Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .


 

 

GIA TÀI THẦY ÐỂ LẠI
( Tưởng niệm HT. Thích Thiện Siêu)

Nguyên Vương – Nguyên Anh
---o0o---

 
 

Sư đệ Nguyên Anh và tôi là những người hay bị Thầy la nhất vì hay sơ suất trong những công việc thầy giao, nhưng cũng là người may mắn nhất vì được ở cạnh Thầy một thời gian khá lâu. Tính tình mỗi người Thầy đều biết rõ. Tình Thầy trò vì thế không có gì phải ân hận sau ngày Thầy vĩnh viễn ra đi. Chỉ tiếc rằng Thầy không còn trụ thế lâu hơn để dạy dỗ cho Tăng Ni và hướng dẫn cho Phật tử trên bước đường học đạo.

Ðối với lớp đệ tử chúng tôi, Thầy ít khi nói về bản thân và gia đình cũng như lớp dự bị xuất gia với Thầy trước chúng tôi. Sau ngày Thầy viên tịch, sư đệ Nguyên Anh, tôi cùng đạo hữu Võ Trọng Thưởng  có về quê Thầy để thăm lại ngôi nhà thờ song thân của Thầy. Nhưng cảnh đìu hiu của làng quê sau bao năm chiến tranh chưa hồi phục, khiến chúng tôi không khỏi chạnh lòng và một hồi lâu thì cả ba chúng tôi vào thắp hương tưởng niệm nơi ngôi từ đường mà Thầy đã cất tiếng chào đời, như để cám ơn một dòng họ và làng quê giàu lòng nhân ái vì đã sản sinh ra một bậc Long tượng cho Phật giáo đất Thần kinh.

Trong cuộc sống đạm bạc và phạm hạnh của Thầy, thăng trầm thế sự đôi lúc cũng có tác động đến Phật sự. Khi còn là Sa-di, Thầy đã được Hòa thượng Trí Ðộ là Ðốc giáo rất thương và cưng chìu nhất, vì Thầy được tiếng là chú tiểu thông minh, chăm chỉ, chịu thương chịu khó. Có lẽ vì thế mà mới 26 tuổi Thầy đã được Hội cử làm Trú trì chùa Từ Ðàm thời bấy giờ. Nói là Trú trì, nhưng thực chất là trông coi chùa cho Hội vì Trú trì chùa Từ Ðàm từ trước tới nay vốn dĩ là thuộc về Hội. Mọi việc lớn nhỏ đều thông qua Hội, đó là điều rất đặc biệt, rất hãnh diện nhưng cũng rất khó đối với một vị Trú trì tuổi đời tuổi đạo như Thầy có lẽ chưa tương ứng với tầm cỡ của ngôi Tổ đình gần 400 năm. Lại nữa, các cụ trong Hội là người bề trên, là Thầy dạy của Thầy nên cũng rất khó cho Thầy điều hành nếu không phải là một chữ nhẫn thật lớn. Có lần Thầy kể: Trú trì một ngôi Tổ đình như Thầy không có mấy đồng xu dính túi. Ngày 30 tết đợi khi chợ hoa sắp tàn mới đạp xe đi mua, nếu bông trái rẻ thì mua một ít về cắm để cúng Phật. Lỡ bông trái họ bán đắc thì đành đạp xe về.

 Trú trì cũng lắm nỗi gian truân. Thời ấy, mọi người rất khổ cực vì chiến tranh, cuộc sống không ổn định nên dân chúng rất vất vả. Nhà chùa, cuộc sống chư Tăng lại càng vất vả hơn. Nói là Trú trì Tổ đình nghe có cũng oai lắm  nhưng Tăng chúng thì chỉ vài người: trong chùa, ngoài Thầy và một số thầy khác ra thì còn có hai chú, là chú Thiện Giải và chú Thiện Lộc. Cả hai là em ruột và em chú bác. Sau này, thầy Thiện Lộc ở lại làm Tri sự phụ tá cho Thầy để Thầy du phương giáo hóa. Còn thầy Thiện Giải phải rời xa Từ Ðàm để đi vào các tỉnh Trung Trung bộ nhận Phật sự mới. Như vậy thầy Thiện Lộc là tri sự lâu nhất ở chùa Từ Ðàm. Nhờ có thầy Thiện Lộc trông coi chùa nên Thầy yên tâm làm Phật sự phương xa. Rất tiếc thầy Thiện Lộc mất quá sớm ở tuổi 58. Sư đệ Hải Ấn đang ở chùa Báo Quốc là đệ tử trực tiếp được Thầy gọi lên thay thế trong vai trò tri sự cho đến ngày Thầy viên tịch.

Hồi tưởng lại những năm tháng sống cạnh Thầy, huynh đệ chúng tôi có duyên may được Thầy dạy dỗ từ việc nhỏ đến việc lớn. Trong những bữa cơm chiều hoặc khi rảnh rỗi, Thầy thường hay kể chuyện cho cả chúng nghe. Các câu chuyện Thầy kể đều có ngụ ý giáo dục cách này hay cách khác. Có hôm Thầy kể chuyện lớp học của Thầy ngày xưa: Khi còn là học Tăng của An Nam Phật Học Hội, Thầy học với Hòa thượng Trí Ðộ, 8 giờ một ngày với các môn Kinh, Luật, Luận toàn bằng chữ Hán. Hòa thượng Trí Ðộ là người cưu mang dạy dỗ gần 10 năm trời cho cả lớp học. Hòa thượng là bậc Thầy dạy học nghiêm túc nhưng cũng rất nghiêm khắc ! Có lần Thầy kể: Một hôm, có một học Tăng tìm đâu ra quyển tiểu thuyết phóng sự: Tôi kéo xe của Vũ Trọng Phụng đem vào lớp đọc nhưng bị Thầy bắt được và cả lớp đều bị phạt quì theo. Thầy giáo giới gần cả tiếng và kể từ đó, chả ai dám đem sách ngoài đời vào lớp nữa. Học là vậy, nhưng ăn, giải trí, áo mặc thì sao? Ăn theo sự phân phối vì hồi đó chùa còn nghèo. Trưa tối sáng chiều có gì ăn nấy, nhưng đa số thì không được no. Giải trí thì chỉ một vài trò chơi đơn giản như ù mọi và đánh bi. Mặc thì một năm được các nữ Phật tử may cho một người hai bộ áo quần bằng vải to. Vải to là một loại vải người Tàu dệt sợi rất thô và nhiều hồ nên khi mặc rất nặng. Cuộc sống, học tập, tu hành như vậy ngày này qua ngày khác, gần 10 năm mà cả lớp đều vượt qua được. Cuộc sống học Tăng thời ấy so với học Tăng bây giờ thì khác một trời một vực. Bây giờ có điện, chứ ngày xưa học bằng dầu mù u khói xông lên ngẹt cả mũi. Ngày xưa làm gì có Ti-vi, xe Honda và Thầy kết luận: Tóm lại là các Thầy cô bây giờ sướng hơn trước nhiều.

Hôm khác, Thầy đem xuống cho một hộp bánh của đạo hữu vừa mới cúng cho Thầy, Thầy nói: cả chùa Từ Ðàm chỉ có chỗ cửa sổ của Hải Ấn là có gió mát nhất, rồi Thầy ngồi rất lâu và kể chuyện: Hồi thời Nhật đánh Pháp, học Tăng phải tản cư. Thầy  Minh Châu đưa học Tăng ra ngoài Thế Chí, mùa đông vừa đói vừa lạnh, thầy Minh Châu vấn thuốc lá to bằng ngón tay hút cho đỡ lạnh, nhưng sau đó thầy quyết tâm bỏ thuốc kể cũng lạ. Nghĩ lại chuyện cũ mà thấy ớn lạnh. Bom đạn tụi Pháp nó trút như mưa. Mạnh ai nấy lo thân. Tôi và thầy Minh Châu ở Thế Chí một thời gian coi bộ không yên, nên anh em bàn với nhau trở lui về Huế. Nhưng về cách nào? Thầy Minh Châu xung phong đi tiền trạm coi có yên ổn thì mới đưa học Tăng về Huế. Và sau lần tiền trạm đó, Thầy quyết định đưa học Tăng về Huế. Trên đường trở về phải thuê đò. Ðò thì phải đi đêm vì sợ máy bay Pháp tấn công. Có hôm phải thay đò, gặp cụ Ưng bình Thúc giạ thị cũng đi đò. Mấy đồn bót của Tây từ hai bên bờ bắn ra và la chí chóe, sợ quá, Cụ nói chủ đò cho đò ghé vô. Hai người nói tiếng Pháp và giải thích một hồi nó mới cho đi. Ði được một hồi thì lại bị ách lại...; khổ, sợ lại thêm đói, lạnh, thế rồi cũng vào được Huế. Khi vào được vùng Huế, Thầy phải đi tản bộ về làng để chờ bắt liên lạc và nghe ngóng động tĩnh ở các chùa ra sao, coi có yên thì mới về. Thầy Minh Châu lại xung phong đi mở đường. Một vài ngày sau thầy nói có thể về được. Trên đường đi bộ về Thuyền Tôn, đồn Pháp cứ chĩa mũi súng ra la oai oái, thầy Minh Châu lại phải giải thích, nó cho qua và sau mới về được Thuyền Tôn. Thật hú hồn. Cái sống cái chết coi như có số. Nghĩ lại, tôi rất thương thầy Minh Châu.

*

Bình sanh, Thầy là người ưa đọc sách. Những sách gì đã vào tay Thầy dù hay dù dở bao giờ Thầy cũng coi hết. Khi có đoạn nào hay thì Thầy ghi lại trong sổ tay. Cho đến nay, sư đệ Nguyên Anh còn giữ lại 5 quyển sổ tay của Thầy ghi, chữ chi chít, Hán có, Việt có. Chúng tôi là đệ tử, từ xa về thăm Thầy, gặp lúc Thầy đang đọc sách, dịch kinh thì chỉ cúi chào và lui xuống. Những lúc ấy Thầy chỉ ngước mắt nhìn và ngúc một cái rồi lại tiếp tục đọc, mọi việc diễn ra xung quanh coi như không có. Có lần, một vài vị khách đến hầu Thầy, gặp lúc Thầy đang xem sách và đang tra cứu các điển tích, khi họ chào Thầy, Thầy chỉ chào lại bằng cái ngúc, rồi chú tâm vào sách vở. Có người nói Thầy là người lạnh nhạt, nhưng thật ra, huynh đệ chúng tôi lúc đầu chưa biết ý Thầy cũng có cảm tưởng hụt hẩn ấy. Sau này biết ra rằng, lúc đã đọc kinh sách thì Thầy thường không để ý cảnh chung quanh. Thầy kể: Các Thầy họ hay đến thăm tôi, gặp lúc đang đọc hay tra cứu, lúc ấy, lòng tôi không yên, phải tìm cho ra để khỏi vướn bận trong lòng. Vì họ là người quen, nên tôi nghĩ chắc cũng chỉ là chuyện thăm bình thường, nên tôi chỉ ngúc một cái rồi tiếp tục tra cứu tiếp, có nhiều vị không hiểu đâm ra buồn, nói tôi là người lạnh nhạt. Nhưng tôi có cái tật hễ đã đọc kinh sách là như nhập tâm, không rời xa nó được, nên có người cho tôi là con mọt sách. Ðối với kinh sách thì Thầy rất quí. Có sách gì mới xuất bản nghe hay là Thầy cho người đi tìm mua ngay cho dù ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội.

Có hôm từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm, ban đầu ra gặp Thầy, chào Thầy, Thầy ngước lên gật đầu rồi tiếp tục đọc. Sau đó, biết ý, tôi đi mua một chồng sách mới xuất bản về chuyện cổ tích Hy Lạp, tôi chào Thầy và để ngay chồng sách ấy lên bàn và nhẹ nhàng cúi đầu chào rồi rút lui. Trưa ăn cơm, Thầy hỏi chuyện ở thành phố Hồ Chí Minh. Chiều ngủ dậy, Thầy ra ngồi ở bàn sách, dở từng cuốn ra coi và thế là Thầy nằm đọc luôn cho đến chiều, tới giờ cơm mới xuống và lúc ấy Thầy vui vẻ nói chuyện cùng cả đại chúng. Thế cho biết, hễ có sách là như có chất men kích thích và Thầy như là con ong hút mật bao giờ hết mật (hết sách) thì thôi.

Sư đệ Nguyên Anh là người thích văn hóa và rất quí trọng sách vở. Biết Thầy là người yêu sách và quí sách nên huynh đệ chúng tôi bàn cách sưu tập lời giảng của Thầy thành sách và đóng từng tập đem lên Thầy xem và xin Thầy một tựa đề. Thầy nghĩ một lát và nói: Trí Ðức Văn Lục được không? Chúng tôi dạ. Từ đó, bao nhiêu bài giảng, bài viết, chúng tôi đều sưu tập lại thành bộ Trí Ðức Văn Lục, được 9 tập. Tuy qúy sách vở nhưng Thầy thích đọc hơn là dịch. Vì thế khi một bộ sách của Thầy xuất bản bao giờ cũng có nhân duyên của nó, ngoại trừ 2 tập đã ra trước đây là Trường A-hàm và Pháp Cú, lúc ấy chúng tôi không được ở bên Thầy, các cuốn còn lại đều do huynh đệ chúng tôi sưu tập và một số đã cho ra mắt độc giả. Sư đệ Nguyên Anh và tôi có cái thuận lợi, mỗi khi đề xuất in ấn sách thì Thầy hoan hỷ ngay. Cọng thêm sự ủng hộ của một số sư đệ như: Hải Liên,  Minh Thông, Kiên Tuệ ..., nên cũng coi như Ðồng thanh tương ứng, trong việc xuất bản. Trong các tác phẩm, dù dịch hay tuyển tập của Thầy đã xuất bản, đều có những kỷ niệm mang đậm dấu ấn của thời gian và không gian của nó.

1. Cuốn Vô ngã là Niết-bàn – 1990 (tuyển tập). Cuốn này gồm một số bài giảng sau 1975 tại các Phật học viện và các bài giảng tại trường Cao cấp Phật học. Sau khi ghi lại và đưa Thầy đọc, Thầy đồng ý. Thầy Chơn Thiện và tôi xem lại các bài lần cuối để in vì Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam là cơ quan chịu trách nhiệm in ấn. Thế là sách được hình thành. Cuốn này thầy Hải Ấn, Quang Nhuận, Minh Thông và Ni sư Trí Hải có đóng góp một phần cho sự hình thành một số bài Thầy giảng. Tựa cuốn sách mới đầu  lấy tên Vô Ngã và Niết Bàn và Thầy đã sửa lại Vô Ngã là Niết Bàn. Sách ra đời được nhiều người hoan nghênh và tái bản nhiều lần để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc.

2. Cuốn Tỏa ánh Từ Quang – 1992. Ðây là bài giảng của Thầy cho các Tăng Ni sinh ở các Phật học viện miền Trung. Sư đệ Nguyên Anh và tôi thưa Thầy xin in để cho lớp trẻ Gia đình Phật tử có tài liệu đọc thêm. Ảnh bìa thì do sư đệ Nguyên Anh chụp ở liêu chùa Từ Hiếu. Khi bản thảo được sưu tập đầy đủ, đưa Thầy xem lại, Thầy hỏi: nên lấy tựa đề gì? Và cuối cùng Thầy nói: thôi lấy đề Tỏa ánh từ quang. Thầy quay qua hỏi thầy Giác Quang lúc đó cũng có mặt, đề như vậy có được không? Thầy Giác Quang và chư huynh đệ thưa: Thưa Ôn, đề hay quá. Thế là Thầy đã quyết định và sách được in. Cuốn sách này sau đó đã tái bản nhiều lần và nay đã hết.

3. Cuốn Câu Xá luận Ðại cương – 1978. Cuốn này Thầy soạn để giảng cho Tăng sinh Viện Cao đẳng Phật học Hải Ðức - Nha Trang. Sau này Thầy tiếp tục giảng cho Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin phép Thầy in thành sách. Thế là sách được in.

4. Thành Duy thức luận – 1995. Ðây là bộ luận được dịch khi Thầy vào ở Nha Trang. Nguyên do là khi ở Huế, lúc khai giảng trường Trung cấp Phật học ở Thừa Thiên thì có sự cố. Thầy bị một số người quấy nhiễu nên phải bỏ Huế để vào tịnh cư Nha Trang. Khi Thầy dịch bộ Thành Duy Thức này xong, chúng tôi xin in và Thầy đồng ý.

5. Lối vào Nhân Minh học – 1995. Ðây là tập hợp các bài Thầy soạn để dạy cho Trường Cao cấp Phật học ở thành phố Hồ Chí Minh. Khi Thầy dạy xong, theo yêu cầu của chư Tăng Ni và các học giả trí thức Phật giáo muốn có thêm tài liệu để nghiên cứu, nên Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam gợi ý xin in và Thầy đã đồng ý cho in.

6. Kinh Pháp hoa giữa các kinh điển Ðại thừa – 1997. Ðây là tuyển tập các bài do Thầy giảng về kinh Pháp Hoa cho Tăng Ni và các đạo tràng ở Huế, Sài Gòn. Chúng tôi ghi lại đưa Thầy xem, Thầy coi xong và đồng ý. Thầy dặn thêm: nên đưa một số bài Thầy đã viết và đã đăng trong các báo Phật giáo để in cho nội dung sách được phong phú.

7. Ngũ uẩn vô ngã – 1997. Là tập hợp các bài Thầy giảng cho Tăng Ni sinh tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Sách được tuyển đưa Thầy xem và Thầy đã cho phép in thành sách để đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu cho Tăng Ni sinh các trường Trung cấp, Cao cấp và các Học viện cũng như giới trí thức Phật giáo.

8. Bộ Luận Ðại Trí độ – 1997-2001. Sau khi đọc một số dịch giả dịch Trí độ luận ra tiếng Việt, Thầy quyết định dịch, vì các bản dịch trước có nhiều chỗ Thầy không đồng ý. Khởi đầu dịch năm 1997, Thầy dự định dịch mỗi năm 1 cuốn. Dịch xong cuốn nào in cuốn đó. Và đã in được 3 tập thì Thầy phát bịnh. Tuy nhiên, với quyết tâm và sự thỉnh cầu của chư huynh đệ nên Thầy đã cố gắng dịch. Dịch đến cuốn thứ 5 thì bịnh tái phát nặng. Sách được in trọn bộ 5 tập từ năm 1997 đến năm 2001. Ðây là bộ sách thứ hai mà Thầy  ưng ý nhất vì dịch trọn vẹn. Cuốn  trước là Pháp Cú.

9. Cuốn Trung Luận – 2001. Duyên khởi là sau khi đọc các bản Việt dịch về Trung Luận của một số Tôn đức, Tăng Ni, Thầy không vừa ý nên chư huynh đệ chúng tôi tranh thủ thời cơ xin Thầy dịch lại cho bộ này. Trước mắt huynh đệ chúng tôi thấy khó được Thầy chấp nhận vì sức đã cạn kiệt; tuy nhiên, còn nước còn tát, sư đệ Nguyên Anh và tôi phải tác động thêm, bằng cách gởi thư điện tử cho giáo sư Cao Huy Thuần ở Pháp và Phật tử Thái Kim Lan ở Ðức để nhờ hai vị thỉnh Thầy dịch, vì hai vị này rất được Thầy thương và mến, may ra có khi Thầy đồng ý . Huynh đệ chúng tôi biết rằng hiện ngoài Thầy và một số ít chư Tôn đức cùng lớp với Thầy ra, thì chưa thể có ai đủ sức để dịch bộ này. Thế là người trong kẻ ngoài quyết tâm thỉnh Thầy dịch. Khi biết Thầy đã thuận ý, chúng tôi đã viết thư cho Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đang ở Mỹ, email cho bản dịch của thầy Viên Lý để Thầy coi lại bản dịch ấy. Cuối cùng Thầy đã dịch bộ này cho đến khi hoàn tất thì Thầy viên tịch. Ở đây chúng tôi xin cám ơn Giáo sư Cao Huy Thuần, Thái Kim Lan và Giáo sư Hồng Dương Nguyễn Văn Hai đã viết thư thỉnh cầu và cung cấp thêm tài liệu để Thầy hoàn thành cuốn Trung Luận này. Chúng tôi cũng cám ơn chư huynh đệ xa gần đã vì Thầy mà hầu hạ chăm sóc sức khỏe cho đến ngày Thầy ra đi vĩnh viễn. Cuốn Trung Luận này là cuốn sách cuối cùng của Thầy được in và đã cúng dường nhân ngày chung thất của Thầy.

10. Cuốn Chữ nghiệp trong đạo Phật – 2002. Ðây là tuyển tập các bài giảng của Thầy đã đăng ở các báo Phật giáo, nay được tuyển tập để in thành sách. Khi Thầy còn ở thành phố Hồ Chí Minh, chư huynh đệ chúng tôi cũng đã đem bản thảo cho Thầy xem và Thầy đã sửa một số bài. Sau đó các sư đệ Nguyên Anh, Minh Thông và Kiên Tuệ đã đọc và sửa lỗi chính tả, cuối cùng trao lại cho chúng tôi để in thành sách. Ðây có thể là tập cuối cùng có Thầy chứng minh và đích thân bút phê trong bản thảo. Mỗi lần ra được một cuốn sách đem trình Thầy coi, Thầy rất vui.

Với huynh đệ chúng tôi, những sách Thầy để lại cũng như các băng giảng đã được sưu tập là gia tài vô cùng quí giá mà Thầy đã để lại cho huynh đệ chúng tôi, chúng tôi quyết tâm giữ gìn, học hỏi và tu tập theo lời Thầy dạy.

*

Thầy là người rất thương và coi trọng người có học. Trong số các thầy cô xung quanh Thầy, mỗi lần nhắc đến các thầy như Lê Mạnh Thát, thầy Tuệ Sỹ, cô Trí Hải... bao giờ Thầy cũng dành một cảm tình đặc biệt đối với các vị ấy.

Chư huynh đệ chúng tôi là người có duyên may được làm đệ tử của Thầy. Có huynh đệ là người phụ giúp Thầy trong việc sưu tầm và in ấn kinh sách; có huynh đệ là thị giả hầu Thầy, có huynh đệ là người chăm sóc lúc Thầy ốm đau... Dù là huynh đệ ở cương vị nào đi nữa, chúng tôi nghĩ, huynh đệ chúng tôi đã được sự giáo dưỡng trực tiếp từ bậc Thầy kính mến của mình, như là người thừa tự Pháp chứ không phải thừa tự tài vật. Ðó là điều chư huynh đệ chúng tôi rất biết ơn Thầy và nguyện suốt đời là người Thừa tự Pháp như Thầy đã từng dạy dỗ trong suốt cuộc đời của Thầy.

 

--- o0o ---

Source: http://www.khuongviet.net

| Thư Mục Tác Giả |

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở  về Trang Nhân Vật PGVN

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com

Cập nhật ngày: 01-04-2002