Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Bồ Tát Thích Quảng Đức


 

 

 

 

 

 

 

Mục Lục 

Lời giới thiệu

Lời nói đầu

Nơi địa linh ươm giống Bồ Tát

Nơi đích thực địa linh

Về Đại lão Thiền Sư Tổ Pháp Thân Đạo Minh

Về bài vị và sự thẩm định niên hạn trụ thế của Đại Lão Thiền Sư Pháp Thân Đạo Minh (thế kỷ XVII- XIX)

Tổ Chơn Hương – Thiên Quang (1862-1939)

Tổ Như Đạt – Giải Nghĩa Hoằng Thâm (1857-1921)

Tổ Thanh Chánh-Phước Tường (1867-1932)

Tiểu sử Bồ Tát Thích Quảng Đức (1897-1963)

Thơ di bút của Hòa Thượng Quảng Đức

Thiền Sư Thích Hưng Từ

Thiền Sư Thích Viên Chiếu

Thiền Sư Thích Viên Chiếu Như Cự (1892-1943)

Nơi Bồ Tát Ẩn Tu (Thơ)

Về 14 Ngôi Chùa ở Xứ Trầm Hương (Khánh Hòa) Do Bồ Tát Thích Quảng Đức Khai Sơn Kiến Tạo Và Trùng Tu

Chùa Sắc Tứ Long Sơn

Chùa Linh Sơn

Tổ Đình Thiên Bửu (Thượng)

Chùa Sắc Tứ Thiên Ân

Chùa Sắc Tứ Thiên Lộc

Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Tứ

Chùa Sắc Tứ Khánh Long

Chùa Long Hà

Chùa Pháp Hải

Tổ đình Sắc Tứ Linh Sơn

Chùa Chi Hội (Đức Hòa)

Chùa Lạc Sơn

Chùa Phước Hoà

Chùa Long Phước

Những Mẫu Chuyện Nghịch Cảnh Của Bồ Tát Thích Quảng Đức

Dữ Liệu Những Năm Tháng Bồ Tát Thích Quảng Đức Hành Đạo Tại Xứ Trầm Hương

Đôi nét về cảnh quan Tổ Đình Sắc Tứ Thiên Tứ

Phụ trang

Phác họa về hòn đất ở Ninh Hòa

Phần phụ lục 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

 

NƠI ĐÍCH THỰC ĐỊA LINH 

- Kính tặng ĐĐ Như Hoằng -

 

Có ai về đấy hay chưa?

Viếng thăm trên ngọn đồi (1) xưa có người

Một mình một bóng thảnh thơi

Cất am tranh nhỏ làm nơi tu hành

Thiền sư pháp hiệu Đạo-Minh (2)

Ba trăm năm trước tiên sinh lánh trần

Kiết già thị tịch an nhiên

Đến nay bảo tháp (3) còn truyền nhơn gian

Thế rồi một đại vĩ-nhân

Sau hơn thế kỷ đã lần đến đây

Dựng thảo đường (4) cạnh tháp xây

Cất chùa Thiên-Lộc (5)  đêm ngày luyện tu

Hiệu là Quảng-Đức (6)  đạo sư

Chính danh Bồ-tát đại-từ đại-bi

Gặp cơn Pháp nạn lâm nguy

Tự thiêu thân (7) để cứu vì chúng sanh

Đất này đích thực địa-linh

Từng hai nhơn-kiệt (8) ghi danh sử vàng!

Dưới chân đồi cạnh đình làng

Có chùa Thiên Tứ (9) phong quang rạng ngời

Trãi bao vật đổi sao dời

Cảnh xưa còn đó mà người xưa đâu?!

 

Núi Đất (Địa Sơn) tháng 01-2006

 (Theo Hàn-Linh-Giang)

 

(1) Núi Đất (Địa Sơn) nằm ven quốc lộ I. A miền Trung Việt-Nam thuộc thôn Mỹ-Trạch, xã Ninh-Hà, huyện Ninh-Hòa, tỉnh Khánh-Hòa
(2)
Còn gọi là Pháp-Thân Đạo-Minh (thế kỷ XVII-XIX)

(3) Nơi viên tịch của Thiền sư Đạo Minh

(4) Vào năm 1927

(5) Do Bồ-tát Quảng-Đức xây cất năm 1935, cạnh cổ tháp

(6) Chính là Bồ-tát Quảng-Đức (thế kỷ XIX-XX)

(7) Vào ngày 11/06/1963 tại Sài Gòn

(8) Tổ Thiền-sư Đạo-Minh và Bồ-tát Quảng-Đức

(9) Chùa Tổ-đình sắc-tứ Thiên Tứ do tổ Đạo-Minh khai sơn vào năm 1744.

 

VỀ ĐẠI LÃO THIỀN SƯ – TỔ PHÁP THÂN ĐẠO MINH

(Thế kỷ XVII – XIX) 

Đại lão thiền sư - Tổ Pháp Thân Đạo Minh sinh năm Giáp tý (1684) không rõ ngày tháng sinh (sinh giáp tý niên muội nguyệt nhật thời lai). TRÍCH-bài vị tại chùa tổ đình sắc tứ Thiên Tứ. Lại không biết rõ nơi ngài sanh ra và lớn lên ở đâu? (có khi ngài là người ở đàng ngoài hay là người ở xứ Quảng cũng nên?) chỉ biết rằng ngài là đệ tử của tổ Thiệt Thể Triêm Ân thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ hai chi phái Chúc Thánh. Như vậy tổ Đạo Minh thuộc đời thứ 36 hệ thứ 3 truyền thừa pháp phái Chúc Thánh

Cách đây khá lâu, trên ba thế kỷ, thì vùng đất làng Mỹ Trạch nguyên là một phần của Tổng Ích Hạ, chỉ là dãy đầm lầy cỏ cây hoang mạc có vài ngọn núi thấp lô nhô như, hòn Quải và hòn Đất bao bọc. Cư dân thuở ấy đã lập làng ấp khai hoang dỡ đất cho việc canh nông và trồng trọt. Gần bên chân hòn Quải, ven đầm Nha Phu, vừa có điều kiện làm ruộng, vừa có điều kiện đánh bắt thủy hải sản. Những năm đầu mới mở đất, nơi đây còn là nơi rừng thiêng nước độc vô cùng hiểm trở, thú dữ hoành hành. Nhất là cọp thường về làng để rình rập kiếm ăn và thường bám sát với chỗ ở của con người. Hiện còn di tích đất nền miễu thờ ông hổ cách đó không xa. Người dân làng kể lại rằng: “thời đó trong khi phát rừng khai hoang đã vô tình đốt chết 3 cọp con. Ông bà xưa nơi đây đã thận trọng lập miễu thờ 3 hộp sọ ông hổ hiện vẫn còn.

Những năm đầu thế kỷ XVII, dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh của tổ Minh Hải Đắc Trí Pháp Bảo được hoằng hóa vào trong vùng đất phủ Phú Yên và Khánh Hòa. Phật giáo đàng trong được phát triển mạnh với dòng thiền trên. Trong một lần đi hoằng hóa vào vùng đất làng Mỹ Trạch, nhận thấy sơn thanh thủy tú nơi này tích tụ khí thiêng trời đất, lại gần khu dân cư nên tổ Đạo Minh đã quyết định dừng chân an trú, cắm tích trượng hoằng dương chánh pháp tại một vùng đất gò thuộc làng An Phú (An Thạnh Đông) làng Mỹ Trạch ngày nay, giáp ranh giới phía bắc làng Mỹ Thuận.

Tổ Đạo Minh đã lập ngôi chùa Thiên Tứ lần đầu tiên (cho đến ngày nay gò này cũng vẫn còn được gọi tên là gò Chùa. Sau đó, vì xét thấy nơi này còn ẩm thấp hay thường ngập nước trong các mùa mưa bão, vã lại bất tiện cho việc đi lại lễ chùa của người dân. Nên qua sự đồng ý của dân làng thế là chùa phải chuyển đi lần thứ hai đến vùng đất gò cao hơn, gò này còn gọi là gò cây Da. Chùa cũng được dựng lại tại gò Cây Da này trong một thời gian.

Xong người dân cảm thấy nơi đây chưa vừa lòng cho mấy. Họ bên nhau tiếp tục chuyển chùa lần nữa. Lần này là lần thứ ba, chùa được nằm bên cạnh đình cùng lần thứ ba này trong năm 1744 (thời Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát).

Khi chuyển chùa đi rồi, để lại gò Cây Da thật là cô liêu và trống vắng, chỉ còn lại một số cây cổ thụ như bồ đề, mét, bang, gòn, gạo, si…Đến thời Pháp thuộc trên gò Cây Da này mới dựng lên ngôi nhà thờ. Sau 1975 toàn bộ cây cổ thụ qúy giá của đất Già Lam thuở ấy đều chịu đồng chung với số phận bị triệt phá, tàn tiêu để rồi nơi này mọc lên nhà kho và sân phơi Hợp tác xã.

Hồi đó Tổ pháp thân Đạo Minh của thế kỷ XVII – XIX chuyên tu thiền định và nhập thiền thường ngày trên Núi Đất (Địa Sơn), có lẽ vậy mà người dân muốn cảnh chùa, đình được kề cận bên nhau. Nên chùa được di dời về dưới chân Núi Đất mà người xưa đã an định.

“Núi sau dừng ấm chùa đình

Đồng xanh trước mặt đậm tình quê hương”

Chùa tọa lạc sát bên cạnh đình làng được xây dựng cùng lúc ngay trong năm giáp tý (1744). Rất tiếc rằng cho tới ngày nay, người ta chỉ xác minh được năm khai sơn chùa Thiên Tứ đã được di dời lần thứ ba của tổ Đạo Minh mà thôi!

Hằng ngày ngoài những việc như đi xuống núi khất thực, giáo hóa dân chúng, tổ thường tham thiền nhập định dưới những gốc cây cổ thụ trên đỉnh hòn Núi Đất. Vì vậy, đến khi chứng qủa, tổ đã thị tịch trong tư thế kiết già. Dân cư phát hiện muộn và không biết đến bao lâu ngôi bảo tháp mới đuợc hình thành để trân trọng bảo vệ, lưu dấu nhục thân của vị đại lão thiền sư trụ thế đến 119 năm (tức 120 tuổi) có niên đại từ 1684-1803. Thực ra tổ Đạo Minh viên tịch vào ngày tháng nào không ai được rõ. Chỉ biết rằng tổ đã thoát xác phàm trần ngay trong năm qúy hợi (1803). Cũng giống như những trường hợp mất tích đối với con người trong chốn dân gian không biết rõ ngày mất là ngày nào nên đành phải áng chừng hoặc lấy ngày từ biệt bước chân đi để kỷ niệm ngày qúa vãng của họ. Trường hợp tổ Đạo Minh cũng thế, nhưng có khác hơn người thế gian là để ngậm ngùi tưởng nhớ và tôn vinh bậc thiền sư cao niên đắc đạo ngay sau khi cư dân trong vùng phát hiện nhục thân ngài ngồi trơ sựng dưới sân thảo am của những gốc cây cổ thụ trên đỉnh núi Đất, họ đã xây thành bảo tháp và thường tới lui để hương khói, chiêm bái ngài. Hơn thế nữa họ đã thống nhất lấy ngày rằm tháng chạp (15 tháng 12) làm ngày kỷ niệm kỵ Tổ hàng năm, từ ấy đến nay đã trở thành thông lệ (tịch qúy hợi niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật khứ. TRÍCH- bài vị tại Cổ tự Sắc Tứ Thiên Tứ.)

Do kính ngưỡng đối với một bậc thiền sư chân tu đắc đạo, công viên quả mãn, nên trãi qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…đều có sắc phong vua ban cho chùa Thiên Tứ. Vì thế, kể từ đó đã có tên gọi là chùa Sắc Tứ Thiên Tứ.

 

Núi Đất (Địa Sơn), tiết lập thu năm Canh Ngọ 1990

 

Ngẫu nhiên, núi Đất (Địa Sơn) là nơi đích thực địa linh, đã thành tựu thánh quả, qua hai hình ảnh rõ nét của thiền sư Đạo Minh (thế kỷ XVII-XIX) và Bồ tát Quảng Đức (thế kỷ XIX-XX) phù hợp phần nào theo khoa học huyền bí được thể hiện qua vài nét kinh “DỊCH” đã có từ thuở xa xưa. Sau đây xin trích lại vài đoạn về Kinh Dịch số 15 trang 202 của Huệ Thiên – Vũ Nam để quí vị tiện bề tham khảo.

QUÊ ĐỊA SƠN KHIÊM

Ngoại quái là khôn địa, nội quái là cấn sơn gồm có năm phần chính sau đây:

I.              Tự quái: “đại hữu dã bất khả dinh cố thụ chi dĩ khiêm. “DỊCH: thời đại hữu là thời thịnh đạt, muốn được lâu dài cần phải khiêm tốn, không nên để cho quá sung mãn đầy đủ. Vì vậy sau quẻ đại hữu là quẻ khiêm.

II.           Soán từ: “khiêm hanh chung tử dĩ chung “DỊCH: biết nhún nhường thì được hanh thông, người quân tử giữ được trọn vẹn tới lúc cuối cùng.”

III.         Soán truyện: “khiêm hanh thiên đạo hạ tế nhi quang minh địa đạo ty nhi thượng hành. Thiên đạo khuy dinh nhi ích khiêm. Địa đạo biến dinh nhi lưu khiêm. Quỷ thần hại dinh nhi phúc khinh. Nhân đạo ố danh nhi hiếu khiêm. Khiêm tốn nhi quang, ty nhi bất khả du, quân tử chi chung dã “DỊCH: biết khiêm tốn thì hanh thông, như đạo trời giao tế xuống thấp để giúp vạn vật phát triển nên có công đức quang minh. Đạo đất ở dưới thấp hết mọi vật nhờ đó mà âm khí thượng hành giao tiếp với dương khí của trời. Cho nên đạo lý của trời hễ đầy thì làm cho vơi, khiêm thì làm cho ích, còn đạo lý của đất là làm biến đổi chỗ đầy để chảy vào chỗ thấp. Đạo lý con người thì ghét sự sung mãn mà thích sự khiêm hạ. Vì vậy, nếu có đức khiêm ở ngôi vị Tôn thì đạo lại càng sáng sủa, biết xử nhún nhường mà không ai hơn được thì chi người quân tử mới giữ được trọn vẹn mà thôi.

IV.         Đại tượng nguyện:  “địa trung hữu sơn khiêm, quân tử dĩ biều đa ích quả, xứng vật bình thí “DỊCH: trong đất mà có núi nổi lên là tượng quẻ khiêm. Người quân tử xem tượng thấu hiểu luật tạo hóa nên chỗ nào có nhiều thì rút bớt, chỗ nào có ít thì gia thêm, cốt sao cho mọi vật đều cân bằng.

V.           Hào từ và tiểu tương truyện:

1.Sơ lục: “ khiêm khiêm quân tử dạng thiệp đại xuyên cát” DỊCH: người quân tử biết khiêm nhường luôn luôn dùng đức này để vượt nguy hiểm như lội qua sông lớn thì được tốt lành.

Tượng truyện: “khiêm khiêm quân tử, ty dĩ tự mục dã” DỊCH: người quân tử phải luôn luôn biết khiêm nhường để tự bồi dưỡng mình.

2.Lục nhị: “minh khiêm, trinh cát” DỊCH: nhờ khiêm tốn mà có tiếng tăm nhưng phải giữ được chánh đạo thì mới được tốt lành.

Tượng truyện: “minh khiêm cát, truy tâm đắc dã” DỊCH: khiêm tốn mà có tiếng tăm và hưởng được tốt lành bởi sự khiêm tốn ấy xuất phát từ cõi lòng chứ không phải giả dối bề ngoài.

3.Cữu tam: “lao khiêm quân tử, vạn dân phục dã” DỊCH: người quân tử có công khó nhọc mà biết khiêm tốn thì vạn dân tín phục.

Tượng truyện: “lao khiêm, quân tử, vạn dân phục dã” DỊCH: người quân tử có công khó nhọc mà biết khiêm tốn thì vạn dân tín phục.

4.Lục tứ: “vô bất lợi, huy khiêm” DỊCH: biết phát huy sự khiêm tốn thì không có gì bất lợi…vv và vv

 

VỀ BÀI VỊ VÀ SỰ THẨM ĐỊNH NIÊN HẠN TRỤ THẾ

CỦA ĐẠI LÃO THIỀN SƯ PHÁP THÂN ĐẠO MINH

(THẾ KỶ XVII-XIX)

 

 

A-    BÀI VỊ      

Bài vị được viết ba hàng bằng chữ Hán, dịch âm ra quốc ngữ như sau:

(hàng chữ chính giữa ghi là)

-Từ Lâm Tế Chánh Tông Thiên Tứ Đường Thượng Tam Thập Lục Thế Húy Pháp Thân Hiệu Đạo Minh Hòa Thượng Mạo Tòa.

Dịch: bài vị thờ Hòa Thượng đời thứ ba mươi sáu dòng Lâm Tế Chánh Tông ở chùa Thiên Tứ, húy Pháp Thân, hiệu Đạo Minh.

(hàng chữ phía bên phải ghi là)

-Sanh Giáp Tý niên, muội nguyệt, nhật thời lai

Dịch: Sanh năm Giáp Tý, không biết rõ ngày giờ.

(hàng chữ phía bên trái ghi là)

-Tịch Quý Hợi niên, thập nhị nguyệt, thập ngũ nhật khứ

Dịch: tịch vào ngày rằm than chạp năm Quý Hợi.

 

B- SỰ THẨM ĐỊNH NIÊN HẠN TRỤ THẾ

Có nhiều người đời sau chưa rõ thực hư, thậm chí còn người có ngờ vực đến sự trụ thế lâu dài (sống lâu) của Đại lão thiền sư Pháp Thân Đạo Minh có đúng như vậy hay không? Vì vậy, việc chứng minh năm sanh và năm tịch của Tổ Đạo Minh là cần thiết, nên đề cập đến sau đây:

1.      NĂM SANH:

Căn cứ theo bài vị của tổ Đạo Minh là năm Giáp Tý, ta biết được ngài sanh trước năm Giáp Tý (1744) là 60 năm (đúng một hoa giáp) tức vào năm Giáp tý (1684). Giả thiết, nếu ngài sanh vào năm Giáp Tý (1744) thì làm gì có việc vừa mới sanh ra đời, ngài đã làm tở khai sơn được ư?

2.      NĂM TỊCH:

Căn cứ theo bài vị của Tổ Đạo Minh là tịch năm Quý Hợi (gồm có các năm 1743 và 1803). Giả thiết nếu ngài tịch vào năm Quý Hợi (1743) thì ngài còn đâu nữa để đứng ra khai sơn chùa Thiên Tứ vào năm Giáp Tý (1744)? Như vậy là vô lý. Vì thế ta có thể xác minh được việc Tổ viên tịch vào năm Quý Hợi (1803) là đúng sự thật. Lại nữa, hiện nay căn cứ nhiều tài liệu sách báo viết về Tổ Đạo Minh và việc khai sơn chùa Thiên Tứ vào năm Giáp Tý (1744) là đồng nhất, nên ta có thể khẳng định chắc chắn rằng Tổ viên tịch vào năm Quý Hợi (1803) là có cơ sở. Như vậy, Ngài đã trụ thế đến 119 năm (cũng có nghĩa là 120 tuổi) là hoàn toàn chính xác.

 

Theo Hàn Linh Giang

(Nơi Địa Linh Ươm Bồ Tát)

 

TỔ CHƠN HƯƠNG – THIÊN QUANG

(1862-1939)

 

Tổ Chơn Hương hiệu Thiên Quang thế danh là Phạm Huyền Túc, thuộc phái Lâm Tế đời thứ 40, thế hệ thứ 7 truyền thừa theo dòng kệ Tổ Minh Hải – Pháp Bảo (chùa Chúc Thánh - Quảng Nam).

Ngài sinh ngày 28 tháng 12 năm Nhâm Tuất – 1862 (niên hiệu Tự Đức thứ 15) tại huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên. Thân phụ là ông Phạm Dĩ, thân mẫu là bà Nguyễn thị Điền.

Ngài là đệ tử xuất gia và đắc pháp với Hòa thượng Ấn Chánh - Tổ Tông - Huệ Minh ở chùa Bảo Sơn (Tuy An, Phú Yên).

Do ảnh hưởng với thời cuộc chiến tranh, vào khoảng năm 1893 Ngài đã vào Vạn Ninh tiếp tu học và sau đó trụ trì chùa Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa).

Căn cứ vào những văn kiện còn lưu giữ cho đến ngày nay đã giúp chúng ta rõ được công hạnh của tổ Chơn Hương-Thiên Quang đã có nhiều công đức rất lớn với tổ đình Linh Sơn kể từ năm 1902.

Năm Ất Tỵ - 1905, Ngài là Hòa Thượng Yết Ma của Tổ đình Linh Sơn đã phát tâm đúc tượng Phật cho chùa Linh Sơn (xem Văn Kiện ngày 10 tháng 4)

Năm Đinh Mùi -1907, ngài khai sơn chùa Báo Ân (Vạn Khánh, Vạn Ninh, Khánh Hòa).

Năm Mậu Thân -1908, đệ tử Như Đạt - Hoằng Thâm cung thỉnh ngài chứng minh chú nguyện đúc đại hồng chung tại chùa Long Sơn (Phú cang - Vạn Giã)

Năm Ất Mão -1915, ngài kiêm nhiệm trụ trì chùa Hội Phước (Nha Trang).

Năm Bính Thìn -1916, Tổ Chơn Hương tái tạo cổng tam quan và ghi câu đối trong đó có chữ “Hội Phước thiền môn”:

Hội Tấn Nhơn Duyên Phước Thiền Khai Tế Độ Môn

Năm Đinh Tỵ -1917, giao chùa Hội Phước cho Tổ Thanh Chánh - Phước Tường thừa kế, Ngài về chùa Linh Sơn trùng tu lại tổ đình và mở trường dạy tăng chúng tu học.

Năm 1922, Ngài tiếp tục phát tâm tôn tạo tượng Tam Thế cho tổ đình Linh Sơn.

Năm Đinh Sửu – 1937, ngài làm Hòa thượng Đàn đầu đại giới đàn ở chùa Linh Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hoà).

Ngày 26 tháng chạp năm Mậu Dần -1939 (niên hiệu Bảo Đại thứ 14) Hòa Thượng Chơn Hương – Thiên Quang viên tịch tại chùa Linh Sơn , trụ thế 77 năm. Đồ chúng lập tháp ngài trong khuôn viên Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh)

Huynh đệ của Ngài Chơn Hương đều là bậc danh tăng như:

- Ngài Chơn Tín - Đạo Thành - Pháp Hỷ, kế thừ chùa Từ Quang (tức chùa Đá Trắng, Phú Yên), trụ trì chùa Linh Sơn (Tuy An, Phú Yên). Ngài rất uyên thâm giáo lý Phật Đà và tinh thông Nho Giáo, là vị pháp sư nổi tiếng thời bấy giờ. Cầu học với Ngài có: Hòa Thượng Phước Hụê ở chùa Thập Tháp Di Đà và Hòa Thượng Phổ Huệ ở chùa Tịnh Lâm (Bình Định).

- Ngài Chơn Chánh - Đạo Tâm - Pháp Tạng, trụ trì chùa Phước Sơn (Đồng Xuân, Phú Yên).

- Ngài Chơn Thật - Đạo Thông - Pháp Ngãi, trụ trì chùa Từ Quang (Tuy An, Phú Yên).

- Ngài Chơn Thành - Đạo Đạt - Pháp Ngữ, trụ trì chùa Từ Quang (Tuy An, Phú Yên).

- Ngài Thanh Đương – Thiên Đường, khai sơn chùa Long Hòa (Vạn Ninh, Khánh Hòa).

- Ngài Chơn Niệm kế thừa chùa Trùng Khánh.

- Ngài Chơn Công-Viên Giác (chùa Linh Sơn, Vạn Ninh).

- Đệ tử đắc pháp với ngài Chơn Hương khá đông, nhưng hiện nay chỉ mới biết được quý ngài sau đây:

- Ngài Như Đạt-Giải Nghĩa-Hoằng Thâm, khai sơn chùa Long Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa) Bổn sư của Bồ Tát Thích Quảng Đức.

- Ngài Như Nghĩa – Không Niệm - Tấn Hạnh, Trú trì Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ. (Núi Đất, “Địa Sơn”, Ninh Hòa, Khánh Hòa).

- Ngài Hoằng Chất, trụ trì chùa Trung Long (Vạn Ninh) và chùa Phước Long (Khánh Hòa).

- Ngài Ấn Tuệ - Hoằng Điển (chùa Hội Phước).

- Ngài Tín Quả - Hoằng Đạo (chùa Hội Phước). Hoằng Phước, Hoằng Ứng trụ trì chùa Long Thạnh, Hoằng Nguyện chùa Linh Sơn (Vạn Ninh).

 

(Tổ sư Chơn Hương – Thiên Quang là vị Sư ông của Bồ-tát Thích Quảng Đức)

 

TỔ NHƯ ĐẠT - GIẢI NGHĨA HOẰNG THÂM 

(1857 -1921)

 

Tổ thượng Như Hạ Đạt Tự Giải Nghĩa hiệu Hoằng Thâm. Họ Nguyễn, được gọi là Nguyễn Văn Giá, sinh ngày 01/05 năm Đinh Tỵ (1857) quê tỉnh Phú Yên. Tương truyền khi xuất gia Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền học…Sau khi xuất gia Tổ đắc pháp với Sư tổ Chơn Hương - Thiên Quang tại tổ đình Linh Sơn đời 40 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Tổ Hoằng Thâm nối pháp đờí, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.

Trong khoảng đời vua Tự Đức tức những năm 1848 – 1883. Tổ cùng theo với cả gia đình nhập tịch vào làng Phú Cang, nội Tổng Phước Tường, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Nay là thôn Phú Cang, xã Vạn Phú, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Nhờ thế, bà Nguyễn thị Nương (thân mẫu của Bồ tát Thích Quảng Đức) do cùng đi theo người anh ruột của mình là Nguyễn văn Giá (tức Tổ Hoằng Thâm) từ Phú Yên vào đến Vạn Ninh, Khánh Hòa để lập nghiệp mới có duyên gặp gỡ và kết hôn cùng với ông Lâm Hữu Ứng (thân phụ của Bồ tát Thích Quảng Đức).

Năm 42 tuổi (1898) tháng 9 niên hiệu Thành Thái thứ 10. Tổ Hoằng Thâm xây xựng chùa Thánh Kinh, thờ đức Quan Thánh Đế quân…là ngôi chùa quy tụ cùa những Phật tử người Việt gốc Hoa.

Cũng trong tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (1898) Tổ Hoằng Thâm có mua một phần ruộng 2 mẫu ta tại thôn Vinh Huề tục danh là xứ Đồng Bé.

(Giấy tờ còn lưu giữ cho đến ngày nay)

Năm 46 tuổi Nhâm Dần (1902) cùng thời kỳ vua Thành Thái thứ 14, thân hào Võ Trung cùng Phật tử bổn đạo trong làng Phú Cang cung thỉnh Tổ Hoằng Thâm về làm trú trì chùa Long Sơn và cúng tiền của để Tổ có phương tiện xây dựng lại ngôi chùa này. Thế là toàn bộ pháp bảo tài sản và ruộng đất của chùa Thánh Kinh, Tổ đem sáp nhập vào cho chùa Long Sơn. Trước chùa thờ Quan Thánh, Thần… nay hoán cải chùa thờ Phật, Tổ… trừ một ít ruộng Tổ trích ra đem cúng cho các chùa.

-  Tổ trích 3 mẫu hiến cúng cho thầy mình là Tổ Chơn Hương –Thiên Quang tại tổ đình Linh Sơn (Hiền Lương,Vạn Ninh).

-   Tổ trích 3 mẫu hiến cúng cho chùa cũ Long Hòa cùng làng (Phú Cang, Vinh Huề, Vạn Ninh). Nơi đây ngày trước Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền hoặc đi đi về về vì nơi đây gần Hòn Chảo – Hóc Chim nơi Tổ luyện đạo, và Tổ đi vân du hành đạo (trị bệnh…) cũng như làm Phật sự tại vùng này.

-   Phần ruộng còn lại của chùa Thánh Kinh, Tổ sáp nhập vào chùa Long Sơn.

-  Tổ có người đệ tử Bùi văn Quang cúng linh cho chùa Long Sơn 6 mẫu ta ruộng tại Gò Lăng.

-  Tổ cùng ông Lý trưởng Nguyễn Hữu Lộc xin khai khẩn 15 mẫu ta thổ cư tại hòn Núi Cấm (làng Truông) nay là núi Chùa, đất già lam, rồi Tổ tiếp tục xây dựng chùa Long Sơn cho đến năm Duy Tân thứ 2 (1908) thì xong. Toàn vùng núi Cấm biến thành khu già Lam thắng cảnh.

Công đức khai sáng và tôn tạo của Tổ Hoằng Thâm thật là:  

Tổ ấn hào quang mãi đượm hồng.

Pháp thân lồng lộng như hư không

Cõi trần nhẹ gót trong phương tiện

Bất biến tùy duyên độ chúng sinh

Đạo pháp trường tồn điều hệ trọng

Ngày sau còn mãi một Thánh Tăng. 

Cuộc đời của Tổ Hoằng Thâm là tấm gương soi sáng, Ngài đã mở ra một trang sử mới bắt đầu cho chùa Long Sơn. Công đức tu hành và công đức hoằng truyền đạo pháp của Tổ Hoằng Thâm đã nói lên qua các triều đại. Vua chúa cảm phục ban phong sắc tứ cho chùa. Còn quần chúng Phật tử những  người có phẩm vật triều đình cho đến các vị lý trưởng thân hào nhân sĩ và nhân dân trong làng đều kính ngưỡng qui phục. 

Một mai thân xác tiêu tan

Danh thơm còn ở thế gian muôn đời 

Cuộc đời hoằng hóa độ sinh của Tổ Hoằng Thâm đã đến lúc công  viên quá mãn. Vào ngày 23/11 năm Tân Dậu (1921), Tổ đã xả báo an tường, thâu thần thị tịch trụ thế 65 tuổi.

Đồ chúng lập bảo thờ Ngài trong khuôn viên chùa Long Sơn.

Tương truyền trước khi xuất gia, Tổ đã luyện tập các pháp môn huyền học. Dân chúng trong vùng Vạn Ninh còn kể khá nhiều mẫu chuyện ly kỳ lý thú: 

Chuyện kể rằng:

Một buổi sáng hôm đó vì có người ở đảo Đầm Môn mắc bệnh thiên thời rất nguy kịch, các lái ghe và người nhà tìm đến chùa Thánh Kinh, để cầu Tổ trị giùm bệnh. Tổ nhận lời nhưng từ chối không chịu đi cùng ghe với họ. Tổ bảo rằng các ông bà cứ việc đi về trước, tôi sẽ đi sau. Họ giải thích rằng: Nếu thầy không đi cùng với các con chuyến này, thì sẽ không còn chuyến ghe nào khác để đưa thầy đi cả! và dẫu họ năn nỉ thế nào, Tổ cũng không thay đổi lập trường của mình. Họ đành thất thểu ra về mà lòng họ rất phân vân và lấy làm thất vọng. Nhưng họ quá đổi ngạc nhiên là không ngờ họ chèo ghe về tới nhà đã thấy Tổ có mặt ở đó hồi nào rồi! Hỏi ra họ được biết Tổ đã giúp trị cho người bệnh đã xong. Tổ kiếu từ về. Họ mời Tổ ở lại để sáng hôm sau họ sẽ đưa Tổ về, nhưng Tổ lại tiếp tục từ chối. Họ vẫn dư hiểu rằng không có chuyến ghe nào trong chiều hôm đó về đất liền nữa cả. Người ta thấy Tổ đi về hướng bãi đỗ ghe và không bao lâu sau đó, không còn thấy tông tích của Tổ ở đó nữa.

Tổ đã từng luyện cọp ở núi Hóc Chim (vùng Hòn Chảo - Vạn Ninh) và cưỡi cọp từ núi Hóc Chim về chùa Long Sơn và đôi khi đi ngược lại (đoạn đường 7 cây số). Các hào lão ngày nay còn kể lại rằng thỉnh thoảng vào ban đêm ở vùng núi Cấm khu chùa kể cả nhà dân bỗng dưng lửa cháy cả làng. Người dân la inh ỏi nhưng đến sáng hôm sau thì thấy tình trạng cảnh vật vẫn còn nguyên. Có điều lạ hơn sau khi thấy cháy vùng này, như thế, các loài rắn, rít, kể cả cọp dữ cũng không thấy vãng lai ở nơi này nữa… Còn nhiều chuyện lạ có thật nữa nhưng kể sao cho hết!.

Phép tu mật giáo của tổ Hoằng Thâm có truyền lại cho Bồ tát Thích Quảng Đức, những năm hành đạo của Bồ tát Thích Quảng Đức ở xứ Trầm Hương. Bồ tát hành đạo cũng như chữa bệnh… giống như tổ Hoằng Thâm vậy (một số tư liệu về tổ Hoằng Thâm như các sách chữa bệnh, sách thiên văn, địa lý và huyền môn học… của Tổ cũng để lại cho Bồ tát Thích Quảng Đức còn lưu lại ở Tổ đình sắc tứ Thiên Tứ).

Tổ Hoằng Thâm, vừa là cậu ruột, vừa là cha nuôi, là vị Bổn Sư của Bồ tát Thích Quảng Đức: Vì thế cậu bé Lâm Văn Tuất được đổi tên lại là Nguyễn Văn Khiết xuất gia tại chùa Long Sơn lúc 7 tuổi với pháp danh Thị Thủy tự Hạnh Pháp, hiệu Quảng Đức

Đồng sư với Bồ tát còn có các vị mà hiện tại được biết:

- Thiền sư Thị Hớn - Hạnh An – Nhơn Thọ (1881 -1947) kế thế trú trì chùa Long Sơn - Vạn Ninh)

- Thiền sư Thị Cảnh - Hạnh Phước – Viên Minh (1881 -1967) trú trì chùa Pháp Hải, Ninh Hòa.

(Tổ Hoằng Thâm là Bổn sư của Bồ tát Thích Quảng Đức)

 

TỔ THANH CHÁNH - PHƯỚC TƯỜNG (1867 – 1932)

 

Tổ Thanh Chánh tự Quảng Đạt hiệu Phước Tường thuộc phái Lâm Tế đời thứ 41, truyền thừa theo dòng kệ của Tổ Liễu Quán.

Ngài sinh ngày 15/05 năm Đinh Mão (niên hiệu Tự Đức thứ 20 – 1867) tại Phú Yên.

Năm Ất Dậu (1885) ngài cùng với tầng lớp thanh niên nho sĩ tích cực hưởng ứng phong trào Cần Vương. Sau đó đến quy y với Tổ Hải Nhiễu – Thiên Ân tại chùa Khánh Long (Phú Yên). Ở đây một thời gian, ngài được bổn sư gởi đến tham học với các bậc thiền sư thạc đức đương thời ở Phú Yên như Tổ Pháp Hỷ (chùa Từ Quang), Tổ Trí Hải (chùa Thiên Thai Sơn Thạch).

Năm Quý Sửu (1913) Ngài vào chùa Kim Long (Ninh Quang, Ninh Hòa, Khánh Hòa) mở trường kỳ truyền trao giới pháp.

Năm Đinh Tỵ (1917) ngài về chùa Hội Phước trụ trì thay thế Hòa Thượng Chơn Hương .

Trong thời gian Ngài kế thừa có cụ Hồng Lô họ Nguyễn (tục gọi là ông Ấm Mười, được học giới xưng tụng là Nguyễn Đại Nhơn) là một Phật tử đạo tâm nhiệt thành đã cùng Ngài thực hiện nhiều Phật sự như đúc chuông, gia trì chú tạo tượng Phật và ấn tống nhiều kinh sách v.v

Khoảng năm 1920, Tổ Thanh Chánh giao chùa Hội Phước cho đệ tử Nhơn Hiền kế thừa rồi về chùa Thiên Bửu thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa) chăm lo Phật sự và liên tục mở các đại giới đàn truyền trao giới pháp. Ngài đã độ rất nhiều đệ tử. Thời gian ngài đảm trách trụ trì chùa Hội Phước là 3 năm (1917-1920).

Ngày 28/07 năm Nhâm Thân (niên hiệu Bảo Đại thứ 7 – 19/08/1932) ngài viên tịch tại chùa Thiên Bửu thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa) trụ thế 66 năm.

Đồ chúng lập tháp ngài trong khuôn viên chùa Thiên Bửu Thượng (Ninh Hòa).

Đệ tử đắc pháp với ngài rất đông, hiện nay chỉ tìm được một số vị có chữ “Nhơn” sau đây:

 

1- Trừng Hoằng – Nhơn Nguyện, chùa Linh Quang, núi Đại An (Diên Khánh).

2- Trừng Thông – Nhơn Duệ, khai sơn chùa Thiên Quang (Diên Khánh).

3- Trừng Thọ - Nhơn Thị, trụ trì chùa Phước Long (Ninh Hòa).

4- Trừng Tương – Nhơn Sanh, thừa kế Tổ đình Thiên Bửu Thượng và chùa Phụng Sơn (Ninh Hòa)

5- Thị Thọ - Nhơn Hiền, thừa kế Tổ đình Sắc tứ Hội Phước (Nha Trang).

6- Như Chất – Nhơn Trực, khai sơn chùa Từ Vân (Nha Trang), trụ trì chùa Long Quang, chùa Linh Phong (Nha Trang).

7- Quảng Đức - Nhơn Trí, đến Thiên Tứ rồi cất thảo am ẩn tu 3 năm kể từ 1927 cho đến 1935 khai sơn chùa Thiên Lộc (Núi Đất- Điạ Sơn). Chùa Pháp Hải (Ninh Thọ 1940). Chùa Chi Hội (Trụ sở Hội An Nam Phật học 1942….) và Trú trì trùng tu chùa Sắc tứ Thiên Ân (Ninh Đông 1933). Tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ (Ninh Hà – 1936). Chùa Long Phước (Ninh Quang – 1959) Ninh Hòa. Và tổ đình Sắc Tứ Linh Sơn (Hiền Luơng-Vạn Ninh) v.v…

(Xem phần về 14 ngôi chùa của Bồ Tát Thích Quảng Đức)

8- Tâm Trung – Nhơn Thứ, Khai sơn chùa Linh Quang (Đà Lạt)

9- Tâm Điệu – Nhơn Hưng, khai sơn các chùa Thanh Hải Thanh Sơn, Hòa Vân, Khánh Phước, trụ trí chùa Khánh Long (Cam Ranh), kế thừa chùa Linh Quang (Diên Khánh), chùa Thiền Sơn (Ninh Hòa).

10- Nguyên Châu – Nhơn Bảo (Tục Châu – Vĩnh Thọ) trụ trì chùa Vĩnh Long (Phú Yên), kế thừa chùa Linh Sơn Trường Thọ (núi Tà Cú), khai sơn chùa Pháp Bửu Đường (Bình Thuận).

11- Trừng Dung – Nhơn Lý, trụ trì chùa Hoa Quang (Nha Trang, Khánh Hòa).

12- Chơn Du – Nhơn Thiện, trụ trì chùa Đông Phước (Nha Trang, Khánh Hòa).

13- Trừng Văn – Nhơn Chi, khai sơn chùa Khánh Long (Cam Ranh, Khánh Hòa)

14- Trừng Khánh – Nhơn Thụy, trụ trì chùa Hải Đức (Nha Trang, Khánh Hòa)

15- Trừng Nghệ - Nhơn Sơn, khai sơn chùa Thiền Sơn (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

16- Trừng Thanh – Nhơn Khiết, kế thừa chùa Phước long (Cam Ranh, Khánh Hòa)

17- Trừng Hành – Nhơn Lực, kế thừa chùa Thiên Bửu Thượng (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

18- Nhơn Duyên, trụ trì chùa Phước Thọ (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

19- Nhơn Hòa, trụ trì chùa Long Phước (Ninh Hòa, Khánh Hòa)

20- Thị Hán – Nhơn Thọ, thừa kế chùa Long Sơn (Vạn Ninh, Khánh Hòa)

21- Nhơn Hoằng, trú trì chùa Thạch Sơn Cổ Tự 1935 (Núi Hòn Hèo, Tiên Du, Ninh Hòa, Khánh Hòa)

(Tổ Thanh Chánh - Phước Tường là vị bổn sư cầu pháp của Bồ-tát Thích Quảng Đức)

 

 

 

TIỂU SỬ BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC 

(1897 -1963)

 

Hòa thượng Thích Quảng Đức, thế danh Lâm văn Tuất, sinh năm 1897 (Đinh Dậu) tại thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ngài sinh trong một gia đình có 7 anh chị em, thân sinh là cụ ông Lâm Hữu Ứng và cụ bà Nguyễn Thị Nương.

Lên 7 tuổi, Ngài được song thân cho đi xuất gia thụ giáo với Hòa Thượng Như Đạt Giải Nghĩa Hoằng Thâm, trụ trì chùa Long Sơn, thuộc dòng Thiền Chúc Thánh, là cậu ruột, được Hòa thượng nhận làm con và chính thức đổi tên họ là Nguyễn Văn Khiết.

Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát được pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hạnh Pháp, pháp hiệu Quảng Đức. Khi thọ giới xong, Ngài phụ trách nhiệm vụ trì sự chùa Long Sơn, để giúp cho Bổn sư của mình lúc ấy đã già. Khi bổn sư viên tịch vào năm 1921 và thọ tang xong, Ngài phát nguyện nhập thất tu ba năm trên ngọn Núi Đất ở Ninh Hòa. Về sau, vào năm 1935 Ngài có lập trên núi này một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc.

Rời Núi Đất, Ngài vân du hóa đạo một mình với chiếc bình bát theo hạnh đầu đà. Hai năm mãn nguyện, Ngài lại quay về nhập thất tại chùa sắc tứ Thiên Ân ở Ninh Hòa.

Năm 1936, Hội An Nam Phật Học ra đời, Đại lão hòa thượng Hải Đức đến nơi Ngài đang nhập thất thăm hỏi, mời Ngài nhận chức Chứng minh Đạo sư cho Chi hội Phật học Ninh Hòa. Ba năm sau, ngài được thỉnh cứ giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, Ngài đã kiến tạo và trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.

Năm 1945, rời Khánh Hòa vào Nam, Ngài hành đạo khắp các tỉnh Sài Gòn, Gia Định, Định Tường, Tây Ninh, Bà Rịa xuống đến Hà Tiên. Ngài cũng đã từng sang Nam Vang lưu trú ba năm, vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu kinh điển Pãli và Phật giáo Nam Tông.

Lúc mới vào Nam, Ngài đã lưu trú tại chùa Long Vĩnh (Quận 3-Sài Gòn) một thời gian dài, nên dân chúng quen gọi Ngài là hòa thượng Long Vĩnh, Ngài còn có hiệu là Thích Giác Tánh. Suốt thời gian hóa độ chúng sinh, bất cứ nơi nào Ngài cũng dốc lòng làm tròn nhiệm vụ của một sứ giả Như Lai, kế tục lại các thế hệ Tổ sư truyền giáo, chăm lo tô bồi công đức, hoằng dương chánh pháp.

Năm 1953, ngài được thỉnh cử vào chức vụ Phó Trị Sự và Trưởng ban Nghi lễ Giáo hội Tăng già Nam Việt, đồng thời lãnh nhiệm vụ trú trì chùa Phước Hòa ở Bàn Cờ, là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt.

Năm 1958, khi trụ sở của Hội dời về chùa Xá Lợi, Ngài nhận thấy tuổi già sức yếu, và với bản nguyện: “Ưng vô sở trụ nhi sinh ky tâm”, Ngài xin thôi mọi chức vụ để có đủ thì giờ an tâm tu niệm. Tuy nhiên vốn có tâm từ bi, Ngài vẫn để cho gót chân vân du hành đạo ghi dấu nhiều nơi, khi thì chùa Quan thế Âm ở Gia Định, lúc lại tới chùa Long Phước, xã Ninh Quang, tỉnh Khánh Hòa, dùng mọi phương tiện thích ứng hướng dẫn hậu sinh mê mờ quay về chánh đạo.

Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam vào năm 1963 đòi tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, tuy tuổi đã già, Ngài vẫn tích cực tham gia. Chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm ngày một nặng nề và khốc liệt. Máu Phật tử đã đổ ở Đài Phát thanh Huế. Chùa chiền bị phong tỏa, Phật tử bị bắt bớ khắp nơi. Để thức tỉnh ông Ngô Đình Diêm và tập đoàn của ông đang đắm chìm trong vô minh sớm thỏa mãn 5 nguyện vọng của Phật giáo đồ, đồng thời để cho thế giới nhận thấy cuộc đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng của Phật tử Việt Nam là chính đáng. Ngài đã quyết định thực hiện tâm nguyện của mình là được thiêu đốt nhục thân để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo Pháp, bởi vì Ngài nhận ra rằng thân ngũ uẩn này chỉ là giả tạm, chỉ có làm sao cho Chánh pháp được trường tồn mới là hạnh nguyện cao cả để Ngài phục vụ chân lý bất diệt.

Ngày 24 tháng 4 năm Qúy Mão, tức ngày 11/06/1963, cuộc diễu hành rước di ảnh các Thánh tử đạo của trên 800 vị Thượng tọa, Đại đức, Tăng ni và Phật tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễn hành tiến đến ngã tư đường Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt. Ngài từ xe hơi bước xuống, tự tẩm xăng thấm ướt mấy lớp cà sa, ngồi kiết già trên mặt đường, tự châm lửa giữa hàng mấy trăm Tăng Ni đang vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa bốc cao, phủ kín thân mình, Ngài vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa.

Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn Tam muội.

Nhục thân của Ngài được rước về quàn tại chùa Xá Lợi hơn một tuần lễ. Đến ngày 20/06/1963, Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo, cùng tất cả chư Tăng Ni và Phật tử tổ chức lễ đưa rước về An dưỡng địa, cử hành trọng thể lễ Trà tỳ.

Sau khi hỏa thiêu suốt ngày, trong lò thiêu đến 4000°C, xương thịt cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần thứ hai vẫn không cháy.

Cái chết phi phàm của Bồ tát Thích Quảng Đức đã làm chấn động dư luận khắp hoàn cầu. Báo chí thế giới đăng tin trên trang đầu cùng hình ảnh tự thiêu của Ngài. Việc Ngài tự thiêu được đồng bào cả nước biết ngay chiều hôm đó, và đã gây xúc động sâu xa trong mọi tầng lớp, không phân biệt tôn giáo. Sự hy sinh vì đạo của Ngài đã làm cho Ngô Đình Diệm vô cùng hoảng hốt và lo sợ, tìm mọi cách đối phó với Phật giáo bằng những thủ đoạn thâm độc hơn, đồng thời nó cũng đẩy mạnh phong trào đấu tranh của Phật giáo cuồn cuộn như sóng thần để đi đến kết thúc là ngày 01/11/1963, chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô sụp đổ, Phật giáo Việt Nam thoát qua một thoát nạn.

Trước khi tự thiêu Ngài có để lại một bức thư gọi là Lời nguyện tâm quyết, nói rõ chủ định và nguyện vọng của Ngài. Điều đáng ghi nhớ là toàn văn bức thư này đã không chứa đựng một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào, mà trái lại còn toát lên tình thương và hy vọng:

Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, trụ trì chùa Quan Thế Âm, Phú Nhuận, Gia Định.

Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.

Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại đức, Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành ý nguyện sau đây:

1/ Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận 5 nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.

2/ Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất diệt.

3/ Mong nhờ hồng ân Đức Phật gia hộ cho chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác gian.

4/ Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc…

Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.

Tôi thiết tha kêu gọi chư Đại đức, Tăng Ni, Phật tử nên đoàn kết nhất trí để bảo toàn Phật pháp.

NAM MÔ ĐẤU CHIẾN THẮNG PHẬT.

Tỳ khưu Thích Quảng Đức kính bạch”

Ngoài ra, Ngài còn để lại 5 bài kệ, đặn dò bổn đạo và đệ tử sống theo Bát chánh đạo và Lục hòa, đoàn kết và giữ vững niềm tin trong đạo pháp.

Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, Ngài đã khai sơn và đại trùng tu được 17 ngôi chùa.cảnh chùa cuối cùng Ngài trú trì là chùa Quan Thế Âm, tại Gia Định, Sài Gòn. Như vậy, Ngài đã có công xây dựng và trùng tu cả thảy 31 ngôi chùa ở miền Trung và miền Nam Việt Nam.

Để ghi nhớ công hạnh của Ngài, sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Hội đồng lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Đạo trong một phiên họp trước ngày Phật Đản năm 1964, đã đồng thanh quyết nghị suy tôn Ngài pháp vị Bồ tát. Sau 1975, đường Nguyễn Huệ cũ chạy qua trước chùa Quan Thế Âm được đổi thành đường mang tên Thích Quảng Đức.

Quả tim Bồ tát Quảng Đức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình tự do và bình đẳng nhưng cũng bất khuất trước nạn cầm quyền và áp bức. Trái tim ấy trở thành biểu tượng tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang đấu tranh mãi cho tự do hòa bình, hạnh phúc nhân sinh. 

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM soạn thảo

 

THƠ DI BÚT CỦA HÒA THƯỢNG QUẢNG ĐỨC

 

Kệ thiêu thân cúng dường vì Chánh Pháp

 

Kính dâng Thập phương chư Phật:

Đệ tử hôm nay nguyện đốt mình

Làm đèn soi sáng nẻo vô minh

Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác

Tro trắng phẳng san hố bất bình

Thân cháy nát tan ra tro trắng

Thần thức nương về giúp sinh linh

Hỡi ai mộng ảo đang còn mộng

Hãy gấp tỉnh đi kẻo giật mình

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Dâng chư Hiền Thánh Tăng:

Phật giáo sử vàng máu thay son

Than ôi! Qủy kế họ vẫn còn

Quyết diệt suy tàn nền Chánh Pháp

Làm cho Tăng, Tín phải chết mòn

Vì sự bất công tôi thiêu xác

Khói hồn nguyện độ kẻ hàm oan

Kính chúc Tăng, Ni tâm dũng tiến

Chánh Pháp ngày mai phải trường tồn.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Cùng toàn thể tín đồ Phật giáo:

Cùng hang Phật tử tại gia

Hãy quên bản ngã bỏ cái ta

Gấp sửa thân tâm vì đại cuộc

Ngàn năm sử Việt vẫn Phật gia

Thân tôi dù cháy linh thiêng máu

Thần thức tôi luôn giúp đạo nhà

Đã mang danh thể con dòng Thích

Bi, Trí, Hùng sao chẳng đem ra.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Cùng hàng Phật tử quy y, thế độ và xuất gia:

Thầy đã đến lúc biệt các con

Ba mươi năm hạnh nguyện đã tròn

Những gì đáng độ Thầy đã độ

Thầy tranh chánh pháp lúc mất còn

Gia Định Sài Gòn hỡi các con

Hà Tiên, Cai Lậy Thầy vẫn còn

Nam Vang, Núi Lớn Thầy ghi dấu

Khánh Hòa đệ tử giữ ấn son.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

 

Xuất Kệ Vân:

Nền Phật dò lần kiếp tẩy sang

Phủi tay rửa sạch nợ trần gian

Tránh đàng danh lợi tìm nơi tịnh

Niệm chữ từ bi lánh cửa quan

Chuỗi hột tay lần khuya với sớm

Kệ kinh tụng niệm vái rồi van

Một lòng thành kính lòng mình nguyện

Tịnh độ từ đây rất ở an.

8-4 nhuần Qúy Mão (1963)

Tỳ Khưu Thích Quảng Đức

 

 

Hiện nay bài vị Bồ Tát đang thờ tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ.

 

THIỀN SƯ THÍCH HƯNG TỪ
THỊ LẠC – HÀNH THIỆN 

(1911-1991)

 

Thiền sư Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn An, sanh ngày 01 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sanh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ Ngài là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh Thị Bửu. Từ nhỏ ngài đã được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của nhà Phật, nên ngài sớm mộ cửa thiền.

Duyên lành đã đến, ngày mùng 08 tháng 02 năm Mậu Ngọ (1918), khi vừa bảy tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia đầu sư với hòa thượng Thích Hòa Phước, trụ trì chùa Thiên Long. Được bổn sư ban cho Pháp danh Thị Lạc tự Hành Thiện, thuộc đời 42 tông Lâm Tế, dòng Chúc Thánh.

Nhờ túc duyên, ngài rất thông minh đỉnh đạt. Ngay từ nhỏ, từ hai thời công phu, bốn quyển luật Tỳ Ni cho đến các bộ kinh Địa Tạng, Thủy Sám ngài đều thuộc lòng. Ngoài sự dạy dỗ của bổn sư, ngài còn được tham học giáo điển với các vị Cao Tăng như Hòa thượng Từ Pháp chùa Thiên Tôn.

Năm 20 tuổi (1931) ngài thọ Tam đàn cụ túc tại Đại giới đàn chùa Linh Sơn do Đại lão Hòa Thượng Thích Hoằng Hóa làm Đàn đầu thí giới và được Phú pháp hiệu Hưng Từ. Sau khi thụ giới cụ túc xong, ngài tiếp tục học khóa Du Già Mật Tông với Hòa thượng Linh Quang và được Hòa thượng truyền trao pháp ấn.

Năm 23 tuổi (1934) ngài được Chư tôn túc trong hội Địa Tạng Phổ lúc bấy giờ giới thiệu và gửi học Tam Tạng giáo điển tại Phật học đường Tây Thiên ở Huế trong ba năm kể từ năm 1934 -1936. Nhờ tâm cầu học vững bền, chẳng những ngài uyên thâm kinh điển mà còn thấu triệt lý tánh diệu dụng của khoa Du Già Chẩn Tế.

Sau khi tham học với các bậc Cao Tăng ở Huế và Phú Yên xong, nhằm lúc phong trào chấn hưng Phật Giáo đang dấy lên mạnh mẽ trên khắp ba miền đất nước, ngài nhận thấy đây là một cơ duyên thuận lợi để phục hưng chánh Pháp.

Trong những năm 1936 -1940 phong trào chấn hưng Phật giáo lan rộng, nơi nơi đều có giáo lý Từ bi ban rải, ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức mời về tham gia trong công cuộc hoạt động truyền bá Phật Pháp tại nhiều nơi. Riêng ở Khánh Hòa, đặc biệt là ở Ninh Hòa có tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (Núi Đất, Địa Sơn, Mỹ Trạch). Sau đó ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức giao trọng trách kế vị trú trì tổ đình Thiên Tứ. Còn ở Tuy An (Tuy Hòa) thì có chùa Liên Trì, chùa Cổ Lâm. Riêng hoạt động tại Núi Đất, Mỹ Trạch, Ninh Hòa trong khoảng thời gian kể trên gặp được rất nhiều thuận lợi. Tại đây đã mở nhiều khóa Trường hạ và Phật học, do ngài làm giáo thọ là Pháp sư chủ giảng, có nhiều bậc Hòa Thượng nổi tiếng sau này như Hòa Thượng Vĩnh Thọ, Nhơn Duệ, Nhơn Thị, Thủ Thiên… là những học viên xuất sắc thời đó. Số Tăng tín tham gia tu học tại đây có khoảng gần 100 vị từ các tỉnh ở miền Nam và miền Trung cũng như ở tại Ninh Hòa và Khánh Hòa.

Kể từ năm 1940 trở đi, vì tình hình chính trị bất ổn, hoạt động Phật sự tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ bị gián đoạn, các Tăng học đường tạm thời đóng cửa, nhưng ngài luôn tìm mọi cách tổ chức các lớp tu học, giảng kinh luật dưới hình thức an cư-kiết hạ. Mở Đại giới đàn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Tuy để đào tạo các bậc Tăng tài hữu ích cho Đạo sau này như các Hòa thượng Ấn Tâm, Viên Quang, Đồng Huy và giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Đặc biệt là ở vùng đất Khánh Hòa. Vào năm 1942 ngài mở Đại giới đàn tại chùa Kim Long (Phú Hòa, Ninh Quang) do Hoà thượng Phước Huệ chùa Hải Đức, Nha Trang làm Đàn đầu. Từ đó đạo tràng lớn mạnh không ngừng.

Ngoài ra ngài còn tranh thủ thời gian để mở lớp giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng tại tỉnh Bình Thuận. Song song với việc giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, ngài còn đem hết sức mình khai sơn và trùng tu rất nhiều ngôi chùa để có nơi tu học cho Tăng Ni và sớm hôm lễ bái của Phật Tử xa gần như: Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (1937) Núi Đất (Địa Sơn) Ninh Hòa, chùa Thiên Long ở Phú Yên (1938), chùa Kim Long (1942) Phú Hòa – Ninh Quang, Tổ đình Minh Sơn (1957), Linh Đài đều ở Tuy An (1959). Đồng thời khai sơn Linh Sơn Tự, Lạc Tánh ở Tánh Linh (1961) và chùa Pháp Hội ở Hàm Tân, Bình Thuận (1967).

Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo, ngài không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào khi được chư Tăng và Giáo hội giao phó cũng như Phật tử cần đến. Đối với dân tộc, ngài luôn đem hết sức mình góp phần vào công cuộc bảo vệ quê hương.

- Năm 1945 trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ngài được Tăng tín đề cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Phú Yên.

- Năm 1955, ngài đảm nhận chức vụ tri sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Khánh Hòa liên tiếp trong hai nhiệm kỳ.

- Năm 1963-1964 ngài lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ Phật giáo và dân tộc tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân).

- Năm 1964-1978, ngài được Hội đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy tôn vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.

- Từ năm 1982 cho đến ngày viên tịch, ngài được suy tôn Cố vấn Chứng minh kiêm ủy viên Tăng sự Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thuận Hải (cũ) cũng chính là tên gọi tỉnh Bình Thuận trước kia và sau này.

Ngài đã có công dịch bộ kinh Thập Lục Quán và trước tác quyền Lịch sử Tổ Hữu Đức (Tổ linh Sơn Trường thọ, núi Tà Cú) và Chư hậu Tổ. Đặc biệt ngài đã sáng tác ra nhiều Liễn Đối hiện nay nhiều Tự viện còn lưu lại bút tích một thời vang bóng giới đức và trí đức trang nghiêm của ngài.

Riêng Tổ đình Hội Phước từ lâu thiền sư thường thăm viếng và sách tấn chư Tăng. Ngài là Y chỉ sư của TT Thích Quảng Thiện. Năm 1986, ngài đã quang lâm Tổ đình chứng minh, đặt đá đại trùng tu Tổ đường và năm 1989, quang lâm chứng minh, đặt đá xây dựng Liên Hoa Bảo Tháp.

Dù tuổi già sức yếu, nhưng ngài vẫn tinh tấn tu hành không một phut giây trễ nải và phục vụ chúng sanh đến giây phút cuối cùng.Ngày mồng 02 tháng 8 năm Tân Mùi (1991), Thiền sư Hưng Từ đã an nhiên thị tịch, trụ thế 81 tuổi với 61 hạ lạp, môn đồ xây thờ Bảo tháp của ngài được toạ lạc trong khuôn viên chùa Pháp Hội, thuộc huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Thiền sư Thích Hưng Từ là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật giáo Việt Nam đã trọn đời lo cho Phật Pháp và đặc biệt là ngài chú trọng đến việc tiếp Tăng độ Chúng. Cuộc đời tu hành và hóa đạo của Thiền sư là tấm gương hy sinh tận tụy, không từ nan bất cứ công việc gì dù nhỏ, đem hết sức mình để giáo huấn Tăng tín đồ Phật tử. Với đức tính khiêm cung hiếu hạnh và mô phạm cao cả của ngài là thân giáo quan trọng đã tác thành nên những đệ tử hữu danh.

Đệ tử đắc Pháp với thiền sư có pháp danh chữ Đồng, có pháp tự chữ Thông, có pháp hiệu chữ Ấn rất đông, hiện nay đang giữ nhiều chức vị quan trọng trong Giáo hội như:

1. HT Đồng Huy – Trí Thắng là thành viên Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự TWGHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, khai sơn chùa Vạn Hạnh và Vạn Thiện tại Phú Mỹ - Tân Thành, Bà Rịa, Vũng Tàu.

2. HT Quảng Nhơn - Ấn Tâm – Nguyên Chánh đại diên PGVNTN tỉnh Bình Thuận, Viện chủ chùa Long Đoàn, núi tà Cú, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.

3. HT Trừng Huệ - Như Ý - Ấn Bửu Phó ban Trị sự tỉnh GHPG Khánh Hòa. Khai sơn chùa Linh Sơn Pháp Bảo, Nha Trang, Khánh Hòa.

4. HT Tâm Thủy - Thiện Lưu - Ấn Thanh Trưởng ban Trị sự Phật giáo Phú Yên, kế thừa chùa Minh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên.

5. HT Quảng Đại - Tuệ Hải -Ấn Tạng Viện chủ Kim Liên Bửu Tự, Diên Khánh, Khánh Hòa.

6. HT Tâm Linh - Thiện Chí - Ấn Đức Viện chủ chùa Phước Thái, quận 9,  Sài Gòn.

7. HT Đồng Giải - Thông Ứng - Ấn Ký kế thừa Trú trì chùa Linh Đài, xã Hòa Đa, huyện Tuy An, Phú Yên.

8. TT Nguyên Thích - Minh Mỹ - Ấn Đạo kế thừa Trú trì Tổ đình Thiên Quang, Diên Khánh, Khánh Hòa.

9. TT Chúc Thọ - Quảng Thiện - Ấn Pháp trưởng ban Từ thiện xã hội Phật giáo Khánh Hòa, Phó ban Tăng sự kiêm Viện chủ Tổ đình Sắc Tứ Hội Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.

10. TT Nguyên Thích - Thiện Trì - Ấn Hội Trú trì chùa Phước Quang quận 3, Sài Gòn.

11. TT Tâm Huệ - Hưng Công - Ấn Đạo Trú trì chùa Sắc Tứ Kim Sơn, Ngọc Hội, Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa.

12. TT Trừng Lộc - Chơn Kiến - Ấn Minh Trú trì chùa Thiên Phú, Vĩnh Thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa.

13. TT Nguyên Hải –-Như Minh - Ấn Chánh Trú trì chùa Sắc Tứ Liên Hoa, Nha Trang, Khánh Hòa.

14. TT Thanh Trí - Thiện Qủa - Ấn Pháp Trú trì chùa Hoa Quang, Nha Trang, Khánh Hòa.

15. TT Nguyên Thắng - Từ Thành - Ấn Tín Trú trì chùa Thiền Lâm, Nha Trang, Khánh Hòa.

16. TT Thiện Tâm - Ấn Nhơn Trú trì chùa Huyền long, La Gi, Bình Thuận.

17. TT Đồng Quan - Thông Thoại - Ấn Chánh kế thừa trú trì Tổ đình Pháp Hội, Bình Tuy.

18. TT Đồng Nguyên - Thông Thắng - Ấn Đức Trú trì chùa Thập Thành, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

19. TT Thiện Hoa - Ấn Quả Trú trì chùa Quan Âm, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.

20. TT Đồng Nghĩa - Phổ Quảng Trú trì chùa Nghĩa Trang Phật Giáo, Diên Khánh, Khánh Hòa.

21. TT Đồng Thành – Nguyên Thanh - Bảo Thiền Trú trì chùa Nguyên Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.

22. TT Tâm Quả - Ấn Hạnh Trú trì chùa Phú quang, Tuy Hòa, Phú Yên.

23. TT Thiện Hanh - Ấn Tuệ Trú trì Tổ đình Khánh Long, Vạn Ninh, Khánh Hòa.

24. TT Đồng Trung Trú trì chùa Dược Sư - Mỹ Quốc.

25. TT Đồng Giác Trú trì chùa Vĩnh Xương, An Phú, Tuy An, Phú Yên.

26. TT Tâm Trực - Ấn Nghiêm Trú trì chùa Xuân Thọ, Phan Thiết. Kiêm Hiệu phó Trường Trung cấp Phật học Bình Thuận.

27. ĐĐ Đồng Tuyền - Thông Lưu Trú trì chùa Linh Sơn, Lạc Tánh. Tánh Linh, Bình Thuận

28. ĐĐ Đồng Biện - Thông Luận Trú trì chùa Khánh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên

29. ĐĐ Quảng Nhàn - Thông An Trú trì chùa Cam Bình, Hàm Tân, Bình Thuận.

30. ĐĐ Đồng Tâm - Thông Trí – Pháp Huệ, Phó ban Đại diên Phật giáo thị xã La Gi, Phó trú trì Tổ đình Pháp Hội, Bình Tuy, kiêm giáo thọ Tổ đình Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

31. ĐĐ Đồng Chiến - Ấn Nhựt, Phan Thiết, Bình Thuận.

32. ĐĐ Thông Thành - Ấn Tựu, chùa Bửu Thế Quan, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

33. ĐĐ Thông Giám - Ấn Bửu, Trú trì chùa Bửu Lâm, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.

34. ĐĐ Nhựt Thời - Thông Hiền, Trú trì chùa Tịnh Độ, Tân An, La Gi, Bình Thuận.

35. ĐĐ Đồng Thiệt - Thông Sự.

36. ĐĐ Đồng Chánh tu học tại Trảng Bom, Đồng Nai.

37. ĐĐ Thiện Phước - Ấn Đức, tu học tại đảo Phú Quý.

38. ĐĐ Đồng Sanh - Thông Tựu - Viên Trung, Trú trì chùa Phụng Sơn, Hàm Phụng Nam, Bình Thuận.

39. ĐĐ Đồng Quan - Huệ Minh, tu học tại Anh Quốc.

40. ĐĐ thích Giác Lượng.

41. Ni Trưởng Quảng Hảo - Diệu Minh - Địch Quang.

42. Ni Trưởng Bổn Đại - Diệu Tài, Trú trì Niệm Phật đường Linh Sơn, Tân Thiện, La Gi, Bình Thuận.

43. Ni Sư Bổn Phước - Thông Duyên, Trú trì chùa Linh Sơn Tịnh Độ.

44. Ni Sư Thị Quang - Thông Chiếu, Trú trì chùa Linh Sơn Tịnh Độ.

45. Sư Cô Đồng Nghị, Trú trì Tịnh thất Bổn Hoàng, Tân Xuân, Hàm Tân, Bình Thuận.

46. Sư Cô Liên Nhuận - Diệu Thân đang tu học tại chùa Hội Phước.

47. Sư Cô Đồng Thủy, Trú trì chùa Quảng Phước, Tân Xuân, Hàm Tân, Bình Thuận.

48. Sư Cô Đồng Điền, Trú trì chùa Quảng Phước, Tân Xuân, hàm Tân, Bình Thuận.

 

Nhận xét về cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp vĩ đại của thiền sư Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ. Hòa thượng Thích Huệ Đăng đã viết:

“…Thiền Sư sinh quán ở Phú Yên nhưng lại là vị thượng thủ đầu tiên của Giáo hội Tăng già tỉnh Khánh Hòa, do chư Tôn đức Tăng cung thỉnh suốt 2 nhiệm kỳ. Vào thời kỳ đó chưa có một vị HT nào trong tỉnh được vinh dự như vậy. Nhớ kỳ chấn hưng, thiền sư đã kế tục các vị HT tiền bối, ra sức cổ xúy phong trào đổi mới, động viên hướng dẫn chư Tăng trong sự nghiệp tinh tấn tu học và hoằng dương Phật Pháp.

Thiền sư thường nhắc nhở chư Tăng “Phật Pháp nhị bửu, Nhi tại Tăng hoằng” (nghĩa là Phật, Pháp là hai ngôi báu, nhưng nhờ chư Tăng truyền mở), hay câu:”Nhơn năng hành đạo, Phi đạo hằng nhơn” (con người hay truyền mở Đạo Pháp, chẳng phải Đạo Pháp truyền mở cho người)…

Kể từ khi Thiền sư vào quận Ninh Hòa trú trì Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ, chùa Kim Long (Ninh Hòa) rồi khai đàn truyền giới làm HT Đàn đầu, rồi sau đó làm vị Thượng thủ Giáo hội Tăng già Khánh Hòa, tiếp theo nhiều năm làm phật sự 2 tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, kế đến thiền sư vào Bình thuận và Bình Tuy khai sơn 2 chùa Linh Sơn và Pháp Hội cho đến ngày già yếu từ biệt chúng con về Tịnh Độ, ngài luôn luôn lấy việc giáo dục, sách tấn chư Tăng làm công việc chính.

Thiền sư là một người có học lực hết sức uyên bác về nội điển, về Hán học, đặc biệt nhất là về Mật tông. Từ đăng đàn thuyết pháp, giải giảng kinh, luật, luận đến đăng đàn Chấn Tế Du già, Mông Sơn, Ứng phú khoa nghi. Thanh quy tiết thứ, Thiền môn chánh độ, thiền đường quy cú, Đại học hằng giới, nhẫn đến môn công vụ, Chấp tác hành trì… bất cứ phương diện nào, thiền sư cũng thông suốt sự lý và hành trì rất hay.

Phàm vị Tăng có duyên được nghe thiền sư giảng kinh thuyết pháp, chẩn tế, ứng cúng các khoa nghi… đều hết sức hoan hỷ và khâm phục tài năng uyên bác của ngài. Thiền sư lại từ bi lân mẫn thương mến chư Tăng, Ni, không phân biệt tuổi tác, địa phương, hoàn cảnh hành đạo, hễ có người nào cần thiền sư đều hoan hỷ dạy bảo, hướng dẫn sách tấn với tất cả tấm lòng khoan dung, nhân từ, cần mẫn hết sức chỉ dẫn đến nơi đến chốn.

Vì vậy, đa số chư Tăng ở 3 tỉnh Phú yên, Khánh Hòa và Bình thuận đều tôn kính ngài, thương mến ngài như vị cha lành. Thiền sư là vị Tôn sư được nhiều chư Tôn Thượng tọa, Đại đức cầu pháp và trong số những vị cầu pháp với thiền sư ngày trước, hiện nay đã được chư Tăng tôn vinh hay Giáo hội tấn phong Hòa thượng. Đây là niềm vui cao qúy của chư Tăng, niềm vinh dự tự hào của hàng tín đồ Phật tử và cũng là công đức giáo dưỡng vô cùng to lớn của thiền sư…”

 

Hiện nay bài vị thiền sư Thích Hưng Từ đang thờ tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ.

 

 

Thiền sư Thích Hưng Từ là một cộng tác viên đắc lực của Bồ tát Thích Quảng Đức trong việc hoằng pháp từ năm 1936 – 1942 tại xứ Trầm Hương (Khánh Hòa).

 

THIỀN SƯ THÍCH VIÊN CHIẾU 

Từ Lâm Tế chánh tông tứ thập nhứt thế húy thượng Như hạ Cự hiệu Viên Chiếu thiền sư chi bảo tháp.

Ở Ninh Hòa (Khánh Hòa) ngoài Đại lão Thiền sư - Tổ Pháp Thân Đạo Minh (1684 – 1803) viên tịch trong tư thế kiết già trên hòn núi Đất (Địa Sơn) tại địa phận Mỹ Trạch – xã Ninh Hà, còn có ngài Thiền sư Thích Viên Chiếu (1892 – 1943) cũng viên tịch trong tư thế tham thiền nhập định tại vùng Suối Cát dưới chân hòn Lớn thuộc địa phận xã Ninh Hưng.

Ngài là một bậc thiền sư ẩn tu đắc đạo đã bỏ lại nhục thân trên một tảng đá lớn ở nơi này. Trước đó nhiều lần Ngài có kỳ duyên hội ngộ cùng với Bồ tát Quảng Đức (1897 -1963) để cầu pháp với thiền sư bậc thầy này, thật quả là hy hữu.

Như chúng ta đã được biết rằng, ngay vào thời thanh xuân, Bồ tát Quảng Đức lập chí ẩn tu tại Hòn Đất (Điạ Sơn) trong 3 năm liền (kể từ 1927). Thế tất việc tâm đắc về tu núi, Bồ tát Quảng Đức không thể không bàn bạc trao đổi, thậm chí là truyền đạt và sách tấn đối với thiền sư Viên Chiếu. Việc kết nên bạn đạo với nhau giữa Bồ tát Quảng Đức và thiền sư Viên Chiếu để kết quả cuối cùng là cả hai Ngài đều đắc pháp và tu chứng là một dữ kiện lớn trong cuộc gặp gỡ  giữa hai bậc danh tăng nêu trên vào khoảng cuối nửa đầu thế kỷ XX đã góp phần làm nên rạng rỡ đạo mầu tại xứ Trầm Hương (Khánh Hòa) và cho Phật giáo cả nước.

Cũng như trước đó, Bồ tát Quảng Đức do ngưỡng mộ sự thực tu thực chứng của đại lão thiền sư - Tổ pháp thân Đạo Minh (1684 – 1803), ngài đã cất am tranh ngay tại cổ tháp để tu thiền định trên hòn Đất và thiền sư Viên Chiếu với chí nguyện công phu của mình cũng đã ẩn tu và đắc đạo (?...1943).

Có điều, đối với Tổ Đạo Minh thì Bồ tát Quảng Đức là hàng hậu bối; còn đối với thiền sư Viên Chiếu thì ngài là bậc trưởng thượng và đóng vai trò vừa là sư huynh, vừa là sư phụ trong việc ẩn tu và đắc đạo.

Cho nên nói về thiền sư Viên Chiếu tức cũng là nói về Bồ tát Quảng Đức, hay ngược lại khi chúng ta đề cập về Bồ tát Quảng Đức tức cũng là nói về thiền sư Viên Chiếu mà gương đạo hạnh sáng soi đối với hai ngài Quảng Đức và Viên Chiếu lúc bấy giờ là Tổ Đạo Minh.

Lẽ đó, nếu chúng ta nói về suối “Cát” cũng tức là nói về hòn “Đất” hay cũng có thể nói một cách khác là khi ta ca ngợi về ngài Viên Chiếu cũng tức là ca ngợi về hòn Đất, vì một lẽ rất dễ hiểu, hòn Đất là nơi Bồ tát ẩn tu, cùng là nơi địa linh đối với chẳng những riêng địa phận Ninh Hòa (Khánh Hòa) mà còn đối với cả đất nước Việt Nam vậy.

(TRÍCH. Hàn Linh Giang. HIỂU GÌ VỀ THIỀN SƯ VIÊN CHIẾU tháng 8/2000)

 

 

THIỀN SƯ THÍCH VIÊN CHIẾU NHƯ CỰ 

(1892 -1943)

Thiền sư Thích Như Cự họ Lê được gọi là Lê Văn Cự, sinh năm Nhâm Thìn (1892). Thôn Thanh Phước, Tổng Vĩnh Trị, huyện Hương Trà, Thừa Thiên tỉnh. Nay thuộc thôn Thanh Phước, xã Hưng Phong, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Thân phụ ngài là cụ Lê Văn Chí là một quan nhỏ thời Pháp thuộc, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chuột. Gia đình có năm anh em bốn trai một gái. Ngài là con trưởng trong gia đình, là người con hiếu thảo, chăm lo tu hành phụng thờ tổ tiên nuôi dưỡng cha mẹ, rất mực hiếu thảo.

Lúc thiếu thời ngài rất thông thạo Hán văn, quốc ngữ và một vài ngoại ngữ. Lớn lên có nghề thêu may truyền thống, vừa may đồ dân dụng vừa may đồ đặc dụng trong cung điện vua chúa, thời bấy giờ tay nghề may thêu rất tinh xảo.

Vợ ngài là Tổng Thị Tịnh, đúng (Tống Thị Yến) là con cả vợ kế của quan thượng thư triều đình Huế. Giỏi nữ công, gia chánh và sinh được bốn người con ba trai một gái.

1. Lê Xuân Thứa (tức Vinh)

2. Lê Xuân Hiên (tức Sang)

3. Lê Xuân Lại (tức Đệ)

4. Lê xuân Long (tức Hồng)

Sống với vợ con trong cung điện nhà vua, vừa may thêu vừa tu tại gia từ đó.

Năm Đinh Tỵ (1917), ngài quy y tại triều đình Huế lần đầu có ấn vua.

Năm Nhâm Thân (1932) ngài đi vào Nam tìm nơi tu hành, song mẹ bệnh nặng ngài về thiết lễ kỳ an cầu nguyện cho mẹ và lo cho mẹ đi khi mãn phần. Ngài rời cung điện nhà vua, năm Bảo Đại thứ 10 (1935).

Cuối năm Ất Hợi (1935), sau khi mẹ mất trăm ngày, thấy cảnh vô thường, chán cảnh công danh, ngài tiếp tục tìm thầy học đạo cầu mong giải thoát bỏ lại sau gia đình vợ hiền, con ngoan. Ngài nói với gia đình vợ con rằng: “Tôi tiếp tục xa xứ tìm thầy giỏi hơn để học đạo (ngài còn nói đi tìm vua khác - tức là pháp vua). Tôi sẽ đi bất cứ đâu kể cả Campuchia, Thái Lan… Khi nào tìm được thầy mới thôi. Nếu không tìm thấy thầy giỏi tôi sẽ tu non, tu ẩn theo hanh Đầu Đà”.

Sau khi ngài vào Nam băng ngàn lội bộ không giày, không dép với túi muối ớt sả khoảng gần vài ký, đi tới đâu khất thực tới đó (ngài chỉ dùng cơm với muối ớt sả), nay đây mai đó, ngủ các gốc cây tại các chùa; cùng đi là sư đệ Như Thượng quê ở An Xuân, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế.

Vào tới Sài Gòn, sư đệ Như Thượng ở lại sài Gòn. Còn ngài lại đi sang Campuchia, qua Thái Lan. Ngài hẹn với sư đệ khi nào ngài tìm được vua sẽ về đón  hoặc nhắn tin báo địa chỉ để sư đệ qua. Ngài vẫn không tìm được thầy theo ý nguyện mình, ngài quay lại Sài Gòn năm 1937, có ý định cùng với sư đệ có dịp sẽ qua Tây Tạng học đạo.

Cơ duyên đã đến, thầy Thích Minh Tịnh học đạo ở Tây Tạng về do chính phủ và bạn Anh Quốc giúp đỡ. Học Tây tạng ba năm Phật pháp uyên bác, trình độ hơn người... trú trì chùa Thiên Chơn, thuộc ấp I An Thạnh (Bún) thuộc huyện Thuận An, Bình Dương ngày nay. Ngài về Sài Gòn ngày 30/6/1937. Từ ngày 17/4 âm lịch (Đinh Sửu). Ở đó tu học, ngài Như Cự lại có thêm một bạn nữa là Như Trạm cùng quê với huynh Như Thượng ở An Xuân, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Cả ba huynh đệ đồng đảnh lễ thầy Thích Minh Tịnh xin theo chân qui y để học đạo.

Một thời gian sau, ở với sư phụ Minh Tịnh đến ngày 08/7 năm Tân Tỵ (1941) sư phụ mới chấp nhận cho qui y.

Theo sư đệ Như Thượng kể huynh Như Cự đã qui y một lần ở triều đình Huế (có ấn vua) vì thế không thể qui y lần thứ hai. Qua nhiều lần ngài Như Cự trình bày lý do qui y lại không phải phản sư phụ cũ, mà do quá trình sống ở đó thấy nhiều điều phi pháp không hợp tu hành ở địa phương, không đúng theo Phật pháp vì chùa của vua cải đạo có lắm bất công, đầu óc ít mở mang, phụ thuộc thời phong kiến thực dân. Sau đó đúng  ngày nêu trên huynh Như Cự cùng hai sư đệ mới chính thức được qui y và sư phụ đặt pháp hiệu cho ba huynh đệ là:

- Như Cự (Viên Chiếu)

- Như Trạm (Tịch Chiếu)

- Như Thượng (Thường Chiếu)

Ngài Viên Chiếu ở với sư phụ đến khoảng cuối năm 1941 ngài xin sư phụ Minh Tịnh ra Khánh Hòa về Tổ đình Linh Sơn (Vạn Ninh) để gặp Bồ tát Thích Quảng Đức (Ngài đã từng gặp Bồ tát ở chùa Thiên Chơn nhiều lần và đã từng hướng dẫn việc tu núi). Lần này Ngài Viên Chiếu tiếp tục tiếp thu việc tu núi do Bồ tát Quảng Đức truyền đạt về những lần Bồ tát ẩn tu ở hòn Núi Đất (Địa Sơn) Ninh Hòa.

Thế rồi Bồ tát cùng ngài Viên Chiếu đi vô chùa Hội Phước (Tân Hưng). Giới thiệu thầy Quảng Tâm hiệu Bảo Phong và trú ngụ khoảng vài tuần. Lúc này có năm ba Phật tử cùng theo hộ ngài và chuẩn bị hành trang cho ngài lên núi ở chân Hòn Lớn (vùng Suối Cát) để chuyên tu thiền định. Ngài Viên Chiếu ngồi thiền tảng đá trên, Bồ tát Thích Quảng Đức ngồi ở tảng đá bên cạnh để theo dõi hành trạng tu tập của ngài Viên Chiếu. Bồ tát theo dõi qua nhiều lần thấy ngài Viên Chiếu có sự tiến bộ trong việc hành thiền. Bồ tát Quảng Đức rất an tâm. Bồ tát xuống núi lo Phật sự để ngài Viên Chiếu yên tịnh an nhiên tu tập.Thời gian diễn biến bình thường. Số Phật tử Tân Hưng (chùa Hội Phước) cũng tình nguyện mỗi tháng thay phiên nhau đem lương thực cho ngài. Chủ yếu là cốc đậu (đậu rang nổ, ngũ cốc) công việc thiền định của ngài diễn biến bình thường.

Trong suốt 2 năm liền kể từ năm (1941 -1943), thỉnh thoảng, ngài xuống núi khất thực. Ngài thường giúp đỡ dân trong vùng khi bệnh đau không thuốc thang, vì dân chúng nơi đây quá nghèo, hiệu thuốc không có, thầy thường bẻ lá cây rừng, kể cả củ, rễ chữa bệnh giúp dân nhất là người dân đi điệu lấy trầm (kỳ nam). Ngài giúp dân không lấy tiền vì thế người dân đi ngang qua chỗ thầy thường cúng dường trái cây, cơm khô, đậu rang nổ cho ngài. Một này nọ, khi người Phật tử làng Tân Hưng mang thức ăn đến tận nơi thì hỡi ôi ngài đã thị tịch trong tư thế hành thiền từ bao giờ rồi.

Tin tức báo về làng ngài đã viên tịch đắc đạo ở Suối Cát (Ninh Hưng). Ngài tịch trong tư thế thiền định trên tảng đá, có tảng đá lớn che nhục thân ngài. Tri huyện – hương lý và ông Ngô Trọng thừa lệnh quan phủ đưa một nhóm chức sắc trong làng đến tận nơi để điều tra  thực hư vì quan phủ nghi là một vụ mưu sát. Công việc điều tra cho thấy đây chỉ là một nhà sư viên tịch, làng kiểm tra xác nhận ngái tu đã thành Phật. Vì vậy làng cho phép Phật tử địa phương bê ra lau rửa nhục thân ngài và đặt ngài y chỗ cũ. Sau đó, Phật tử, dân chúng đắp áo cà sa (hậu vàng) cho ngài. Rồi dân chúng mỗi người thu nhặt đá mé suối đắp thành bảo tháp cho ngài.

Tuy nhiên, có lẽ không biết rõ ngày tháng liễu đạo của hiền sư một cách chính xác, nên người dân thời ấy không khẳng định thời gian ngài vãng sanh. Một điều nữa, có thể vì bà con Phật tử nghĩ nôm na rằng thiền sư đã thành Phật cũng là quý báu lắm rồi, nên không cần phải tra cứu làm chi.

Thượng tọa Thích Hạnh Hải, hiện làm cố vấn huyện hội Phật giáo Ninh Hòa xác nhận lúc thiền sư đang học pháp với Bồ tát Thích Quảng Đức thì thầy (Hạnh Hải) biết thiền sư Thích Viên Chiếu từ Huế vào cùng đi đi về về với Bồ tát Thích Quảng Đức.

Thầy Thiện Chánh, trú trì chùa Hội Phước (Tân Hưng) xác định rõ vị trí nơi thiền sư viên tịch, chính thầy lúc bấy giờ là một thanh niên ngoài hai mươi tuổi đã cùng dân làng khiêng đá làm mộ cho thiền sư. Đó là vùng Suối Cát. Chỗ ngài nhập định theo thầy Thiện Chánh kế có tảng đá lớn che đầu và từ đó nghe tiếng suối chảy róc rách.

Một bà cụ gần 90 tuổi kể: bà đã từng đến tháp đá thiền sư ở Suối Cát nghỉ ngơi trong một thời gian cưa gỗ ở vùng này vì quanh tháp đá của thiền sư có nhiều cây lớn và nơi đây tỏa ra mùi hương gì thơm thơm lạ lạ khó tả... lắm.

Chuyện thiền sư Thích Viên Chiếu trong tư thế kiết già tại một vùng núi nổi tiếng nhiều cọp, voi, gấu... đã trở thành truyền thuyết đối với dân làng nên được nhiều người biết đến.

 

 

NƠI BỒ TÁT ẨN TU

 

Có ai về xứ trầm hương?

Cảnh quang thanh tú lạ thường lắm thay!

Khánh Hòa(1) tên gọi chốn này

Nhiều sông lắm núi tự ngày xa xưa

Sông sâu thì có đò đưa

Núi cao thì có mây mờ che ngang

Ở Ninh Hòa (2) có hòn Xang

Hòn Héo, hòn Quái, hòn Sầm thoi loi

Ai về hòn Đất(3) mà coi

Đạo Minh tháp Tổ(4) còn roi dấu truyền

Thuở xưa các vị thần tiên

Lên non ẩn dật chẳng phiền lụy ai

Cạnh bên cổ tháp còn đây

Đất chùa Thiên Lộc (5) trơ bày nền hoang

Ai hay chốn ấy đạo tràng

Là nơi Bồ tát lên ngàn ẩn tu?

Hiệu là Quảng Đức (6) đạo sư

Rừng xưa tĩnh mịch lánh đời thanh xuân

Ngài vì Pháp tự thiêu thân

Nêu gương hậu thế ngàn năm, muôn đời!

(Theo Hàn-Linh-Giang)

***

(1)   Tên một tỉnh ở cực nam Trung bộ

(2)   Tên một huyện ở phía Bắc tỉnh Khánh Hòa

(3)   Còn gọi là Địa Sơn, nằm ven trục quốc lộ 1A miền trung Việt Nam (Mỹ Trạch, Ninh Hà, Ninh Hòa, Khánh Hòa)

(4)   Tháp Tổ thiền sư Pháp Thân Đạo Minh (thế kỷ XVII- XIX)

(5)   Do Bồ tát Quảng Đức xây cất vào năm 1935

(6)   Bồ tát-vị Pháp thiêu thân (11/6/1963) tại Sài Gòn)

 

VỀ 14 NGÔI CHÙA Ở XỨ TRẦM HƯƠNG (KHÁNH HÒA) DO BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC KHAI SƠN KIẾN TẠO VÀ TRÙNG TU

 

                                                                                                           Thích Như Hoằng

 

Tại cuộc Hội thảo về Bồ tát Thích Quảng Đức diễn ra tại viên nghiên cứu Phật học, các bậc thức giả trong và ngoài nước đã có nhiều tham luận sâu sắc trình bày về công đức và hạnh trạng của Bồ tát đối với dân tộc và đạo pháp.

Riêng trong công việc xây chùa, đào tạo Tăng tài cũng như truyền bá giáo lý cho bà con Phật tử, ta cũng thấy ở ngài thể hiện một tinh thần từ bi nhập thế cứu đời vô cùng chói sáng. Trong suốt cuộc đời, Ngài đã khai sơn và tạo dựng tất cả 31 ngôi chùa.

Để góp phần tìm hiểu thêm về những cống hiến của Bồ tát liên quan tới vấn đề này, chúng tôi xin được trình bày về 14 ngôi chùa có liên quan đến cuộc đời của Bồ tát ở xứ Trầm Hương Khánh Hòa.

 

Về 14 ngôi chùa (có bổ sung và sửa chữa) đã được đăng tải trong cuốn Bồ tát Quảng Đức - Ngọn lửa và trái tim – Nhà xuất bản Tổng hợp tại Sài Gòn ấn hành 2005 (PL2549).

 

 

CHÙA SẮC TỨ LONG SƠN 

(Phú Cang I - Vạn Phú - Vạn Ninh. Ngôi chùa đầu tiên mà Bồ tát Thích Quảng Đức xuất gia tu học)

 

Chùa được Tổ Hoằng Thâm khai sơn vào năm Thành Thái thứ 10 (1899). Năm 1905 lúc Bồ tát lên 7 tuổi, Cha mẹ ngài là ông Lâm Hữu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương, quyết định đem gởi Ngài cho Tổ Hoằng Thâm là anh thứ ba của mẹ và là cậu ruột của Bồ tát. Sở dĩ cha mẹ Ngài có quyết định như vậy, là vì lúc nhỏ Bồ tát hay đau yếu luôn, ông bà nghĩ rằng chỉ còn cách đem gửi Ngài cho chùa, cho Phật thì mới hy vọng bệnh Ngài sẽ hết. Bởi Bồ tát có tất cả 7 anh em, nhưng 5 người đã qua đời từ rất sớm vì đau yếu bệnh tật, chỉ còn lại người anh cả tên là Lâm Văn Quy và Ngài là Lâm Văn Tuất mà thôi.

Khi Bồ tát được cha mẹ gửi cho Tổ Hoằng Thâm ở chùa Long Sơn, thì Tổ cho xuất gia và sau đó đổi tên họ theo của ông là Nguyễn Văn Khiết và đặt pháp danh là Thị Thủy.

Từ lúc Bồ tát vào chùa xuất gia thì tình trạng đau yếu cũng bớt dần. Nhận được sự giáo hóa của Tổ Hoằng Thâm, sự hiểu biết về kinh, luật, luận của Bồ tát càng lúc càng được nâng cao. Trong hành trình tu đức, Bồ tát cũng được chỉ dạy về các phương pháp tu luyện theo mật giáo.

Ngoài việc học tập kinh điển, học tập những bản ngữ lục thiền tông, học tập những tư tưởng của các bậc Thiền sư nổi tiếng trong dòng phái như Tổ pháp Thân - Đạo Minh, Tổ Toàn Nhật – Quang Đài… và các phương pháp tu đức mà Tổ Hoằng Thâm chỉ dạy, Bồ tát còn tham gia lao động làm ruộng, làm vườn và chăn trâu bò cho chùa. Sở dĩ lúc bấy giờ Tổ Hoằng Thâm nuôi nhiều trâu bò là vì cần dùng trâu bò trong việc cày bừa ruộng đất của chùa, cũng như cần dùng phân của chúng để tưới bón cho việc canh nông và trồng trọt. Lúc bấy giờ chùa Long Sơn có rất nhiều ruộng vườn và đất đai.

Phải nói rằng Tổ Hoằng Thâm là vị bổn sư đầu tiên đã có công xây dựng cho Bồ tát ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời xuất gia, những phẩm chất cao quý của một bậc đại nhân.

Hiện nay ở chùa còn lưu giữ một số ấn dấu về mật chú của Tổ Hoằng Thâm với nhiều kinh điển bằng Hán văn và một số chứng từ ruộng vườn đất đai của chùa Long Sơn trong thời của Tổ Hoằng Thâm, như bản khắc chú vãng sanh.

Ngoài ra chùa còn lưu giữ một chiếc Đại Hồng Chung đường kính 49cm, chiều cao 90cm do Tổ Hoằng Thâm đúc vào ngày 28 tháng 3 năm Duy Tân thứ 2 (1907). Trên Đại Hồng Chung có khắc một bài dài ghi tên các vị Tăng Ni Phật tử đóng góp công sức tiền của.

Đại Nam quốc, Khánh Hòa tỉnh, Ninh Hòa phủ, Phước Tường tổng, Phú Cang thôn.

Cổ tự Long Sơn trú trì hiệu HoHoằng Thâm cung nghinh… Linh Sơn yết ma hiệu Thiên Quang chứng minh.

 

 

CHÙA LINH SƠN

(Tại bán đảo Cam Ranh, nơi Bồ tát đã trú trì vào năm 1914)

 

Vào năm 1910, tại bán đảo Cam Ranh, hòa thượng Thiện Tường khai sơn và trú trì một ngôi chùa hiệu là Linh Sơn. Đến năm 1914 Tổ Hoằng Thâm gửi Bồ tát vào chùa Linh Sơn để tham học thêm mật giáo với Hòa thượng Thiện Tường. Tham học với hòa thượng Thiện Tường được một thời gian ngắn, thì Hòa thượng viên tịch. Nên Bồ tát phải ở lại chùa Linh Sơn để cai quản trông coi.

Đến năm 1917 thì Bồ tát trở về chùa Long Sơn để làm tri sự.

Riêng chùa Linh sơn cho đến năm 1935 khi quân đội Pháp xây dựng hải cảng quân sự tại bán đảo, vì lý do này, chính quyền thực dân sở tại ra lệnh cho chùa phải chuyển vào trong đất liền. Sau đó chùa đổi tên mới là Phước Long. Trước đây chùa thuộc ấp 4, khu phố Cam Linh, nay là khóm 9, đường Phan Bội Châu, thị xã Cam Ranh.

 

TỔ ĐÌNH THIÊN BỬU (Thượng)

(Điềm Tịnh – Ninh Phụng – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát tiếp tục tham vấn, cầu pháp sau khi Bổn sư đã viên tịch) 

Trong 5 năm ở chùa Long Sơn lo việc phụng tự hiếu nghĩa. Đến năm 1925 Bồ tát vào Tổ đình Thiên Bửu (Thượng) Ninh Hòa cầu pháp với tổ Thanh Chánh - Phước Tường – và xin ngài làm y chỉ sư cho mình. Được Tổ Thanh Chánh chấp thuận, Bồ tát được ban pháp hiệu là Nhơn trí.

Bồ tát tu học tại Tổ đình Thiên Bửu đến năm 1927, thì chí nguyện tìm nơi yên tĩnh để nhập thất chuyên tu thôi thúc Ngài tham quan tìm hiểu mọi cảnh trí núi non trong vùng. Vì vậy Bồ tát đã tham quan tìm hiểu địa cuộc của các vùng núi như: Núi Hoa Lang, Núi Hòn Một, Núi sầm, Núi Cấm và Núi Đất khu Cụm Nhỏ.

Khi đến hòn Núi Đất và Cụm Nhỏ của nó, Bồ tát thấy địa thế lan nhã hữu tình, việc đi lại nhiều thuận lợi hơn các nơi khác. Thêm nữa, nơi đây đã từng là nơi ẩn tu thiền định của Tổ Pháp Thân - Đạo Minh (chùa Thiên Tứ), một bậc chân tu đắc đạo của dòng Chúc Thánh mà trước đây khi còn ở chùa Long Sơn, lúc Tổ Hoằng Thâm còn sinh thời, Bồ tát nhiều lần đã được nghe Bổn sư và Sư ông của mình là Tổ Chơn Hương – Thiên Quang thường đề cập đến trong những lúc trà đàm. Vì thế Bồ tát quyết định dựng một thảo am ngay bên tháp Tổ Pháp Thân, một mặt để gần gũi hương khói, một mặt để chuyên tu thiền định.

Tại hòn Núi Đất này, Bồ tát đã nhập thất và thiền định miên mật theo pháp môn thiền mật mà trước đây Tổ Hoằng Thâm đã chỉ dạy.

Sau khi tu luyện ròng rã 3 năm trên hòn Núi Đất, Bồ tát đạt được nhiều chứng nghiệm về đời sống tâm linh và am hiểu sâu sắc nhiều phương cách chữa trị bệnh tật theo mật giáo. Vì vậy bà con Phật tử ở nhiều nơi nghe tiếng, tìm đến hòn Núi Đất để cầu Ngài chữa trị rất đông.

Đến năm 1935, trên hòn Núi Đất này Bồ tát đã khởi công xây dựng ngôi chùa Thiên Lộc.

 

CHÙA SẮC TỨ THIÊN ÂN 

(Phước Thuận – Ninh Đông – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát đã trú trì 1933)

 

Sau khi Bồ tát chuyên tu thiền mật ròng rã 3 năm trên hòn Núi Đất, Bồ tát tiếp tục ôm bình bát đi vân du hóa đạo trong các khu vực của Ninh Hòa thêm hai năm nữa.

Đến năm 1933, Bồ tát được thỉnh về trú trì chùa sắc tứ Thiên Ân để kế tục hòa thượng Nhơn Gia là vị trú trì vừa mới viên tịch.

Trong thời gian trú trì chùa sắc tứ Thiên Ân, Bồ tát đã trùng tu xây dựng lại ngôi chùa rộng rãi và trang nghiêm hơn, sửa sang lại nơi thờ phụng, xây dựng cổng tam quan.

Lúc này sinh hoạt Phật sự tại chùa càng lúc càng hưng thịnh. Bà con Phật tử trong vùng ngưỡng mộ đức độ và nhân cách của Bồ tát, đã về đây thọ trì tam quy ngũ giới rất đông.

Đến năm Đinh Sửu, Bảo Đại thứ 13 (1937) do thỉnh cầu của Bồ tát, chùa được ban phong sắc tứ. Đáng tiếc là sau năm 1975, do thiếu hiểu biết, một số người tại địa phương đã thiêu hủy bản sắc tứ này. Vì thế hiện nay tại chùa chỉ còn lưu lại chiếc hộp đựng bản sắc tứ mà thôi.

Hộp đựng sắc tứ chùa Thiên Ân có chiều dài 70cm, chiều rộng 15cm, chiều cao 17cm. Ngoài ra hiện nay ở chùa còn lưu giữ một chiếc cối đá (chiều cao 47cm, chiều rộng 55cm, đường kính 38cm), trước đây được Bồ tát sử dụng để giã gạo trong chùa và một số văn bản liên quan tới chùa.

 

 CHÙA SẮC TỨ THIÊN LỘC 

(Núi Đất – [Địa Sơn] – Mỹ Trạch – Ninh Hà – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát khai sơn vào năm 1935)

Năm 1935, Bồ tát quay trở lại chùa Thiên Tứ (hòn Núi Đất), nơi trước đây Bồ tát đã ròng rã chuyên tu thiền mật trong suốt ba năm. Lần này Bồ tát trở về hòn Núi Đất để tiến hành xây dựng ngôi chùa Thiên Lộc. Vì cách đó không lâu có một Phật tử thuần thành ở làng Phú Hữu – Ninh Ích phát tâm hiến cúng một lượng gỗ lớn. Nên Bồ tát quyết định dùng số gỗ này để xây dựng chùa Thiên Lộc.

Chùa Thiên Lộc được xây dựng cách tháp Tổ Pháp Thân - Đạo Minh khoảng 25m về phía Đông Nam.

Bên cạnh chùa Thiên Lộc, Bồ tát còn xây hai tháp làm bảo tàng, một để đựng cổ vật và các pháp tượng, một để chứa đựng kinh sách cổ. Cũng trong năm bảo Đại thứ 10 (1935) chùa Thiên Lộc được ban phong sắc tứ. Sau đó Bồ tát giao cho đệ tử là HT Đồng Trí - Thủ Thiên làm trú trì cai quản.

Đến năm 1946, Pháp lên chiếm chùa Thiên Lộc để làm đồn bót. Vì vậy các pháp tượng, đồ từ khí cũng như bảng hiệu chùa đều phải đem xuống cất giữ ở dưới tổ đình sắc tứ Thiên Tứ. Hiện nay vẫn còn bảng hiệu chùa Thiên Lộc. Bảng hiệu có chiều dài  162cm, chiều rộng 70cm, chính giữa bảng hiệu có ghi ba chữ Thiên Lộc Tự, bên phải bảng hiệu có ghi hàng chữ: Bảo Đại thập niên tuế thứ Ất Hợi thập nhị nguyệt cát nhựt. Bên trái bảng hiệu có hàng chữ: Mỹ Trạch xã, Trú trì hiệu Quảng Đức kiến tạo.

Ngoài bảng hiệu, đồ từ khí đáng kể nhất là hai chiếc chuông.

Chiếc chuông thứ nhất: Có đường kính 23.2cm, chiều cao 26cm, trên chuông có khắc ba chữ  Thiên Lộc Tự. Bên phải chuông ghi hàng chữ: Hòa thượng hiệu Nhơn Trí kiến tạo. Còn bên trái ghi hàng chữ: Bính Tý Bảo Đại thập nhất niên thất nguyệt thu.

Chiếc chuông thứ hai: Có đường kính 23cm, chiều cao 35cm. Chính giữa chuông có khắc 3 chữ Thiên Lộc Tự, bên phải có ghi hàng chữ: Trú trì hiệu Quảng Đức kiến tạo, còn bên trái có ghi hàng chữ: Ất Hợi niên thập nhất nguyệt cát nhựt.

Trong những năm 1950 – 1960, một số người dân ở Ninh Hòa phao tin đồn tại tháp Núi Đất có cất giấu nhiều vàng bạc. Vì thế họ đã lên đập phá hai tháp để tìm kiếm. Do đó hai tháp này hiện nay đều không còn.

 

 

TỔ ĐÌNH SẮC TỨ THIÊN TỨ 

(Núi đất – [Địa Sơn] - Mỹ Trạch – Ninh Hà – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát trú trì và mở các khóa hạ và khóa Phật học đào tạo tăng tài, 1936 -1940) 

 Năm 1936, sau khi Bồ tát đã giao trách nhiệm cai quản chùa sắc tứ Thiên Lộc cho đệ tử là thầy Thủ Thiên. Bồ tát xuống làm trú trì chùa sắc tứ Thiên Tứ dưới chân hòn Núi Đất.

Trong giai đoạn này, vì chùa sắc tứ Thiên Lộc nằm trên cao, có cảnh trí yên tĩnh, nên đã được Bồ tát dùng làm nơi hướng dẫn các hàng đệ tử căn cơ tu thiền học đạo, phát triển đời sống tâm linh.

Riêng tổ đình sắc tứ Thiên Tứ bên dưới, do gần làng xóm, thuận tiện cho việc đi lại, nên Bồ tát đã dùng làm nơi thực hiện việc truyền bá giáo lý và hoằng pháp độ sinh.

Năm 1937, Bồ tát chứng minh công cuộc trùng tu tổ đình sắc tứ Thiên Tứ và xây dựng thêm nhà Đông, nhà Tây. Việc trùng tu xây dựng, Bồ tát giao cho thiền sư Hưng Từ đảm trách, phụ tá công việc trùng tu là hai cha con ông Ngô Đài – Pháp danh Đồng Bửu và Ngô Cao Lâu – Pháp danh Đồng Xuân. Đây là một gia đình Phật tử có tín tâm và thuần thành. Trong việc trùng tu chùa, ông Ngô Đài có cúng dường cây gỗ để làm án thờ Phật, tủ thờ Tổ, thờ Linh và một số bàn ghế, giường, phản… 

1- Án thờ Phật có ba tầng:

Với: chiều dài 1.801m; chiều rộng 1.48m

tầng trên (chiều cao) 126cm - mặt rộng 72.5cm

tầng giữa (chiều cao) 103cm - mặt rộng 67cm

tầng thấp (chiều cao) 65cm - mặt rộng 48.5cm

 

2- Án thờ Tổ có 2 tầng:

Với: chiều dài 112cm; chiều rộng 148cm

tầng trên (chiều cao) 128cm - mặt rộng 75cm

tầng dưới (chiều cao) 77cm - mặt rộng 37cm

 

3- Bàn thờ linh:

Với: chiều dài 130cm; chiều rộng 47cm và chiều cao 82cm

 

4- Bàn thờ Cô hồn:

Với: chiều dài 130cm; chiều rộng 46cm và chiều cao 80cm

 

5- Hai bộ phận bên Đông đường và Tây đường

a) Bên Đông đường bộ phản có chiều dài 197cm; chiều rộng là 113cm và chiều cao 46cm

b) Bên Tây đường bộ phản có chiều dài 216cm; chiều rộng 137cm và chiều cao 61.5cm

 

6- Một bộ ván ở nhà trù

Với chiều dài 180cm và mất đi một tấm phản chỉ còn lại 2 tấm. Với chiều rộng là 77cm và chiều cao 58.5cm

 

7- Hai bộ bàn bên Đông đường và Tây đường

a) Bàn bên Đông đường với chiều dài 145cm; chiều rộng 60.5cm và chiều cao 75cm

b) Bàn bên Tây đường với chiều dài 145cm; chiều rộng 60.5cm và chiều cao 75cm

c) Một cái bàn con nhỏ để đi cúng đám khi cần thiết với chiều dài 70cm; chiều rộng 39cm và chiều cao 40cm.

Và một số ghế dựa bị mất cắp, hiện chỉ còn lại 4 cái với chiều cao 82cm; mặt bằng ghế có chiều rộng 39cm, chiều dài 39cm và mặt gáy sau 37cm (4 cái thước tấc đều bằng nhau) 

Ngoài ra ông Ngô Đài còn cúng dường cho chùa hai mẫu ruộng, một mẫu dành cho chùa Khánh Long (Mỹ Thuận), một mẫu dành cho chùa Thiên Tứ (Mỹ Trạch) để làm hương hỏa ở Đồng Sở, cách chùa khoảng một cây số.

Năm bảo Đại thứ 14, tức năm Mậu Dần (1938), chùa được ban phong sắc tứ.

Sở dĩ Bồ tát ra sức trùng tu tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ, vì đây là một ngôi chùa cổ do Tổ Pháp Thân - Đạo Minh, sinh năm Giáp Tý (1684) tịch năm Qúy Hợi (1803), thuộc dòng Chúc Thánh khai sơn vào năm 1744 thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (căn cứ theo bài vị thờ tại chùa và năm tạo dựng chùa), lúc ấy đã có nhiều hư hao. Trong các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, do danh tiếng chân tu đắc đạo của Tổ Pháp Thân được nhiều người biết. Vì thế, trong các thời này, tổ đình sắc tứ Thiên Tứ nhiều lần đã được ban phong sắc tứ.

Từ đó đến nay, chùa vẫn giữ nguyên dáng cũ. Trong chùa hiện còn sót lại một số cổ vật như hộp gỗ đựng sắc tứ, chiều dài 56.5cm chiều rộng 11.5cm, chiều cao 13.5cm và các tượng cổ. Như Bức Thánh tượng Đức Phật A-Di-Đà, với chiều cao 176cm; chiều rộng mặt đế 90cm; chiều cao của khung 100cm; chiều rộng của khung 71cm.

- 4 bộ chuông và mõ nhỏ (kích cỡ không có đều nhau)

- 4 cái cổ bồng gỗ

- 3 lư để đèn thờ và một số lục bình, tang, khánh và một giỏ đựng cổ vật. Nói chung chén dĩa còn sót lại được lưu giữ trong chùa v.v…

Điều đáng nói hơn là một số tượng cổ qúy giá đã bị lấy mất, đáng kể nhất là một tượng Phật cổ bằng đồng đen nặng 1.5kg. Ngoài ra, hiện chùa còn lưu giữ chiếc giường nằm của Bồ tát có chiều dài 182cm, chiều rộng 90cm; chiều cao 45cm.

Trong những năm 1936-1940, hoạt động Phật sự ở tổ đình sắc tứ Thiên Tứ ở Mỹ Trạch, nhờ có sự cộng tác và giúp sức của thiền sư Thích Hưng Từ, nên phát triển khá mạnh mẽ. Thời gian này Bồ tát cùng với thiền sư Thích Hưng Từ đã mở nhiều khóa hạ và khóa Phật học đào tạo nhiều bậc Tăng tài. Có nhiều Hòa thượng nổi tiếng sau này như hòa Thượng Vĩnh Thọ, Nhơn Dụê, Nhơn thị, Thủ thiên…là những vị học viên xuất sắc thời đó. Số Tăng tín tu học tại đây, lúc đó tới gần 100 vị, đến từ các tỉnh miền Nam và các tỉnh miền Trung cũng như ở tại Ninh Hòa – Khánh Hòa.

Đến năm 1940, Bồ tát giao cho thiền sư Thích Hưng Từ làm trú trì và đệ tử là HT. Đồng Trí - Thủ Thiên vẫn làm tri sự tổ đình sắc tứ Thiên Tứ.

Điều đáng nói là hiên nay tại tổ đình sắc tứ Thiên Tứ đang thờ linh cốt của Bồ tát Thích Quảng Đức.

 

7. CHÙA SẮC TỨ KHÁNH LONG 

(Phước Đa - Thị trấn Ninh Hòa. Nơi Bồ tát mở trụ sở Hội An Nam Phật Học - 1936) 

Năm 1936, Bồ tát được thỉnh làm chứng minh đạo sư  cho Hội An Nam Phật học Ninh Hòa do ông Hoàng Như Diêm là hội trưởng và đặt trụ sở tại chùa sắc tứ Khánh Long. Từ đó Bồ tát đi hóa đạo khắp các vùng trong huyện và vận động thành lập các hội trực thuộc chi hội An Nam Phật học Ninh Hòa. Các khuôn hội được Bồ tát thành lập trong thời gian này là Phước Thuận (chùa sắc tứ Thiên Ân, Phước Thuận – Ninh Đông), Mỹ Trạch (tổ đình sắc tứ Thiên Tứ, Mỹ Trạch – Ninh Hà), Nhĩ Sự (chùa Thanh Lương, Nhĩ Sự - Ninh Thân), Lạc Bình (chùa Pháp Hải, Lạc Bình – Ninh Thọ), Tuân Thừa (chùa Khánh Long, Tuân Thừa – Ninh Bình – Ninh Hòa).

 

 

8. CHÙA LONG HÀ 

(Bá Hà – Ninh Thủy – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát mở trụ sở khuôn hội đầu tiên của vùng Ninh Diêm – Ninh Thủy – 1937) 

Chùa Long Hà được Bồ tát Thích Quảng Đức lập làm trụ sở khuôn hội Phật giáo đầu tiên của vùng Ninh Diêm – Ninh Thủy, khuôn hội trực thuộc chi hội An Nam Phật học Ninh Hòa.

Hiện nay chùa còn lưu giữ một Đại Hồng Chung có chiều cao 93cm, đường kính 51cm do Bồ tát Quảng Đức chứng minh đúc vào ngày 16 tháng năm Bảo Đại thứ 16 (1941) có ghi hàng chữ:

- Sắc tứ Kim Ấn tự Yết ma Hòa thượng hiệu Vạn Phước chứng minh.

- Sắc tứ Thiên Ân tự Yết ma Hòa thượng hiệu Quảng Đức chứng minh.

Bảo Đại thập lục niên tuế thứ 16 Tân Tỵ ngũ nguyệt thập lục cát nhựt.

 

 

9. CHÙA PHÁP HẢI 

(Lạc Bình – Ninh Thọ - Ninh Hòa. Nơi Bồ tát khai sơn – 1940) 

Chùa Pháp Hải được Bồ tát Thích Quảng Đức xây dựng vào năm 1940, ban đầu chùa tọa lạc tại thôn Ngọc Sơn – Ninh An, đến năm 1946 thì chùa bị lính Pháp đốt phá. Do đó cũng trong năm 1946, chùa phải dời về thôn Lạc Bình – Ninh Thọ và được dựng lại trong khuôn đất của một Phật tử thuần thành là ông Nguyễn Văn Chất – Pháp danh Đồng Trực phát tâm hiến cúng.

Đến năm 1947, vì nghi Bồ tát hoạt động cách mạng, máy bay Pháp thả bom phá hủy chùa. Theo lời kể lại của nhiều bậc phụ lão trong vùng, trong hai lần bị giặc Pháp đốt phá, lần nào cũng bị cháy sạch. Nhưng có một điều hết sức lạ lùng khiến mọi người đều phải kinh ngạc đó là bức chân dung Đức Quán Thế Âm có chiều cao 129cm, chiều rộng 59cm, được tôn trí thờ phụng trong chùa, lại không hề hấn gì. Sau đó bức chân dung tiếp tục được tôn trí trong ngôi chùa tranh do Thiền sư Thị Cảnh và bà con Phật tử tạm dựng lên để thay ngôi chùa bị cháy. Cho đến năm 1957, Bồ tát từ trong Nam trở ra, thấy chùa tranh quá sơ sài, nên Bồ tát đã vận động bà con Phật tử xây dựng lại chùa Pháp Hải lần thứ ba. Lần này chùa được dời sang phía bên kia đường, cũng nằm trong khuôn đất do Phật tử Đồng Trực hiến cúng.

Sau khi xây dựng xong chùa Pháp Hải, Bồ tát giao cho người anh cả của mình là thiền sư Thị Cảnh – Hành Phước – Viên Minh làm trú trì.

Trong năm 1963, sau khi nhục thân của Bồ tát Thích Quảng Đức được hỏa táng, một số linh cốt của Ngài đã được đem về thờ tại tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ và tại chùa Pháp Hải, Ninh Hòa.

 

 

10. TỔ ĐÌNH SẮC TỨ LINH SƠN 

(Hiền Lương - Vạn Lương - Vạn Ninh. Nơi Bồ tát trú trì – 1941) 

Trong năm 1940, Bồ tát về lại tổ đình sắc tứ Linh Sơn làm trú trì. Đến năm Bảo Đại thứ 17, tức năm Nhâm Ngọ 1942, chùa được ban phong sắc tứ. Trong thời gian làm trú trì, Bồ tát đã trùng tu lại chánh điện và xây dưng cổng tam quan, hiện còn di tích. Thấy chánh điện cũ không được rộng rãi, Bồ tát dự tính xậy chánh điện mới rộng rãi hơn, để tạo không gian thuận tiện cho bà con Phật tử tu học. Tuy nhiên, do điều kiện lúc ấy tài chánh chưa đầy đủ, nên Bồ tát chỉ vận động xậy sẵn nền chánh điện, mặt hướng ra cổng tam quan. Chánh điện của tổ đình Sắc tứ Linh Sơn hiện nay đã được xây dựng trên cái nền mà Bồ tát đã thiết lập trước đây. Trong thời gian làm trú trì tổ đình Linh Sơn, Bồ tát cũng làm đơn xin trưng khẩn một vùng đất rộng 2 mẫu ở phía Đông Nam chùa, một phần nhằm để cho chư Tăng trồng trọt, còn một phần Bồ tát dự tính xây dựng nghĩa trang dành cho bà con Phật tử và đồng bào trong vùng. Hiện chùa vẫn còn lưu giữ một số chứng từ có liên quan tới đất đai được làng xã thuận nhượng từ năm 1902.

Cũng năm 1941, đích thân Bồ tát vào tận chùa Thiên Chơn tại Thủ Dầu Một – Bình Dương để thỉnh thiền sư Tâm Thanh - Tịch Tràng về trú trì tổ đình sắc tứ Linh Sơn. Việc thỉnh thiền sư Tâm Thanh - Tịch Tràng về làm trú trì là bước chuẩn bị trước cho việc Bồ tát rời tổ đình sắc tứ Linh Sơn để Vân Du hành đạo trong những năm sắp tới.

 

 

 

11. CHÙA CHI HỘI (ĐỨC HÒA) 

(239 Trần Quý cáp - Thị trấn Ninh Hòa. Trụ sở Hội An Nam Phật học Ninh Hòa, thành lập – 1942) 

Chùa Chi Hội được thành lập từ năm 1942.

Tháng 5 năm 1940, Hội mua được miếng đất 9 sào của ông Phạm Thái để xây dựng trụ sở Hội. Sau khi mua xong miếng đất thì việc xây dựng được tiến hành và kéo dài trong ba năm. Thượng Lương ngày 16 tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1942) do hòa thượng Thích Phước Huệ chùa Hải Đức – Nha Trang và hòa thượng Thích Giác Phong chứng minh.

Việc xây dựng do Bồ tát Thích Quảng Đức cùng quý Phật tử trong ban trị sự chùa vận động bà con thập phương góp sức thực hiện.

Chùa Chi Hội được tạo lập xong sau ngày lễ khánh tạ năm Quý Mùi 1943.

Từ đó Bồ tát cử đệ tử là thiền sư Đồng Trí – Thông Huệ - Từ Ân (1886 – 1956) làm trú trì.

 

12. CHÙA LẠC SƠN 

(Ngọc Sơn – Ninh An – Ninh Hòa.Nơi Bồ tát khai sơn – 1952) 

Chùa Lạc Sơn được khởi công xây dựng từ năm 1952, nguyên do Bồ tát Thích Quảng Đức đứng ra vận động và chứng minh, rồi chỉ đạo cho đệ tử là thiền sư Đồng Trí - Thông Huệ - Từ Ân xây cất và làm trụ trì.

 

 

13. CHÙA PHƯỚC HÒA 

(Lạc Hòa – Ninh An – Ninh Hòa. Nơi Bồ tát khai sơn – 1957) 

Vào năm 1957, Bồ tát từ trong Nam trở ra, tiến hành xây dựng lại chùa Pháp Hải. Đồng thời cũng trong năm này, Bồ tát được mời đứng ra đặt tên và chứng minh cho công việc xây dựng ngôi chùa Phước Hòa. Để cho hàng đệ tử và bà con tại đây có dịp nhớ tới ngôi chùa Phước Hòa ở Sài Gòn mà Bồ tát đã trụ trì, Bồ tát lấy tên Phước Hòa để đặt cho chùa này.

Sau khi đặt tên và chứng minh, Bồ tát giao lại cho các bậc phụ lão và bà con trong làng tiến hành công việc xây dựng.

 

 

14. CHÙA LONG PHƯỚC 

(Thạch Thành - Ninh Quang - Ninh Hòa. Nơi Bồ tát trú trì cuối cùng tại Khánh Hòa – 1959) 

Vào năm 1959, Bồ tát lại một lần nữa từ trong Nam trở về Ninh Hòa. Trong lần trở về này, Bồ tát đảm trách việc trú trì chùa Long Phước.

Thấy cảnh chùa hiu quạnh và ảm đạm, Bồ tát dự kiến xây lại chùa Long Phước ở vị trí mới trên núi Cấm cho được rộng rãi và quang đãng hơn. Vì nơi đây không khí thoáng mát, đất đai lại khô ráo và không bị ngập nước trong các mùa mưa lũ. Để tiến hành công việc xây dựng chùa, Bồ tát lo chuẩn bị cây gỗ và vật liệu. Nhưng trong lúc Bồ tát đang chuẩn bị thì việc đàn áp Phật giáo xảy ra tại Huế. Vì thế Bồ tát lập tức quay vào Nam tham gia lãnh đạo phong trào vận động của Phật giáo tại Sài Gòn. Do đó việc xây dựng chùa Long Phước phải bị bỏ dở.

Về sau, bà con Phật tử và các bậc phụ lão trong làng nhớ đến công đức lớn lao của Bồ tát đối với dân tộc và đạo pháp, cũng như lòng quan hoài của Ngài dành cho chùa Long Phước, đã tiến hành sửa sang lại chùa. Nhưng không phải xây một ngôi chùa mới trên Núi Cấm như lúc sinh thời Bồ tát đã dự định, mà chỉ sửa sang lại ngôi chùa cũ.

Trên đây là sơ lược giới thiệu về 14 ngơi chùa mà Bồ tát Thích Quảng Đức đã có công khai sơn, kiến tạo và trùng tu tại Khánh Hòa - xứ Trầm Hương.

Chúng tôi hy vọng trong thời gian sắp tới sẽ tiếp tục giới thiệu về 17 ngôi chùa mà Bồ tát Thích Quảng Đức đã có công khai sơn, kiến tạo và trùng tu trong thời gian hành đạo tại miền Nam, tại Pnômphênh (Campuchia), Lào và Myanmar (Miến Điện) để giúp cho bà con Phật tử và quý bạn đọc trong và ngoài nước có cơ hội tìm hiểu thêm một phần nào công đức và hành trạng của Bồ tát Thích Quảng Đức. 

Núi Đất, Mỹ Trạch, ngày 08 tháng 5 năm 2005

 

 

NHỮNG MẪU CHUYỆN NGHỊCH CẢNH CỦA BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC

 

BỒ TÁT HÀNH ĐẠO TRONG NHỮNG NĂM 1935 -1942 TẠI CHÙA SẮC TỨ THIÊN LỘC VÀ TỔ ĐÌNH SẮC TỨ THIÊN TỨ 

Có một ông đại diện trong làng Mỹ Trạch qua chùa gặp Bồ tát nói:

Thưa thầy, hàng năm làng chúng tôi cúng đình (18/3 ÂL). Tối nay đến 12 giờ là thỉnh chuông trống Bát Nhã để thỉnh Thần. Thầy nhớ để cửa và đúng 12 giờ đêm các vị hào lão qua chùa thỉnh sắc. Thầy đánh giùm chuông trống Bát nhã để chúng tôi rước sắc ra?!

Bồ-tát trả lời:

Chuông trống Bát nhã là để thỉnh đón Phật trong những ngày vía hay rằm 30… hoặc trong những ngày lễ lớn có chư tăng về chứng minh lễ thì mới đưa rước chuông trống Bát nhã. Còn nghi thức ở đình làng thì tôi không rõ. Hơn nữa, việc đánh chuông trống Bát nhã không phải để rước chức sắc. Đây là nghi thức trong chùa…Còn nghi thức trong làng là nghi tức thế gian, mấy ông tự làm lấy.

Bồ-tát nói xong, ông đại diện của làng về lại bên đình tâu vô tâu ra gì đó… thế là sự sanh sanh sự…đối với Bồ tát.

Đúng 12 giờ đêm, ông xã làng cùng ban hào lão khiêng kiệu, lộng… đi qua chùa. Mấy ông đi thẳng vào bàn Quan Thánh thỉnh sắc và chỉ biết lễ Quan Thánh rồi đưa sắc Thần về đình, ngoài ra các bàn thờ Tổ, Phật… mấy ông đều không lạy.

Bồ tát hỏi:

- Tại sao mấy ông về chùa thỉnh sắc mà không lễ Tổ, Phật?

Ông xã làng cùng mấy cụ hào lão trả lời:

- Chúng tôi là hào lão làng, chỉ biết lễ Quan Thánh thôi vì bàn Quan Thánh thờ sắc Thần nên chúng tôi lạy. Còn các bàn Tổ, Phật của nhà chùa chúng  tôi không theo nên không lạy.

Bồ-tát nghiêm nghị nói:

- Thật là mấy ông có tội, bản ngã của mấy ông lớn quá! Đối với Tổ, Phật mấy ông xem nhẹ quá.

Việc rước sắc ấy từ đó đến nay không một chút thay đổi.

 

 

 

BỒ TÁT HÀNH ĐẠO Ở CHÙA SẮC TỨ THIÊN LỘC VÀ NGÔI CỔ TỰ SẮC TỨ THIÊN TỨ

 

Trong  những năm 1943, Bồ-tát có học phép của Bổn sư là Tổ Hoằng Thâm. Vào những năm này, bệnh tả xảy ra khắp nơi, dân làng và nhất là con nít thường mắc phải rất nhiều. Có một bà già tên là Diệu Thiện ở làng Mỹ Trạch, nay đã 91 tuổi kể lại, hồi đó, con gái bà khoảng 4-5 tuổi bị thổ tả, uống nhiều thứ thuốc nhưng không hết. Bà đã mang con đi nhiều miếu, am để trị bệnh nhưng bệnh không hết thuyên giảm mà ngày càng nặng.

Có người chỉ bà mang con lên chùa Núi Đất (Điạ Sơn) để trị bệnh, ở đó có ông thầy có nhiều tứ thuốc trị bệnh hay lắm!

Thế là bà Diệu Thiện vội đưa con mình lên chùa Sắc Tứ Thiên Lộc (Núi Đất) để nhờ thầy trị bệnh.

Lên đến chùa, bà thưa với Bồ-tát rằng: con của Phật tử bị thổ tả, đưa đi nhiều am miếu để chữa chạy nhưng không bớt, ai bày gì con cũng làm nhưng bệnh tình nó vẫn không thuyên giảm! Con nghe mọi người nói Thầy trị được nhiều bệnh nên vội đưa cháu lên đây, xin Thầy từ bi cứu cháu.

Bồ-tát lấy một cái chén nhỏ, rót nước từ cái bình sành ra, Ngài kiết ấn gì đó…rồi đưa cho con gái bà uống, và chỉ uống có một lần duy nhất là bệnh tình hết hẳn.

Từ đó bà phát tâm qui y, thường đến chùa lễ Phật và làm công qủa.

Ngày nay, bà già ấy vẫn còn, người con gái nay cũng đã 69 tuổi rồi, vẫn hằng đêm đến chùa tụng kinh trì chú, bà cũng là Phật tử sinh hoạt tại cổ tự Sắc Tứ Thiên Tứ.

(Viết theo lời kể của Phật tử Nguyễn Thị Lạc, PD Nhuận Lợi, sinh hoạt tại chùa Tổ Đình Thiên Tứ)

 

BỒ TÁT HÀNH ĐẠO Ở CHÙA SẮC TỨ THIÊN ÂN TRONG NĂM 1939

 

Việc mâu thuẩn với cha con ông Bùi Đạt (Bát Phẩm), Bùi Du (xã Hợi).

Ông Bùi Đạt tước vị Bát Phẩm, ở làng Phước Thuận, không tin Phật và thường bài bác đạo Phật công khai.

Trong một buổi lễ lớn đầu năm tại chùa Sắc Tứ Thiên Ân (Phước Thuận). Ông Bát phẩm đến chùa bắt lỗi Bồ-tát rằng:

- Sao ông không đánh chuông trống Bát nhã để rước tôi và các vị chức sắc trong làng? Tôi là một bát phẩm, còn những ông thầy chùa chức phận gì lại được dùng nghi thức long trọng để đón rước?

Bồ-tát cười khẽ và bình thản giải thích cho ông Bùi Đạt hiểu:

- Thầy tu chẳng có chức phận gì, nhưng là đại diện cho Phật đến chứng minh lễ, nên dùng nghi thức long trọng để thỉnh Phật chớ không phải để thỉnh cá nhân ông thầy tu. Còn những vị chức sắc trong làng thì được đón tiếp theo cách thế gian, không thể so với việc thỉnh Phật được.

Dù giải thích kiểu nào, ông Bát phẩm cũng không hiểu vì ông không muốn hiểu. Ông cho rằng Bồ-tát làm bẽ mặt ông giữa công chúng.

Từ đó, ông Bùi Đạt (Bát Phẩm) rắp tâm phá uy tín của Bồ-tát. Về đến nhà ông liền nói với con trai mình là Bùi Du (xã Hợi):

- Thằng Thầy chùa Lâm Văn Tuất này khinh tao, mày lên chùa xử nó cho tao!

Ông còn gán nhiều chuyện xấu cho Bồ-tát, kể cả văng tục….

Thế là Bùi Du (xã Hợi) lên chùa gây sự một ngày trời. Xã Hợi đóng cửa chùa, day dí Bồ-tát, đá đổ lung tung đồ dùng trong chùa… hắn cậy mình là một võ sĩ…còn Bồ-tát thân thể lại ốm yếu, trường trai đạm bạc thì không thể nào chịu nổi những cú đấm đá đầy uy lực của hắn.

Nào ngờ, Bồ-tát vẫn ung dung né tránh được những cú đòn độc hiểm của hắn. Sau việc đó cha con vẫn căm giận Bồ-tát, còn bà con Phật tử xung quanh tỏ ra ủng hộ và ân cần săn sóc cho sức khỏe của Bồ-tát.

Vụ xung đột này cha con hắn được đua đến Phủ đường để xét xử và cha con hắn bị thua kiện.

Từ đó Bát Phẩm và Xã Hợi ôm nặng mối thù với Bồ-tát và với đạo Phật, chỉ chờ có cơ hội là phục thù.

Tình hình này giải thích tại sao Bồ-tát thường đi đi về về ở Pháp Hải, và một phần chúng ta cũng hiểu sự ra đi của Bồ-tát vào năm 1940.

(Viết theo lời kể của thầy Viên Như và Phật tử Nguyễn Thị Âu, PD Đồng Châu (86 tuổi) là đệ tử của Bồ-tát Thích Quảng Đức, hiện nay ở Phuớc Thuận, Ninh Hòa)

 

BỒ TÁT HÀNH ĐẠO Ở TẠI CÙA LONG PHƯỚC 1959

 

Trong những năm 1959, cứ vào ngày mùng một Tết Nguyên Đán hàng năm, ông xã làng cùng ban hào lão đến chùa lạy phật, riêng bàn thờ Tổ thì không lạy, Bồ-tát thấy vậy chất vấn:

- Tại sao bàn Tổ này mấy ông không lạy?

Ông xã làng cùng ban hào lão trả lời:

- Thưa thầy, chỗ nào có Phật là chúng tôi lạy, ngoài ra bàn này là Tổ của chùa chúng tôi không lạy.

Qua năm sau, Bồ-tát bảo mấy chú điệu đem Phật Quán Âm đặt trước bàn thờ Tổ. Đến ngày mùng một Tết, ông xã và hào lão đó cũng không đến lạy Phật Quán Âm.

Bồ-tát hỏi:

Trước đây mấy ông nói chỗ nào có Phật thì lạy, sao bàn này có Phật mà mấy ông không lạy? Như vậy mấy ông có tội vì bản ngã còn lớn hơn đối với Phật, với Tổ đấy.

(Viết theo lời kể của thầy Thiện Tịnh chùa Long Phước - Ninh Quang)

 

 

DỮ LIỆU NHỮNG NĂM THÁNG BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC HÀNH ĐẠO TẠI XỨ TRẦM HƯƠNG

 

1896? Tổ Hoằng Thâm khai sơn chùa Thánh Kinh.

1897   Bồ tát Thích Quảng Đức ra đời.

1898   Tổ Hoằng Thâm mua ruộng cúng chùa Thánh Kinh.

1902   Tổ Hoằng Thâm nhận làm trú trí chùa Long Sơn.

1903   Bồ tát đến ở với Tổ, đổi tên Nguyễn Văn Khiết.

1908  Hoằng Thâm sáp nhập chùa Thánh Kinh vào chùa Long Sơn., đúc đại hồng chung và đem 22 mẫu ruộng chùa Thánh Kinh cúng 16 mẫu cho chùa Long Sơn, 3 mẫu cho chùa Long Hòa và 3 mẫu cho tổ đình Linh Sơn.

1914  Bồ tát được gởi vào chùa Linh Sơn ở Cam Ranh tham học với thiền sư Thiện Tường.

1917  Bồ tát làm Tri sự chùa Long Sơn (Phú Cang, Vạn Phú, Vạn Ninh, Khánh Hòa).

1921  Tổ Hoằng Thâm viên tịch.

1925  Bồ tát vào tổ đình Thiên Bửu (Thượng) (Điềm Tịnh, Ninh Phụng, Ninh Hòa), tham học với thiền sư Thanh Chánh - Quảng Đạt - Phước Tường (1867-1932).

1927  Bồ tát nhập thất tại Núi Đất (Địa Sơn, Mỹ Trạch, Ninh Hà, Ninh Hòa).

1932 Bồ tát về lại Thiên Bửu cư tang Bổn sư cầu pháp Tổ Thanh Chánh - Phước Tường viên tịch.

1933 Bồ tát trú trì chùa Sắc tứ Thiên Ân (Phước Thuận, Ninh Đông, Ninh Hòa).

1935 Bồ tát khai sơn chùa Thiên Lộc tại Núi Đất (Mỹ Trạch, Ninh Hà, Ninh Hòa).

- Sau Bồ tát giao trách nhiệm cho đệ tử mình là HT Đồng Trí -Thủ Thiên làm trú trì và cai quản.

1936 Bồ tát xuống trú trì chùa Thiên Tứ, đúc 2 chiếc chuông gia trì (hiện còn), một ghi trú trì hiệu Quảng Đức kiến tạo Ất Hợi niên (1935) thập nhất nguyệt cát nhật, và một ghi Hòa thượng hiệu Nhơn Trí kiến tạo, Bính Tý Bảo Đại thập nhất niên (1936) thất nguyệt thu.

- Có thời gian đến trụ trì chùa Khánh Long.

- Bồ tát làm Chứng minh đạo sư hội An Nam Phật Học Ninh Hòa (văn phòng tạm mượn chùa Khánh Long, Phước Đa, Ninh Đa, Ninh Hòa).

- Bồ tát cùng thiền sư Thích Hưng Từ mở Tăng học đường tại Tổ đình Thiên Tứ.

1937 Bồ tát Chứng minh rồi giao cho thiền sư Thích Hưng Từ trùng tu Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ, xây dựng thêm Đông Đường và Tây Đường cùng các gian nhà lá cho Tăng chúng tu học.

- Bồ tát cử đệ tử mình là HT Đồng Trí - Thủ Thiên làm tri sự tại Tổ đình Thiên Tứ.

- Bồ tát lập hội An Nam Phật học đầu tiên của vùng Ninh Diêm tại chùa Long Hà (Bá Hà, Ninh Thủy, Ninh Hòa).

1940 Bồ tát cùng Chư sơn Tăng đã thống nhất ý kiến bổ nhiệm chính thức thiền sư Thích Hưng Từ kế vị trú trì Tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ.

- Bồ tát khai sơn chùa Pháp Hải (Ngọc Sơn, Ninh An, Ninh Hòa). Sau Bồ tát giao lại cho người anh cả của mình là thiền sư Thị Cảnh - Hành Phước - Viên Minh làm trú trì.

- Bồ tát về trú trì Tổ đình Linh Sơn (Hiền Lương, Vạn Lương, Vạn Ninh).

1941 Bồ tát trùng tu Tổ đình Linh Sơn và Chứng minh cho chùa Bảo Sơn dựng lại. Kiểm Tăng cho Chi hội Phật Giáo Ninh Hòa.

- Bồ tát Chứng minh đúc đại hồng chung chùa Long Hà (Bá Hà, Ninh Thủy, Ninh Hòa).

1942 Bồ tát giúp thiền sư Thích Hưng Từ mở Đại giới đàn tại chùa Kim Long (Phú Hòa, Ninh Quang).

- Bồ tát chủ trì đón nhận bằng Sắc Tứ tổ đình Linh Sơn (Hiền Lương, Vạn Lương, Vạn Ninh).

1943 Bồ tát khành thành chùa Chi Hội Ninh Hòa. Rồi cử đệ tử mình là thiền sư Đồng Trí - Thông Huệ - Từ Ân (1886-1956) làm trú trì.

1944 Bồ tát trùng tu Tổ đình Sắc Tứ Linh Sơn và mở rộng đất đai Tổ đình.

1945 Bồ tát rời Ninh Hòa - Khánh Hòa sau những biến động chính trị.

1952 Bồ tát khai sơn chùa Lạc Sơn (Ngọc Sơn, Ninh An, Ninh Hòa)

1956 Bồ tát trở lại Núi Đất thăm lại chùa xưa và cổ tháp, xem chiến tranh đã làm hư hại như thế nào?

1957 Bồ tát xây dựng chùa Pháp Hải (Lạc Bình, Ninh Thọ, Ninh Hòa).

- Chứng minh xây dựng và đặt tên chùa Phước Hòa (Lạc Hòa, Ninh An, Ninh Hòa).

1959 Bồ tát trú trì chùa Long Phước (Thạch Thành, Ninh Quang, Ninh Hòa). Nơi Bồ tát trú trì cuối cùng tại Khánh Hòa.

1961 Bồ tát mở Trai đàn chẩn tế 3 ngày đêm tại chùa Long Phước để vận đông xây dựng lại chùa tại Núi Cấm (Thạch Thành - Ninh Quang).

1963 Ngày 20/2 Qúy Mão (1963) Bồ tát vào lại Sài Gòn để tham gia trong công cuộc đấu tranh chống đàn áp Phật Giáo của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm (sau khi vừa giỗ Tổ khai sơn chùa Long Phước vào ngày 19/2 -1963).

 

ĐÔI NÉT VỀ CẢNH QUAN TỔ ĐÌNH SẮC TỨ THIÊN TỨ

NÚI ĐẤT (Mỹ Trạch - Ninh Hà - Ninh hòa - Khánh Hòa)

 

Khách tham quan thập phương trong nước và quốc tế muốn đến viếng thăm ngôi cổ tự Sắc Tứ Thiên Tứ chúng ta có thể đi một trong hai lối để về chùa. Lối đi chính là khi chúng ta dừng lại ở chợ Bến Lở (ngã tư chợ Bến), trên đường quốc lộ 1A đoạn Nha Trang – Ninh Hòa cách trung tâm thị trấn Ninh Hòa gần 2km về hướng Nam. Con đường vào cổng làng Mỹ Trạch cũng chính là lối đi chính về hướng Đông. Khoảng chừng 200m đến ngã tư. Nơi đây có chợ Xôm, nếu rẽ sang hướng Nam sẽ đến làng Mỹ Thuận. Nếu rẽ sang hướng Bắc đi chừng 200m nữa sẽ gặp chùa nằm dưới chân núi.

Còn lối thứ hai cũng rẽ vào hướng Đông, sát phía Bắc hòn Núi Đất và khu Cụm Nhỏ của nó chúng ta cứ đi ven theo chân núi, quẹo vào hướng Đông Nam cũng sẽ tới chùa. Con đường này, ở đoạn gần đến chùa còn rất hẹp, nên có nhiều khách tham quan trong nước và quốc tế đều có sự ước muốn lối đi này được mở rộng, tạo điều kiện dễ dàng cho tất cả các loại phương tiện đi lại ra vào chùa. Nếu mở được con đường liên thôn, Mỹ Trạch - Phước Lộc, từ điểm xuất phát là chợ Xổm, Mỹ Trạch, theo hướng Bắc, ngang qua trước cổng tam quan chùa Thiên Tứ, chạy bọc ven chân núi ra đến đường quốc lộ 1A, nhà chùa sẽ thực hiện một cái cổng gần đây, viết tên hiệu chùa cho tiện việc tham quan, chiêm bái nơi địa linh ươm giống Bồ tát đối với Phật tử trong và ngoài nước hành hương.

Chúng tôi ước muốn rằng trong một tương lai không xa nếu được sự nhiệt tình quan tâm chiếu cố từ phía chính quyền địa phương các cấp thì điều mơ ước chung của chư Phật tử trong và ngoài nước sẽ trở thành hiện thực.

Ngôi cổ tự Thiên Tứ (Nam) nằm song song bên cạnh ngôi đình làng Mỹ Trạch (Bắc), đưới chân hòn Núi Đất về hướng Đông tiếp giáp với đồng lúa và ruộng lác. Phía nam là con mương nước và nhà cửa xóm làng.

Chùa được xây dựng vào năm 1744 do Tổ Pháp Thân Đạo Minh khai sơn lần thứ 3, dưới thời Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Tổ Đạo Minh là một bậc đại lão Thiền sư chơn tu đắc đạo, trụ thế đến 119 năm (1684-1803). Ngài thị tịch trong tư thế kiết già trên ngọn núi. Hiện bảo tháp Ngài vẫn còn, tuy theo giòng thời gian bị xói mòn tàn tạ, rong rêu và cổ kính. Cũng như ngôi cổ tháp đìu hiu chẳng mấy khác, chùa Thiên Tứ kể từ đấy cũng im lìm vắng bặt theo hình bóng của tổ khai sơn. Không có một vị thầy nào đến trú trì nữa. Mãi đến hơn một thế kỷ sau mới có sự xuất hiện của Bồ tát Quảng Đức nơi này.

Sự trống vắng cô liêu dài dặc hơn một thế kỷ như thế thật quá lạnh lùng. Kể từ năm 1803 Tổ Đạo Minh bỏ nhục thân trên Hòn Đất, mãi đến năm 1927, Bồ tát Quảng Đức mới tiếp nối, truyền thừa dòng Thiền Chúc Thánh nơi này. 

Thiền sư pháp hiệu Đạo Minh

Ba trăm năm trước tiên sinh lánh trần

Kiết già thị tịch an nhiên.

Đến nay bảo tháp còn truyền nhơn gian.

Thế rồi một đại vĩ nhân

Sau hơn thế kỷ đã lần đến đây

Dựng thảo đường cạnh tháp xây

Cất chùa Thiên Lộc đêm ngày luyện tu

Hiệu là Quảng Đức đạo sư

Chính danh Bồ tát đại từ đại bi.

                     (Trích. Hàn Linh Giang. Nơi đích thực địa linh)

Phải nói rằng chính một phần lớn là do uy đức của Tổ Đạo Minh mãi còn vang vọng, bánh xe Pháp tuy trong mịt mờ cát bụi vẫn không ngừng lăn xoay chuyển động, nên dẫu cho trãi qua quảng thời gian cách biệt quá lâu xa, hơn một thế kỷ, vẫn được Bồ tát quảng Đức tiếp nối công phu và thành đạt qủa vị hết sức viên mãn. Hơn thế nữa, hình ảnh Bồ tát Quảng Đức đã làm nên trang sử vang thiên thu tuyệt tác.

 

- Gặp cơn Pháp nạn lâm nguy

Tự thiêu thân để cứu vì chúng sinh

                    (Trích. Hàn Linh Giang. Nơi đích thực địa linh)

 

- Chỗ Ngài ngồi một thiên thu một thiên thu tuyệt tác

Trong vô hình sáng chói nét từ bi

                  (Trích. Vũ Hoàng Chương. Lửa từ bi)

 

Nếu nói chủ quyền Hòn Đất thuộc Tổ Đạo Minh cũng đúng, vì Ngài đã mở đất nơi núi này để lập cảnh già lam cách nay gần 3 thế kỷ. Lại nếu nói chủ quyền Hòn Núi Đất thuộc Bồ tát Quảng Đức cũng không sai, vì nếu như sau Tổ Đạo Minh viên tịch hơn một thế kỷ, Bồ tát Quảng Đức không đặt chân tới nơi này để cất chùa cạnh cổ tháp luyện tu thì liệu ngày nay chúng ta ai còn biết đến chốn địa linh này?.

Xin dập đầu kính lạy các ngài đã lưu dấu Thánh tích trên hòn Núi Đất này muôn thuở.

Trở lại sự hành đạo của Bồ tát Quảng Đức, khi qúa bước đến Hòn Đất để kính ngưỡng và chiêm bái bậc chơn tu đắc đạo là thiền sư Pháp thân Đạo Minh, ngài đã khai sơn chùa Thiên Lộc là năm 1935 và sau đó trùng tu kiêm trú trì chùa Thiên Tứ từ 1936-1940. Đến năm 1946 chùa Thiên Lộc bị Pháp lên chiếm làm đồn bót. Riêng cổ tự Thiên Tứ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Hiện nay tổ dình Sắc tứ Thiên Tứ vẫn còn lưu giữ một bảng hiệu của chùa Sắc Tứ Thiên Lộc, 2 chiếc chuông gia trì và các tượng Thánh, tượng Phật, thờ Tổ… ngoài ra còn một số bàn ghế và giường nằm của Bồ tát Quảng Đức còn lưu lại đến ngày nay.

Tuy đã qua 5 lần trùng tu vào các năm: 1853, 1912, 1937, 1984, 1990. Nhưng chùa Thiên Tứ vẫn sơ sài đơn điệu, với tường vách rạn nứt, lở lói, mái lợp dột nát. Gian chính điện có diên tích quá chật hẹp. Sự thờ phượng vì thế bị hạn chế trong khoảng không gian nhỏ bé, cũ kỹ và đơn sơ. Gian thờ Tổ và gian khách Tăng cũng thô tháp chẳng kém. Nhưng hàng năm, vào những ngày vía Phật, Tổ chùa Thiên Tứ còn tổ chức các ngày giỗ của Tổ Đạo Minh, Bồ tát Quảng Đức, Thiền sư Hưng Từ, chư Thánh tử đạo vì Pháp thiêu thân, hiệp kỵ chư tổ đức Tổ tiên Tâm linh một cách hết sức long trọng, trang nghiêm và tôn kính.

Chùa Thiên Tứ tính cho đến nay đã được 232 năm (kể từ 1744), là một trong những ngôi chùa cổ của Khánh Hòa nói chung và Ninh Hòa nói riêng. Đặc biệt nơi đây đã từng có bóng dáng của hai vị tiền sư chơn tu đắc đạo nổi tiếng là Pháp thân Đạo Minh và Bồ tát Quảng Đức. Cộng với công năng hoằng pháp của thiền sư Thích Hưng Từ (thế kỷ 20) đã từng trú trì trong các năm từ 1936 -1942 làm cho sắc diện của ngôi chùa cổ này nổi bật lên trên một tầm cao nhất định.

Tuy nhiên, sau năm 1976, Ngài Như Nghĩa Không Niệm Tấn Hạnh của dòng Chúc Thánh đời thứ 41, trú trì truyền thừa thứ 6 đã vắng bóng. Chùa không còn Tăng trong suốt 10 năm. Cảnh chùa chỉ phó mặc cho các phụ lão trong làng trông nom hương khói, mãi cho đến năm 1986 tôi mới theo sư phụ tôi về tập tu ở nơi này được mấy năm. Cho đến năm 1990, trước lúc ra đi vào Nam và các nơi khác tu học, tôi thắp hương lễ Phật, Tổ, viếng thăm tháp cổ thiền sư Đạo Minh, đất chùa Thiên Lộc của Bồ tát Quảng Đức.

 

Tôi lễ bái và khấn nguyện với các bậc chân tu đắc đạo rằng: “Sẽ có một ngày con trở lại nơi này để phụng hành chánh pháp”.

Mấy lần hương đã tàn mà tôi còn lưu luyến bùi ngùi chưa muốn dời chân. Vì tôi nghĩ rằng sở dĩ Hòn Núi Đất và khu Cụm Nhỏ của nó được xem như chốn địa linh là bởi do công phu tu hành chứng đắc liễu ngộ của Tổ Đạo Minh và Bồ tát Quảng Đức, lưu lại tấm gương Phật pháp mãi mãi cho đời. Các Ngài đã ra đi nhưng hồn thiêng còn ở lại. Đó là sự bất diệt của các Ngài, khiến cho hàng hàng, lớp lớp đệ tử của các Ngài về sau mãi còn bái phục, theo gương hạnh đầu đà khổ luyện chân tu của các Ngài. Thật đáng cho chúng ta trân trọng vô cùng đối với sự quyết chí thành đạt qủa vị của các Ngài. Hòn Núi Đất (Điạ Sơn) có được nổi tiếng trong và ngoài nước hay không cũng chính là nhờ vào công đức của các Ngài. Nhưng hôm nay đây, hiện tại ở nơi này, Tháp cổ vẫn điêu tàn, chùa xưa vẫn hoang phế, thật là ảm đạm đìu hiu. 

Lẽ đâu năm tháng buồn hiu

Địa linh Núi Đất tiêu điều xác xơ

Vẫn còn cảnh vật hoang sơ

Là đây cổ tháp còn trơ dáng hình

Chùa Thiên Lộc chỉ còn nền

Trơ vơ gạch đất, im lìm tháng năm. 

Tôi lặng lẽ dạo quanh mấy lần ở khu Cụm Nhỏ với nỗi niềm băn khoăn vô hạn vì đã có dấu hiệu tàn tiêu chốn này rồi. Song song với việc san lấp dần Cụm Nhỏ, nhà cửa đã bắt đầu được xây cất rãi rác ở đây. Tôi suy nghĩ không biết về sau nữa, cảnh quang nơi này sẽ bị tàn phá hoang phế đến mức độ nào. Long mạch chắc không còn nữa!.

Tôi ra đi và rồi sau hơn 10 năm dài đăng đẳng nữa, tôi lại trở về Hòn Đất để nhận lãnh chức vụ Trú trì (như vậy, chùa Thiên Tứ lần thứ hai trong suốt quãng thời gian hơn 20 năm không có sư Trú trì). Lúc này, qủa thật chùa xưa và cảnh quang Hòn Đất rất điêu tàn xơ xác còn hơn 20 năm về trước nữa!.

 

Bao năm chùa chẳng có Thầy

Bà con bản xứ vơi đầy quạnh hiu!

 

Hiện nay tại Tổ đình Sắc tứ Thiên Tứ có thờ chư tổ đức thuộc phái Lâm Tế của tổ Minh Hải Pháp Bảo và Tổ Thiệt Diệu Liễu Quán với các bài vị sau:

 

1- Tông Lâm Tế Chúc Thánh:

- Từ Lâm Tế chánh tông, khai sơn Chúc Thánh tự Tam Thập tứ thế húy Minh Hải Pháp Bảo Hòa Thượng tổ sư mạo tòa.

- Từ Lâm Tế chánh tông khai sơn Phước Lâm tự tam thập ngũ thế, húy Thiệt Thể Triêm Ân hòa thượng tổ sư mạo tòa.

- Từ Lâm Tế chánh tông khai sơn Từ Quang tự tam thập lục thế húy Pháp Chuyên Diệu Nghiêm hòa thượng tổ sư mạo tòa.

- Từ Lâm Tế chánh tông Thiên Tứ đường thượng tam thập lục thế Pháp Thân, hiệu Đạo Minh hòa thượng mạo tòa.

- Từ Lâm Tế chánh tông tam thập cửu thế bảo Sơn đường thượng húy thượng Ấn hạ Chánh, hiệu Huệ Minh.

- Từ Lâm Tế chánh tông, tứ thập thế, Linh Son đường thượng, húy thượng Chơn hạ Hương hiệu Thiên Quang hòa thượng chi giác linh toạ vị.

- Từ Lâm Tế chánh tông Long Sơn đường thượng tứ thập nhất thế húy thuợng Như hạ Đạt, tự Giải Nghĩa hiệu Hoằng Thâm hòa thượng giác linh.

- Từ Lâm Tế chánh tông, khai kiến Thiên Lộc Tự, trú trì Sắc Tứ Thiên Tứ tổ đình tứ thập nhị thế, húy thượng Thị hạ Thủy tự Hành Pháp hiệu Nhơn Trí Quảng Đức tổ sư.

- Từ Lâm Tế chánh tông Pháp Hải đường thượng, tứ thập nhị thế, húy thượng Thị hạ Cảnh tự Hành Phước hiệu Viên Minh giác linh đại sư.

- Từ Lâm Tế chánh tông, Thiên Tứ đường thượng, tứ thập nhị thế, húy thượng Thị hạ Lạc tự Hành Thiện hiệu Hưng Từ đại lão thiền sư.

- Từ Lâm Tế chánh tông, Thiên Tứ đường thượng, tứ thập nhất thế, húy thượng Như hạ Nghĩa tự Không Niệm hiệu Tấn Hạnh đại sư.

 

2- Tông Lâm Tế Liễu Quán:

- Từ Lâm Tế chánh tông tam thập cửu thế húy Hải Bình tánh kiên hiệu Bảo Tạng hòa thượng giác linh chi vị.

- Từ Lâm Tế chánh tông tam thập cửu thế húy Hải Châu tánh kiên hiệu Bảo Sở hòa thượng giác linh chi vị.

- Từ Lâm Tế chánh tông tam thập cửu thế húy Hải Ngôn tánh kiên hiệu Phước Thọ hòa thượng giác linh chi vị.

- Từ Lâm Tế chánh tông tứ thập nhất thế húy Thanh Chánh, thượng Quảng, hạ Đạt, hiệu Phước Tường hòa thượng tổ sư liên tòa.

- Từ Lâm Tế chánh tông, Thiên Tứ đường thượng tứ thập ngũ thế húy thượng Quảng hạ Thành hiệu Tấn Hưng đại sư.

- Tứ Lâm Tế chánh tông Thiên Tứ đường thượng, tứ thập ngũ thế húy thượng Quảng hạ Luận tự Thiện Đàm hiệu Từ Phương đại sư.

Nơi Thánh Tích Địa Linh ươm giống Bồ tát của hai bậc thiền sư đắc đạo, Đại lão Thiền sư pháp thân Đạo Minh thế kỷ XVII - XIX. Bồ tát Thích Quảng Đức thế kỷ XIX - XX tại hòn Núi Đất (Địa Sơn) Ninh Hòa miền Trung Việt Nam, làm nhà bảo tàng, dựng tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức, xây nhà tình thương, mở trường học, nuôi trẻ mồ côi, nhà dưỡng lão, mở phòng mạch từ thiện xã hội… trong tương lai không xa và ước mong của tôi cũng như đại đa số tín đồ Phật tử thập phương, kể cả một số nhà trí thức, trong nước cũng như quốc tế tham quan là nếu hội đủ nhân duyên, hòn Núi Đất và Cụm Nhỏ của nó sẽ được phục hồi dáng vẻ nguyên thủy ban sơ (hòn Cụm Nhỏ giống như hòn non bộ thiên nhiên từ trong Núi Đất nhô ra theo hướng Đông Bắc; nay đã hoàn toàn mất dấu tích.

Phần đông các tín đồ đạo hữu, khách thập phương trong nước cũng như khách quốc tế cũng có nhận định rằng đối với đất già lam thiêng liêng, dẫu cho bất kỳ ai, trong bất kỳ thời đại nào, nếu có rắp tâm mưu đoạt, chiếm dụng thì sớm muộn gì họ cũng sẽ dẫn đến sự thất bại mà thôi! Lịch sử cận đại đã chứng minh được điều đó.

Từ lâu, nơi địa linh Núi Đất này ít người biết đến, nhưng mới đây trong 3 năm liền (2004-2006) có các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ, phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình… đã lần lượt tới đây để thu thập tài liệu, viết báo, làm phim… Đã có trên 10 bài được đăng tải thứ tự như sau:

- Báo Khánh Hòa chủ nhật số 1641 ra ngày 04/4/2004

- Báo Khánh Hòa thứ hai số 1650 ra ngày 19/4/2004

- Báo VHTT Khánh Hòa số 4/2004

- Phóng sự truyền hình KTV 2004

- Báo Giác Ngộ số 227 ra ngày 03/6/2004

- Báo Giác Ngộ số 251 ra ngày 18/11/2004

- Báo VHTT Khánh Hòa ra số 4/2005

- Báo Giác Ngộ số 278 ra ngày 26/5/2005

- Báo Giác Ngộ số 279 ra ngày 02/6/2005

- Báo tạp chí mới Nông thôn kỳ 1 tháng 7 năm 2005

- Báo Giác Ngộ số 239, ngày 18/5/2006

- Báo VHTT Khánh Hòa số 4/2006

- Bồ tát Thích Quảng Đức - Ngọn lửa và trái tim do Giáo sư Lê Mạnh Thát chủ biên. Nhà xuất bản Tổng Hợp thành phố Sài Gòn ngày 06/7/2005.

- Một số tư liệu mới về Bồ tát Thích Quảng Đức của Giáo sư Lê Mạnh Thát - Nhà xuất bản Tổng Hợp thành phố sài Gòn 2005.

- http://www.ninh-hoa.com

 

“Sau khi các bài báo phim ảnh và truyền hình đua tin lên tiếng bênh vực và đấu tranh cho sự bảo tồn Hòn Đất (Điạ Sơn) nên đã có sự lắng dịu giảm thiểu sự xúc phạm rõ rệt…”

(Trích: Tế Niệm THEO DẤU CHÂN XƯA)

 

Vì Vậy để cho thắng tích đất già lam được bền vững lâu dài, chẳng những đối với Phật giáo đồ chúng ta trân trọng mà còn là của hết thảy mọi người trong xã hội đều có ý thức bổn phận giữ gìn chung cảnh quang thiêng liêng này, nhất là người ở tại địa phương đều phải có sự quan tâm bảo quản.

Người xưa đã từng nhắc nhở rằng:

“Chùa tan, làng mạt

Đình tàn, họa đến dân.”

 

Âu cũng là lời nhắc nhở chung cho tất cả chúng ta. Và hơn nữa:

Núi Đất là đây chốn địa linh,

Phải nên tôn tạo chốn quê mình

Đừng vì lợi nhỏ tiêu công đức

Nhắc nhở cùng nhau gắng giữ gìn.

 


PHÁC HỌA VỀ HÒN ĐẤT Ở NINH HÒA (KHÁNH HÒA)

 

ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ: 

v     TỈNH KHÁNH HÒA:

Khánh Hòa là một tỉnh phía Nam của miền Trung nước Việt (Nam trung Trung bộ) còn gọi là “xứ Trầm hương” nằm giữa vĩ tuyến 12 và 13, có diện tích 5.258km² gồm 7 huyện là: Cam Ranh, Khánh Sơn, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Ninh Hòa, Vạn Ninh và huyện đảo Trường sa. Phía bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía đông giáp biển Đông (Thái Bình Dương) chạy dọc theo bờ biển gần 120 km, phía tây giáp với núi rừng trùng điệp, cao nguyên tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Lâm Đồng. Nằm ven dãy Trường Sơn, phần lớn diện tích là núi đồi, vóc dáng thon nhỏ. Đồng bằng nằm rải rác, thường xen lẫn với nhà cửa nên rất hẹp, thỉnh thoảng lại ngăn cách, đứt quãng bởi những ngọn núi cổ lô nhô, nhoài mình ra hướng biển. Từ xưa, Khánh Hòa với Phú Yên và Bình Định là ba tỉnh có sự quan hệ thâm tình như ruột thịt, keo sơn gắn bó rất mật thiết với nhau được miêu tả qua câu ca dao nổi tiếng sau đây.

“Anh về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em”

Điểm ưu việt bậc nhất của tỉnh Khánh Hòa được nổi tiếng là xứ Trầm Hương, gắn liền với truyền thuyết bà Thánh mẫu Thiên-YANA, bà tổ trầm kỳ (hiện pho tượng bà được thờ phụng nơi cổ tháp đền thờ nữ thần mẹ xứ sở Ponagar của người Chăm tại phía Bắc thành phố biển Nha Trang). Khánh Hòa có rất nhiều loại trầm và kỳ nam hảo hạng. Theo truyền tụng của những người dân ở đây, thuở xưa, nhờ có trầm và kỳ nam theo gió thoảng đưa hương, đồng bào nơi này ít hay xảy ra các loại bịnh ôn dịch nguy hiểm đến tánh mạng con người. Trầm và kỳ nam được sanh ra từ lõi và u bướu của cây dó. Cây dó hình như có mặt trong khắp núi rừng ở nước ta nhưng chỉ riêng ở Khánh Hòa cây dó mới có kỳ nam, nhất là cây dó bầu. Kỳ nam vốn là một loại đặc sản để dùng vào công mỹ nghệ cao cấp đặc biệt là loại dược liệu vô cùng qúy hiếm có giá trị rất cao trên thương trường trong nước và quốc tế. Trầm kỳ có nhiều nhất và chất lượng tốt nhất vẫn nằm ở địa bàn hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa (nơi sinh trưởng và hành đạo lâu năm nhất đối với Bồ tát Quảng Đức).

Khánh Hòa hiện nay có hai di sản văn hóa thế giới được Unesco công nhận đó là vịnh Nha Trang, thành viên thứ 29 thuộc câu lạc bộ các vịnh đẹp nhất thế giới và vịnh Vân Phong là vịnh có rừng nguyên sinh đứng hàng đầu thế giới. Ngoài ra còn có cảng biển vịnh Cam Ranh cũng đứng vào hàng ngũ bậc nhất thế giới. Khánh Hòa còn là một vùng đất “có hình thể trọng yếu cua một phương” TRICH-Lê Qúy Đôn-PHỦ BIÊN TẠP LỤC. – “miền đất nhiều kỳ thú (the many splendoured land)”. TRÍCH-Vũ Ngọc Phương.

 v     HUYỆN NINH HÒA

Ninh Hòa nằm ở phía bắc của tỉnh Khánh Hòa. Đông giáp biển Đông, Tây giáp huyện M’Drak của tỉnh Đắc Lắc, Nam giáp thành phố Nha Trang, Bắc giáp huyện Vạn Ninh (cực bắc của tỉnh Khánh Hòa). Ninh Hòa nổi tiếng có nhiều Cọp nhất tỉnh Khánh Hòa. Có câu: “cọp Ổ Gà, ma Bình Thuận, mưa Đồng Cọ, gió Tu Oa”. Núi Ổ Gà nằm ở  phận phía bắc huyện Ninh Hòa.

Theo “Phủ Biên Tạp Lục” của nhà bác học Lê Qúy Đôn, vào năm 1653 vua Chiêm là Bà Tầm thua trận xin hàng, cắt đất từ sông Phiên Lang (tức Phan Rang) ra đến đèo Cả giao cho chúa Nguyễn Phúc Tòng nhận lấy đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, Ninh Hòa lúc bấy giờ có tên là huyện Tân Định thuộc phủ Thái Khang, xứ Quảng Nam nước Đại Việt.

Ngày nay, Ninh Hòa vẫn nổi tiếng về muối Hòn Khói, được xuất khẩu sang nhiều nước bạn. Nơi đây có nhiều thắng cảnh đẹp được du khách biết đến, như suối Ba Hồ ở Phú Hữu; bãi tắm Dốc Lết ở Ninh Hải; nước suối nóng Trường Xuân ở Dục Mỹ. Có nhiều di tích lịch sử trong đó có lăng bà Vú ở xóm Rượu được xếp vào hạng di tích văn hóa cấp quốc gia, ngoài ra còn có nhiều chùa cổ vào bậc nhất tỉnh Khánh Hòa, như chùa Thiên Bửu Thượng, còn có tên gọi là chùa Kỳ Lân (Điềm Tịnh, Ninh Bình) đều có trên 300 tuổi. 

v     XÃ NINH HÀ

Trước kia là một phần của Tổng Ích Hạ. Đầu năm 1946 được đổi tên là Chí Thắng, về sau còn có những tên như: Lê Ngọc Bán, Ninh Chiến, Hòa Chính và Ninh Hà được chính quyền Ngô Đình Diệm đặt tên sau ngày đình chiến 1954.

Ninh Hà là một xã nông thôn đồng bằng về phía đông nam huyện Ninh Hòa. Đông giáp đầm Nha Phu nối liền với dãy núi hòn Hèo, tây giáp quốc lộ 1A và xã Ninh Quang, nam giáp xã Ninh Lộc, bắc giáp xã Ninh Giang.

Sông lạch ở Ninh Hà tương đối chằng chịt gồm có sông cầu Lắm, sông cầu đình Thuận Lợi, sông cầu đá Tân Tế, sông Hà Liên, sông bến Giá, sông Hà Ruốc, sông Trắc… Riêng núi ở Ninh Hà thì nhỏvà thấp gồm có hòn Một, hòn Quải và hòn Đất (Địa Sơn). Xã Ninh Hòa có cảng biển Tân Tế và “Bến Đò Lá”nổi tiếng một thời. 

v     THÔN MỸ TRẠCH

Mỹ trạch là một làng quê nhỏ, nghèo nàn, có diện tích đất tự nhiên là 181.342m² với hơn 1300 nhân khẩu. Dân cư đa số sinh sống bằng nghề nong, cộng them nghề truyền thống của làng là nghề dệt chiếu cói. Có đến trên 90% hộ trong tổng số gần 260 hộ dân làm nghề này (tính đến cuối năm 2005) với địa hình ranh giới như sau:

-Đông giáp sông Đình

-Tây giáp quố lộ 1A và ranh giới xã Ninh Quang

-Nam giáp thôn Mỹ Thuận

-Bắc giáp thôn Thuận lợi 

Trải qua bao cuộc thăng trầm lịch sử của đất nước ta, làng Mỹ Trạch cũng như nhiêu làng quê yêu dấu khác còn mang đậm chứng tích của ông cha ta về việc đã cố công duy trì khai khẩn, kiến tạo, gầy dựng và phát triển trở thành truyền thống cho bao lớp con cháu ngày nay.

Trở lại thời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần đánh Chiêm Thành từ thế kỷ XVII (1653) – theo Việt Nam Sử Lược của tác giả Trần Trọng Kim - người dân Việt di trú dần dần vào vùng đất phương nam khai hoang, vỡ hóa, mở mang kiến thiết vùng đất mới được đặt tên là Thái Ninh Phú (tức tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Lúc bấy giò, dọc theo tuyến đường xương sống Bắc Nam, đã được hình thành từng cụm dân cư, rồi lập thành làng ấp. Nơi đây chính là làng An Phú (sau là An Thạnh Đông) và được đổi tên là Mỹ Trạch cho tới ngày nay. 

SƠ LƯỢC VỀ HÌNH DÁNG BAN ĐẦU CỦA HÒN NÚI ĐẤT (ĐỊA SƠN) VÀ KHU CỤM NHỎ CỦA NÓ: 

A-    Đôi nét về Hòn Đất (Địa Sơn)

Hòn núi Đất còn gọi là “Địa Sơn” (thuộc địa phận thôn Mỹ Trạch, xã Ninh Hà, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa) có cao độ khoảng 25m. Nếu ở ngay đường quốc lộ 1A nhìn ngược lên vách đá núi lởm chởm về hướng đông thì núi Đất tựa như bức tường đá hoặc tấm bình phong gồ ghề, rách rưới, tả tơi (do tình trạng bị xâm hại để mở rộng diện tích nhà ở của cư dân ven chân núi). Nếu đứng cách xa khoảng 1000m từ hướng đông nhìn về hướng tây thì núi đất tưa như hình thù của một con ốc hút chẳng khác vậy! Tiếc thay đầu thập niên 80 (thế kỷ XX), một hòn Cụm nhỏ lẻ loi từ phía núi đất nhoài ra theo huớng đông bắc được coi như phần chót đuôi của con ốc hút đã bị san bằng để làm trạm máy kéo. Núi Đất thuộc dạng núi cổ.

-Đông giáp đồng ruộng trồng lúa và cây lác cói (có tên khoa học là CYPENRUS)

-Tây giáp quốc lộ 1A và địa phận xã Ninh Quang

-Nam giáp con kênh nhỏ ven chân núi đưa nước về đồng ruộng

-Bắc giáp với đồng ruộng lúa hai vụ mùa. 

B-    Đôi nét về Hòn Cụm Nhỏ (Một phần nhỏ của hòn Núi Đất)

Cho tới ngày nay, mỗi khi nhắc đến địa điểm này, có người còn luyến tiếc khôn cùng. Thực ra nếu ai có biết đến nó chỉ còn hình dung lan man trong ký ức mà thôi! Vì hòn Cụm nhỏ đâu còn nữa!

Hòn cụm nhỏ là một phần đất đá được kết thành một mảng quần thể nhỏ, là một phần thoi loi không thể thiếu của núi. Đất (Địa Sơn) đã có ngay từ thuở xa xưa. Diện tích ước chừng trên dưới 2ha, nằm về hướng Đông Bắc của hòn núi này. Nó trông giống như một hòn non bộ do thiên nhiên ban tặng không khác. Vì đá lớn, đá bé, cục nhỏ, thớt ao, thớt thấp đan xen chất chồng lẫn nhau nên khá đẹp. Nơi này được xem như là cái đuôi con ốc hút (vì hình dạng của núi Đất trông giống như một con ốc hút). Hiện nay đã có hàng chục ngôi nhà do cư dân xây cất trong phạm vi này. Con ốc hút (Núi Đất) vì thế đã bị vô tình chặt mất đằng đuôi (Hòn Cụm Nhỏ) nên trông chẳng còn nguyên vẹn như vóc dáng thuở ban đầu.

Ta có thể ví Hòn Đất là mẹ, Hòn Cụm Nhỏ của nó là con. Tiếc thay cho đến bây giờ, Hòn Cụm Nhỏ đã bị tàn tiêu, xóa nhòa vết tích, chẳng khác nào bà mẹ đem con đi bỏ chợ, lạc lỏng bơ vơ rồi mất tích hẳn đứa con mình. Sự thật, không phải do bà mẹ vô ý mà chịu mất đi đứa con mình một cách đau đớn như thế, nhưng chẳng qua do sự cố ý của những kẻ vô tâm đã thừa cơ hội mà bắt cóc nó đấy thôi! (vào đầu thập niên 80 thế kỷ XX), người ta đã san ủi, phá hủy hoàn toàn nơi này để làm trạm máy kéo công cộng). 

 Núi Đất và Cụm Nhỏ

 Không Thể tách làm đôi

 Vì dáng hình ngày đó

 Con ốc hút có đuôi

Tiếc rằng không còn nữa

 Như mẹ mất con rồi

 Đất già lam xói lở

 Ai đâu kẻ đắp bồi?

 Cách chừng bảy tám mươi năm về trước dưới thời Pháp thuộc người ta còn cho biết có dạo cứ mỗi chiều về thỉnh thoảng còn có đôi ba ông hổ (cọp) từ trên Hòn Đất đi xuống dạo quanh Hòn Cụm Nhỏ có lẽ để săn bắt các con thú nhỏ để ăn, chẳng hạn như thỏ, chồn, cheo, sóc… Những khi thình lình có tiếng la thất thanh của các chú kênh kênh vỗ cánh gấp gấp để bay lên khoảng không thoát nạn, chính là lúc cọp đã vồ hụt mồi rồi đó!

Có người còn kể rằng, một buổi trưa nọ, có vài thanh niên đi câu cá, men theo mương nước, ngang qua Hòn Cụm Nhỏ, chợt bắt gặp hình ảnh một lão đạo sĩ râu tóc bạc phơ vận chiếc áo nâu bạc thếch, ngồi xếp bằng im lìm trên một mỏm đá. Một trong số thanh niên đó có ý chơi nghịch, bèn lượm một cục đá rồi ném tạt về hòn đá bên cạnh lão đạo sĩ kia. Thật bất ngờ, khi hòn đá nhỏ vừa chạm vào tảng đá lớn phát ra tiếng, thì xem lại lão đạo sĩ kia cũng đã biến mất tăm dạng hồi nào rồi!

Lại cũng vào thời đó, có một số bà con cư dân ở gần đấy kể lại rằng cứ vào lúc tảng sáng mờ sương người ta thường thấy một đạo sĩ trung niên vận áo nâu song, có bộ râu đen khá dài thường hai tay bưng một lu nước đầy do ông ta múc lên từ dưới bầu “Cây Lá” (cách đó khoảng gần 300m) và đằng vân (bay đi) vùn vụt trở về phía Hòn Cụm Nhỏ.

Có nhiều khách tham quan trong nước và quốc tế khi nghe kể những chuyện ly kỳ về Hòn Cụm Nhỏ và được biết rằng nơi này là một phần không thể thiếu của Hòn Đất, họ đều mơ ước nhìn thấy hình dáng Hòn Cụm Nhỏ thuở ban đầu của nó. Điều đó cũng dễ hiểu là tại sao những giá trị tồn cổ vẫn là điểm chú ý trân trọng của loài người?. 

 

 

CHÙA SẮC TỨ THIÊN TỨ

NGÔI CỔ TỰ Ở XỨ SỞ TRẦM HƯƠNG

 

 

Cách thành phố Nha Trang khoảng 28km về phía Bắc, đến chợ Bến Ninh Hòa, rẽ phải vào đường làng Mỹ Trạch khoảng 500 mét, chúng ta thấy cổng tam quan chùa Thiên Tứ hiện ra giữa màu xanh cây cỏ của làng nghề dệt chiếu cói Mỹ Trạch - Ninh Hà.

Chùa toạ lạc phía trước hòn Núi Đất  thuộc thôn Mỹ Trạch xã Ninh Hà, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa được khởi công xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XVIII (1744) và người khai sáng là Tổ Đạo Minh. Mặc dù đã trải qua trên 5 lần trùng tu và bị hư hại ít nhiều do sự tàn phá của thời gian, nhưng nét cổ kính rêu phong vẫn còn lưu dấu tại ngôi cổ tự này. Chùa còn được bao quanh bởi rất nhiều cổ thụ có niên đại trên 200 năm. Hiện tại chùa còn lưu giữ khá nhiều cổ vật như hộp gỗ đựng sắc tứ vua ban, chuông gia trì, các tượng cổ… Theo các vị bô lão trong vùng cho biết chùa Sắc Tứ Thiên Tứ trước đây được các vị vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… ban cho nhiều sắc phong nhưng đã bị mất mát, thất lạc do chiến tranh. Đặc biệt nhất chùa Sắc Tứ Thiên Tứ còn là một trong 14 ngôi chùa tại miền Trung mà Bồ tát Thích Quảng Đức đã kiến tạo, trùng tu trên bước đường hoằng đạo.

Được biết sau khi Tổ Đạo Minh khai sơn, chùa Sắc Tứ Thiên Tứ đã thiếu người trông nom suốt một quãng thời gian dài. Sau đó thể theo nguyện vọng của Phật tử tại nơi đây, Bồ-tát Thích Quảng Đức đã nhận lời về đảm nhiệm trụ trì từ năm 1936-1940. Trong suốt thời gian hoằng hoá tại đây, đáng kể nhất là từ năm 1937-1942 Bồ tát đã hợp lực với các bậc cao Tăng nổi tiếng như Hòa thượng Thích Hưng Từ mở nhiều khóa Hạ và Phật học để đào tạo Tăng tài với gần 100 vị từ miền Trung cho đến miền Nam. Có thể nói, công hạnh và việc làm của Bồ-tát Thích Quảng Đức đã nhiếp hóa đông đảo người dân vùng này trở về với Chánh Pháp.

Với tinh thần tri ân vị Tổ khai sơn và nương theo hạnh nguyện của Bồ-tát Thích Quảng Đức, Phật tử địa phương đang dự kiến trùng tu lại Tháp tổ Đạo Minh. Với một làng quê hiện đang trăm bề thiếu thốn, nguyện vọng đáng qúy đó không biết sẽ chờ đến bao giờ nếu như không có sự góp ý của chư Tôn Đức và thiện tín Phật tử gần xa. Năm nay, vào ngày 19/4 Âm lịch, do hội đủ duyên lành nên Đại đức Trú trì Thích Như Hoằng và Phật tử địa phương đã thể hiện tấm lòng tri ân của một người con Phật, qua việc tổ chức lễ kỷ niệm 41 năm ngày Bồ tát Thích Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân, hiệp kỵ chư Thánh Tử đạo và tưởng niệm các bậc Tiền hiền đã có nhiều cống hiến cho Đạo Phật quê hương.

(Trích từ tuần báo Giác Ngộ, số 227 ngày 3/6/2004)

 

“Người ơi chùa đất Phật vàng

Xin ai chớ có phụ phàng cảnh xưa

Cho dù tường rách mái thưa

Vẫn còn đụt nắng che mưa tháng ngày”

 

Đốt nén hương trầm lạy tổ thầy

Núi Đất con về nơi chốn đây

Ơn thầy nghĩa tổ cao hơn núi

Nghĩa nặng tình thâm sánh đất dày

Tuổi thời thơ ấu bao chìm nổi

Bốn bể năm hồ con lẻ loi

May ra gặp được Pháp sư tổ

Con nguyện phục hồi chư tổ ôi.

 

 

CHÙA THIÊN LỘC

HỒI SINH DẤU CHÂN XƯA

                                                                                           Bài ảnh Vi Ngữ

 

Những năm đầu của thế kỷ XVII dòng thiền Lâm Tế - Chúc Thánh của tổ Minh Hải - Pháp Bảo được hoằng hóa trong vùng đất của phủ Phú Yên và Khánh Hòa. Phật giáo Đàng trong  được phát triển mạnh với dòng thiền trên. Trong một lần đi hoằng hóa vào vùng đất của Phủ Khánh Hòa, Tổ Đạo Minh đã đi ngang vùng đất làng Mỹ Trạch, huyện Ninh Hòa, thấy sơn thủy là nơi tích tụ khí thiêng trời đất, lại gần khu dân cư; Tổ đã quyết định dừng chân, cắm tích trượng hoằng hóa chánh pháp. Núi đất được Tổ chọn làm nơi tu hành thiền định. Am tranh được Tổ cất phía dưới chân núi quay về hướng mặt trời mọc và đặt tên là Thiên Tứ (1744). Hàng ngày tổ vào làng khất thực và giáo hóa dân chúng trong làng. Tổ thường tham thiền nhập định dưới gốc những cây cổ thụ trên Núi Đất. Tổ thị tịch trong tư thế ngồi tham thiền. Những người tiều phu trong làng đi lấy củi thấy nhục thân Tổ thị tịch nên đã lấy đá chất lên theo tư thế ngồi kiết già. Về sau người dân dần sửa lại thành bảo tháp.

Hòa thượng Quảng Đức trong những năm cuối thập niên 20 của thế kỷ trước cũng đến vùng đất Ninh Hòa hoằng hóa. Ngài đến chùa Thiên Tứ, cảm mộ ân đức của Tổ đã phát nguyện ở lại chùa tu hành. Hòa thượng đã dựng một am tranh trên đỉnh Núi Đất cạnh tháp Tổ để tu hành và sửa chữa tháp Tổ. Năm 1935, Hòa thượng đã dựng am tranh thành chùa và lấy tên Thiên Lộc Tự, đây cũng là một trong 14 ngôi chùa mà được Hòa thượng Quảng Đức trùng tu và tạo dựng. Những năm chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng đã cùng với HT Hưng Từ và một số Hòa thượng khác mở trường Phật học tại chùa Thiên Tứ dưới chân núi, riêng Hòa thượng vẫn trú trì chùa Thiên Lộc trên đỉnh núi. Năm 1946, kháng chiến nổ ra, chùa Thiên Lộc bị phá hủy hoàn toàn. Thánh tượng, pháp khí, vật dụng… trong chùa được di chuyển xuống chùa Thiên Tứ. Chùa Thiên Lộc chỉ còn lại nền chùa đổ nát. Thời gian thấm thoát trôi qua, chùa Thiên Tứ vẫn còn, còn chùa Thiên Lộc chỉ còn là một nền đất trên đống đổ nát của ngổn ngang gạch đá. Cảm phục ân đức, Đại đức Như Hoằng để tiếp nối tiền nhân hoằng hóa. Đại đức đã thỉnh chư tôn đức kêu gọi trùng tu nơi chư Tổ lưu chân. Thầy đã vận động để làm con đường lên tháp Tổ. Núi Đất xưa kia là rừng cây, nay chỉ còn là đồi trọc, cây rừng đã bị dân điạ phương đốn sạch. Thầy phải gầy dựng lại từ đầu bằng các cây giáng hương, sao đen, gió trầm… để phủ xanh Núi Đất. Công trình trùng tu tháp Tổ và bảo tháp tưởng niệm Thiên Lộc đã được duyệt. Kinh phí dự kiến lên đến hơn 800 triệu đồng. Bảo tháp Thiên Lộc đã được dựng gần nền đất của chùa Thiên Lộc. Đây là công trình làm nơi tưởng niệm Tổ Đạo Minh và Bồ tát Quảng Đức. Bảo tháp được xây dựng ba tầng hình lục giác bằng bê-tông cốt thép. Nội thất được sơn son thếp vàng, tượng Bồ tát Quảng Đức được tạc bằng đá Non Nước. Riêng công trình trùng tu tháp Tổ Đạo Minh sẽ được nghiên cứu kỹ phần chất liệu trước khi thực hiện. Bởi tháp cũ được xây bằng hợp chất ô dước truyền thống của người xưa. Công trình phải đáp ứng được giá trị lịch sử nên việc tìm ra hợp chất đúng như tháp cũ là rất quan trọng. Tháp sẽ được giữ nguyên kích thước và hình dáng.

Lễ đặt đá được chư tôn đức làm lễ vào đầu năm 2004. Tuy nhiên, do chưa có kinh phí nên công trình không thể khởi công xây dựng. Chư tôn đức cùng Đại đức Như Hoằng kêu gọi sự ủng hộ của Tăng Ni, Phật tử cùng góp những viên gạch để hoàn thành công trình, bảo tháp thâm ân của tiền nhân đi trước.

(Tuần báo Giác Ngộ - số 278 ngày 26/5/2005)

 

 

 

----o0o---

Vi tính: Quảng Hương Phương Giang
Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 3-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544