy lấy xả lợi làm vinh hoa, lấy khó khăn làm sự tác thành. Có như vậy, quý Thầy mới thành tựu đạo nghiệp chí thượng, ngõ hầu báo đáp được thâm ân Phật Tổ và không bội phản hạnh nguyện nhập thế, xuất trần của mình …”

Sau đó, Ngài lần lượt đi thăm các bậc Tôn túc trong Giáo hội, chiêm bái các Tổ đình, khuyên dạy và nhắc nhủ chư Tăng Ni và đồ chúng cố gắng tinh cần tu học, phục vụ chánh pháp, lợi lạc quần sanh. 

Ngài vừa đứng ra nhận lãnh trách nhiệm Trưởng ban tổ chức tang lễ cho cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Chánh thư ký xử lý viện Tăng Thống mới viên tịch trong ngày 23 tháng 04 năm 1992; tang lễ vừa xong, Ngài thọ bệnh.

Ngày 15-05-1993 (tức ngày 13 tháng Tư năm Nhâm Thân), Giáo hội Thừa Thiên cử một Ban Đại diện gồm chư Tôn túc trong Giáo hội vào vấn an ngài và cũng để trình ngài hay là: Giáo hội sẽ trang trọng cử hành Đại lễ Phật đản 2536 tại Từ Đàm đúng vào lúc 9 giờ sáng ngày Rằm; đồng thời thỉnh ngài chứng minh tinh thần cho ngày đại lễ.

Hàng Giáo phẩm trong Giáo hội đứng chung quanh ngài và thưa hỏi:

- Ôn có mệt lắm không ?

Ngài trả lời:

- Tôi tuy trong người có mệt, nhưng, các Thầy cứ yên tâm lo lễ Phật Đản, xong lễ tôi mới đi. 

Thật là một lời dạy vô cùng quý giá, ngài đã biết trước giờ viên tịch, chọn ngày Phật Đản và đợi cho lễ Phóng sanh đăng trên dòng Hương Giang hoàn tất, kết thúc chương trình tuần lễ Đản Sanh của đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni.

Đúng vào lúc 21 giờ 40’, ngày Rằm tháng Tư năm Nhâm Thân (tức Chủ nhật, ngày 17 tháng 05 năm 1992), ngài xả báo thân để về cõi tịnh giữa tiếng tụng kinh niệm Phật của Hòa thượng Thiện Siêu và đông đủ chư Tăng Ni trong Ban trị sự cùng môn đồ tứ chúng. Ngài hầu Phật đúng ngày trăng tròn đức Phật thị hiện Đản Sanh.

Lễ nhập tháp vào ngày 22 tháng Tư, (tức Chủ nhật, ngày 24 tháng 05 năm 1992).

Ngài thọ thế 86 tuổi. Suốt 79 năm liền ngài ở tại Trúc Lâm Đại Thánh tự, hạ lạp 57 tuổi đạo.

Tóm lại, cuộc đời của Hòa thượng Thích Mật Hiển đối với đạo là: Một cuốn Trường hàng Tỳ ni Nhật dụng.

Đối với dân tộc là một trang sử vàng son cho những ai muốn làm Cách mạng, nhất là cách mạng bản thân.

Mặc dầu ngài đã chọn con đường đi và ở đúng với Phật pháp là:

- “Sanh nhi bất sanh, tích Thế tôn Sa la song thọ thị hiện Niết bàn,

 Tử nhi bất tử, tằng Đạt mạ chích lý Tây quy"

Và cũng thuận thế gian:

Sanh viết ký như tử viết quy, nghĩa là:  Sống gởi thác về.

Nhưng than ôi! Là con người, là chúng sanh thì không ai mà không đau lòng xót dạ, không ai mà không khỏi ngậm ngùi rơi lệ vì:

Trước cảnh dầu sôi lửa bỏng về thời cuộc của Dân tộc và Đạo pháp trong hiện tại, thì ngài từ giả tất cả.

Sự ra đi của ngài là một mất mát lớn lao không những chỉ cho Giáo hội mà còn chung cho cả đại khối dân tộc, đặc biệt là miền Trung và Cố đô Huế. Rất khó mà có được một vị thứ hai như ngài có cùng một tấm thân, một bẩm tính vừa nhu, vừa cương vừa hiển lại vừa mật để đứng ra lo giềng mối, kỷ cương cho lớp Tăng Ni hậu tấn; làm trụ cột chính để gánh vác hai mặt Đời và Đạo.

Mặc dầu ngài đã rủ áo, buông tay đi vào cõi vô sanh diệt; nhưng đạo phong, âm ba của ngài vẫn còn vang vọng mãi mãi trong lòng Tăng Ni và Tín đồ Phật giáo cũng như quê hương cẩm tú Việt Nam. Hậu bối và là đệ tử của ngài (người viết) xin mạo muội cúng dường câu đối:

* MẬT (*) tại ý trung, thiền đăng tục diệm ư chánh nhơn, tác tòng lâm chi mô phạm, 

* HIỂN (*) ư tướng ngoại, tổ ấn cao quang ư thục quả, vi tứ chúng chi chiêm y. 

(*) Hai chữ đầu viết hoa là Pháp hiệu của ngài, là bổn sư của người viết.

Trong tang lễ của cố Đại lão Hòa thượng chư Tăng Ni và Phật tử toàn quốc về tham dự cúng dường cả hàng trăm bức liễn, đối và vòng hoa. Đại để là những câu được rút ra từ kinh Phật.

Tuy thế, cũng có một số câu hoặc bài thơ đặc biệt nói lên sự thương tiếc và uy đức tu niệm cao diệu của ngài.

Thầy Tâm Chơn, hậu duệ của ngài Hồng Khê cúng dường câu đối:

* MẬT hạnh dụng thần lợi nhân lợi vật ly trước tướng,

* HIỂN công viên tựu đương quán đương chỉ ứng thiền cơ .

Chư Tăng và Phật tử chùa Hải Quang, Sài Gòn cúng dường bức liễng bốn chữ:

- Tạc Dạ Chi Mai

Trường Cao cấp Phật học cúng bốn chữ:

- Phật Pháp Đống Lương…

Khuôn Giáo hội Lương Quán cúng bốn chữ:

- Sơn Hà Bi Lệ .

Ngài Thích Thiện Trí và chúng Hiếu Quang cúng dường câu:

* Chiên đàn hương phong lý đẳng Chúng,

* Trúc Lâm hoa vũ ức cao Tăng.

Hòa thượng Thích Trí Quang dạy:

- Mật hạnh của ngài, chúng ta không thể tư nghì, mà chỉ có Phật và Bồ Tát mới hiểu được nên Hòa thượng cúng dường câu:

“ Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật”.

Đặc biệt Thượng tọa Viên Minh và môn đồ chùa Huyền Không cùng quý vị ký tên đã cúng điếu cũng như khóc thương về ngài bằng những vần thơ:

Thiên cổ lung linh ngọn nến hồng,

Người đi sương nước lệ ngàn không,

Kim Cương, bút phất tờ mây trắng,

Viên Giác, trăng treo vạt áo sồng.

 

Bỏ bến, thung dung thuyền mật độ,

Vào đời, thanh thản gót chơn tông,

Thiên nhiên, khí tiết bừng trăm trượng,

Hạo hạo, nghi dung ngút vạn tòng.

 

Hiên lặng, cỏ rền – thơ nở chữ,

Tháp nghèo, sỏi đá - đạo đơm bông,

Trường giang, nhạn quá tâm lưu phụng,

Rừng Trúc, non linh tuệ nhật đồng.

 Mùa Phật Đản 2536 – chùa Huyền Không cẩn bút.

Bài dưới đây không nhận được quý danh với bài thơ:

Hương Từ Rừng Trúc

 

Đầu đà giới hạnh nghiêm thông,

Đạo phong cao ngất, trăng rằm trời thu.

Viên dung Phước Huệ song tu,

Ngàn năm còn thoảng Hương Từ Trúc Lâm.

 

 

 Khóc Thầy

 

Nhớ thương, thương nhớ nỗi đầy vơi,

Rừng Trúc từ nay vắng bóng Người,

Tiếng ngọc Niết Bàn là ngọn sóng,

Trang kinh Bát Nhã sạch hiên đời.

An nhiên my khép bờ hư ảo,

Thanh tịnh trăng chìm cánh viễn khơi.

Dâng nén trầm hương dâng khói tỏa,

Nhớ thương, thương nhớ nỗi đầy vơi.

 Ngọc Quế

 

Tiễn Biệt

 

Vầng trăng soi sáng dặm trường,

Người đi để lại tình thương vô bờ.

Mây sầu giăng kín hồn thơ,

Trúc Lâm vắng bóng Ôn, chừ buồn tênh.

Trăm năm giấc mộng vô tình,

Người đi, con ngở dáng hình còn đây.

Cuộc đời đạo hạnh cao dày,

Uy nghiêm phước tướng, tỏa đầy thiền môn.

  Tuệ Tâm

 

 Chung Quanh Tang Lễ Của Hòa Thượng Thích Mật Hiển

Diễn văn của Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên

(Đọc trong dịp phò Kim quan Ngài nhập Bảo tháp ngày 22 tháng Tư năm Nhâm Thân, tức ngày 24 thánh 05 năm 1992)

Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

 Nam mô Tây thiên Đông độ Việt Nam truyền thừa lịch đại Tổ sư,

Kính bạch Giác linh Đại lão Hòa thượng, thượng Tâm hạ Hương, Phó pháp chủ kiêm Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Kính lạy ngài,

Chúng con thiết nghĩ:

Đèn tuệ còn soi, ngờ đâu phút chốc đuốc từ chuyển hướng,

Mây lành còn phủ, ai ngờ giây lát gió tạt về Tây.

Than ôi !

Biến cố dập dồn, đá gục đầu khóc, đất gầm sóng dậy,

Nước sông Hương bàng hoàng ngừng chảy,

Mây núi Ngự sờ sững quên bay.

Ngoài đồng nội cỏ buồn tấc bóng, chốn kinh đô trăng lặng giữ đêm rằm.

Giờ đây:

Trước giây phút ngàn năm vĩnh biệt, cõi Diêm Phù vắng bóng bậc Cao Tăng. Ban Trị sự chúng con bàng hoàng xúc động. Trước Linh đài, xin bày tỏ lòng thành, ngưỡng mong Giác linh đức Đại lão Hòa thượng tọa tiền chứng giám.

Kính bạch Đại lão Giác linh Hòa thượng,

Vẫn biết rằng giác tánh trạm nhiên, chân như thường tại siêu việt có không, chẳng hề sanh diệt. Vì bản nguyện, Ngài đã mượn huyễn thân, vận khởi thuyền Từ vớt kẻ trầm luân, nên khi đến đã tùy cơ duyên hóa độ, thì lúc đi chẳng ngại ái triền.

Tuy nhiên, nếu chưa phải là bậc lậu tận A la hán, thì khi đức Thế Tôn Song Lâm thị tịch, tôn giả A Nan đã bàng hoàng rơi lệ, may có ngài A Nậu Lâu Đà đưa tay giác tỉnh. Tại động Thứu Sơn, tổ Ca Diếp kết tập Pháp tràng, ngài Khánh Hỷ trùng tuyên lời ngọc, hàng Thanh Văn lòng dạ bùi ngùi, thần lực phi thân, trú giữa hư không Sư tư tại niệm. Sức vô thường nhanh như chớp, mới ngày nào Từ Dung rạng rỡ, mà bây giờ phải ngậm ngùi nói nên lời: “Ngã Văn Như Thị”:

Huống nay, nhân tâm mạc trắc, Thánh quả xa vời, Phật pháp nhiễu nhương, rừng Tòng thưa dần những bậc đống lương, long tượng. Thuyền Giáo hội giờ nương ai lèo lái, cõi Tăng nhân ai chỉ dẫn lối về ? Thật ngậm ngùi tấc dạ, nhớ lại năm xưa khi còn đồng tử, nơi hương đãng Giạ Lê, trong dòng họ Nguyễn duy, ngài rũ áo trắng, sớm khoát truy y.

Chùa Trúc Lâm Đại Thánh, sớm hôm đèn sách học đạo, định huệ thấm nhuần, tâm quang hé rạng, được tổ Giác Tiên trao truyền Mật pháp.

Đại học đường Tây Thiên, tháng ngày lui tới nấu sử sôi kinh, được ngài Giác Nhiên nuôi tâm luyện chí.

Hội An Nam Phật Học, lời pháp tuyên dương, Phật học đường Phước Lâm ngài đứng đầu giới tử.

Đạo lực đến đây, trí bi có đủ, nên trên đường hoằng pháp lợi sanh, Ngài đã không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào dù quan trọng hay thứ yếu do Tăng đoàn đề cử, Giáo hội giao phó.

Bởi vậy, từ Trú trì Thánh Duyên quốc tự, đến giảng sư, giáo sư các Phật học đường, từ Trị sự trưởng Tăng già Trung Việt đến tham dự Hội nghị Hòa bình thế giới tại Nhật Bản. Từ bậc Tôn chứng Đại giới đàn Vạn hạnh, đến Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn Hộ quốc, từ đặc ủy Tăng sự Thừa Thiên đến ngôi vị Phó pháp chủ Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Dù ở chức vụ nào, ngài cũng thi hành một cách nghiêm túc, đỉnh đạc. Và, dù ở chức vụ nào, ngài vẫn thấy Tăng đoàn là then chốt trong sự nghiệp duy trì mạng mạch Phật pháp. Ngài dạy:

- “Phật pháp hưng thịnh không phải chùa to, tháp lớn, bổn đạo đông nhiều, mà chính ở Tăng đoàn hòa hợp …”

Thế nên dù tuổi già sức yếu, ngài vẫn luôn luôn nắm giữ Tăng đoàn; một tháng hai kỳ, tại chùa Linh Quang, cùng Chúng Tăng thực hành Bồ Tát. Hằng năm Hạ về, khuyến chúng an cư, trau giồi giới hạnh, đến khi Hạ mãn, ngài cùng Chúng Tăng tác pháp “Tùy Ý”, trưởng dưỡng pháp mầu. Tại văn phòng Giáo hội, ngày ngày chăm lo Phật sự, có lúc thị uy la rầy, quở trách, có khi từ ái, an ủi vỗ về, miễn mong sao đàn hậu học sách tấn tu hành, chuyên tâm giới đạo, đúng hướng tôn phong, hầu chấn hưng Phật pháp, xua đuổi quần tà, cũng có lúc nghe tiếng gọi quê hương, ngài cũng phụng sự trong tinh thần: Vô thủ, Vô xả”.

Quả thật, ngài là bậc:

“Hạo khí trấn Thiền lâm, quảy non sông đầu trượng, thủ xả tùy duyên, thị phi tâm chẳng bận”.

Kính bạch Giác linh Đại lão Hòa thượng,

Khi đức Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch, ngài Trưởng ban tổ chức Tang lễ, chỉ đạo khéo léo, nên Tăng sự đã viên thành. Lại trong dịp Đại lễ Phật Đản năm nay, mặc dầu thân thể của ngài khiếm an nhiều, nhưng ngài đã đem hết hơi thở cuối cùng để chăm lo Đại lễ. Khi thấy Tăng Ni, Phật tử lo lắng, sợ ngài ra đi trước Phật Đản, nên ngài dạy:

- “Quý vị cứ yên tâm lo cúng dường Đại lễ cho được thành tựu. Tôi cố gắng qua Đại lễ mới từ biệt quý vị.”.

Ôi ! Lời dạy của một bậc suốt đời quên mình cho đại cuộc. Chúng con hằng khắc cốt ghi tâm treo cao gương sáng.

Kính bạch Giác linh Đại lão Hòa thượng,

Bấy lâu, chúng con hằng tưởng, ngài vẫn còn trú thế cho Tăng Ni, Phật tử mong nhờ, cho Ban trị sự chúng con sớm hôm tham vấn chỉ đạo, nào có ngờ Tượng vương nhẹ nhàng quay gót, chốn Tùng lâm vắng bóng Từ dung.

Nay, chúng con đã mất đi một bậc thầy kính quý, một bậc lãnh đạo ân cần, cùng lao cọng khổ. Giáo hội mất đi một bậc Đống lương Thạch trụ, Dân tộc mất đi một bậc Đạo, Đời kiêm lợi.

Ôi ! Ngậm ngùi thương tiếc, một phút giây gói trọn thiên thu. Xin ngài rủ long từ, hỷ xả cho chúng con trong thời gian thừa hành Phật sự, có nhiều khuyết điểm, khiến ngài không vui.

Kính bạch Giác linh Đại lão Hòa thượng,

Trước khi ngài đi xa vạn dặm, báo thân ngài yên nghỉ ngàn năm, cho chúng con đốt nén tâm hương dâng lên với tất cả lòng thành khấn nguyện

- “Chúng con sẽ noi gương tự độ hóa tha, cùng lao cọng khổ của ngài để tuyên dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh, cho Đạo từ soi sáng muôn thuở, cho hương lành ngát cõi nhơn thiên”.

Ngưỡng vọng Giác linh Đại lão Hòa thượng thùy từ chứng giám.

Nam mô Chứng minh sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

 

Cảm Niệm Của Ban Lễ Tang

(Hòa thượng Thích Thiện Siêu đọc, Phó ban Lễ tang kiêm Trưởng ban tổ chức Tang lễ đọc trong buổi cung nghinh Kim quan cố Đại lão Hòa thượng Phó Pháp chủ nhập tháp, ngày 22 tháng Tư năm Nhâm Thân - tức ngày 24-05-1992)

Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Kính lễ Giác linh Hòa thượng,

Kính thưa chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng Ni,

Thưa quý Quan khách,

Cùng Đồng bào Phật tử các giới.

Thay mặt ban Tang lễ, chúng tôi có lời cảm niệm với Đại lão Hòa thượng trước khi đưa Kim quan của ngài vào Bảo tháp an nghỉ ngàn thu.

Kính bạch Giác linh Đại lão Hòa thượng, Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch cách đây không mấy tuần lễ, lòng dạ bùi ngùi của toàn thể Tăng Ni Phật tử chưa nguôi. Nay ngài lại tiếp tục đăng trình để lại cho chúng tôi, môn đồ, hiếu quyến và hàng Tăng Ni Phật tử biết bao ngậm ngùi thương tiếc.

Vẫn biết ở và đi, ẩn và hiện của bậc xuất trần Thượng sĩ như cánh nhạn lướt giữa trời không, chẳng có gì lưu ảnh.

Tuy nhiên, ẩn hiện tùy cơ, đến đi tùy cảm, gần 80 năm tu tập và hoằng truyền Chánh pháp, khi thì hiện tướng Thanh văn, an trú tịch tịnh; khi thì hành Bồ Tát đạo, nhiếp phục ma quân; khi thì im lặng tư duy bất động; khi thì rung trượng giác tĩnh nhân quần, chấn thiên kinh địa.

Ngài đã rũ áo lâm hành, Giáo hội, môn đồ, hiếu quyến, Tăng Ni Phật tử không sao tránh khỏi ngậm ngùi xúc động trước sự mất mát lớn lao này.

Kính bạch Giác linh Hòa thượng,

Nay, ngài đã đi xa và xa lắm, nhưng hình ảnh, đạo phong cốt cách của Ngài vẫn còn đó, hạnh nguyện độ sanh của ngài vẫn còn đây. Chùa Trúc Lâm Đại Thánh ngày ngày chuyên tâm luyện đạo, cửa Tây thiên lãnh hội ý mầu.

Rồi Bình định, Sa đéc, những chặng tham vấn vân du. Nha trang, Sài gòn, Hà nội, … đã theo bước từng thời gian gõ nhịp. Và, những dấu chân còn in rõ từ Lào quốc đến Thái lan, từ Miến điện đến Đông hồi, Nhật bản,… Bao tháng ngày vân du, chiêm bái, hoằng hóa của bậc Cao Tăng, suốt đời hiến mình cho Đạo pháp và Dân tộc.

Công sức đóng góp, xây dựng Giáo hội, lãnh đạo Tăng đoàn, trấn giữ thiền môn, vạch hướng tâm linh cho Phật tử, thể hiện tình làng xóm, nghĩa quê hương dân tộc của Ngài, quả thật không thể nghĩ bàn.

Kính thưa Giác linh Hòa thượng,

Làm sao chúng tôi quên được những tháng ngày cùng lao cọng khổ, chung lo Phật sự, đạo phong của Hòa thượng thì trác việt, nếp sống bình dị, nói năng thì khẳng quyết hung hồn:

- “Đã Thầy tu thì đừng sợ chết, nếu sợ chết thì đừng làm Thầy tu”.

Chính lời nói này của Hòa thượng đã làm cho Tăng Ni và Phật tử chúng tôi kiên trì trong lý tưởng, vững chắc trong hành động, phục vụ Đạo pháp và Dân tộc, đem lại lợi ích cho loài người và tất cả chúng sinh.

Nay Hòa thượng xả báo thân là một sự mất mát lớn lao cho Giáo hội, môn đồ và toàn thể Tăng Tín đồ trên mọi miền đất nước. Dân tộc mất đi người con đạo hạnh, luôn luôn đem giáo lý từ bi bình đẳng xây dựng tình đoàn kết và an lạc toàn dân.

Thay mặt Giáo hội và ban Lễ tang, trước Giác linh Đại lão Hòa thượng Phó Pháp chủ, chúng tôi nguyện làm bất cứ điều gì mà chúng tôi có thể làm được để phụng sự Đạo pháp và Dân tộc như hạnh nguyện của ngài.

Giờ đây,

Tiếng kêu Sư tử lối rừng chiên, vắng vẻ bên tai,

Nét vẻ Tượng vương nơi cửa tháp, mơ màng trước mắt.

Trong giây phút mà khoảnh khắc thành thiên thu này, chúng tôi thành kính vĩnh biệt Đại lão Hòa thượng và chân thành cảm ơn toàn thể liệt quý vị.

Nam Mô A Di Đà Phật.

  

Uy Đức Của Hòa Thượng THÍCH MẬT HIỂN Đối Với Chính Quyền

Sự tu niệm và công nghiệp hành hóa của đức Đại lão Hòa thượng Thích Mật Hiển không những chỉ có Tăng Ni và toàn thể Phật tử biết đến mà thôi; ảnh hưởng của ngài lan rộng đến quảng đại quần chúng, không phân biệt tôn giáo, từ chính quyền cho đến dân dã, không ai mà không biết đến đạo phong và uy đức của Ngài.

Ngày còn là một chú tiểu, hành điệu, tu tập bên cạnh với tổ Giác Tiên, cậu Hoàng Cả (Vua Khải Định khi chưa tức vị) cũng đã biết đến và cũng đã xin với tổ cho đưa vào hoàng cung nội phủ để đào luyện thêm phần Nho học.

Với chính quyền quân chủ, ngài đã từng nói thẳng:

- “Dù bất cứ chức tước gì chăng nữa, kể cả bậc vua chúa, vương hầu, khanh tướng thì cũng đều là con người cả. Nếu không tu thì chỉ là một cây thịt biết nói năng, cuối cùng chìm đắm trong dục lạc, một mai có chết đi thì quanh quẩn trong lục đạo mà thôi, …”

Câu nói ấy đến tận nội phủ và đức Từ Cung. Nhờ có học đạo giải thoát với ngài Phước Huệ, nên đức Từ Cung đã vội vã ra khỏi hoàng cung, lên tận chốn thâm sơn cùng cốc của Trúc Lâm Đại Thánh tự để đàm đạo với ngài. Và, đức Từ Cung đã nói với ngài như sau:

- “Mặc dầu tôi ở trong hoàng cung, nhưng, những gì Thầy nói, tôi đều nghe hết. Thầy cứ nói và phải nói. Nếu không có Thầy, tôi sợ rằng trong lúc pháp nhược ma cường, đất nước lâm cảnh bảo hộ sẽ có cảnh loạn Tăng …”

Ngài cũng đã từng giúp cho Thượng thơ Ngô Đình Diệm ẩn náu tại Tổ đình Từ hiếu trong lúc đang bị chính phủ bảo hộ truy lùng.

Và, cũng chính ngài đã dẫn cho vị Thượng thơ nầy thoát ra khỏi tỉnh Thừa thiên để về Đà nẵng cải trang với tư thế tu sĩ Phật giáo.

Sau khi vị cựu Thượng thơ này về làm Thủ tướng cho Việt nam Cộng hòa, còn nhớ ơn xưa nên đã cúng cho chùa Từ hiếu một số hiện kim để trùng tu lại. Chính Thủ tướng Ngô Đình Diệm lên ngôi vị Tổng thống, hằng năm ra Huế thăm gia đình, khi bước chân xuống sân bay Phú bài, Tổng thống đã đến tận hàng danh dự và bắt tay Hòa thượng vô cùng thân mật.

Năm 1956, phái đoàn Phật giáo đi tham dự Đại lễ Phật Đản ở Đông Hồi, khi đệ trình danh sách lên Tổng thống xem, Tổng thống hỏi:

- Trong danh sách này Thầy Thích Mật Hiển đâu ?

Tổng thống nói tiếp:

- Nếu không có Thầy Thích Mật Hiển thì cả phái đoàn đều đình lại, không được đi.

Chính phủ phải cho người ra tận Trúc lâm để cung thỉnh ngài cùng đi trong chuyến này.

Khi vào Sài gòn làm thủ tục, bộ Ngoại giao buộc ngài phải chích thuốc ngừa các thứ trước khi xuất ngoại. Ngài không chịu và bảo:

- Tôi không có bệnh. Không chích thì tôi đi, mà bắt buộc chích thuốc, tôi sẽ ở nhà .

Bộ Ngoại giao không biết tính sao hơn bằng cách đệ trình lên Tổng thống một lần nữa. Tổng thống biểu chỉ làm thủ tục đầy đủ hợp lệ mà thôi, còn vấn đề chích ngừa khỏi cần.

Vào năm 1958 đến năm 1964, đức Giám mục bề trên, người Pháp tại dòng tu Thiên an, quận Nam hòa rất cảm mến đức độ của ngài nên thường năm hay đến Trúc lâm một vài lần để vấn an cũng như đàm đạo với Ngài.

Không những thế, đức Cha bề trên còn thỉnh ngài lên tận dòng Thiên an để hướng dẫn triết lý Á đông cho lớp tu khấn nữa.

Khi Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống, cũng đã ra lệnh cho Đại tá Lê Văn Thân đương kiêm Tỉnh trưởng Thừa thiên kiêm Thị trưởng thị xã Huế phải lên Trúc lâm thỉnh ngài cùng đi với Tổng thống về chùa Túy vân, quận Vĩnh lộc để bàn chuyện an bang tế thế.

Bữa ăn trưa tại Quán Âm cát giữa đồi núi Túy vân, cơm chay đạm bạc do Thượng tọa Thích Lưu Đức đương kiêm Trú trì cúng dường, bữa cơm trưa gồm Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại tá Lê Văn Thân và Hòa thượng. Tất cả tùy tùng thì dùng cơm riêng do tỉnh Thừa thiên lo liệu.

Sau khi đất nước thống nhất, chính quyền đương thời cũng nể vì đạo phong và uy đức của ngài. Do đó, trong ngày phò Kim quan của ngài nhập bảo tháp, chính quyền Trung ương đã cử ông Vũ Thắng, Ủy viên Trung ương đảng đến tận Trúc lâm để bày tỏ một bài cảm niệm cúng dường.

Trong bài cảm niệm có đoạn:

Kính thưa quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức đại diện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt nam tỉnh và thành phố .

Thưa quý môn đồ, hiếu quyến của cố Đại lão Hòa thượng Trúc Lâm Thích Mật Hiển.

Hôm nay, chúng ta họp mặt nơi đây để tưởng niệm và đưa cố Đại lão Hòa thượng Trúc Lâm Thích Mật Hiển, vị chân tu trọn đời trung thành, tận tụy phụng sự đạo Phật và Dân tộc của chúng ta, về nơi an nghỉ cuối cùng.

Hòa thượng Trúc Lâm đi xa, Giáo hội mất đi một vị Phó Pháp chủ cao cả, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt nam tỉnh mất đi một Trưởng ban tận tụy, đầy lòng vô ngã vị tha, Tổ đình Trúc lâm và một vùng quê hương Dương xuân thấm tình Đạo nghĩa Đời từ nay vắng bóng một người thân gần 80 năm đi về thương già mến trẻ.

Môn đồ, hiếu quyến của Hòa thượng từ nay xa một vị Thầy mẫu mực, một người ruột thịt từ hòa. Giáo hội xa một vị Giáo phẩm đạo cao đức trọng, sâu dày công đức, đã góp phần xây dựng và hướng dẫn Giáo hội từ những năm đầu “Chấn Hưng” cho đến ngày Đại Thống Nhất Phật Giáo Việt Nam, gắn bó với đất nước Nam Bắc thu về một mối. Quê hương Thừa Thiên - Huế, và những địa phương đã gắn bó với Hòa thượng lúc sanh tiền, xa một người đồng hương, … chúng tôi từ nay xa một người thân thương, cương trực, chân tình, khiêm tốn, một lòng trong sáng vì lợi lạc đồng bào.

Cuộc đời và công đức tu tập, cống hiến bền bỉ của Hòa thượng cùng nhiều vị Cao Tăng yêu nước đã góp thêm một điểm son vào truyền thống và công lao to lớn của Tăng Ni Tín đồ Phật giáo Việt nam, là tấm gương để quý vị Tăng Ni, bà con Phật tử noi theo và đồng bào suy gẫm.

Trước Giác linh của cố Đại lão Hòa thượng Trúc Lâm, chúng ta nhắc nhau đoàn kết hòa hợp hơn nữa, tận tụy giúp đỡ nhau nhiều hơn nữa, và tùy theo trách nhiệm, tâm sức, điều kiện của từng người và chung sức chung lòng vượt qua khó khăn thử thách, tiếp tục góp phần vun đắp con đường “tốt Đạo đẹp Đời” để thành tâm và thiết thực tưởng nhớ cố Đại lão Hòa thượng.

Thưa Giác linh Đại lão Hòa thượng Trúc Lâm kính mến,

Tất cả chúng tôi, Tăng Ni Phật tử và Đồng bào, đại diện Giáo hội, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đang ở bên Hòa thượng trong giờ phút cuối cùng, xin tiễn biệt Hòa thượng trong niềm thương tiếc vô hạn. Trong tâm tưởng tình cảm và trách nhiệm của chúng tôi, luôn luôn in sâu, nhắc nhở đức độ, kỷ niệm, hình bóng và hoài bảo “Hoằng Pháp Lợi Sanh”. “Hộ Quốc An Dân”, của Hòa thượng.

Kính mong Giác linh Đại lão Hòa thượng thanh thoát, siêu sanh về cõi vĩnh hằng.

Xin thắp nén tâm hương thành kính vĩnh biệt Đại lão Hòa thượng.

 

TIỂU SỬ
THIỀN SƯ THÍCH MẬT NGUYỆN

 

 

1. Thân thế:

Ngài thế danh Trần Quốc Lộc.

Thọ sanh vào lúc giờ Thìn, ngày 25 tháng 06 nhuận năm Tân Hợi (tức ngày 19 tháng 08 năm 1911), tại làng Phú Xuân, huyện Hưng Trà, tỉnh Thừa Thiên .

Là con trưởng trong gia đình năm anh em .

Thân phụ là cụ Trần Quốc Lễ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hoàng . Thiếu thời theo Tây học . Bảm tính hiền hòa .

2. Sự Nghiệp Tu Học:

Vốn được thọ sanh trong gia đình nền nếp, thuần lương, ngài cảm nhận đời là vô thường, giả tạm, huyễn hóa, không thật, liền từ bỏ tân học xuất gia tầm sư phỏng đạo, mặc dầu ngài đã đỗ Yếu Lược.

Năm Bính Dần (1926), xuất gia đầu Phật với tổ Giác Tiên .

Năm Kỷ Tỵ (1929), được 18 tuổi, bổn sư nhận thấy có đủ khả năng kham thọ giới pháp, nên đăng đàn thọ Sa di Thập giới .

Pháp danh: Tâm Như,

Pháp tự:  Mật Nguyện

Thuộc dòng Lâm tế chánh tông đời thứ 43. 

Suốt thời gian tu học ở Trúc Lâm, không ngày nào mà ngài không tụng kinh bái sám hoặc tọa thiền để thúc liễm sơ tâm.

Sau khi xong chương trình Trung học Phật giáo tại Trúc Lâm, ngài được vào học với Hòa thượng Phước Huệ, chùa Thập Tháp, tỉnh Bình Định.

Năm Tân Mùi (1931), ngài cùng các vị đồng huynh đệ được Giáo hội cử vào ban giảng sư của hội An Nam Phật Học. Quý giảng sư gồm các vị: Thiền sư Đôn Hậu, Thiền sư Quy Thiện, Thiền sư Mật Khế, Thiền sư Mật Hiển, Thiền sư Mật Nguyện, Thiền sư Mật Thể và Thiền sư Trí Thủ. Đặc biệt trong bảy vị giảng sư đầu tiên của hội thì Trúc Lâm thiền phái đã đóng góp được bốn vị.

Giới pháp tinh thông, uy đức đầy đủ. Tinh thần vì Đạo pháp và Dân tộc thì ngài luôn luôn canh cánh bên lòng. Ngài đã từng vượt Trường Sơn ra tận các vùng Thanh Hóa, Nghệ An để hoằng truyền chánh pháp. Hết Bắc, ngài lại xuôi về Nam, đã từng băng đèo lội suối qua các vùng Phan Thiết, Khánh Hòa để quần chúng hóa Phật giáo. Đi đâu ngài cũng hướng dẫn quần chúng học đạo giải thoát. Những bài giảng của ngài đều có đăng trên tạp chí Viên Âm, Giác Ngộ, Liên Hoa,… Những loạt bài của ngài ảnh hưởng rộng lớn trong quảng đại quần chúng.

Năm Bính Tý (1936), được bổn sư truyền kệ phú pháp:

Tâm Như (*) pháp giới như,

  Vô sanh hạnh đẳng từ,

  Nhược năng như thị giải,

  Niệm niệm chứng vô dư .

(*) Tâm Như là Pháp danh của ngài .

Năm Đinh Sửu (1937), tuổi vừa 28, liền được đăng đàn thọ Tỳ kheo và Bồ Tát giới tại chùa Tịnh Lâm, tỉnh Bình Định.

Sau khi đắc giới, ngài xin ở lại đây một thời gian nữa để theo học với Hòa thượng Phước Huệ.

 

3. Ảnh Hưởng Của Ngài Đối Với Đạo: 

Năm Kỷ Mão (1939), được mời vào ban Giảng sư của Phật học đường Tây Thiên. 

Năm Bính Tuất (1946), ngài vào tận Hòa Tân, tỉnh Bình Định để sáng lập chùa Bảo Tràng Huệ Giác . Chiến tranh đã phá hủy mất đi công trình này của ngài.

Ngày 10 tháng 04 năm 1946, được sơn môn Thừa Thiên - Huế giao phó trách vụ Trú trì Tổ đình Linh Quang.

Không phụ lời ủy thác của chư Tăng, tín đồ bản tỉnh giao phó trong ngày đại hội nói trên, từ một ngôi chùa xưa, mái tranh vách đất hư mục, ngài đã tận tâm tận lực ngày cũng như đêm, nắng cũng như mưa để xúc tiến việc trùng tu lại ngôi cổ tự Linh Quang vốn đã được tạo dựng vào năm 1882. Ngôi tổ đình Linh Quang nầy do ngài Liễu Triệt làm tổ khai sơn. Chùa cũng được thiền sư Nguyên Cát tổ đình Quốc Ân ra đảm nhiệm trách nhiệm trú trì năm 1882, sau khi tổ Liễu Triệt viên tịch.

Năm 1914, Thiền sư Đắc Cần kế vị ngài Nguyên Cát,

Năm 1920, Thiền sư Phước Hậu kế vị ngài Đắc Cần,

Năm 1944, các lớp Đại, Trung và Tiểu học được tạm thời dời về đây một thời gian và thiền sư Trí Thủ được giao phó trách nhiệm Giám viện và kiêm  luôn trú trì .

Tháng 06 năm 1946, Sơn môn Tăng già Thừa Thiên mở Đại hội, quyết định dời về Báo Quốc, chùa được phó thác lại cho ngài Mật Nguyện.

Đầu Xuân năm Tân Mão (1951), ngài được mời giữ chức Chánh trị sự trưởng Sơn môn Thừa Thiên. Cuối năm ấy, ngài được mời dạy Phật học đường Báo Quốc.

Năm Giáp Ngọ (194), được bầu chức Trị sự trưởng Sơn môn Tăng già Trung Việt cho đến năm 1964.

Năm Đinh Dậu (1957), khai sáng chùa Từ Hàn thuộc quận Nam Hòa.

Ngày 10 tháng 09 năm 1959, trong Đại hội Tăng già toàn quốc kỳ hai, tại Ấn Quang – Sài Gòn, ngài được bầu làm Trị sự phó Tăng già Việt Nam và kiêm nhiệm chức vụ Ủy viên Nghi lễ của Giáo hội. Trong dịp nầy, khi đề cập đến Giáo hội Tăng già và Phật giáo Việt Nam, ngài nói:

- “…Giáo hội Tăng già là đoàn người thực hiện và tượng trưng cho giáo chế của đấng Giáo chủ Phật giáo. Từ khi Phật giáo có mặt trên lãnh thổ Việt Nam đến nay, đã hơn 18 thế kỷ, trải qua các thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần, … khi thịnh cũng như khi suy, Giáo hội vẫn luôn luôn được công nhận là một tổ chức lãnh đạo của một tôn giáo thuần túy. Do đó, Giáo hội không bị ràng buộc bởi thể chế của một hiệp hội. Công nhận sự có mặt của Phật giáo là công nhận sự hiện hữu của Tăng già.

Trách nhiệm truyền thống của đạo pháp không một tổ chức nào khác có thể chịu mọi trách nhiệm và Phật giáo trước quần chúng, trước lịch sử nếu không phải là Tăng già, …”.

(Trích Kỷ yếu Đại hội kỳ 2, ngày 10-09-1959).

Năm Canh Tý (1960), nhận thấy Phật sự ngày một gia tăng, chùa Linh Quang thì chật hẹp, ngài lại phải một lần nữa đứng ra đại trùng tu toàn bộ từ chánh điện đến các cơ sở cần thiết cho việc thờ phụng và những tăng phòng để có được tiện nghi tương đối, một khi có chư khách tăng lưu trú cũng như tu học.

Năm Tân Sửu (1961), ngài làm Chánh chủ đàn Tỳ kheo và Bồ Tát giới tại Linh Quang.

Năm Quý Mão (1963), pháp nạn do nhà Ngô đem tới, ngài cùng với chư tôn giáo phẩm bản tỉnh đứng lên hướng dẫn quần chúng Phật tử tranh đấu cho sự sống còn của Đạo pháp.

Đêm 20-08-1963, chính quyền nhà Ngô xua quân tấn công chùa chiền, bắt bớ Tăng Ni và Phật tử; ngài cùng hội đồng giáo phẩm cao cấp đều bị bắt giam tại ty Công an Cảnh sát ở An Cựu. Sau đó, đều bị chuyển về Sài Gòn, mãi đến khi Cách Mạng 01-11-1963 thành công, mới được thả ra.

Năm Giáp Thìn (1964), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, ngài giữ chức Phó đại diện Giáo Hội PGVNTN miền Vạn Hạnh và Thừa Thiên - Huế.

Năm Ất Tỵ (1965), ngài làm Chánh chủ đàn Đại giới đàn Từ Hiếu.

Trong khung cảnh ngày khai mạc Đại giới đàn, diễn văn chào mừng, có đoạn ngài viết:

- “… Chúng tôi xin nhắc lại vài câu trong giới kinh chắc ở đây có nhiều vị đã từng nghe: Giới là thuyền bè đưa người qua bể khổ, là ngọc anh lạc trang nghiêm pháp thân, và ở một xã hội nào, một địa phương nào, giới luật được bảo tồn thì dân chúng được thuần lương, xứ sở được thịnh vượng, …

Chúng tôi hy vọng được quý giới tử đặc biệt tin tưởng và luôn luôn ghi nhớ những lời Phật dạy ấy, trọn đời kiên trì giới luật, để cải tiến thân tâm và hoàn cảnh hầu báo đáp hồng ân Tam bảo và phụng sự Đạo pháp cùng Dân tộc nhất là giai đoạn đầy đau thương của xứ sở hiện tại …”

Cùng trong ý nguyện tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, thiệu long thánh chúng, ngài đã giữ chức vụ Giáo thọ A xà lê sư trong nhiều Đại giới đàn.

Năm Bính Ngọ (1966), Phật giáo lại lâm vào một pháp nạn thứ hai. Tăng Ni Tín đồ bị bắt bớ rất nhiều. Người thì bị thuyên chuyển hoặc bị sa thải khỏi công sở, kẻ bị tù đày xa xứ; đứng trước hoàn cảnh vô cùng nguy nan, ngài vẫn vững tâm đứng cùng với Dân tộc để tranh đấu cho sự sống còn của Đạo pháp.

Năm Đinh Mùi (1967), ngài cùng với thiền sư Đôn Hậu, thiền sư Mật Hiển và thiền sư Thiện Siêu đứng ra thành lập lớp Chuyên khoa Phật học Nội trú bốn năm có tên là Liễu Quán tại nơi ngài đang quản nhiệm. Ngài vừa làm Giám đốc vừa trực tiếp giảng dạy.

Năm Mậu Thân (1968), Giáo hội công cử ngài lên ngôi vị Chánh đại diện miền Vạn Hạnh và Thừa Thiên - Huế.

Năm Canh Tuất (1970), ngài khuyến khích và khai giảng cho khóa Chuyên khoa Phật học của Ni giới tại Ni viện Diệu Đức.

Cùng trong năm ấy, làm cố vấn cho Đại giới đàn Vĩnh Gia tại Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng. (Thượng tọa Thích Tín Nghĩa đắc giới ở đây). 

Kể từ ngày ngài đứng ra lãnh nhiệm vụ trọng đại mà Giáo hội giao phó, ngài chưa từng chùn bước. Ngài thường bảo:

 - “ … Hoàn cảnh mà tạo được nơi để Tăng Ni học tập tu niệm, tín đồ có chỗ lui tới chiêm bái, đóng góp Phật sự; lo an sinh cho quảng đại quần chúng thì đó là đệ tử của Phật …”.

Những lúc ngài giảng dạy cho Tăng Ni, ngài thường bảo:

- “… Các con phải là người của muôn phương, muôn hướng, có trách nhiệm phải khai sáng và hướng dẫn tín đồ, phải luôn luôn đi dúng đường lối và hiến thân cho Đạo Pháp và Dân tộc…”

Nhờ hạnh nguyện nhiếp hóa rộng rãi, đệ tử rất đông đảo. Tăng Ni xa gần đến xin thọ giáo không ít.

Hoàn cảnh chiến tranh của đất nước ngày khốc liệt, dân chúng miền Trung ngày một lầm than; đồng bào hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên đổ dồn về thị xã Huế và phụ cận ngày một đông đúc, ngài phải đi vận động đó đây để xây cất những cô ký nhi viện, viện dưỡng lão, bệnh xá để cứu trợ. Bên cạnh đó, ngài còn tìm cách tổ chức đào tạo một số cán bộ về y dược cấp tốc để cung ứng kịp thời cho dân chúng.

Những nơi đồng khô cỏ cháy, bị gọng kềm của hai chế độ đang tương tranh ảnh hưởng với nhau, họ không thể thoát thân được; ngài cho Tăng Ni và Phật tử đến để ủy lạo, phân phát thuốc men và an ủi họ. Chính ngài cũng đã từng đích thân đi đến những trại cùi ở sát bờ biển và chân đèo Hải Vân là biên giới giữa Thừa Thiên và Đà Nẵng để thăm viếng và cho thuốc men, mùng mền, gạo cơm, … Đến đâu ngài cũng khuyến khích tạo dựng Phật tượng và Niệm Phật đường để có nơi cho dân chúng chiêm bái. Bước chân ngài đặt đến đâu thì được hàng ngủ hóa Phật giáo tới đó. Vì vậy, không lạ gì các đoàn Sinh viên, Học sinh Phật tử, Hướng đạo Phật tử, Tiểu thương Phật tử, Xích lô Phật tử, Quân nhân Phật tử, … ngày một đông đúc thêm.

Ngài thường nhắn nhủ:

- “… Hơn bao giờ hết, Phật tử chúng ta phải tỏ ý nguyện tha thiết hòa bình của mình bằng cách thức thể hiện một đoàn kết to rộng, lấy sự sống làm căn bản, lấy trí thức làm phương châm, lấy giác ngộ làm cứu cánh. Cùng với những tâm hồn nhân loại khác, chúng ta cố tâm xây dựng, không phải những cường quốc hùng mạnh về binh khí mà là những quốc gia ham chuộng hòa bình, biết sống trong tinh thần tri túc và thương yêu, biết sống hướng thượng. Chúng ta tin rằng từ bi sẽ thắng cường bạo và hòa bình sẽ ở lại với mọi người, nếu chúng ta thật tình mong muốn …”

Với tâm niệm của Ngài như vậy, ngày mồng hai tháng hai năm Tân Hợi (1971), trong Đại hội Giáo hội bản tỉnh, ngài thiết tha nói lên:

- “ … dù mai nầy hoàn cảnh có dổi dời ra sao, biến chuyển cách nào đi nữa, tinh thần cố hữu của người tín đồ Thừa Thiên và cố đô Huế nơi phát xuất nhiều dũng sĩ hy sinh cho Đạo pháp, cho Dân tộc, từng chịu đựng thử thách qua các biến cố chưa hề phai mờ trong tâm trí.

Không ai có thể phủ nhận rằng những tín đồ ở các tỉnh miền Trung nầy, nơi mà un đúc trong lòng Bi Trí Dũng của đức Phật, lại có thể bỏ mất chánh niệm, chánh tín, và chánh tâm của mình, để chạy theo tiếng gọi của danh lợi ảo tưởng, những tuyên truyền phỉnh phờ, di hại cho đạo giáo và dân tộc.

Thuấn nhã đa tánh, khả tiêu vong,

Thước ca ra tâm, vô động chuyển.

Một câu kệ của đức Phật như đã in sâu vào tâm khảm của người Phật tử trung kiên …”

Tuổi trời có hạn.  Cái gì giả tạm rồi cũng ly tán. Cái thân tứ đại vô thường của ngài rồi cũng phải gặp cảnh bất hòa, chia ly. Ngài thọ bệnh.

Ngài vào Sài Gòn để chữa bệnh, nhưng tâm trí lúc nào cũng đặt ở miền Vạn Hạnh và Thừa Thiên - Huế. Bệnh chữa trị chưa được lành hẳn thế mà ngài vẫn trở về để lo cho đạo, cho quê hương của xứ miền Trung nghèo nàn khổ cực. Trước những ngày cơn bệnh hoành hành cái thân vô thường, Ngài còn gọi môn đồ đến chung quanh giường để căn dặn:

- “… Thầy sống thì thầy lo cho các con, một mai thầy mất thì các con phải thương yêu nhau và hòa hợp nhau tu hành, sau nầy phục vụ Giáo hội và duy trì công việc chùa chiền thay thế thầy …”

Với chí nguyện kiên trì, với tấm lòng tha thiết cho tiền đồ đạo pháp, nhất là hướng dẫn hậu lai làm thế nào đi đúng đường hướng của chánh pháp và phải ở trong lòng Dân tộc Việt Nam. Thân bệnh mà tâm ngài không bệnh.

Sau hơn một tuần tịnh dưỡng, Ngài đã xả báo an tường để trở về với cõi tịnh đúng vào lúc 9 giờ 30’, sáng ngày 10 tháng 07 năm Nhâm Tý (tức là ngày 18-08-1972), Phật lịch 2516.

Thọ thế 62 tuổi.

Kim quan của ngài quàng tại Tổ đình Linh Quang, nơi ngài làm chủ và hành đạo hơn 40 năm.

Lễ phò Kim quan nhập tháp được tổ chức trọng thể đúng vào lúc 10 giờ 30’, ngày 17 tháng Bảy năm Nhâm Tý (25-08-1972).

Tháp của ngài được lập bên cạnh bổn sư tổ Giác Tiên.

Buổi lề phò Kim quan từ Linh Quang về Trúc Lâm, hang vạn Tăng Ni Tín đồ từ trung ương đến địa phương về tham dự.

Về phía chính quyền đến phúng điếu, tham dự và tiễn đưa Ngài gồm:

- Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn I, Quân khu I, Vùng I Chiến thuật.

- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Sư đoàn I.

- Đại tá Lê Văn Thân, Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Thị xã Huế.

- Quý Tổng trưởng, Bộ trưởng, Nghị sĩ, Dân biểu, Hội đồng hàng tỉnh, Quận trưởng, …

Cuộc đời ngài là một trang sử rất sáng chói cho Đạo, cho Đời. Ngày còn tại thế, nơi nào gặp khó khăn là có hình bóng của ngài xuất hiện. Ngài chỉ đem tâm từ trải rộng ra thì mọi chuyện đều trở thành tốt đẹp. Đặc biệt ngài là tu sĩ nhưng vấn đề tổ chức hành chánh thật tài tình. Văn phòng Giáo hội lúc nào cũng ngăn nắp, chu đáo.

Ngài ra đi, nhưng dư âm của ngài còn đọng lại không những chỉ cho miền Trung mà còn lan dần về tận Giáo hội Trung ương.

 

TIỂU SỬ
THIỀN SƯ THÍCH MẬT THỂ

 

1. Thân thế:

Ngài họ Nguyễn húy là Hữu Kê, dòng họ của Đại thần Nguyễn Trãi. Nguyên quán thuộc Tông sơn Gia miêu Ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa.

Ngài thọ sanh năm Nhâm Tý (1912), tại làng Nguyễn Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Vốn thọ sanh trong gia đình vọng tộc, quý phái, thích lý luận Nguyễn Hữu Độ.

2. Sự Nghiệp Tu Học:

Năm Bính Thìn (1916), lên 5 tuổi, theo Nho học.

Năm Giáp Tý (1924), được 12 tuổi, xuất gia đầu Phật tại chùa Diệu Hỷ.

Năm Mậu Thìn (1928), được 16 tuổi, theo học chúng Từ Quang và thọ giáo với ngài Giác Bổn.

Ngài Giác Bổn nhận thấy ngài quá thông minh xuất chúng, có nhiều năng khiếu, có nhiều chí khí nên đưa vào học chúng Trúc Lâm.

Năm Canh Ngọ (1930), tổ Giác Tiên cho thọ Sa di Thập giới .

Pháp danh: Tâm Nhất,

Pháp tự: Mật Thể,

Thuộc dòng Lâm tế Chánh tông đời thứ 43.

Năm Quý Dậu (1933), làm giảng sư của hội An Nam Phật Học.

Từ năm 1933 đến năm 1938, đạy học các trường Phật học của sơn môn Thừa Thiên.

Năm Đinh Sửu (1937), được gởi qua tu nghiệp ở Phật học viện Tiêu Sơn (Trung Hoa), dưới sự chủ trì của thiền sư Tinh Nghiêm.

Năm Mậu Dần (1938), chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, ngài không được phép ở lại Trung Hoa lâu hơn, đành phải về nước.

Năm 1941-1942, cho ra đời tác phẩm Phật Giáo Yếu Lược Phật Giáo Khái Luận. Cùng năm 1942, tập thơ “Xuân Đạo Lý” do ngài biên khảo với ý nghĩa chủ xướng là: Xuân Là Sứ Mạng Phật Hóa.

Trong tác phẩm nầy, còn đề cập đến vấn đề: Phật giáo với hiện đại, trong đó: Văn hóa đạo Phật có thể mở đường thoát cho một nhân loại đang sống trong hoài nghi, đau khổ, chán đời và bê tha, trụy lạc …

Năm Tân Tỵ (1941), được mời vào giảng dạy ở Phật học đường Lưỡng Xuyên, Trà Vinh .

Năm Quý Mùi (1943), cho ra đời tác phẩm: Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (Tân Việt Hà Nội xuất bản).

Năm Giáp Thân (1944), ngài thọ Tam đàn Cụ túc giới tại Đại giới đàn Thuyền Tôn do ngài Giác Nhiên làm Đàn đầu Hòa thượng. Ngài đỗ Thủ khoa.

Năm Ất Dậu (1945), nhận chức Trú trì chùa Phổ Quang, gần dốc Bến Ngự . Nơi đây Tổ Giác Tiên đã từng trông coi một thời trước khi khai sơn Trúc Lâm Đại Thánh tự.

Năm Bính Tuất (1946), tham gia phong trào Phật giáo Cứu quốc, rồi ra Bắc

Vì chiến tranh của hai miền trên 30 năm, nên sự hành hoạt của ngài ở trong vòng khiêm tốc . Được biết ngài tịch vào năm Tân Sửu (1961), thọ 49 tuổi (*). Hiện mộ phần được an táng tại nghĩa trang Nghệ An. (Khi thống nhất đấ nước, người viết bôn tẩu ra hải ngoại; tuy nhiên, được biết thầy Thanh Toàn là pháp đệ của người viết đã cùng các cháu gọi ngài bằng chú ruột là ông Nguyễn Hữu Tôn, ở Đà Nẵng, đã cùng nhau ra tận nghĩa trang nầy để cải táng và đưa nhục thân ngài về lại tổ đình Trúc Lâm).

 

3. Sự Nghiệp Văn Học:

Các tác phẩm của ngài trước tác gồm có:

*  Việt Nam Phật Giáo Sử Lược,

* Phật Giáo Dị Giảng,

*  Thế Giới Quan Phật Giáo,

* Đại Thông Vô Lượng Nghĩa,

*  Xuân Đạo Lý (thơ)

Trên đây là những tác phẩm mà ngài đã trước tác hay dịch thuật. Hiện tất cả đều còn lưu truyền trong quần chúng. Riêng tập thơ “Xuân Đạo Lý” thì không thấy còn xuất hiện nữa.

Đặc biệt sách của ngài đã được thiền sư Phước Huệ ở tổ đình Thập Tháp, Bình Định có lời tán ngữ ở đầu quyển.

Thiền sư viết như sau:

- “…Giữa mùa Xuân năm Quý Mùi (1943), Pháp sư Mật Thể vào Nam thăm, lấy trong tay áo bản thảo cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Lược viết bằng quốc văn đưa cho tôi mà nói:

- Đây là công trình sưu tầm biên khảo nhiều năm của con, xin Hòa thượng đọc và chứng minh cho.

Tôi tiếp nhận bản thảo mà đọc. Mỗi khi đêm vắng dưới ngọn đèn khêu cao, cầm bản thảo nơi tay, tôi tự nói một mình là pháp sư tuy đã theo học với tôi nhiều năm tháng nhưng tôi chưa biết được hết chí hướng và nguyện vọng của ông . Trong cuộc đời tu học, thì ra không lúc nào ông không lưu tâm đến sự nghiệp hoằng pháp bằng phương tiện phiên dịch và trước thuật.

… Từ khi tới Đông Độ, Phật giáo đã đi vào nước Nam ta một ngàn mấy trăm năm rồi; trong thời gian ấy đạo tổ và Thánh Tăng kế tiếp nhau xuất hiện, công đức ấy chiếu sáng trên lịch sử, ta chẳng nên để cho nó phai mờ mai một. Ngày nay, có được cuốn sách nầy thì chẳng những là Pháp sư có công với Phật giáo mà còn có công với Phật học nữa. Vì vậy mà tôi rất được vui sướng và an ủi, vô lượng vô biên, viết mấy dòng nầy để tán dương…”  

(Lời tán dương nầy nguyên bằng chữ Hán, Giáo sư Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Sử Lược quyển ba, trang 186).

Ngài thường kết bạn tâm giao với các vị như: Văn hào Nhất Linh, Văn hào Khái Hưng, Học giả Phạm Quỳnh, Cụ Trần Văn Giáp, Cụ Phan Văn Hùm,… để trao tặng cho nhau những áng thơ hay, hoặc luận đàm giáo lý Phật đà. 

Sau đây là bài thơ thiền của ngài còn lưu truyền mà quần chúng Phật tử tại cố đô Huế và miền Trung đều thuộc lòng:

Trăng sáng sau khi trời vừa tạnh,

Ngoài hiên văng vẳng tiếng chuông đưa,

Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng,

Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa ?  

 

Tư Tưởng Của Thiền Sư Mật Thể

 

Tư Tưởng Thiền Sư Mật Thể:Thiền sư Mật Thể, người có chí nguyện lớn. Ông chủ trương phải: “Cải tổ Sơn môn” và đã xuất bản một tài liệu với nhan đề: “Cải Tổ Sơn Môn Huế”.

Cũng như Thiện Chiếu ở miền Nam, ông rất nóng lòng vì bước chân đi chậm chạp trong quá trình đổi mới chế độ Tăng già. Ông cũng va chạm rất nhiều trong thời gian vận động, nhưng khác với Thiện Chiếu ông được đào tạo trong Sơn môn hồi còn bé thơ và căn bản Phật học của ông rất vững vàng. Hán văn của ông rất vững. Ông đã tự mình học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Ông là một trong mấy vị Tăng sĩ đầu tiên biết làm thơ mới. Chữ Pháp ông học đủ để đọc các bài nghiên cứu về Phật giáo sử viết bằng Pháp văn. Ông rất ưa thơ Hàn Mặc Tử, không biết tại sao?

Tháng giêng năm 1946, khi chính phủ lâm thời tổ chức Tổng tuyển cử, ông đã can đảm đứng ra ứng cử ở Thừa Thiên. Ông đã đắc cử làm Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây là lần đầu tiên một vị Tăng sĩ Việt Nam trực tiếp đi vào đường chính trị.

Ngày xưa, vào các thời Đinh, Lê, Lý và Trần các thiền sư đã từng làm chính trị, nhưng, chỉ đứng trong cương vị cố vấn cho nhà vua mà thôi. Việc ra ứng cử Quốc hội của Mật Thể phản chiếu lòng yêu nước và sự ủng hộ cách mạng của giới Phật tử trẻ tuổi. Tuy nhiên, hành động ấy cũng được nhận xét như không được chín chắn bởi một vài vị Tôn túc trong Sơn môn và một vài giới cư sĩ, … Cũng năm 1946, ông được mời làm Chủ tịch Ủy ban Phật giáo Cứu quốc Thừa Thiên.

Trước khi rút về chiến khu, Mật Thể đã gặp một số anh em Phậ t tử đồng chí tại chùa Thế Chí ở Đại Lộc. 

Họ ăn một bữa cơm chay thân mật cuối cùng với nhau ở chùa nầy và bàn tính về việc tương lai.

Họ bàn luận về việc chống Pháp, chuyện tương lai Phật giáo và cố nhiên là về những đụng chạm và khó khăn mà người Phật tử gặp phải trong hang ngũ Kháng chiến. Họ đồng ý là người Phật tử phải có mặt trong lãnh vực tranh đấu, phải phân thân để có mặt. Tại vùng bị chiếm đóng, nếu được thì dựng lại chùa, quy tụ Phật tử để sinh hoạt và để tạo lập phong trào. Tại vùng Kháng chiến, phải tìm cách có mặt trong cơ quan lãnh đạo để bênh vực, che chở cho thanh niên Phật tử phục vụ trong hàng ngũ Kháng chiến. Thiền sư Mật Thể cho biết rằng việc bảo vệ và xây dựng phong trào Phật giáo bên cạnh người Cộng sản là một công việc rất khó. Nhưng ông bảo người Phật tử không thể không có mặt. Bữa cơm trưa kéo dài đến chập tối. Mật Thể lấy trong bọc áo tất cả số tiền thu được của tạp chí Giải thoát và trao lại cho các bạn trẻ ở lại vùng bị chiếm đóng, dặn dò lấy số tiền đó làm vốn liếng để xuất bản một tờ báo tại Huế để tiếp tục công trình của Giải Thoát. Rồi cuối cùng một vị Tăng sĩ trẻ tên là Thiện Mãn và bốn người Phật tử cư sĩ khác, theo ông lên đường đi Quảng Trị. Những người trẻ về thành phố Huế hôm đó, có các Tăng sĩ Đức Trạm (chùa Ba La), Mãn Giác (chùa Thiên Minh), Thiên Ân (chùa Châu Lâm), và các cư sĩ Đinh Văn Nam và Cao Hữu Đính.

 Thích Mật Thể theo Kháng chiến cho đến năm 1961 thì mất. Ông viên tịch tại Nghệ An, thọ 49 tuổi (*).  Trong thời gian 1957-1961, vì chống lại chính sách đè nén Phật giáo của chính quyền miền Bắc, ông đã bị quản thúc tại Hà Tĩnh và Nghệ An, ông bị cô lập hoàn toàn. Ở trong một căn nhà lá miền quê, ông không được phép di chuyển đi đâu cả và người trong làng trong xóm cũng không được tới viếng thăm. Thỉnh thoảng có người đi ngang qua ném lén vào sân cho ông một túi gạo nhỏ, gọi là để tiếp tế cho ông trong lúc ngặt nghèo. Vậy mà trong thời gian ấy, ông đã sáng tác được cuốn: “Thế Giới Quan Phật Giáo”.

Bản thảo tác phẩm nầy đã lọt vào miền Nam và được tạp chí Vạn Hạnh xuất bản năm 1967. Bản in nầy có mang lời tựa của Thích Đức Nhuận, chủ bút tạp chí Vạn Hạnh.

Thế giới quan Phật giáo là một tác phẩm nói đến sự cần thiết của đạo Phật trong tư trào chính trị, văn hóa và kinh tế hiện tại. Ông thẳng thắn phê bình sự nông cạn của chủ thuyết Duy vật. Theo ông, Phật giáo không phải là Duy vật, cũng không phải là duy tâm. Ông nhấn mạnh đến nguy cơ của những nhà làm chính trị thiếu căn bản đạo đức. Ông nói rằng chủ thuyết của chủ nghĩa xã hội “rất hay”, nhưng vì căn bản của lý thuyết nầy đã sai lầm “nhận vật chất làm căn nguyên sinh ra vạn hữu” cho nên, “Xã hội chủ nghĩa trở nên nông cạn, chỉ thấy hạnh phúc của con người ở cơm ăn áo mặc”.

Theo ông: Xét tận nguồn gốc Xã hội chủ nghĩa tổ chức kinh tế khéo giỏi đến đâu mà không có phương pháp để thủ tiêu lòng tham sân si cùng bản ngã nhỏ hẹp kia, thì nhân loại cũng không bao giờ hết khổ được.”

Với tư cách Đại biểu Quốc hội, Mật Thể đã từng che chở bênh vực cho các Tăng sĩ và cư sĩ hoạt động quanh tờ Giải Thoát vào những năm 1946 và 1947, chính nhờ ông mà tờ Giải Thoát được tồn tại trong một năm trời . Cũng trong hướng bảo vệ Phật giáo, Phạm Hữu Bính, trong bài Phật giáo bị lợi dụng đã nhắc nhở tới:

“Một số người trước mặt thì tỏ ra tán dương mà sau lưng thì ngấm ngầm công kích Phật giáo”.

Ông muốn nói đến những người ngoài miệng thì nói đến tôn trọng tự do tín ngưỡng nhưng trong thâm tâm thì lại cho rằng Phật giáo là nguy hại, rằng người theo đạo Phật là người bị thực dân ru ngủ và lợi dụng . Vấn đề thực dân lợi dụng Phật giáo, Phạm Hữu Bính nhắc lại phong trào phục hưng Phật học trong những năm 1930 và lập lại những bài của báo Viên Âm thời ấy về hai động lực chính của sự chấn hưng, đó là:

1. Sự tiến hóa của phái trí thức ta phương diện luân lý và,

2. Sự cần thiết của đạo đức và tinh thần Phật giáo bên cạnh sức mạnh lạnh lùng và mù quáng của khoa học.

Ông nói mục đích của ông không phải là để đối đáp lại: Những công kích lặt vặt và những cử chỉ thiếu thành thật mà là cùng độc giả Giải Thoát xem xét đạo Phật có hại hay có lợi gì cho quần chúng.

- “Nếu có hại, chúng ta nên triệt để bài trừ . Nếu có lợi, chúng ta nên cố gắng duy trì, khuyến khích và nếu ai “Lợi dụng” Phật giáo, chúng ta nên khuyến khích họ “Lợi dụng” thêm”.

Ông nói đến tinh thần bình đẳng triệt đểvị tha triệt để trong đạo Phật và nhắc đến sự kiện Phật giáo chưa bao giờ gây nên tai hại cho cuộc sống, chưa bao giờ bạo lực để bành trướng thế lực tôn giáo mình, chưa bao giờ chia rẽ quốc dân đồng bào, chưa bao giờ đứng về phía mạnh để hiếp yếu.

Cuối cùng ông nói:

- “ Chúng ta không sợ Phật giáo bị lợi dụng. Chỉ sợ người đời không biết lợi dụng Phật giáo mà thôi. Chính vì lẻ ấy mà Phật Thích Ca đã suốt đời giảng giải giáo lý, và các Phật tử đủ trí đủ sức không nề gian lao nguy hiểm dù luôn luôn tìm đủ phương tiện để cho ai cũng biết triệt để lợi dụng Phật giáo để đưa mình và đưa người đến nơi hạnh phúc chân thực.”

Ghi chú: (*) Theo môn phái và bà con thân thích cho biết thì thiền sư Mật Thể thọ 51 tuổi . Theo năm sinh 1912 và năm mất 1961. Tài liệu của Việt Nam Phật Giáo Sử Lược quyển ba, giáo sư Nguyễn Lang viết thì ngài thọ thế 49 tuổi .

 

TIỂU SỬ
SƯ BÀ THÍCH NỮ DIÊN TRƯỜNG

 

Sư cụ thế danh là: Hồ Thị Nhàn,

Pháp danh:Thanh Linh, 

Pháp tự: Diên Trường. 

Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42

Sanh năm 1863, thuộc dòng họ Hồ Đắc, làng An Tuyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Là con gái thứ ba của cụ Hồ Đắc Tuấn, Tri phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Thân mẫu là cụ bà Công Tôn Nữ Huấn, là con thứ ba của Hoàng tử Tùng Thiện Vương.

Vốn được thọ sanh trong một gia đình vọng tộc, thuần cẩn, đạo đức.

Năm lên tám thì phụ thân qua đời. Ở với thân mẫu và phụ giúp gia đình để các anh có đủ thì giờ theo đòi nghiên bút.

Khi lớn lên, cụ vâng lời thân mẫu để lập gia đình. Cụ kết hôn với cụ Nguyễn Đôn Lý, người làng Thế Lại, huyện Hương Trà. Sanh hạ được một trai, một gái. Người con trai được năm tuổi thì mất; đồng thời, hai năm sau kế tiếp cụ Nguyễn Đăng Lý cũng mệnh chung.

Cụ nhận thấy cuộc đời là huyễn hóa, giả tạm. Cụ tự thấy cái thân tứ đại nầy rồi cũng theo vô thường và từ từ tan nát, mục rửa. Sau những ngày tụng kinh bái sám để cầu nguyện cho chồng, nhưng cũng chính là cụ tự cầu nguyện và sám hối cho chính bản thân của cụ. Trong những lần tụng kinh, bái sám như thế, cụ tự tìm hiểu được một vài phần nhỏ trong kinh đức Phật đã từng dạy. Từ đó, cụ liền hướng về đạo giải thoát ngày một dõng mãnh, ngày một tinh tấn hơn.

Năm Mậu Tuất (1898), được 36 tuổi, xuất gia đầu Phật với Hòa thượng Lương Duyên ở chùa Từ Hiếu. Kể từ khi phát tâm xuất gia, cụ luôn luôn tụng kinh, bái sám rất tinh cần. Hòa thượng bổn sư nhận thấy cụ thật sự xả bỏ duyên trần ràng buộc để dõng mãnh trở về đạo giải thoát.

Năm Canh Tuất (1907), cụ được thọ Tỳ kheo ni giới ở giới đàn Vĩnh Gia, chùa Phước Lâm, tỉnh Quảng Nam. Trong năm nầy, hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín đang bị mất mùa nặng nề, dân chúng đang lâm vào cảnh lầm than đói khổ, chính phủ cũng phải miễn thuế cho dân chúng. Anh của cụ là Đại thần Hồ Đắc Trung đương nhiệm Tổng đốc ở đây. Chính cụ vận động trực tiếp với anh để hỗ trợ cho Đại giới đàn được thành tựu viên mãn. Cụ Hồ Đắc Trung tận tình giúp đỡ rất đắc lực.

Sau khi đắc giới, cụ được bổn sư cho về trông nom chùa Phổ Quang gần dốc Bến Ngự và mở trường đào tạo Ni giới.

Vì sự phát triển của ngành hỏa xa, chùa chiền bị chiếm đất một phần, cọng với sự sinh hoạt của quần chúng ngày một ồn ào, huyên náo, thấy không mấy thuận tiện cho việc tu tập và sự tu tập của chúng lý. Cụ liền vào ngọn đồi Dương Xuân Thượng, thôn Thuận Hòa cất cốc tu hành. Thảo am ấy chính là tiền thân của Tổ đình Trúc Lâm Đại Thánh sau nầy.

Thảo am cất chưa bao lâu, cụ liền thỉnh Hòa thượng Giác Tiên làm tổ khai sơn và chỉ xin một phòng nhỏ của liêu sau để tịnh tu giới luật; bên cạnh đó, cụ còn vận động đắc lực phần ngoại hộ cho tổ Giác Tiên.

Tương truyền rằng: Khi có thảo am rồi, cụ liền mời một thầy địa lý khá nổi tiếng để xem hướng cho chùa, thầy địa lý bảo:

- Xây chùa về hướng nầy thế nào cũng được giàu sang, phú quý, của cải sung túc, dư dật.

Cụ vui vẻ trả lời rằng:

- Thầy xem hộ cho tôi, hướng nào mà “Thế Thế Cao Tăng”, thì đó mới là đúng tâm nguyện của tôi và Tổ khai sơn. Còn, vấn đề giàu sang, của cải dư dật, thì đó chỉ là phương tiện để trong phần phụ.

Thầy địa lý nghe xong rất khâm phục tâm đạo của cụ và liền xoay lại hướng chùa. Đó là hướng chính của Tổ đình Trúc Lâm Thiền phái bây giờ vậy.

Qua câu chuyện nói ấy, chúng ta cũng thừa hiểu được một phần nào tâm niệm vì đạo của Cụ. Một thời gian vài năm kế đó còn có thêm quý sư bà Chơn Hương, Diệu Hương và Giác Hoa cũng đến cùng chung học với cụ. Ni cô Diệu Hương mà sau nầy là sư bà tọa chủ Ni viện Diệu Đức.

Vào mùa Phật Đản mồng Tám tháng Tư năm Ất Sửu (1925), Cụ cung thỉnh Hòa thượng Tâm Tịnh và Hòa thượng Thanh Tú đến để chứng minh cho cụ khai kinh Pháp Hoa. Đúng ngày Rằm tháng ấy (tức sau một tuần), cụ hoàn kinh, đảnh lễ bái tạ chư tôn Hòa thượng và Tăng chúng Trúc Lâm. Mọi chuyện đâu đó xong xuôi, cụ vui vẻ và niệm Phật để an nhiên từ từ đi vào cõi tịnh. Thọ thế 64 tuổi.

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của Giáo sư Nguyễn Lang, trang 134 quyển ba có đoạn ghi như sau:

-… Cụ là vị nữ lưu cũng như Tỳ kheo Ni đầu tiên làm tiên phong cho Ni giới ở Trung kỳ. Ni sư Diên Trường, người đã có công khai sáng chùa Trúc Lâm, nơi khởi điểm cho phong trào chấn hưng Phật học.

Giáo hội đã tặng cụ hai câu đối như sau:

* Quả mãn công viên tịnh vứt thê thần siêu hậu hữu,

* Tín thâm chí cố linh sơn đắc ký tín tiền sanh.

Ni chúng cũng tặng câu:

* Tuân bát kỉnh vi xướng đạo nữ sư đương thời liên xã cao tiêu, tín hạnh nguyện chúng sở tri thức,

* Xứng tam thừa hoặc thị hiện ni tướng kim nhật từ hàng tảo giác, văn tư tu thùy vị đề huề.

Thiền sư Viên Thành, tọa chủ chùa Tra Am có làm bài kệ tán dương công hạnh của sư cụ như sau:

Thiện tai nữ đạo sư,

Giải thoát nhân trung kiệt,

Thịnh niên xả thế vinh,

Phỏng đạo ngộ thiền duyệt,

Bát kính thị căn trì,

Trường trai thủ tố tiết,

Uẩn giới phù vân không,

Phiền não hải thủy kiệt,

Giác mộng cảnh từ chung,

Độ mê tháo bảo phiệt,

Công đức mãn chiên lâm,

Thanh lương đẳng tuệ nguyệt,

An ổn tọa bồ đoàn,

Liễu chứng vô sanh quyết,

Sơn sắc thanh tịnh thân,

Khê thanh quảng trường thiệt,

Tích lai bản bất sanh,

Kim khứ hà tằng diệt,

Siêu nhiên bỉ ngạn đăng,

Liên đài diệu hương khiết.

Dịch:

Lành thay nữ đạo sư,

Bậc giải thoát hào kiệt,

Bỏ vinh hoa cuộc đời,

Tìm vui nơi thiền duyệt,

Pháp bát kỉnh hành trì,

Nếp trường trai tinh khiết,

Uẩn, giới như mây bay,

Biển não phiền khô kiệt,

Chuông khuya thức tỉnh đời,

Bè từ độ oan kết,

Công đức như rừng trầm,

Mát như vầng tuệ nguyệt,

An nhiên bồ đoàn ngồi,

Chứng quả vô sanh diệt,

Lời kia là suối reo,

Thân kia là núi biếc,

Xưa chưa hề có sanh,

Nay cũng không từng diệt,

Bờ bên kia bước lên,

Đài sen hương diệu khiết.

 (Giáo sư Nguyễn Lang dịch)

 Tháp của sư cụ được xây về hướng Đông Bắc của Trúc Lâm. Di ảnh và long vị của sư cụ được phụng thờ gian bên hữu nơi hậu tổ.

 

 

TIỂU SỬ
SƯ BÀ THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

 

 

1. Bước Chân Trần Thế: 

Thế danh : Hồ Thị Hạnh,

Pháp danh: Trừng Hảo, (*)

Pháp tự: Thích Nữ Diệu Không ,

Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42

Sanh ngày 24 tháng 12 năm 1905 (theo Âm lịch tức là ngày Đinh Dậu 28 tháng 11 năm Ất Tỵ). 

Chánh quán làng An Tuyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Thân phụ là Đại thần Hồ Đắc Trung,

Thân mẫu là cụ bà Châu Thị Ngọc Lương, người làng An Lai. Sư bà là em ruột của sư bà Diệu Huệ.

 Thiếu thời theo Nho học. Lớn lên theo Tây học. Bẩm chất thông minh. Tính tình hiếu hòa, hiếu đạo. Mẫu người của bà vừa đạo đức, vừa văn nghệ. Thích hoạt động nhất là về mặt từ thiện xã hội. Bà được thọ sanh trong một gia đình danh giá vọng tộc, khoa bảng, nhưng uyên thâm về Phật học. Một gia đình đại phúc đại quý, nên cụ Đại thần Hồ Đắc Trung đã tự vịnh gia đình của cụ qua bài thơ sau:

Chồng vợ nay đã đặng tám mươi,

Mười con: bốn gái sáu con trai,

Trai đầu khoa bảng quan nhị phẩm,

Gái thứ cung phi đệ nhất giai.

Ba gái gả nơi sang quý cả,

Năm trai đều đậu đại khoa rồi.

Một nhà hiếu đạo đều đầy đủ,

Trung phần đây biết đố nhà ai ? 

Năm 1929, bà vâng lời song thân kết duyên cùng với cụ Tham tá Cơ mật viện Cao Xuân Xang (lúc nầy cụ Cao Xuân Xang vừa góa vợ ba năm, để lại sáu con nhỏ).

Năm 1930, bà sinh hạ được một con trai là Cao Xuân Chuân. Cùng trong thời gian nầy, chồng bà lại thất lộc. Tình nghĩa của bà chỉ vỏn vẹn có 11 tháng, thì sống cảnh đơn chiếc.

Bà có một tư tưởng đặc biệt, khác hẳn với giới nữ lưu thường tình lúc bấy giờ là: Một quận chúa trẻ, đẹp, học thức, có tự do, thế mà bà thuận lấy một người chồng góa vợ với sáu đứa con dại, lại mang bệnh lao phổi.

Mới 24 tuổi mà chấp nhận sống cuộc đời góa bụa với bảy đứa con (đứa con đầu lòng của bà vợ trước 11 tuổi, đứa con nhỏ 3 tuổi cọng thêm đứa con mà bà mới sanh). Bà thủ tiết thờ chồng nuôi con. Bà chịu đựng mọi thử thách, nhất là về mặt tinh thần và tình cảm.  

Những người bạn quen thân với bà Việt cũng như Pháp đều rất ngạc nhiên. Họ cho là điều vô lý, khó hiểu. Cũng có một vài bà quá quen thân thường đến tâm sự cùng bà thì được bà trả lời: 

- Tinh thần phụ nữ Á đông là như vậy. Người phụ nữ Việt Nam, trước một lời đã hứa thì không bao giờ thay đổi. 

Bà đã hứa với gia đình chồng là:

- Một đàn con bảy đứa, không mẹ, không cha. Chúng đã gọi mình bằng mẹ, thì không thể nào không làm tròn trọng trách; vả lại, những gương nữ lưu Việt Nam đã để lại cho chúng ta soi là: “Tiết Hạnh Khả Phong”, thì chắc chắn chúng tôi phải học theo cho bằng được.

Dù là phụ nữ, bà vẫn vừa giáo dục con cái vừa nghiêm nghị, vừa thương yêu. Bà tỏ ra rất bình đẳng, không có sự phân biệt giữa con riêng, con chung. Vì thế, tất cả bảy người con rất kính phục. Mọi người đều ca tụng bà, thì bà trả lời:

- Tôi gắng làm được như vậy là nhờ tinh thần vô ngã vị tha của Phật giáo.

Tuy nữ giới, tinh thần vẫn tỏ ra như một nam nhi. Tinh thần dân tộc, đầu óc canh tân xứ sở rất cao. Bà đã từng lập cửa hàng Nam Hóa ở cửa Thượng Tứ - Huế để kêu gọi quần chúng bản tỉnh nên dùng đồ nội hóa. Bà đã lập hội đấu xảo tiểu công nghệ cho giới phụ nữ ở số 2, đường Lê Lợi - Huế. Hội nầy gây ảnh hưởng rất sâu rộng trong quần chúng địa phương một thời. Hội do bà Đàm Phương phụ trách. Bà cũng tặng cho hội một bài thơ như sau:

Nữ công sang lập tại Thừa Thiên,

Kinh tế nâng cao bậc nữ quyền,

Gánh vác giang san thân gái Việt,

Duy trì nòi giống đất rồng tiên.

Công dung tinh tấn không lười biếng,

Ngôn hạnh đoan trang ấy chính chuyên.

Tất cả chị em nên gắng bước,

Noi gương Trưng, Triệu mãi lưu truyền. 

Hằng ngày, bà thường hoạt động cho mặt xã hội từ thiện, công việc gia đình với đàn con thơ dại; nhưng, bà vẫn thường lên chùa bái sám, học giáo lý Phật đà. 

Khi đàn con khôn lớn, bà từ từ thoát ly cuộc sống hẹp hòi của gia đình để hướng nẻo giải thoát. Bà giao phó công việc gia đình cho cô con gái thứ năm và bước vào cửa thiền rất dõng mãnh. Nữ sĩ Đàm Phương có tặng một bài thơ để ca tụng cuộc đời son sắc, đẹp đẽ của bà như sau:

Khoác áo nhu hòa thân khoẻ không ?

Hiếu, Tình hai chữ trả đền xong,

Thở than, nuôi trẻ hai triêng (*) nặng,

Mến đạo, thương đời một điểm trong.

Công quả đã tròn nơi Diệu Đức,

Phẩm tài chi kém bạn Phương Dung.

Nêu cao đuốc tuệ gương bồ liễu,

Như mảnh trăng tròn giữa biển đông.

(*) Triêng tức là gánh, theo thổ ngữ địa phương của các tỉnh Bình Trị Thiên. Đòn Triêng tức đòn Gánh. Một Triêng tức là một Gánh.

 

2. Bước Vào Thiền Môn: 

Mùa Xuân năm Nhâm Thân (1932), sau khi trao gia thế lại cho đàn con và lên cầu pháp với tổ Giác Tiên ở tổ đình Trúc Lâm. Lúc đầu ngài Phước Huệ chỉ dạy có mấy vị: Mật Khế, Đôn Hậu, Vĩnh Thừa (tức Ôn Châu Lâm), Mật Hiển, Mật Nguyện và Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bà có phước báo là được tham dự vào lớp học nầy.

Cuối năm 1932, bà lên chùa Khải Ân, làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, quận Nam Hòa (Chùa nầy do bà Hồ Thị Chỉ, chánh thất của vua Khải Định và cũng là chị ruột của sư bà lập nên năm 1924), để cọng trú với sư bà Thể Yến, Hướng Đạo (tức sư bà Diệu Viên). Tuy ở xa, bà vẫn theo lớp học ở Trúc Lâm.

Năm 1933, bà thành lập Ni viện ở Tổ đình Từ Đàm.

Năm 1934, khởi công xây dựng Ni viện Diệu Đức, cơ sở nầy hoàn thành năm 1936.

Mặc dầu đã thọ Sa di thập giới, nhưng tổ Giác Tiên vẫn chưa cho thế phát. Vì tổ muốn bà thực hành hạnh Bồ Tát. Bà giữ chức Tổng thư ký hội Lạc Thiện. Hội nầy rất uy tín với Nam triều cũng như đối với chính phủ Pháp.

Bà rất tích cực trong công cuộc chấn hưng Phật giáo. Là cánh tay phải ngoại hộ cho hội An Nam Phật Học. Bà đã từng đi khắp từ Bắc chí Nam để vận động tài chánh. Ngoài đức hạnh, bà còn được thêm uy tín nhờ ảnh hưởng của gia đình Hồ Đắc, nên một khi đi đến đâu bà nói chuyện hay vận động từ quan lại đến thứ dân ai ai cũng đều hưởng ứng.

Hết lớp học ở Trúc Lâm, bà vẫn theo học lớp ngoại trú ở Tây Thiên, cho dù công việc từ thiện xã hội vô cùng bề bộn … Chính bà đã vâng lời Hòa thượng Phước Huệ để tìm cho bằng được cuốn kinh Kim Cang dệt bằng tơ lụa từ thời Tây Sơn. Đại đế Quang Trung đã viết lời bạt trong cuốn kinh nầy. Hiện bảo pháp nầy được tôn thờ tại Tổ đình Trúc Lâm.

 Năm 1938, bà vào chùa Giác Linh, tỉnh Sa Đéc để lập trường đào tạo Ni giới. Đâu đó, bà cung thỉnh Hòa thượng Mật Hiển vào giảng dạy một thời gian dài.

Năm 1944, bà chính thức được thế phát, thọ Tỳ kheo ni và Bồ tát giới tại giới đàn Thuyền Tôn, Hòa thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu Hòa thượng (thọ giới cùng một lần với Thiền sư Mật Thể).

Năm 1949, bà khai sáng Hồng Ân Ni tự, thuộc thôn Thuận Hòa, đồi Dương Xuân Thượng, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy, cách tổ đình Trúc Lâm 800 mét.

Đồng trú với bà gồm có:

Sư cô Diệu Quang, sau nầy là Trú trì chùa Khải Ân, Nam Hòa.

Sư cô Diệu Minh, đồng sư và là bào muội của sư cô Diệu Quang. Cô Diệu Minh là vị Ni giới đầu tiên được chính phủ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa cấp học bổng đi du học tại Pháp. Thủ tục hồ sơ vừa xong, cô thọ bệnh và viên tịch.

Sư cô Từ Nhơn, sư cô Diệu Vị và sư cô Diệu Hoa.

Năm 1952, khởi xướng lập chùa Bảo Quang, chùa Bảo Thắng ở Đà Nẵng, Quảng Nam.

Năm 1953, xây dựng chùa Tịnh Nghiêm ở Quảng Ngãi.

Năm 1960, xây dựng Ni viện Diệu Quang ở Nha trang để đào tạo Ni giới cho cả hai chương trình nội và ngoại điển.

Năm 1961, vào Gò Vấp lập chùa Dược Sư. Cũng trong năm nầy lập thêm chùa Từ Nghiêm ở Chợ Lớn.

Năm 1963, tham gia phong trào tranh đấu Phật giáo để chống lại chính sách bất bình đẳng tôn giáo của nhà Ngô. Trong cuộc họp để vạch một chương trình cụ thể cho cuộc tranh đấu, bảo vệ chánh pháp, bà vào Sài Gòn cùng với Thượng tọa Thiện Minh để kết hợp với Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Vừa đến Sài Gòn, bà liền tham gia cuộc tuyệt thực ở chùa Ấn Quang. Sau khi Ủy ban Liên phái quyết định có thể phải hy sinh thân mạng, bà xin tự thiêu trước. Trong lúc đang tịnh tâm bái sám để chuẩn bị thiêu thân, Hòa thượng Quảng Đức đề nghị bà để cho Tăng phái lãnh trách nhiệm trước. Vì ngài cũng tự nguyện thiêu thân. Ngài dạy bà như sau:

- “… Bảo vệ Chánh pháp là bổn phận và trách nhiệm chung của hàng đệ tử Phật, dù xuất gia hay tại gia. Tuy nhiên, bà phải y theo Bát kỉnh pháp trước. Ni chúng phải y theo Tăng chúng. Hãy đặt Đạo pháp lên trên tình cảm cá nhân. Tôi biết bà rất lo cho Đạo, cho Dân tộc. Tâm bà rất tốt. Trong Ni chúng khó tìm ra được một Diệu Không thứ hai. Bà còn phải ở lại cõi Ta Bà nầy mà hành Như Lai sự, hành Bồ tát hạnh cũng không phải là nhỏ. Đạo pháp còn nhiều cam go. Giáo hội còn phải cần nhiều cán bộ trung kiên như bà, …”

Mặc dầu lúc mới nghe qua sự cản trở không cho bà được toại nguyện thiêu thân thể cầu nguyện cho Đạo pháp được trường tồn, hưng thịnh thì bà cảm thấy buồn trong dạ; sau lời dẫn giải của Hòa thượng Quảng Đức, bà cũng nhận thấy chí lý và tiếp tục tranh đấu theo đường lối Giáo hội hướng dẫn.

Ngọn lửa Quảng Đức bùng cháy sáng trong vòng 15 phút thì bà ngất xỉu, liền đưa bà về tĩnh dưỡng tại Ấn Quang.

Trước ngọn lửa oai hùng đó, bà vô cùng xúc động và cảm phục. Thành tâm đãnh lễ và đề thơ cúng dường:

Thầy ơi! Con biết nói sao đây !

Lễ kỉnh lòng đau trước Thánh thây,

Lửa cháy lưng trời thân chẳng động,

Dầu loan khắp đất ý không lay.

Tiêu diêu Tịnh độ, Thầy theo Phật,

Lận đận trần lao, con nhớ Thầy.

Tất cả Việt Nam đoàn cảm tử,

Mấy ai tinh tấn đặng như Thầy ? 

Năm 1964, bà dựng chùa Diệu Giác ở Thủ Đức. Cũng trong năm nầy, Giáo hội xây dựng Đại học đường Vạn Hạnh, bà cũng tích cực trong công tác nầy. 

Năm 1965-1966, lại một lần nữa bà dấn thân cho cuộc tranh đấu đòi dân chủ dân quyền. Pháp nạn 1966 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1967, tạo lập Tịnh xá Kiều Đàm ở đường Công Lý – Sài Gòn. Công tác vừa yên, bà vội vã về Huế để lo phần ngoại hộ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Thừa Thiên - Huế mở lớp chuyên khoa Phật học nội trú Liễu Quán bốn năm.

Năm 1968, vâng lời Giáo hội Thừa Thiên, đứng ra lo công tác xây cất Cô nhi viện Bảo Anh ở Tây Lộc - Huế và Cô nhi viện Diệu Định ở Đà Nẵng, để có nơi nuôi dưỡng con em mồ côi do cuộc chiến gây ra.

Năm 1970, bà biến trụ sở nhà in Liên Hoa cũ thành Tịnh xá Kiều Đàm để cho Ni chúng học hành, vì Ni chúng ngày một đông đúc.

Vừa tạm yên công tác Cô nhi tử sĩ, cô ký nhi viện, bà liền lập chương trình đào tạo cán bộ y tế cấp tốc để tiếp tay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Những trạm y tế Hồng Ân, Diệu Đế, Hòa Lương, ... đã giải quyết trực tiếp cho đồng bào địa phương và cũng đã cũng đã gặt hái nhiều kết quả đáng kể.

Mặc dầu tuổi già sức yếu, bà không bao giờ chịu yên nghỉ. Tâm niệm của bà là lấy đau khổ của chúng sanh làm phương châm tu niệm. Bà thường bảo với Ni chúng:

- “Ngày nào tôi thấy dân chúng quê mình được an cư lạc nghiệp, có trình độ học vấn cao thì tôi ngủ mới yên giấc, ăn mới ngon miệng.”.

Năm 1975, cùng chung số phận với quê hương, bà phải đi đó đây để an ủi dân chúng. Không một Ni viện nào mà bà không phụ trách giảng dạy và lo lắng về kinh tế.

Tuổi đời đã trên 80 mà tinh thần vẫn minh mẫn. Công việc hành hoạt của bà chỉ có chư Bồ tát mới biết được.

Năm 1986, tuy tuổi già sức yếu, bà vẫn đứng ra vận động và trực tiếp trùng tu chùa Đông Thuyền. Chùa nầy được tạo lập dưới thời chúa Nguyễn.Gia Long năm thứ hai, được trùng tu một lần cho đến nay. Ngài Tế Vĩ là vị sư đầu tiên làm Trú trì. Hiện tháp và bia của ngài còn ở trong khuôn viên của chùa.

Cuộc đời của bà lợi tha hơn tự lợi. Vốn được thọ sanh trong gia đình quyền quý, vọng tộc, khoa bảng danh giá; thế nhưng, bà vẫn giữ đức khiêm cung với chư tôn thiền đức. Bà gìn giữ Bát Kỉnh Pháp đúng mức. Không những thế bà còn kính trọng chư Tăng cho dù là các chú Sa di. Đức tánh mà bà thể hiện, chỉ có một không hai và rất khó có ở các vị Tỳ kheo ni khác. Thật đúng với đạo hiệu Diệu Không mà tổ Giác Tiên đã đặt cho bà. Quả thật xứng đáng là bậc mẫu từ của Ni phái miền Trung và Việt Nam.

 

3. Phần Văn Hóa:

Bà chỉ là một nhà thơ hơn là nhà văn. Bà đã để lại những áng thơ hay Đạo cũng như Đời.

Những đóng góp dịch thuật gồm:

- Kinh Lăng Già Tâm Ấn,

- Đại Trí Độ Luận,

- Thành Duy Thức Luận,

- Kinh Duy Ma Cật,

- V à một số lớn bài thơ đủ thể loại, ...

Những loạt bài bà viết trong báo Phật giáo phần nhiều đều khuyến khích giới phụ nữ Việt Nam sống đúng Công Dung Ngôn Hạnh và giáo lý Phật đà để gia đình được hạnh phúc. Hai tờ Viên Âm và Liên Hoa bà đều làm Quản lý từ đầu cho đến ngày đình bản.

Công việc thì đa đoan, nhưng dung nghi lúc nào cũng thoát tục. Những ai đã được gặp bà một lần thì không thể nào mà không kính mến, bái phục.

Để kết thúc một phần cuộc đời của sư bà Diệu Không, chúng ta hãy đọc bài thơ sau đây để hiểu một phần nào trong sự liễu đạo của sư bà:

Ta bà, Tịnh độ ở đâu xa ?

Chỉ tại lòng ta niệm chánh tà,

Chánh niệm trang nghiêm thành Tịnh độ,

Tà tâm vận chuyển ấy Ta bà.

Vô Tâm, chánh Trí là Tâm Phật,

Hữu Ý, mê Tình, ấy Tánh Ma.

Tà, Chánh đều vong, vô lậu giới,

Ta bà, Tịnh độ ở Tâm ta.

Đức Phật thường dạy: Hữu hình hữu hoại. Cái thân giả huyễn rồi cũng phải ly tan. Chỉ có pháp thân mới là cứu cánh. Trên 90 năm trụ thế, Sư bà đã dấn thân cho Đạo cũng như Đời. Chỗ nào có phiền não, có khổ đau là có sự hiện diện của Sư bà để an ủi, vỗ về và giúp đỡ cả hai mặt tinh thần lẫn vật chất.

Tấm thân của Sư bà như một cây khô đã đến lúc phải mục nát. Sư bà cũng theo quy luật nầy. Trước ngày Sư bà viên tịch một ngày, bút giả có gọi điện thoại về vấn an. qua điện thoại, tôi và Thượng tọa Thích Tánh Thiệt (tọa chủ chùa Thiện Minh ở thành phố Lyon, Pháp quốc qua thăm viếng Từ Đàm Hải Ngoại) cùng hỏi han sức khoẻ Sư bà.

Chúng tôi thưa:

- Hai chúng con Tín Nghĩa và Tánh Thiệt gọi điện thoại về vấn an Sư bà đây .

Sư bà ừ. Chúng tôi thưa hỏi tiếp:

- Sư bà khoẻ không ?

 Sư bà đáp:

- Khoẻ.

Chúng tôi cùng thưa:

 - Năm nay Sư bà bao nhiêu tuổi rồi ?

Sư bà đáp:

 - Chín mươi ba.

Chúng tôi cùng cười to và Sư bà cùng cười qua điện thoại trở lại rất vui vẻ. Chúng tôi không thấy hơi thở và cũng không cảm nhận là Sư bà yếu đuối gì cả. Thế nhưng, hai hôm sau, chúng tôi cùng gọi về và Ni chúng Hồng Ân cho hay Sư bà đã viên tịch vào ngày 23 tháng Tám năm Đinh Sửu (nhằm ngày 22 tháng 08 năm 1997). Hưởng thọ 93 tuổi, 65 năm ở chùa và được 53 hạ lạp. Tang lễ của Sư bà được tổ chức trọng thể và trang nghiêm.

 Tỉnh Giáo hội Thừa Thiên đứng ra lo tang lễ. Chư Tăng Ni và Tín đồ khắp nơi về dự đám tang và tiễn đưa nhục thân của Sư bà nhập bảo tháp rất đông đúc Tháp của Sư bà được xây cất trên một đồi thông đẹp đối diện với Ni tự Hồng Ân, cách cánh đồng nhỏ. Ngọn đồi này là đất đai của thân tộc Hồ Đắc.

Khi người viết đang ở hải ngoại, Sư bà lên thượng thọ bát tuần, chúng tôi có đặt tặng Sư bà câu đối nhờ quý Ni sư Minh Đức, Minh Tú, Minh Nhựt, Minh Hằng ở chùa Đức Sơn và Hòa Lương nhờ người viết lại và đọc Sư bà nghe khi Đại chúng Ni giới chúc thọ Sư bà như sau:

* Diệu hữu chơn không vi thường diệu,

* Không đàm bí điển tổng giai Không.

 

Chú thích: (*) Khi Sư bà chưa Xuất gia, quy y với ng ài Lương Duyên ở Từ Hiếu, nên Sư bà có chữ Trừng đồng hàng với tổ Giác Tiên. Khi phát tâm xuất gia là học trò của Tổ.

 

TIỂU SỬ
SƯ BÀ THÍCH NỮ DIỆU HUỆ

 

 

1. Những Ngày Ở Nhà: 

Thế danh:  Hồ Thị Huyên, 

Pháp danh: Trừng Diên, (1) 

Pháp tự: Diệu Huệ. 

Thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42 

Sanh năm Ất Mùi (1895). Con thứ hai của cụ Khánh Mỹ Quận công Hồ Đắc Trung. 

Chánh quán làng An Tuyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình quyền quý, nền nếp nho phong. Bà được theo đòi nghiên bút rất sớm, nên tinh thông Nho học.  

Năm Quý Sửu (1913), được 18 tuổi, vâng lời song thân lập gia đình với cụ Lễ bộ Thượng thơ Ưng Úy. Sanh hạ một trai là Nguyễn Phước Bửu Hội, sau nầy được gọi là nhà bác học Bửu Hội.

Năm Ất Hợi (1935), bà xin xuất gia nhưng tổ Giác Tiên không đồng ý. Tổ bảo ở nhà để lo việc ngoại hộ cho Phật pháp và tổ thọ ký cho giữ 10 giới với pháp tự là Diệu Huệ.

Tuy ở nhà, bà vẫn giữ trai giới tập hạnh xuất gia. Hằng ngày bà chuyên lo tụng kinh bái sám, cầu mong được bổn sư cho chính thức xuất gia càng sớm càng tốt. Bà cảm tác bài thơ như sau:

Thu Soi Bóng

 

Lác đác mùa thu mấy giọt sa,

Cụm đào soi bóng sánh cành hoa,

Trên đường tiến hóa con còn học,

Dưới gối thừa hoang mẹ chữa già.

Mến cảnh rừng thiền con bước tới,

Chán vòng hoạn lộ gở chưa ra.

Mặc ai danh lợi, ai bơi chải,

Một mối tình chung ta với ta. 

Cũng từ đó, bà tìm cách cưới hầu cho chồng để chuẩn bị xuất gia.

2. Những Ngày Trong Đạo:

Năm Mậu Tý (1948) (*), bà cùng cụ Ưng Úy ra Bắc.

Năm Nhâm Thìn (1952) (*), bà trở về Nam rồi qua Pháp thăm con là Bửu Hội. Khi về nước, vì bà đã được chính thức xuất gia sau khi đã hoàn thành một vài việc trong nhà cũng như việc ngoại hộ cho Phật pháp; bà xuất gia học Phật tại Ni viện Hồng Ân, cách tổ đình Trúc Lâm 800 mét.

Năm Ất Mùi (1955), bà được thọ Tỳ kheo Ni giới tại giới đàn Bảo Quốc.

Năm Quý Mão (1963), chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo, bà cùng sư bà Diệu Không vào Nam để tổ chức biểu tình trước dinh Độc Lập để đòi quyền bình đẳng tôn giáo.

Bà thừa lệnh đức Pháp chủ Thích Tịnh Khiết, ở lại luôn tại Sài Gòn. Bà đã tham gia tất cả các cuộc biểu tình cũng như tuyệt thực. Bà đã xin phép được tự thiêu để bảo vệ chánh pháp. Ý nguyện tự thiêu chưa thành thì chùa chiền bị phong tỏa, Tăng Ni Tín đồ bị tấn công tới tấp. Bà cũng bị bắt cũng như tất cả quý Tăng Ni Tín đồ Phật tử. Bà và đức Pháp chủ Tịnh Khiết bị giam lỏng tại bệnh viện Cộng Hòa. Tuy vậy, bà cũng có dịp nói rõ sự thật cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc, về Thư từ con  (giữa bà và giáo sư Bửu Hội).

Bức thư của bà làm chấn động trong cả ngoài nước. Vì thời gian đó, ông Bửu Hội đã bị chính quyền nhà Ngô mua chuộc. Ông Bửu Hội vì không rõ hư thực ra sao nên đã lên án Phật giáo theo luận điệu của nhà Ngô. (Vì, như vậy là ông Bửu Hội chỉ biết quyền lợi riêng chứ không nghĩ gì về Phật pháp cũng như quyền lợi của quần chúng).

Bà rất thông Hán tự từ thuở nhỏ nên đọc và học nhiều bộ Kinh Đại thừa rất cao siêu, đồng thời, bà đã được hiểu rõ một phần lớn về thâm áo những gì trong kinh đã dạy. Sau những lần tụng kinh bái sám, trì niệm kinh chú xong, bà thường cảm tác thành thơ Bài thơ Khán Kinh của bà như sau:

Vô tâm vô pháp liễu vô sanh,

Tâm pháp nhơn duyên vọng tưởng sanh,

Kiến tướng hằng khai minh giác tánh,

Vô tâm vô pháp liễu vô sanh. 

Cuối năm Ất Tỵ (1965), bà mơ thấy Địa Tạng Vương Bồ tát về đem bà đi; bà phát tâm trì tụng kinh Địa Tạng và nhờ sư huynh Mật Hiển chú nguyện đúc một pho tượng Địa Tạng. Khi tượng đã đúc xong, bà ngồi trước tôn tượng để chiêm bái và lấy làm hoan hỷ lắm; đồng thời bà vui vẻ nói: 

- Thế là đủ. Bây giờ, bất cứ giờ nào con theo ngài cũng được.

Ngày 11 tháng 12 năm ấy, bà lâm bệnh.

Ngày 14, sư huynh Mật Nguyện cho đón bà từ Ni viện Diệu Đức ra tổ đình Linh Quang.

Ngày 16, bà thưa với sư huynh Mật Nguyện để cung thỉnh Hòa thượng Thuyền Tôn và sư huynh Mật Hiển cùng chư Đại đức Tăng Ni hộ niệm cho bà.

Chư Tăng Ni đông đủ, bà hỏi:

- Đã đến giờ Ngọ chưa ?

Quý sư cô đến bên cạnh thưa:

- Dạ, vừa đúng .

Bà nằm nghiêng người, miệng niệm Phật và từ từ trút hơi thở cuối cùng một cách nhẹ nhàng .

Trong lúc nầy cả gian phòng hòa đồng:

- Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, để hộ niệm và phò chơn linh của bà đi vào cõi tịnh.

Dù xuất gia hay tại gia, cuộc đời của bà luôn luôn tận tụy với Phật pháp.

Tháp bà được xây cất về phía Tây của khuôn viên chùa Trúc Lâm.

Trước tháp bà, thiền sư Bích Phong chùa Quy Thiện có tặng câu đối:

* Chánh đạo kiêm triêu quy tảo địa,

* Phùng vinh chỉ nhật tiến trầm lung .

Ghi chú: (1) Trước khi Sư bà xuất gia dầu sư với tổ Giác Tiên, bà đã thọ tam quy ngũ giới với Thiền sư Lương Duyên ở tổ đình Từ hiếu, nên Sư bà đã có đồng chữ Trừng với Tổ.

(*) Sư bà Thích Nữ Diệu Huệ được tổ giác Tiên cho Pháp tự như xuất gia, nhưng phải ở nhà lo phần ngoại hộ cho Phật pháp. Tổ tịch từ lâu mà bà mới được chính thức là tu sĩ và Y chỉ theo hai vị sư huynh là ngài Mật Hiển và ngài Mật Nguyên. Sư bà là chị ruột của sư bà Diệu Không, nên khi xuất gia, nhập chúng tại chùa Hồng Ân do sư bà Diệu Không khai sáng và được bảo bọc về mọi mặt. Bà có công lớn một phần nào trong những ngày pháp nạn 1963.

 

TIỂU SỬ
BÁC SĨ TÂM MINH LÊ ĐÌNH THÁM
 
 

 

1. Thân Thế và Sự Nghiệp:

Bác sĩ:Lê Ðình Thám,

Pháp danh: Tâm Minh,

Tự: Châu Hải .

Sanh năm Đinh Dậu (1897) tại Quảng Nam.

Chánh quán làng Đông Mỹ (Phù Mỹ), tổng Phú Khương, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Là thứ nam của cụ Đông các Đại học sĩ sung chức bộ Thượng thơ Lê Đỉnh (triều Tự Đức) và cụ kế mẫu Phan Thị Hiếu.

Lúc nhỏ theo Nho học, thụ huấn trực tiếp với cụ Thượng thơ thân sinh ở nhà cùng với bào huynh Lê Đình Dương.

(Lê Đình Dương là nhà Cách mạng, tham gia Việt Nam Quang Phục hội cùng với cụ Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài. Phụ trách lãnh đạo phong trào Duy Tân khởi nghĩa tại Nam Ngãi. Bị bắt tại Ban Mê Thuộc năm 1926. Không chịu để bị tra tấn, không chịu tủi nhục trước công sứ thực dân Sabatier, nên đã dùng độc dược Cyanure de Mercure để tự vẫn năm 1919, thọ 26 tuổi . Ông đã tốt nghiệp Á khôi Đông Dương Y sĩ khóa đầu tiên năm 1915, tại trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương – Hà Nội).

Tuy tuổi nhỏ, cả hai vị tỏ ra thông đạt kinh sách, văn bài thi phú. Ứng đối nhanh nhẹn. Nổi tiếng là thần đồng.

Lớn lên theo Tây học. Thông minh xuất chúng nên luôn luôn dẫn đầu lớp. Được thầy yêu bạn quý từ cấp Tiểu học cho đến Đại học. Cụ đỗ Thủ khoa Đông Dương Hà Nội và Y khoa Bác sĩ ngạch Pháp quốc năm 1930 tại Y khoa Đại học đường Hà Nội.

Ra trường nhằm phong trào Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bào huynh thì bị bắt đày lên Ban Mê Thuộc. Cụ bị Pháp theo dõi gắt gao. Trong thời gian phục vụ tại bệnh viện Bình Thuận, Song Cầu, Qui Nhơn, Tuy Hòa (1915-1923), ngoài công tác chuyên môn, cụ chỉ lo học hỏi và nghiên cứu thêm Nho, Y, Lý và Số.

Năm 1926, về phụ trách Y sĩ điều trị tại bệnh viện Hội An, trong dịp viếng thăm chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn), tại Non Nước, Đà Nẵng. Khi đọc đến bài kệ sau đây, ghi chú trên vách, cụ liền chú ý đến Phật giáo:

Bồ đề bổn vô thọ,

Minh cảnh diệt phi đài,

Bổn lai vô nhứt vật,

Hà xứ nhạ trần ai ?

 Tiếp đó, cụ được tin nhà cách mạng Phan Chu Trinh từ trần ở Sài Gòn, cụ cùng một số thân hào nhân sĩ và công chức trí thức Quảng Nam tổ chức lễ truy điệu rất trọng thể và cùng thọ tang cụ Phan. Một tháng sau bị đổi đi Hà Tĩnh

Năm 1926, được về Huế làm Y sĩ trưởng tại viện bào chế và vi trùng học Pasteur; cọng tác với Bác sĩ Mormet, Giám đốc Y tế Trung Phần, đã phát minh ra Sérum Mormet, được Y giới Pháp Việt trọng vọng.

Cuối năm ấy, cụ lên Trúc Lâm thọ giáo với tổ Giác Tiên về tham nghĩa của bài kệ ở chùa Tam Thai, rồi phát tâm cùng Thượng tọa Mật Khế nghiên cứu giáo lý, học hỏi kinh điển, tụng kinh niệm Phật và phát nguyện trường trai, phát nguyện quy y, thọ Ưu bà Tắc giới và có Pháp danh Tâm Minh từ đó.

Năm 1929-1932, sau hai năm thọ giáo với Hòa thượng Phước Huệ, đồng thời chịu ảnh hưởng của cuộc trùng hưng Phật giáo Trung Hoa của ngài Thái Hư Đại sư qua sách báo Hải triều âm; cụ vâng lời Hòa thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh và Tịnh Khiết đứng ra triệu tập 18 vị đồng sự pháp lữ thảo điều lệ thành lập hội An Nam Phật Học, đặt trụ sở tại chùa Trúc Lâm, cụ làm Hội trưởng dưới sự chứng minh của quý Hòa thượng nói trên. Cụ bắt đầu thuyết pháp tại chùa Từ Quang. Giảng kinh luận tại tư thất cho một số tín hữu nhiệt tâm cầu đạo

(Thượng tọa Giải Ngạn, Thượng tọa Minh Châu, Sư bà Diệu Không, lúc nầy chưa xuất gia, đều được theo họ khóa nầy).

Năm 1933, phụ trách Y sĩ Giám đốc Bài lao Huế, cụ là một danh y uy tín nhất đế đô.

  

2. Về Phật Học:

* Khởi công trùng tu tổ đình Từ Đàm làm trụ sở Trung ương cho hội.

* Cử hành Đại lễ Phật Đản đầu tiên vô cùng trọng thể ở chùa Diệu Đế, gây ảnh hưởng lớn lao đến mọi giới.

* Chủ trương xuất bản Nguyệt san Viên Âm, cơ quan ngôn luận và truyền bá giáo lý của hội. Cụ làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của Nguyệt san.

* Thiết lập cơ sở đào tạo Tăng tài: Cấp Trung, Tiểu học tại Bảo Quốc, Pháp sư Trí Độ làm Đốc giáo.

(Quý Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Quang, Trí Tịnh, Nhật Liên, … đều xuất thân tại trường nầy).

Cất Đại học tại Tây Thiên do chính cụ trực tiếp giảng diễn về Luận học, triết Đông và Tây.

(Quý Hòa thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Nguyện, Mật Hiển, Mật Thể,… đều xuất thân từ trường nầy).

* Xúc tiến thành lập các tỉnh hội, chi hội, việc báo chí, việc Phật học viện rất bề bộn, nhưng, cụ không bao giờ xao lãng sự học, sự tu và trường sở mà cụ đã phụ trách giảng diễn giáo pháp. Cụ có một lối diễn giảng đặc biệt nên bất cứ trình độ nào, bất cứ hạng người nào cũng đều thu thập có kết quả.

Xứng đáng là một vị Pháp sư cư sĩ vừa Tông thông vừa Thuyết, khéo đưa Phật pháp ra giữa ánh sáng như đưa viên ngọc quý ra khỏi những thế tục vô minh che lấp.

Mùa đông năm Bính Tý (1936), tổ giác Tiên viên tịch . Cụ ý thức được trách nhiệm hoằng dương chánh pháp và duy trì sinh hoạt giáo hội, nên trong lời ai điếu bổn sư, cụ đã phát nguyện dõng mãnh như sau:

* Kiến tướng nguyện vọng, kiến tánh nguyên chơn, viên giác diệu tâm ninh hữu ngã,

*  Chúc pháp linh truyền, chúc sanh linh độ, thừ đương di huấn khởi vô nhơn.

Nghĩa là:

* Tướng các pháp tuy vọng, tánh các pháp vốn chơn, Hòa thượng đâu có mất còn,

*  Chánh pháp cần phải truyền, chúng sinh cần phải độ, di huấn ấy (con) xin gánh vác.

Năm 1935, để thích ứng với nhu cầu của hội, bản điều lệ của hội được điều chỉnh qua quyết định của Đại hội đồng. Một ban Tổng trị sự được thiết lập tại Huế, trực tiếp điều hành các tỉnh hội và năm nào cụ cũng được hội tín nhiệm trong chức vụ Hội trưởng hoặc cố vấn để điều hành Phật sự.

Cũng mùa Thu năm ấy, cụ dời nhà lên số 51 đường Nguyễn Hoàng (dốc Bến Ngự) để dễ dàng tiếp tục giảng kinh, viết báo, quy tụ thanh niên Phật tử trí thức thành lập đoàn thanh niên Học Phật Đức Dục. Sáng lập gia đình Phật hóa Phổ (tiền thân của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam bây giờ), nhằm duy trì đạo đức, xây dựng chánh tín cho đàn hậu thế.

Ngoài ra, sau nhiều năm kinh sách, theo gương Phật giáo Trung Hoa, cụ nghiên cứu kế hoạch, vận động phương tiện quyết tâm xây dựng nền móng vĩnh cửu cho cơ sở đào tạo Tăng tài.

 Năm 1944, cụ sắp xếp chương trình để di chuyển Phật học viện lên Kim Sơn. Thành lập Tòng lâm Kim Sơn Huế. Thời cuộc không cho phép, công tác tạm ngưng sau hai năm sinh hoạt.

Năm 1945, cuộc đảo chánh Nhật, chánh phủ Trần Trọng Kim mời giữ chức Giám đốc Y tế Trung phần kiêm Giám đốc Bệnh viện Huế.

Năm 1946, chiến cuộc bùng nổ, dân chúng Huế tản cư. Cụ đưa gia đình về lại Quảng Nam. Tham gia kháng chiến chống Pháp.

Năm 1947-1949, làm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Kháng chiến miền Nam Trung bộ tại Liên khu Năm.

Mùa hạ năm 1949, được điện mời đi Bắc, đề bạt làm Chủ tịch Phong trào Hòa bình Thế giới.

Mặc dầu tình thế đảo điên, nhân tâm điên đảo, nhưng cụ vẫn an nhiên diễn giảng, phiên dịch Phật pháp. Cuối cùng bộ Thủ Lăng Nghiêm cũng được dịch và xuất bản năm 1961 tại chùa Quán Sứ - Hà Nội.

Cụ từ trần ngày 23 tháng 04 năm 1969 (tức ngày mồng Bảy tháng Ba năm Kỷ Dậu) tại Hà Nội, hưởng thọ 73 tuổi.

 

CON NGƯỜI và TƯ TƯỞNG BÁC SĨ TÂM MINH LÊ ÐÌNH THÁM

 

Cụ Tâm Minh có nhiều tài năng. Trong những số đầu của Nguyệt san Viên âm, cụ tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M.), truyện dài (ký tên Châu Hải), chuyện hài hước (ký tên Ba Rảm), gọi đó là những: “Biệt Khai Phương Tiện”. Tuy rằng btruyện ngắn và truyện dài của cụ có nhiều ý vị, nhưng vì độc giả Viên âm muốn dành hết số trang cho Giáo lý nên đến số thứ Tư, cụ hy sinh hai mục đó và chỉ còn giữ lại mục câu chuyện khôi hài. Tức là câu chuyện của chú Cửu Giới.

Số Viên âm ra mắt đầu tiên ngày 01-12-1933.

Trên bìa Viên âm có chữ SEERBA.

Nghĩa là: Société d’Etude et d’Exercice de la Religion Bouddhique en Annam.

Nghĩa chữ: “Viên Âm là tiếng tròn. Từc tiếng hoàn toàn như chánh pháp mà đức Phật đã thuyết ra. Phật là đấng Viên giác, tự giác, giác tha, giác hạnh, viên mãn; cho nên lời nói tròn, việc làm tròn, giáo pháp tròn, tròn theo bổn tánh thanh tịnh. Tròn làm sao, trong tròn, ngoài tròn, trên tròn, dưới tròn, cùng tam giới khắp mười phương lớn nhỏ xa gần, đâu đâu cũng tròn cả.”.

Khả năng học Phật của cụ Tâm Minh có thể nhận ra các thiên khảo luận như: Kết sinh tương tục luận, và trong các bản dịch thuật và cjhú giải các kinh như Thủ lăng nghiêm. Tuy cụ làm nhiều việc trọng đại cho đạo pháp, nhưng lúc nào cũng giữ thái độ khiêm cung và sự khiêm cung nầy được trông thấy nơi một bài thơ cụ làm và đăng trong Viên âm số 17 tháng 09 năm 1935, như sau:

Bấy lâu vật vả kiếp phù trầm,

Nay đặng vào tai tiếng Phạm âm,

Tùy tiện trau dồi gương chan1h kiến,

Ứng cơ giảng giải lý duy tâm.

Ngộ mê vẫn đủ ngôn, thân, ý,

Sinh tử nguyên vì sát, đạo, dâm.

Tam bảo từ bi xin mật hộ,

Cho khi hoằng pháp khỏi mê lầm.

Có thể là cụ Tâm Minh Lê Ðình Thám đã trao truyền được chí nguyện hoằng pháp cho thế hệ đi sau. Rảnh tay về Viên âm, cụ dồn nghị lực xây dựng cơ sở cho một Phật Học Viện lớn tại Kim Sơn gọi là: Tòng Lâm Kim Sơn, để dời tất cả các lớp Phật bhọc từ Kinh đô về.

Dự án chưa thành thì Cách mạng tháng Tám xẩy ra và công việc bị đình trệ.

Cụ Tâm Minh thật xứng đáng có một chỗ đứng quan trọng trong lịch sử Phật giáo cận đại.

Cụ là người dễ mến, đầy nhiệt btình. Cụ luôn luôn được bao quanh với bạn bè. Bên cụ có những nghệ sĩ tài ba như Bửy Bác, Nguyễn Khoa Toàn (Công việc trùng tu Tổ đình Từ đàm để làm trụ sở cho hội An nam Phật học được thành tựu, phần lớn là nhờ sự có mặt của cụ Nguyễn Khoa Toàn, tượng Phật hiện đang thờ ở chánh điện Từ đàm là do cụ điệu khắc).

Cụ Tâm Minh không hề xa cách với tuổi trẻ. Cpó khi cụ hồn nhiên như trẻ con Một hôm cụ từ nhà ở số 31 đường Nguyễn Hoàng, cụ đi bộ lên Từ đàm. Dưới dốc Nam giao, cụ gặp hai đứa trẻ đánh cờ tướng bên đường. Cụ ghé mắt xem, thấy một bên đang bí nước. Cụ liền ngồi xuống và chỉ cờ cho em bé. Và, cụ ngồi chơi đánh cờ với bọn trẻ hơn một giờ đồng hồ, rồi mới đứng dậy tiếp tục lên chùa.

Có công, có lòng với Cách mạng, cụ đã thao thức muốn điều hợp học thuyết xã hội chủ nghĩa với Phật pháp và đã có công bênh vực khi Phật giáo bị đè nén ở Liên khu 5. Cũng vì vậy mà cụ bị triệu ra Bắc. Cụ ra Hà nội bằng đường mòn Hồ chi Minh, dọc theo dãy Trường sơn.

Năm 1956, cụ được gặp các Ðại biểu miền Nam tại Ðại hội Buddha Jayanti. Cụ rất phấn khởi khi nghe tin Phật giáo miền Nam.

Vì lý do đó, khi về Hà nội cụ không còn giữ được chức Chủ tịch Phong trào Hòa bình Thế giới nữa. Tuy vậy, cụ tìm đủ mọi cách để có thể xuất bản được cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm do cụ đã dày công phiên dịch và chú giải.

Ngày xuất bản kinh nầy năm 1961 tại chùa Quán sứ, chắc chắn là một ngày vui và một niềm an ủi lớn cho cụ.

Là vị đệ tử tại gia xuất sắc nhất của tổ Giác Tiên. Bác sĩ Tâm Minh Lê Ðình Thám là một người có tư chất cực kỳ thông minh và trái tim đầy nhiệt tình.

Bước đầu gặp Phật pháp bài kệ của tổ Huệ Năng được viết trên vách ở chùa Tam Thai, đã gây một ấn tượng sâu trong tâm não.

Tuy thế, mãi đến khi về làm việc tại bệnh viện Huế, một gặp được một người giải thích cho cụ một cách thỏa đáng về bài kệ. Người đó là tổ Giác Tiên.

Thấy được diệu lý của bài kệ, phát tâm quy y Tam bảo, bái nhận và tôn thờ Thiền sư Giác Tiên làm thầy.

(VNPGSL của Giáo sư Nguyễn Lang - quyển 3)

 

Tổ Ðình Từ-Ðàm Hải Ngoại
 

Tổ Ðình Từ-Ðàm Hải Ngoại, tại thành phố Irving, thuộc quận Dallas, tiểu bang Texas, được tạo dựng và tổ chức cùng vấn đề truyền bá chánh pháp dựa trên nhiều ý nghĩa, mang một sắc thái đặc biệt. 

            Những ý nghĩa đó là: Tính chất dân tộc, tông phái truyền thừa, sự phát sinh, phát triển và đóng góp trong công việc xây dựng tín ngưỡng, phát huy văn hoá, tinh thần dân tộc trong cộng đồng người Việt tại Hoa-Kỳ.

             Trước hết, sự phát sinh và phát triển của ngôi tổ đình Từ Ðàm Hải Ngoại này là đáp ứng với nhu cầu tín đồ ngày một trở nên đông đúc, sắc thái ngày một trở nên đa dạng.

             Theo tài liệu lịch sử, Phật-Giáo được truyền bá sang Hoa-Kỳ kể từ năm 1839, khi lớp người di dân Châu Á đầu tiên đến Hạ Uy Di; và từ đó đến nay, đã có nhiều hệ phái Phật-Giáo được phát triển.  Theo tài liệu của giáo sư Charles S. Prebish, thuộc Ðại Học Ðường Pennsylvania, trong cuốn American Buddhism, tính đến nay, đã có trên 40 tổ chức Phật-Giáo, thuộc nhiều hệ phái khác nhau.  Ảnh hưởng mạnh mẻ nhất là: Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông, Nhật Liên Tông, Mật Tông, Thiên Thai Tông…

             Hoa-Kỳ là một quốc gia Hiệp Chủng Quốc, đa dạng, thì Phật-Giáo cũng cần đáp ứng nhu cầu đó.

             Phật-Giáo Việt-Nam du nhập vào Hoa-Kỳ cũng có cơ sở từ năm 1975, khi lớp người Việt ty nạn bỏ nước ra đi tìm tự do.

             Theo những tài liệu gần đây, đã có trên 212 vị Tăng Ni và cũng trên 199 ngôi chùa, phật học viện, tu viện, tổ đình…, lớn nhỏ xây dựng trên xứ người.

             Những ngôi chùa nầy đều lấy tự hiệu của ngôi đại tự ở Việt-Nam như: Từ-Ðàm, Cổ Lâm, Bảo Tịnh, Vĩnh Nghiêm,…; hoặc đạo hiệu của các bậc Cao Tăng như: Khánh-Anh, Liễu-Quán, Huệ-Quang, Khuôn-Việt, Vạn-Hạnh,… Mục đích là: Bảo tồn truyền thống đạo pháp, gợi lại những hình ảnh của quê hương yêu dấu. 

            Trên đất Hoa-Kỳ, kể từ năm 1893, khi đại hội tôn giáo thế giới họp tại Chicago, thì ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là của hai ngài: Dharmapala và Soyen Shaku.

             Ngài Dharmapala theo Tiểu Thừa Giáo, lập ra chi nhánh của hội Ma Ha Bồ Ðề; nhưng hội nầy về sau lại biến thành trụ sở của Thông Thiên Học, nghiên cứu đủ loại các tôn giáo trên toàn cầu, kể cả: Thiên Chúa Giáo, Bà La Môn Giáo.

             Còn ngài D.T. Suzuki phát triển thiền tông, đến nay đã trở thành sức mạnh tinh thần lớn nhất của Phật-Giáo tại Hoa-Kỳ.

             Thiền Lâm-Tế của ngài dựa trên những yếu lý của ngài Bạch-Ấn Huệ-Hạc, cho nên rất được phổ biến trong đại chúng.  Hơn nữa, theo nhận định của ngài Nyogen Senzaki, thì thiền Lâm-Tế rất thích hợp với triết lý thực dụng của xã hội Mỹ.

             Vì những tính chất đặc thù trên đây, Tổ-Ðình Từ-Ðàm Hải-Ngoại đã được hình thành để duy trì những giá trị truyền thống, lịch sử và thích nghi với xã hội mới, với nhu cầu Phật-Giáo Việt-Nam.

             Ðiều làm cho chúng ta nên biết là Tổ-Ðình Từ-Ðàm Hải-Ngoại có mặt tại xã hội mới này đúng vào lúc 18 giờ 00’, ngày 22-08-1983 (tức là ngày 14 tháng 07 năm Quý-Hợi); nhưng, thực sự hoạt động với tín đồ và quãng đại quần chúng thì đúng là lúc 11 giờ 00’, ngày Rằm tháng 11 năm Quý-Hợi (tức là 20-12-1983).

             Ðặc biệt là khi nghe thành lập Tổ-Ðình Từ-Ðàm Hải-Ngoại tại nơi đây, thì hầu hết tín đồ con Phật khắp cả ba miền đang rải rác khắp nơi trên thế giới đều hoan nghênh và tiếp tay ủng hộ dưới mọi hình thức.

             Chỉ vỏn vẹn chưa đầy ba tháng mà ngôi tổ đình được khang trang và uy nghi từ trong chánh điện thờ Phật đến hậu tổ cùng nơi tôn trí chư hương linh quá vãn được ký tự.

             Hy vọng với tinh thần bảo vệ và hoằng truyền chánh pháp nơi xứ lạ quê người của hàng Phật-Tử các giới; ngôi Tổ-Ðình Từ-Ðàm Hải-Ngoại sẽ được xây cất y như Tổ Ðình Từ Ðàm tại Cố Ðô Huế.

             Và lúc ấy, ngôi tổ đình sẽ được tiến thêm một bước nữa; đồng thời, cũng hy vọng là được đóng góp thêm một nét son vào công cuộc phát huy Ðạo Pháp của giới Phật-Tử ly hương.

 

Ðiều ngự tử Tín Nghĩa
615 N. Gilbert  Road
Irving, Texas 75061 - 6240
* USA *
Tel: 972-986-1019
http://www.tudamhaingoai.org/

 

 

CÁC BÀI THƠ THIỀN

 

Ghi chú: Những bài thơ thiền của Trúc Lâm Pháp phái, những bài đầu là của Tổ. Có chữ Nho. Ở đây chúng tôi chỉ ghi Âm và Dịch hai thề: Tứ tuyệt và Lục bát. Những bài kế, dưới bài có đề tên tác giả 

Bài thứ nhất:

Âm:

Tứ bích tiêu sơ tế vũ nan,

Tùng phong thôi xúc lậu tăng hàn,

Bồ lan tâm ý hoành thu sắc,

Thức đắc lô trung cá đẳng nhàn.

Dịch:

Bốn vách tiêu sơ khó ngăn mưa,

Gió tùng thấm lọt mãnh y thưa,

Bồ đoàn quyết ý thu tâm tưởng,

Biết được trong lư: mặt mũi xưa.

Lục bát:

Mưa bay bốn vách khó ngăn,

Gió tùng thấm lọt, bần tăng lạnh vừa.

Bồ đoàn tâm ý tóm thu,

Trong lư: mặt, mũi ngày xưa hiện hình.

 

Bài thứ hai:

Âm:

Giác mộng tàn tinh điểm bán không,

Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung,

Sơ minh nguyệt sắc tà lan ý,

Ấn nhập thiền tâm tiêu tức trung.

Dịch:

Tỉnh mộng tàn canh thấy tánh không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tung,

Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,

Ấn nhập thiền tâm, tiêu tức trung.

 

Lục bát:

Tàn canh thấy mộng trống không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tông (tích) loài.

Vầng trăng chiếu rọi hiên ngoài,

Thiền tăng chứng nhập, trong ngoài tiêu tan.

Bài thứ ba:

Âm:

Trúc viện hàn mai đới vũ phi,

Khinh sam dung dị thái vô tri,

Tâm hoa, dạ điểu tiêu nhàn nhựt,

Vong khước tiền trần lại cánh y.

Dịch:

Viện trúc đêm đông lạnh cánh mai,

Nhẹ mang cánh áo sắc màu phai,

Tâm nghe chim hót, hoa tin tức,

Quên mất tình trần ngày vắng dài.

Lục bát:

Đêm đông giá lạnh trúc, mai,

Nhẹ mang cánh áo, sắc phai lâu rồi.

Tâm nghe chim hót, hoa cười,

Tình trần phủi sạch, vắng dài mà chi.

 

 

Bài thứ tư:

Âm:

Sơ lâm vũ quá tịch dương thì,

Khe bạn hoành tương trúc địch xuy,

Nhứt khúc tự ngu sơn thủy lục,

Thử tình bất dự bạch vân tri.

Dịch:

Rừng thưa đêm vắng gió mưa bay,

Yến vãn bên khe, trúc thổi hay,

Khúc nhạc thiên thu nghe tự đủ,

Tình nầy chẳng ngại đám mây bay.

Lục bát:

Rừng thưa đêm vắng, mây bay,

Nghe chim yến hót, trúc gài am mây.

Thiên thu khúc nhạc đủ đầy,

Mây bay chẳng ngại, tình nầy quản chi.

 

*

  *  *

Trúc Lâm Vịnh

 

Trúc Lâm phong cảnh tối thâm u,

Ẩn tại sơn trung, thiểu lộ du,

Nguyệt chiếu, phong suy, thân bất động,

Vân lai, vũ khứ, thể vô thù.

Đầu đầu thủy địa, tâm phương dẫn,

Tiết tiết không tâm, chỉ hướng tu.

Quán trúc tri nhơn, nhơn thị trúc,

Trúc nhơn phi dị, lưỡng tương phù.

Đại thần Hồ Đắc Trung

Dịch:

Trúc Lâm phong cảnh thật thâm u,

Ẩn tại trong non, khách thiểu du,

Trăng rọi, gió lay, tâm chẳng động,

Mây đi, nước đến, thể không thù.

Đầu cành sát đất, tìm phương dẫn,

Giữa đốt không tâm, chỉ hướng tu.

Thấy trúc biết người, người tựa trúc,

Trúc người không khác, cảnh tương phù.

Sư bà Diệu Không dịch

 

 

 

Nhìn Trăng

 

Đêm qua trăng sáng cả rừng Thông (*),

Thử hỏi tại sao nay lại không?

Hay bởi đám mây làm chướng ngại!

Để người trường dạ luống ngồi trông?

 

Sư bà Thích Nữ Diệu Không

Họa nguyên vận

 

Nhìn trăng trực nhận thể viên thông,

Vạn pháp không ngoài lý diệu không,

Ai dám bảo rằng không với có?

Có, không, không, có: bởi người trông.

Hòa thượng Thích Mật Hiển

 

Ghi chú: (*) Thông: là Pháp tự của tổ Giác Tiên. Khi tổ tịch, đệ tử tứ chúng xây tháp thờ ngài. Trong lúc Ht. Mật Hiển là bổn sư của chúng tôi, cùng sư bà Diệu Không đứng ra trông coi. Sư bà xúc cảm, nhớ đến sư phụ là tổ, liền ứng khẩu thành thơ nhìn trăng không còn chiếu trong vườn thông nữa. Vì ngài đã viên tịch rồi. Bổn sư của chúng tôi nhận thấy bài thơ hay nhưng chưa thoát ra khỏi vọng ý tình trần của thế gian pháp, nên ngài họa theo nguyên vận, nhưng ý là của Bát nhã tâm kinh tức là bài dưới. Ý nói còn thầy hay không còn thầy thì cứ y giáo pháp mà tu. Giống như đức “Phật dạy: Sau khi ta diệt độ, các ngươi cứ y theo Ba La Đề Mộc Xoa mà hành trì thì cũng giống như Ta còn tại thế không khác.”.

 

  *

 * *

 

 

  NGHE CHUÔNG

 

Trăng mới mọc sau khi trời vừa tạnh,

Ngoài kia văng vẳng tiếng chuông đưa,

Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng,

Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa?

Thiền sư Mật Thể

 

*

*  *

 

LIỄU NHIÊN KỆ

  Tín Nghĩa

Ngã thân thiền môn tại,

Ngã nguyện cực lạc quy,

Dục đắc niết bàn lộ,

Nhất hướng niệm vô vi.

 

Dịch:

 

Thân tôi nương náu cửa thiền,

Tâm tôi nguyện hướng về miền lạc bang,

Muốn cho thẳng đến niết bàn,

Một lòng nguyện hướng con đường vô vi.

 

*

*  *

 

Từ Đàm Hải Ngoại Cảm Tác

Tín Nghĩa

Tổ ấn trùng quang diệu pháp khai,

Đình tiền hiển hiện Quán Âm đài,

Từ năng tế độ: thiên thu bệnh,

Đàm xuất tiêu trừ: vạn kiếp tai,

Hải nội đạo tràng: tuyên mật ngữ,

Ngoại viên thiền viện: phụng Như lai.

Cảm tương tăng lữ nan tư nghị,

Tác hóa quần sanh tuyệt bất nhai.

 

*

* *

 

Liễu Đạo

Tín Nghĩa

Tín tự chơn tâm, tín vô vi,

Nghĩa duyên Phật pháp, nghĩa từ bi,

Thiền môn tịnh khiết, tâm vô lụy,

Sư đệ đồng tâm, Phật chứng tri.

Dịch:

 

Tín tận cõi lòng, tín vô vi,

Nghĩa nương Phật pháp, nghĩa từ bi,

Thiền môn sáng sạch, tâm chẳng lụy,

Tứ chúng cùng tu, Phật chứng tri.

 

 

TU

Tu là tu,

Là phát tâm hướng Phật,

Là phát tâm hướng đến cả muôn loài,

Là phát tâm tu niệm suốt cuộc đời,

Là phát nguyện cho một ngày về bờ giác.

Tu như thế mới mong ngày giải thoát,

Trong hiện đời an lạc với chính ta,

Dù thân nầy còn nương náu Ta bà,

Tâm tự tại như đang là tịnh độ.

Tu như thế mới với đi sầu khổ,

Đã tự tu là chính mình tự độ,

Niết bàn đâu mà tìm mãi bên ngoài?

Không vướng tục tức là tiên cảnh,

Đã xa trần ấy thế bồng lai.

Tự mình gắng lấy ai ơi! 

Trọng hạ Kỷ mão – 1999 

Khuyến Tấn

 

 Bạn nói vừa đủ nghe,

Để mọi người theo về,

Trong phút giây tỉnh thức,

Và thoát khỏi bờ mê. 

Trọng Xuân Đinh sửu  - 1997

---o0o---


Chân thành cảm ơn HT Tín Nghĩa đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này
nhân dịp HT về dự lễ Khánh Thành Tu Viện Quảng Đức, 12-10-2003 (T. Nguyên Tạng)
---o0o---

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-12-2003

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Nhân Vật PGVN

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com