Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới


...... ... .

 

Cuộc Đời Thánh Tăng Ananda

 Nguyên tác: Hellmuth Hecker
Phỏng dịch: Nguyễn Điều
CHÙA PHÁP BẢO Sydney
Ấn tống năm 1995 * Phật Lịch 2539
---o0o---

 

Lời Ngỏ

 

Chư tăng, ni các chùa truyền thống đến ngày mồng một, rằm âm lịch mỗi nửa tháng trong lễ lạy thù ân đều xướng danh hiệu: “Nam mô Khải giáo A Nan Đa tôn giả”. Ngài là vị đệ tử số một của đức Phật trong số mười vị có biệt tài xuất chúng, và là một bậc đại thánh tăng.

Để hàng Phật tử học hỏi, chiêm ngưỡng noi gương Ngài, Pháp Bảo cho ấn hành tác phẩm “ Cuộc Đời Thánh Tăng A Nan Đà” này 1000 cuốn, nhân dịp lễ vía đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn Rằm tháng Hai âm lịch, gởi tặng quý đọc giả bốn phương, như món quà nhỏ quí đầu năm Ất Hợi.

Xin tùy hỷ công đức pháp thí quý đạo hữu Phật tử đã góp một phần nhỏ trong việc ấn loát, trợ duyên tiến trình tu học tịnh hóa thân tâm, giải thoát nghiệp chướng lầm mê.

Cầu nguyện pháp giới chúng sanh giải trừ ác nghiệp; luôn được an lạc giải thoát tự tại trong suối nguồn từ bi vô lượng của chư Phật, các bậc Bồ Tát Đại nhân.

 Úc Đại Lợi ngày vía Phật nhập Niết Bàn 

15 tháng 2 Ất Hợi (15-3-95)

 

 Lời Giới Thiệu

Sống ở xã hội Âu Mỹ mà giữ được tâm niệm phục vụ văn hóa Đông Phương, là một điều tương đối ít người Á Châu tình nguyện làm. Càng ít hơn nữa là nhận lấy công tác soạn dịch một số kinh sách Phật Giáo, mà không cầu lợi nhuận!

Khi ‘diễn đạt’, dịch giả đã phải tự sống bằng hai con người khác nhau: Con người thứ nhất là ‘đồng hương’ của nguyên tác, để cố gắng ĐỌC và HIỂU tối đa nội dung cuốn sách. Và con người thứ hai là ‘kẻ khác ngôn ngữ’ với nguyên tác, để diễn đạt lại những phần hay, những nét chính, một cách trong sáng, ra Việt ngữ, cho đồng bào mình đọc. 

Những điểm đáng giới thiệu hơn hết là ‘chỗ đứng’ của dịch phẩm trong muôn ngàn cuốn sánh Việt ngữ. Chúng tôi muốn nói đến sự cần thiết của một bản dịch làm tài liệu, bao giờ cũng ‘độc đáo’ hơn, nếu dịch phẩm ấy trước giờ chưa được ai thực hiện. Và cho đến nay, trong tủ sách Phật đã chẳng có nhiều chi cho lắm! Nếu không muốn nói dịch giả tập sách nầy là người đầu tiên đã nhận lãnh công tác ấy!

Chúng tôi nhận thấy trong số 12 tác phẩm (vừa dịch, vừa soạn, và vừa sáng tác) của dịch giả ấn tống, đã có đến 6 cuốn sau đây, nói về Chư Đại Đệ Tử Phật. 

- Cuộc Đời Đức Xá Lợi Phất

- Lịch Sử Đức Mục Kiền Liên

- Cuộc Đời Thánh A Nan Đà

- Gương Lành Thánh Đại Ca Diếp

- Tu Đà Cấp Cô Độc

- A  Nậu Lâu Đà

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu dịch phẩm A Nan Đà thuộc loại THANH VĂN SỬ  nầy đến chư vị Phật tử xa gần.

Sa Môn THÍCH HỘ GIÁC
(Nguyên Giám đốc Phật Học Viện Pháp Quang và Giáo sư Pali Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn)

 

 LỜI NÓI ĐẦU 

 

Trong hàng Phật Giáo, có nhiều vị đại tông đồ rất đáng cho hậu thế noi gương! Một trong những vị đại tông đồ ấy là Thánh Tăng A  Nan Đa một cái tên đã chiếm trọn vẹn sắc thái phổ thông trong kinh điển đạo Phật!

Khi các hàng Phật tử Bắc Tông cũng như Nam Tông, tại gia cũng như xuất gia bắt đầu tụng một thời kinh, là cái tên A Nan Đa thường được họ tuyên đọc. Chẳng hạn như: ‘‘Ta là A Nan Đa, có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Phật ngự tại Kỳ Viên Tịnh Xá v.v...’’

Vì vậy, viết về A Nan Đa là viết về một thánh tăng mà đời sống ‘‘chứa’’ nhiều Phật Giáo nhất! A Nan Đa không những là một đại Hộ Pháp, có công lưu truyền giáo lý của đấng Toàn Giác cho đời sau, mà ông còn là một vị A La Hán Phật, bậc đã có vô số kiếp trước tái sinh và trau dồi phẩm hạnh, song song với công phu độ đời của tiền thân Phật tổ Thích Ca Mâu Ni!

Đây là cuốn sách thứ 3 trong loạt phiên dịch ra Việt ngữ, lịch sử của các đại tông đồ đức Phật. Hai cuốn đầu là ‘‘Cuộc đời đức Xá Lợi Phất’’ và’Lịch Sử đức Mục Kiền Liên’ đã được tái bản và ấn tống cách đây không lâu.

Riêng cuốn ‘‘Cuộc đời Thánh Tăng Ananda’’ này dịch giả xin phép vừa dịch, vừa soạn (dựa theo kinh điển Pali) để bổ túc một cách vừa phải những chỗ quá gọn, khó hiểu trong nguyên bản anh ngữ của bà Khema, vì bản anh ngữ ấy vốn cũng lại được dịch từ một tập sách tiếng Đức của học giả Hellmuth Hecker, đã biên soạn cách nay mấy mươi năm.

Dịch giả cố gắng làm tròn bổn phận của một Phật tử luôn luôn tôn thờ ba đức an lành là Phật Pháp Tăng. Trình độ hiểu biết của một phật tử tại gia như chúng tôi cho dù có được đào tạo căn bản trong các Phật học viện lớn một thời gian đi nữa, thì bao giờ cũng còn tương đối. Nếu có điều chi sơ sót ngưỡng mong chư vị cao tăng, học giả niệm tình bổ túc cho! Dịch giả xin hết lòng cảm tạ!

Cuốn sách này ra đời là nhờ sự khuyến khích phiên dịch và nhờ sự hảo tâm hùn phước ấn tống của một số Phật tử.

Dịch giả xin chân thành chia đều phần phước ‘‘Pháp Thí’’ này đến tất cả quý vị ấy cũng như đến tất cả chúng sanh, nhất là đến 2 đấng sinh thành và các bậc hữu ân, thầy tổ của dịch giả.

Nguyện cầu cho dân tộc Việt Nam sớm thoát khỏi cảnh khổ, và chúng sinh, nhân loại đừng oan trái lẫn nhau.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.


NGUYỄN ĐIỀU
 (Paris ngày 11/8/1991)

 

 

A Nan Đa (Một kho tàng pháp bảo)

Vị đại đệ tử được nhắc đến  nhiều nhất trong những kinh Phật là Tôn Giả A Nan Đa! Thánh tăng này chiếm một địa vị độc đáo trong hàng những đại tông đồ của Phật Tổ Thích Ca!

- Và với tất cả sự ngưỡng mộ tính cách độc đáo ấy mà soạn giả xin cống hiến đến chư Phật tử một sử liệu quý giá hầu làm gương cho ngày sau, xuyên qua những trang sách này! 

S.G.

 

 

1. PHÚC DUYÊN LÀM NGƯỜI

 

Phẩm vị đặc biệt của Ananda trong hàng các đại Thanh Văn giác của đức Phật đã bắt đầu từ xa xưa, trước khi bước vào kiếp chót.

Cũng như đức Phật A Nan Đa đã giáng sinh từ cõi trời Đâu Xuất (Tusita) và sinh ra cùng ngày, đầu thai vào cùng vai cấp (hiệp sĩ) trong hoàng tộc Thích Ca, song song với đức Phật!

Hai thân phụ của đức Phật và của Ananda vốn là anh em, nên Ananda đối với đức Thế Tôn đương mhiên ở vàođịa vị huynh đệ (chú bác). A Nan Đa có ba anh em là Anuruddha, Mahànàma, Pandu và một em gái Rohini.

Anuruddaha xuất gia như Ananda, rồi nghiêm trì giới luật, phát triển trí tuệ giải thoát, đã đắc quả A La Hán, một hạng thánh tăng cao nhất. Thánh A  La Hán còn được gọi là thánh Bất Lai, vị bậc thánh nầy, sau khi mạng chung sẽ được giải thoát, không còn luân hồi nữa.

Tiếp theo là Mahànàma, tuy ở ngôi cư sĩ thái tử để duy trì giòng dõi Thích Ca (Sakya), nhưng cũng đắc quả A Na Hàm (tức quả Nhất Lai, hay quả Thánh chỉ còn sinh lại một lần nữa, rồi được giải thoát!)

Trong khi đó thì Pandu, người con trai còn lại trong gia đình, không thấy sử nói đến nhiều, chỉ ghi tóm tắt rằng ông là người duy nhất sống sót của giòng họ Thích... Khi đức Phật thọ 80 tuổi.

Riêng người em gái duy nhất của A Nan Đa là Rohini, vì dư quả của tính ganh tị từ tiền kiếp, đã chịu bệnh phong ở ngoài da, trầm trọng, đêm ngày khổ sở ẩn thân trong phòng kín cho đến khi được Phật độ, chỉ rõ ấy là quả xấu của các ác nghiệp từ đời trước. Khi được Phật khai ngộ, bà cũng thành tâm tu hành, về sau đạt tới thánh quả Nhập Lưu Tu Đà Hoàn (Sotàpattimagga) tức là buớc vào con đường chắc sẽ giải thoát!

Kinh truyện chép: Rohini lúc bước vào Thánh Lưu thì tự nhiên lành bệnh, và khi mãn tuổi thọ, chết sanh vào cỏi trời thứ 33 làm vợ của Vua Trời Đế Thích (Sakka).

Theo Cùla-Vagga thuộc tạng luật (Vinaya Pitaka), quyển V III Chương 1 thì A  Nan Đa được 37 tuổi, khi ông cùng Anuruddha và người anh họ Devadatta (Đề Bà Đạt Đa) với một số thanh niên quỶ tộc Thích ca cùng bước vào đời sống xuất gia.

Vị thầy đã làm phép xuất gia cho A Nan Đa là Thánh A La Hán Belatthasìsa. Nhưng Pháp Bảo của bậc đạo sư này lưu lại trong tam tạng rất ít. Chúng ta chỉ tìm thấy vỏn vẹn có mấy câu kệ sau đây:

‘‘Như thân phận làm trâu trong khổ cảnh...

Dù trên vai mang nặng một chiếc cày.

Nhưng vẫn cố tiến lên từng bước mạnh.

Thì Sa Môn xin chớ ngại gian nguy.

Ngày với tháng chính là tầm thước Thánh,

Do chiều cao công đức kẻ tu trì...’’

(Thoát dịch theo Theregathà, tôn túc kệ ngôn số 16)

Chỉ bằng sự hướng dẫn đơn giản và sâu xa của bài Thánh kệ đó, mà A Nan Đà đã mỗi ngày một trở nên thuần thục trong giới luật phạm hạnh. Ông là một đệ tử chuyên cần và luôn luôn cảnh giác, nên chỉ trong mùa nhập hạ (1) đầu tiên, ông đã đạt được quả Nhập Lưu (theo Cùla Vagga VII, 1)

(1)  Mùa nhập hạ là thời gian các hàng đệ tử xuất gia của đức Phật phải ở yên một chỗ để nghiêm trì giới hạnh và hành thiền. Đức Phật đã chế ra sự nhập hạ này đúng vào mùa mưa (tính theo thời tiết Ấn Độ, khoảng từ  đầu tháng 7 đến cuối tháng 9 dương lịch).Truyền thống nhập hạ này đã được ghi trong tạng luật và được mọi tông phái Phật giáo thi hành cho đến ngày nay. (Tuy có sự chênh lệch thời tiết mùa mưa của từng quốc gia).

Sau khi xuất gia, một hôm A Nan Đa mách với các đồng đạo rằng: ’’Trưởng Lão Punna Mantàliputta đã giúp cho ông tiến bộ rất nhiều trong việc tu tập. Trưởng lão đã truyền pháp đến những tỳ khưu mới nhập môn, trong đó có ông, bằng cách giảng giải cho họ hiểu rõ: Sự cố chấp trong cái Tôi chỉ sinh ra xuyên qua hai trợ nhân là danh và sắc (tư duy và hình tướng), tức là xuyên qua hình thức và cảm nghĩ. Nói cách khác là xưyên qua trình độ của tư duy và tình trạng của sắc thái!

Để cho dễ hiểu hơn, trưởng lão Punna nêu lên một thí dụ: ‘‘ Nếu một người muốn biết mặt mũi của mình ra sao, hay muốn nhìn thấy hình dạng của chính họ như thế nào, thì họ phải soi mặt vào gương, hay trong hồ nước phẳng, lặng...! Tương tự như thế, khi năm uẩn (hay còn gọi là ngũ uẩn (1) tạo thành một con người thì nó chỉ để lộ bộ mặt chấp ngã của nó xuyên qua hình tướng và tư duy, tức là DANH và SẮC mà thôi!...’

(1)  Ngũ uẩn: Sắc-uẩn, Thọ-uẩn, Tưởng-uẩn, Hành-uẩn và Thức-uẩn. Năm uẩn nầy còn được gọi chung là Danh và Sắc, Sắc gồm hai uẩn đầu (sắc, thọ). Danh gồm ba uẩn sau (Tưởng, Hành và Thức!)

Hể sáu căn (hay còn gọi là lục căn), tức Nhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỉ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn, và Ý-căn, trong một cá nhân mà còn cột chặt vào danh và sắc, tức là còn cấu kết với hình tướng và tư duy, thì tất nhiên có cái ‘‘Tôi’’ hiện ra! - Và khi nào sáu căn không còn được nuôi dưỡng bằng hình tướng và tư duy nữa thì khi ấy cái ‘‘Tôi’’ mới biến mất (theo Samyutta Nikàya 22, 83 = Tạp A-Hàm số 22, 83)

A Nan Đa suy gẫm về sự so sánh nầy một cách lập lại nhiều lần và càng lúc càng sâu sắc hơn, cho đến khi ông giác ngộ được Khổ đế (dukkhàriyasacca), lẽ vô thường (aniccà) và lý vô ngã (anattà). Rồi ông không còn để cho nội tâm của mình bị ‘‘nuôi dưỡng’’ bằng năm uẩn (hay DANH và SẮC) ấy nữa, để ông bắt đàu gặt hái quả của đời sống Phạm Hạnh, trước tiên là phẩm Nhập Lưu Tu Đà Hườn!

Từ đó A Nan Đa luôn luôn tri túc và an tịnh với đời sống Sa Môn. Ông nhận rõ cái an lạc của hạnh chối bỏ (ám chỉ sự đạm bạc trong đời sống xuất gia!), và mạnh tiến trên thánh đạo, ví như một kẻ đang lênh đênh giữa biển cả, sung sướng tìm dược hướng vào bờ chỉ nương vào cái phao duy nhất là đức tính cảnh giác hay biết mình!

(Theo kinh Thập Độ Ba La Mật = Dasapàramitàsutta, thì dòng suối luân hồi chỉ bị chận lại bằng ba cái bờ, là bờ kia, bờ trên và bờ cao thượng. Các hàng xuất gia hay tại gia, mà đắc được hạnh tri túc, cắt cụt được lòng tham, tức là thấy được BỜ-KIA vậy!)

Vào những năm đầu của đời sống Sa môn, A Nan Đa đã dành hết thì giờ vào việc thanh tịnh nội tâm. Ông đã hóa mình rất dễ dàng vào cộng đồng tăng lữ, rồi ông dần dần phát triển sức mạnh tinh thần một cách nổi bật. Khi đức Thế Tôn và A Nan Đa cả hai được 55 tuổi, một hôm Phật cho triệu tập tăng chúng, và dạy rằng:

‘‘- Trong 20 năm trường hướng dẫn cộng đồng phạm hạnh, Như Lai đã được nhiều đệ tử thay phiên thân cận, nhưng chưa có một môn đồ nào tình nguyện trọn đời hầu Phật một cách dứt khoát! Như Lai tự biết mình sẽ có một đệ tử như thế! Và giờ đây Như Lai đã 55 tuổi, xác thân nầy như cổ xe đang bước vào giai đoạn hư hại, Như Lai cảm thấy cần nói ra để vị đệ tử hầu cận ấy tự động xuất hiện!...’

Ðức Phật vừa dứt lời thì lập tức tất cả những đệ tử nhiều hạnh kiểm nhất liền tình nguyện được hầu Phật.

Nhưng đức Thế-Tôn đã hiền hòa từ chối, rồi Ngài yên lặng...

Cử chỉ ấy của Ðức Phật biểu lộ một ý nghĩa đặc biệt. Toàn thể những đệ tử có mặt liền nghĩ ngay đến A Nan Ða, lúc đó đang ngồi ở một chỗ khiêm nhượng, phía sau cả hàng trưởng-lão, và ông là người duy nhất chưa xung phong xin hầu Phật! Rồi họ đồng hướng về A Nan Ða, yêu cầu ông bước lên phía trước.

Do hạnh duyên chín mùi, qui tụ từ nhiều tiền kiếp, A Nan Ða là người duy nhất sẽ đóng vai trò vị tông đồ hầu cận Phật. Nhưng có một số phàm tăng, chưa đạt được huệ thanh tịnh, tỏ ra ngạc nhiên đặt câu hỏi ‘‘ Tại sao A Nan Ða không có mặt trong số những đệ tử đầu tiên xung phong hầu hạ Phật?!’’

A Nan Ða lễ phép trả lời:

‘‘Ðức tin của tôi vốn trao trọn vào sự sáng suốt hoàn toàn của Ðấng Toàn Giác. Tôi muốn được chiêm ngưỡng ý Phật từ bi biểu lộ! – Dù trong thâm tâm tôi vốn tình nguyện đảm nhận trách nhiệm ấy từ lâu, vì một người trong giòng họ Thích ca đóng vai hầu hạ vị Giáo chủ Phật Giáo, sẽ tránh cho người đời thuộc các giai cấp khác, bất mãn đức Phật. Nhưng tôi không dám sỗ sàng như thế, bởi Ðức Thế Tôn là bậc thấu rõ mọi nhân duyên. Chỉ có Ngài tự chọn lựa viên đệ tử hầu cận là chắc chắn nhất, và Ngài đã biểu lộ...!

Ðức Phật chờ cho A Nan Ða thốt xong, liền tuyên bố’’

‘‘A Nan Ða chính là vị đệ tử hầu Phật mà Như Lai định chọn lựa! Và kể từ nay: ngoài việc phục dịch Như Lai ra, ông còn là một trong những người đại diện Như Lai đễ ban bố giáo-lệnh!...’

A Nan Ða khi nghe đức Thế Tôn xác định địa vị của ông như thế, thay vì hãnh diện mình được Phật nâng lên hàng đại đệ tử, A Nan Ða đã khiêm tốn yêu cầu đấng Giảo Thoát chấp thuận cho ông tám điều kiện sau đây:

- Thứ nhất đức Thế Tôn đừng ưu tiên tặng y phục cho A Nan Ða.

- Thứ hai đức Bổn Sư đừng khất thực cho ông ăn.

- Thứ ba đức Bổn Sư đừng dành tịnh xá tốt cho ông ở.

- Thứ tư khi có thí chủ mời, đức Bổn Sư không ưu tiên cử ông tham dự những buổi trai tăng hay cúng dường.

- Thứ năm nếu có ai muốn thỉnh Phật thọ trai thì kẻ ấy chỉ cần nói với A Nan Ða thưa lại và Phật sẽ chấp thuận.

- Thứ sáu khi có người thiện tâm từ phương xa đến, muốn yết kiến đấng Như Lai, thì A Nan Ða có đặc ân đưa họ vào hầu Phật.

- Thứ bảy nếu A Nan Ða gặp phải thắc mắc trong Pháp Bảo thì ông được phép hỏi Phật bất cứ lúc nào.

- Thứ tám nếu đức Thế Tôn thuyết pháp trong lúc A Nan Ða vắng mặt, thì ông xin đúc Bổn Sư lập lại bài Pháp ấy cho ông nghe.

Rồi ông trình bày lý do tám điều trên như sau:

Bốn điều yêu cầu từ thứ nhất đến thứ tư sẽ tránh cho các hạng phàm phu tục tử vị nghị rằng ‘‘A Nan Ða tình nguyện hầu cận Phật chỉ vì lợi lộc!’’

Còn bốn điều yêu cầu tiếp theo (từ thứ năm đến thứ tám) sẽ đánh tan sự phê-phán của người đời: “ A Nan Ða tối ngày lo hầu hạ Phật và thay thế Phật tiếp xúc với mọi người, còn đâu thì giờ để học đạo, tu hành, phát triển hạnh giải thóat...?!”

Ðức Phật dĩ nhiên đã chấp thuận tám điều yêu cầu đáng khen ấy, bởi nó hoàn toàn phù hợp với nết hạnh của một vị sa môn. Và kể từ đó, A Nan Ða luôn luôn là bạn đồng hành, là người hầu cận và là kẻ tiếp trợ của đức Thế Tôn trong suốt hai mươi lăm năm dài phạm hạnh. Cái khoảng 25 năm dài, mà danh thơm cũng như các đức tính tinh tấn, nhẫn nại và bền bĩ trui rèn nội tâm của A Nan Ða, đã không suy giảm, hao sụt, so với 18 năm đầu, khi ông còn là một sa môn vô danh, chưa ai biết đến.

Và A Nan Ða đã tự trào bằng những câu kệ sau đây:

‘Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,

Học lên cao chân lý sáng như gương!

Một cuôc sống không THAM LAM khao khát,

Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!’

(Phỏng dịch theo Theragàtha v.1039 = Tôn túc kệ ngôn số 1039)

Rồi trong 2 đoạn kế của bài kệ nầy, A Nan Ða cũng dùng một mạch văn tương tự, để diễn tả sự an tịnh vô song của một bậc sa môn đã diệt được lòng SÂN HẬN và SI MÊ!

Quý vị đọc giã có thể đọc lại bốn câu thơ trên, chỉ thay thế bốn chữ ‘‘ THAM LAM, KHAO KHÁT’’ bằng bốn chữ ‘‘GIẬN HỜN, HUNG ÁC’’, hoặc thay thế 4 chữ ấy bằng 4 chữ ‘‘SI MÊ, LẦM LẠC’’ thì quý vị sẽ có ngay 2 bài kệ tiếp theo như sau:

‘‘Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,

Học lên cao chân lý sáng như gương!

Một cuôc sống không GIẬN HỜN, hung ác...

Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!’’

‘‘Hai mươi lăm năm hầu bên chân Phật,

Học lên cao chân lý sáng như gương!

Một cuôc sống không SI MÊ, lầm lạc,

Diệt vô minh Pháp Phật diệu vô lường!’’

Ý chính của bài kệ trên đây cũng như những bài kệ tiếp theo trong Tôn túc kinh (Theragàtha) là A Nan Ða đã ca ngợi hạnh phúc của bất cứ ai noi gương Phật mà dứt được tham lam sân hận và si mê!

Mặt khác, ‘‘hai mươi lăm năm’’ được nêu trong kệ ngôn vừa nhắc, chỉ diễn tả cái an lạc duy nhất trong thời gian ông hầu hạ Ðức Phật, chứ không phải ám chỉ phẩm cách của một đời ông làm sa môn.

Trong suốt 25 năm ấy, tuy ông vẫn còn phàm tính! – Nói theo kinh điển: ông là người cần học: Sekha (1), nhưng Ananda đã có nhiều lần tâm tư được lìa khỏi tham lam và sân hận, nên ông đã tế nhị thốt lên rằng: ‘‘ Dù chưa đắc quả giải thoát, kẻ nào được hầu hạ một vị Phật, kẻ ấy cũng không bị Khổ nảo vì tham lam và sân hận!’’

Chú ý: Một bậc Tu ñà Hườn là bậc còn nhiều phàm tính. Bậc này chỉ diệt trừ được ngã chấp, hoài nghi và mê tín mà thôi.

Quả thật Ananda là người đã hưởng được quả lành của công đức hầu Phật!

Còn những kệ ngôn liên quan đến những thiện pháp khác trong Tôn túc kinh (Theragàthà) của A Nan Ða, mặc dù không được trích dẫn ra đây, nhưng nói chung nội dung tất cả để ca ngợi các phẩm cách cao thượng, mà ông với tư cách là bạn đồng hành của đức Phật lúc tại tiền, đã chứng nghiệm!

Riêng đoạn đời Ananda đã đắc quả A La Hán, sau khi Phật Nhập Diệt ra sao, sẽ xin nóí đến trong những phần tiếp theo.

(1): Sekhà: Cần - học, chữ Pali: Sekhà, có nghĩa là người còn học hỏi trong bốn chân lý giải thoát ( Tứ Diệu Ðế)! nhưng nhiều chỗ thuộc Tam Tạng kinh điển Pali thì từ ngữ SEKHÀ ám chỉ ba bậc thánh chưa hoàn toàn giải thoát là Tu Ðà Hườn, Tư Ðà Hàm và A Na Hàm! – Còn bậc thánh cao nhất đã được hoàn toàn giải thoát A  La Hán được Phật gọi là bậc ‘‘Hết Học’’ Asekhà. Nhiều dịch giả Phật Giáo Việt Nam còn dịch Sekhà là Hữu Học và Asekhà là Vô Học! Soạn giả xin mạn phép chưa vào đây để quý vị tiện nghiên cứu!

 

2. A NAN ÐA, MỘT CÁI TÊN QUEN THUỘC

Tên Thánh A Nan Ða thường được tuyên tụng trong phẩm mở đầu những kinh điển Phật giáo là một điều mà các hàng Phật tử ai cũng biết! Chẳng hạng như “ Ta là A Nan Ðà có nghe như vầy: Một thuở nọ, đức Thế Tôn ngự tại v.v...”

Khi đức Phật còn sinh tiền, Ngài đã chính thức nhìn nhận phẩm vị thay mặt Ngài một cách xứng đáng, của A Nan Ða, bằng cách cho phép ông đi thuyết pháp ở chỗ nầy, hay đến nói đạo ở chỗ kia, với những đề tài mà Phật đã dặn trước.

Do đó, sau khi Ðức Phật Viên Tịch, các tông đồ chưa Nhập Diệt vẫn xem những điều A Nan Ða thuật lại như Kim Ngôn của Ðức Phật.

Tuy cũng có một số các đại Tông đồ khác được đức Phật cho phép làm đại diện thuyết pháp, tiêu biểu nhất là Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallàna), (Xin xem 2 cuốn “Cuộc đời Xá Lợi Phất” và “Lịch Sử đức Mục Kiền Liên”! – Cùng một dịch giả) (Theo Anguttaranikàya X 115 = Tăng Nhất A Hàm số X 115) nhưng A Nan Ða là người được thừa hưởng Phật Pháp nhiều nhất, và ông đã có khả năng thuật lại hầu hết những bài Pháp dài nhất của đức Phật. Trong khi đó thì các vị đại Tông Ðồ kia, thường chỉ thay thế Phật, diển giảng lại những bài Pháp ngắn hay trung bình!

Và bên cạnh cái phẩm vị tương đương với những đại Tông Ðồ cở Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên ấy, A Nan Ða còn là một đệ tử ưu tú, có nhiều phúc hạnh giống đức Phật Thích Ca nhất! Chính đức Phật lúc sinh tiền, trong nhiều trường hợp, cũng đã đề cao A Nan Ða như vậy!

Chẳng hạn như Phật từng nói trước các hàng Tăng chúng rằng:”Quốc Vương Pasenadi, sau khi được nghe pháp của A Nan Ða đã trở thành vị vua anh minh, thiện tri thức, như ông được chính Như Lai cảm hóa vậy! ( Theo Majjhimanikayà 88: Trung A Hàm số 88).

Chỗ khác, Phật cũng nói:”Khi tất cả các hàng quí tộc, Bà La Môn, thường dân và đạo sĩ vui sướng vì được yết kiến một vị Chuyển Luân Thánh Vương như thế nào, thì chư sa môn, tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam và tín nữ cũng tràn ngập hân hoan, khi nhìn thấy A Nan Ða như thế ấy!”.

Hoặc một đoạn khác Phật nói:”Khi các hàng Phật tử nói trên đến thăm, họ chỉ cần nhìn thấy dung mạo của A Nan Ða là đủ rồi. Nếu A Nan Ða rảnh tay thuyết Pháp cho họ nghe thì càng hay, còn giả sử ông bận rộn, không chào hỏi họ một tiếng, họ cũng hoàn toàn hoan hỉ, không bao giờ phiền trách! Ấy chính là cái phúc hạnh của một bậc sắp bước vào ngưỡng cửa Giải Thoát! “(Theo Digha Nikàya 16: Trường A Hàm số 16).

Ngày kia, nhân một cư sĩ hỏi đức Bổn-Sư “làm thế nào để một Phật tử, sau khi cúng dường đứng đắn Phật Bảo và Tăng Bảo, có thể cúng dường xứng đáng Pháp Bảo?!” thì một lần nữa Ðức Phật đã nhắc đến A Nan Ða trong câu trả lời:

“Nầy cư sĩ tại gia! Nếu con muốn cúng dường Pháp Bảo, hãy đến cúng dường A Nan Ða, vì ông là người gìn giữ kho tàng Pháp Bảo!”

Tức thì vị cư sĩ ấy liền mời A Nan Ða về nhà trai tăng và cúng dường đến ông một lá Y rất quí giá.

Lá Y ấy về sau A Nan Ða đem về dâng lại cho Trưởng Lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) vì ông nghĩ rằng: “ chính đại huynh Xá Lợi Phất mới là người thông hiểu các Pháp!”

Nhưng một cách tương tự, đến phiên Trưởng Lão Xá Lợi Phất cũng nghĩ rằng:”Chính đức Phật mới là nguyên nhân của kho tàng Pháp Bảo! “. Rồi Xá Lợi Phất lại đem lá Y quí báu ấy dâng đến đức Thế Tôn. (Theo Jàtaka-Sutta 296 = Túc Sinh truyện số 296).

Lại một lần khác, đức Phật đã đề cao A Nan Ða sau khi vị đại đệ tử nầy vừa trả lời xong một câu hỏi của đức Phật, rồi đi nơi khác. Ðức Thế Tôn tuyên bố trước một số tăng chúng:

“Nầy chư tỳ khưu! A Nan Ða chính là người đang tiến lên những trình độ Phật giáo cao hơn! Và ngoài ông ra, khó mà tìm được một sa môn có nhiều trí nhớ như vậy! (Theo Anguttara Nikàya III. 78 = Tăng Nhất A Hàm số III.78)

Trong Tăng Nhất A Hàm quyển III, đoạn 72 còn ghi rằng: có một cư sĩ ngoại đạo nghe A Nan Ða thuyết pháp, rồi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cư sĩ ấy khi hiểu rõ chân lý đã mừng rỡ khen ngợi: “ Thật là Thánh đạo! Thật là chân nhân! Sa môn A Nan Ða đã không đề cao Pháp học của mình, cũng không xuyên tạc giáo lý của kẻ khác! Ông chỉ biết ngay thẳng diễn tả những điều chân thật, mà ý nghĩa nào dù tiềm ẩn cao xa nhất, ông cũng không bỏ qua!”

Vua Pasenadi, sau lần thứ hai cùng với hoàng tử Kosala, nghe A Nan Ða thuyết pháp, đã ca ngợi:

-“ Hoàng Thân, nếu được thấm nhuần Pháp Bảo của sa môn A Nan Ða, là đi vào chân lý cao thượng! Vì lời lẽ của A Nan Ða là lời lẽ đáng kính đáng yêu và ôn hòa đối với tất cả mọi người! Lời lẽ như thế không thể phát ra từ cửa miệng của một người đi ngoài thánh đạo! “ Theo Majjhima Nikàya 90 = Trung A Hàm số 90)

Thông thường, khi một người được quá nhiều khen ngợi, quá nhiều thiện cảm, và quá nhiều đặc quyền như vậy, thì người sẽ phải gặp lắm chuyện ganh tị, phàn nàn, bất mãn một cách vô cớ của một thiểu số ác tâm. Nhưng A Nan Ða đã không gặp trường hợp ấy. Ông không có kẻ thù, cũng chẳng bị ai ngầm ghét. Ưu điểm độc đáo nầy, thực ra đã do nhân lành từ nhiều kiếp trước. Hay nói cách khác: “Hạnh-phúc không có kẻ thù” của A Nan Ða vốn không chỉ trong kiếp nầy, mà còn đã do ông tạo trong nhiều kiếp trước!

A Nan Ða sở dĩ được đề cao, vì ông biết hạ mình, dâng trọn cuộc đời cho Pháp Bảo. Rồi mọi danh dự cũng không làm cho ông trở thành kiêu căng, ngã mạn! Ông tự nhủ rằng: Tất cả những phẩm hạnh mà ông gặt hái được là nhờ ơn đức của Phật. Bởi thuần hậu như thế, nên tự cao, ngã mạn chẳng thể nào xuất hiện trong ông! Và kẻ không tự cao là kẻ không có kẻ thù, rồi cũng không bị ai ganh ghét!

Nếu một người chỉ biết lo tu kín, tránh xa mọi tiếp xúc với xã hội bên ngoài, và không có kẻ thù, thì ấy là đương nhiên. Chẳng hạn như trường hợp của Anuruddha, anh ruột A Nan Ða! (Sử chép: sa môn Anuruddha, sau khi xuất gia dành cả ngày lẫn đêm cho việc tu hành, không tiếp xúc với bất cứ một ai ngoài đức Phật).

Nhưng A Nan Ða là người hàng ngày phải đối xử với mọi hạng người, phải nghe, thấy và biết đủ mọi vấn đề..., mà ông không bị ai ganh ghét, không bị kẻ khác thù hằn, không bị xung đột trong xã hội, không bị người ta chú ý, theo dõi... thì quả thật là điều tưởng như ông có phép lạ!

Tuy A Nan Ða chăm chỉ và thuần hậu như vậy, nhưng thỉnh thoảng ông cũng bị đức Phật (hay những đại Trưởng Lão) khiển trách! Sự quở trách ấy hoàn toàn khác với sự chỉ trích thông thường, vì khi các bậc chân thật nhắc nhở là khi ông được kích thích vào giác tâm, để cho đức hạnh cao thượng hơn được un đúc, và từ đó, sức mạnh rèn luyện nội tâm mới được vững chắc! Ai biết quý trọng những sự nhắc nhỡ như thế là kẻ dễ trở nên thanh tịnh, và đời sống của họ tự nhiên được mọi người tôn sùng!

Phần nhiều các trường hợp A Nan Ða bị Phật quở trách, đều nhằm vào cách giao tế, lễ nghi xã hội, hoặc kỹ luật cộng đồng, hơn là ông bị quở trách vì tâm tánh không cao thượng, hoặc vì ông chảng hiểu thông Pháp bảo.

Xin kể một vài trường hợp như sau:

Một lần nọ đức Phật bị bệnh rát xót trong bao tử, A Nan Ða được người mách “ cháo nếp sẽ giúp cho Phật khỏi bệnh ấy”, ông bèn kiếm vật liệu nấu cháo cho Phật.

Ðức Thế Tôn sau đó đã quở trách ông rằng:

“Những hàng đạo sĩ, những hàng sa môn dùng vật liệu nấu ăn trong nơi tu hành là một điều không thích hợp!”

Rồi Ðức Phật chế điều luật: Một tỳ khưu, sẽ phạm tội Ưng xả đối trị, nếu tỳ khưu ấy tự nấu ăn! (Theo Mahàvagga số VI, 17, trong Tạng Luật)

Từ đó về sau, A Nan Ða ghi nhớ điều luật ấy, và nghiêm giữ một cách tinh tấn, lòng tự nhủ rằng: “Ðiều răng của Ðức Phật là nền tảng của phạm hạnh!”

Một hôm A Nan Ða đi khất thực quên mặc Y Tăng Già Lê, được một đồng đạo nhắc khéo “Phật đã phê chuẩn bậc xuất gia phải luôn luôn vận đủ tam Y, khi đi vào làng xóm!”. A Nan Ða liền vui vẻ cám ơn vị đạo hữu ấy, và phân trần rằng:”Bần tăng chỉ quên thôi, chứ không cố ý bất tuân phép Phật!”. Rồi ông ngoan ngoãn đi mặc Y Tăng Già Lê. Và kể từ đó, mhững phép tắc về cách vận y phục cho trang nghiêm của một tỳ khưu khi ra khỏi tịnh xá, do đức Phật phê chuẩn, đã được ông thi hành từng chi tiết! (Theo Mahàvagga VIII, 23 = Ðại Phẩm Tạng Luật số VIII, 23).

Thuật lại giai thoại nầy để cho các hàng Phật Tử, tại gia cũng như xuất gia, thấy rằng: Một bậc có nhiều trí nhớ như A Nan Ða, bậc và kiếp chót là kiếp sẽ nhập vào thánh lưu như A Nan Ða, mà còn có thể sơ sót vài oai nghi trong đời sống phạm hạnh, huống chi phàm nhân như chúng ta, lại không luôn luôn cảnh giác và biết mình!”

Bởi vậy, đức Thế Tôn đã nhiều lần lưu ý chư tỳ khưu: “ Các con chớ coi thường các hành vi nhỏ nhặt, nhất là những oai nghi hằng ngày của đời sống xuất gia! Bởi vì chính những thiện hạnh nhỏ nhặt ấy sẽ là nền tảng cho mọi cố gắng tinh thần, và thánh tâm sau nầy! Luật lệ vốn mang lại những đức hạnh hoàn toàn. Và đức hạnh hoàn toàn sẽ đưa đến tính khiêm nhượng và trí tuệ giải thoát!”

Trưởng Lão Mahàkassapa (Ðại Ca Diếp) cũng từng quở trách A Nan Ða, như trong hai trường hợp sau đây:

Trưởng Lão nói: “ A Nan Ða là người đã hướng dẫn vở lòng các đệ tử trẻ tuổi nầy. Tại sao ông không tập cho họ cách thu thúc lục căn, tập cho họ phương pháp chế ngự sự ăn uống, và dạy cho họ nết tinh tấn biết mình?!”

“- Ông đã vô tình làm hỏng tuổi trẻ và làm hư niềm tin của các tân tỳ khưu, đến độ phải bỏ cuộc! Phải chăng A Nan Ðà, vì còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm?!” (Khi ấy Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã ngoài 80 tuổi, và A Nan Ða chỉ 50 tuổi, nên Trưởng Lão gọi ông còn trẻ”!). (Theo  Samyutta Nikàya 18.11 = Tập A Hàm số 18.11).

Vì còn là Phàm tăng, nên trước sự khiển trách nặng nề nầy, A Nan Ða đã vui vẻ trả lời rằng:

“Tuy trên đầu bần tăng đã hai thứ tóc, bần tăng vẫn hết lòng phục vụ tăng già như một thanh niên, nên Trưởng Lão Ca Diếp cho bần Tăng là còn trẻ, thiếu kinh nghiệm?!”.

Ở đây, chúng ta có thể hiểu rằng: A Nan Ða đã quá tin tưởng vào sự chân thành phục vụ giáo hội của ông, và đã coi thường tính ham mê đời sống nhục dục của 30 tân đệ tử! Ông đã không biện minh được trách nhiệm không làm tròn của mình trước sự phê phán của một vị Trưởng Lão! Chúng ta chớ quên rằng khi ấy A Nan Ða chưa đắc quả A La Hán, nên trong ông vẫn còn ít nhiều phiền não thô thiển ấy bất chợt bộc phát, chứ không phải do bản tánh cứng đầu cố ý phạm thượng!

Trường hợp quở rách thứ hai của Ðại Trưởng Lão (Mahà Kassapa) đến A Nan Ða thuộc về một bối cảnh khác:

Số là lần nọ A Nan Ða yêu cầu Trưởng Lão cùng đi với ông đến dạy đạo tại một nữ tu viện. Sau một phút chần chờ, Trưởng Lão Ca Diếp đã nhận lời. Nhưng khi thuyết pháp xong, một tỳ khưu ni ương nghạnh trong lòng còn chứa dục tình đã bình phẩm: “Trưởng Lão Ca Diếp cứ dành nói pháp một mình, không để cho tôn giả A Nan Ða, là kẻ đẹp trai, hiểu biết rộng, thốt ra được một lời!”. – Tỳ khưu ni ấy còn ví dụ Trưởng Lão như người bán kim, cứ ca tụng cây kim trước người biết chế tạo ra nó! (ám chỉ A Nan Ða).

Trên đường về, A Nan Ða hiểu ý, bèn yêu cầu Trưởng Lão Ðại Ca Diếp tha lỗi cho tỳ khưu ni kia. Nhưng Trưởng Lão đã quở trách rằng:

“Nầy A Nan Ða! Sao ông không nhớ thu thú lục căn! Ông cứ để những điều khen chê ảnh hưởng đến hạnh kiểm của mình?! (Theo Samyutta Nikàya 16.10 = Tạp A-Hàm số 16.10).

Ðiều nầy có nghĩa là Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã khéo léo quở trách A Nan Ða quá sốt sắng mang lợi ích tinh thần cho Ni giới, mà coi thường sự nguy hiểm luyến ái riêng tư, không phải từ thân A Nan Ða, mà từ phía một người khác: (ám chỉ của một tỳ khưu ni!). Sự quở trách nầy về sau đã giúp ích cho A Nan Ða rất nhiều!

Dẫu sao, hai trường hợp A Nan Ða được Trưởng Lão Ðại Ca Diếp nhắc nhở nói trên, vẫn không làm cho những nhà nghiên cứu đời sống của các đại tông đồ đức Phật hiểu lầm. Trái lại, xuyên qua những lần quở trách ấy, Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã chứng minh được lòng từ bi của mình, cũng như A Nan Ða đã biểu lộ đức tính luôn luôn biết phục thiện của ông. Vì cả hai vị cao đồ nầy trước sau vốn giao hảo với nhau rất thân mật. Có thể nói họ là hai vị danh tăng tuy khá chênh lệch tuổi tác, nhưng tương đắc nhất trong hàng thinh văn đệ tử Phật.

Một lần khác, A Nan Ða bị chỉ trích vì câu chuyện sau đây:

A Nan Ða hỏi Phật “ - Tiếng nói của đức Thế Tôn vang vào vũ trụ sâu xa như thế nào?!”

Ðức Phật trả lời rằng: “Tiếng nói của một bậc Toàn Giác thì không đo lường được, có thể nghe thấu vào mọi cõi Ðại Thiên thế giới, có thể chạm tận tai tất cả Phạm Thiên (1) và bao trùm Tam Giới! Tiếng nói ấy còn thấm nhuần cả đến muôn loài vạn vật, từ kiếp sống ngắn nhất cho đến kiếp sống dài nhất, cở tuổi thọ của mặt trời!”

(1) Brahma = Brahma Deva - Trời Phạm Thiên, một cõi mà sự tịnh lạc tương đương với đệ Tứ Thiền trong trình độ tâm linh của Phật giáo

A Nan Ða nghe Phật trả lời như vậy, bèn hoan hỉ, tưởng như lời Phật lúc nào cũng văng vẳng mọi nơi, không đâu không có âm thanh Giác Ngộ, nên ông ca tụng:

“- Thật là may mắn cho tôi! Thật là hữu hạnh cho tôi, được làm đệ tử hầu cận cho một bậc Toàn Năng, Toàn Giác!”.

Tỳ Khưu Udàyi nghe A Nan Ða tự mãn bằng những lời tán than như thế, liền phê bình:

“ Nầy A Nan Ða! Ca ngợi sự toàn năng của đức Bổn Sư thì có ích lợi gì cho mình! - Nếu mình không tu hành Thánh Thiện và Toàn Giác?”.

Rồi chính từ sự chỉ trích đó, tỳ khưu Udàyi đã bàn rộng vấn đề ra. Chẳng hạn như ông phê bình A Nan Ða chỉ nhìn vào thân Phật rồi thỏa mãn với tha lực, không chịu trao dồi thân khẩu ý, để tự mình được trong sạch giải thoát, được trở thành toàn năng! Đức Phật nghe câu chuyện ấy, bèn giải oan cho A Nan Ða như sau:

“- Nầy Udàyi! Không phải như thế đâu! Giả sử như A Nan Ða hết tuổi thọ ngay bây giờ, và dù chưa đắc Thánh quả cao hơn Tu Ðà Hườn, A Nan Ða vẫn sinh làm vua trời đến bảy lần, nhờ kết quả tu sửa tâm tính từ những kiếp trước của ông, hoặc ông sẽ sinh làm vua xứ nầy đến bảy lần, chứ không còn bị đọa xuống bốn đường ác đạo nữa! Nầy Udàyi! Và đây là kiếp chót của A Nan Ða, để ông được giải thoát! (Theo Anguttara Nikàya III, 80 = Tăng Nhất A hàm số III, 80). 

Đức Phật đã tiên đoán về lịch trình tiến hoá của A Nan Ða như thế, trước mặt vị đại đệ tử hầu cận nầy, đủ chứng minh rằng: Niềm tin của đức Bổn sư dành cho A Nan Ða quả thật chắc chắn. Ngài cũng biết rõ rằng các lời lẽ ấy sẽ không làm cho A Nan Ða ỷ lại hay chễnh mãng trong việc tu trì.

Vã, Phật thốt ra mấy lời đó vốn có lý do: Thứ nhất A Nan Ða là người thường mặc cảm kém phúc đức, và còn lâu lắm ông mới được giải thoát! Thứ hai, sự chỉ trích càng làm mặc cảm của ông gia tăng! Thứ ba, bằng một cách gián tiếp, đức Phật cần bênh cực A Nan Ða, để sau mỗi lần bị chỉ trích, tâm tư ông khỏi bị lo âu, đồng thời nhân dịp nầy Phật khuyến khích A Nan Ða nên cố gắng hơn nữa, vì Thánh Quả Giải Thoát sẽ đến với ông nội trong kiếp ấy!

Ðức Thế Tôn dành các lời tiên đoán như thế cho những ai luôn luôn cố gắng mà vẫn sợ mình, còn bị tiếp tục luân hồi, hơn là cho những kẻ dễ duôi và ỷ lại!

Nhưng trong câu chuyện sau đây, đức Phật đã nhắm vào tâm thức của A Nan Ða, để khiển trách và chế định một điều luật:

Số là lần nọ, đức Bổn Sư ra lệnh cho A Nan Ða trông nom phân phối vải, và may y phục cho các hàng tăng chúng. A Nan Ða đã thực hiện công việc nầy một cách tốt đẹp, nên được đức Phật khen ngượi trước tăng chúng rằng: “A Nan Ða là người khéo léo, ngay cả trong lãnh vực khâu vá! Một sa môn đủ đức hạnh là người biết tự khâu vá mảnh y của mình, không để chỉ viềng bung ra, và không bao giờ bị chỉ trích là phí phạm vật dâng cúng của các hàng thiện nam tín nữ!”. (Theo Mahàvagga VIII 12 = Ðại Phẩm VIII 12).

Sau đó một thời gian, khi Ðức Phật và chư đệ tử ngụ gần thủ đô Ca Tỳ La Vệ. Một hôm đức Bổn Sư thấy trong tịnh xá có rất nhiều tọa cụ, bền hỏi A Nan Ða, phải chăng nơi ấy đang có đông tỳ khưu hội họp.

A Nan Ða liền xác nhận, và ông còn trình rõ với đức Thế Tôn rằng:

- Bạch đức Bổn Sư! Vừa rồi tăng đã cùng nhau vá y! đức Bổn

Sư đã chẳng khen ngợi: “ Một sa môn xứng đáng là người biết bảo trì lấy lá Y của mình, tránh phí phạm vãi của đàn na tín thí?” - Nên đệ tử đã tổ chức một buổi vá Y hội để có thể chỉ cho các đồng đạo phương pháp khâu vá!”

Rồi A Nan Ða thuật lại sự sinh họat cùng nhau khâu y vui vẻ như thế nào cho đức Phật nghe. Ông đâu biết rằng: Mỗi lần họp nhau khâu Y như người thế tục đó, sự tinh tấn tu trì của các hàng tỳ khưu đã giảm xuống rất nhiều, vì cái tính ngồi chung làm việc thì sinh ra nói chuyện nhảm nhí!

Do đó đức Phật đã chế ra điều răn, chấm dứt tật xấu cho các hàng tăng lữ, hội họp làm việc chung giống như người thế tục, như sau:

“- Một tỳ khưu, đáng bị chỉ trích, là người ưa thích các cuộc hội họp như ngoài đời, hoặc sung sướng khi được tụm năm, tụm bảy, để vừa làm việc, vừa nói chuyện! Hạng tỳ khưu như thế sẽ không thế nào tìm thấy sự bình an trong hạnh xuất gia, không thể nào nhận ra đức thanh tịnh trong sự sống đơn độc, không thể nào trở nên an nhàn trong nơi yên lặng, và không thể nào thực hiện thiện hạnh tỉnh thức biết mình!”

“- Kẻ nào ham thích trong các cuộc tụ họp phù phiếm, người ấy sẽ không tìm ra sự an lạc chân chánh, vì trạng thái an lạc chân chánh chỉ phát sanh, khi tách rời khỏi mọi tính ham thích tụ tập! - Ngay cả những người đã an trú trong thiền định, mà khi bị “tính thỏa thích trong tụ họp” lôi kéo, kẻ ấy về sau cũng sẽ bị chi phối, không thể hoàn toàn điều khiển tâm an trụ được!”

- Còn giả sử thiền pháp đắc được của họ, có tồn tại trong một thời gian, thì ấy chỉ là sự vận dụng để biểu dương chứ không phải là chính quả an trụ trong thiền định! Cho nên những người hành thiền chung một chỗ (ý nói chung một tịnh cốc hay một tịnh xá) thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đạt đến thánh quả giải thoát, vì tu thiền chung loại ấy là tu thiền còn tùy thuộc vaò những điều kiện thế gian, nhất là điều kiện phải có người tu thiền chung với mình!

Bởi thế, đức Phật, sau khi giảng giải về sự tai hại của tính thích tụ họp, Ngài bèn kết luận:

“- Không có một hình thức ham thích hội họp nào mà không gây ra khổ não (dukkha)! (-Dukkha ám chỉ tất cả các trạng thái bất toại nguyện từ thô kệch đến vi tế!). Bởi vì xuyên qua luật vô thường ( anicca): Hễ có hợp thì phải có tan. Nếu “Hợp” làm cho sung sướng, thì “Tan” (chia tay) sẽ làm cho phiền não!. Ðối với sự chia tay trong một thời gian ngắn, vì phiền não rất vi tế, khó nhận thấy, nên người ta coi thường. Nhưng đối với những sự chia tay lâu dài, hay chia tay vĩnh viễn, phiền não chính là sự thống khổ, có thể làm cho những phần tử chia tay rủi hết tuổi thọ rơi vào trong bốn đường ác đạo! Thậm chí tới cõi trời cao nất là cõi Phạm Thiên mà sự chia tay cũng làm cho các hàng Thiên chúng ở cõi nầy buồn bã, mất hết hào quang!).

-Vô thường là một trong ba nguyên tắc bất di bất dịch của Pháp Lý nhà Phật vậy!

Sau đó, đức Bổn Sư còn chỉ rõ một phương pháp thực tiễn, mà Ngài chỉ dành để hướng dẫn A Nan Ða! Phật dạy ông rằng:

“- Vì bổn phận phải hầu Phật và phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người (ý nói có hợp có tan!), nên ông cần luôn luôn thực hành chi thứ 7 của Bát Chánh Ðạo là Chánh Niệm. Lấy nó làm căn bản để phát triển 7 chi còn lại là Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn và Chánh Ðịnh!”

Ðức Phật dùng lời dạy nầy, bởi vì A Nan Ða có bẩm tính trụ tâm rất nhanh, và mặc dù ông chưa nhập cao vào thánh giới, nhưng bản chất định tâm tự nhiên, cộng với sự thấm nhuần Pháp Bảo của ông, đã khiến ông phát ra một số hành vi cử chỉ, giống như một bậc thánh.

Ðức Phật cũng biết rằng: Ðối với A Nan Ða, ngài chỉ cần nêu lên những pháp kích thích là A Nan Ða có thể bước vào Chánh Ðịnh. Do đó, mấy lời dạy có liên quan đến Bát Chánh Ðạo nói trên, chính là để hướng dẫn ông, áp dụng Pháp Bảo nào thích hợp nhất, từ đó ông có thể hành trì tròn đủ Bác Chánh Ðạo, mà không có một pháp nào làm cho ông cố chấp!

Ðối với những người tầm thường thì Chánh Kiến là bước đầu, là căn bản của Bác Chánh Ðạo! Rồi khi thân khẩu ý được thuần thục xuyên qua Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, họ mới bắt đầu sử dụng CHÁNH NIỆM để giữ vững con tâm bước vào Chánh Ðịnh, mà không thể trở thành cố chấp, khi đạt đến bậc thiền!

Nhưng đối với A Nan Ða, một người có trí nhớ phi thường, một người có bộ óc chứa nỗi hầu hết tám mươi bốn ngàn Pháp môn của đức Phật, thì Chánh Niệm là cánh cửa mở đầu, hễ ông bước vào (thuần thục) là ông có thể đắc được các Pháp Phá Chấp, vượt lên trên tất cả mọi khái niệm, mọi hình thức hay danh xưng, mọi phẩm cách hay lằn mức tận cùng!

Ngoài ra, đức Phật còn kích thích tính từ bi quảng đại của A Nan Ða, nhất là lòng từ ái đối với đức Bổn Sư, và Ngài xác nhận rằng:

“Lòng từ ái ấy không phải chỉ phát hiện với điều kiện A Nan Ða trở thành đệ tử hầu cận của Phật!”

Chúng ta có thể nhận thấy ở đây rằng, đức Bổn Sư đã đặc biệt hướng dẫn A Nan Ða, bước vào Thánh Ðạo, bằng hai phương diện Công Pháp và Biệt Pháp, hầu giúp ông ta chặt đứt mọi ràng buộc thế-gian, dứt khoát một lần sau cùng.

Do đó, khi kết luận, Ðức Phật đã nhắc lại mối quan hệ giữa Ngài và ông (tức Biệt Pháp hay Biệt Nghiệp!) để củng cố niệm lực của ông như sau:

Nầy A Nan Ða! Ðã từ nhiều kiếp quá khứ và ngay cả bây giờ, giữa ông và Như Lai chỉ có một tình bạn, tình thân thuộc và tình thầy trò, chứ không bao giờ có ác nghiệp hiềm thù hay ghét bỏ! Mối quan hệ vô lượng ấy đã làm cho chúng ta hưởng được phúc lành trong vô số kiếp xưa thì kiếp chót phẩm hạnh giải thoát của ông, không thể nào tách rời đạo quả tuyệt đối của Như Lai được!

“ Nầy A Nan Ða! Nếu ví Như Lai là người thợ gốm và ông là tác phẩm, thì người thợ gốm ấy (ám chỉ đức Phật) đang hoàn toàn thỏa mãn vì đã đem hết khả năng của mình để nắn ra một tác phẩm vừa ý nhất (ý nói đức Phật không xem A Nan Ða như một đệ tử mà thánh tâm chưa được vững chắc!)

Và bằng những lời giáo huấn, khuyến khích và “xác nhận đạo quả sẽ đến” như thế, đức Phật đã cũng cố niềm tin và niệm lực của A Nan Ða, cho đến phút chót, trước khi Ngài nhập Niết Bàn!

Giai thoại về tiền kiếp sau đây sẽ làm cho chúng ta nhận thức mối quan hệ giữa đức Phật và A Nan Ða một cách sâu sắc hơn:

Ðó là câu chuyện số 40 trong Túc-Sinh truyện:

Khi ấy tiền thân A Nan Ða làm vua, đã lìa bỏ ngôi báu, để cùng với đức Bồ Tát (tiền thân Phật) xuất gia sống đời sống đạo sĩ. Giống như Thái tử Sĩ Ðạt Ta đã làm trong kiếp chót ở vườn Lộc Dã, trước khi thành Phật vậy!

Một hôm đức Bồ Tát biết rằng bạn mình (tức tiền thân A Nan Ða), vì gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thực phẩm, đã để dành muối nêm thức ăn. Một hành động trái ngược với luật tu trì của các hàng đạo sĩ.

Ðức Bồ Tát liền khiển trách rằng:

“Nầy bạn! Bạn đã can đảm buông bỏ cả ngôi báu, buông bỏ tất cả sự giàu sang của một vương quốc, tại sao bây giờ bạn lại bắt đầu để dành từng hạt muối?!”

Lời chỉ trích nầy đã làn cho tiền thân A Nan Ða buồn lòng. Ông trả lời rằng:

“Nầy đạo hữu! Những lời phê bình của đạo hữu đã làm cho tôi khổ tâm rất nhiều. Các lời chỉ trích ấy khiến tôi cảm thấy chua chát, buồn phiền chẳng khác nào bị ai đâm chém bằng một lưỡi dao cùn!? (ý nói dao cùn chém, thì nạn nhân trước khi chết bị đau đớn rất nhiều. Còn dùng dao bén để chém thì nạn nhân chết tức khắc, sự đau khổ cũng theo đó biến mất).

Nhưng đức Bồ Tát (tiền thân Phật) vội thẳng thắn trả lời:

‘Nầy đạo sĩ! Giữa những người bạn chân thành, lời nói ngay thật, không cần dè dặt, vị nễ, như một người thợ gốm cẩn thận trước những chiếc bình chưa đuợc nung chín! Người bạn tốt là người có thể thốt ra lời phê bình bất cứ lúc nào. Vì chỉ nhờ những lời khê bình xây dựng cùng những câu khuyến khích liên tục như thế, mà một kẻ sống đời sống phạm hạnh, mới rèn luyện được một thánh tâm vững chắc. Ví như chất đất sét trắng tinh, được uốn nắn và nung nấu trở thành những đồ sứ thượng hạng!”

Sau đó, đạo sĩ tiền thân A Nan Ða đã xin lỗi đức Bồ Tát (tiền thân Phật) và yêu cầu Ngài, vì lòng từ bi, hãy tiếp tục hướng dẫn ông ta.

Thuở bấy giờ, những công phu tu luyện, được so sánh với sự gạn lọc đất sét tinh khiết, rồi nắn đúc thành những đồ sứ trang trọng tốt nhất, đã được xã hội thông dụng nên rất thích hợp để so sánh cái tính đa cảm, hay dễ giận của con người với cái tính dễ hư của những bình sứ mỏng manh chưa được nung chín!

Một người thợ gốm bao giờ cũng nâng niu những chiếc bình đất tinh vừa nắn xong, còn ướt, chưa khô, một cách e dè, thận trọng, vì sợ làm vỡ. Rồi sau khi đã nung qua lửa thứ nhất, họ lại cẩn thận tìm đi, tìm lại, những vết nhăn hay những lằn nứt, trước khi cho vào lò, nung chín lần sau cùng. Người thợ gốm rành nghề còn biết thử những tác phẩm của mình, khi ra lò bằng cách gõ nhiều lần để nghe tìm ra những “tì vết” trong âm thanh. Khi âm thanh ngân vang, trong, đều, và luôn luôn giống nhau, thì họ mới yên tâm đưa nó ra thị trường để bán.

Tương tự như thế, một người trở nên trọn lành chỉ khi nào họ đã trải qua tất cả những sự thử thách, và đạt được những phẩm cách cao nhất, xứng đáng nhất, để bước vào Thánh Ðạo! ( Trong Phật Giáo có 2 từ ngữ là Thánh Ðạo và Thánh Quả. Người đắc Thánh Ðạo là người không những chỉ đã dứt trừ mọi hoài nghi trong Bác Chánh Ðạo, mà chính họ còn biến thành thuần thục, để sống một đời sống đúng theo Bác Chánh Ðạo, với một tâm hồn luôn luôn an lạc, hướng thiện)

Rồi kiếp quá khứ đó, tiền thân A Nan Ða đã hưởng được quả lành, tái sinh vào cõi trời Phạm Thiên (Theo Jàtaka n.406 = Túc Sinh truyện số 406). Và trong những kiếp quá khứ khác, ông cũng đã nhờ sự hướng đạo của tiền thân đức Phật, mà gặt hái được nhiều phúc lộc (Theo Majjhima Nikàya n.122 = Trung A Hàm số 122). Tất cả những gì tiền thân A Nan Ða hưởng được, không phải do nhờ phép lạ, mà chính là do ông có một tinh thần hướng thiện cao độ, bền bĩ, luôn luôn nghe những lời đức Bồ Tát (tiền thân Phật) chỉ dạy, và ghi khắc những lời vàng ngọc ấy vào tâm, để thực hành một cách vui vẻ.

3. Xứng Ðáng Với Vai Trò Hầu Phật

 Một trong những đức tính của A Nan Ða là nết hạnh hết lòng hầu cận Phật. Chính đức Bổn Sư cũng đã xác nhận như thế nhiều lần, và Ngài còn thêm rằng: “A Nan Ða là đệ tử xứng đáng nhất trong những người đã phục vụ Như Lai. Bất cứ lúc nào Như Lai cần điều gì, thì ông là người có mặt trước tiên, không để Như Lai chờ đợi” (Theo Anguttara Nikàya I.19 = Tăng Nhất A Hàm số I.19).

 Thực ra ba chữ “hầu cận Phật” không rõ nghĩa cho lắm. Vì từ ngữ thế gian khó mà diễn tả chính xác cái vị trí của A Nan Ða trong cộng đồng phạm hạnh, dưới sự hướng dẫn của đức Phật. Nếu chúng ta gọi A Nan Ða là vị bí thư hay viên phụ tá của đức Phật thì đúng hơn, nhưng lúc bây giờ, cái khía cạnh từ ái, tôn thờ, phủ phục, sẵn sàng hy sinh của A Nan Ða đối với đức Phật không được diễn đạt. Còn nếu chúng ta gọi ông là một đệ tử hầu hạ Phật, thì cái vai trò tổ chức, và nhiều lần đại diện Đức Phật lãnh đạo giáo hội, một cách khéo léo của ông, lại bị bỏ quên!

 Rồi khi vượt ra ngoài phạm vị Phật Giáo, chúng ta cũng không thể tìm ra, trong các kho tàng văn chương triết học nào khác, một nhân vật tương tự, nghĩa là một nhân vật có thể vừa là đệ tử hầu hạ vừa là viên phụ tá của vị giáo chủ, đồng thời nhân vật đó cũng có khả năng trở thành một giáo chủ, như A Nan Ða!

 Sự hầu hạ chuyên cần của ông dành cho đức Phật trong 25 năm trường thì nhiều lắm. Chúng ta chỉ mô tả tượng trưng một số những công tác hàng ngày mà thôi. Chẳng hạn như mỗi sáng và mỗi tối, A Nan Ða phải mang nước rữa mặt và dụng cụ đánh răng cho đức Phật. Rồi ông phải chuẩn bị tọa cụ trước khi dâng điểm tâm đến Phật. Buổi trưa, A Nan Ða đi khất thực phải về trước, để rước bát đức Phật. Nước trong, ông phải chuẩn bị sẵn, để rửa chân cho Phật. Khi ngọ thực, ông luôn luôn ăn sau đức Phật, và khi Phật dùng bữa xong, ông có bổn phận xin vật thực còn lại trong bình bát của đức Phật, để chia sớt cho các tỳ khưu kém phúc hay bố thí đến những dân nghèo. Y phục, tịnh thất và bình bát của đức Phật, A Nan Ða luôn luôn dọn quét, giặt rũ và rửa lau sạch sẽ. Khi đức Thế Tôn mệt mỏi thì ông xức dầu, xoa bóp hay tìm thuốc cho đức Phật. Thậm chí đến giấc ngủ, A Nan Ða cũng nằm gần Phật, nhất là lúc Phật đau ốm, để khi Phật cần điều chi, không phải chờ lâu.

 Theo Mahàvagga, III, 16 (Kinh Ðại Phẩm, chương III, đoạn 16) thì ngoài những công tác dành riêng cho đức Phật kể trên, A Nan Ða hằng ngày còn đích thân trông nom tất cả các sinh hoạt của chư tăng, đặc biệt là những tỳ khưu mới xuất gia. Thậm chí đến khi mọi người ai nấy đã lui vào tịnh thất (buổi trưa cũng như buổi tối) ông còn quán xuyến khắp nơi trong chùa, xem có tỳ khưu, sa di nào bỏ quên vật gì hay không, để đem cất vào một chỗ, sau trao lại cho họ.

 Mỗi khi đức Bổn Sư cần truyền đạt lời dạy gì đến tăng chúng thì ông chính là viên thông tin đem lời dạy ấy đến tận tai mọi người (Theo Cùlavagga V.20: Tiểu phẩm số V.20).

 Nhiều lúc ngay nửa đêm mà Ðức Phật muốn gặp tất cả tăng chúng, A Nan Ða cũng vui vẻ triệu tập đầy đủ (Theo Jàtaka 148).

 Một lần nọ tăng chúng thờ ơ trước một sa môn ngã bệnh trầm trọng. Đức Phật và A Nan Ða đã đích thân tắm rửa cho bệnh nhân, và khiêng bệnh nhân đặt nằm nghĩ gần A Nan Ða để ông chăm sóc (Theo Mahàvagga VIII.26).

 Cứ như thế, A Nan Ða đã chu toàn rất nhiều công việc hằng ngày, hầu mang lại sự an vui thân thể cho đức Phật (và cũng là người anh thúc bá đã giác ngộ của ông), đồng thời mang lại niềm tin cho cộng đồng tăng chúng, như một người mẹ hiền chăm sóc, kính yêu đứa con trưởng đức hạnh hoàn toàn (ám chỉ Ðức Phật) cùng con mới khôn lớn, không phân biệt tánh nết, tài năng (ám chỉ cộng đồng tăng chúng).

 Nhưng công tác nổi bật hơn hết, là A Nan Ða đã đóng vai một viên bí thư xuất sắc nhất của đức Phật. Ông có khả năng chuyển đạt mọi giáo huấn, mọi mệnh lệnh của đức Bổn Sư đến hàng ngàn tăng chúng một cách rất nhã nhặn, nhanh chóng và hợp thời, khiến cho mọi việc hấp hành của giáo hội, lúc nào cũng thống nhất, trật tự, ít khi bị sơ sót.

 Về phương diện đối ngoại, A Nan Ða đã khéo léo hợp tác với Xá Lợi Phất (Sàriputta) và Mục Kiền Liên (Moggallàna) để giải quyết những vấn đề, nhiều khi rất phức tạp và tế nhị trong mối liên hệ giữa con người với con người, cũng như giữa tăng già Phật Giáo và Xã Hội.

 Theo Anguttara Nikàya IV, 249 (Tăng Nhất A Hàm số IV, 249) thì khi cuộc tranh luận của cộng đồng tỳ khưu ở Kosambi xảy ra, cũng như khi Ðề Bà Ðạt Ða mưu toan chia rẽ tăng già Phật Giáo (Theo Udàya v,8 và theo Cùlavagga VIII ), A Nan Ða đã đóng vai trò điều động hai cuộc giải độc rất hữu hiệu. Nhờ đó, về sau toàn thể tăng chúng đã hòa thuận trở lại.

 Mặt khác, A Nan Ða cũng là một trong những đệ nhất Như lai sứ giả của đức Thế Tôn để liên lạc với các tôn giáo khác. Mỗi khi đức Phật bảo ông đi liên lạc với ai, dù khó khăn đến đâu, ông cũng không bao giờ từ chối. Và khi thi hành những nhiệm vụ như vậy, A Nan Ða không có cảm tưởng là mình chỉ đơn giản là người thông tin, mà ông ta còn tỏ ra đầy đủ tư cách của một nhà ngoại giao.

 Quay về sinh hoạt nội bộ, nhiều lần tăng chúng không tránh được làm ồn trong tu viện. Ðức Phật hỏi A Nan Ða tại sao, thì ông đã mạnh dạn cắt nghĩa rành mạch lý do cho đức Phật rõ (Theo Mahàvagga 67, Pàcittiya 65 và Udàya III.3). Nhờ vậy, đức Thế Tôn mới biết chắc duyên cớ mà ban bố những lời giáo huấn thích hợp.

 Một trường hợp làm ồn đáng kể lại như sau:

Có một mhóm tỳ khưu đã quên mình nói chuyện lớn tiếng, gây ồn aò trong tu viện. Ðức Phật hay tin, bèn bảo A Nan Ða khiển trách.

 Nhóm tỳ khưu đó, sau khi được A Nan Ða nhắc nhở, khiển trách, bằng những lời lẽ xây dựng, ai về chỗ nấy chăm chỉ hành thiền. Họ tinh tấn tu luyện đến độ trong mùa nhập hạ năm ấy, tất cả đều đạt đươc ba Tuệ-giác biết được tuổi thọ của mọi chúng sinh và Tuệ-giác biết mình còn ít hay nhiều tham sân si.

 Vào một buổi tối, nhân được Phật gọi, nhóm tỳ khưu nầy liền đến hầu Phật. Nhưng lúc họ tới nơi thì Thế Tôn đang nhập định. Theo chú giải khi ấy tâm Phật đang an trú tại một cõi thiền hữu sắc, tên là Anãnja Samàdhi (có nghĩa là An-trụ trên thiền sắc Vô-tướng!) Những nhà sư nầy tức khắc nhận ra thiền Tịnh-sắc của Ðức Phật, bèn tất cả ngồi xuống rồi nhập định…

 Thời gian yên lặng trôi qua, trong Phật thất, hai canh đầu của đêm trường, khung cảnh chợt im lìm phăng phắc.

 A Nan Ða hiểu lầm là các tỳ khưu ấy thấy Phật nhập định, nên kiên nhẫn ngồi chờ. Và muốn giúp họ sớm được Phật tiếp, ông vội lên tiếng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Có chư đệ-tử đến yết kiến!” Nhưng tất cả vẫn yên lặng…

 Rồi hai canh giữa đêm cũng trôi qua, A Nan Ða lại nhắc Phật: “ Bạch đức Bổn Sư! Chư đệ tử đã đến!” Nhưng sau lời trình lần thứ hai của A Nan Ða, bầu không khí tại Phật thất, càng chìm sâu trong tịch tịnh. Mọi vật đều bất động…

 Lúc A Nan Ða lên tiếng trình Phật lần thứ ba thì bên ngoài, trời đang hừng sáng, Ðức Thế Tôn đã xả thiền, và phán với A Nan Ða rằng:

 “- Nầy A Nan Ða! vì ông  chưa chứng được thiền sắc vô tướng, nên suốt đêm ông đã không biết rằng Như Lai và các tỳ khưu đáng khen nầy đã nhập định! Và không có một âm thanh nào có thể khuấy động nhĩ thức của Như Lai hay của họ được!”

 Thuật sự nầy chứng tỏ rằng A Nan Ða lúc đó chưa đạt tới những bậc thiền cao. Nhưng tính kiên nhẫn của ông rất đáng quí, vì túc trực, trọn đêm để hầu Phật, khi có chúng tăng đến yết kiến như thế, ông quả thực là người duy nhất đã làm được một cách vui vẻ và dễ dàng.

 Rồi Phật lại khen ngợi A Nan Ða:

‘- Nầy A Nan Ða! Những tỳ khưu nầy trước đây ham thích tranh luận, chễnh mảng việc tu hành, thì ngày nay, sau lần khuyến cáo của ông, họ đã trở thành những sa môn tinh tấn hành thiền, đắc được ba tuệ giác!”

 A Nan Ða nghe đức Phật tiết lộ kết quả của sự biết sửa mình và tinh tấn tu hành của nhóm tỳ khưu do ông khuyến cáo, bèn lấy làm thỏa thích. Từ đó, A Nan Ða chăm chỉ hành thiền, mặc dù trên vai còn nhiều nhiệm vụ khác.

 Kinh điển Phật Giáo Nguyên Thủy thường nhắc đến hai lần A Nan Ða hỏi Ðức Phật về các đề mục thiền định đòi hỏi hành giả phải thực hành trong rừng vắng.

 Ðức Bổn Sư đã dạy cho A Nan Ða lần thứ nhất rằng:

“- Hãy quán  tưởng về ngũ uẩn, tức là quán tưởng về Sắc-Thọ-Tưởng-Hành và Thức” (Theo Samgutta Nikàya 22.158 = Tạp A-hàm số 22.158)

 Và lần thứ hai, Ngài dạy rằng:

“- Hãy quán tưởng về lục-căn, gồm: Nhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỉ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn và Ý-căn!”(Theo Samyutta Nikàya 35,86)

 Còn nói về công lao phụng sự chư huynh đệ, thì tên tuổi của A Nan Ða được ghi rõ trong kinh Anguttara Nikàya n.60 ; XI 58 (Tăng Nhất A Hàm số 60 ; XI.58) như sau:

“Khi sa môn Girimananda và sa môn Phagguna bị bệnh trầm trọng, A Nan Ða là người tới lui chăm sóc thường xuyên nhất. Ông còn theo dõi tâm bệnh của hai nạn nhân, để thỉnh cầu đức Phật ban diệu pháp hầu cứu độ họ trải qua những giây phút nguy kịch.

 Ngay cả ngôi chính điện lộng lẫy Kỳ Viên tự, (khi ông bá hộ Cấp Cô Ðộc tỏ ý muốn xây lên trong vườn Kỳ Ðà, để dâng đến Phật giáo) cũng do A Nan Ða yêu cầu Ðức Phật nhận lời. Ngôi chùa nầy về sau trở thành tổ đình đầu tiên của Phật giáo (theo Jàtaka số 479).

 Nghĩa là bằng cách nầy hay bằng cách khác, A Nan Ða đã tỏ ra là một sa môn sốt sắng xây dựng giáo hội. Ông luôn luôn phục vụ cộng đồng với đầy đủ các đức tánh của một người mẹ hiền, hay một người cha lành tròn hạnh kiểm, hằng chu toàn cho con cái.

 Biệt tài tổ chức, thuyết phục và hướng dẫn nhiều ngườì của A Nan Ða cũng đã biểu lộ trong một kiếp trước. Khi ông sinh làm vị Phạm Thiên phụ tá của vua trời ÐếThích (Sakka).

 Theo những kinh điển nói về tiền kiếp của A Nan Ða trên các thiên cảnh, thì có một kiếp nọ, ông là vị tiên phụ tá duy nhất có hào quang sang bằng hào quang của vua trời. Ông đã được đức vua trời Ðế Thích giao cho cai quản toàn bộ Thiên Xa và được điều khiển Long Xa mỗi khi vua ngự đi đâu (theo các Jàtakàs số 31, 469, 535 và 541)

Riêng trong Jàtaka (Túc Sinh truyện) số 489 thì tiền thân A Nan Ða là vị tiên kiến trúc sư tên Vissakamma. Hoặc trong hai Túc Sinh truyện (Jàtaka) khác số 75 và số 450 thì một trường hợp, tiền thân ông là vị thần mưa tên Pajjuma, còn trường hợp kia: tiền thân ông là vị thần Ngũ-Nhạc tên Pãncasikha.

 Nhưng tấm lòng hy sinh và bảo vệ đức Phật của A Nan Ða có lẽ phải cần đề cao hơn hết. Khi Ðề bà Ðạt Ða (Devadatta) thả một con voi hung dữ để hãm hại Ðức Phật, A Nan Ða đã can đãm xông tới đứng chắn ngang trước mặt Phật, sẵn sàng hy sinh thân mạng để che chở cho đấng Toàn Giác. Thà ông chịu để con voi điên và Ðề Bà Ðạt Ða phạm tội giết ông, chứ ông không muốn họ phạm trọng tội sát hại, hay làm tổn thương một vị Phật.

 Ba lần Ðức Thế Tôn bảo ông lùi lại, nhưng ông đã không làm theo, cho đến khi ông bị đức Phật dùng thần thông nhấc bổng ông lên, nhẹ nhàng đặt ông nơi khác, thì chừng ấy ông mới yên trí là sự hy sinh cứu Phật của ông không cần thiết. Và tinh thần hy sinh ấy đã làm cho danh thơm của A Nan Ða lớn rộng về sau (theo Jàtaka số 4533).

Nhân đó, Ðức Phật đã nhắc lại, trước các hàng tăng chúng rằng: “Trong những tiền kiếp A Nan Ða đã từng hy sinh tánh mạng để cứu vị Bồ Tát là tiền thân Như Lai đến bốn lần!”

 Còn trong hai kiếp khác rất xa xưa, giữa vòng luân hồi thăm thẳm: Khi cả tiền thân Ðức Phật và tiền thân A Nan Ða sinh làm hai con chim Thiên Nga, rồi hết tuổi thọ sinh làm hai con nai (theo các túc sinh truyện số 502, 533, 534 va 501). Từ Thiên Nga đến nai tiền thân A Nan Ða đã không chịu bỏ rơi bạn mình là tiền thân Phật sinh làm thú tương tự bị sập bẫy. Kết quả cả hai đã chịu chết với nhau dưới bàn tay tàn ác của một ngưòi thợ săn.

 Nhưng theo túc Sinh truyện số 222 thì tiền thân đức Phật là một con khỉ hiếu thảo, đã hy sinh tính mạng để cứu mẹ là tiền thân A Nan Ða. Mặt khác, trong những lần luân hồi cộng nghiệp như thế, tiền thân của đức Phật và tiền thân của A Nan Ða thường đã nhờ tính thông minh đặc biệt và thận trọng tự nhiên đã cứu mạng lẫn nhau một cách dễ dàng.

 Trên đây là những mẫu chuyện liên quan đến các đức hy sinh và duyên nghiệp luân hồi song song của tiền thân A Nan Ða và tiền thân đức Phật vậy.

 

4. A Nan Ða Ðáng Gọi Là Kho Tàng Pháp Bảo.

 Kỳ công và biệt tài nổi bật, đã nâng A Nan Ða lên hàng một trong những đệ tử thông thái nhất của Ðức Phật, là khả năng nhớ nhanh, nhớ nhiều và nhớ dai của vị tông đồ nầy!

 Mặc dù Ðức Phật còn tại tiền, A Nan Ða chưa đắc quả A La Hán, nhưng ông đã được xem tương đương như một trong những thinh văn của cộng đồng Thánh Nhân. Ông xứng đáng để được toàn thể Phật tử lúc bấy giờ tặng cho danh hiệu “một tông đồ xuất chúng”! Bốn chữ “Tông đồ xuất chúng” nầy có nghĩa là ông có đủ khả năng và đức tính của một bậc giải thoát.

 Ngoại trừ hai đại thinh văn, có hai năng lực phi thường , là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, thì A Nan Ða là một trong 75 đại đệ tử nổi tiếng khác của đức Phật.

 Trong khi 74 vị kia có những xuất sắc chuyên biệt thì A Nan Ða đã nổi tiếng nhờ bốn trong năm “nền tảng trí thức thượng thừa”.

 - Nền tảng trí thức thứ nhất là ông đã nghe nhiều hơn ai hết, nghe gần như toàn thể những lời Phật dạy.

 - Nền tảng trí thức thứ hai là ông đã nhớ nhiều hơn ai hết, nhớ đầy đủ những lời Phật dạy.

- Nền tảng trí thức thứ ba là ông đã hiểu nhiều hơn ai hết, hiểu cả hệ thống Pháp Bảo, kể luôn ý nghĩa súc tích khi phối hợp các Phật ngôn dạy trước với các Phật ngôn dạy sau, một cách song đối hay thứ tự.

 - Nền tảng trí thức thứ tư ông là người tin tuởng nơi Pháp Bảo của đức Phật, tin tuởng chắc chắn nhất, trên tất cả mọi học thuyết (theo Anguttara Nikàya n.I, 19 = Tăng nhất A-Hàm I,19)

 (Riêng nền tảng trí thức thứ năm là “sự cần cù, dẻo dai, nhiều nghị lực trong việc hầu hạ một bậc Toàn Giác của A Nan Ða”, không nên kể đến. Vì thuở bấy giờ, mà đề cập đến nền tảng trí thức ấy, đối với A Nan Ða là một chuyện thừa! Chẳng khác nào như ta khen “nước biển là chất lỏng mặn nhất” trên thế gian nầy!)

 Khi nghiên cứu kỹ trong kinh đìển Phật Giáo chúng ta sẽ nhận thấy rằng những nền tảng trí thức vừa nêu trên thuộc về một công phu rất tiêu dụng, từ đó có thể sinh ra đức tính cảnh giác, tiếng Pali gọi là Sati. Cái công phu mà sức mạnh và ảnh hưởng của nó hằng giúp cho hành giả có một tinh thần trong sáng, vững chắc, đủ khả năng để phân biệt mọi cảm giác trong thân cũng như mọi khái niệm ngoại thân, hầu không để coi ý thức bị tham, sân, si lôi kéo.

 Và cũng nhờ cái công phu tuyệt diệu ấy, mà khả năng sử dụng trí nhớ của hành giả, ở bất cứ lúc nào, và đối diện với tất cả các vấn đề, đều luôn luôn thanh tịnh, không bị chính cái trí nhớ của họ dẫn họ vào nẻo ngã mạn cố chấp.

 Nói cách khác dễ hiểu hơn: Ðức tính cảnh giác là hạt nhân sẽ đem lại thực quả là sự biết mình. Rồi nhờ sự biết mình ấy mà hành giả nhận rõ mọi hiện tượng xung quanh, phân biệt pháp lành với pháp ác, cái nào đang phát động trong tâm tư mình ; hầu tự thu thúc lục văn, sống đúng theo Chánh Pháp.

 Thực ra, chữ Pali “Sati” có nghĩa là thông thường là “trí nhớ” (tức khả năng tự “biết lại” những cái gì đã trôi qua!) Chính nhờ cái “trí nhớ” ấy mà quá khứ và hiện tại mới được nối liền với nhau bằng những chuỗi truyền cảm ký ức.

 Nhưng đối với A Nan Ða, trong kiếp chót, trí nhớ (sati) đã biến thành sự biết mình (sampa janna). Tức là ông không phải chỉ nhớ suông đến những điều ông đã học thuộc lòng, mà ông còn cảm thấy, cái tác dụng của nó nữa!. Ðể khi lập lại, ông biết tùy theo trình độ trí thức của mỗi người nghe mà diễn đạt từ thấp tới cao, từ nông cạn đến sâu sắc, từ thô kệch đến vi tế, chứ ông không phải nhắm mắt lập lại, một cách hổn độn, loạn xà ngầu.

 Còn về phương diện nhớ nhanh và nhớ chắc thì A Nan Ða có thể xem là vô địch! Nhờ thiện hạnh tồn trữ từ nhiều đời trước, kiếp nầy ông chỉ nghe qua một lần là ông có thể lập lại nguyên văn một bài Pháp của Ðức Phật gồm 60000 chữ một cách dễ dàng. Một lần khác, A Nan Ða đã tụng lại 150 ngàn bài kệ, mỗi bài bốn câu của Ðức Phật dạy.

 Kỷ lục ghi nhớ tức khắc, và ghi nhớ đầy đủ của A Nan Ða, khiến ta có cảm tưởng, như ông đã dùng phép lạ, mới thực hiện nổi một kỳ công như thế! Nhưng theo Phật Giáo thì phép “lạ” của A Nan Ða không có gì khác hơn là ông không để cho tâm trí của mình bị vướng mắc bởi những ý tưởng vô ích.  Những ý tuởng vô ích nầy vốn có hàng trăm, ngàn thứ và luôn luôn “choáng hết chỗ” trong đầu óc con người, thì còn đâu tiềm lực để cho trí nhớ của họ được phát triển!?

 Ðức Phật dạy rằng: “ Nguyên nhân duy nhất khiến cho một người hay quên là sự có mặt của năm pháp chướng: tham dục, ác tâm, hôn trầm, vọng tưởng (phóng dật) và hoài nghi!” (theo Anguttara Nikàya V 193)

 A Nan Ða lúc ấy tuy chưa đắc quả A La Hán nhưng nhờ ông vâng lời Phật dạy lấy Chánh Niệm làm nền tảng tu luyện, đồng thời nhờ phúc duyên tu nhiều kiếp trước, nên mỗi khi ông tập trung tâm trí để nghe pháp, là năm pháp chướng ấy không thể nào khuấy nhiểu ông được.

 Ngay cả ngày nay, nhiều cao tăng Phật Giáo ở Miến Ðiện, chỉ nhờ thành công phần nào trong việc loại trừ năm pháp chướng ấy, mà cũng có thể nhớ nằm lòng Tạng Luật, Tạng Kinh hay Tạng Luận một cách dễ dàng. Có vị còn đủ khả năng nhớ cả tam tạng gồm 45 quyển in đầy cả chữ nữa.

 Khi A Nan Ða nghe Pháp, ông không có một gợn tư duy nào trong tâm ông cả. Ông không để cho cái “ngã” nổi dậy để bình phẩm “câu nầy dài, câu khi ngắn. Câu nầy sâu sắc, câu kia thông thường, âm thanh câu nầy cao, âm thanh câu khi thấp v.v…!”

 Trong ý thức của ông lúc ấy chỉ có một điều là nghe và ghi nhớ một cách tự nhiên, không bấn loạn hay hoang mang, sợ rồi mình sẽ quên những đìều Phật dạy. Như một viên thư ký chuyên nghiệp, chỉ biết vô tư chép đúng những lời người khác nói, lên tranh giấy trắng tinh một cách tự tin và bình thản!

 Và trang giấy trắng tinh của A Nan Ða là trí óc thanh tịnh, không bị năm pháp chướng làm mờ đục, hoen ố vậy.

 Ðây chính là tư cách của một đại thinh văn (Bậc được nghe nhiều học rộng). Vì ai được nghe và học nhiều bằng phẩm hạnh nầy sẽ loại trừ được tánh ương nghạnh, tự đắc, nằm sẵn trong tâm, và biến trí óc mình thành một kho tàng chứa toàn chân lý. Và người được nghe và hấp thụ càng nhiều chân lý thì những ác pháp trong tâm họ, đương nhiên càng được tiêu trừ!

 Các hạng thinh văn như thế có thể ví như những hạt kim cương, tiếp nhận ánh sáng chân lý, từ tôn khẩu của đức Phật, nên sự phản chiếu ánh sáng chân lý (ám chỉ sự lập lại) cũng trung thực, không thêm, không bớt, không rõ, không mờ! (theo vật lý học, kim cương là môi trường mà ánh sáng hiện ra chính xác nhất)

 Bởi vậy, một bậc thinh văn chân chánh là người luôn luôn tự nhiên, và tuyệt đối tôn trọng sự thật. Bất cứ điều lành nào họ ghi vào trí nhớ để thực hành, là họ không bao giờ cho rằng “ấy là nhờ trí tuệ tinh anh của mình suy diễn mà được, nhưng ấy là “sự thật trong chánh pháp!” Và họ chỉ là người được nghe và khách quan nhận ra giá trị của nó.

 Như mấy câu thơ sau đây của Rainer Maria Rilke đã ca ngợi A Nan Ða:

 “Thấy sự thật không tự hào tinh mắt.

Hiểu sâu xa không nghĩ tuệ mình cao.

Hạng thinh văn như thế hiếm dường nào,

Như giọt nước long lanh trên sa mạc!”

 Bài thơ nầy phản ảnh một cách trái ngược tâm tánh của A Nan Ða, khi ông chưa xuất gia. Lúc ông mới đến với đức Phật, A Nan Ða là người chứa đầy vô minh, phiền não, ngã mạn và tự đắc. Nhưng càng về sau, nhờ sống bên cạnh đức Bổn Sư, mà ông mỗi ngày một thấm nhuần chân lý giải thoát. Thấm nhuần đến độ mà ông không còn là ông nữa! Ông đã biến thành hiện thân của Pháp Bảo, biến thành “Pháp-Thân” của đức Phật, để hơn 2500 năm sau, cái tên A Nan Ða không còn là một danh xưng nữa, mà nó chính là “ngôn ngữ mở đề” của các kinh đìển Phật Giáo.

 Phẩm cách nghe Pháp và thấm nhuần chân lý vào trí óc của A Nan Ða được gọi là nền tảng trí thức thứ nhất (trong năm nền tảng trí thức). Kinh Samyutta Nikàya (Tạp A Hàm số 14.5) còn ghi rõ rằng: “A Nan Ða đã thấm nhuần lời Phật dạy như thế nào, thì khi ông truyền lại Phật ngôn cho đệ tử, cũng làm cho họ thấm nhuần như thế ấy!”

 Còn theo kinh Tăng Nhất A Hàm số  III,78 (Angutta Nikàya n. III, 78) thì Phật đã xác nhận rằng:

 “A Nan Ða có một nghệ thuật nghe Pháp rất đặc biệt, không thể tìm ra một người thứ hai trên thế gian nầy!”

 Một lần nọ, đức Phật ngự tại vườn Song Long thọ Gosinga (cũng gọi là rừng Gosinga) với một số đông đệ tử hạng tôn túc. Ðức Trưởng Lão Xá Lợi Phất (Sàriputta) thấy khung cảnh thanh nhã, đã tán dương rằng: “Ðây có thể gọi là vườn An Lạc, vì những cây song long nở đầy hoa, hương thơm tõa kín không gian, như một cõi trời …!”

 Rồi Trưởng Lão nêu câu hỏi:

“Kính thưa chư đạo huynh! Một khung cảnh thanh tịnh như thế nầy, có thể đem so sánh với phẩm hạnh của sa môn nào trong chúng ta, là xứng đáng nhất?”

 Các vị đại đệ tử của đức Phật liền lần lượt trả lời. Mỗi vị làm nổi bật một khía cạnh trong sự so sánh của mình. Nhưng nói chung, tất cả ý chính đều qui về một đìểm là: mỗi sa môn đều có một phẩm hạnh đặc sắc, xứng đáng để so sánh với khung cảnh thanh tịnh của ngôi vườn.

 Riêng câu trả lời của A Nan Ða thì như sau:

“Nầy chư đạo huynh! Sa môn nào là người nghe đủ tám muôn bốn ngàn Pháp môn của đức Phật, là người sống đúng theo chánh pháp, là người làm sáng tỏ và bảo tồn Pháp Bảo tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn chót! Sa môn nào là người có khả năng truyền lại những lời Phật dạy một cách tròn đủ, không thêm, không bớt một cách khiêm nhượng, tự nhiên! Sa môn nào là người luôn luôn ghi nhớ rằng: Pháp nào ta đã hiểu được, ta có bổn phận cống hiến cho cộng đồng xã hội. Tức là sa môn có khả năng thuyết pháp đến các hàng tứ chúng (Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, thiện nam và tín nữ) làm cho họ trước tiên thỏa thích trong Pháp Bảo, rồi sau đó hiểu đúng nghĩa đế, để tiến tới phẩm hạnh diệt tận tham sân si, giải thoát!… thì sa môn ấy xứng đáng để so sánh với ngôi vườn kỳ diệu nầy!” (theo Majjhina Nikàya 32 = Trung A Hàm số 32)

 Nền tảng trí thức thứ hai là giữ lại trong tâm bất cứ Pháp Bảo nào mà mình nghe được và tự động áp dụng những thiện pháp ấy, để mang lại lợi ích cao thượng cho chính bản thân mình.

 Nền tảng trí thức thứ ba, chú giải tiếng Pali gọi là Gatimanta, tức là sự hiểu đúng mạch văn và hoàn cảnh của từng vấn đề. Cùng một từ ngữ mà trong một bài pháp nầy Ðức Phật ám chỉ thân nghiệp, rồi trong một bài pháp khác, đức Phật có thể ám chỉ ý nghiệp. Khi A Nan Ða được nghe nói đến hai lần trong một bài pháp khác, đức Phật có thể ám chỉ ý nghiệp. Khi A Nan Ða được nghe nói đến hai lần trong hai trường hợp khác biệt nhau, ông cũng hiểu Phật ngôn đúng theo nghĩa của từng thời pháp. Nói cách khác là bộ óc của A Nan Ða có khả năng “thu thanh” một cách chính xác và phân biệt mọi vấn đề theo thứ tự thời gian: Ðiều nào ông đã nghe, ông hiểu khác với nhiều điều ông đang nghe, không bao giờ lầm lẫn vì cố chấp trên một số từ ngữ.

 Nhiều học giả Phật giáo đã ví bộ óc của A Nan Ða như một cái máy ghi âm siêu đẳng, có nhiều tầng số được thanh lọc. Mỗi tầng số dành thu phát một vấn đề chuyên biệt, không bao giờ cho những âm thanh bất thiện, ngoại đề, có thể dập vào trong âm trường của làn sóng.

 Theo một thuật sự trong tam tạng Pali thì A Nan Ða có khả năng nghe nhiều đoạn pháp khác nhau cùng một lúc. Những đoạn pháp ấy có thể thuộc về nhiều đề tài khác nhau, và được thuyết xen kẽ nhau. Nhưng sau khi nghe xong, A Nan Ða đã có thể ráp nối các đoạn pháp rời rạc ấy một cách mạch lạc, thứ tự, để hoàn tất một lúc hai ba bài pháp, thật dễ dàng! Thậm chí A Nan Ða còn có thể vừa nghe, vừa đem thuyết lại từng đoạn Phật ngôn rời rạc cho các hàng tứ chúng hấp thụ về một số đề Pháp chuyên biệt.

 Và khi nghe xong các đoạn pháp ấy, thính giả luôn luôn khen ngợi A Nan Ða đã cống hiến cho họ một bài pháp, tuy gồm nhiều đoạn ráp nối nhưng rất dễ hiểu, hấp dẫn và mạch-lạc!

 Ðiều ấy chứng tỏ rằng A Nan Ða đã có khả năng hiểu đúng, và nắm vững ý chính từng chữ, từng câu, hay từng đoạn do đức Phật thuyết dạy, bằng một nghệ thuật rất khoa học!

 Nhờ thế, nhiều lần A Nan Ða, trong lúc đang thuyết lại một số Pháp Bảo, chợt bị các đồng đạo chất vấn bất ngờ, ông vẫn có thể ngưng lời, để giải đáp cặn kẽ, rối quay lại đề chính một cách tự nhiên, dễ dàng, mà không bao giờ bị lạc ý hay lúng túng!

 Nền tảng trí thức thứ tư là nghị lực và sự hiến thân không thối chuyển trong nhiệm vụ học hỏi và duy trì Pháp Bảo Giải Thoát, với tư cách là một thinh văn thân cận nhất của một bậc Giác Ngộ!

 Nền tảng trí thức thứ năm là công hạnh của một đệ tử hầu Phật hoàn toàn nhất, của A Nan Ða, như chúng ta đã đề cập qua trong đoạn trước!

 Ngày nay, khi chúng ta nhắc lại 5 nền tảng trí thức ấy, chúng ta không thể nào không mường tượng ra hình ảnh linh hoạt của đại tôn giả A Nan Ða. Tuy ông ở vai trò làm phát ngôn viên chính thức của đức Phật, ông là trọng tâm của mọi sự chú ý, mà ông vẫn ung dung, hòa ái, đối xử một cách bình dị, cởi mở với tất cả mọi người.

 Ðối với những ai thường tiếp xúc với ông, A Nan Ða là mẫu người hiếm khi bị chê trách, vì đức tính phụng sự đức Phật và tăng chúng không biết mệt, cũng như tình bạn không lay chuyển, mà ông luôn dành cho tất cả mọi người!

 Nhiều khi, có những xung đột xảy ra trong các hàng tăng chúng, mà A Nan Ða không hay. Thay vì ông dửng dưng làm người ngoại cuộc cho yên thân thì A Nan Ða đã tình nguyện làm “hoà bình sứ giả” để dùng từ tâm của mình giải quyết mọi vấn đề một cách êm đẹp!

 Và A Nan Ða đã luôn luôn thành công, vì ông là một sa môn không bị ai ghét bỏ. Ông là một người không có kẻ thù. Hình ảnh của ông chỉ là hình ảnh của một đệ tử trung thành với đức Phật.

 Ông đã hết long phục vụ tăng chúng đồng thời với sự tận tụy hầu hạ của đức Phật. Nên trong tâm tư của những đồng đạo của ông, ông không bao giờ lưu lại một nét bất mãn.

 Mặt khác, A Nan Ða vốn đã cũng là một người rất giỏi tổ chức. Ông luôn luôn biết trước và nắm vững mọi sinh hoạt của các hàng tứ chúng, có liên hệ đến ông hàng ngày. Ông như một vị “giám đốc” kỳ tài, biết phân phối rõ ràng chương trình làm việc đến tất cả mọi người để cho những sinh hoạt tăng già luôn luôn được diễn ra tốt đẹp. Rồi nhờ tính cẩn thận và cảnh giác cố hữu, A Nan Ða hàng ngày rút ra nhiều bài học quý giá. Cùng một sơ hở, người khác có thể vấp phải nhiều lần, nhưng A Nan Ða không bao giờ phạm một lỗi đến lần thứ hai.

 Tính cảnh giác và trí nhớ đặc biệt còn giúp cho A Nan Ða có thể nhận diện hàng trăm hàng ngàn Phật tử xa gần khác nhau một cách kỳ diệu! ông chỉ cần thấy mặt một người nào đó một lần, là trong bao nhiêu lần sau, ông cũng sẽ nhận ra họ được!

 Và cũng nhờ cái tài “ nhớ rõ mặt mũi từng người” ấy, mà A Nan Ða đã có thể đoán trước (ngày nay chúng ta thường gọi là xem tướng) biết được bản chất của từng người một, hầu đối xử với họ làm sao cho hợp lẽ, để họ tự động học hỏi thấm nhuần Phật Giáo, không gây cho họ cái cảm tuởng “Ông là người đã khéo léo dẫn dụ họ quay về với đạo Phật!” Bất cứ ai lúc quy y đạo Phật, sau khi đã nghiên cứu giáo lý Phật Ðà với A Nan Ða, cũng đều nghĩ rằng: chính họ đã tìm ra Chánh Pháp, chứ không bị ai ảnh hưởng cả!

 Nói tóm lại, A Nan Ða là một sa môn có đầy đủ phẩm hạnh để đóng vai trò đại diện cho đức Phật trước các hàng tứ chúng, hầu cùng với những vị đại Tông Ðồ khác lãnh đạo giáo hội. Và cái phẩm hạnh nổi bật nhất, cần luôn luôn nhắc đến ở đây, là phẩm hạnh của một bậc gìn giữ Pháp Bảo! Nếu Phật Pháp là một kho tàng của báu vô giá, thì A Nan Ða chính là vị bảo vệ kho tàng ấy chắc chắn nhất vậy!

 

5. A Nan Ða Ðối Với Nữ Giới

Ngay từ hồi còn làm hoàng thân, hai anh em A Nan Ða và Anuruddha đã không tỏ ra bị lôi cuốn bởi những sự hầu hạ của phái nữ. Nhờ bản chất ít đam mê trong dục lạc ở đời và nhờ tinh thần ưa chuộng sự sống thanh tịnh, nên sau khi xuất gia mọi liên hệ giữa họ với những người nữ phái dường như không còn cần thiết nữa. Nhất là Anuruddha, từ ngày xuất gia, sự tiếp xúc với nữ giới đã hoàn toàn cắt đứt! Không những Anuruddha  tuyệt đối chẵng nhìn đến người nữ, mà ngay đến người nam cũng rất ít được ông giao dịch, trò nguyện nhiều lời. Ngoại trừ đức Phật.

Tuy nhiên, không phải vì vậy, mà vấn đề phái nữ không được đặt ra như một thách đố đối với A Nan Ða, nhất là vị đại tôn giả nầy vì bổn phận, hằng ngày phải tiếp xúc với đủ mọi hạng người. Huống chi A Nan Ða đã tâm nguyện đem thân mình hiến dâng cho tiền đồ Phật giáo!

A Nan Ða ngoài việc hầu cận đức Phật và phục vụ giáo hội, ông còn nhận bổn phận chăm sóc tất cả hàng Phật tử, bất luận là nam hay nữ! - Nếu không có A Nan Ða, trong Phật Giáo chỉ còn có ba hạng đệ tử mà thôi là, tỳ khưu, sa di và các hàng thiện tín.

Chính ông là bàn tay đã khai sinh hệ thống nữ tu khi đức Phật còn tại tiền. Theo Anguttara Nikày VIII (Tăng Nhất A Hàm số VIII) và Cùlavagga X (Tiểu Phẩm số X), thì sự bắt đầu của giáo hội tỳ khưu ni đã diễn ra như sau:

“Khi những nam hoàng thân trong vương tộc Thích Ca đã xuất gia, thì các phu nhân, các công chúa, các tiểu thơ cũng điều mong muốn sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của đức Phật. Do đó, có một số đông các mệnh phụ phu nhân dẫn đầu bởi hoàng hậu Mahà Pajapati Gotamì (tức là dì ruột, là kế mẫu, mà cũng là người đã nuôi dưỡng đức Phật từ khi chào đời cho đến khi khôn lớn) đã đưa nhau đến ra  mắt đức Phật và xin phép xuất gia. Thoạt đầu đức Phật đã từ chối, vì biết chắc rằng đời sống khắc khổ, thanh đạm, không nhà cửa của các hàng sa môn chẳng thể nào thích hợp với những bậc khuê các. Nhưng mẫu hậu Mahà Pajapati Gotamì vẫn kiên nhẫn khẩn khoản đức Thế Tôn đến nhiều lần …

Khi A Nan Ða thấy kế mẫu của đức Phật hai chân sưng húp, y phục dính đầy cát bụi, đôi mắt thâm quần và ngập lệ, đứng trước cửa chùa một cách thểu não, bèn hỏi:

- Tâu mẫu hậu, vì sao người ra nong nỗi ấy?

- Bạch sa môn A Nan Ða! Mẫu hậu mong ước được sống đời sống xuất gia, nhưng đức Thế Tôn đã không cho phép.

- Mẫu hậu đã yêu cầu Phật đến lần thứ mấy?

- Ðến lần thứ ba rồi mà không được nên mẫu hậu đang buồn tủi vì tuyệt vọng!

A Nan Ða nghe thế liền đích thân đi yêu cầu Phật. Nhưng đến khi ông yêu cầu đến lần thứ ba vẫn bị đức Phật từ chối.

Và lòng  từ bi đã không cho phép A Nan Ða thụ động, đứng nhìn hoàng hậu đáng thương như thế. Ông bèn an ủi hoàng hậu, rồi hứa sẽ tìm dịp thuận tiện tiếp tục yêu cầu đức Phật nữa…!”

Ðến đây thiết tưởng soạn giả cũng nên cắt nghĩa về thái độ của đức Phật. Ðức Bổn Sư sở dĩ từ chối sự xuất gia của mẫu hậu và các hàng phu nhân trong hoàng tộc Thích Ca bởi lẽ gìới luật của các bậc sa môn rất nghiêm nhặt, đời sống phạm hạnh rất thanh đạm, cơ cực, nếu không muốn nói là gần như khổ hạnh đối với những bậc quý phái thuở bấy giờ! Một vị hoàng hậu trở thành một vị tỳ khưu ni để sống giữa rừng vắng, thực phẩm hàng ngày là của bố thí của nhũng kẻ hảo tâm! Các mệnh phụ phu nhân ấy vốn quen sống trong nhung lụa, luôn luôn được hầu hạ thì làm sao biết tự lập, biết tổ chức và biết hạ mình, nhường nhịn nhau trước những cơ cực trong đời sống khất sĩ?! Vã lại, thuở đức Phật còn tại tiền, xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ được xếp đặt theo quan niệm chính trị của đạo Bà La Môn, một tôn giáo xem địa vị của nữ lưu rất thấp trong xã hội, nhất là nữ lưu ấy là một khất sĩ! Và người đàn bà không có quyền tạo thành một cộng đồng riêng biệt!

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể hiểu rằng, đức Thế Tôn từ chối việc xuất gia của mẫu hậu đến ba lần là để thử thách sự quyết tâm của bà cũng như để cho bà còn có thì giờ suy nghĩ lại hầu sau này khi khép mình trong khuôn khổ phạm hạnh, bà sẽ không tiếc rẽ đời sống vương giả nơi hoàng cung!

Trở laị vai trò của A Nan Ða trong vấn đề này. Vào một dịp, A Nan Ða hỏi Phật “- Bạch đức Thế Tôn một người đàn bà nếu dốc lòng muốn xuất gia, lấy ngày tháng phạm hạnh làm kiếp sống, nghiêm trì giới luật và theo gương các bậc Toàn Giác, người đàn bà ấy về sau có thể đắc quả Thánh Nhập Lưu, quả Thánh Nhất Lai hoặc quả Thánh Giải Thoát hay không?”

“Này A Nan Ða! Người đàn bà như thế về sau chắc chắn sẽ được quả Thánh Giải Thoát!”

Nhân đó A Nan Ða liền nhắc lại:

“- Bạch đức Thế Tôn! Nếu một người đàn bà có đủ những yếu tố như thế và người đàn bà ấy lại là Mahà Pajapati Gotamì, dì ruột, kế mẫu mà cũng là người đã nâng niu đức Thế Tôn từ tấm bé! Người đã nuôi dưỡng đức Thế Tôn bằng những giọt sữa của chính mình, khi đệ nhất hoàng hậu Màyà (mẹ ruột của Phật) băng hà. Một người đàn bà như thế có xứng đáng được đức Thế Tôn chấp thuận cho được xuất gia, lấy đời sống không gia đình làm phương tiện để noi gương và gìn giữ giới luật của đức Thế Tôn đã chỉ dạy hay không?”

Ở đây A Nan Ða hiển nhiên đã nêu lên hai lý do rất chính đáng. Lý do thứ nhất, một người đàn bà, nếu có chánh kiến, quyết tâm và trì chí cũng có thể đắc quả Giải Thoát trong kiếp này. Lý do thứ hai, hoàng hậu Màyà đang hội đủ những đức tính đó và bà lại có công lớn trong việc bảo toàn và dưỡng dục hoàng tử hiện thân của đức Phật, thì đối với một hiền mẫu như thế chỉ có một phẩm vị xuất gia trong Chánh Pháp mới có thể đền bù xứng đáng công ơn của bà.

Ðức Phật, trước sự “biện hộ” một cách chân chính của A Nan Ða đã cho phép mẫu hậu Mahà Pajapati Gotamì xuất gia. Ngài sau đó cũng cho phép A Nan Ða thành lập giáo hội nữ gìới, nhưng với những điều kiện gia nhập rất nghiêm nhặt!

Ðọc đến đây, chúng ta có cảm tưởng như A Nan Ða nhờ trí thông minh và khéo nói mà thay đổi được “tư tưởng” của đức Phật. Nhưng trong thực tế, nhất là trong chiều sâu, không ai có thể thay đổi được “ý định” của một bậc Toàn Giác cả. Bởi ý nghĩ của một vị Phật luôn luôn gắn liền với những sự thật rất vi tế. Vấn đề này không phải chỉ xảy đến với đức Phật Thích Ca, mà nó còn đã xảy ra cho các vị Phật trong quá khứ nữa! Và hầu hết chư Phật đều đã cho phép thành lập giáo hội ni giới.

Câu chuyện kế mẫu của đức Thế Tôn, hoàng hậu Mahà Pajapata Gotamì không được phép xuất gia khi chưa có sự can thiệp của A Nan Ða không có nghĩa là đức Phật không biết đến công ơn dưỡng dục của bà. Nhưng sự không chấp thuận một cách vội vã ngay lúc đầu để chứng minh rằng đức Phật là một bậc Toàn Giác và Ngài vốn biết trước mọi sự việc, nhất là biết trước một tai hại về lâu về dài cho Phật Giáo trong tương lai.

Bởi thế, sau đó đức Phật đã chuẩn định 8 điều kiện mà chỉ có những người đàn bà nào đầy đủ đức hạnh và thành tâm nhất mới có thể được chấp thuận để gia nhập ni giới. Tám đìều kiện này còn được xem như những giải pháp ngăn ngừa sự luyến ái giữa hai phái nam và nữ một cách dứt khoát và cần đuợc thi hành tuyệt đối nghiêm chỉnh.

Ðã thế, đức Phật còn ấn định rằng:”Hệ thống ni giới trong giáo pháp của Như Lai sẽ kéo dài một cách đứng đắn trong vòng 500 năm sau thôi”

Lời của dịch giả: Vấn đề tuổi thọ 500 năm của ni giới chỉ tìm thấy trong Tạng Luật (Vinaya Pitaka) chứ không tìm thấy trong Tạng Kinh (Suttanta Pitaka) hay Tạng Luận (Abhidhamma Pitaka). Nhất là không có một chỗ nào trong kinh điển Pali (Phạn ngữ) ghi rõ tuổi thọ ấy kéo dài đến 1000 năm, như một số học giả nói! Hầu hết các nhà phê bình và khảo cứu Phật giáo từ xưa tới nay thường nhắc đến những hiện tượng suy đồi của giáo hội ni giới trong vòng 500 năm, hơn là xác chứng lời Phật nói về vấn đề thời gian. Nếu có sự khác nhau về tuổi thọ của hệ thống ni giới thì đó có lẽ là ý kiến của các tổ sư Phật Giáo sau nầy!

Về sau, khi đức Phật ban bố những nghiêm luật và nội quy cho đời sống ni giới, A Nan Ða đã hỏi đức Phật về phẩm cách của một sa môn xứng đáng hướng dẫn các hàng tỳ khưu ni, đức Thế Tôn đã trả lời rằng:

“- Sa môn nào biết thực hành đúng 8 quy luật mà Như Lai đã chế định là sa môn sẽ thay mặt Như Lai thuyết pháp đến các hàng tỳ khưu ni”

Tức là đức Phật đã không hạn chế vị bổn sư của các tỳ khưu ni nhất định phải là A La Hán, nhưng Ngài chỉ nhấn mạnh ở 8 phẩm cách. Tuy 8 phẩm cách ấy tượng trưng cho một bậc thánh, nhưng nếu một phàm tăng hội đủ những đức hạnh đặc biệt, như A Nan Ða chẳng hạn, cũng có thể hướng dẫn các hàng tỳ khưu ni được.

Tám phẫm cách ấy là:

1- Làm thầy dạy đạo cho các hàng tỳ khưu ni  phải đủ đức hạnh (giới luật phải trong sạch).

2- Phải am hiểu Pháp bảo.

3- Phải thuộc lòng giới luật, nhất là giới luật tỳ khưu ni.

4- Phải có khả năng nói pháp vừa thanh nhã (không tục tỉu) vừa rõ ràng, dễ hiểu. Không được lầm lỗi trong sự phát âm (Vì cùng một chữ mà phát âm sai có thể hiểu ra nghĩa khác).

5- Phải biết dạy pháp đến các hàng tỳ khưu ni từ thấp tới cao, làm cho họ từ chưa hiểu đến hiểu rõ.

6- Phải được các hàng tỳ khưu ni đón mừng (tức không làm cho họ sợ) và kính mến! nhất là sa môn ấy khi có một đệ tử tỳ khưu ni phạm lỗi và bị ông rầy, sau đó không nên làm cho người phạm lỗi tiếp tục sợ hãi.

7- Phải là một sa môn từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ phạm giới tà dâm.

8- Phải là một sa môn đã thọ cụ túc giới (tức giới luật tỳ khưu) tối thiểu 20 hạ.

(Theo Anguttana Nikàya VIII 52 = Tăng Nhất A Hàm số VIII 52)

Và kể từ ngày ấy, vị tôn giả A Nan Ða là một trong những người đầu tiên có công sáng lập ra hệ thống ni giới, nên ông đã tìm mọi cách để thúc đẩy hệ thống nầy tiến mạnh trên Thánh Ðạo.

Đây cũng chính là lý do khiến cho A Nan Ða đã phải gặp phải một số phiền phức.

Có hai trường hợp các tỳ khưu ni đã bướng bỉnh chống lại đại Trưởng Lão Ca Diếp (Mahà Kassapa) để đòi nghe pháp của A Nan Ða (theo Samyutta Nikàya 16, 10,11 = Tạp A Hàm số 16, 10, 11)

Một trong hai trường hợp đó đã được đề cập qua trong chương hai, với tựa đề “A Nan Ða, một cái tên quen thuộc”. Theo sử chép thì kết quả của biến cố ấy là đã có hai tỳ khưu ni khó dạy hoàn tục. Và họ nêu lý do hoàn tục rằng: Họ đã không chịu nổi cảnh có một ông thầy (ám chỉ A Nan Ða) không biết chú ý đến họ như những con người, mà chỉ chú trọng đến họ như hai tâm hồn cần được cứu rỗi!

Nghiêm trọng hơn nữa là trường hợp của tỳ khưu ni tên Kosambi, một cái tên mà A Nan Ða chưa từng quen thuộc. Tỳ khưu ni này một hôm bỗng nhắn lời đến A Nan Ða rằng: Cô ta đang bệnh nặng, cần sự viếng thăm của ông. Sự thật cô đã thầm yêu trộm nhớ A Nan Ða, và chỉ muốn tạo dịp quyến rủ vị sa môn này. A Nan Ða khi biết rõ chuyện ấy, thay vì né tránh, ông đã giải quyết vấn đề một cách rất cao thượng.

A Nan Ða đến thẳng tư thất của tỳ khưu ni si tình kia, rồi ông giảng giải cho cô ta nghe rằng: xác thân này của ông vốn là sự hội hợp của những chất đáng nhờm gớm. Nhất thời, nó chỉ là giao điểm của ba nguồn đau khổ là tham sống, thèm khát, hưởng thụ và ngã chấp. Rồi ông phân tích hậu quả trầm luân của ba nguồn đau khổ ấy, để thức tỉnh người đàn bà tăm tối kia.

Ông nói: thứ nhất hễ ham sống thì cái chết sẽ làm cho ta đau khổ, mà cái chết không thể tránh được! Cái chết được biểu hiện bằng cái già và cái bệnh, mà cái già và cái bệnh cũng không thể tránh được! Khi người ta cảm thấy mình mỗi ngày một già thì người ta tự biết mình càng lúc càng tiến đến chỗ chết! Thứ hai: Hễ  thèm khát hưởng thụ thì bất toại nguyện sẽ làm cho ta đau khổ, mà bất toại nguyện là một điều không thể tránh được, vì con người chỉ ngăn ngừa nổi ác nghiệp sắp tới (nhờ tinh tấn tu hành), chứ không ngăn ngừa được ác quả đã tạo! Khi người ta đối diện với một nghiệp quả đã tạo, dù lành hay dữ, sự thèm khát luôn luôn làm cho người ta đau khổ. Nếu là quả lành thì thèm khát mong được có nhiều hơn, còn nếu quả ác thì thèm khát mong được tránh khỏi! Thứ ba hễ ngã chấp thì vô thường sẽ làm cho ta đau khổ, mà vô thường là một định luật không ai có thể tránh được. Mặt trời  buổi sáng mọc ở hướng đông rồi buổi chiều lặn ở hướng tây. Ngày qua tháng lại là tượng trưng chính xác nhất của định luật vô thường. Vô thường là yếu tố căn bản để làm cho cái “ngã tạm thời” không bao giờ thực sự tồn tại, chứ đừng nói chi đến việc hiện hữu lâu dài hay trường cửu.

Một bậc xuất gia chân chánh là người biết biến đổi ba ác pháp tham sống, thèm khát hưởng thụ và ngã chấp ấy ra thành ba thiện pháp là: Vô tư trước hai trạng thái sống và chết, không mắc dính trước mọi cám dỗ của dục lạc ở đời và niệm tưởng đến luật vô thường, mọi vật không ngừng biến đổi! Bậc xuất gia ấy sẽ thay thế sự ham sống bằng sự ham thích tịch tịnh, thay thế sự thèm khát hưởng thụ bằng sự ham thích phúc đức để tạo thiện nghiệp và thay thế sự ngã chấp bằng tính vô ngã đại đồng.

Nói cách khác là bậc xuất gia ấy biết đem sự sống của mình hòa với sự sống chung của muôn loài vạn vật, biết đem tính phát triển thiện hạnh của mình đóng góp vào sự tiến hóa chung của tất cả chúng sanh và biết đem cái bản vị tạm thời trong một kiếp người của mình làm ngọn đèn soi thấy  lý vô ngã trong cái vòng sinh sinh diệt diệt.

Nghĩa là một bậc xuất gia như thế hằng sống trong Chánh Pháp. Và sự biết mình chính là một sức mạnh hộ trì cho trí huệ sáng suốt để dẹp bỏ mọi tà tư duy, nhất là tình dục, hầu đưa giác linh của họ nhập vào một phẩm hạnh thánh nhân, một phẩm cách nhằm đạt đến giảo thoát mọi đau khổ trong kiếp này và thoát khỏi cảnh tử sinh trong những kiếp sau!

A Nan Ða cũng nhấn mạnh rằng tình dục là nguyên nhân chính cắt đứt con đường giải thoát. Một bậc xuất gia mà để cho tình dục lộng hành trong tâm mình ví chẳng khác nào như người đi thuyền bị chảy nước mà không chịu kịp thời ngăn chận lại. Người đi thuyền đó trước sau gì cũng bị nhận chìm xuống đáy nước!…

Sau khi nghe những lời giảng dạy chân chính như thế, tỳ khưu ni suy tình Kosambi liền thức tỉnh. Cô lập tức rời khỏi giường (nơi mà trước đó chẳng bao lâu cô đã dùng làm chỗ khêu gợi) để đe đầu phủ phục trước mặt A Nan Ða, thành tâm nhận lỗi, rồi sám hối, yêu cầu A Nan Ða tha thứ!

A Nan Ða liền hoan hỉ trước lời sám hối của tỳ khưu ni, và khuyến khích cô rằng:” trong cộng đồng những người sống theo Bát Chính Ðạo, kẻ nào biết nhận lỗi và sám hối ăn năn là người sẽ tự tiến bộ, và sẽ đạt đến mục tiêu giải thoát!” (theo Anguttara Nikàya IV, 159: Tăng nhất A Hàm số IV, 159).

Câu chuyện nầy hiển nhiên đã chứng minh một cách hung hồn về khả năng cảm hóa (bằng thuyết pháp đúng lúc và hợp hoàn cảnh) của A Nan Ða, đối với những kẻ tăm tối, hầu đưa họ ra khỏi vô minh và dục vọng.

Một câu chuyện khác nói về các vương phi của vua Ba Tư Nặc (Pesenadi). Những phu nhân nầy nghĩ rằng:”Khó mà thấy được đức Phật ra đời! Khó mà sinh được làm người. Khó mà có được tinh thần minh mẫn trong một thân thể khỏe mạnh! Ấy thế mà chúng ta đã hội đủ ba điều kiện nầy, chúng ta vẫn không tự do vào chùa nghe pháp được!”

Các vương phi than phiền như thế, vì theo phong tục thuở bấy giờ: Tất cả các chánh cung thứ hậu và thị nữ của một nhà vua phải suốt đời ở trong cung cấm, như chim lồng cá chậu. Họ chỉ được nhìn thấy Ðức Phật hay chư tăng thuyết pháp khi họ tùy tùng theo đức vua, chứ họ không được đi chùa lễ bái bất cứ lúc nào họ muốn như người nam giới.

Mặc dù sống trên nhung lụa, nhưng những sự cao sang không mang lại hạnh phúc tinh thần cho họ. Họ bèn kéo nhau đến yết kiến đức vua, và yên cầu nhà vua thỉnh Phật hay một sa môn, nào đầy đủ phẩm hạnh vào cung thuyết pháp. Vua Ba Tư Nặc dĩ nhiên nhận lời, rồi yết kiến Ðức Phật, trình bày những mong ước của các nàng hoàng hậu.

Ðức Phật nghe xong, thoạt tiên ngài đề nghị một đệ tử tại gia là bậc đã đắc quả A Nan Hàm đi làm công tác đó. Nhưng thánh nhân cư sĩ ấy đã từ chối, vì cho rằng:”Hãy để cho một bậc xuất gia thuyết pháp thì dễ cảm hóa người đời hơn, nhất là người đời ấy là những bậc phu nhân quyền thế!”

Sau đó vua Ba Tư Nặc bèn thuật lại với các nàng phu nhân về lý do từ chối của vị thánh nhân cư sĩ nọ rồi yêu cầu họ hãy hội ý cùng nhau để đề nghị sa môn nào là bậc xứng đáng nhất vào cung thuyết pháp.

Tức thời các phu nhân liền suy nghĩ rằng “chỉ có sa môn A Nan Ða là người gìn giữ kho tàng pháp bão!”, rồi họ đồng thanh yêu cầu nhà vua mời A Nan Ða vào cung thuyết pháp.

Ðức Thế Tôn dĩ nhiên đã chấp nhận lời yêu cầu của nhà vua. Và kể từ đó A Nan Ða là người thường xuyên vào cung thuyết pháp, hướng dẫn đạo lý cho chư vị phu nhân của đức vua Ba Tư Nặc.

Một hôm trong cung vua bổng bị kẻ trộm lấy mất một vương miện bằng ngọc quí giá. Ngự lâm quân lục xét khắp nơi, mà vẫn không tìm ra. Tất cả thứ phi, cung tần, mỹ nữ trong cung cấm đều hồi hộp sợ sệt, lo ngại mình sẽ bị nghi oan…

Khi A Nan Ða vào cung thuyết pháp như thường lệ, thì thấy toàn thể “tín nữ hoàng gia” vẻ mặt phiền muộn, không vui tươi nghe pháp như trước  nữa. Ông bèn hỏi nguyên nhân thì biết được tự sự.

Bằng một tâm từ bi, A Nan Ða vội đến yết kiến đức vua, và hiến cho nhà vua một phương pháp để vương gia thu hồi chiếc vương miện bằng ngọc quí giá ấy, mà không gì phẩn nộ gây ra ác nghiệp (ý nói hành hình kẻ trộm…). Ðồng thời để tạo lại bầu không khí êm ấm trong hoàng cung, hầu các phu nhân, vương phi có thể yên tâm nghe pháp.

A Nan Ða đã đề nghị với vua Ba Tư Nặc như thế nầy:

Quốc vương phải ra lệnh cho quân lính không được lục xét bất kỳ ai trong cung cấm nữa. Ðoạn hoàng gia cần tuyển chọn, thợ khéo dựng lên một chiếc lều lớn, chỉ có một cửa vào và một cửa ra, tại trung tâm vườn ngự uyển. Trong lều có một chiếc bình đựng nước cổ rất cao. Bất cứ ai làm việc trong hoàng cung, cũng phải vào lều rữa tay trong chiếc bình ấy, để chứng minh sự “thành thật” của mình một lần theo thứ tự, và cấm hai người vào lều cùng một lúc. Ðây chính là cơ hội để cho kẻ tham lam biết ăn năn, có thể dấu chiếc vương miện trong mình rồi đem bỏ vào trong đáy bình nước ấy, mà không sợ bị bắt quả tang, đưa đến sự mất tánh mạng.

Kết quả, chiếc vương miện bằng ngọc của vua đã được tìm thấy trong chiếc bình đựng nước “thành thật” nầy! Và khung cảnh vui tươi của mọi người liền trở lại trong cung cấm! Tất nhiên kẻ trộm không ai khác hơn là một trong những vương phi, đã ăn năn, đem trả lại vật quí, và được tránh khỏi tội chết! (còn chiếc bình cao cổ để chứng minh rằng không ai có thể đụng tay tới đáy để có thể nghi rằng người vào lều sau mình, hay trước mình là kẻ gian cả!)

Diệu kế nầy càng khiến cho tên tuổi của A Nan Ða, vốn đã được nhiều người biết đến trở nên vang danh hơn nữa. Riêng trong hàng ngũ Phật Giáo thì A Nan Ða đã được tất cả huynh đệ khen ngợi như một người biết tái lập sự an vui bằng một phương pháp sáng suốt, cứu rỗi được những ác nghiệp đặc biệt! (theo Jàtaka n.92: Túc sinh số 92).

Và để tạm kết thúc chương nói về “sự liên hệ của A Nan Ða đối với nữ giới “soạn giã xin thuật lại mẫu đối thoại sau đây giữa A Nan Ða với Ðức Phật, không bao lâu trước khi Phật nhập diệt:

“Bạch Ðức Thế Tôn! Sau khi Ðức Thế Tôn nhập diệt, chúng đệ tử phải đối xử với phái nữ, nhất là đối xử với ni giới, như thế nào?”

Phật dạy:

“Các ông đừng nhìn lên thân thể họ!”

A Nan Ða hỏi:

“Nhưng nếu một người nữ đến quá gần một sa môn thì phải làm sao?”

Phật lại dạy:

“Các ông đừng tự mình mở lời trước!”

A Nan Ða tiếp:

“Trường hợp một người nữ đến thật gần một sa môn rồi bắt đầu gợi chuyện?!”

Phật nêu phương pháp

“Khi nghe một người đàn bà nói chuyện, các ông phải tuyệt đối cảnh giác, nhớ lại ý niệm ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi, đồng thời xử dụng thiền định, nhất là phẩm cách biết mình!” (theo Digha Nikàya 16: Trường A Hàm số 16)

Những câu hỏi nêu trên đã được chính A Nan Ða nêu lên khi ông chắc rằng: Ðức Phật sắp bước vào Niết Bàn. Và sau đó ông còn nhắc lại những lời sau cùng ấy với mọi huynh đệ trong khi chuẩn bị làm lễ hoả táng.

Trên thực tế, mối liên hệ giữa các hàng sa môn với những tỳ khưu ni, cũng như mối liên hệ giữa các hàng tỳ khưu tăng với những tín nữ, đối với A Nan Ða trong suốt 25 năm trường, dưới sự hướng dẫn của Ðức Phật, đã không là vấn đề đặc biệt cho lắm! Ðiều đáng nhấn mạnh ở đây là A Nan Ða đã cố ý nêu lên những câu hỏi như thế, khi Ðức Phật chưa nhập diệt, là để được nghe chính Ðức Phật truyền dạy những điều thực tế sau cùng.

Vả, A Nan Ða tuy là một sa môn luôn luôn sống trong sự tự biết mình, nhưng những sự khêu gợi của phái nữ, A Nan Ða vốn đã nhiều lần đối diện. Và sự cảnh cáo của Ðức Phật trước khi cho phép thành lập hệ thống Ni Giới, A Nan Ða cũng chưa quên (nhất là lời tuyên đoán của Phật về tuổi thọ của cộng đồng nữ tu trong Phật Giáo chỉ có thể trong sạch khong 500 năm sau mà thôi!) Thành th, đã từ lâu A Nan Ða thầm lo ngại về tương lai của Phật Giáo. Rồi vì lo ngại như thế, nên ông mới đặt ra những câu hỏi nêu trên đến Ðức Phật hầu xem nó, không những như những giáo huấn sau cùng, mà còn tái xác nhận thánh ý của Ðức Phật, về sự hiện hữu của phái nữ trong cộng đồng tăng lữ, để lưu lại một lề luật chánh truyền về sau, cho những người kế nghiệp trông coi hệ thống nữ tu cho đến hết 500 năm đã định.

 

6. A Nan Ða Ðối Với Các Hàng Huynh Ðệ.

Trong cộng đồng Tăng lữ chỉ có Xá Lợi Phất (Sariputta) là người bạn thân nhất của A Nan Ða. Còn Anuruddha (A Nậu Lâu Ðà) tuy là anh em ruột của ông, nhưng mối liên hệ giữa hai người đã tỏ ra không khắn khít cho lắm. Lý do chỉ vì Anuruddha thích sự cô độc yên tĩnh, còn A Nan Ða thường xuyên tiếp xúc với mọi người. Mặt khác, Xá Lợi Phất (Sariputta) là một đại đệ tử có cách thuyết pháp giống Ðức Phật nhất, nên khi đàm đạo với Xá Lợi Phất, A Nan Ða có cảm tưởng như mình đang nói chuyện với Ðức Bổn Sư.

Trong kinh còn ghi rõ rằng: chỉ có Xá Lợi Phất và A Nan Ða là hai người đã được Phật ban cho hai “chức vụ”: Xá Lợi Phất, vị “đại Như Lai Sứ giả”, và A Nan Ða, vị “đại Như Lai Thinh Văn”. (Tức là một người xứng đáng để diễn tả về “Ý Phật”: Như Lai Sứ Giả ; và người kia xứng đáng để nhắc lại đúng lời Phật dạy: Như Lai Thinh Văn!).

Một đoạn khác trong tam tạng kinh điển cũng nêu rõ Xá Lợi Phất (Sariputta) là một biện thuyết gia hùng hồn, nhất là khi ông thốt lời như một con sư tử gầm (Kinh sư tử hống: Sihasutta).

Còn A Nan Ða là một “tàng kinh các”, tức là “chỗ chứa đựng Phật ngôn” vững chắc nhất và nguyên vẹn nhất! (Ý nói A Nan Ða nghe Phật dạy sao thì có khả năng thuật lại y hệt, không thêm, không bớt, dù cho chỉ một chữ hay một vần!).

Về điểm nầy, chúng ta có thể đem A Nan Ða so sánh với Mục Kiền Liên (Moggallana). Vị đại dệ tử nổi tiếng về thần thông của Ðức Phật nầy (Mục Kiền Liên) cũng có một cách thuyết pháp rất giản dị, thực thà, bình dân và dễ hiểu. Mục Kiền Liên là vị đại tông đồ thứ hai (sau A Nan Ða) nổi tiếng về đức tánh lập lại Phật ngôn một cách nguyên văn, không dư sót.

Mặt khác, A Nan Ða và Xá Lợi Phất thường được Ðức Phật giao cho thi hành một số công tác chung. Chẳng hạng như khi ông Bá hộ Cấp Cô Ðộc (Anàthapindika) đau nặng, họ đã cùng nhau đến thăm nhiều lần (theo Majjhima Nikàya số 153, và Samyutta Nikàya, 55-56). Hoặc cả hai đã hợp lực trong việc giải quyết những mối bất hòa của các hàng tăng lữ ở Kasambi (theo Anguttara Nikàya 221).

Còn mặt luận đạo thì A Nan Ða và Xá Lợi Phất đã trao đổi khắn khít với nhau không biết bao nhiêu lần. Bởi vậy, khi A Nan Ða hay tin Xá Lợi Phất viên tịch, ông đã lập tức thẩn thờ rụng rời, tỏ lời thương tiếc như sau:

“Bỗng dưng khung cảnh đổi buồn,

Huynh “đi” tâm đệ không còn tinh thông.

Mất huynh dòng lệ sầu tuông,

Mất huynh như ánh đèn linh tắt rồi!”

(Nguyễn Ðiều thoát dịch theo bài kệ số 1034 trong Theragatha: Tôn Túc Kinh).

Thật vậy, khi Xá Lợi Phất viên tịch thì A Nan Ða chưa đắc thánh quả  A La Hán, thành thữ nỗi buồn thương trong lòng ông, u trầm như một cơn bão lớn thổi tắt mọi ánh sáng trí tuệ trong tâm tư vị tôn giã khả kính nầy. Ðó cũng là một bài học để A Nan Ða về sau hiểu được nổi khổ não, gây ra do tử biệt, thương ly (hai trong tám pháp thế gian).

Ðức Phật thấy A Nan Ða vô cùng khổ não, bèn cứu ông bằng cách vấn đạo như sau:

“Nầy A Nan Ða! Xá Lợi Phất viên tịch có mang theo của ông một phần giới hạnh, một phần thanh tịnh, một phần trí tuệ, một phần thánh thiện hay một phần giãi thoát nào không?!”

“Bạch đức Thế Tôn! Không!”

Rồi A Nan Ða tiếp:

“Nhưng đạo huynh Xá Lợi Phất là một bậc đàn anh hằng che chỡ, dẫn dắt những đàn em mới chập chững tiến vào thánh đạo …!”

Ðức Phật sau đó liền ban bố những lời an ủi khác, hướng dẫn A Nan Ða đến một phẩm cách cao hơn. Ngài hỏi:

“Nầy A Nan Ða! ông nhớ chăng một chân lý mà Như Lai đã dạy rằng: không có cái gì sinh ra rồi sẽ còn mãi mãi!?. Tuy sự viên tịch của Xá Lợi Phất đối với hàng ngũ Phật Giáo có thể xem như một cành cây lớn đã lìa khỏi thân cây! Không có mặt của Xá Lợi Phất, cộng đồng tăng chúng dù bị thiệt thòi rất nhiều! Nhưng không phải vì vậy mà chư đệ tử cứ để mắc dính vào sự hướng dẫn, che chở của người khác, dù cho người ấy là Như Lai, chứ đừng nói là Xá Lợi Phất! Vậy A Nan Ða hãy tự mình khêu sáng ngọn đuốc trí huệ cho chính mình, không nên tùy thuộc vào một tha lực!” (theo Samyutta Nikàya 7, 13: Tạp A Hàm 7, 13). Nghe Phật dạy như vậy A Nan Ða mới khoan tâm, rồi tinh tấn thi hành phận sự.

Ngoài Xá Lợi Phất ra, A Nan Ða cũng thường luận đạo, gần gũi và sinh hoạt chung với một số rất nhiều tăng chúng khác! (soạn giã chỉ xin phép nhắc lại một hai trường hợp tượng trưng).

Chẳng hạng như một hôm, tỳ khưu Vangisa cùng đi khất thực với A Nan Ða. Trên đường đi, Vangisa bổng cảm thấy chán nản cảnh độc thân, một tâm bệnh nguy hiểm vào bậc nhất của các hàng tu sĩ. Tâm tư ông tự nhiên nổi đầy buồn phiền, rồi đòi hỏi nhục dục. Tức khắc ông nhận thấy đời sống của một tu sĩ thật vô nghĩa, còn hoàn tục lấy vợ và tạo một mái gia đình thì hấp dẫn và hạnh phúc hơn nhiều.

Tỳ khưu Vangisa vốn là một người làm thơ có tài. Ông chợt dung lời thơ (trong điển Phật Giáo gọi là kệ ngôn) yêu cầu A Nan Ða giúp ông thực hiện ý muốn ra đời.

A Nan Ða khi hiểu được những gì đang nung nấu trong tâm tư của người bạn đồng hành, bèn khuyên nhủ ông bằng những lời thanh thoát sau đây:

“Ðời chỉ đẹp khi tình yêu nung nấu…

Kẻ mê đời không biết sẽ sầu đau…

Yêu trong đời là tình yêu sân khấu!

Màng buông xong… son phấn có gì đâu?!

Nầy sư đệ đừng để lòng phóng túng.

Hãy gom tâm niệm tưởng biết mình thôi!

Khi mê sắc tưởng đời tu vô dụng.

Tịnh tâm rồi hạnh phúc thấy mọi nơi!

(Nguyễn Ðiều thoát dịch theo Tôn Túc Kệ Ngôn số 1224-1225: Theragàthà 1224-1225).

Trong bài kệ ngôn trên đây, A Nan Ða đã chỉ cho Vangisa thấy rằng:”Vì ông đang bị ái dục nung nấu trong tâm tư, nên Vangisa không thể nào nhận ra chân lý đau khổ (khổ đế), nhất là đau khổ trong tình trạng bị sắc đẹp của phái nữ quyến rũ. Khi sự thèm khát tình yêu chiếm trọn tâm tư rồi thì con người dễ trở thành nhụt chí và thất vọng. Trường hợp nếu nạn nhân là một đạo sĩ thì nó sẽ làm cho họ chán ghét đời sống phạm hạnh. Vì vậy A Nan Ða khuyên Vangisa phải bình tỉnh nhớ lại mọi hình dung trên đời, như vẽ đẹp trên sân khấu, tuy bề ngoài có vẽ đẹp đẽ, đáng ôm ấp, nhưng thực tế bề trong rất xấu xa, đáng nhờm gớm… để ông hiểu rằng “xác thân nầy, dù đẹp hay xấu, bệnh hoạn hay khoẻ mạnh, tàn tật hay nguyên vẹn, vốn là nguồn gốc của những đau khổ trên đời!”. Sa môn nào quán xét thấy rõ được như vậy, sẽ hoan hỷ tiếp tục đời sống phạm hạnh!).

Một trường hợp khác, sau khi Phật nhập Niết Bàn: tỳ khưu Channa có lần bị pháp hoài nghi (Vicikiccà) quấy nhiễu. Tuy ông hiểu rằng xác thân ngũ uẩn nầy là vô thường, nhưng ông vẫn cứ thương mến, và lo sợ rằng:”mình tin vào Niết Bàn là rơi vào đoạn khiến?!” hay:

“Phải chăng Niết Bàn là trạng thái tuyệt diệt?!” hoặc:”Vô ngã tương đương với một con số không?!”

Vì đời sống của mọi sinh vật trên thế giới nầy chỉ có ý nghĩa khi chính trong sự sống ấy có một cái gì thiêng liêng bất diệt. Nếu ta tu hành để trở thành một trạng thái “biến mất” thì sự tu hành ấy vốn dựa trên cơ sỡ đoạn kiến!(?)

Suy nghĩ như vậy, nên Channa vội tìm đến A Nan Ða để nhờ giải toả những thắc mắc trong tâm.

A Nan Ða liền nhắc cho Channa nhớ rằng: Chính đức Thế Tôn đã từng dạy: Khi một sự thắc mắc như thế nổi lên trong tâm tư một hành giã là khi trình độ tu tập của người ấy đang tiến tới bậc cao, chuẩn bị đột-phá bức tường cuối cùng của cái vòng sinh tử luân hồi. Bức tường ấy là sự Chấp Hữu (cho là có) và Chấp Vô (cho là không)…

Rồi A Nan Ða thuyết lại cho trọn bài pháp nói về Hữu và Vô của đức Phật đã chỉ giáo, cho Channa nghe. Khi chỉ nghe lại đoạn mở đầu, Channa chợt cảm thấy giải toã trong lòng. Ông chăm chú nghe trọn bài pháp một cách càng lúc càng hoan hỷ. Ðoạn ông tán dương những lời Phật dạy do A Nan Ða nhắc lại, như sau:

“Thật là tuyệt diệu được nghe chánh pháp! Thật là may mắn cho tiểu đệ có một sư huynh thông thái như bậc thầy! Nếu sự hoài nghi trước đây đã làm cho tâm đệ bị mê mờ, bị cùng quẩn, suýt trở thành bất trị, thì bây giờ nghe lại chân lý, tâm hồn đệ đang được soi sáng, đắc rõ chính đạo!” (theo Samgutta Nikàya 12-15-22-90: Tạp A hàm các đoạn 12-15-22-90).

 

7. Những Mẫu Pháp Ðàm Của A Nan Ða Với Ðức Phật

Sự đàm thoại về Pháp Bảo giữa A Nan Ða và Ðức Phật tìm thấy trong kinh điển Pali rất nhiều, có thể nói là đa dạng! Có lúc Phật trả lời một câu vấn đạo của A Nan Ða bằng cách làm thinh. Vì trong Phật Giáo, “đàm luận” là đưa đến sự cảm thông, tức hiểu đúng, cái ý hay những điều mà các bậc hiền triết muốn nói, chứ không cứ gì phải phát ra bằng lời.

Nếu chúng ta cho rằng: Hiểu đúng những lời Ðức Bổn Sư đã dạy là “đàm luận” một cách mật thiết nhất với Ðức Phật thì trọn 25 năm trường gần Phật, A Nan Ða đã không ngừng “đàm luận” với một bậc giác ngộ.

Mặt khác, A Nan Ða cũng đã được Ðức Phật ban cho một đặc ân là bất cứ pháp nào ông cũng được nghe trực tiếp từ kim khẩu của Ðức Bổn Sư thốt ra, chứ không phải qua trung gian một người khác. Trường hợp khi Ðức Phật nói pháp mà A Nan Ða vắng mặt, thì sau đó Ðức Thế Tôn lại lập lại trong tịnh thất cho một mình ông nghe.

Ðây chính là lý do chúng ta thấy rất nhiều chỗ trong tam tạng kinh đìển, các bài pháp của Ðức Phật đã được bắt đầu bằng câu: “Ta là A Nan Ða có nghe như vầy …!”

Khi hiểu một cách thật thà, thì câu kinh bắt đầu nói trên ám chỉ rằng: Ấy là một bài pháp của chính Ðức Phật đã thuyết, và A Nan Ða chỉ là người thuật lại. Nhưng nếu hiểu một cách tế nhị và không chấp vào văn tự thì câu “Ta là A Nan Ða có nghe như vầy…!” cũng có nghĩa là A Nan Ða đã dùng những lời lẽ của mình diễn tả đúng cái ý đạo của Ðức Phật đã dạy.

Trong khuôn khổ tập sách nhỏ bé nầy, chúng ta không thể kê khai hết những “Phật Pháp” do A Nan Ða thuật lại. Chúng ta càng không thể nhắc hết những mẫu đàm luận có tính cách đại chúng!

Khi đọc Tam tạng cẩn thận, chúng ta sẽ nhận thấy rằng: Mỗi khi đức Phật đàm luận về một đề tài nào với A Nan Ða, Ngài thường nhân có sự hiện diện đông đảo của chư đệ tử mà bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi, hoặc nêu lên một thời sự nóng bỏng vừa diễn ra trong đời sống tăng lữ hằng ngày hay trong xã hội thực tại.

Phưong pháp mở đầu dạy đạo như vậy, đức Phật hiển nhiên đã không phải chỉ nhắm vào A Nan Ða, nâng cao trình độ kiến thức của ông, mà Ngài còn cố ý mang lại lợi ích cho các hàng tăng chúng khác nữa. Tuy nhân vật đối thoại với Ðức Phật là A Nan Ða, nhưng thành phần hấp thụ yếu pháp lại là những ai có mặt lúc ấy.

Cách nêu lên một chủ đề để cùng nhau dùng trí óc thảo luận như thế, ngày nay vẫn còn thịnh hành. Khi toàn thể những người dự thính góp phần suy gẫm và phân tích, thì sự soi sáng nội tâm được đồng loạt kích thích. Lúc bấy giờ đức Phật và A Nan Ða chỉ còn đóng vai hướng dẫn, khai triển cuộc pháp đàm hơn là để cho cộng đồng tăng chúng thụ động ngồi nghe những điều Ngài và A Nan Ða nói.

Kết quả, những cuộc Pháp đàm như thế thường đã trở thành những bài pháp vô cùng hữu ích cho cộng đồng tăng chúng.

Lắm khi đang thuyết pháp, đức Phật bổng dừng lại, nhìn A Nan Ða  mỉm cười. Ấy chính là lúc câu chuyện trong bài Pháp đang dẫn thính giả đến một địa phương nào đó. Trước nụ cười của Phật, A Nan Ða luôn luôn hiểu rằng: “Ðức Bổn Sư không bao giờ mỉm cười vô cớ”. Lập tức ông hỏi nguyên nhân để được nghe Phật nhắc lại và giảng giải một cách chi tiết một biến cố đã xảy ra trong quá khứ, - Có khi nằm sâu trong vòng luân hồi đến nhiều kiếp! Dĩ nhiên câu chuyện ấy liên quan đến cái địa danh được đề cập trong bài Pháp! (Theo Majjhima Nikàya 81, 83 = Trung A Hàm số 81, 83, Anguttara Nikàya V, 180 = Tăng Nhất A Hàm V, 180 và Jàtaka 440 = Túc sinh truyện 440).

Còn những cuộc pháp đàm do chính A Nan Ða tự đặt câu hỏi trước chứ không phải do đức Phật cũng có rất nhiều. Chẳng hạn như một lần nọ A Nan Ða hỏi Phật xem có loại mùi thơm nào bay ngược gió (khác với những mùi thơm thông thường) hay không, thì được đức Phật trả lời:” Ấy là mùi thơm của những bậc có đủ đức hạnh và lòng từ bi, hay những bậc đã thụ đắc niềm tin nơi ba ngôi Tam Bảo!” (Theo Angutta Nikàya III, 79 = Tăng Nhất A Hàm III, 79).

Một lần khác A Nan Ða hỏi đức Thế Tôn rằng: “Làm thế nào để một tỳ khưu sống an vui trong nếp sống xuất gia?!”

Ðức Phật trả lời: “- Khi một sa môn có đầy đủ giới đức mà không khó chịu trước những người kém giới hạnh hơn mình, không coi họ thấp thỏi hơn mình, và luôn luôn chân thiện với tất cả mọi người. Nghĩa là sa môn như thế chỉ luôn luôn quan sát thân khẩu ý của mình, chứ không chú ý đến phẩm giá của người khác. Họ không trông đợi được trở thành danh tiếng, họ chẳng mong mõi lời khen và sẽ không lo ngại mình sẽ bị chê. Hằng ngày, họ chỉ chăm lo hành trì pháp Tứ Niệm Xứ một cách hoan hỉ, dễ dàng, ít bị (hay không bị) phóng tâm làm chướng ngại! Những hạn sa môn như thế không những đang sống một cuộc đời an vui, mà quả giải thoát A La Hán (Bất Lai) sẽ đến với họ ngay trong kiếp nầy! Nói cách khác là nền tảng của hạnh phúc xuất gia là sự tri túc và phát triển giới hạnh của chính mình và không đòi hỏi bất cứ cái gì từ người khác, dù cho cái đó là phẩm giá hay phạm hạnh mà các hàng thánh nhân hằng khen ngợi!(theo Anguttara Nikàya V, 106 = Tăng Nhất A Hàm V, 106)

Một câu hỏi của A Nan Ða cũng đáng nhắc lại như sau:”Thế nào gọi là hạnh phúc và mục đích của giới đức là gì?!”

Ðức Phật trả lời:

“- Hạnh phúc của một bậc xuất gia tròn đủ giới đức là không bao giờ có sự tự trách mình, không bao giờ mang mặc cảm tội lỗi! Tâm linh của họ lúc nào cũng tự tại, trong sáng …!”

Nhưng A Nan Ða liền hỏi xa hơn:“ Bạch đức Thế Tôn! Vậy khi tâm linh được tự tại, trong sáng thì hành giả sẽ đạt tới tình trạng gì?!”

Ðức Phật liền trả lời:

“-Tâm linh được trong sáng thì mọi tư duy (ý nghĩ) đều được thanh tịnh. Khi tất cả ý nghĩ được thanh tịnh, thì lạc thọ nội tâm tự nhiên ngập tràn và kích thích hành giả tiến lên thánh quả, đồng thời tỏa rộng lòng từ bi đến muôn loài chúng sanh…!”

Rồi không để A Nan Ða chất vấn, đức Phật tự nêu câu hỏi và trả lời:

“- Vậy chớ kết quả của lạc thọ ngập tràn trong tâm và tỏa rộng lòng từ bi là gì?!”

“- Là sự hướng thượng của tâm linh. Là sự chan chứa niềm hoan hỉ, không phải chỉ cho riêng mình, mà còn cho toàn thể vạn vật! Niềm hoan hỉ và tính hướng thượng ấy sẽ lên cao và toả rộng đến vô cực, khiến cho một bậc giải thoát không còn mắc dính trong sự chật hẹp của những kiếp sinh tử luân hồi, hạn chế trong tam giới này nữa!” (theo Anguttara Nikàya X, 1 = Tăng Nhất A Hàm X, 1)

Cứ như thế, sau đó đức Phật đã nâng cao trình độ nghe và hiểu pháp của A Nan Ða lên những mức vi diệu, thánh thiện hơn, đưa A Nan Ða bước chập chững vào trong vòng cảm thức của thánh giới.

A Nan Ða lắng nghe lời Phật dạy với tất cả sự thành kính, thỉnh thoảng ông cũng trình lại với đức Phật một số những nhận xét của ông để được đức Phật xác nhận là đúng hay sai.

Một lần ông đã hỏi đức Phật rằng:

“-Bạch đức Thế Tôn! Sự liên quan huynh đệ trong đời sống đạo hạnh phải chăng rất quan trọng. Nó có thể ảnh hưởng đến một nửa đời sống tu hành không?!”

A Nan Ða liền bị đức Phật bác bỏ một phần và bổ túc như sau:

“- Sự gần gũi (liên hệ huynh đệ) với một thánh nhân không thể coi là chỉ quan trọng như một nửa đời sống tu hành, mà nó phải được xem là quan trọng cho cả đời sống tu hành. Vì sự liên hệ cao thượng ấy là con đường dẫn đến cánh cửa giải thoát. Ai có liên hệ mật thiết với một bậc A La Hán là người đang mang hy vọng ra khỏi vòng sanh tử luân hồi vậy!”

(Theo Samyutta Nikàya 45, 2 và 3, 18 = Tạp A Hàm 45, 2 và 3, 18) – Cùng những đoạn khác có nội dung tương tự trong Anguttara Nikàya VI, 57 = Tăng Nhất A Hàm VI, 57 và trong Majjhima Nikàya 121 = Trung A Hàm 121).

Nhưng nhận xét độc đáo nhất của A Nan Ða phải kể là:”Các pháp hành (Sankhàra) phát sinh từ nơi nào thì nơi đó là nguyên nhân của các pháp dập tắt!”

Ðối với ông, câu nói này có lẽ là một chân lý, không có chỗ thiếu sót, nên ông nêu lên để được đức Phật xác nhận.

Một lần nữa, đức Thế Tôn lại bảo:

“- Này A Nan Ða! Ðiều phát biểu của ông tuy rất hiển nhiên, nhưng rất khó lĩnh hội. Vì “các pháp dập tắt” (ám chỉ giải thoát) không được mô tả một cách rõ ràng. Nhất là không chỉ thẳng:”Trong cái vòng sinh tử luân hồi ấy, người ta có thể tìm thấy sự giải thoát ở đâu?!”

Theo Phật giáo thì cái ngõ để thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi là một khung cửa gồm 4 cạnh, gọi tắt là Tứ Diệu Ðế, tức: Khổ Ðế (luân hồi và mọi bất toại nguyện trong sự sống), Tập Ðế (nguyên nhân của Khổ Ðế), Diệt Ðế (hay khả năng không để cho Khổ Ðế phát sinh), Ðạo Ðế (phương pháp tu luyện để đạt tới khả năng ấy). Phật giáo ví Ðạo Ðế này như một bánh xe tiến hóa có 8 căm được mệnh danh là bánh xe Bát Chánh Ðạo.

Ðoạn đức Phật giảng dạy cho A Nan Ða các khía cạnh khác nhau của mỗi pháp hành (Sankhàrà), nhất là những trạng thái khi nó phát sinh và khi nó bị dập tắt! (theo Digha Nikàya 15 = Trường A Hàm số 15).

Một lần nọ A Nan Ða nhân chứng kiến tài nghệ độc đáo của một người bắn cung, đem thuật lại với đức Phật sự thán phục của ông…

A Nan Ða vốn xuất thân từ giai cấp Hiệp Sĩ, nên mặc dù đã xuất gia nhưng bản chất thích gặp lại những người thuộc giai cấp mình là một chuyện thường tình ;- nhất là khi ông chưa đắc được bậc cao trong thánh giới.

Ðức Phật bèn nhân cơ hội thuật chuyện bắn cung ấy để nêu lên một sự so sánh. Ngài nói:

“- Ví như người xạ thủ kia! - Trước những con mắt của khán giả, ai cũng thấy y làm việc một cách dễ dàng. Nhưng nếu bảo một người thường thay y làm việc đó thì họ không thể làm được. Và tương tự như thế, hiểu rõ các pháp Tứ Diệu Ðế và thực hành đúng đắn Bát Chánh Ðạo trong Phật giáo, ngoài các sa môn tròn đủ phẩm hạnh và các thánh nhân ra, không một người thường nào có thể làm được dễ dàng!”

(Sách chép người bắn cung mà A Nan Ða thán phục ấy có thể dùng một mũi tên bén chẻ một sợi tóc ra làm 7 lần!)

Các kinh:- Majjhima Nikàya 4, 27, 99 và Anguttara Nikàya II, 15 còn ghi rõ một thuật sự khác, kể rằng: Một lần nọ, A Nan Ða đã chứng kiến một đệ tử danh tiếng của đức Phật thuộc giai cấp Bà La Môn, tên là Janussoni, đang điều khiển một cổ xe màu trắng một cách oai vệ trong đấu trường. A Nan Ða cũng nghe khán giả bàn tán và hoan hô rằng: Cỗ xe màu trắng ấy  là cỗ xe của vị quân sư vua Pasenadi, và là cỗ xe tốt nhất, đẹp nhất…

Rồi ông đem thuật lại những điều tai nghe mắt thấy đến đức Thế Tôn và hỏi Phật làm thế nào để một Phật tử có thể so sánh các nét đẹp ấy với các pháp học trong Phật giáo! (?)

Ðức Phật đã trả lời rằng:

“- Cỗ xe trắng tinh, đẹp nhất ấy có thể ví như Niết Bàn. Những con tuấn mã có thể ví như đức tin và trí tuệ. Nết hổ thẹn tội lỗi ví như cái thắng. Tư tưởng minh sát bén nhạy có thể ví như dây cương. Tính biết mình ví như người đánh xe. Giới đức ví như các bộ phận che chở. Thiền định ví như trục xe. Nguyện lực ví như bánh xe. Bình thản (ý nói tâm xả) ví như bộ nhún. Xuất gia ví như nền xe. Ẩn dật và vô hại (ám chỉ lòng từ bi) ví như những võ khí. Nhẫn nại ví như áo giáp! – Và sau cùng màu trắng tinh ví như thánh quả! (Vì trong thánh tâm không bao giờ có tà tư duy, cũng như trên màu trắng của chiếc xe đẹp nhất, vết bẩn bao giờ cũng hiện rõ, và người phu chuyên cần sẽ lập tức chùi rửa sạch (- theo Samyutta Nikàya 45, 4 = Tạp A Hàm số 45, 4).

 

8. Tiền Kiếp Của A Nan Ða

Theo bản tóm lược tiền kiếp của A Nan Ða thì trong quá khứ hiếm khi ông sinh làm một ma quỷ, thần linh. Ông cũng ít khi đầu thai làm thú, mà thường luân hồi làm người. Nhiều kinh sách cũng xác nhận hễ A Nan Ða sinh làm người thì Anuruddha, anh của ông sinh làm chư thiên, và Devadatta (Ðề Bà Ðạt Ða) sinh làm thú.

Sự liên hệ mật thiết giữa A Nan Ða với đức Phật đã được lập lại nhiều lần trong tiền kiếp. Thường khi ông và tiền thân Phật tái sinh làm 2 anh em.

Những giai thoại về các kiếp sống quá khứ của A Nan Ða lẫn của đức Phật được chọn lọc và trình bày với mục đích nói rõ rằng: Trong những luân hồi tiền thân của cả 2 vị đã luôn luôn cố gắng trau dồi đức hạnh.

Túc sinh truyện (Jàtaka) số 498 kể rằng: Một kiếp nọ A Nan Ða và đức Bồ Tát (1) sinh làm anh em chú bác trong một giai cấp hạ tiện. Nghề của họ là tẩy uế những nơi hôi hám dơ dáy. Ðể tránh khỏi bị khinh bỉ, cả hai đã cải dạng làm những thanh niên thuộc giai cấp Bà La Môn, mới vào được trường đại học Takkasila để tiếp tục sự học.

(1)Tiền thân Phật còn gọi là Bồ Tát và chỉ có bậc Bồ Tát thì mới còn tái sinh, chứ Phật không thể bị luân hồi nữa.

Sự ngụy trang của hai anh em giai cấp hạ tiện nầy sau đó bị khám phá. Cả hai bị đánh đập tàn nhẫn bởi một số người học cùng lớp. Có một giáo sư là bậc hiền triết đã can thiệp kịp thời không cho các sinh viên hung ác thuộc giai cấp Bà La Môn tiếp tục hành hạ hai anh em bất hạnh nầy, rồi khuyên họ nên xuất gia làm đạo sĩ.

Cả hai vâng lời và vui vẻ lấy cuộc đời đạo sĩ để sống trọn kiếp người còn lại. Khi hết tuổi thọ, vì nghiệp xấu “ngụy trang để gạt người” đã khiến họ sinh làm hai con thỏ rừng. Hai con thú này đã không bao giờ tách rời nhau, thậm chí khi chết, cũng cùng chết ở một chỗ, bởi cùng một mũi tên của một tay thợ săn.

Trong kiếp tiếp theo, tiền thân A Nan Ða và đức Bồ Tát lại sinh làm hai con hải âu, rồi một lần nữa lại cùng chết với nhau bởi những người săn bắn.

Làm chim hải âu là kiếp chót của họ bị đọa xuống thấp hơn loài người.

Sau đó A Nan Ða sinh làm hoàng tử và đức Bồ Tát sinh làm con trai của vị quốc sư. Hễ A Nan Ða tái sinh ở địa vị cao sang, hưởng đủ các thứ khoái lạc, thì đức Bồ Tát sinh làm bậc hiền triết, có định luật phi thường thông suốt nhiều vấn đề quá khứ vị lai. Chỉ cần nhìn thấy một sinh vật là đức Bồ Tát có thể biết ngay tối thiểu ba kiếp trước. Còn A Nan Ða khi làm người, dù thông thái và tu luyện tinh tấn tới đâu, cũng chỉ nhớ được một kiếp trước mà thôi! Ðặc biệt kiếp ông sinh làm dân hạ tiện (Candala), cải dạng làm sinh viên Bà La Môn, rồi bị đánh đập. Vì thế sau khi đi tu ông đã cố gắng Thiền định đạt được trí tuệ biết rõ nghiệp khổ kiếp trước vừa kể!

Lúc tiền thân A Nan Ða làm hoàng tử được 16 tuổi lên ngôi, thì đức Bồ Tát đã trở thành một đạo sĩ tu hành rất tinh tấn. Một hôm đạo sĩ nhân đến thăm nhà vua, đã tán dương sự thanh tịnh của đời sống phạm hạnh và chỉ rõ những bất toại nguyện của mọi cách hưởng thụ dục lạc ở đời. Ðức vua (tiền thân A Nan Ða) sau khi nghe xong liền nhìn nhận những điều đạo sĩ phân tích rất đúng. Nhưng vương gia thú thật ông không thể làm ngơ trước những lạc thú. Ông bị chôn chặt vào ngôi báu như một con voi mắc cứng giữa đầm lầy.

Bồ Tát đạo sĩ (tiền thân Phật) bèn chỉ dạy cho nhà vua rằng:” Một vị vua khi còn ngồi trên ngôi báu vẫn có thể trau dồi đức hạnh của mình bằng cách cai trị muôn dân một cách nhân từ, giảm nhẹ các sắc thuế và hộ trì những bậc chân tu cùng những nhà mô phạm!”

Một hôm, nhớ đến mẫu hậu, nhà vua (tiền thân A Nan Ða) chợt nghĩ rằng:” Khi chào đời ông nằm trong nôi như một thai nhi bất lực, vô dụng. Nếu không được mẹ hiền nuôi dưỡng thì ông đã chẳng bao giờ trở thành một con người tầm thường, chứ đừng nói là một nhà vua quyền cao chức trọng!”

Vì suy xét như vậy nên nhà vua muốn báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ hiền bằng cách xuất gia làm đạo sĩ để hồi hướng phúc đức cho hai đấng sinh thành. Và kiếp đó, khi hết tuổi thọ, ông đã cùng với đức Bồ Tát (tiền thân Phật) đồng sinh vào cõi trời Phạm Thiên.

Theo Túc sinh truyện 421 (Jàtaka 421) thì có một kiếp nọ tiền thân Phật (Bồ Tát) sinh làm một nông dân nghèo, nhưng thường xuyên giữ giới Bát Quan Trai với tâm nguyện kiếp sau sẽ được giải thoát cảnh bần cùng, tiến hóa lên cõi cao hơn. Nhờ đức hạnh nầy mà đức Bồ Tát (hay tiền thân Phật) khi hết tuổi thọ đã tái sinh làm vua.

Còn tiền thân A Nan Ða thì kiếp trước sinh làm vua, mà vì quá dễ duôi, nên kiếp sinh làm người gánh nước quê mùa rất yêu vợ.

“Gia tài của ngưòi gánh nước chỉ vỏn vẹn có một đồng bạc rất quí, được y chôn dấu dưới một tảng đá lớn tại một chân núi xa xôi…

Ngày kia trong nước có hội hoa đăng tưng bừng vui vẻ. Vợ người gánh nước liền yêu cầu chồng đưa mình lên kinh đô xem hội. Người vợ ấy bèn nói với chồng rằng:

“Thiếp đã dành dụm được một số tiền nhỏ, nếu chàng có để dành chút ít nữa thì chúng ta sẽ đủ tiền đi dự hội!”

Người gánh nước trả lời:

“Anh mỗi ngày tiết kiệm được một xu, và dần dà góp đổi ra được một đồng. Nhưng anh đã sợ để trong nhà sẽ xài hết, nên chôn dấu tại một nơi cách đây 12 dặm!”

Người vợ nghe thế liền vui mừng, vừa giục chồng đi lấy tiền về, vừa bàn tính:

“Ðồng bạc lớn của chàng cộng với số tiền nhỏ mà em đã tiết kiệm được chúng ta sẽ có thể mua tràng hoa, nước thơm và thức uống trong cuộc hội!”

Người gánh nước nghe lời vợ, lập tức lên đường đi lấy tiền về, mặc dù lúc ấy nhằm buổi trưa, mặt trời rọi trên đỉnh đầu, không khí rất nóng bức.

Khi người gánh nước đi ngang trước thành vua, ngẫu nhiên cao hứng hát một bài ca lời lẽ rất đặc biệt. Tiếng hát vô tình theo gió thấu đến tai nhà vua, lúc đó đang ngồi hóng mát trong vườn Ngự Uyển. Vua lấy làm lạ, bèn cho quân lính bắt người gánh nước đưa vào mà hỏi rằng:

“Trời nóng như thế này, tại sao ngươi đi dưới ánh nắng, ca hát như giữa mùa Xuân?”

“Tâu bệ hạ! Tiện dân vì quá vui sướng nên không cảm thấy nóng!”

Nhà vua liền hỏi:

“Ngươi vui sướng vì lẽ gì?!”

“Tân bệ hạ! Tiện dân sắp sửa thu hồi lại một món tiền do mồ hôi nước mắt của tiện dân đã làm ra, và đã được cất kín tại một chỗ bí mật!…”

Ðoạn người gánh nước thuật lại cho nhà vua nghe cả câu chuyện y đã bàn tính với vợ…

Còn nhà vua, khi nghe tên gánh nước nói y sắp thu hồi lại một món tiền, vua tưởng rằng “Ấy chắc hẳn là một hầm của lớn”. Nào ngờ vua rõ ra chỉ là một đồng bạc.

Vốn bản tính nhân từ, nhà vua không muốn người gánh nước phải lặn lội dưới trời nắng chang chang để đào lấy một đồng bạc, mừng lễ Ðăng Quang. Vua liền cười xoà bảo rằng:

- Ngươi khỏi phải đi lấy tiền làm chi, ta sẽ cho ngươi một đồng để mừng lễ!

Người gánh nước lập tức mừng hớn hở, cuối đầu thưa rằng:

- Tâu bệ hạ! Như vậy là tiện nhân sẽ được hai đồng bạc! Cuộc dự lễ của vợ chồng tiện nhân chắc sẽ đầy đủ lắm!

Nhà vua bị kích thích liền nói:

- Trời nắng như thiêu, như đốt thế nầy ngươi khỏi phải vào núi lấy tiền. Ta sẽ cho ngươi hai đồng!

Người gánh lại một lần nữa mừng rỡ, rồi thật thà nói:

-Như vậy là vợ chồng tiện dân sẽ có ba đồng để mừng lễ Ðăng Quang! Và tâu bệ hạ! Vì tiện dân yêu vợ nhiều lắm. Nếu có thể tìm thêm chỉ một xu để cho vợ vui mừng, tiện dân cũng sẵn sàng làm, huống chi chỉ vào núi lấy đến một đồng bạc?!

Nghe vậy nhà vua càng bị kích thích hơn nữa, Vua liền “đấu giá” lòng thương vợ của người gánh nước bằng cách tăng từ hai đồng lên bốn đồng. Rồi từ bốn đồng lên tám đồng…vv… cho tới một trăm đồng…! Sau cùng là một triệu!…(?)

Tuy người gánh nước không từ chối món tiền hảo tâm lớn của nhà vua, nhưng y cứ khăng khăng phải đi lấy cho bằng được một đồng bạc chôn trong núi.

Nhà vua quá sức ngạc nhiên, bèn hỏi lý do tại sao thì nghe người gánh nước phân trần rằng:

“Tâu bệ hạ! Niềm vui mà tiện dân muốn đem đến cho vợ hiền phải do mồ hôi nước mắt của tiện dân tạo ra. Nếu tiện dân chỉ lấy tiền thưởng của bệ hạ đem về cho vợ mừng lễ, thì hạnh phúc ấy do bệ hạ tặng, chứ không phải do tiện dân tạo mang tặng cho vợ!

Vua nghe thế lấy làm cảm động, bèn phong cho người gánh nước (tiền thân A Nan Ða) làm Phó Vương.

Nhưng người gánh nước vẫn từ chối, và viện dẫn rằng:”Làm nghề gánh nước tuy cực nhọc, nhưng được tự do. Vợ chồng tiện nhân không chịu trách nhiệm một cách thường xuyên với ai cả. Bây giờ nếu tiện dân nhận chức Phó Vương… thì cái tự do kia sẽ đi mất!”

Ðoạn người gánh nước cung kính lắc đầu định rút lui. Nhưng nhà vua đã ra lệnh cho y ở lại để thực hiện tới cùng ý muốn của mình…

Như đã thuật ở đoạn trước: Nhà vua ấy là tiền thân của Ðức Phật, nên nguyện lực (sức mạnh của ý muốn) rất kiên cố. Sau một cái mỉm cười cao quí, nhà vua không ngần ngại cắt tặng cho người gánh nước một nửa giang san, để y được làm vua như mình mà không sợ chịu trách nhiệm với bề trên hoặc không sợ bị ai chỉ huy cả.

Bấy giờ người gánh nước mới nhận lời. Và kể từ đó vương quốc nọ được chia làm hai nước nhỏ. Một trong hai vị vua của hai tiểu quốc ấy còn có tên là “Vua Một Ðồng Bạc”!

Ngày kia hai nhà vua đi săn. Khi mệt mỏi, vị vua thứ nhất (tiền thân Ðức Phật) nằm gối đầu lên bắp vế vị vua thứ hai (gốc là người gánh nước) để nghĩ ngơi rồi thiếp ngủ đi. Vị vua thứ hai ( tiền thân A Nan Ða tái sinh làm người gánh nước rồi may mắn được làm vua), trong một phút tham vọng nổi dậy, chợt nghĩ rằng:”Ta giết quách tên vua nầy để cai trị cả hai tiểu quốc, có phải sướng hơn không?!”

Ðoạn vua rút gươm ra định giết bạn mình…, thì một ý nghĩ khác bỗng lóe lên trong đầu “Ta ngày xưa khổ sở bần cùng, nhờ người nầy mà ta được cao sang. Ơn ấy ta chưa có dịp trả, thì tại sao ta có thể hành động phản phúc, hèn hạ, ác độc như thế?!” Rồi ông thọc gươm vào vỏ.

Nhưng một lần thứ hai, ý muốn cai trị cả hai vương quốc lại nổi dậy và cũng được nhà vua (vốn là người gánh nước) trấn áp.

Sau hai lần chế phục được lòng ham muốn, nhà vua có biệt hiệu “Một Ðồng Bạc” chợt sáng suốt nghĩ rằng:”Ta phải tìm cách triệt hạ lòng tham nầy, kẻo không nó lại nổi dậy. Thượng sách là ta hãy lìa bỏ lưỡi gươm nầy đi! Dù ác tâm có nổi lên, ta cũng không có phương tiện đễ làm điều tội lỗi!”

Nghĩ xong, vua “Một Ðồng Bạc” liền quăng lưỡi gươm rất ra. Và tiếng động đã làm cho nhà vua thứ nhất tỉnh dậy.

Sự hối hận đã làm cho nhà vua suýt phạm tội lỗi, lập tức quỳ mọp dưới chân vị vua ân nhân của mình để tạ lỗi. Vị vua thoát chết (tức tiền thân Ðức Phật), khi hiểu rõ tự sự đã vui vẻ tha thứ. Và Ngài còn bảo rằng:

“Cũng may là bạn đã thức tỉnh kịp, kẻo không bạn đã giết tôi một cách vô ích rồi, vì tôi vốn chẳng thiết tha gì với cái vương quốc nhỏ bé còn lại của tôi cả. Tôi chỉ muốn càng ít bận rộn, ít ràng buộc càng hay, để chờ một ngày kia tìm cách thoát ly cõi đời phiền toái nầy. Vậy để “cám ơn” sự thức tỉnh quăng gươm của bạn, tôi xin nhường bạn lên làm đại vương cai trị cả hai nước và tôi giữ chức phó vương!”

Nhưng sự hối hận của vị vua tên “Một Ðồng Bạc” rất mạnh, vua vội từ chối bằng những lời sau đây:

“Thưa bệ hạ! Lòng tham và cuồng vọng đã nổi lên trong tôi. Tôi thấy nó bắt đầu gia tăng, rồi che mờ lý trí như thế nào, thì tôi cũng sẽ tìm ra phương tiện để trấn áp và loại trừ nó như thế ấy! Bây giờ tôi chỉ muốn trở thành một đạo sĩ để sống đời phạm hạnh. Tôi phải vất bỏ vương quốc nhỏ bé nầy, cũng như tôi đã quăng đi lưỡi gươm ác kia, thì tôi mới tránh được làm điều tội lỗi!”…

Và kể từ đó, người ta thấy trên vùng núi Hy Mã Lạp Sơn có một đạo sĩ tu hành rất nghiêm túc, mà ai cũng gọi vị đạo sĩ ấy là sa môn, cựu quốc vương “Một Ðồng Bạc”!

Còn nhà vua nhân từ suýt bị giết (tức tiền thân Ðức Phật) kia thì tiếp tục làm vua hộ trì vị đạo sĩ nọ. (Có sách chép rằng nguyên nhân khiến cho ông vua tên “Một Ðồng Bạc” suýt phạm tội sát hại ân nhân chính là bà vợ của ông. Từ thân phận vợ của một tên gánh nước, y thị bỗng một sớm một chiều được làm hoàng hậu, nên sự đòi hỏi hưởng thụ sang trọng, quyền lực càng lúc càng tăng. Khi thấy vị vua lòng nhân từ (lúc trước là đại vương coi cả hai nước…) đối xử rất thân mật với chồng mình, coi như đôi anh em, y thị đã nhiều lần xúi giục chồng bất thần đem quân đánh chiếm, hay tìm cách giết quách vị vua phúc hậu ấy đi. Nhưng y thị luôn luôn bị người chồng từ chối. Lần chót: Trước khi hai vị vua đi săn, y thị đã gọi chồng mình vào mật cung nói nhỏ rằng:”Kỳ nầy nếu vương không giết được ông vua hiền từ kia thì đừng trở về hoàng cung nữa!” Vì lý do đó mà ông vua có tên “ Một Ðồng Bạc” sau khi thức tỉnh đã dốc lòng xuất gia ngay sau cuộc đi săn cuối cùng! Câu chuyện người đàn bà tham lam nầy rất dài dòng, có thể viết thành một tiểu thuyết luân lý! Dịch giả xin mạn phép tóm tắt ở đây để cho nội dung nói về A Nan Ða của quyền sách nầy khỏi bị loãng đi!)

Túc sinh truyện số 282 cũng thuật rằng: Thuở ấy Ðức Bồ Tát (tiền thân Phật) sinh làm quốc vương nước Ba La Nại. Ðây là một vị anh quân, luôn luôn giữ 10 phẩm hạnh của một bậc hiền vương, nhất là bố thí, trì giới và giữ Bát Quan Trai. Nhưng tiếc thay trong triều đình của nhà vua có một vị quan dâm ô, gian ác. Tên nầy đã tằng tịu với nhiều vương phi trong cung cấm. Tin thấu đến tai nhà vua nhằm ngày vua giữ Bát Quan Trai giới, nên Ngài không hạ ngục tên gian thần kia, mà chỉ ra lệnh đày y ra một vùng biên ải.

Nhân dịp được vua rộng lượng, tên gian thần ấy liền thu hết của cải, mang cả gia đình trốn sang nước khác.

Sau đó nhờ miệng lưỡi khéo tâng bốc mà y lại được vua nước bên cạnh tin dùng, cho làm tới chức Tả Vệ Quân, luôn luôn được ở bên cạnh nhà vua. Và vị vua lân bang ấy không ai khác hơn là tiền thân của A Nan Ða đã tái sinh đồng thời với đức Bồ Tát.

Vẫn chứng nào tật nấy: Một hôm viên ác quan ấy khuyên nhà vua cử quân đánh chiếm thành Ba La Nại. Theo hắn, lý do thích đáng nhất là thành Ba La Nại là thủ đô của một vị vua nhân từ không thích chiến tranh, nếu đến xâm lăng thì sẽ ăn chắc. Nhưng trước lời xúi xiểm ấy vương gia lại e ngại vì nghĩ rằng: Toàn dân trong thành Ba La Nại rất khỏe mạnh, đoàn kết và thương kính vị vua của họ vô cùng. Khi họ hết lòng bảo vệ thủ đô thì đoàn quân xâm lấn không thể nào vào được.

Tên ác quan đoán ra điều suy nghĩ đó của nhà vua, bèn làm bộ thận trọng nói:

-Tâu bệ hạ! Nếu bệ hạ e ngại thì xin bệ hạ cứ bình ngự nơi hoàng cung!Hạ thần chỉ yêu cầu cấp cho hạ thần một đạo quân để hạ thần đi đánh thử!

Nhà vua liền chấp thuận việc gởi quân đi đánh thử ấy. Nhưng khi lâm trận thì ác quan thấy khí thế chống giặc của quân thành Ba La Nại quá mạnh, không thể nào thắng nổi, bèn chuồn trước thoát thân, lẩn trốn trong một vùng gần đấy. Trước khi chạy trốn, y còn dặn đám tàn quân của y nên làm “như vầy…như vầy!” nếu bị bắt!

Kết quả toàn thể đoàn quân “đi xăm lăng thử” ấy đều bị bắt, và bị dẫn đến chịu tội trước mặt vua Ba La Nại.

Vua Ba La Nại (tiền thân Phật) hỏi các tù binh rằng:

“Tại sao các ngươi dám cả gan đánh phá trong thành?!”

“Tâu bệ hạ! Chúng tiện dân chỉ là những người nghèo khổ. Vì đói quá phải vào thành cướp giật kiếm ăn, chứ không phải là quân phiến loạn! Xin bệ hạ trọng lượng tha mạng!”

Nhà vua nghe thế liền tội nghiệp tha chết, rồi cấp tiền bạc thả về nhà sinh sống…

Tin nầy thấu tai vị vua lâng bang (tiền thân A Nan Ða) nên vua bắt đầu tin lời xúi bậy của viên ác quan nọ. Ông nghĩ rằng:”Vua Ba La Nại nhân từ như thế. Ta cứ cử binh tiến thẳng vào đền vua thì sẽ thắng trận, không cần phải chiếm những nơi khác trong thủ đô”

Quả vậy! Khi quân xâm lăng ồ ạt đến gần cửa thành thì viên tướng Tổng Tư Lệnh phòng vệ hoàng cung tuy ở trong tư thế thừa sức đẩy lui kẻ thù, nhưng ông đã bị nhà vua cản lại, vì không muốn thấy cảnh đổ máu.

Kết cuộc: Thành Ba La Nại đã lọt vào tay quân xâm lăng, còn nhà vua cùng quan quân thì bị bắt làm tù binh.

Khi đối diện với nhà vua đến cướp thành, vua Ba La Nại bèn nói:

“Nếu vương gia muốn cai trị cả hai nước, thì cứ nói thẳng với ta. Ta sẽ nhường lãnh thổ cho, việc gì phải động binh, suýt gây cảnh chết choc cho dân chúng vô tội?!”

Thốt xong, nhà vua thản nhiên để cho đối phương dẫn mình vào tù. Khi ở trong tù, nhà vua hiền đức liền nhập định, rồi rải tâm từ bi đến nhà vua cuồng loạn xâm lăng, khiến cho vị vua này tự nhiên cảm thấy buồn rầu, hối hận và bức rức…

Trong tù nhà vua đức hạnh càng rải tâm từ bi thì ngoài thành sự buồn rầu, hối hận của nhà vua thắng trận càng tăng. Tăng đến nỗi mà ông không chịu được nữa, phải tự động vào tận ngục thất để xin lỗi vua Ba La Nại, và hoàn trả lại vương quốc như cũ…

Sau đó vị vua biết phục thiện (tiền thân A Nan Ða) còn cam kết suốt đời sẽ làm đồng minh trung thành của vua Ba La Nại, nhất là tuyệt đối sẽ không gây chiến với bất kỳ ai! Ðoạn ông đuổi tên gian thần ra khỏi đám bộ hạ, rối kéo quân về nước…

Còn vua Ba La Nại (tiền thân Phật) sau khi đã thu hồi lại giang sơn, liền nhường ngôi lại cho hoàng tử, rồi xuất gia làm đạo sĩ. Trước khi lìa cung vàng điện ngọc, để vào rừng tu hành, nhà vua đã khuyên bảo các quan rằng ;

“Nầy các khanh! Trên đời chỉ có sức mạnh của giới đức là vững chắc nhất! Chỉ có sức mạnh của lòng từ bi là võ khí để bảo vệ vương quốc an toàn nhất. Vì khi dùng lòng từ bi để đối phó với kẻ thù thì máu sẽ không đổ và chiến thắng sẽ là chiến thắng vinh quang nhất!”

Truyện kết luận rằng: Kiếp ấy tiền thân Phật sau khi bỏ ngôi vua, hành thiền nơi rừng vắng, lúc hết tuổi thọ đã sinh vào cõi phạm thiên. Còn tiền thân A Nan Ða thì tiếp tục làm vua, và trở thành một vị vua rất chân chính.

9. A Nan Ða Lúc Phật Gần Nhập Niết Bàn.

Những mẫu chuyện (phần nhiều dưới hình thức đối thoại) của A Nan Ða và Ðức Phật, vài ba tháng trước khi Phật nhập Niết Bàn, đã được nhiều học giả Phật Giáo, xem như những tài liệu lịch sử, diễn tả các biến cố quan trọng liên quan đến phần cuối cùng của đời sống Ðức Phật.

Theo Mahà Parinibbàna Sutta (Ðại Niết Bàn Kinh) ghi trong Dìgha Nikàya 16 (Trường A Hàm số 16) thì A Nan Ða đã đóng vai trò chính trong các bài pháp do Ðức Phật thuyết trước khi nhập Niết Bàn.

Những bài pháp nầy thường mang âm hưởng “Lời giáo huấn cuối cùng” và diễn tả cái sắc thái buồn bã của A Nan Ða, khi biết Phật sắp Nhập Diệt.

Theo một số nhà nghiên cứu Phật giáo thì những bài kinh ấy đã gián tiếp tiên đoán tuổi thọ của Phật Pháp Thích Ca (chỉ có 5000 năm) thôi, cũng như báo trước những hình thức suy đồi trong Phật giáo về sau như tăng chúng xa dần nếp sống phạm hạnh, gương giải thoát bị biến mất v.v… cho đến khi một vị Phật mới ra đời.

Những kinh di giáo nầy hầu hết cũng nêu rõ những pháp thực tiển, khuyên dạy các hàng đệ tử cần gia tăng tinh tấn thực hành pháp giải thoát trong lúc Ðức Phật tại tiền, kẻo một khi Phật đã viên tịch, thì cơ hội duy nhất ấy xem như đã vuột mất!

Ðồng thời, toàn thể nội dung các kinh di giáo còn phản ảnh qua nhân vật chính, đóng vai đối thoại là A Nan Ða, một đặc sắc giải cứu mà chúng tôi sẽ cố gắng trình bài trong những trang sách sau đây:

Phần thứ nhất của kinh Ðại Niết Bàn (Mahà parinibbàna Sutta) có thể xem như bắt đầu tại Vương Xá thành (Ràjagaha), kinh đô xứ Ma Kiệt Ðà (Magadha) nơi Ðề Bà Ðạt Ða trước đó 5 năm đã hại Phật và chia rẽ tăng già.

Thuở bấy giờ, vua A Xà Thế (Ajàtasattu) đang trị vì xứ Ma Kiệt Ðà. Còn vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) thì mới bị lật đổ, đồng thời vương tộc Thích Ca cũng vừa trải qua một thảm kịch ghê gớm, cả giòng họ bị tàn sát. Hoàng tử Mahànàma (anh em duy nhất còn tại gia của A Nan Ða) đã bị giết…

Lúc ấy ba sứ quân đầy thế lực cai trị 3 lãnh địa nằm ở phía Bắc sông Hằng (Ganga) gần núi Hy Mã Lạp Sơn là Koliyas, Mallas và Vajjians đang tuyên bố độc lập, không thần phục đại vương A Xà Thế nữa.

Nhằm lúc vị vua này cũng có tham vọng đánh chiếm rồi sát nhập 3 lãnh địa ấy vào lãnh thổ của mình, đặc biệt là vua A Xà Thế dự định sẽ chinh phục vùng Vajjians trước tiên.

Nếu trong thảm kịch của giòng họ Thích Ca vì nghiệp nặng của những người bà con, đức Phật đã không che chở được gì, thì đối với ý định xâm lăng bộ tộc Vajjian của vua A Xà Thế, Ngài đã cứu giúp rất nhiều. Sau đó Ngài còn gián tiếp che chở cho dân chúng trong bộ tộc Mallas nữa…

Ðây chính là bối cảnh có sắc thái chính trị vào những năm cuối cùng của đời sống Ðức Phật!

Soạn giả xin nhắc lại tượng trưng một số biến cố như sau:

Nhà vua có máu xâm lăng A Xà Thế đã ra lệnh cho một quan đại thần tên Vassakàra đến yết kiến đức Phật và báo cho Phật hay rằng Ðại vương có ý định đem quân đi chinh phục lãnh địa Vajjanas…

Khi Vassakàra nêu lên ý định của nhà vua và xin lời Phật dạy, thì đức Phật quay sang tôn giả A Nan Ða (lúc đó đang đứng hầu sau lưng đấng Bổn Sư). Phật hỏi A Nan Ða:

- Nầy A Nan Ða! Dân tộc Vajjanas có 7 phẩm hạnh trong đời sống hàng ngày như thế nào?!

A Nan Ða liền trả lời:

- “Bạch Ðức Thế Tôn: Thứ nhất dân chúng bộ tộc Vajjanas rất thường hội họp và thảo luận một cách nhất trí mọi vấn đề!

- Thứ hai dân chúng Vajjanas không bao giờ hủy bỏ những luật lệ cũ!

- Thứ ba dân chúng Vajjanas thường xuyên nghe lời khuyên nhủ của các bậc lão thành!

- Thứ tư dân chúng Vajjanas không bao giời xâm phạm tiết hạnh của phụ nữ

- Thứ năm dân chúng Vajjanas luôn luôn tôn trọng những nơi thờ phượng.

- Thứ sáu dân chúng Vajjanas tiếp tục hiến dâng của cải đến những cơ sở tín ngưỡng.

- Thứ bảy dân chúng Vajjanas lúc nào cũng sẵn sàng che chở và hộ trì những bậc tu hành chân chánh!…”

Chờ A Nan Ða trả lời xong, Ðức Phật liền phán rằng:

“- Với bảy đức tính như thế, không ai có thể phủ nhận được sự thịnh vượng, hùng mạnh của dân chúng Vajjanas. Và bảy đức tính đó trước đây họ đã không có nên họ mới bị suy đồi, nghèo đói! Chính Như Lai đã dạy dỗ cho họ thấm nhuần được bảy phẩm hạnh ấy! Một dân tộc như thế là một dân tộc có thể bảo vệ được gia sản, vật chất cũng như tinh thần của họ một cách dễ dàng.

Nghe Phật dạy dứt lời, quan đại thần Vassakàra cũng khen ngợi rằng:

“-Không cần phải có đến bảy đức tính như thế! Chỉ cần một đức tính thứ nhất mà thôi, cũng đủ làm cho bộ tộc nầy phát triển mạnh mẽ! Ngày nào dân chúng Vajjanas còn tiếp tục có bảy đức tính đó thì ngày ấy họ không thể bị xâm lăng! Ai muốn chinh phục họ phải chờ cho đến khi nào họ chia rẽ và có nội phản!”

Ðoạn quan đại thần ấy kiếu từ đức Phật với ý định sẽ về tâu lên nhà vua rằng: Cử binh đi chinh phục lãnh thổ Vajjanas lúc nầy là một điều thất sách!

Trong xã hội Ấn Ðộ thuở bấy giờ, sự tin tuởng vào sức mạnh tin thần của một dân tộc rất quan trọng. Chỉ cần làm cho một thế lực xâm lăng hiểu rõ điều đó, cũng đủ giúp cho đức Phật ngăn ngừa một cuộc chiến tranh.

Mãi về sau, khi đức Phật đã nhập Niết Bàn, xứ Vajjanas mới bị thôn tính, bởi vì dân tộc xứ nầy đã dần dần bỏ rơi và xa lìa những đức tính cũ, trở thành chia rẽ, không còn sức mạnh nhất trí, nên đã chẳng giữ được biên cương lãnh thổ của họ.

Về phần đức Phật, lúc gián tiếp cản ngăn được ý định xâm lăng của vua A Xà Thế, Ngài đã rút tỉa một bài học chính trị và đem áp dụng vào cộng đồng giáo hội. Ngài dạy A Nan Ða triệu tập tăng chúng để đề cao bảy đức tính nói trên: Nếu nhờ bảy đức tính ấy mà một dân tộc được hùng mạnh, khiến cho ngoại bang không dám xâm lăng như thế nào, thì bảy đức tính ấy cũng sẽ làm cho Giáo Hội vững chắc như thế ấy!

Nghĩa là: Thứ nhất tăng chúng nên thường xuyên hội họp, thảo luận mọi vấn đề chung trong cộng đồng một cách nhất trí. Dù có những bất đồng ý kiến cũng phải đã thông một cách ôn hòa với nhau.

Thứ hai, không nên đặt ra những luật lệ mới! (vì quyền làm luật sẽ bị phân bì, rồi ai cũng muốn chế luật mới hết!)

Thứ ba là nên tuân lời những bậc trưởng lão.

Thứ tư, phải tôn trọng Giáo Hội Tăng Già.

Thứ năm, cần suy gẫm đến mọi lời khuyên dạy của các hàng tôn túc.

Thứ sáu, tinh tấn diệt trừ tham vọng và phát triển tính ưa thích thanh tịnh.

Thứ bảy nên luôn luôn biết mình để thấy được sự an lạc của các hàng thánh nhân, lúc nào cũng sống trong sự biết mình ấy.

Sau khi liệt kê bảy pháp lành cho tăng chúng nhớ xong, Ðức Phật đã cô động thành một đoạn pháp mà sau này chúng ta thường tìm thấy nhiều nơi trong Tam Tạng kinh điển như sau:

“-Ấy là giới đức! Ấy là sự an trụ! Ấy là trí tuệ! Khi có an trụ và giới đức thì kết quả giải thoát sẽ vững chắc! Rồi khi có trí tuệ phối hợp với an trụ và giới đức thì kết quả giải thoát không những vững chắc mà còn vĩ đại nữa! Và khi có sự biết mình thì tâm hồn sẽ được trí tuệ giữ cho luôn luôn trong sạch, tránh khỏi mọi ô nhiễm, môi dục lạc và vô minh!”

Phần thứ hai của kinh Ðại Niết Bàn là sau những lời giáo huấn đó, Ðức Phật đã bắt đầu cuộc du thuyết cuối cùng của mình. Nơi nào có người hữu duyên đón mừng Pháp Bảo để thấm nhuần chân lý giải thoát là Ngài dừng chân đễ ban bố an lành. Hoặc nơi nào có những sức mạnh cuồng bạo manh nha gây chiến thì Ngài cũng dừng chân lại nơi đó, để dùng pháp giác ngộ, dập tắt ngòi lửa chiến tranh.

Trong cuộc hành trình lịch sữ nầy, trước tiên đức Phật đã hướng về vùng sông Hằng, xuyên qua địa phận Na Lan Ða, nơi đó về sau có một trường đại học Phật Giáo nổi tiếng. Ðịa phận nầy cũng là nơi sinh quán của Thánh Tăng Xá Lợi Phất (Sàriputta). Chính ở đây, trưởng lão Xá Lợi Phất đã chia tay Ðức Phật, không tiếp tục cuộc hành trình với đức Bổn Sư nữa, để quay về cứu độ mẹ mình, rồi viên tịch luôn trong ngôi làng mà ông đã sinh ra.

Lúc nhìn đức Phật lần cuối cùng, trưởng lão Xá Lợi Phất đã thốt ra những lời vĩnh biệt, nhân danh là một đại tông đồ như sau:

“- Bạch Ðức Thế Tôn! - Bạch đấng Giác Ngộ! Dù có muôn triệu lời để ca ngợi ân đức của Ngài cũng không bằng bốn chữ Trí - Tuệ - Giác Ngộ!”

Sau đó đức Phật cùng với đông đảo chư đệ tử tiến về thành Vesali. Ðây là thủ đô của xứ Vajjanas, mà đức hạnh của dân tộc xứ nầy Ngài đã từng khen ngợi. Và một cuộc chiến tranh suýt do vua A Xà Thế gây ra, tàn phá nước ấy cũng đã được Ngài dùng pháp lành dập tắt.

Người ta có thể tự hỏi: “ Tại sao đức Phật trong lúc tuổi về chiều, lại đến đây để nhập hạ lần thứ 45 của cuộc đời một vị Phật Tổ?!”

Nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ một cách sâu xa thì sẽ thấy rằng sự có mặt của Ðức Phật trong lãnh thổ nầy (Vajjanas) không có mục đích gì khác hơn là dùng ân đức của Ngài để can ngăn vua A Xà Thế đem quân đánh chiếm một nước nhỏ lân cận.

Và tại thành Vesali, đức Phật đã thọ bệnh. Một thân nghiệp tự nhiên và sau cùng của một đời người! Ngài đã dùng sức mạnh thiền định để đánh tan mọi đau đớn. Ðồng thời Ngài cũng không muốn viên tịch mà chưa triệu tập đầy đủ các hàng đệ tử một lần sau cùng. Vã, nhục thân của bất cứ một nhân sinh nào trên đời này, vốn không tránh khỏi bốn định luật: Sinh, Lão, Bệnh, Tử!

A Nan Ða thấy Ðức Thế Tôn nhuốm bệnh và biết rõ ấy là một căn bệnh ngặt nghèo, thì buồn khổ vô cùng. Ông lo sợ đến nỗi mất hết sáng suốt. Rồi để tự an ủi, A Nan Ða đã tưởng tượng và nói với đức Phật rằng:

“- Bạch Ðức Thế Tôn! Dù bệnh hoạn có nguy kịch cỡ nào, một vị Phật chắc chắn cũng không bao giờ nhập Niết Bàn một cách bất ngờ, khi chưa triệu tập đủ mặt chư đệ tử và ban bố những lời di chúc tối hậu?!”

Nhưng đức Phật bỗng hết đau đớn, thần thái tươi tỉnh nói:

“- Nầy A Nan Ða! Như Lai không có gì để di chúc tối hậu cả! Những điều đáng truyền lại cho các hàng đệ tử, Như Lai đã thuyết ra hết rồi! Hiện tại không còn một pháp nào có thể gọi là bí mật để di chúc tối hậu! Như Lai từ khi Thành Ðạo đến giờ đã tiếp tục hiện hữu và nương vào “ thân Phật”! - Ông chớ hiểu lầm có một vị Phật đang sống để lãnh đạo Giáo Hội, và trước khi viên tịch, vị Phật ấy phải chuẩn bị mọi lời di chúc để chuyển giao quyền hành như các vì vua chúa còn mắc dính trong bản ngã phàm tình! Thân Như Lai hiện giờ giống như một cỗ xe đã cũ. Ở cái tuổi 80 thân Phật của Như Lai chỉ được yên ổn khi tâm thường an trú trong các bậc Thiền, nhất là Thiền Phi Tưởng và Vô Sở Hữu Xứ (animitta céto vimutti). Và khi ra khỏi hai bậc thiền ấy nhục thân Như Lai cũng chịu mọi trạng thái tàn hoại của luật vô thường!

“- Nầy A Nan Ða! Ông hãy tự xem mình là nơi nương nhờ của chính ông. Ông hãy xem trí tuệ chơn chánh của mình là pháp cứu rỗi duy nhất, vì một đệ tử thấm nhuần Phật Giáo không bao giờ mong cầu nơi tha lực để giải thoát sự sinh tử luân hồi của chính mình!”

Phần thứ ba của kinh Ðại Niết Bàn (Mahà Parinibbàna Sutta), cũng được thuyết tại Vesali, thuật lại giai thoại:

- Ở đó Ðức Phật đã dừng chân để tu dưỡng một mùa hạ. Một hôm đức Thế Tôn bảo A Nan Ða lấy tọa cụ và theo Ngài đến đại tịnh xá Capala để hành thiền. Sau khi Phật và A Nan Ða an tọa, đức Thế Tôn thay vì lập tức Nhập Ðịnh, Ngài lại quan sát khung cảnh thanh tịnh, và đẹp đẽ xung quanh, rồi Phật nói như cảm khái với A Nan Ða rằng:

“- Những nơi phụ cận trong vùng cũng có sắc thái sinh đẹp, thanh tịnh như thế nầy, Như Lai nên an trú ở đây, hay lần lượt đến những nơi đó?!”

Hành động của đức Phật khi ấy vốn có một nguyên do, nhưng A Nan Ða đã không hiểu. Ông chẳng tìm thấy một ngụ ý nào trong lời Phật nói cả.

Và theo kinh điển, mãi về sau các học giả Phật Giáo mới nhắc đến câu nói ấy của Phật để phân tích, khi họ đối diện với những đoạn khác đầy minh chứng trong Tam Tạng Pháp Bảo!

Vì một đấng Phật Tổ mà thốt lên lời cảm khái hay tỏ ra ưa thích cảnh đẹp như thế (dù là cảnh đẹp thanh tịnh!) là một điều rất hiếm và dường như mâu thuẩn vơí phẩm cách không còn dính mắc thế gian của một bậc hoàn toàn giải thoát!

Nhưng Phật đã xuất khẩu nói ra, tất phải có lý do?! Và lý do duy nhất chỉ là báo hiệu sự gần Nhập Diệt của Ngài. Không phải vì Phật lưu luyến cảnh đẹp, mà là vì lòng thương xót của chúng sanh! Lần đầu tiên non 45 năm về trước sau khi Ðắc Ðạo, nhận thấy Phật Giáo quá cao thâm và vì nghiệp chướng của chúng sinh lại sâu dày, Ngài đã chần chờ, thì Phạm Thiên đã xuất hiện thỉnh Phật thuyết pháp!

Giờ đây trải qua 45 năm truyền đạo giải thoát, nếu duyên lành của nhân loại còn thuận hành thì có kẻ tịnh tâm sẽ yêu cầu Ngài khoan Nhập Diệt!

Rồi đức Phật lại nói “Ai phát triển được 4 thần lực tuyệt đối (Iddhipàda) là An định (hay nhất tâm) tinh tấn, nhẫn nại, và minh sát, thì người ấy có thể làm chủ hoàn toàn được vận mạng của chính mình. Nếu muốn kéo dài tuổi thọ, họ cũng có thể làm được!”

Có nghĩa là một vị Phật còn hơn thế nữa, vì Ngài đã dư đủ 4 thần lực ấy, nên khi có ai yêu cầu Phật tiếp tục sống để cứu độ chúng sanh thì Ngài cũng có thể thực hiện một cách dễ dàng!

Theo chú giải kinh nói về kiếp sống (Àyu Kappasutta) thì 4 thần lực của một vị Phật có khả năng làm cho nhục thân của Ngài kéo dài tuổi thọ bằng một kiếp trái đất. Còn nếu Phật không dùng thần lực, mà chỉ áp dụng thiền định Ngài cũng có thể sống đến 120 tuổi. Trường hợp thân Phật bị dư nghiệp hiện kiếp phát tác, chẳng hạn như Ngài bị vi trùng công phá, sinh bệnh, thì ngài cũng có thể dùng pháp Ðại Bát Nhã để sống lâu theo ý muốn! Tức là kéo dài kiếp sống cho đến khi nào các tế bào cuối cùng trong thân ngài bị vi trùng phá hủy. Và trong thời gian dùng Ðại Bát Nhã pháp để kéo dài sự sống, một vị Phật chỉ biết Thuyết Pháp và Nhập Ðịnh mà thôi chứ Ngài không còn những sinh hoạt phàm tình khác!

Ðức Phật không phải chỉ nói điều ấy với A Nan Ða một lần, mà Ngài đã nhắc lại đến lần thứ hai, rồi lần thứ ba. Nhưng A Nan Ða vì quá âu lo, bối rối, đã không hiểu rõ nghĩa lý của lời Phật dạy.

Sự bối rối đến trở thành tăm tối đó của A Nan Ða vốn đã do hai nguyên nhân:

Thứ nhất A Nan Ða lúc ấy chưa đạt thánh quả A La Hán.

Thứ hai có sự quấy nhiễu của Ma Vuơng (Màra).

Theo thuật truyện (Màrajàtaka) thì Ma Vương không phải chỉ mới bắt đầu khuấy phá sức khoẻ của Phật và những ai gần gũi Phật khi tuổi đời Ngài ở giai đoạn xế bóng, mà hắn đã xuất hiện yêu cầu Phật hãy bước ra khỏi Tam Giới (tức là hãy Nhập Niết Bàn) lúc Ngài vừa đắc quả Chánh Ðẳng Chánh Giác dưới cội cây Bồ Ðề.

Phật bị nhuốm bệnh chính là lúc A Nan Ða, dù lo lắng cũng phải bình tĩnh, chăm chỉ và cẩn thận. Nhưng ông đã trở nên đãng trí, bối rối là một hiện tượng khác thường! Hiện tượng ấy của A Nan Ða trước đó tuy đã từng xảy ra nhưng chỉ xảy ra trong những lúc đức Bổn Sư và chư tông đồ gần Phật, được an toàn tự tại. Và nhất là chỉ xảy ra trong những khi Ma Vương không lởn vởn xung quanh để che mờ trí sáng suốt của ông! Nhờ vậy tuổi thọ của Phật Giáo mới không bị rút ngắn hơn nữa (dưới 5000 năm) chứ nếu không, cõi Ta Bà này đã không có 45 năm hưởng thụ ơn ích của một vị Phật Tổ và hiện thời thế gian vì không có Phật Giáo chắc phải mang một bộ mặt khác! Bộ mặt lấy sự bạo động làm “chân lý” rồi ân oán triền miên, đau khổ không bao giờ chấm dứt.

(Lấy oán báo oán, oán sẽ chất chồng! Lấy ân báo oán, oán lại tiêu tan!” Theo Pháp Cú Kinh).

Là những Phật tử muốn nghiên cứu rõ ràng lịch sử Phật Ðà, chúng ta thử phân tích biến chuyển tâm lý của A Nan Ða đã trong khi ấy:

Phải chăng ngoài việc ông bị Ma Vương che mờ trí sáng suốt, còn những nguyên nhân nào khác?!”

Số là tối hôm sau khi Phật nhuốm bệnh lần thứ nhất A Nan Ða được Phật gọi lên ngồi sát bên mình ở hàng toạ cụ đầu (Trước cả các vị Ðại Tôn Túc) để tụng kinh khuya. Rồi sau thời kinh, đức Phật lại ra lệnh cho chư tăng ai về chỗ nấy để tu niệm. Còn A Nan Ða Ngài bỗng bảo cầm tọa cụ đi theo Ngài đến tịnh xá Capala để hành thiền! Một sinh hoạt tu thiền chung với đức Bổn Sư, một vị Phật Tổ, mà A Nan Ða từ non 45 năm trường gần Phật không bao giờ dám ngờ là mình sẽ có được một diễm phúc như thế!

(Thường lệ, trước khi nhập định, đức Phật chỉ bảo A Nan Ða chuẩn bị tọa cụ trong tịnh thất cho một mình Ngài. Rồi Phật vào Nhập Ðịnh. Còn A Nan Ða muốn hành thiền ở đâu tùy ý, miễn đừng quá xa Phật, hầu khi cần, đức Bổn Sư sẽ không phải đi tìm. Thói quen nầy đã làm cho A Nan Ða có thể tiên đoán thời gian Nhập Ðịnh của Phật kéo dài bao lâu, để ông hoặc hành thiền trong tịnh thất của mình hoặc lẳng lặng đi làm những công tác khác, như giặt giũ y phục của Phật, hay đến chăm sóc những sa môn già yếu, bệnh hoạn!).

Nhưng lần nầy, đức Phật lại bảo ông cùng đi hành đạo với Ngài, nên A Nan Ða cảm thấy một nỗi vui sướng khó tả tràn ngập trong lòng…

Nhất là trong khi ấy thần sắc của Phật rất bình thường, dường như trong ngày hôm đó Ngài không nhuốm trọng bệnh chi cả! (A Nan Ða nào biết rằng Phật đã dùng Ðại Bát Nhã Pháp để quân bình thân bệnh). Nỗi vui sướng của A Nan Ða hiển nhiên là một loại hạnh phúc biết rằng ông sắp hành thiền trong hào quang và định lực của một vị Phật!

Rồi trong một chóc vui sướng, hân hạnh, A Nan Ða lại nghe đức Phật khen ngợi cái khung cảnh vừa xinh đẹp vừa thanh tịnh xung quanh Ðại Thiền Xá Capala, trong rừng vắng…, nên ông càng thèm cảm khoái, quên mất, trước đó không lâu một biến cố quan trọng xảy ra ; Ðức Phật đã nhuốm trọng bệnh! Ðây có lẽ là lý do của sự “Tăm tối”, lý do vì từ lâu A Nan Ða hằng thương kính đức Phật mà chưa có được những giây phút gần gũi thân thiết êm đềm như thế! (nói theo kiểu phàm tình, thì A Nan Ða lúc đó chưa đạt được thánh quả A La Hán!). Nên ông đã không ngờ bổn phận của ông, và hiện tại đang đòi hỏi ông phải làm bổn phận đó, mà ông không biết!

Có gì đáng tiếc cho bằng A Nan Ða chính là người sợ Phật Nhập Niết Bàn sớm nhiều nhất, mà khi đến lúc, ông lại không biết thỉnh Phật tiếp tục sống tại thế gian! Phải chăng sự yêu thương, ái mộ phàm tình vốn là nguyên nhân đưa tâm tình của con người đi vào nẻo tăm tối?!

Dẫu sao, nếu Ma Vương (Màra) không ám ảnh thì A Nan Ða đã hiểu rõ ngụ ý trong lời Phật dạy rồi. Ông không phải chỉ yêu cầu một lần, mà cho đến một nghìn lần, ông cũng sẵn sàng năn nỉ Phật tiếp tục sống trên thế gian nầy để cứu độ chúng sinh. Và chỉ cần một lời yêu cầu thôi, lòng từ bi vô lượng của đức Phật sẽ tỏa công và Ngài sẽ không sớm Nhập Niết Bàn!

Sự cần thiết phải có người yêu cầu Phật “khoan nhập Niết Bàn” như thế, là điều thần bí trong kinh điển Pali (Phạn ngữ)! Người Phật tử khi nghiên cứu về khía cạnh siêu hình trong đạo Phật sẽ thấy nhức óc! Xưa nay chúng ta vẫn hiểu rằng: Tuổi thọ của một kiếp người là do kết quả của toàn thể những cộng nghiệp (thiện ác lẫn lộn) mà người ấy đã tạo ra trong kiếp trước.

Nhưng trường hợp của đức Phật thì hơi khác! Vì kiếp thành Phật là kiếp chót, nên tuổi thọ của một vị Phật là di quả lưu-lai của hằng sa số kiếp trước. Có thể có những di quả phi thiện hay trung hòa quá yếu nào đó, nằm trong vô thỉ kiếp xa xưa đã không đuổi theo kịp tiền thân Phật, nên Ngài chưa trả, thì khi thành Phật Ngài phải trả. Người ta gọi những di quả quá yếu ấy là quả tùy nhân duyên. Nghĩa là khi có lý do chính đáng đức Phật có thể chuyển hóa chúng được. Do đó tuổi thọ của một vị Phật sẽ ngắn hay dài tùy theo sự chuyển hoá các di quả tùy nhân duyên ấy.

Và lý do chính đáng vừa nói chính là phải có người thiện tâm yêu cầu đức Phật tiếp tục sống trên thế gian để cứu độ chúng sinh. Khi nghe lời yêu cầu ấy lòng từ bi của một vị Phật sẽ tự động tỏa rộng đến vô cực và làm chuyển hoá mọi hiệu lực của quả tùy nhân duyên kia.

Cũng có người nói rằng: đức Phật là một bậc toàn tri. Ngài biết rõ mọi điều mong ước của tất cả chúng sinh, nên không cần ai yêu cầu, Ngài vì lòng từ bi tất sẽ tự động sống lâu trên thế gian để độ đời!

Ðiều nầy rất đúng, nhưng chỉ đúng khi thân Phật nằm trong trạng thái bình an, không thọ bệnh. Còn khi nhục thân bị trọng bệnh hoành thành, và tâm Phật nằm trong các bậc thiền, nhất là thiền Bá Nhã Vô Sắc, thì linh quang của Phật chỉ chiếu xung quanh thân Ngài mà thôi, chứ không tỏa đi xa để thấu đến những ai hữu duyên cần được cứu rỗi!

Trở lại trường hợp A Nan Ða bị Ma Vương làm cho tăm tối, chúng ta thử đọc tiếp trong tam tạng:

“Khi ấy A Nan Ða vâng lời Phật, vừa đến ngồi Nhập Ðịnh dưới một tàng cây to, cách chỗ Phật không xa … thì Ma Vương (Màra) hiện ra. Y nhắc lại những điều đức Phật đã hứa trước đó 45 năm, khi Ngài mới đắc quả Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nghĩa là Ma Vương muốn đức Phật Nhập Diệt càng sớm càng tốt, để Ngài đừng bao giờ Chuyển Pháp Luân trên thế gian nầy. Nhưng đức Phật đã trả lời rằng:

Ngài không thể Viên Tịch khi đạo giải thoát chưa được phổ biến đầy đủ, và bốn hạng người lành (tỳ khưu, tỳ khưu ni, thiện nam, tín nữ) chưa thấm nhuần Chánh Pháp, cũng chưa vững tiến trong đời sống phạm hạnh…!

Ma Vương nhắc xong rồi nói: “Hiện tại những việc đó Phật đã hoàn thành, vậy Ngài phải giữ lời hứa và phải Nhập Diệt!”

Ðức Phật trả lời: “ Chúng sinh còn thiện duyên với Như Lai! ( Ngài không nói duyên lành ít hay nhiều). Như Lai sẽ vào Niết Bàn trong khoảng ba tháng nữa…!”

Một câu hỏi có thể đặt ra: “Tại sao đức Phật lại tuyên bố Ngài sẽ Nhập Diệt trong ba tháng tới, trước mặt Ma Vương, mà Ngài không tuyên bố lời ấy, trước mặt một ai khác?!”

Chúng ta thử phân tích về điểm nầy: Theo điển cố thì Ma Vương là chủ tể của cái vòng Sinh Tử Luân Hồi, gồm tam Giới (Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới). Ảnh hưởng mạnh nhất của Ma Vương là cõi Dục giới. Tất cả những sắc thân từ vật chất ô trược (như đặc, lỏng, mủ, máu, hữu cơ v.v…) cho đến vật chất thể bền và thể hơi (như sắt, đá, cương tính, gió, lửa và các thứ khí v.v…) đều là sản phẩm độc quyền chế tạo của Ma Vương.

Khi một chúng sinh ra đời trong Tam giới, bất luận thuộc hạng nào, có thể từ thấp sinh, noãn sinh, hay thai sinh, lên đến hóa sinh, như từ thú rồi người, và trời v.v… là chúng sinh ấy đã chịu “nương” vào sản phẩm của Ma Vương để mà sống!

Tất cả chúng sinh mạng thân nghiệp có thể ví như người ở trọ mà Ma Vương là chủ nhà. Tiền thuê nhà phải trả cho Ma Vương trong trường hợp nầy là nuôi dưỡng tham, sân, si. Một vị Phật hay một vị A La Hán là những bậc không còn thiếu nợ đối với chủ nhà xác thân họ nữa. Hay nói cách khác là các hàng ấy đã dứt khoát không chịu “thuê nhà” kiếp sau của Ma Vương nữa. Các vị ấy không chịu nuôi dưỡng tham, sân, si thì không còn tái sinh nữa, nên Ma Vương nổi giận muốn đuổi người “ở trọ” thánh thiện ấy đi, để lấy nhà ô trược lại càng sớm càng tốt. Tuổi chết (ví như hạn kỳ thuê nhà) của một bậc Giác Ngộ, dù chưa đến, Ma Vương cũng tìm đủ mọi cách làm cho nó đến sớm, kẻo bậc Giác Ngộ càng có mặt lâu trên cõi Ta Bà nầy thì số người Giác Ngộ càng tăng, khuyến khích nhau tận diệt tham, sân, si… bước ra khỏi Tam Giới, không còn ai thuê nhà kiếp sau do Ma Vương chế tạo nữa!

Thí dụ một cách khác thì Ma Vương có thể ví như một người xây nhà để bán cho chúng sinh luân hồi…! Còn Ðức Phật có thể ví như người Mua Nhà Lần Cuối Cùng. Khi ngôi nhà ấy (ám chỉ xác thân) trở nên cũ kỹ, sắp sập, Ngài quyết định không để cho Ma Vương xây nhà mới nữa, nên Ma Vương nổi giận tìm đủ mọi cách đuổi Phật ra khỏi ngôi nhà cũ, (tức phãi chết) càng sớm càng tốt!

Do đó Ma Vương chính là kẻ đầu tiên biết Phật không còn cần đến y nữa. Nhưng năng lực của Phật muốn lưu lại trong ngôi nhà cũ, (ám chỉ xác thân) do y đã cất, không biết đến bao giờ mới cạn, nên y cứ tìm cách hỏi Phật chừng nào Ngài Nhập Diệt! Ma Vương cũng tự biết rằng: Thánh quả Toàn Giác, tuy rất hiếm, nhưng có thể xuất hiện trên thế gian bất cứ lúc nào. Không có một năng lực chi có thể ngăn cản được! Cũng như thánh quả Chánh Ðẳng Chánh Giác ấy muốn lưu lại trong Tam Giới bao lâu tùy nhân duyên chứ Ma Vương không làm sao biết trước hay xua đuổi được!

Nhưng dù sao, đức Phật sau khi Ðắc Ðạo, Ngài đã quyết định không sống một kiếp người dài bằng tuổi thọ trái đất. Ngài đã không vận dụng những thần lực để biến mình thành trường sinh bất tử. Những thần lực nầy vốn có sẵn trong tâm Phật. Ngài có thể phát triển bất cứ lúc nào Ngài muốn. Nhưng Ngài đã không phát triển!

Và khi đối diện với Ma Vương, Phật thản nhiên tuyên bố Ngài sẽ Nhập Diệt trong vòng ba tháng nữa, tức là một cách Phật gián tiếp xác nhận Ngài sẽ không sử dụng thần lực trường sinh bất tử, nên quả đất phải rung chuyển và phong vũ sấm sét đã nổi dậy… Vì những sức mạnh phi thường bao quanh địa cầu là kết tinh của hào quang chiếu vào nhục thân của đức Phật.

Những sức mạnh phi thường ấy đã từ lâu chờ đợi tâm Phật phổ ra để biến thành kim cương mà bảo vệ một vị Phật Chánh Ðẳng Chánh Giác cho đến mãn kiếp trái đất! Nhưng những linh lực ấy đã không được Phật làm hành điểm để hội tụ, thành thử chúng hiển lộng ra như thế!

Khi A Nan Ða chứng kiến một cách kinh hãi cảnh mặt đất rung động, đồng thời trên không trung sấm sét, cuồng phong nổi lên như thế. Ông lập tức bạch Phật hỏi nguyên nhân, thì được đức Thế Tôn trả lời rằng:

“ Có tám nguyên nhân làm cho mặt đất rung động và bầu khí quyển xáo trộn là:

Một, có một sinh vật khổng lồ bước đi. Hai, có một đạo sĩ Ðắc Thiền đạt Thần Thông Vô Sắc. Ba, có một đại Bồ Tát giáng sinh vào lòng mẹ. Bốn, có một đấng Cứu Thế ra đời. Năm, có một đức Phật Thành Ðạo. Sáu, có một bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác bắt đầu Chuyển Pháp Luân. Bảy, có một vị Phật Tổ từ chối sự trường sinh bất tử. Và Tám, có một lời hứa Phật sẽ nhập Niết Bàn!”

Khi đọc đến đoạn nầy, chúng ta sẽ thấy rằng:

Sự hiện hữu của một vị Phật Tổ, trên thế gian vốn có nhiều liên quan với càn khôn vũ trụ, chứ không đơn giản như một cuộc sống phàm tình mà chúng ta thường lầm tưởng!

Ðối với các nhà khảo cứu thì những bài kinh nói về tám điềm lạ, hay nói đến 8 trình độ tinh thông hoặc nói đến tám bậc giải thoát là những đề tài chính trong Kinh Ðại Niết Bàn. Và chúng ta ai cũng biết rằng: trong 3 lần 8 là 24 loại đề pháp ấy, chỉ có 8 pháp nói về điểm lạ ( hay còn gọi là 8 hiện tượng kinh cảm vũ trụ), như vừa kể trên là thỉnh thoảng được nhắc đến mà không có lý giải! Còn 16 loại đề tài kia, gồm 8 trình độ tinh thông và 8 bậc giải thoát, thì thường được tạng kinh và tạng luận phân tích rõ ràng.

Ai muốn biết rõ ba nhóm kinh, mỗi nhóm tám chi nầy, mời quý vị hãy đọc cuốn, Những Ngày Cuối Cùng Của Ðức Phật bằng tiếng anh (The last days of the Buddha), do “Bánh xe pháp” xuất bản.

Trên thực tế, 8 điềm lạ, (tức tám nguyên nhân làm cho mặt đất chuyển động và phong vũ sấm sét nổi lên) vốn chứa lắm điều bí ẩn đặc biệt. Ðức Phật dẫu có tiết lộ trước đó, phàm tuệ của A Nan Ða cũng không thể nào thấu hiểu nỗi. Cho nên Phật Tổ đã không nói ra và chỉ có những hiện tượng nhiệm mầu làm cho A Nan Ða bị kinh cảm, mới khiến cho ông sực nhớ biết chắc đức Phật sắp đi vào Niết Bàn. Và cảnh quả địa cầu đã không chịu nỗi sự mất mác phúc đức vô lượng, - tức sắp mất đi một vị Phật, nên đã chuyển động khiến vạn vật rung rinh một cách kỳ lạ mà không làm tổn hại đến A Nan Ða một sợi lông, đủ chứng minh cái sắc thái thần bí muôn đời giữa đức Phật và vũ trụ đó!

Trở lại câu chuyện của đức Phật và A Nan Ða tại Thiền Tịnh Ðạo Tràng Capala: Sau khi quả địa cầu kinh cảm chấm dứt, đức Phật liền đích thân dạy cho A Nan Ða các phương pháp hành thiền thích hợp với căn cơ ông nhất để A Nan Ða mau tiến hóa…

Ðoạn đức Thế Tôn thuật lại cho A Nan Ða nghe những gì Ngài đã hứa với Ma Vương 45 năm về trước. Ngài lập lại câu nói “Một vị Phật không thể Nhập Niết Bàn trước khi chưa ban bố pháp Giải Thoát đầy đủ trong Tam Giới!”

Rồi Phật tiếp:

“Nhưng trải qua 45 năm chờ đợi. Vừa rồi Ma Vương đã hiện ra nhắc rằng: Hiện tại Như Lai đã công bố đầy đủ tám muôn bốn ngàn pháp môn rồi. Tại sao Như Lai chưa Nhập Diệt? Và Như Lai đã hứa với y Như Lai sẽ nhập Niết Bàn trong ba tháng tới!”

Và Phật kết thúc câu chuyện:

“Khi tâm Phật hướng vào Niết Bàn thân Phật chưa biến thành kim cương thì quả địa cầu, phải rung động! Hiện tượng ấy không phải lúc nào cũng có, mà nó chỉ xảy ra đúng ba tháng trước khi Phật nhập Niết Bàn!”

A Nan Ða nghe thế liền hốt hoảng quỳ lạy thiết tha yêu cầu Phật hóa thành kim thân để sống lâu độ đời. Ông yêu cầu lần thứ nhất, rồi lần thứ hai, vẫn thấy đức Thế Tôn ngồi yên lặng …

Ðoạn Phật hiền từ nhìn A Nan Ða cho biết rằng:

“Nầy A Nan Ða! Bây giờ thì đã quá muộn, vì tâm Phật đã hướng về Niết Bàn rồi và đã tự dứt bỏ các phép nhiệm mầu Trường Sinh Bất Tử!”

Nhưng khi A Nan Ða yêu cầu đến lần thứ ba thì đức Phật chợt nghiêm nghị hỏi A Nan Ða:

“Nầy A Nan Ða! Vậy ông có tin tưởng vào phẩm hạnh hoàn toàn của một bậc đã ra khỏi Tam Giới không?!”

“Bạch đức Thế Tôn! Ðệ tử tin tưởng như thế!”

Rồi đức Phật dạy tiếp:

“Nếu tin tưởng như thế, tại sao ông lại nài nỉ Phật làm một việc đã quá thời đến ba lần?!”

A Nan Ða biện hộ rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Sở dĩ đệ tử yêu cầu đức Thế Tôn đến ba lần, là vì đệ tử đã nghe đức Thế Tôn nói đến một vị Phật luôn luôn có đầy đủ bốn thần lực tuyệt đối, dư khả năng hoá thân thành kim cương, kéo dài tuổi thọ…!”

Ðức Phật liền hỏi A Nan Ða:

“Nầy A Nan Ða! Mà ông có tin điều Như Lai nói, về bốn thần lực ấy, là sự thực không?!”

“Bạch đức Thế Tôn! Ðệ tử tin sự ấy có thật!”

Ðức Phật bèn giải rõ:

“Nầy A Nan Ða! Dịp may độc nhất đã qua rồi không bao giờ trở lại! Lời ông yêu cầu Phật hóa thân trường sinh bây giờ đã quá trễ! Ông chỉ có thể yêu cầu Phật chấp nhận kim thân bất tử khi nào tâm Phật chưa bắt đầu hướng vào Vô Dư Niết Bàn…! Và hiện tại thì hy vọng ấy của ông không còn nữa!”

Rồi Phật giảng thêm:

“Nầy A Nan Ða! Nếu trước đây ông đã cung thỉnh Như Lai hóa thân trường sinh độ đời đúng lúc, thì lời yêu cầu của ông đã được Như Lai chấp nhận rồi! Ông quên rằng chính Phật đã gợi ý cho ông làm điều đại thiện ấy nhiều lần, nhưng ông vì tăm tối đã để trôi qua! Phật không phải đã chỉ nhắc ông một lần mà Ngài đã nhắc ông đến mười lăm lần tại năm điạ điểm khác nhau rằng: Một vị Phật khi thân thể suy tàn, nếu có kẻ thiện tâm yêu cầu, Ngài vì lòng từ bi sẽ hóa thân trường sinh độ đời …!”

Ðoạn đức Phật nhắc lại năm địa điểm gần thành Vesali, nơi đó Ngài đã gợi ý để A Nan Ða thỉnh Phật đừng nhập Niết Bàn (mỗi địa điểm Phật nhắc đến ba lần, tổng cộng thành mười lăm lần), nhưng A Nan Ða vẫn im lặng, không phản ứng gì cả!

Sau cùng đức Phật khuyên nhủ A Nan Ða rằng vạn vật trong Tam Giới luôn luôn bị chi phối bởi luật Vô Thường. Và một bậc Toàn Giác không bao giờ làm ngược lại với duyên phận của chúng sinh trên cõi thế. Phật đã hứa với Ma Vương trong ba tháng nữa sẽ Nhập Diệt, là một cách để cho những ai hữu duyên còn sót lại, có thể sẽ được Ngài cứu độ!

Tiếp theo đức Phật bảo A Nan Ða tập hợp chư tăng đệ tử trong vùng để Ngài thuyết một bài pháp tán dương trước cộng đồng xuất gia sự phát triển nội tâm (thiền định) và trau dồi Minh Sát Tuệ (vipassanà), vì chỉ có hai phép tu tập nầy mới làm cho đời sống phạm hạnh được duy trì vững chắc, và mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người.

Phần cuối bài pháp, đức Phật dùng để công bố giữa tăng hội rằng Ngài sẽ nhập Niết Bàn trong vòng ba tháng nữa.

(Lời của dịch giả: lúc Phật tuyên bố câu ấy nhầm ngày mười lăm tháng giêng âm lịch. Bởi vậy về sau nầy theo truyền thống Nam tông, mỗi năm chư Phật tử hằng tổ chức lễ kỷ niệm “Phật hứa với Ma Vương” vào ngày trăng tròn tháng thứ nhất!).

Tuyên bố thời điểm nhập Niết Bàn xong, đức Phật bèn thốt ra nhiều bài kệ, mà một trong các bài ấy được tạm dịch như sau:

“Như Lai tuổi đã về chiều!

Niết Bàn sẽ nhập là điều tất nhiên.

Khuyên hàng đệ tử cần chuyên:

Rèn tâm, trì giới tạo duyên lấy mình!

Luân hồi bao nẽo đăng trình.

Khổ, vui, thăng, đọa… tự mình và thôi!

Giới mà giữ đúng không rời.

Ðịnh mà vững chắc là đời thánh nhân!

Minh tâm kiến tánh càng tăng,

Giác duyên sẽ kết, thiện căn sẽ dày!

Sa môn hành những lời nầy.

Ngày sau thoát cảnh đọa đày chẳng sai!

(N. Ð dịch thành thơ)

Phần thứ tư của Kinh Ðại Niết Bàn thuật lại chuyện đức Phật tóm lược những chuyến hành trình của Ngài sau mùa nhập hạ, và tuyên bố ngài muốn trở về Vesali.

Rồi trên đường đi Vesali, Phật còn lập lại cho các hàng đệ tử những lời dạy mà Ngài đã thuyết, và họ đã được nghe …! Nội dung đại khái như sau:

“Chúng sinh sở dĩ phải tiếp tục luân hồi trong cái vòng Sinh Diệt bất tận, là bởi họ đã không thấm nhuần Bốn Pháp Học! Bốn Pháp Học ấy trước đó Ngài đã gọi là Tứ Diệu Ðế (Catu ariyasaccàni: Khổ đế, Tập đế, Ðạo đế và Diệt đế) thì bây giờ lại được Phật gọi là bốn pháp hành đạo cao thượng gồm có:

  1. Giới đức cao thượng

  2. Ðịnh tâm cao thượng

  3. Trí tuệ cao thượng, và

  4. Giải thoát cao thượng.

Riêng phần Ðịnh Tâm Cao Thượng còn được Phật lập đi lập lại và nhấn mạnh nhiều lần trong chuyến trở về Vesali nầy. Ðặc biệt Ngài còn chỉ rõ rằng nền tảng của định tâm cao thượng chính là giới đức cao thượng (ám chỉ thân nghiệp và khẩu nghiệp hoàn toàn trong sạch!).

Và tại một điạ đìểm dừng chân khác, cũng trên lộ trình ấy, đức Phật đã giảng giải cho các hàng tăng chúng nghe một phương pháp tìm hiểu Phật ngôn, hầu phòng khi có đệ tử sơ cơ nào, chưa thấu rõ lời Phật dạy, sẽ có tiêu chuẩn mà học hỏi Phật giáo, nhất là sau khi Ngài Tịch Diệt!

Những ai khảo cứu kinh Ðại Niết Bàn, muốn nắm vững nội dung đoạn pháp nói về “Phương cách tìm hiểu Phật ngôn” trên, họ có thể tìm thấy sự dẫn chứng trong Tạng Luật, và lời cắt nghĩa trong Tạng Kinh.

Trường hợp đoạn kinh ấy được ghi lại quá sâu sắc, tế nhị và cô đọng, khiến họ khó tìm ra nghĩa lý, rồi phát sinh nghi ngờ về thuật sự đó, thì soạn giả mời họ hãy đọc cuốn “Bốn Pháp Quyền Vĩ Ðại” bằng tiếng Anh (The four Great Authorities), chương “những ngày cuối cùng” của đức Phật (The last days), trang 46 thì sẽ rõ!

Lời dạy về “phương pháp để hiểu Phật ngôn” nầy ngày nay rất quan trọng, vì nó là nền tảng giữ đức tin của các hàng Phật tử, khi họ đối diện với một số bản kinh khác nhau, mà những người “làm chủ” các bản kinh ấy ai cũng đề cao bản văn của mình là tài liệu Phật ngôn chính thống! Nhất là người Phật tử có thể nhớ lời Phật dạy ấy để phân biệt những Phật ngôn do đức Bổn Sư thuyết ra lúc còn tại tiền, với những “Phật ngôn” được ghi lại trong kinh điển sau nầy!

Kế đó, đức Phật thân hành hướng đến xứ Mallas, quê hương của một bộ tộc thuộc giai cấp chiến sĩ, nằm dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya). Vào thời đó, dường như biên giới của xứ Mallas cách không xa thành Xá Vệ (Savatthi) lắm, cho nên tin Trưởng Lão Xá Lợi Phất (Sàrìputta) vừa viên tịch được loan truyền trong thành Xá vệ đã thấu đến tai Phật.

Và tại xứ Mallas, một lãnh thổ kề cận với quê quán giòng họ Thích Ca (Sakyans) của đức Phật, mà đấng Bổn Sư bị ngã bệnh trầm trọng, sau khi dùng bữa ăn có “dĩa nấm”, do ông thợ bạc Cunda hiến dâng…

Thuật sự còn ghi rõ rằng: Khi đức Phật nhìn thấy “dĩa nấm” ấy thì bảo Cunda chỉ dâng cho một mình Ngài mà thôi đừng phân phối ra các hàng tăng chúng. Ngài khuyên Cunda hãy dâng cho họ những món khác. Ăn xong Phật còn dạy ông Cunda lập tức đem thức ăn còn lại của Ngài chôn đi, vì chỉ có một vị Phật mới tiêu hóa nỗi những thực phẩm như thế!

(Lời dịch giả: Theo một số sử liệu khác thì thức ăn mà ông Cunda đã dâng cho Phật không phải là nấm, mà là một thứ thực phẩm dự trữ cho những người thợ săn đem bán. Quý đọc giả có thể tìm hiểu thêm trong cuốn “The last days of the Buddha”: Những ngày cuối cùng của đức Phật. Hoặc quý vị có thể đọc các bài khảo cứu của ông Arthur Waley, cũng viết về đề tài nầy, dựa trên những nguồn tài liệu chữ Trung Hoa. Ðặc biệt là các bài ông viết về “những kệ ngôn cuối cùng” của đức Phật, và một số bài ông viết để vinh danh Phật nhập Niết Bàn!

Tuy nhiên dù theo tài liệu nào đi nữa, thì chúng ta cũng nhận thấy có một điểm chung: Ðó là một món ăn rất độc mà đức Phật phải dạy ông Cunda tuyệt đối không đem dâng cho ai khác. Ngài tránh cho họ sự nguy hiểm tánh mạng. Còn bản thân Ngài, vì Ngài sắp nhập Niết Bàn, nên độc vật đối với Ngài không đặt thành vấn đề nữa!

Lần ngã bệnh thứ hai nầy, đức Phật bị chứng tiêu chảy rất trầm trọng. Tuy sự cộng phá của độc trùng càng lúc càng tăng, nhưng tâm vô ký của một vị Phật quá mạnh. Ngài lúc nào cũng thản nhiên, thanh tịnh, và minh mẫn tiếp tục cuộc hành trình…

Người ta có cảm tưởng như lúc đó không phải họ đang chứng kiến cảnh xác thân bệnh hoạn làm cho đức Phật đau đớn, mà là họ đang chứng kiến cử chỉ siêu phàm của một vị Phật trực diện, quan sát cái khổ trong thân Ngài, như quan sát một cái gì “tầm thường”, ‘xa lạ”, chẳng liên quan gì đến Ngài cả!

Thật là một hành động phi thường!

Lúc ấy thân thể Phật rất yếu và lời nói rất nhỏ. Ngài bảo A Nan Ða trải y Tăng Già Lê cho Ngài nằm và hãy tìm nước cho Ngài uống. Nhưng A Nan Ða chần chờ vì chưa tìm được một giòng sông để có nước trong hơn, chứ nước trong giòng suối bên cạnh đang đục ngầu, bởi một đoàn 500 xe bò mới băng qua.

Khi đức Phật bảo múc nước đến lần thứ ba thì A Nan Ða vâng lời. Cực chẳng đã, ông phải lấy bát nước lại bên giòng suối…! A Nan Ða vô cùng kinh cảm, vội múc nước lên dâng Phật. Và ông chợt nhớ rằng đây không phải là lần thứ nhất ông chứng kiến một phép lạ như thế, mà trước đó không bao lâu, ông đã từng múc nước đục trong một cái giếng sập, đem dâng Phật thì nước trở thành trong!

Một hôm đức Phật gặp một hoàng tử xứ Mallas tên Pukkasa, một tông đồ của giáo chủ Alàra Kàlàma (một trong sáu trường phái mạnh nhất thuở bấy giờ). Hoàng tử nầy đã từng theo học đạo với Alàra Kàlàma trước đó trong vòng mười lăm năm.

Vừa trông thấy đức Phật, hoàng tử Pukkusa đã mở đầu câu chuyện bằng những lời tán dương:

“Thật là quá ngạc nhiên! Thật là đáng khâm phục vẻ thanh tịnh và cao thượng của những hàng sa môn đã thoát ly gia đình ; sống đời sống an lạc phạm hạnh!”…

Rồi hoàng tử tiếp:

“Chính thầy của bản vương tử (ám chỉ Alàra Kàlàmara) một lần nọ cũng đã nhập định một cách vững chắc đến độ không nghe thấy 500 cỗ xe đi ngang qua, mà tiếng động có thể đánh thức một người ngủ say cũng phải thức dậy!”

Vì biết hoàng tử Pukkusa có nhân duyên sắp được Ngài tiếp độ, nên sau khi nghe thế đức Phật bèn hỏi rằng:

“Nầy Pukkusa! Nếu so sánh giữa sự định tâm của Alàra Kàlàma với sự định tâm của một sa môn Nhập Thiền giữa cơn mưa bão sấm chớp vang trời, gió cuốn rừng cây, nước trôi như thác, thì sự nhập định của vị nào khó làm hơn?”

“Bạch đức Cồ Ðàm! Ðịnh lực của sa môn Ðắc Thiền khó làm hơn!”

Nhân đó mà đức Phật mới thuật lại, không phải chỉ để cho hoàng tử Pukkusa nghe, mà còn để cho tất cả hàng đệ tử biết: Ngài đã nhiều lần Nhập Ðịnh trong cảnh mưa bảo, sấm sét như thế! Nhất là Phật còn kể thêm rằng: Khi xả thiền Ngài mới hay có rất nhiều trâu bò, súc vật, cùng dân quê bất hạnh đã bị sấm sét giết chết!

Pukkusa vốn là người rất tin vào quyền lực nên đức Phật đã dùng Thiền lực để “thuyết phục” như thế! Kết quả vị hoàng tử nầy đã tự động xin quy y và xác nhận Phật giáo là con đưòng chắc chắn đưa đến thật pháp và cứu cánh giải thoát. Ðây là người đệ tử cuối cùng của đức Phật!

Hoàng tử Pukkusa sau đó đã dâng đến đức Phật hai lá y màu hoàng kim. Ðức Thế Tôn nhận một y rồi bảo ông đem tặng lá y kia cho A Nan Ða. A Nan Ða khi nhận lá y ấy, ngẫu nhiên nhìn lên thân Phật thì thấy màu da đức Bổn Sư chợt sáng lạng vô cùng, ông ngạc nhiên liền nói:

“Bạch đức Thế Tôn! Sao kỳ lạ quá! Làn da của đức Thế Tôn tự nhiên óng ả vô cùng, có thể nói là còn đẹp hơn màu lá y vàng nầy!”

Ðức Phật chậm rãi trả lời rằng:

“Nầy A Nan Ða! Có hai trường hợp mà dung mạo của một vị Phật bỗng sáng lạng khác thường. Ðó là khi Phật Ðắc Ðạo và khi Ngài sắp nhập Niết Bàn. Trong trường hợp thứ hai Như Lai sẽ Nhập Diệt vào nữa đêm ngày mai!”

A Nan Ða nghe Phật tuyên bố câu ấy thì rụng rời chân tay. Vì suốt ngày hôm đó, và trọn ngày hôm trước, Phật tuy ở trong tình trạng bệnh hoạn, nhưng đức Thế Tôn lúc nào cũng tươi tỉnh, tinh anh. Phật hết nói pháp cho người nầy nghe thì Ngài tiếp độ cho người khác, nên A Nan Ða hy vọng, do lòng từ bi Phật còn kéo dài sự sống…!

Bây giờ nghe Phật báo trước giờ nhập Niết Bàn, ông đâm ra hốt hoảng. A Nan Ða tự động thầm trách người thợ bạc Cunda vô tình dâng thức ăn độc địa đến đức Bổn Sư.

Ðức Phật biết rõ điều đó, nên sau khi Ngài tìm một ao nước tắm rửa sạch sẽ trở lại, bèn nói với A Nan Ða rằng:

“Nầy A Nan Ða! Ông không nên thầm trách người thợ bạc Cunda! Nhất là đừng hiểu lầm đức Phật phải tịch chỉ vì đã thọ một bữa ăn của thí chủ ấy! Trên thực tế: Có hai lần cúng dường quý báu nhất là cúng dường đầu tiên khi Bồ Tát Thành Ðạo, và lần cúng dường sau cùng trước khi Phật nhập Niết Bàn! Cunda nhờ phúc đức cúng dường ấy mà ông sẽ được kéo dài tuổi thọ, của cải cùng danh thơm cũng sẽ gia tăng. Và khi mãn kiếp, ông sẽ gặt hái quả lành tái sinh vào cõi trời!”

Phần thứ năm của kinh Ðại Niết Bàn bắt đầu từ lúc đức Phật yêu cầu A Nan Ða dìu đưa Ngài đến vùng Kusinàrà, vào tận trong công viên của vua Mallas. Khi đến nơi đức Phật bảo A Nan Ða nâng Ngài nằm trên một phiến đá, quay đầu về hướng Bắc, giữa hai cây Song Long Thọ giao cành. Mặc dù lúc ấy không phải mùa hoa, nhưng những búp Song Long Thọ bỗng nhiên hiện ra, nở rộ, và rãi vô số nhụy thơm trên thân thể đức Phật!

Sử chép: Hoa Mạn Ðà La (Mandarava) cũng tự nhiên từ không trung rơi xuống, chen cách với hoa Song Long Thọ, mang theo hương thơm thiên giới và nhạc trời!...

(Một học giả Nhật Bổn, ông D.T. Suzuki đã so sánh cái hình ảnh thanh thoát, siêu phàm trong những giờ phút cuối cùng của cuộc đời một vị Phật với đoạn chót của chúa Ky Tô, đã làm cho mọi người thấy rằng: Trong cả hai trường hợp, hai vị Giáo Chủ đã để lại những tấm gương sáng cho các thế hệ tin tưởng nơi họ sau nầy!)

An ngọa xong, đức Phật liền nhập định và các đệ tử kề cận thay phiên nhau hầu Phật. Khi đến lượt trưởng lão Upavàna đứng quạt hầu thì đức Phật bỗng dạy:

“Nầy các sa môn! Sự cúng dường bằng hầu hạ, bằng thiên nhạc, bằng hương thơm, bằng tràng hoa, hay bằng bất cứ vật dụng gì quý nhất trên thế gian, đến Như Lai, cũng không bằng cúng dường bằng cái phẩm hạnh Thực Hành Ðúng Giáo Lý Giải Thoát mà Như Lai đã dạy! Nghĩa là sa môn ấy cúng duờng Như Lai một cách thành thật!”…

Ðoạn đức Thế Tôn bảo trưởng lão Upavàna đứng sang một bên. A Nan Ða lấy làm lạ, liền bạch Phật hỏi lý do, thì được Phật trả lời rằng:

“Nầy A Nan Ða! Bởi vì có vô số chư thiên đến từ bốn phương tám hướng để chiêm bái toàn diện bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nhưng sa môn Upavàna đã đứng trước mặt Như Lai, và tâm lực của vị sa môn nầy làm giảm hào quang của chư thiên, nên họ không dám đến gần để chiêm bái. Bởi vậy Như Lai mới yêu cầu ông đứng sang một bên!

Tuy A Nan Ða đang buồn, nhưng nghe nói có chư thiên (vô hình) đến thăm liền bị kinh cảm, tò mò hỏi Phật về họ, thì cũng được đức Bổn Sư mô tả tóm tắt:

“Nầy A Nan Ða! Các hàng chư thiên ấy, hạng nào còn dục căn thì khóc than thảm thiết, kể rằng: đức Phật đã xuất hiện trên thế gian từ 45 năm qua, mà bây giờ họ mới được thấy nhục thân lần đầu, và cũng là lần chót! Còn hạng chư thiên nào đến từ hai cõi Sắc Giới và Vô Sắc Giới, thì thần diện tỏ ra thanh tịnh hơn, nhưng vẽ luyến tiếc sắp mất một vị Phật của họ, cũng không che dấu được …!

Ðoạn đức Phật ; nhân nghe các hàng chư thiên bàn bạc với nhau rằng sau khi đấng Toàn Giác Tịch Diệt rồi thì mỗi ngày (tương đương với 100 năm của thế gian), từ thiên giới họ sẽ xuống cõi người để chiêm bái những nơi có liên quan đến đức Phật một lần, Phật bèn nói với A Nan Ða:

“Nầy A Nan Ða! Có bốn chỗ động tâm, tượng trưng cho hình ảnh của Phật tổ Thích Ca là:

  1. Ðịa điểm Ðản Sinh, trong vườn Lumbini (gần thành Xá Vệ: Sàvatthi)

  2. Ðịa điểm Thành Ðạo, ven rừng tuyết lãnh Uruvela (gần sông Ni Liên).

  3. Ðịa điểm Nói Pháp Lần Ðầu Tiên (chuyển pháp luân) trong vườn Lộc Dã, gần thành Benares.

  4. Và địa điểm nhập Niết Bàn, (trong vườn Song Long Thọ Mallas, gần thành Kusinàrà).

Về sau nếu có kẻ thiện tâm, tưởng nhớ đến đức Phật thì họ cứ tìm đến chiêm bái một trong bốn (hay cả bốn) địa điển nầy! Và quả phúc sự chiêm bái ấy sẽ đưa kẻ thành tâm, sau khi hết tuổi thọ, được sinh vào cõi trời! Ðặc biệt là những ai từ phương xa lặn lội đến thánh tích sẽ hưởng quả phúc nhãn tiền: thân thể khỏe mạnh, tật bệnh tiêu trừ!”

Một điều đáng chú ý là tất cả bốn thánh địa nầy đều nằm trong một ngôi vườn, cạnh rừng, gần thành phố, chứ không ở trong thành phố. Ðể cho những đoàn hành hương trong tương lai có thể tìm thăm các “dấu tích” của đức Phật tại những nơi vừa thanh tịnh (gần rừng), vừa dễ lui tới (gần thành phố).

Lúc đó A Nan Ða như sực nhớ ra một điều gì liền buồn bã hỏi Phật:

“Bạch đức Thế Tôn! Sau khi Phật Tịch Diệt, thì một tỳ khưu tăng đối xử với các đệ tử nữ lưu như thế nào?!”

“Nầy A Nan Ða! Như Lai đã dạy kỹ việc đó đến ông rồi!” (Mời quý đọc giả hãy đọc lại đoạn trước, chương số V)

A Nan Ða lại rưng rưng nước mắt hỏi tiếp:

“Bạch đức Thế Tôn! Nhưng khi đức Bổn Sư đã An Tịnh Vô Dư Niết Bàn, thì chúng đệ tử sẽ gìn giữ nhục thân của Ngài ra làm sao?!”

“Nầy A Nan Ða! Ðó là nhiệm vụ của các hàng cư sĩ, các bậc vua chúa! Còn bổn phận của chư tỳ khưu tăng là phải tinh tấn phát triển tâm linh, bất thối trên con đường giải thoát!”

A Nan Ða nài nỉ:

“Bạch đức Thế Tôn! Nhưng chúng đệ tử muốn biết thánh ý của Phật về tang lễ dành cho nhục thân của một bậc Chánh Biến Tri?!”

Hào quang trên mình Phật chợt sáng rực, rồi Ngài trả lời:

“Nầy A Nan Ða! Nhục thân của một bậc Chánh Biến Tri sẽ được hỏa táng theo vương lễ. Và tro tàn cũng như Xá Lợi sẽ được các vua chúa chia đều để dựng tháp phụng thờ!”

“Nầy A Nan Ða! Có bốn hạng người trên thế gian xứng đáng để cho chư thiên và nhân loại bảo vệ hài cốt trong các bảo tháp (Cetiyas) là:

Phật Toàn Giác (Sammà Sambuddha), Phật Ðộc Giác (Pacceka Buddha), A La Hán (Arahatta) và Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti Ràjà). Ai có duyên lành lễ bái hài cốt của bốn hạng người ấy sẽ được phúc đức vô cùng!”

(Lời phụ chú của dịch giả: Các danh hiệu như: Toàn Giác, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Chánh Biến Tri, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Thế Gian Giải, Minh Hạnh Túc, Vô Thượng Sĩ, Ứng Cúng, Thiện Thệ, Thế Tôn v.v… đều chỉ để ám chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Tức là một vị Phật, từ vô lượng kiếp làm Bồ Tát, đã có hạnh nguyện đem giáo lý độ đời.

Còn danh hiệu Ðộc Giác ám chỉ một bậc Giải Thoát đã tự tu, tự độ, kiếp chót, không cần nghe Pháp của ai và cũng không dạy Pháp đến kẻ khác.

A La Hán Phật thường được gọi là Thinh Văn Giác, tức những đệ tử đã đắc đạo Bất Lai (không còn luân hồi nữa!), của một vị Phật Toàn Giác.

Cả ba loại danh hiệu vừa kể trên đều dành cho các bậc thoát ly gia đình, đắc Ðạo Vô Thượng Giải Thoát. Riêng danh hiệu Chuyển Luân Thánh Vương ám chỉ một hiền nhân sống trong cung vàng điện ngọc…

Ấy là một vị hoàng đế ơn ích vô lượng, lấy đức lành để trị dân, và không ngừng phổ biến thiện Pháp ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Các vị Chuyển Luân Thánh Vương hầu hết đã đắc quả thánh, kể từ bậc Tu Ðà Hườn (Sotàpattimagga) trở lên!

Theo phong tục cổ Ấn Ðộ, nhất là thời Phật còn tại thế, thì những vĩ nhân sau khi nhắm mắt, hài cốt của họ thường được tôn thờ trong những mộ thất (Stupas), hay trong những bảo tháp (Cetiyas).

Riêng đối với những cố Chuyển Luân Thánh Vương thì di cốt còn được an trí cùng với những tùy vật rất quý giá, đồng thời phía trên mộ tháp luôn luôn có một chiếc lọng!

Người ta gọi hài cốt của đức Phật là Ngọc Xá Lợi và ngày nay các hàng Phật tử có thể chiêm bái Ngọc Xá Lợi tại những tháp thờ lớn, hay những bảo tàng viện Trung Ương trong các nước Phật Giáo!…)

Khi ấy A Nan Ða vì quá khổ não, bước ra phía sau chỗ Phật nằm, ôm một cây cột, than khóc thảm thiết. A Nan Ða khóc vì biết rằng quả thánh A La Hán ông chưa đạt được, lòng ông còn dục vọng, mà đức Bổn Sư, người duy nhất có thể giúp ông vượt qua biển khổ lại sắp sửa nhập vào Niết Bàn!

Với một tâm lý còn ít nhiều phàm tình, A Nan Ða chắc tự hỏi rằng:“Kết quả của 25 năm trường hầu Phật là như vậy sao?”…

Hình ảnh một A Nan Ða ngồi khóc ấy, về sau nầy thường được miêu tả bằng nghệ thuật hội họa, hay bằng nét điêu khắc của văn hoá Phật giáo, tại những trung tâm chiêm bái lịch sử, khiến cho các nhà khảo cứu quốc tế liên tưởng đến hình ảnh các tông đồ của Jésus Christe gục đầu bên thập tự giá, sau Phật khoảng 600 năm.

Phật không thấy A Nan Ða bên cạnh, bèn hỏi nguyên do, rồi cho người gọi ông đến mà dạy rằng:

“Nầy A Nan Ða! Ông chớ nên buồn khổ! Như Lai đã từng giảng cho ông nghe nhiều lần rồi: Mọi vật đều vô thường! Có cái gì đã sinh ra, thay đổi theo thời gian, mà không có ngày suy tàn, tiêu hoại?!”

“Nầy A Nan Ða! Ðức tính hầu Phật của ông từ 25 năm qua, vốn vui vẻ, giản dị, nhạy cảm và nghiêm túc. Với một sự phục vụ hết lòng kính yêu đức Phật, bằng hành động, bằng lời nói, cũng như bằng ý nghĩ, ông đã tạo cho mình một công đức vô lượng, to lớn hơn bất kỳ ai trong Giáo Pháp của Như Lai. Tại sao ông không nhớ đến những công đức ấy để mà thỏa mãn, để mà tin tưởng quả giải thoát sẽ đến trong kiếp nầy?!”

“Nầy A Nan Ða! Như Lai khuyên ông hãy tinh tấn thêm chút nữa, thì các bợn nhơ trong tâm ông sẽ được tẩy sạch!”

Rồi để làm tăng niềm tin vào công đức của A Nan Ða, đức Phật bèn thuật lại trong một tiền kiếp xa xưa, khi Bồ Tát tiền thân Phật Thích Ca được đức Chánh Ðẳng Chánh Giác quá khứ thọ ký, thì tiền thân A Nan Ða, cũng được thọ ký rằng ông sẽ chứng quả giải thoát trong giáo pháp của vị Phật tương lai (theo Jàtaka 307: Túc Sinh truyện số 307). Ðây là lần tiên đoán thứ nhất. Và giờ đây, trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật lại tiên đoán “A Nan Ða sẽ Giải Thoát” lần thứ hai!

Sau khi an ủi và khuyến khích A Nan Ða xong, đức Thế Tôn quay sang các hàng tỳ khưu tăng, và một lần nữa Phật lại thốt lên những lời khen ngợi có liên quan đến A Nan Ða rằng:

“Không phải chỉ riêng Như Lai mới có một đệ tử thân cận xứng đáng, mà chư Phật trong quá khứ, và chư Phật trong kiếp vị lai cũng có những đệ tử như thế!. Sự bặt thiệp của A Nan Ða đối với các hàng Phật tử rất đáng ngưỡng mộ. Mỗi lần tăng chúng tụ họp để rất đáng ngưỡng mộ. Mỗi lần tăng chúng tụ họp để nghe ông nói pháp là mỗi lần tất cả đều thỏa mãn, vui mừng, và họ cứ muốn nghe ông nói pháp thêm nữa! A Nan Ða là một sa môn mà tiếng tốt đã đạt được đến mức ít ai sánh bằng! Ngoài ông ra, chỉ có một vị Chuyển Luân Thánh Vương mới có uy tín cở đó!”…

Không riêng gì trong kinh Ðại Niết Bàn mà trong các kinh khác, chúng ta cũng tìm thấy cách khuyến khích và dạy dỗ A Nan Ða nầy của đức Phật: Một mặt đức Thế Tôn khen ngợi những đức tánh có thật của A Nan Ða trước hàng tăng chúng, đặc biệt là những ai yêu mến ông. Mặt khác Phật nhắc nhở ông hãy cố gắng đoạn trừ những phiền não cuối cùng.

Nhân được đức Bổn Sư khen ngợi như thế tâm tư A Nan Ða chợt lóe lên một niềm hy vọng: Ông đề nghị đức Phật không nên Nhập Diệt trong vườn Mallas, dưới hai cây Song Long Thọ, mà Ngài nên di chuyển đến nhập Niết Bàn trong một thủ đô lớn hơn, như Sàvatthi (Xá Vệ), Ràjagaha (Vương Xá), Kosambi hay Benares chẳng hạn!

Riêng Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu), thủ đô quê quán của đức Phật, là nơi thích hợp và gần xứ Mallas nhất, nhưng A Nan Ða không đề nghị là vì thủ đô nầy vừa mới bị xâm lăng, cướp phá và thiêu hủy bởi một hoàng tử con vua Pasenadi.

Còn một thủ đô khác là Vesali, A Nan Ða cũng không nhắc đến, vì trước đó không bao lâu, đức Phật đã tuyên bố là Ngài sẽ không quay lại thành phố nầy.

A Nan Ða sở dĩ đề nghị đức Phật nên nhập Niết Bàn trong một thành phố lớn, vì ông nghĩ rằng ở đó lễ trà tỳ có thể tổ chức long trọng hơn và số người đến dự gieo duyên lành với Phật lần cuối cùng sẽ được đông đảo hơn!

Nhưng đức Phật, nằm trên giường sắp Nhập Diệt, hiểu rõ thâm tâm của ông, đã cắt nghĩa cho A Nan Ða đầy đủ lý lẽ và nhân duyên tại sao Ngài chọn thành Kusinara để làm nơi an nghĩ cuối cùng!

Sau khi A Nan Ða nghe xong lời Phật dạy thì ông mới biết chỗ Phật nằm, chuẩn bị Nhập Diệt, là nơi chứa đầy nhân duyên nhất!

Số là đức Phật, trong một kiếp xa xưa, đã sinh làm một vị Chuyển Luân Thánh Vương tên là Maha Sudassana, đã đem ân đức cai trị vùng nầy, làm cho bá tánh hưng thịnh, hạnh phúc một thời.

Tiền thân đức Phật khi hết tuổi thọ đã tái đầu thai làm Chuyển Luân Thánh Vương ở đó ít nhất là sáu lần, và kiếp chót nầy Ngài đến viên tịch nơi đây là lần thứ bảy!

Tuy sự lộng lẫy và thái bình về vật chất của vương quốc thời xa xưa ấy bây giờ đã tiêu hoại, biến mất và trở thành số không. Nhưng đối với một bậc thông rõ quá khứ vị lai thì ý nghĩa và giá trị lịch sử của nó vẫn còn! Mặt khác, căn cứ theo pháp bảo của chư Phật thì nó còn là địa điểm chứng minh rõ ràng chân lý vô thường: Một vương quốc đã được thịnh trị qua ân đức của pháp lành đến sáu đời Chuyển Luân Thánh Vương, mà còn bị mai một như thế, thử hỏi những xã hội chỉ biết làm lành năm, bảy năm hay một thế hệ nào đó, thì ỷ lại vào đâu để mà có thể dễ duôi, tưởng phước lành của mình sẽ không cạn?!

Trong Tôn Túc Kinh (Theragàthà) còn có một câu kệ nổ tiếng về vương quốc xa xưa ấy như sau:

“Hạnh phúc lành tuy cũng là sự thật!

Nhưng đã vì tái hợp, tất ly tan.

Vạn vật sinh ra vốn để suy tàn.

Dẫu thánh pháp cũng có ngày biến mất!

Ðược, thất, suy, hưng, ảo hình vật chất

Với thời gian, tất cả chỉ phù du…

Chấm dứt duyên sinh ấy phá ngục tù!!

Tâm cực lạc là tâm ngoài sinh thú!”

- Thoát dịch theo câu số 1159 trong Theragathà. Ngoài ra, nội dung của bài kệ nói trên cũng được diễn tả dưới thể văn xuôi trong các kinh: Trường A Hàm (Digha Nikàya 16 –VI, 17), Tạp A Hàm (Samyutta Nikàya) 15-20 / S:1.11/ S:6.15/ S: 9.6) và Túc Sinh truyện (Jàtaka 307).

Câu chuyện vị Chuyển Luân Thánh Vương Mahà Sudassana (tiền thân Phật) có thể xem là câu chuyện cuối cùng mà đức Phật kể cho A Nan Ða nghe.

Sau đó đức Thế Tôn bảo A Nan Ða loan tin Phật sắp nhập Niết Bàn và mời dân chúng Mallas trong thành phố Kusinàrà cu hội, để họ có thể chiêm bái Phật lần chót.

Trong số những người đến thăm vĩnh biệt đức Phật ấy, có một đạo sĩ du phương tên Subhadda, đang dừng chân tại thành Kusinara, và nghe tin Phật sắp Niết Bàn, ông cũng đến thăm…

Subhadda vốn có một vấn đề nan giải trong tâm, nên ông nghĩ rằng “rất khó mà gặp vị Phật, vậy ta nên mau đem việc bí ẩn nầy hỏi Phật, nhờ Ngài giải rành, kẻo chậm trễ thì sẽ muộn!”

Khi Subhadda yêu cầu A Nan Ða để ông đến gần Phật, thì A Nan Ða từ chối, nói rằng: “Hãy để cho đức Thế Tôn an nghỉ, không ai được quấy rầy!”. A Nan Ða từ chối đến ba lần như vậy, nào biết rằng hành động của ông đã trái với lòng từ bi của đức Phật.

Ðức Thế Tôn nghe A Nan Ða từ chối đến lần thứ ba như thế, liền dạy:

“Nầy A Nan Ða! Ông hãy để cho du sĩ Subhadda đến gần Như Lai đi, vì ông ấy có một vấn đề thắc mắc trong tâm, mà ông không thể nào giải tỏa! Ông đến để cầu được soi sáng, chứ không phải để quấy rầy Như Lai đâu!”

Subhadda vô cùng mừng rỡ, liền tiến lên, chắp tay, bạch với Phật rằng:

“Thưa đức Cô Ðàm! Có một vấn đề mà du sĩ nầy hằng thắc mắc là: Làm sao để nhận ra chân lý, khi các giáo chủ hiện nay đều thuyết giảng những điều trái nghịch nhau, mà biện luận của vị nào nghe cũng thông suốt!”

Ðức Phật thanh tịnh trả lời:

“Nầy Subhadda! hãy nghe pháp bảo của Như Lai, rồi ông sẽ rõ: Khi một người hành động cao thượng, nhất là sống theo Bác Chánh Ðạo, thì người ấy sẽ tự mình nhận thấy giáo lý thoát tục, tự mình tìm thấy bốn quả lành của bậc xuất gia. Rồi khi một sa môn càng tinh tấn trong phạm hạnh thì họ càng thấy rõ Thánh Quả hiện dần…!”

“Nầy Subhadda! Như Lai đem đến phép lành ban bố trên thế gian đã bốn mươi lăm năm qua, đây là lần đầu tiên ông mới được nghe! Và ngoài pháp lành ấy, ông không thể nào tìm ra chân lý ở nơi khác!”

Lời dạy ngắn ngủi ấy của Phật, quả đủ để cho Subhadda, (cũng như trường hợp của hoàng tử Pukkusa), thể nhận được Chánh Pháp một cách sâu sắc. Subhadda, sau đó đã xin quy y Phật, và tình nguyện gia nhập cộng đồng tăng lữ. Nhưng theo luật lệ mà đức Thế Tôn đã chế định: Một đạo sĩ du phương muốn gia nhập Phật Giáo phải “thử hạnh” trong vòng bốn tháng. Trong thời gian nầy, nếu họ đổi ý, họ có thể trở về với phái cũ của họ.

Subhadda liền vui mừng vâng lời. Ông còn nói “… Nếu Phật bảo ông tập tành trong vòng bốn năm, rồi mới chính thức thừa nhận vào Giáo Hội, ông cũng sẵn sàng làm!”

Trước sự quyết tâm ấy, đức Phật đã cho phép Subhadda quy y, và đây là người môn đệ sau cùng của đức Toàn Giác! Có một đìều đáng ca ngợi là vị đệ tử cuối cùng nầy, chẳng bao lâu sau đó, đã đắc quả A La Hán (Arahatta: Bất Lai).

Phần thứ sáu (mà cũng là phần chót) của kinh Ðại Niết Bàn chứa đựng những lời di huấn tối hậu của đức Phật. Chúng ta có thể liệt kê như sau:

Thứ nhất chư tỳ khưu tăng chớ nên nghĩ rằng: Sau khi đức Thế Tôn Tịch Diệt, cộng đồng đệ tử sẽ không còn ai là thầy. Bởi vì toàn thể kinh và luật của đức Bổn Sư để lại, chính là tiêu chuẩn hướng đạo, được xem như một vị thầy! Những gì đức Phật đã thuyết ra, hoặc đã chế định để ngăn ngừa phàm nhân phạm điều tội lỗi, sau đó sẽ được các đệ tử tôn túc kết tập thành văn bản, có hệ thống, hầu ổn định nền tảng giáo lý đức Phật cho những thế hệ tương lai.

Thứ hai, sau khi Phật nhập Niết Bàn, chư tỳ khưu tăng không được gọi nhau một cách vô trật tự:

Chẳng hạn như không được gọi nhau bằng “đạo hữu”, mà phải tôn trọng thứ bậc, phải gọi nhau bằng những tiếng “Thưa Ngài” và tự xưng là “bần đạo”, nếu mình lớn hơn hay ngang hàng, phải tự xưng là tiểu đệ, nếu mình nhở hơn hết! Trong tiếng Pali, một vị tỳ khưu nhỏ hạ gọi một vị tỳ khưu lớn hạ là Bhante!(“Hạ” là công hạnh an cư kiết hạ, một đơn vị thâm niên trong Phật Giáo!).

Luật lệ nầy được gìn giữ mãi đến ngày nay, như một truyền thống tượng trưng cho sự hoà hợp và tôn trọng đức hạnh trong các hàng tăng lữ. Một vị niên trưởng trong Phật Giáo phải luôn luôn giữ nết gương mẫu. Và những tỳ khưu trẻ tuổi hằng ý thức rằng “Tôn trọng các bậc đạo hạnh tôn túc trong Giáo Hội là tôn trọng đức Phật!”

Thứ ba, Phật cho phép chư tỳ khưu tăng, sau khi Ngài Tịch Diệt, có thể hủy bỏ những luật lệ nhỏ nhặt, ít quan trọng, chỉ liên quan đến phép xã giao và nghi lễ trong thời trước, mà không còn lưu hành trong thời sau. Tuy nhiên sự hủy bỏ nầy phải do đại hội đồng tăng chúng họp lại rồi quyết định, chứ không do một cá nhân phổ biến!

Sự hủy bỏ đó cũng không được làm giảm hiệu lực của những luật lệ chính trong đời sống phạm hạnh! Trường hợp nếu có sa môn nào, không muốn hủy bỏ mhững điều luật “vụn vặt”, mà cố gắng giữ đủ, thì sa môn ấy không phạm tội bất tuân Giáo Hội!

Thứ tư, Phật lưu lại lời dạy sau cùng để trừng phạt một tỳ khưu bất phục thiện nặng hơn, dành cho thẩm quyền Giáo Hội. Ðiều nầy có liên quan đến tỳ khưu Channa, một tu sĩ cứng đầu không chịu sửa hạnh kiểm xấu! Khi A Nan Ða hỏi Phật cách thi hành thì hành điều luật ấy, thì được trả lời như sau:

“Không ai được tiếp xúc, nói chuyện, khuyên nhủ hay dạy dỗ Channa nữa! Cứ để mặc ông làm chi thì làm, và đừng chú ý đến ông gì cả!”

Sau đó, Phật cũng không quên dạy cho A Nan Ða những phương pháp căn bản, để đối ngoại trong những ngày sắp tới, khi ông tiếp xúc với đủ mọi hạng người. Rồi đức Thế Tôn quay qua hỏi toàn thể đệ tử rằng:

“Nầy chư tỳ khưu! Cho đến nay, các ông còn điều gì thắc mắc có liên quan đến hành động vào giáo thuyết của đức Giác Ngộ không?! - Nhất là thắc mắc về nội dung cùng ý nghĩa của Pháp Bảo?! Thắc mắc về tổ chức Giáo Hội?! – Và trên hết là thắc mắc về những pháp môn mà các ông đang dùng để tu tập?! - Bốn loại thắc mắc ấy nếu có, các ông nên nêu ra để được giảo tỏa, khi Như Lai còn tại thế, kẻo về sau các ông sẽ lấy làm tiếc lúc Như Lai đã Nhấp Diệt rồi!”

Sau khi Phật gạn hỏi đến ba lần, mà toàn thể đệ tử hiện diện đều im lặng, thì A Nan Ða vội nói:

“Thật là đáng mừng, chư tỳ khưu tăng ở đây không ai thắc mắc điều gì cả!”

- Ðức Phật liền chữa lời ông:

“Nầy A Nan Ða! Khi ông thốt câu ấy, ông có chắc chắn là ở đây thực sự chẳng có tỳ khưu nào còn những điều thắc mắc chăng?! Ông nên biết rằng, rất có thể có nhiều thắc mắc, mà một tỳ khưu không muốn nói ra! Hoặc cũng có thể có quá nhiều câu hỏi mà họ không biết phải nêu vấn đề nào trước!?…”

Những lời dạy ấy của đức Phật đến A Nan Ða chứng tỏ rằng Ngài biết rõ phẫm hạnh của 500 đệ tử đang có mặt nơi đó, chỉ có một thiểu số đắc quả Thánh từ Tu Ðà Hườn trở lên, thì không còn hoài nghi trong Phật Giáo. Nhưng hơn phân nữa còn lại, thánh tâm chưa được nẩy nở! Và lời dạy của Ngài vốn cũng để nhắc nhở A Nan Ða chớ nên dùng sự suy đoán thông thường căn cứ theo bên ngoài của mình, mà ấn định trình độ hiểu biết của cộng đồng tăng chúng!

Rồi một lần cuối cùng, đức Thế Tôn lại quay sang 500 người đệ tử thốt, những lời vĩnh biệt và chúc lành như sau:

“Giờ đây! Nầy chư tỳ khưu! Như Lai nhắc lại lần chót rằng bản chất của mọi vật có hình dạng là sẽ tiêu hoại, tan rã! Các ông hãy cố gắng lên thêm lên! Ðừng để Giác tâm bị che mờ, bị bao phủ, bị cầm tù bởi xác thân ngũ uẩn nầy!…”

(Theo Mahà Parinibbàna Sutta, Kinh Niết Bàn)

Nói xong những lời tối hậu ấy, đức Phật liền Nhập Ðịnh: Ngài bắt đầu từ Nhất Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, rồi Tứ Thiền… để bước vào Thiền Vô Sắc. Chỉ trong chốc lát, tâm Phật đã trụ vững trong bậc an định Vô Sở Hữu Xứ. Ngài không còn khái niệm, hay cảm giác gì về ngũ căn và thế gian nữa!

Phật an định như thế qua năm khắc đồng hồ (khoảng 2 giờ) mà phong lực (ám chỉ hơi thở) trong thân thể của Ngài chưa gián đoạn, nên Ngài tiến lên các cõi Thiền cao hơn là Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng, Thức Vô Biên Xứ, rồi Không Vô Biên Xứ…!

Trong bốn cõi Thiền Vô Sắc vừa kể: Khi an trụ ở hai bậc đầu, đức Phật không còn Tâm Sở vi tế nữa, và khi an trụ ở hai bậc sau, Tâm Vương (hay tâm Phật) tự động trở nên vô lượng vô thượng, và vũ trụ hạn chế! Mà Ngài còn vượt qua vạn pháp và hằng hà vũ trụ vô hạn chế nữa!

Trong khi đức Phật đang nhập định trên thạch sàng (tảng đá dùng làm giường) thì A Nan Ða thỉnh thoảng hỏi sư huynh Anaruddha, một người anh em ruột của ông, và cũng là một thiền sư có định lực, siêu đẳng, gần bằng đức Phật, xem đức Thế Tôn đã nhập Niết Bàn chưa? A Nan Ða đã gọi Anaruddha là đại huynh (bhante), mặc dù hai anh em cùng xuất gia, thọ giới trong một ngày!

Anaruddha lúc ấy cũng ngồi thiền, sử dụng định lực để theo dõi đức Phật. Thỉnh thoảng ông xả thiền để thông báo cho chư tông đồ biết tình trạng tâm linh của đức Bổn Sư ra sao…

Khi Anuruddha nghe A Nan Ða hỏi câu: “Bạch sư huynh! Ðức Thế Tôn đã Nhập Diệt chưa?!” thì ông trả lời rằng:

“Nầy sư đệ A Nan Ða! Tâm Phật còn đang ở cõi Thiền Không Vô Biên Xứ, tức là Phẩm Vô Sinh đã kết quả trong Ngài, còn Phẩm Bất Diệt mới vừa “chớm nỡ”! – Nghĩa là đức Phật đang kề sát Niết Bàn, chứ chưa Viên Tịch!”

Anuruddha trả lời như vậy, vì ông đã sử dụng tối đa thiền lực mình. Ông chỉ có thể “theo Phật” lên tới cõi thiền thứ 8, rồi dừng ở đó, chứ không thể “đi cao” hơn nữa!

Về phần đức Phật, sự nhập Niết Bàn của Ngài quả là một điều kỳ diệu. Phật không bắt buộc mình phải chết! Ngài cũng không cố ý kéo dài sự sống! Khi tâm Phật vượt qua Tam Giới, lên đến cõi thiền thứ 9 rồi, mà hơi thở trong nhục thân chưa tắt, một số tế bào của xác thịt còn hoạt động, thì Ngài quay lại cõi thiền thứ nhất, để cho chúng nó (những tế bào “còn sống”) được cân hữu với tâm linh mà hoạt động! Rồi Ngài lần lượt tiến lên các cõi thiền cao hơn, từ thứ 2, thứ 3, thứ 4 ..v..v… cho đến tuyệt đích nhập Niết Bàn! Cứ như thế mà Phật tuần tự, hết lên rồi xuống, hết xuống rồi lên…, chờ đợi các cơ quan trong thân thể của Ngài hết tuổi thọ, tự động chấm dứt!

Và khi nhóm tế bào cuối cùng trong thân thể Phật ngưng hoạt động, thì thiền tâm Phật đang ở cõi định thứ 4, Ngài ung dung phủi sạch bụi luân hồi, tiến lên các bậc thiền cao hơn thứ 5, thứ 6, thứ 7, thứ 8, thứ 9 rồi Nhập Diệt!

Lần chót nầy Anuruddha cũng tận dụng thiền định theo Phật, để làm bổn phận thông tin. Nhưng khi ông lên đến cuối bậc thiền thứ 8, thì ông không còn tiếp xúc với thần quang của đức Phật nữa! Anuruddha thận trọng quay lại các bậc thiền thấp hơn để “tìm” Phật, nhưng chẳng thấy Ngài đâu cả, ông mới biết chắc rằng đức Bổn Sư đã nhập Niết Bàn!

Lúc ấy vào đúng nửa đêm, ngày trăng tròn tháng tư âm lịch! vầng trăng khuya đã chênh chếch về phương tây!…

Khi toàn thân của đức Phật thực sự ngừng hoạt động thì… bỗng nhiên quả đất rung rinh, bầu khí quyễn chuyển động, cấm sét nổi lên trên không trung…! Ðúng như lời tiên đoán của đấng Toàn Giác!

Phạm Thiên Sahampati, bậc đã đắc quả Bất Lai mà cũng là vị trời đã yêu cầu Phật thuyết pháp lần đầu trên thế gian (trước đó 45 năm) liền xuất hiện để cúng dường Phật bằng câu kệ:

“Luật vô thường hằng chi phối vạn vật!

Ngay cả một vị Phật còn không tránh khỏi”

Vua trời Ðế Thích cũng hiện ra hình và lập lại ý nghĩa một câu Phật ngôn mà vua đã từng nghe rằng:

“Tử sinh là cõi phù du,

Sinh còn, tử mất, công phu luân hồi!”

Trời Ðế Thích vốn là một vị tiên đã đắc quả Nhập Lưu, nên ông thuộc lòng rất nhiều Phật ngôn!

Người thứ ba cúng dường Phật là Anuruddha. Ông ứng khẩu mấy câu kệ ngôn như sau:

“Thanh tịnh thay là giờ Nhập Diệt!

Ðấng từ bi thanh khiết vô lường!

Buồn vui, sướng khổ không còn,

Vượt ra tam giới mười phương Niết Bàn!”

Nhưng A Nan Ða thì âu sầu, than tiếc, nói ;

“Còn chi khi đã mất thầy,

Cõi trần vô nghĩa, thân nầy vô duyên!”

Sau cùng là toàn thể 500 tỳ khưu đệ tử Phật, vì hầu hết chưa đắc Quả Thánh, tâm tư còn chứa nhiều phàm tình, ái dục, nên họ đồng loạt khóc lóc, thương tiếc đức Phật một cách thảm thiết chẳng kém gì A Nan Ða.

Trưởng Lão Anuruddha thấy vậy liền khuyên nhủ, nhưng chư phàm tăng chẳng vơi được nổi buồn. Anuruddha là một thiền sư có thần nhãn, nên ông thấy cả các hàng thiên chúng cũng đang than khóc. Ông bèn nhắc lại lời dạy của Phật về định luật vô thường cho chư phàm tăng nghe. Ðoạn để lôi kéo sự chú ý của họ, hầu giảm bớt nỗi đau đớn, ông cũng nói cho các phàm tăng biết hiện có động đảo chư thiên đang lui tới lẽ bái nhục thân đức Phật…

Suốt đêm hôm đó Anruddha nói chuyện không ngừng về Pháp bảo với mọi người. Ðối với A Nan Ða, suốt 45 năm trường, sống đời sống xuất gia, và cùng có chung một Bổn Sư, ông chưa bao giờ có những giây phút “đàm đạo” thân thiết, cởi mở, như trong trường hợp nầy! A Nan Ða quả thật vô cùng khổ não và cần sự an ủi của ông, một người anh ruột, mà cũng là một đạo huynh trong đời sống phạm hạnh!

Khi trờì gần sáng thì Anuruddha bảo A Nan Ða mang tin tức Phật đã nhập Niết Bàn, truyền rao trong quần chúng Mallas. Giữa giới những đại tông đồ của đức Phật, hiện diện nơi ấy, Anuruddha được coi là bậc huynh trưởng, nên đương nhiên ông phải gánh vác nhiệm vụ đôn đốc mọi việc.

Sau đó, dân chúng Mallas từ thành Kusinàrà đã mang đến đầy đủ, mọi vật dụng cần thiết, để tổ chức đại lễ Trà Tỳ hỏa táng cho đức Phật. Họ đã tuyển chọn những tràng hoa trầm hương, gỗ quý, vải đẹp và thảm mầu tốt nhất, để thiết lễ trong bảy ngày. Những điệu nhạc dành an táng các hàng vua chúa và những vũ khúc cao trọng nhất cũng được họ trình diễn cúng dường Phật.

Ngoài ra, dân chúng Mallas, trong khi nói chuyện họ chỉ bàn bạc với nhau xung quanh đến những vấn đề có liên quan đến đức Phật mà thôi. Chẳng hạn như họ nói:”Chúng ta ngưỡng mộ đức Phật thì phải tổ chức lễ hỏa táng thật trọng thể! Chứ buồn bã hối tiếc có ích gì?!”. Một số người thì nói:”Suốt cuộc lễ Trà Tỳ nầy, chúng ta phải thường trực dâng hương bằng vũ điệu, và đọc kinh bằng kệ ngâm, để nói lên sự cung kính của chúng ta!”. Còn những người trí thức thì bảo rằng:” Ðức Phật xuất hiện trên đời là mang ơn ích lại cho toàn thể chúng sinh! Ngài đã đi khắp đó đây cả nước Ấn Ðộ để ban bố Pháp Giải Thoát, và bây giờ đã Viên Tịch, Ngài còn để lại cho chúng ta, cộng đồng tăng lữ gương mẫu, và tám muôn bốn ngàn Phật ngôn là quý báu lắm rồi!”

Vào ngày thứ bảy thì họ dựng lên một giàn hỏa để thiêu thân đức Phật…

Khi ấy, đại trưởng Lão Ca Diếp (Mahà Kassapa, người trước đó không có mặt trong cuộc hành trình cuối cùng của đức Phật, bỗng được linh tính xui khiến, dẫn một đoàn tùy tùng hướng về thành phố Kusinàrà. Ðại ca Diếp lúc gặp một tu sĩ đạo Lõa Thể hỏi tin tức đức Phật thì mới hay đức Bổn Sư đã Nhập Niết Bàn cách đó 7 ngày.

Một lần nữa, người ta lại chứng kiến cảnh những phàm tăng trong đoàn tùy tùng của Ðại Ca Diếp bắt đầu than khóc, thương tiếc đức Phật…

Tuy nhiên, trong số nầy, có một tỳ khưu mới xuất gia, lòng trần chưa dứt, không muốn khép mình vào giới luật nhà Phật. Ông hay tin ấy liền tỏ ra mừng rỡ, tuyên bố rằng: “Như vật là từ nay về sau không còn ai coi chừng hạnh kiểm nữa, chúng ta có thể làm bất cứ chuyện gì chúng ta thích! Ðức Thế Tôn qua đời chính là một sự giải thoát cho chúng ta!”

Và điềm báo hiệu Phật Giáo suy đồi cũng bắt đầu từ đó! Tỳ khưu nầy là tượng trưng của khát vọng, của sân hận và của si mê tăm tối! Tỳ khưu ấy đã bị chư phàm tăng trong đoàn tùy tùng của trưởng Lão Ðại Ca Diếp gọi là “kẻ phá hoại” quả thật không sai!

Khi vua và toàn dân Mallas được mời mỗi người đốt một que diêm bỏ lên giàn thiêu nhục thân đức Phật thì tất cả đều vụt tắt, không có ai có thể mồi lửa được! Anuruddha biết rõ nguyên nhân bèn tuyên bố rằng:”Hiện tượng ấy là do chư thiên đã ngăn cản…, vì cuộc lễ Hoả Táng phải đựợc Trưởng Lão Ðại Ca Diếp chủ tọa…!”

Anuruddha nói mấy câu ấy không bao lâu thì đoàn tăng lữ do Ðại Ca Diếp dẫn đầu cũng vừa đến. Vị Trưởng Lão nầy không nói không rằng, Ngài dẫn đoàn tỳ khưu tăng tùy tùng đi xung quanh linh cữu của đức Phật ba vòng, thì lửa tự nhiên bốc cháy …! (Hành động đi xung quanh nhục thân của đức Phật ba vòng là một việc làm tượng trưng cho sự kính trọng cao nhất thuở bấy giờ!).

Khi đóm lửa sau cùng của giàn thiêu tắt, người ta chỉ tìm thấy thân Phật biến thành những hạt nhỏ màu trắng, mà không có tro tàn trong linh cữu bằng sắt chứa Ngài!.

Khi các vị quốc vương của mấy nước lân cận hay tin đức Phật đã nhập Niết Bàn, gần thành Kusinàrà. Họ lập tức gởi nhiều sứ giả đến chia phần hài cốt (hay xá lợi) của Phật để đem về xây tháp phụng thờ.

Vua bộ lộc Mallas, lấy lý do đức Phật đã nhập Niết Bàn trong lãnh thổ của ông, nên ông không muốn phân chia xá lợi cho bất cứ kỳ ai khác. Lý lẽ của ông đã gây ra một sự tranh cãi sôi nổi, suýt gây chiến tranh.

Lúc bấy giờ có một đạo sĩ hiền triết thuôc giai cấp Bà La Môn thấy tình hình căng thẳng như thế, vội can gián rằng: “Thật là vô lý phải dùng chiến tranh để giải quyết sự giữ phần hài cốt của một bậc trọn đời chỉ biết gieo rắc hạt giống hòa bình?! Bần đạo đề nghị xá lợi nên chia đều ra 8 phần: 7 phần cho 7 vị sứ giả và một phần cho quốc vương Mallas!”.

Nhờ thế mà cuộc tranh cãi đã trở thành êm dịu! Và để cám ơn sự trọng tài của đạo sĩ hiền triết Bà La Môn kia, quốc vương Mallas liền tặng cho ông chiếc bình bằng đá, dùng đựng Xá Lợi Phật trước khi chia! Còn tro tàn của các loại củi và trầm hương làm lò thiêu thân Phật, sau đó được trao cho một giai cấp phật tử đến muộn.

Kết quả: về sau có đến 10 thánh tích, 10 bảo tháp tôn thờ hài cốt của đức Phật!(tức là 8 phần xá lợi cộng với phần thứ 9 là cái bình và phần thứ 10 là tro tàn của củi quý!).

 

10. A Nan Ða Sau Khi Ðức Phật Viên Tịch.

Theo Tôn túc kệ ngôn (Theragathà) số 1035 và 1036 thì sau lễ Hỏa Táng của đức Phật A Nan Ða đã trở thành ít nói và thích ẩn thân trong tịnh thất của mình.

Một hôm ông tự thán rằng:

“Ðạo huynh đà khuất bóng (1)

Tôn sư cũng mất rồi!

Hợp tan như giấc mộng…

Mình phải liệu thân thôi!

Gương lành không còn nữa!

Gương xấu thấy dẫy đầy (2)

Tự mình lo tu sửa…

Thiền lực nhẫn nại xây!

Như cánh chim giữa gió

Tổ là sức định tâm!

Lục căn gìn giữ nó.

Theo thiện pháp chớ nhầm!”

(N. Ð thoát dịch thành thơ và xin chú giải: (1) “Ðạo huynh đà khuất bóng” ám chỉ đức Xá Lợi Phất đã tịch! (2) “Gương xấu thấy dẫy đầy” tức là sau đức Phật nhập Niết Bàn, các phàm tăng bắt đầu dễ duôi).

Kể từ đó A Nan Ða tự biết rằng mình chỉ còn một phận sự là tinh tấn giải thoát bản thân, theo như lời Phật đã dạy!.

Khi chia tay, Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã từ bi khuyên ông nên đến tịnh tu trong ngôi rừng thuộc địa phận Kosala, vì ở đó gần hai bộ tộc Mallà và Sakyans  (giòng Thích Ca), ông sẽ được chư Phật tử nhiệt thành hộ độ.

Khi dân chúng trong các vùng phụ cận hay tin đệ tử thân nhất cũng là anh em chú bác của đức Phật về ngụ tu trong rừng đó, họ kéo nhau đến thăm A Nan Ða rất đông…

A Nan Ða tưởng chỉ có mình là nhớ thương đức Phật và Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên dai dẳng thôi, nào ngờ chư Phật tử xung quanh rừng ông ở, cũng luyến tiếc ba bậc ấy vô cùng. Lại nhằm lúc vị vua cha xứ Kosala được nhiều thần dân thương mến là Pasenadi, cũng vừa băng hà, nên họ kéo nhau đến nhờ A Nan Ða an ủi họ, không những về sự khuất bóng của đức Phật, và của hai vị thánh tăng Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, mà họ còn xin được an ủi về sự băng hà của Thái Thượng Hoàng Pasenadi nữa! Vị cố Thái Thượng Hoàng nầy càng nhân đức bao nhiêu thì các hoàng tử con ông lại tàn ác, hiếu chiến bấy nhiêu, nên sự băng hà của Thái Thượng Hoàng đã làm cho toàn thể thần dân chịu một cảnh mất mát rất lớn!

Bốn sự từ trần: của đức Phật, của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng như của Thái Thượng Hoàng Pasenadi đã xảy ra trong cùng một năm, nên ngày đêm dân chúng ở các vùng xung quanh ngôi rừng A Nan Ða ẩn tu, không chịu được những tiếc buồn dồn dập, liền kéo đến tịnh thất của A Nan Ða…khiến cho ông không bao giờ cô độc!

Ngoài ra, còn có một vị thần, sống trong rừng ấy hiện ra để lễ bái A Nan Ða. Vị thần nầy đã khen ngợi sự tiến bộ tâm linh của ông và khuyên A Nan Ða tịnh tâm bằng mấy câu kệ rằng:

“Giờ bên gốc cây ngồi yên tĩnh…

Tâm Ngài theo Thiền Ðịnh Niết Bàn!

Khuyên Ngài dạ chớ hoang mang.

Tập trung ý chí linh quang sẽ bừng!

A Nan Ða được vị thần ấy khích lệ như vậy thì tự kinh cảm, nên sau đó tinh tấn vô cùng. (theo Samyutta Nikàya: Tạp A Hàm số 9.5).

Về phiá đại Trưởng Lão Ca Diếp, vị tôn túc cao hạ nhất trong các hàng sa môn đệ tử Phật, thì việc thi hành những di chúc cuối cùng của đức Bổn Sư rất quan trọng. Ngài đã quyết định triệu tập chư tỳ khưu thánh tăng để lập lại những giáo lý và kinh luật Phật truyền. Theo đó khoảng 500 vị A La Hán còn tại thế phải có mặt đông đủ, cộng thêm sự hiện diện của một phàm tăng là A Nan Ða. Vì ngoài A Nan Ða ra, không có một sa môn nào có hữu phúc được nghe hầu hết những bài pháp của Phật thuyết.

Nhưng tình hình chính trị của xứ Kosala nhất thời đang bất ổn, các vị hoàng tử tranh nhau ngôi vua, nên địa điểm kết tập Kinh Luật Phật Giáo lần thứ nhất ấy phải dời đến Vương xá Thành, thủ đô xứ Ma Kiệt Ðà (Magadha) và đặt dưới sự che chở của vua A Xà Thế (Ajàtasattu).

Khi đến gần ngày kết tập kinh luật (1) thì Anuruddha lại đề nghị: Sư đệ A Nan Ða chỉ được chấp nhận vào đại hội nếu ông đắc quả A La Hán (1) (Ðại hội kết tập giáo điển lần thứ 1, không có Tạng Luận, chỉ có Tạng Kinh và Tạng Luật mà thôi!). Anuruddha nhờ có tha tâm thông, biết rõ sự quyết tâm của A Nan Ða ra sao, nên mới đề nghị như thế, để khích động và thúc dục Tôn giả A Nan Ða, tinh tấn hơn nữa, cho mau đạt đến Thánh Quả Giải Thoát!

A Nan Ða lúc hay tin đó, ông không những chẳng buồn giận chút nào, mà còn tình nguyện chăm chỉ tối đa, tận dụng khả năng Minh Sát của mình, đã được đức Phật đích thân chỉ dạy, để tiến lên Thánh Quả Giải Thoát. (Trong kinh còn gọi quả nầy là quả Hữu Dư Niết Bàn: tức là hành giả đã đắc Niết Bàn rồi, mà nhục thân vẫn còn sống!).

Vào buổi bình minh ngày hôm sau, khi A Nan Ða đang an trụ trong một bậc thiền thì ông chợt cảm thấy một cách không nghi ngờ rằng tâm tư ông đã trở nên trong suốt, mọi dục tình, phiền não biến mất. Ông biến thành một thánh nhân A La Hán…!

Và ngày đại hội kết tập kinh luật cũng đến. Ðịa điểm là một cái động nằm sâu trong lòng núi, chỉ có một cửa vào được khóa kín. Năm trăm vị thánh tăng A La Hán phải dùng thần thông để vô dự hội. Khi họ đã có mặt đầy đủ và chổ ngồi của A Nan Ða còn bỏ trống ; chư thánh tăng đang chờ đợi thì một luồng ánh sáng xuyên qua khe cửa, chiếu vào chổ ngồi còn trống ấy, đồng thời A Nan Ða xuất hiện!

Chư thánh tăng, nhất là Anuruddha và Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) thấy A Nan Ða đã viên tròn hạnh nguyện, liền tán dương công đức và khai mạc đại hội. Lúc ấy nhằm mùa thu, nên chư phàm tăng các vùng phụ cận không thể đến, để lễ bái cộng đồng thánh tăng được. Còn chư phàm tăng ở xa thì tự nhiên phải vắng mặt!

Ðại Ca Diếp được bầu là chủ toạ và diễn tiến cuộc kết tập kinh luật như sau:

1 - Trưởng Lão Ðại Ca Diếp đã đặt những câu hỏi về mọi điều luật, đến sa môn Upali, người được mệnh danh là “kẻ nhớ rõ các pháp cấm”! Sa môn Upali nầy đã trả lời đầy đủ, nhắc lại cả lý do, địa điểm, thời gian và nhân chứng, khi đức Bổn Sư chế ra giới luật ấy! Rồi cứ như thế mà tiếp tục, nên Tạng Luật đã được kết tập trước tiên!

2 - Tiếp theo Trưởng Lão Ðại Ca Diếp hỏi A Nan Ða về các kinh Phật đã thuyết: Mở đầu là những bài kinh dài, có chung sử đề, để kết tập thành một bộ gọi là Trường A Hàm (Dìgha Nikàya). Kế đến là những bài kinh trung bình, cùng chung một sử đề, góp lại thành một bộ, gọi là Trung A Hàm (Majjhima Kikàya). Sau đó là những bài kinh ngắn, cũng chung sử đề, xếp đặt thành một bộ, gọi là Tiểu A Hàm (Khuddaka Kikàya). Chót hết A Nan Ða nhắc đến những bài kinh rời rạc, khác sử đề, để gom lại thành Tạp A Hàm (Samyutta Nikàya), hay nhắc đến những bài được liệt kê bằng các chi số, sử đề độ lập, gọi là Tăng Nhất Chi A Hàm (Anguttara Nikàya) v.v…

3 - Sau khi Tạng Luật và Tạng Kinh đã được đúc kết đầy đủ, A Nan Ða bèn trình bày những di chúc của đức Phật để lại. Ông thuật trước đại hội rằng đức Bổn Sư trước khi nhập Niết Bàn, đã cho phép tăng chúng hủy bỏ những giới luật không cần thiết. Nhưng đại hội thánh tăng đã không đồng ý, vì ý nghĩa của ba chữ “Không cần thiết” chẳng có tiêu chuẩn rõ ràng!

Chủ tọa Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) liền đề nghị:

“Nếu chúng ta hủy bỏ một số điều răn của đức Phật thì các hàng tại gia sẽ dị nghị, cho rằng chư sa môn xuất gia, không bao lâu sau khi đức Bổn Sư viên tịch, đã bắt đầu biếng nhác, không muốn giữ giới luật! Hơn nữa, Phật cũng không dạy rõ điều luật nào là điều luật không cần thiết! - Tốt hơn hết là đừng hủy bỏ bất cứ pháp răn nào cả! Như vậy chúng ta sẽ chắc chắn không sợ làm sai tôn ý của đức Phật!?”

Và lời đề nghị của đại Trưởng Lão Ca Diếp đã được hoàn toàn hội thánh tăng chấp thuận!

Qua phần phụ hội, các sa môn nghiêm tính đã phàn nàn rằng: Thứ nhất có một khuyết điểm liên quan đến Tạng Luật. A Nan Ða đã không hỏi Phật điều luật nào là điều luật không cấn thiết! Khuyết điểm ấy bây giờ A Nan Ða nên sám hối! Và thứ hai, A Nan Ða, lúc Phật còn tại tiền, thường dậm lên y Phật, căng ra để vá …

A Nan Ða vui vẻ trả lời rằng: “Khuyết điểm thứ nhất, khi đức Thế Tôn lâm trọng bệnh, bần đạo tâm tư quá bối rối, nên quên mất. Thứ hai, lỗi lầm đứng lên y Phật vì sơ ý muốn tiện lợi để vá, chứ không vì bất kính đối với đức Phật! Tuy nhiên, nếu chư đạo huynh đã nhắc nhở, thì bần tăng xin sám hối!”

Rồi liên quan đến với cách đối xử của A Nan Ða cuối cuộc lễ Hỏa Táng của đức Phật, các vị sa môn nghiêm túc còn tiếp: Thứ ba, A Nan Ða khi ấy đã dành ưu tiên cho phái nữ đến lễ bái Xá Lợi Phật trước cả hàng cao đồ Phật giáo!(?).

A Nan Ða liền vui vẻ trả lời: “Vì lúc ấy bần tăng chưa đắc Quả Giải Thoát, và đối với một người còn phàm tính, khi những tín nữ muốn được chiêm bái Phật mà bắt họ chờ lâu, là một điều tội nghiệp! Giờ đây bần tăng là Bậc Giác Ngộ vậy xin sẵn sàng nhận lỗi!”

Sau cùng, một số thánh tăng cũng không quên nhắc cho A Nan Ða nhớ rõ: hành động không thỉnh Phật Khoan Nhập Niết Bàn của ông là một lỗi lầm vô cùng quan trọng!

A Nan Ða tự biết lỗi, nên thành thật tỏ bày rằng: “Chính Ma Vương (Mara) đã ám ảnh ông, khiến cho tâm trí tăm tối. Chứ trên thực tế ông mới là người đệ tử sợ Phật sớm nhập Niết Bàn nhiều hơn ai hết!”

Cử chỉ của A Nan Ða đối với những lời phê bình ấy, quả thật đáng kính trọng. Ông đã phục tùng trước sự phán quyết của chư thánh tăng, mà không một mảy may bất mãn! - Dù trong thâm tâm, ông tự biết rằng: Những lỗi lầm do vô tình phạm phải thì luôn luôn đáng tha thứ!

Sau đó, A Nan Ða thuật tiếp, đến một di chúc khác mà đức Phật đã dạy, ngay trước khi Ngài nhập Niết Bàn. Di huấn nầy có liên quan đến thẩm quyền của Giáo Hội về việc trừng phạt tỳ khưu Channa, một người đã bất tuân nghiêm giáo của đức Bổn Sư.

Nghe A Nan Ða trình bày xong, đại hội đồng thánh tăng liền yêu cầu A Nan Ða đích thân áp chuyển di giáo lệnh ấy đến Channa. A Nan Ða thực thà nói rằng “Ông không thể một mình làm được công tác nầy, vì Channa là một người cộc cằn và vô kỷ luật!”.

Ðại hội đồng thanh ủy nhiệm cho A Nan Ða dẫn theo một số tỳ khưu để áp đặt giáo lệnh Phật đến tỳ khưu Channa.

Thế là A Nan Ða vâng lời, dẫn một đoàn tỳ khưu tăng, lên đường đi Kosambi, nơi Channa ẩn ngụ, để công bố giáo lệnh cuối cùng của đức Phật. Giáo lệnh ấy ấn định rằng: “Nếu tỳ khưu Channa tiếp tục chống lại giáo hội, thì ông sẽ bị khai trừ khỏi Phật Giáo!” (Lời thêm của dịch giả: Theo nguyên văn trong kinh Ðại Niết Bàn, thì tỳ khưu bất tuân Phật huấn sẽ bị “khai tử” khỏi giáo hội! - Tức là xem như đương sự đã “chết” rồi, không còn kể trên cộng đồng tăng chúng nữa!).

Sự trừng phạt nầy, đức Phật lúc sinh tiền cũng đã từng giải rõ: Ngài lấy thí dụ như một người tập ngựa kiên nhẫn và đầy kinh nghiệm, nhưng không huấn luyện nổi một con ngựa! Cuối cùng người tập ngựa phải đem nó bán vào lò sát sinh, vì giữ nó không ích lợi chi cả! Một con ngựa mà không chịu kéo xe, không biết kéo cày, không muốn mang bất cứ cái gì trên lưng hết, thì chỉ có lò sát sinh chờ đợi nó! – Tương tự như thế: Nếu một bậc xuất gia mà không chịu thuần thục trong thiện pháp ví chẳng khác nào họ tự  “khai tử”, gạch tên họ, trong danh sách tăng già Giáo Hội!

Trường hợp một tỳ khưu mất dạy như thế cứ ở lỳ trong cộng đồng tăng lữ thì Phật ra lệnh cho chư đệ tử không được nói chuyện, không được tiếp xúc, không được khuyên nhủ hay dạy dỗ chi cả! Tất cả đồng tẩy chay kẻ cố ý sống vô kỷ luật ấy!

Channa nghe A Nan Ða thuật xong di giáo của đức Phật thì kinh cảm và hoảng sợ vô cùng, ông kinh sợ đến phải ngất xỉu. Lúc ông tỉnh dậy, một niềm hổ thẹn sâu xa lại dày vò tâm tư ông! Nhất là ông xấu hổ vì sự trừng phạt ấy đã do chính đức Phật giao lại cho giáo hội thi hành, trước khi Ngài viên tịch!

Và cũng vì chuyện hổ thẹn sâu xa ấy, mà ông càng lúc càng thức tỉnh, đồng thời quyết lòng phục thiện! - Người ta không ngờ sự cứng đầu của một Channa ương nghạnh, trước lời di huấn trừng phạt của đức Phật, đã nhường chỗ cho một tinh thần phục thiện, mạnh mẽ đến mức, kể từ đó ông chỉ biết chăm lo tu hành, để chẳng bao lâu, ông đã đắc quả A La Hán.

Bởi thế, sự trừng phạt của đức Phật, tự nó đã chứng tỏ rằng: vào phút chót, trước khi nhập Niết Bàn, đức Phật đã để lại cho di huấn tối hậu, có thể chuyển hóa nổi một tâm hồn si mê, tăm tối, mà ít ai ngờ trước được! Từ đó, trong Phật Giáo, chỉ có một Channa thánh tăng, rất thanh tịnh, lúc nào cũng sống với sự an lạc, chứ không còn một tỳ khưu tên Channa ngoan cố nữa!

Sau khi Quả Thánh đã đạt rồi, một hôm sa môn Channa đến yêu cầu A Nan Ða triệu tập hội đồng giáo hội để ông sám hối và xin A Nan Ða hủy bỏ lệnh trừng phạt. A Nan Ða liền thân thiện trả lời rằng: “Tất cả tăng chúng đều hay tin sư đệ đắc Quả Bất Lai rồi! Sư đệ chỉ cần đến lể bái trước xá lợi của đức Bổn Sư, hầu tăng lên phúc đức! Còn lệnh trừng phạt tự nó đã hết hiệu lực kể từ khi hiền đệ chứng Quả Giải Thoát!”

Và câu chuyện của Channa đã kết thúc một cách toàn thiện như thế!

Kế đến, là thời gian hậu Phật bắt đầu: Các thứ bậc lãnh đạo trong giáo hội tăng già tự nhiên được thành hình như sau:

-         Trưởng Lão Ðại Ca Diếp (Mahà Kassapa) là vị thượng thủ cao hạ nhất, lớn tuổi nhất và dày đức hạnh nhất được tín nhiệm vào vai trò lãnh đạo toàn thể Giáo Hội. Chúng ta có thể gọi Ngài là vị Tăng Thống đầu tiên trong Phật Giáo! Còn đức Phật là bậc Giáo Chủ, sáng lập ra Phật Giáo. Xin chớ lầm lẫn!

Bởi thế những kẻ thiện tâm sau nầy, khi muốn nhập đạo Phật Giáo, họ sẽ xin quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng (đại diện là giáo hội), chứ họ không quy y với vị Tăng Thống. Chính Ðại Ca Diếp khi nhận lãnh phận sự tối cao đã xác nhận điều đó!

Theo lời Phật dạy thì Trưởng Lão Ðại Ca Diếp có đủ mười chi để đóng vai trò một bậc lãnh đạo cao cả. Mười chi ấy là:

1-     Ðức hạnh giữ đúng Tạng Luật và hoàn toàn trong hành vi cử chỉ.

2-     Học rộng và nhớ nhiều

3-     Ðẩy đủ pháp tri túc

4-     Vững chắc và thuần tục trong bốn bậc thiền.

5-     Nhiều khả năng phi thường đối với cõi người và cõi trời.

6-     Ðắc thiên nhĩ thông (nghe xa vạn dặm)

7-     Ðắc tha tâm thông (biết chuyện kẻ khác đang suy nghĩ)

8-     Ðắc túc mạng thông (biết quá khứ, vị lai)

9-     Ðắc thiên nhãn thông (thấy xa vạn dặm)

10- Tâm không còn tham, sân, si: Phiền não nữa!

Trưởng Lão Ðại Ca Diếp quả là biểu tượng xứng đáng của một đại tông đồ hộ pháp vậy!

Người đứng hàng thứ hai trong Giáo Hội là A Nan Ða, vì ông là người được hầu hết (nếu không muốn nói là toàn thể) tăng tín đồ thương mến! A Nan Ða cũng là người đã được cộng đồng tăng lữ giao cho trách nhiệm hầu hạ đức Phật trong suốt 25 năm trường. Nếu tính từng giai đoạn thì A Nan Ða có 40 năm là sa môn trước khi trải qua 25 năm hầu hạ Phật. Rồi sau khi đức Bổn Sư viên tịch, ông sống thêm 40 năm nữa để phục vụ Phật Giáo. So sánh trong rất hiếm những người đại trường thọ như ông, thì chỉ ông là một bậc dày công tu luyện nhất!

Khi chư thánh tăng kết tập kinh luật Phật Giáo lần thứ hai, đúng 100 năm kể từ đức Phật nhập Niết Bàn, thì có một đệ tử chánh truyền của A Nan Ða còn sống. Vị nầy tên là Sabbakàmin, đã được coi như trưởng lão duy nhất còn sót lại từ thời đức Phật! (theo Cùlavagga XII (tiểu phẩm, chương 12) trong Tạng Luật, thì hoà thượng Sabbakàmin trường thọ đến 120 tuổi!)

Về phần thánh tăng A Nan Ða, khi Ngài sống tới 120 tuổi thì cảm thấy Niết Bàn gần kề. Thánh tăng A Nan Ða liền rời vương xá thành (Ràjagaha) đi về hướng Vesali, giống như đức Phật trước đó đã làm, để tìm nơi Viên Tịch, thì tin tức thấu tai vua nước Magadha (Ma Kiệt Ða) và thấu tai các vị hoàng tử xứ Vesali. Tất cả đồng loạt tìm tới Ngài để yêu cầu Ngài nhập Niết Bàn trong lãnh thổ của họ. Thánh tăng A Nan Ða không muốn cho xá lợi (hài cốt) của Ngài sau đó sẽ gây bất hoà trong những người ngưỡng mộ, bèn dừng chân tại biên giới giữa hai nước, rồi dùng thần thông nâng thân thể mình lên không trung…

Ðoạn thánh tăng dùng lửa tam muội tự động thiêu lấy thân, rồi chia xá lợi ra làm hai phần rơi ngay ngắn trên hai lãnh thổ, để họ nhặt về dựng bảo tháp tôn thờ!

Ðể tưởng nhớ tới sự nhập Niết Bàn linh diệu ấy, trong tôn túc ngôn số 1049 (Theraganthà 1049), có câu thơ rằng:

“Ðại La Hán, A Nan Ða đức hạnh!

Một anh hùng trong biển khổ trầm luân!

Toàn hào thay bậc chấp pháp trọn lành.

Giờ nhập diệt cũng tránh điều tranh luận!”

(N. Ð mạo muội thoát dịch)

Và với những giòng thơ tán dương ấy, dịch giả xin thành kính kết thúc sử đại lành nầy của A Nan Ða, một vị A La Hán Phật!

(Dịch xong tại Paris ngày 11 tháng 8 năm 1991 – Dương lịch – Phật lịch: 2535)

 

Thơ Cúng Dường Thánh A Nan Ða

 

 

Ðêm hôm trước Người còn Tu Ðà quả.

Rạng ngày sau, A La Hán đắc rồi!

Tám mươi hai ngàn Pháp Bảo tinh khôi (1)

Người đã thuật vẹn toàn trong động đá!

Vào đại hội Thánh Tăng bằng phép lạ…

Oai đức nào hơn giác lực tinh anh?!

Một tia sáng xuyên vào nơi lỗ khóa…

Người nghiễm nhiên trên tọa cụ an lành!

Giữa cõi thế, thần thông là của quý.

Giải thoát rồi thì có nghĩa gì đâu?!

Ðời sống thánh là cuộc đời dung dị.

Ðộ tận người mê, giải bớt niềm đau!

Khi tuổi thọ hết rồi thì nhẹ gánh…

Người lên đường tìm nhập diệt phương xa…

Nhưng xác thịt vẫn còn phần phúc hạnh.

Vương tước tranh nhau giữ lại đất nhà!

Ðể giải quyết cho vẹn toàn ân đức.

Người nâng mình lên, thiêu giữa không trung.

Lửa tam muội đốt thân bừng sáng rực …!

Xá lợi chia đội di tặng hai vùng!

Sự viên tịch đưa Người vào sử sách,

Kỳ diệu ngày xưa cho đến ngàn sau…

Một vị thánh tăng A La Hán Phật!

Ðời sống Anan, kiếp chót nhiệm mầu!

 

N. Ð kính tưởng niệm

(1)    Trong Phật Giáo có 84000 pháp môn mà thánh tăng A Nan Ða đã thuộc lòng 82000 rồi!

 

Một Bài Thánh Thi Của Tôn Giả A Nan Ða

 

Ðã nhớ rồi, tám mươi hai ngàn chân lý.

Và hai ngàn nghe lại của đệ huynh!

Cộng tám mươi bốn ngàn Phật Pháp cao minh (1).

Giải thoát cho mình và năm mươi thế kỷ (2)!

Người không hiểu, không nghe điều chân chánh (3)

Thì đời trôi như con vật kéo xe…

Tuy bắp thịt tỏ ra chiều khỏe mạnh.

Nhưng tâm linh bị tham ái mù che!

Ai đã học nhiều pháp lành cứu rỗi.

Mà chẳng hành, còn khinh mạn phàm phu.

Ví như kẻ có đèn không đốt rọi!

Thấy gì chăng trên biển khổ sa mù?!

Gặp bạn tốt, ta hiểu rành Pháp Bảo…

Không buông trôi, ta cố gắng thực hành!

Và nhờ thế ta sẽ vào thánh đạo.

Hộ pháp sau nầy hậu thế nêu danh!

Bậc thiện trí trước sau hằng phân biệt.

Nghĩa lý nhân duyên, hạt quả rõ ràng!

Ngôn ngữ ví như phương trình đã viết (4),

Ðáp số nằm trong minh sát thiền quang!

Giác tĩnh càng chuyên, định tâm càng vững.

Theo dõi sắc danh thấy nó mọi đàng …!

Giác ngộ đến rồi, thánh tâm liền chứng!

Trí huệ bừng lên soi thấu Niết Bàn!

(Nguyễn Ðiều thoát dịch theo Tôn Túc kệ ngôn, các câu số 1024, 1025, 1026, 1027, 1028 và 1029 = Theragathàs 1024-1029)

Ghi Chú:

(1)    Giáo lý đức Phật tổng cộng có 84000 pháp môn (Dhammakhandhas)

(2)    “Năm mươi thế kỷ” là tuổi thọ của đạo Phật Thích Ca! Sau 5000 năm thì lời dạy của đức Giáo Chủ Cồ Ðàm sẽ không còn được thế gian tin nữa!

(3)    Thời cổ Ấn Ðộ, sự học không xuyên qua sách vở như ngày nay mà chỉ nhờ khẩu khẩu tương truyền. Nên người ta đã sử dụng lỗ tai nghe để học nhiều hơn.

(4)    Theo nguyên bản tiếng Phạn, thì câu này ám chỉ nghĩa, lý, nhân và duyên nằm trong một tổng hợp phức tạp gọi là “ngôn ngữ”. Vì vậy bậc thiện trí thức phải dùng “Tuệ Phân Tích” (Patisambhidà) để hiểu một vấn đề theo nghĩa đen (văn phạm) và theo nghĩa bóng (hàm lý)!

 

---o0o---


Vi tính: Mỹ Liên
Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-08-2005

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Nhân Vật PG Thế Giới

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544