MỘT NỮ KHOA HỌC GIA ĐÃ TỰ
CHỮA LÀNH BỊNH UNG THƯ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẢI THIỆN ĂN UỐNG
Trần Anh Kiệt
Nữ Giáo sư Jane Plant là một khoa học gia nổi tiếng
của Anh Quốc. Bà bị bịnh ung thư nhũ hoa từ năm 1987. Thông thường
thì một bịnh nhân ung thư khó mà sống sót được khi bịnh đã tái phát đến
lần thứ hai. Tuy nhiên nhờ kiến thức khoa học sẵn có cũng như với sự điều
trị và chăm sóc nhiệt tình của các bác sĩ chuyên khoa thượng thặng, bà đã
kéo dài được mạng sống. Dầu vậy bịnh của bà đã tái phát đến năm lần, rồi
cuối cùng đã lan đến hệ thống bạch huyết trong cơ thể. Trước tình trạng
nguy ngập đó, bà vẫn không chịu bó tay chờ chết mà cương quyết tự chữa
bằng cách ăn uống có phương pháp. Cuối cùng bà đã lành bịnh. Bà đã cho
xuất bản quyển sách Your Life in Your Hands (Mạng sống trong tay của bạn)
dể kể lại những kinh nghiệm cá nhân mà bà đã trải qua để quảng bá cho tất
cả mọi người. Nhận thấy đây là một tài liệu rất hữu ích nên chúng tôi xin
trích dẫn một đoạn trong quyển sách ấy để cống hiến quý vị độc giả tham
khảo.
Sau khi bịnh ung thư nhũ hoa
của tôi tái phát đến lần thứ năm, tôi nghĩ tôi sẽ không có sự lựa chọn nào
khác hơn là phải chết hoặc cố gắng tìm một phương pháp khác để tự chữa cho
mình. Tôi là một khoa học gia, dĩ nhiên tôi đã biết chứng bịnh quái ác này
hiện nay đã cướp mất mạng sống của một trong số 12 người phụ nữ tại Anh
Quốc và Úc Đại Lợi. Tôi đã cam lòng chịu giải phẫu mất đi hết một cái vú
và đã được chữa trị bằng quang tuyến liệu pháp. Tôi cũng đang được trị
liệu bằng chemotherapy và được chăm sóc bởi những y sĩ chuyên khoa tài
giỏi. Nhưng cuối cùng tôi cũng chắc chắn sẽ phải chết mà thôi.
Tôi đã có chồng, sở hữu một
ngôi nhà xinh đẹp và có hai đứa con ngoan ngoãn dễ thương mà tôi rất yêu
quý. Tôi mong muốn được sống còn. May thay niềm khao khát mãnh liệt đó đã
giúp tôi có thêm nghị lực khám phá được rất nhiều sự kiện mới mẻ mà hiện
thời một số khoa học gia khác cũng đã có cùng chung một số hiểu biết như
tôi.
Những người có liên hệ đến bịnh
ung thư nhũ hoa hẵn đều biết những trường hợp nguy hiểm khác cũng sẽ xảy
ra cho chính bản thân người bịnh. Đó là sự già nua đến sớm; sắc đẹp chóng
tàn; tuổi tắt kinh đến muộn vân vân, tất cả đều ở ngoài tầm kiểm soát. Tuy
nhiên, theo tôi, những trường hợp nguy hiểm vừa kể có thể khống chế dễ
dàng. Đó là chúng ta phải có nghị lực cương quyết thay đổi hoàn toàn một
vài nếp sống mà nhất là thói quen ăn uống hàng ngày. Điều mà tôi muốn
khẳng định cùng quý vị là bịnh ung thư nhũ hoa có thể chữa được vì chính
tôi là một bịnh nhân đã sống còn qua cơn nguy hiểm và sẽ kể cho quý vị
biết những kinh nghiệm hữu ích đó.
Khi tôi bắt đầu bị bịnh và đang
điều trị bằng chemotherapy thì chồng tôi là Peter, cũng là một khoa học
gia, làm việc tại Trung Quốc đã trở về. Anh có mang về một số tài liệu và
một số thuốc đặt (suppositories) bằng thảo dược, nghe nói là hay lắm.
Chồng tôi mô tả đây là loại thuốc trị bịnh ung thư nhũ hoa đại tài tại
Trung Quốc. Mặc dầu bịnh tình của tôi lúc bấy giờ thật là đáng ngại, nhưng
cả hai chúng tôi không khỏi phì cười. Tôi bảo nếu quả thật đây là một loại
thuốc công hiệu thì chắc tại Trung Hoa rất hiếm thấy phụ nữ bị bịnh ung
thư nhũ hoa lắm. Mà thật vậy! Theo thống kê của các nhà khoa học thì tại
khắp lãnh thổ Trung Quốc hiếm thấy phụ nữ mắc bịnh ung thư nhũ hoa. Trung
bình thì cứ mười ngàn phụ nữ mới có một người mắc phải chứng bịnh quái ác
này. Trong khi ở Hoa Kỳ và các nước Tây Phương thì trung bình cứ 12 phụ nữ
lại có một người mắc bịnh ung thư nhũ hoa. Sự kiện không phải vì dân chúng
Trung Hoa sinh sống trong vùng nông thôn nhiều hơn nên không bị nạn ô
nhiễm môi trường các loại như dân chúng trong thành phố. Bằng chứng tại
Hồng Kông, một đô thị có mật độ dân cư đông đảo và cũng học đòi theo nếp
sống Tây phương, nhưng cứ mười ngàn phụ nữ mới có 34 người chết vì bịnh
ung thư nhũ hoa. Tỷ số này vẫn còn thắng xa Hoa Kỳ và các nước Tây Phương
nhiều lắm. Dân chúng Nhật Bản tại hai thành phố Hiroshima và Nagazaki cũng
có tử suất tương tợ. Vì hai thành phố này bị nhiễm phóng xạ nguyên tử do
Hoa Kỳ ném xuống từ thời Đệ Nhị Thế Chiến. Liên quan đến dân cư trong
thành phố mắc bịnh ung thư cao, người ta cũng quan tâm đến sự quan hệ giữa
phóng xạ tuyến nguyên tử và mầm móng gây ra bịnh ung thư như thế nào.
Song, thống kê cho thấy nếu phụ
nữ Tây Phương mà di cư đến hai thành phố nhiễm nhiều phóng xạ nguyên tử ở
Nhật Bản nói trên thì xác suất bị bịnh ung thư nhũ hoa lại càng cao hơn
dân chúng dịa phương đến một nữa.
Thật rõ ràng, không phải chỉ có
môi trường chung quanh ảnh hưởng đến nguyên nhân gây ra bịnh ung thư các
loại, mà chính yếu là nếp sống cá nhân và thói quen ăn uống. Tôi cũng còn
khám phá biết thêm sự cách biệt quá xa về tỷ số mắc bịnh ung thư nhũ hoa
giữa dân chúng Tây Phương và Đông Phương không phải do nguyên nhân của sự
di truyền huyết thống. Các chuyên gia nghiên cứu khoa học đã chứng minh
cho thấy dân Trung Hoa và Nhật Bản di cư sang các nước Tây Phương, chỉ một
hoặc hai thế hệ sau là sẽ có tỷ số mắc bịnh ung thư ngang hàng với dân
chúng bản địa. Sự kiện này cũng đã xảy ra tại Hồng Kông là người Trung Hoa
nào bắt chước theo nếp sống y hệt như người Tây Phương thì cũng sẽ có nguy
cơ bị các chứng bịnh nguy hiểm tương tợ. Vì vậy người Tàu có một câu ngạn
ngữ dí dỏm gọi bịnh ung thư nhũ hoa là "chứng bịnh của những phụ nữ giàu
có". Lý do vì ở Trung Quốc chỉ có những người giàu có mới bắt chước theo
lối ăn uống của người Tây Phương mà thôi. Phần đông người Trung Hoa gọi
các thức ăn có nhiều chất béo động vật như sữa và các sản phẩm của sữa như
bơ, phó mát, sô cô la vân vân là "đồ ăn Hồng Kông". Vì đó là các thức ăn
uống du nhập từ Anh quốc vào lãnh địa này từ thuở xa xưa mà trong quá khứ
rất hiếm và quý tại lục địa Trung Quốc.
Do những dẫn chứng trên đây,
tôi nghĩ và cũng để ý thấy bịnh ung thư nhũ hoa xảy ra cho chính cá nhân
tôi cũng thường thấy xảy ra trong giới phụ nữ trung lưu và giàu có tại các
xứ Tây Phương. Qua nghiên cứu, tôi cũng đã biết được đa số những người đàn
ông bị bịnh ung thư tuyến tiền liệt cũng ở trong trường hợp tương tợ như
vậy. Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Quốc Tế (WHO), tỷ số những người đàn
ông tại Trung Quốc mắc bịnh ung thư tuyến tiền liệt không đáng kể. Trung
bình trong một triệu người chỉ có 5 người mắc phải bịnh này mà thôi. Tại
các nước Tây Phương, tỷ số này cao gấp 70 lần nhiều hơn ở Trung Quốc và
cũng phần đông xảy ra trong giới đàn ông trung lưu và giàu có. Tôi cũng
nhớ tôi đã từng hỏi chồng tôi, một khoa học gia đã trở về từ Trung Quốc,
rằng tại sao người Trung Hoa sinh sống như thế nào mà phụ nữ ít bị bịnh
ung thư nhũ hoa vậy? Chúng tôi đã lợi dụng cơ hội này để tra cứu các thống
kê cập nhật của các khoa học gia và cuối cùng đã tìm ra được giải đáp là
người Tây Phương đã ăn rất nhiều chất béo. Các nghiên cứu cho thấy trong
thập niên 1980, trung bình người Trung Hoa tiêu thụ 14 phần trăm calories
lấy từ chất béo, so với 36% của người Tây Phương. Tuy nhiên trước khi tôi
bị bịnh ung thư nhũ hoa, tôi cũng đã ăn rất ít chất béo nhưng nhiều chất
xơ. Vả lại tôi được biết đối với cơ thể của người lớn, hấp thụ nhiều chất
béo chưa hẳn đã gia tăng nguy cơ bị bịnh ung thư nhũ hoa của phụ nữ, dựa
theo các báo cáo trong quá trình nghiên cứu 12 năm qua.
Một hôm khi cùng làm việc với
chồng tôi, tôi sực nhớ không biết một trong hai chúng tôi trước đây ai đã
có lần bảo là người Trung Hoa không có dùng sữa và các sản phẩm của sữa.
Thật là khó giải thích vì đây không phải là một sự kiện được nghiên cứu
bằng khoa học. Tuy nhiên trên thực tế người Trung Hoa ít uống sữa và cơ
thể của họ cũng khó chấp nhận tiêu hóa sữa. Tôi nhớ có một thời gian đã
cùng làm việc nghiên cứu với một khoa học gia là người Trung Quốc. Vị này
bảo rằng sữa chỉ dành cho trẻ con dùng, cho nên cô rất nhã nhặn từ chối
các bữa ăn trưa nào có thực phẩm bơ sữa do tôi mời mọc. Theo thói quen của
người Trung Hoa, trẻ con cũng không được nuôi lớn bằng sữa bò mà chỉ cho
bú bằng sữa mẹ. Nếu vì sự bất tiện nào đó mà người mẹ không cho con bú
được, có thể thuê mướn một bà vú để phụ trách công việc này.
Theo truyền thống văn hóa,
người Trung Hoa có thành kiến xem việc người Tây Phương tiêu thụ sữa và
các phó sản của sữa rất kỳ lạ. Tôi còn nhớ trong một buổi khoản đãi phái
đoàn khoa học gia Trung Quốc sau thời điểm cuộc Cách mạng Văn Hóa không
lâu vào thập niên 1980. Theo sắp xếp của phòng ngoại vụ, sau bữa ăn, chúng
tôi đã mời họ dùng tráng miệng bằng kem . Họ hỏi thức ăn này được chế biến
bằng gì và cuối cùng đã lịch sự từ chối vì nó được làm bằng sữa. Trong khi
chúng tôi rất thích món khoái khẩu này.
Sữa (thông thường là sữa bò),
theo tôi nghiên cứu là loại thực phẩm có nguyên nhân gây ra các loại dị
ứng nhiều nhất. Hơn 70 phần trăm dân số trên thế giới không tiêu thụ được
sữa vì tạng phủ của họ không tiêu hóa được đường lactose. Các chuyên gia
dinh dưỡng cho rằng đây là trạng thái bình thường của những người lớn chớ
không phải là sự yếu kém nào đó của cơ thể. Phải chăng loài người đã dùng
sai loại thực phẩm không phù hợp với bản chất thiên nhiên.
Trước khi tôi bị bịnh ung thư
nhũ hoa, tôi đã dùng rất nhiều sữa ít chất béo (skim milk), phó mát và sữa
chua (yoghurt). Tôi đã coi những thứ đó như là nguồn cung cấp chất đạm dồi
dào. Tôi cũng đã ăn thịt bò nạc để bồi dưỡng. Sau khi bịnh tái phát lần
thứ năm và trong thời kỳ điều trị bằng chemotherapy, tôi lại ăn sữa chua
được biến chế bằng nguyên liệu hữu cơ để giúp cho bộ máy tiêu hóa được
khỏe mạnh bằng cách tăng thêm những vi khuẩn hữu ích cần thiết.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu hồi
năm 1989, Bác sĩ Daniel Cramer thuộc trường Đại học Harvard ở Hoa Kỳ đã
theo dõi và ghi chú hồ sơ của rất nhiều phụ nữ liên hệ đầy đủ từ chi tiết
ăn uống của họ. Kết quả cho thấy sữa chua cũng có ảnh hưởng đến nguyên
nhân gây ra các chứng bịnh ung thư noãn sào của nữ giới. Sau đó, chồng tôi
và tôi, đã dựa theo thói quen ăn uống của người Trung Hoa, đã từ bỏ sữa bò
và tất cả những sản phẩm nào có liên quan đến sữa, kể cả bánh ngọt và súp
có thành phần chế biến bằng sữa ở trong đó. Mỗi lần đến siêu thị mua đồ
ăn, tôi là người đọc rất cẩn thận công thức. Sau khi bịnh tái phát lần
này, tôi cương quyết theo dõi kết quả một cách chặt chẽ. Các bác sĩ và y
tá khuyên tôi nên ăn uống bình thường gồm thịt, cá, trứng và sữa trở lại
như xưa để bồi bổ. Nhưng tôi khước từ và tự mình chủ động theo dõi kết quả
của sự chữa trị có hữu hiệu hay không? Thế rồi sau một loạt trị liệu bằng
chemotherapy lần nữa, tôi hoàn toàn chả thấy có tiến bộ gì. Cục bướu vẫn
còn y nguyên hình dáng và kích thước như cũ. Sau khi tôi từ bỏ sữa và các
loại sản phẩm có sữa độ vài hôm thì cục u bắt đầu teo dần. Một tuần lễ
sau, cục bướu ở cổ bắt đầu ngứa, sau đó nó mềm dần và thu nhỏ hình dạng
lại. Trên đồ thị theo dõi, lằn ghi chú có chiều hướng đi xuống và cuối
cùng nó xuống sát lằn ngang ở phía dưới (tức 0 độ).
Một buổi chiều thứ Bảy, sáu
tuần lễ sau khi tôi bỏ luôn tất cả thành phần của sữa trong thực đơn của
tôi nghĩa là không còn dính dáng gì tới thức ăn có nguồn gốc động vật, tôi
ngồi thiền một tiếng đồng hồ và sau đó kiểm tra lại cục bướu thì nó đã
hoàn toàn biến mất. Tôi là người đã tự theo dõi sự diễn tiến bịnh trạng
của mình từ đầu tới cuối. Giờ phút này không có sự vui mừng nào bằng. Tôi
chạy xuống lầu và nhờ chồng tôi kiểm tra cẩn thận lần nữa. Kết quả anh
cũng chẳng tìm thấy gì.
Thứ Năm tuần lễ sau đó, tôi trở
lại phòng mạch của vị bác sĩ chuyên khoa để tái khám. Ông đã vô cùng sửng
sốt và vui mừng bảo rằng: "Tôi không còn tìm thấy dấu vết nào của bịnh ung
thư trong cơ thể của bà nữa cả !"
TRẦN ANH KIỆT
(Trích dịch từ quyển Your Life in Your hands của nữ Khoa Học Gia Jane
Plant)