Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Bồ Tát Thích Quảng Đức


 

 

 

NGỌN LỬA
BỒ TÁT QUẢNG ĐỨC
 SOI SÁNG NHIỀU GÓC ĐỘ

Dương Kinh Thành

 

            Hôm rời Nữu Ước về Stpokholm, tôi gặp một nữ bác sĩ người Hoa Kỳ cùng đi một chuyến máy bay. Bà hỏi tôi rất nhiều chuyện về Việt Nam. Bà rất tán thành quan điểm của những cuộc vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam nhưng bà cực lực phản đối việc tự thiêu của Hoà Thượng Quảng Đức. Theo bà chỉ có những người tâm trí không bình thường mới đi làm cái công việc tự thiêu ấy. Bà cho sự tự thiêu là dã man, là bạo động, là cuồng tín, là mờ ám, là mất thăng bằng. Dù tôi đã nói hết lời cho bà biết (…), bà cũng không tin. Tôi đành im lặng vì biết rằng bà không thể hiểu. Bà không thể hiểu, không phải là bà không muốn hiểu hoặc không có khả năng để hiểu. Bà không thể hiểu vì bà chỉ có thể ở một quan điểm khác để nhìn, thế thôi (…)”[1]

            Trên là những dòng của Hoà Thượng Thích Nhất Hạnh viết trong “Hoa Sen Biển Lửa” năm 1965. Chưa đầy hai năm sau sự kiện Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu. Người viết bài này xin mạn phép mượn dùng làm đoạn mở đầu để đề cập đến một vấn đề, không chỉ với vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ lúc ấy Hoà Thượng Nhất Hạnh đã gặp, mà mãi cho đến hôm nay - thế kỷ 21 – 42 năm, gần nửa thế kỷ, những cái nhìn, cái hiểu ấy vẫn còn đang tồn tại trong một bộ phận vốn từ lâu không thiện cảm lắm với Phật giáo. Có khác chăng là những cái nhìn, cái hiểu ấy từ nơi những người Việt Nam chính hiệu chứ không còn là của vị bác sĩ người Hoa Kỳ (phương Tây). Cũng có thể, vị nữ bác sĩ nọ giờ đây đã thay đổi quan điểm và góc nhìn của mình, nhưng tự thân câu chuyện thì vẫn còn dai dẳng, và tất nhiên nó tồn tại được từ nơi những người vốn không thiện cảm với Phật giáo kia. Đáng buồn hơn họ đã dùng những hình ảnh đó để đi tuyên truyền, chiêu dụ tín đồ một cách không hổ thẹn.

            Bốn mươi năm đã trôi qua, thời gian của hơn phân nửa tuổi thọ đời người, tính theo tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay.

            Ngày ấy, nhà tôi ven sông Sài Gòn, cả một vùng bến nước cũng xôn xao. Không phải thủy triều lên xuống hay do sóng vỗ đôi bờ mà chính do cơn bão táp trần ai đang phủ chụp lên thân phận Phật giáo Việt Nam. Với một chú bé mới bảy, tám tuổi đầu, những gì đang diễn ra hằng ngày ở bờ sông kia – tức nội thành; có tiếng súng, có người ngã gục, máu và nước mắt v.v.. đã quá sức nhận thức đủ đầy hay tường tận mục kích những cái nghiệt ngã vô tiền khoáng hậu của Phật giáo Việt Nam thời đại văn minh tiến bộ. Nhưng những điều trước mắt, gần gũi, tôi đã thấy và hiểu. Đó là những nỗi lo sợ của gia đình, nét mặt hốt hoảng của bà tôi khi phải ngậm ngùi đem bàn Phật vô buồng ngủ mà thờ! Đốt nhang thì lén lút, nói chi đến bàn thờ ông Thiên ngoài sân. Các đạo hữu từng đi chùa chung với bà, dù là hàng xóm ai cũng tự lo bảo vệ lấy thân, không còn dám liên lạc nhau như mọi khi, và tôi đã phải nhận hai cái bạt tay - sức mạnh của tất cả mọi lo âu đó – do đã khóc hoài bởi không còn được bà dắt đi lễ chùa như mọi bữa. Đường ven sông, chỉ độc đạo một lối đi và về, khu vực ngang một thánh đường và gần một đồn bót; gậy gộc, hàng rào kẽm gai được chặn ngang! Nào có ai dám bước qua để đến chùa, về với Phật và về với cội rễ con Hồng cháu Lạc! Tất cả những hình ảnh đó, cho đến cuối cuộc đời khó có thể phai mờ trong tâm trí tôi. Và chính những hình ảnh đó thôi thúc tôi tiếp cận với đạo Phật một cách mãnh liệt theo từng độ tuổi lớn lên.

            Suốt cả một quảng đời tuổi thơ, tôi “được” học trong một ngôi trường tôn giáo địa phương. Từ lớp mẫu giáo đến lớp nhất, trọn bậc tiểu học. Nơi đó tôi không được dạy một tầm nhìn mỹ cảm tốt đẹp về một nhà truyền giáo đứng đắn, một nhà mô phạm đúng nghĩa và đặc biệt một tinh thần thượng tôn dân tộc (một vị nữ tu, một vị giáo viên và một người Việt Nam máu đỏ da vàng). Người ta gọi những học sinh không cùng tín hướng với họ là “mấy người”. Hằng ngày, người ta không cần phải ngại ngùng “dạy” rằng: ông Phật của “mấy người” là kẻ phàm tục nên mới để lại dấu vết (các xá lợi được tìm thấy và các dấu tích đản sanh - xuất gia – thành đạo và nhập diệt của Phật Thích Ca). Lần khác thì lại “dạy”: ông Phật của “mấy người” là bịa đặt, không có thật trong lịch sử. Mấy tấm hình xanh đỏ cha mẹ “mấy người” thờ lạy ở nhà tưởng tượng ra rồi vẽ lên thờ! Cái bông sen có chút xíu như vầy (chúm bàn tay lại và giơ lên) “mấy người” ra chợ Thủ Thiêm mua một ký thịt bò để lên xem có dẹp lép hôn huống hồ cái thây ông Phật chần dần (dang hai cánh tay ra) ngồi lên đó! Với những đứa thuộc thành phần “mấy người” lỡ đóng tiền học phí hàng tháng chậm, hoặc chậm tiếp thu bài thì bị cho là “như ông Bụt, đui-điếc-câm cả lủ…”! (người ta cũng chạm đến cổ tích rồi đấy). Khó lòng tưởng tượng hơn khi nhắc đến các cuộc xuống đường của Tăng tín đồ Phật giáo Việt Nam năm 1963, người ta kể rằng: “có mấy ông sư sợ cảnh sát chạy, chạy rớt cái áo cà sa còn cái quần…tà lỏn”! (xin được nhắc lại toàn bộ “giáo viên” ở đây đều là nữ tu).

            Với những “quan điểm – góc nhìn” và giọng ngữ đó, khiến chúng ta nhớ lại bà Trần Lệ Xuân, phu nhân cố vấn Ngô Đình Nhu. Như được bật đèn xanh bởi chồng mình, khi ông “Nhu công khai phát biểu những điều trâng tráo đến kinh tởm, đề nghị cung cấp xăng và diêm quẹt cho những vụ tự thiêu khác. Trong một buổi phỏng vấn có thu hình, bà Trần Lệ Xuân tuyên bố một cách lố bịch rằng sự hy sinh đầu tiên lẽ ra đã hiểu quả hơn nếu các tín đồ Phật giáo dùng xăng trong nước thay vì xăng nhập khẩu. Về sau bà còn phát biểu về những vụ tự thiêu tiếp theo như ‘món thầy chùa nướng’ và ‘Cứ để họ tự thiêu, chúng ta sẽ vỗ tay”[2] Ai cũng rõ “tin tức về vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức lan nhanh khắp nước Việt Nam, nhưng có một chuyện khác không được dự đoán trước đã xảy ra: Tin tức cũng đã lan nhanh khắp thế giới. Vào những ngày này, Việt Nam là mảnh đất béo bở của các nhà báo, phóng viên ảnh, nhân viên điện tín. Đối với nghề nhà báo, đây qủ là tin sốt dẻo. Ngay sau ngày Hoà Thượng Quảng Đức tự thiêu, những bức hình về sự kiện này xuất hiện trên trang nhất các tờ báo lớn trên khắp thế giới, bên cạnh những bài viết lý giải nguyên nhân của thảm kịch. Cả thế giới bị sốc, và Tổng thống Hoa Kỳ J.F. Kenedy cũng vậy. Quả thật, chỉ qua một đêm cả thế giới nhật ra Hoa Kỳ chỉ là kẻ vô tích sự, đã chọn đúng một tên bạo chúa để hà hơi tiếp sức,một kẻ không khác gì Hitles? Việc ủng hộ một người công giáo cuồng tín cứ tập trung khủng bố những người theo tôn giáo khác đã biến Kenedy trở thành miếng mồi ngon trước miệng hổ đói trong kỳ bầu cử vào tháng 11.1964”2a, hoang mang đến cực điểm ngây ngô khi ngay sáng hôm ấy (12.06.1963) ông khẩn cấp họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, mà câu đầu tiên phá vỡ tiền lệ khai mạc bằng câu hỏi “Phật giáo là cái gì?”!

            Ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức ít ra cũng làm cho vị Tổng thống Hoa Kỳ lần đầu tiên trong đời được nghe và biết đến hai từ “Phật giáo”!

            Rõ ràng, các thế lực thực dân xâm lược đất nước ta, họ không cần biết nơi đó có truyền thống, lịch sử và đời sống tâm linh ra sao, nơi mà hơn hai đời họ tộc Ngô Đình Diệm trước đó cũng đã từng chan hoà trong cội nguồn dân tộc, từng biết thắp nhang thờ cúng Tổ tiên. Và Phật giáo, vâng, chính Phật giáo Việt Nam bằng bề dày lịch sử hai ngàn năm đã un đúc nên truyền thống, phong tục và văn hoá ấy cho dân tộc qua bao nhiêu thăng trầm vinh nhục cùng đất nước. Cho nên mãi đến hôm nay Phật giáo Việt Nam tự hào và luôn nói, nói những điều Phật giáo Việt Nam có. Lịch sử há đã chẳng ban tặng cho cụm từ “Đạo Pháp – Dân tộc” đó chăng! Đó cũng là câu trả lời cho một vị giáo sư đã từng phát biểu trong cuối thập niên 60 thế kỷ trước rằng: “Không thể dùng tính từ dân tộc để chống lại người Việt Nam (sis), bất luận thuộc khuynh hướng nào. Chỉ có một trường hợp sử dụng chính đáng tính từ dân tộc là trường hợp chống thống trị ngoại ban mà thôi!”. Với lịch sử, Phật giáo Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục và còn xuất sắc hơn thế nữa, để cho các thế lực, “khuynh hướng” khác làm theo, vẫn chỉ là một con đường Phật giáo Việt Nam đã “đồng hành cùng dân tộc” hơn hai ngàn năm qua, không hề thay đổi hay xét lại.

            Đó là một vấn đề lớn, đóng vai trò quan trọng trong pháp nạn 63 mà không nghe vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ, vị giáo viên tiểu học của tôi và vị giáo sư vừa nêu đưa ra để làm mấu chốt cho câu chuyện. Đó là chưa nói đến giá trị một tôn giáo lớn ở Việt Nam như vậy mà phải chịu khép nép khiêm nhường trong Dụ số 10 (1950) từ thuở Ngô Đình Diệm còn làm thủ tướng, bị cho là một “Hội đoàn” cỏn con cần được kiểm soát gắt gao. Đó là chưa nói đến “Hệ tư tưởng của Đảng Cần Lao và của phong trào Cách mạng quốc gia là thuyết Nhân vị. Chỉ có một trường đào tạo duy nhất là ‘Trung tâm đào tạo nhân vị’ do người anh của Tổng thống là Giám mục địa phận Vĩnh Long Ngô Đình Thục sáng lập. Là công giáo hay không, không cần biết, tất cả công chức đều phải trải qua một khoá học tập ít nhất là một tháng tại đó. Các lớp học đều do các linh mục đảm nhiệm, nhồi nhét những khái niệm về nhân bản con người được Thiên Chúa sáng tạo, giảng về những lầm lạc của Phật giáo, Khổng giáo, về các tội ác của cộng sản…”3 Do vậy mà từ sau ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức bừng cháy, Mỹ lo sợ trước tiên. “Mỹ sợ rằng Diệm-Nhu sẽ lại phạm thêm sai lầm sau khi đã biến lễ Phật Đản ngày 8.5.1963 trước đó thành một thảm kịch đẫm máu bởi lệnh cấm treo cờ Phật giáo ở nơi công cộng theo ý của Thục, lúc đó là Tổng giám mục Huế. Làm sao lại cấm treo cờ Phật giáo trong khi đã từng cho treo cờ Toà Thánh Vatican ở nhiều nơi công cộng? Trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng đó, Mỹ sợ rằng lễ cầu hồn cho Cố Giáo Hoàng John XXIII sẽ bị Diệm mù quáng biến thành một quốc lễ, và điều này sẽ càng đổ thêm dầu vào lửa. Mỹ có lý do để sợ Diệm làm điều càn dở đó, do lẽ “Từ tháng ba, một uỷ ban ngân khánh đã được thành lập do chủ tịch quốc hội là chủ tịch với nhiều vị bộ trưởng và nhân vật tên tuổi làm uỷ viên. Người ta tổ chức tại Sài Gòn một bữa tiệc mà mỗi thực khách phải đóng 5.000 đồng (tương đương nửa lượng vàng thời điểm đó – chú thích TTCN). Người ta muốn biến lễ ngân khánh này thành quốc lễ” 3a. Bộ ngoại giao Mỹ cụ thể hoá nỗi lo của mình bằng điện tín ngày 8.6.63 gởi Toà Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn rằng “Một – Đích thân đại sứ hoặc Khâm sứ Toà Thánh Vatican tại Việt Nam khuyến cáo chính phủ Việt Nam tránh cử hành lễ tưởng niệm chính thức Giáo Hoàng John XXIII (vừa qua đời hôm 3.6.1963). Hai - Cần khuyến cáo chính phủ Việt Nam tạm thời hãy bớt công khai tuyên truyền cho thuyết nhân vị để tránh việc dân chúng đồng hoá thuyết nhân vị với công giáo”. Sự việc sáng tỏ dần khi vở kịch sắp hạ màn. Đó là điện tín Toà Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam gởi Bộ ngoại giao lúc 6 giờ tối ngày 31.08.1963 với nội dung “Bà Nhu cần rời khỏi đất nước này. Nên giới hạn chức trách của Nhu trong chương trình ấp chiến lược. Tổng giám mục Thục cần ra khỏi đất nước”3b Sau khi bàn bạc với Vatican, vào lúc 10giờ 48 phút tối hôm ấy Bộ ngoại giao gửi điện tín cho Toà Đại Sứ tại Việt Nam nội dung ngắn gọn: “Đại sứ có nghĩ rằng việc chúng ta ra sức yêu cầu Vatican gọi Tổng giám mục Thục qua La Mã để tham khảo lâu dài là hữu ích?...”3c

            Trên đây là một ít tư liệu lịch sử của chính nước Mỹ giải mã. Điều này xét ở “góc độ - quan điểm - tầm nhìn” của vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ kia, vị giáo viên tiểu học của tôi và vị giáo sư nọ, có khác và khó hiểu hay đồng cảm chăng? Qua đó pháp nạn năm 63 là nỗi đau chua chát, nếu không muốn nói là một sự bị sỉ nhục của Phật giáo Việt Nam. Vậy thì ngọn lửa của Bồ Tát Quảng Đức và các chư Thánh tử đạo khác có phải “tiêu cực” – “không bình thường” và có xứng đáng hy sinh không? Ngược lại có thể hiểu theo “góc độ - tầm nhìn – quan điểm” các vị kia là lẽ ra Phật Giáo Việt Nam phải “tích cực” dàn trận bằng súng đạn, gươm đao, chém giết mới là “bình thường” ư?

            Tinh thần hy sinh cao cả của Bồ Tát Quảng Đức dựa trên nền tảng đấu tranh bất bạo động. “Hãy bồi dưỡng lòng can đảm, bình tĩnh đón nhận cái chết, và nếu cần, chết về tay anh em mình, nhưng không bao giờ giết lại anh em…Tình yêu không thiêu đốt kẻ khác mà chỉ thiêu đốt chính nó, chịu đựng một cách vui vẻ ngay cả cái chết (…) Sự chống đối bất bạo động không phải dựa vào những bắp thịt rắn chắc, những khí giới tàn phá, những hơi độc và hoá chất giết người mà dựa vào tinh thần đạo đức dũng cảm, sự tự chủ vào niềm tin vững chắc rằng trong mỗi con người, dù có tàn bạo đến đâu đi nữa, dù có mang mối tư thù thâm độc biết mấy đi nữa, đều có một ngọn lửa của lòng nhân hậu, của tình yêu công lý, của niềm tôn trọng điều thiện và lẽ thật mà bất cứ ai biết sử dụng những phương pháp thích đáng đều có thể làm cho ngọn lửa ấy bùng cháy” 4 Như vậy ngọn lửa của Bồ tát Quảng Đức đều được hiểu theo hai nghĩa đen và nghĩa bóng. Do vậy không có sự thù hận mà chỉ có lòng bao dung quảng đại chan hoà khắp tất cả. Bồ tát Quảng Đức để lại lá thư tâm huyết và rất nhiều bài thơ, không hề có một dòng chữ oán hận thế lực đàn áp, mà chỉ cầu xin chư Phật gia hộ cho họ. Một bài thơ bốn câu tiêu biểu nhất mỗi khi đọc lại, chúng ta không khỏi chạnh lòng đối trước một tâm hồn biển lớn, đủ để chứng minh điều đó:

Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh

Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác

Tro trắng phẳng san hố bất bình

 

            Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 42 năm Bồ tát Quảng Đức tự thiêu. Đó đây vẫn còn vài thành kiến không thiện cảm, dùng kiến thức thực dụng đánh giá, thậm chí xúc phạm đến sự kiện Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu. Điều này một phần lỗi do chính chúng ta đã ít nhiều buông xuôi sự kiện do chính ý niệm bao dung mà lẽ ra nó phải được nhìn trước tiên từ phía thiếu thiện cảm kia. Do lý do đó mà chúng ta nên nhắc lại nhiều hơn nữa; nhắc lại không vì mục đích đào sâu ranh giới hận thù bởi tự thân sự đấu tranh mùa pháp nạn 63 và ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức vốn không xuất phát từ thù hận hay rẽ chia. Việc các thế lực chính trị, quyền bính xâu xé nhau, lật đổ, đảo chánh hay “thay ngựa đổi dòng” v.v…đó là việc của thế gian mà luật nhân quả của Phật giáo đã cho người ta thấy, và thấy rất rõ ngay trước mắt, để rồi các thế hệ mai sau nhìn và đánh giá không bằng vết mực đậm nhạt khác nhau. Còn Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu hoàn toàn không bì các thế lực ấy hoặc bị xui giục, mà chỉ vì một thực trạng đạo pháp nguy vong. Ngược lại, sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu lại có sức cuốn hút và ảnh hưởng đến tất cả mọi thế lực chính trị thế gian hiện thời, bất chấp định kiến, cục bộ chủ nghĩa. Nhắc đến sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu, là nhắc đến sự bao dung cao cả; nhắc đến cái đẹp của cuộc đấu tranh bất bạo động và là nhắc đến một giai đoạn Đại hùng Đại lực Đại từ bi tuyệt vời trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đấu tranh trước hết vì “quyền bình đẳng tôn giáo” mặc dù “Đạo Phật từ lúc du nhập vào Việt Nam đã trở thành một tôn giáo của dân tộc” 5, chứ không đấu tranh chỉ vì tôn giáo mình, dù rằng Phật giáo Việt Nam có quyền lịch sử thực hiện điều đó. Quá khứ đã cho chúng ta thấy ở những quốc độ Phật giáo là đại đa số, các tín ngưỡng khác rất dễ dàng đến và truyền bá hơn là ngược lại, chứ không riêng gì ở Việt Nam chúng ta.

            Nhắc đến sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu là tự khẳng định và tôn trọng chính

chúng ta, một thế hệ biết tôn trọng lịch sử, biết nhìn sâu xa vào truyền thống dân tộc vốn từng được ôm ấp bởi nền tảng chân lý Phật giáo; một tôn giáo của dân tộc, lại luôn bị xem nhẹ, luôn bị tai ương bởi chính các thế lực ngoại nhân. Người ta xem nhẹ Phật giáo đến mức buồn cười như tài liệu giải mật CIA và FBI đã có nói đến một chi tiết đã được trích dẫn phần trên “tin tức về vụ tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quảng Đức lan nhanh khắp nước Việt Nam, nhưng có một chuyện khác không được dự đoán trước đã xảy ra: Tin tức cũng đã lan nhanh khắp thế giới…” .Tổng thống Hoa Kỳ lúc ấy còn ngớ người hỏi Phật giáo là cái gì cơ mà! Người ta làm tất ca để đẩy Phật giáo vào thế tàn lụi ngay trên đất nước này họ đã ngang nhiên đến tự xưng là “mẫu quốc”, với một chính sách ngu dân thâm độc. Giáo dục nâng cao trí thức chỉ có được khi người dân xứ sở này theo họ tất cả và đặc biệt phải đóng ấn vào trái tim là con cháu của Tổ tiên là dòng dõi “Gô-loa”. Đẩy Phật giáo vào chốn thâm sơn cùng cốc, biến giới Tăng sĩ trở thành những  “ông thày chùa làng” dốt nát, hậu đậu v.v.. May mắn cho Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ đã có chư tôn đức tài ba đứng lên dấy động phong trào chấn hưng, làm sửng sốt bàng hoàng các thế lực đen tối. Đây có thể xem là một cuộc “đại cách mạng” nhưng có phần hướng về nội bộ nhiều hơn, và dùng chính sức mạnh thành tựu nội bộ đối kháng với các âm mưu thâm độc của thực dân. Đến ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức, lại là một cuộc “đại cách mạng” nữa, nhưng lần này mang tính chất quyết liệt hơn và hướng ra bên ngoài nhiều hơn. Bởi lẽ đây là giai đoạn trên toàn thế giới phong trào độc lập dân tộc đang từng bước xô dạt các thế lực thực dân mới, mưu mô xảo quyệt hơn.  Trong toàn cảnh đất nước điêu linh, Phật giáo cũng chung cùng số phận, tư tưởng xem thường Phật giáo cũng nương đó mưu mô, xảo quyệt nhưng trắng trợn hơn. Người ta yên ổn cho rằng quyền hành cai trị đất nước một khi đã trụ vững ngờ dựa vào thế lực ngoại bang, thì còn lại, Phật giáo không đáng lo ngại. Đơn giản Phật giáo không có giáo quyền thế giới, các tổ chức Phật giáo thế giới nếu có cũng chỉ mang tính tập hợp và tổng kết, chứ không là một tổ chức ngang bằng các thể chế chính trị ở thế gian, không lo sợ bị lên án. Và một điều nữa, các thế lức thực dân đều là những nước giàu có ở Tây Âu Mỹ, có chân trong các tổ chức lớn thế giới và sau cùng là tất cả đều không cùng tôn giáo ở phương đông.

            Và ngọn lửa Bồ tát Thích Quảng Đức đã bùng lên!

            Thế thì “ở một quan điểm khác để nhìn” của vị nữ bác sĩ người Hoa Kỳ kia, của vị nữ tu và là giáo viên tiểu học dạy tôi hay của những ai cho đến hôm nay chỉ vì tín ngưỡng riêng mà nhìn sự hiện bằng kiến thức cô đọng, nhỏ hẹp, thì hãy thử một lần làm người Phật tử Việt Nam, lặng lẽ sống khiêm nhường, độ lượng và bao dung…để có đôi giây phút đời người xứng đáng và để hiểu hơn Phật giáo Việt Nam hai ngàn năm qua. Rồi đây một tượng đài sẽ được dựng lên ngay trên giao lộ năm xưa ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức bừng cháy. Giá trị và ý nghĩa đặc biệt của ngọn lửa Bồ tát Quảng Đức đã được nhìn nhận, vượt lên trên sự dè dặt hoặc né tránh mà có thời gian sự kiện Bồ tát Quảng Đức tự thiêu được nhắc nhở cho việc “tế nhị”. Sự kiện 1963 là một giai đoạn lịch sử có thật và rất gần nhưng đã vượt khá xa thời gian “giải mật”. Thế mà thế hệ trẻ ngày nay dường như không biết rằng nơi ngã tư trong thành phố này có một ngọn lửa từ bi - bất bạo động đã bùng lên! Sự kiện mà người Phật tử gọi là “pháp nạn” – cái nạn của đạo pháp - tưởng cũng rất hiền hoà, chứ thật ra sự kiện đó phải được gọi bằng một cụm từ đúng nghĩa hơn có lẽ rồi đây lịch sử sẽ phải nói thay điều đó. Còn hiện tại dùng từ “đàn áp Phật giáo” âu cũng tương xứng với sự cực đoan thời Trung cổ. Thế mới thấy sự hy sinh cao cả của chư Thánh tử đạo và đặc biệt ngọn lửa Bồ Tát Quảng Đức là cực kỳ vĩ đại, nói lên rất nhiều điều về Phật giáo Việt Nam mà kẻ hậu sinh vẫn hãy còn lang thang trước nhiều ngã ba đường.

            Trong căn nhà chật hẹp của tôi, trước khi có bàn thờ Phật đã có ảnh Bồ tát Quảng Đức tự thiêu, rất hãnh diện, trang trọng giữa nhà. Bốn mươi hai năm tròn, còn đó một trái tim.

 

(Đã đọc trong Hội Thảo “Bồ Tát Quảng Đức vị pháp thiêu thân” của viện nghiên cứu Phật học VN ngày 29.05.2005)

 


 

[1] Hoa Sen Biển Lửa - Nhất Hạnh – Ban Phật tử Việt Kiều hải ngoại Paris xuất bản lần thứ 4, 1966

[2] -Tài liệu giải mật của “Vụ sử học” bộ ngoại giao Mỹ công bố mang tựa đề “Foreign Relations of the United States, 19631-1963, VIET NAM” (viết tắt là FRUS) – Báo TTCN từ số 32/2003 đến 43/2003.

                -Và NXB. Công An Nhân Dân 2003 từ tài liệu lưu trữ giải mật của CIA-FBI – Tác giả Bradley S O’leary & Edward Lee. TT từ 23.04.2003 đến 30.04.2003

                -Theo nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông nước ngoài (Đài phát thanh “Little Saigon Radio”, báo “Tin điện” tại Đức, tuần báo VICTORIA TIVI tại Melbourne và Sydney…) lần đầu tiên sau 33 năm tự nhốt kín đời mình trong một tu viện dòng Tên ở La Mã, ngày 31.10.1996 bà quả phụ Ngô Đình Nhu đã chính thức lên tiếng “...Nay đời người chỉ là bóng câu qua cửa sổ, sự vật đổi thay, và con người cũng không còn tồn tại, tôi đích than tạ lỗi linh hồn thầy Thích Quảng Đức và xin Giáo hội Phật giáo Việt Nam ân xá những lời tuyên bố vô trách nhiệm của tôi 34 năm trước”.

Về chi tiết Bà Ngô Đình Nhu sống ở La Mã, chúng ta có thể đối chiếu bài viết của hai tác giả Bradly S.O’leary và Edward Lee như sau: “Khi Diệm và Nhu chết trong cuộc đảo chính, bà Nhu làm rùm beng với báo chí Mỹ, nhưng lúc đó chẳng còn ai quan tâm nữa. Ít lâu sau, bà ta bị trục xuất khỏi Mỹ, để lại nhiều hoá đơn khổng lồ chưa thanh toán tại khách sạn Beverly Wilshire. Bà ta qua Paris, rồi sang Rome để sống với các con ở đó, và suốt từ đó, ba ta im lặng một cách kỳ lạ về cái chết của chồng và anh chồng, chỉ sống ẩn dật trong một biệt thự tối tăm mà người ta đồn là thuộc sở hữu của Giáo hội Thiên Chúa giáo…” (TT ngày 24.04.2003)

2a Tài liệu đã dẫn

3 “Về Tổng giám mục Ngô Đình Thục”. Báo TTCN ngày 14.09.2003, Hữu Nghị dịch và trích từ “Thập giá và lưỡi gươm” của LM. Trần Tam Tĩnh, NXB Sud Est Asic-Paris, 1978

3a  Tài liệu đã dẫn

3b  Tài liệu đã dẫn

3c  Tài liệu đã dẫn

4 “Chiến tranh và bất bạo động” – S.Radhakrisnan – NXB Hoa Muôn Phương, Sài Gòn, 1970, Quảng Độ dịch.

5 Câu chữ trong thông điệp Phật Đản PL.2544 của Hoà Thượng Thích Tâm Tịch, Pháp Chú GHPGVN

 

 

 

 

 

----o0o---

Vi tính: Tường Tâm Hoàng Như
Trình bày: Tịnh Tuệ

Cập nhật: 10-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544