ĂN CHAY ĐÚNG CÁCH VÀ ĐẦY ĐỦ
Thiện Tuệ
--- o0o ---
Trích
theo bài ăn chay và sức khỏe của con người’ do ông Trần Anh Kiệt (phỏng
dịch theo Higher Tastle đăng trong Phật Giáo Việt Nam số 49/47 Phật Lịch
2535 và mớI đây trong Phật Giáo Việt Nam số 51 Phật lịch 2536 phá hành
trong lễ Vu Lan 1992) lại có bài: ‘Phương pháp chống bệnh ung thư của
người Nhật’ do Hà Hiếu Nghĩa dịch (Paris Match 7-1984) nói về vấn đề ăn
uống theo âm dương quân bình của giáo sư Michio Kushi người Nhật, và để
đóng góp về vấn đề này chúng tôi xin gửi bài sau đây cốt giúp các vị xuất
gia cũng như cư sĩ tại gia trong việc ăn chay trường làm sau có sức khỏe.
Bài này chúng tôi lấy căn bản
phương pháp ‘macrobiotic’ (thực dưỡng) song đã phối hợp các lý thuyết về
Tây y (calo, sinh tế) và Đông y (âm dương, hàn nhiệt) hy vọng thỏa mãn
được mọi người dù có quan niệm nào trong vấn đề ăn chay.
Lấy tư cách là môn đệ và là một
người đã nghiên cứu thuyết thực dưỡng của tiên sinh OASAWA gần 30 năm nay
(từ năm 1965) và đã thực hành phương pháp này (mặc dầu nói đến cái ta là
điều đáng ghét song nếu không tự giới thiệu mình thì đọc giả còn nghi ngờ
cho sở kiến của tác giả này chăng), chúng tôi xin lược qua phong trào thực
dưỡng ở Việt Nam trước khi đề cập đến vấn đề ăn chay đúng cách và đầy đủ.
Chúng tôi xin nói sơ qua vài nét về George Ohsawa người sáng lập ra phong
trào thực dưỡng hiện nay. Tên thực của ông ta là Sakurazawa Nyoichi (Anh
Trạch Như Nhất) tiên sinh ngày 18-10-1893 trước đền Thiên Long (Tenryu)
tại kinh đô (Kyoto) thủ đô củ của Nhật trong lúc thân mẫu của người 20
tuổi lúc đó đang đi hành hương. Nhà nghèo lúc 16 tuổi tiên sinh bị lao
phổI nặng như thân mẫu và bà đã từ trần. Lúc 18 tuổi ông đã bị thổ huyết
nặng ba lần. Các y sĩ tây y đều bó tay không có cách gì trị được. Năm 1912
tiên sinh tự chữa lành bệnh nhờ áp dụng phương pháp thực dưỡng của ông
Sagen Ishizuka, Thầy của tiên sinh chủ trương rằng tất cả bệnh tật và sự
yếu kém của bản thân mà do sự ăn uống sai lầm mà ra. Ông Sagen làm cố vấn
cho ‘Thực Dưỡng Hội’ có mục đích làm cho con người sống đúng theo phương
pháp này. Lúc ông mất đám tang rất đông kéo dài hàng vài cây số ở Nhật.
Năm 1937 Ohsawa được cữ làm hộI trưởng hộI này và xuất bản cuốn: ‘TÂN THỰC
DƯỠNG LIỆU PHÁP’ (tiếng Pháp nhan đè ‘Guérir par la dietetique nouvelle’).
Cuốn này in gần 700 lần bằng Nhật ngữ. Ohsawa đã viết trên 300 trăm cuốn
sách bằng Nhật văn và nhiều bài báo. Ông diễn thuyết ở nhiều nước. Năm
1961 xuất bản ‘Zen macrobiotic’ hay nghệ thuật sống lâu và sống trẻ. Nhiều
trung tâm thực dưỡng đã thành lập ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tiên
sinh đã tự chửa bệnh nặng cho mình ba lần: lúc trẻ bị lao, 1945 bị quân
phiệt Nhật cần tù gần mù lòa cả cặp mắt và 1956 mắc bệnh nan y ung thư
nhiệt đới tại Gabon gần chết. Bà Lima vợ của tiên sinh mắc rất nhiều bệnh
được tiên sinh chữa lành và cưới làm vợ hiện nay trên 90 tuổi ở Nhật tiếp
tục truyền bá phương pháp của chồng. Michio Kushi vị giáo sư Nhật được
phỏng vấn trong bài ‘Phương pháp chống bệnh ung thư của người Nhật’ đăng
trong ‘Phật Giáo Việt Nam’ chính là con nuôi và là để tử xuất sắc trong số
các môn đệ của ông Ohsawa và chính chúng tôi đã có dịp đích thân nói
chuyện với ông 1973 tại Boston (USA) trong một dịp du hành qua Mỹ. Ở Zhoa
Kỳ hiện nay còn có hai người nữa là Herman Aihara và Noburu B.Muramoto
cũng là thừa kế xuất sắc về ‘macrobiotic’ viết nhiều sách và báo ở vùng
California.
Trở về Việt Nam trước 1965 bạn
tôi là nhà biên thảo Thái Khắc Lễ tác giả ‘Zen và Dưỡng sinh’, ‘Zen và ý
thức nói về ăn chay’ (đã mất trong lúc học tập cải tạo) lúc ấy làm việc
tại thư viện đại học Huế đã liên lạc với tiên sinh Ohsawa ở Pháp và được
học tập lý thuyết của tiên sinh qua các thơ hàm thụ. Sau đó anh em hội
viên Thông Thiên Học chi bộ Chơn Lý Huế có tổ chức các buổi diễn thuyết do
cư sĩ Lê Văn Mừng (trường chay) chủ hiệu nhà sách Liễu quán thuyết trình
để truyền bá phương pháp này. Kế đó do anh Minh Ngô Thành Nhân tiếp tay
thành lập phong trào dưỡng sinh bằng cách ấn hành cuốn ‘Tân Dưỡng Sinh’
(dịch cuốn Le Zen marobiotique in đầu tiên vào năm 1964). Cuốn này được
đọc giả hoan nghênh, tái bản nhiều lần và sau đó nhà xuất bản Anh Minh còn
dịch nhiều sách khác của tiên sinh ra Việt ngữ. Năm 1965 nhóm diễn sinh
Huế được đón tiếp tiên sinh đến diễn thuyết tại hội Quảng Trị và mở nhiều
cuộc thảo luận có cả phu nhân Lima chỉ dạy cách thức nấu ăn. Năm 1967 hội
dưỡng sanh do ông Tôn Thất Hạnh làm hội trưởng ra đời tại Sài Gòn. Năm
1973 bác sĩ Nguyễn Văn Thụy trình bày luận án tiến sĩ y khoa tại viện đại
học Huế về việc trị ung thư máu thành công bằng ăn uống theo phương pháp
Ohsawa. Hiện nay tại Việt Nam còn có trung tâm trường sinh Ohsawa ở 390
đường Điện Biên Phủ quận Bình Thạnh Thành Phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) do các
kế thừa của anh Ngô Thành Nhân tiếp tục phổ biến các phương pháp này.
Những người nhờ ăn uống lành bệnh đã gởi thơ đăng trong tạp chí Sống Vui
trên 50 số (từ 1965-1974) là một bằng cớ chứng tỏ phương pháp này là kết
quả ra sao!
Tuy nhiên có một số rất ít
người áp dụng không đúng bị đau trở lại hay từ trần vì đến với phương pháp
quá trễ sau khi Tây và Đông y đã bó tay vào giai đoạn cuối của bệnh tật,
nhưng khi chết thì đổ lỗi cho Ohsawa. Nhân có một ca như thế nên một bác
sĩ viết báo công kích phương pháp này. Trên thực tế số người ăn càng tăng
căn cứ vào sự tái bản cuốn Tân Dưỡng Sinh (ở Hoa Kỳ cũng tự động in lại
sách này mà không có sự đồng ý của nhà xuất bản Anh Minh ở Việt Nam).
Ở Việt Nam một số tu sĩ các
chùa cũng áp dụng ăn, căn bản và gạo Lứt và các tín đồ Cao Đài, Thiên chúa
và các tôn giáo khác cũng có thực hành. Một số hiểu lầm cần cải chính là
phương pháp Ohsawa không phải là ‘phương pháp gạo lứt muối mè’ quá kham
khổ, không đủ bổ (đây chỉ là thực đơn số 7 đối với một số bệnh nan y) còn
có 9 cách ăn khác từ chay đến mặn và rất ngon lành có thể ăn món cực dương
đến cực âm với điều kiện dùng hạn chế (ở Nhật có nhiều nhà hàng nổi tiếng
tại Tokyo thủ đô Nhật chế biến các món ăn như thế. Đó là lời tiên sinh
Ohsawa đã nói với chúng tôi khi ông tới Huế năm 1965). Vừa rồi bà Thu Ba
vợ ông Tôn Thất Hạnh mới viết và xuất bản một cuốn sách tiếng Pháp nhan đề
‘La cuisine macrobiotique’ được dân chúng Pháp hoan nghênh và nghe đâu sẽ
được dịch sang tiếng Việt, Anh và Tây Ban Nha.
Bây giờ xin đề cập vấn đến: vấn
đề ăn chay đúng cách và đầy đủ. Có dịp chúng tôi sẽ viết bài ăn mặn đúng
cách và đầy đủ ở báo khác. Nay xin đề cập đến ăn chay.
Theo bản kê của phái thực dưỡng
(macrobiotic) thì các món ăn được chia thành cực âm tới cực dương.Các loại
ngũ cốc (gạo, lúa mì...) là quân bình nhất tức là món ăn chính với điều
kiện còn lứt tức còn cám chưa chà xát cho trắng mất hết chất bổ. Bên phần
dương là các loại đạm của động vật gồm các động vật của các loài ở biển
(cá,tôm, cua..) và các con thú (nuôi trong nhà hay hoang), các loài chim..
và các sản phẩm của chúng như trứng, sữa, bơ…Bên phần âm là các loài thực
vật (thảo mộc) như các loại đậu,củ, rau và âm nhất là trái cây, các loại
cà, nấm, măng..Như vậy người ta ăn chay nhất là ăn chay trường dễ bị các
bệnh về âm vì ăn các loại âm.
Người ăn chay không bệnh hay ít
bị các bệnh mà người ăn mặn mắc phải như béo phệ, huyết áp cao, xơ mỡ động
mạch, bón, trĩ, tim, ung thư, dạ dầy... Song lại bị bệnh thiếu máu, huyết
áp thấp, tiêu chảy đái đường, phổi và cũng có những loại ung thư vì quá
âm. Nói như thế người ăn chay không thể mắc bệnh của người ăn mặn hay
ngược lại song nói nhiều hơn, đa số hay dễ mắc bệnh hơn trong vòng tương
đối khi so sánh (ngoài ra ung thư có bệnh vừa do dùng thực phẩm dương và
âm gây ra chứ không phải do một loại âm hay dương).
Về ăn chay nếu ta ăn uống quá
âm thì mất quân bình thì phải có bệnh nghĩa là ăn không đúng cách ví dụ ăn
quá nhiều trái cây, uống quá nhiều nước, ăn quá nhiều canh hay xúp. Mới
đây một bạn ở Victoria điện thoại cho tôi hay vì anh ở nông trại có nhiều
cây có trái nên anh ta lạm dụng ăn nhiều trái cây và uống quá nhiều nước
nên sau đó bị bại liệt, nằm một chỗ không đi được phải ăn theo phương pháp
Ohsawa (gạo lứt muối mè..) trong hai năm, nay lành bệnh và đã lập gia đình
( anh là người Thiên Chúa Giáo). Vì là Thiên Chúa Giáo tôi tin rằng trước
khi bệnh anh là người ăn mặn (thịt, cá..) tuy nhiên vì lạm dụng trái cây
và nước uống anh vẫn bị bại liệt như thường huống chi là các bạn ăn chay
trường (không có đạm động vật làm dương) thì còn dễ bị bệnh biết bao!
Về đầy đủ thì người ăn chay quá
kham khổ cũng bị bệnh như cứ ăn ròng gạo lứt muối mè quá lâu hay chỉ ăn
tương chao rau muống, muối tiêu thì không đủ chất bổ lẽ tất nhiên cơ thể
suy nhược sẽ có nhiều bệnh xẩy ra (do thiếu nhiều chất như sinh tố,
khoáng, đạm thực vật..).
1/ CHẤT BÔT (glucide).
Bắt buộc người ăn chay trường
phải có ngũ cốc còn lứt, tức là còn cám (cơm và bánh mì điều phải lứt). So
sánh các món ăn của người ăn chay thì cơm và bánh mì lứt là dương nhất.
Nên không có dương này để cân bằng phần quá âm của đồ ăn thì sẽ có bệnh.
Chúng tôi đã gặp nhiều cư sĩ tại gia ăn chay trường bị rất nhiều bệnh vì
ăn chay không đúng cách như đái đường, tim, trĩ, mất ngủ, thận, bọng đái,
bại liệt,lao, bao tử, gan và nhiều bệnh khác..
Trong cuốn ắn chay’ của bác sĩ
Đào Tuấn Kiệt xuất bản 1966 tại Long Xuyên bác sĩ đã phân tách trong một
kho gạo lứt có 100 gram chất đạm cho một năng lượng là 3437 calo trong khi
thịt bò cho 1330 calo và đậu nành cho 3173 calo. Vậy kể về nhiệt lượng
những người ăn cơm gạo lứt có đủ sức để làm các công việc như người ăn mặn
(thịt,cá..) và có sức chịu lạnh cao!
Trong gạo lứt có đầy đủ các
loại chất bổ mà không có thức ăn nào dù động vật hay thực vật có đủ để
thay thế cho nó cả. Như các loại acid amin, chất béo, chất bột, chất xơ,
các loại sinh tố, các loại khoáng nói tóm lại là món ăn trường sinh tăng
tuổi thọ vô địch mà không có loại thuốc quí nào của đông tây y có thể thay
thế (dù sâm nhung).
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam
đều ca tụng gạo lứt như nha sĩ Hồ Quan Phước trong cuốn ‘Mạnh Khỏe Trẻ
Trung Do Thực Phẩm Hợp Thời’, bác sĩ kiêm dược sĩ Trương Kế An trong
‘Thuật Dưỡng Sinh’, bác sĩ Nguyễn Huy Dung và Phạm Kiến Nam trong ‘Y Học
và Tuổi Già’ tập 1 .. do kinh nghiệm cho thấy các tăng sĩ trong Phật Giáo
xưa kia như các vị tăng thống và nhiều vị khác có tuổi thọ khá cao từ 90
đến 100 tuổi đều có cách ăn chay dùng gạo lứt làm căn bản (vì ngày xưa đâu
có gạo xay bằng máy) mà chỉ giã bằng chày và cối là một chứng minh sống
động và hùng hồn nhất! Ngoài gạo, bánh mì nên dùng nếp lứt, kê lứt, bo bo
lứt và riêng hắc mạch (buckwheat) rất tốt để trị ung thư.
2/ CÁC MÓN ĂN (protides):
Để có đủ chất đạm (protides) mà
người ăn mặn có trong thịt cá và các loài động vật, người ăn chay có chất
đạm trong các loại đậu.
Đứng đầu là đậu nành (soy hay
soya bean) 1 kí lô đậu nành có đủ chất đản bạch của 31 quả trứng hay 7 lít
sữa hoặc 1 kí lô thịt. Đậu nành có trong đậu phụ hay đậu khuôn (soya
cake), tương nước (tamari), tương đặc (miso) hay đậu hũ. Tương nên làm mặn
không nên chua; ăn có hại cho bao tử. Chao ăn ít vì lên men có thể sình
bụng, no hơi, khó tiêu. Đậu xanh có nhiều chất sắt, mát gan, lọc máu dùng
trong mùa hè nóng nực. Giá đậu xanh; nhiều sinh tố E. Đậu đỏ (red bean hay
azuki) bổ thận âm và dương. Đậu đen (black bean) bổ tỳ, bổ thận dương. Đậu
trắng, đậu ván (ở Úc không có loại này. Ở miền Trung tại Huế và Nha Trang
có trồng nhiều) an thần, ngủ ngon, giải nhiệt. Đậu phụng (hay lạc,
peanut): có nhiều acid amin tốt cho tuổi già. Mè (vừng, seame): rất bổ,
được các tài liệu đông và tây y công nhận (mà ăn chung với đậu phụng vì
trong mỗi thứ có một số acid amin mà thứ kia không có, ăn cả hai thứ cùng
một lúc mới đủ bổ). Các loại đậu như O-ve (haricot vert) đậu petit pois,
đậu lentilles (lentil) đậu Hòa Lan, đậu Đũa v.v.. đều bổ.
3/ THÀNH PHẦN CÁC CHẤT BÉO
(lipide):
Có trong các loại dầu thảo mộc
(đậu phụng, đậu nành, mè, hướng dương (sun flower) bắp (corn) oli (olive))
.. và trong các loại bơ (butter) thảo mộc hay trong các hột (seeds), trái
dừa , trái bơ..
4/ CÁC SINH TỐ:
Xếp theo âm dương thì sinh tố
A, D dương các sinh tố B âm dương quân bình có trong gạo lứt rất nhiều và
sinh tố C thì âm có trong các trái cây và rau dưa. Sinh tố A có trong cà
rốt, các loại khoai có màu vàng trong ruột, trái trứng gà, bí ngô, các
loại dầu, bắp, tương do đậu nành làm ra, đậu xanh và đỏ, lá rau dền, diếp
quan (chicorec), xoài, đu đủ, hồng…
Sinh tố D có nhiều trong các
dầu thảo mộc, bơ thảo mộc, dầu thảo mộc.
Sinh tố E có nhiều trong các
phần của thảo mộc như lá, búp non, các mầm và mộng (mộng lúa, giá sống)
các loại dầu thảo mộc.
Sinh tố P có trong lá trà (chè)
xanh, chanh, cam, quít, đậu phụng.
Sinh tố V có trong các cải bắp.
Sinh tố K lá các loại rau.
Sinh tố F trong các loại dầu
thảo mộc (có nhiều iode). Sinh tố C có nhiều trong các trái cây và rau dưa
nhiều nhất trong ớt loại to, rau dền, cải, su bông, chanh, chuối, xoài, đu
đủ, cam ,chanh v.v..
Chúng ta không hoàn toàn kiêng
cữ các sinh tố loại C vì âm. Người mạnh vẫn có thể ăn vừa phải trừ khi có
bệnh (và tùy một số bệnh quá âm thì phải kiêng cữ) nếu ta dùng gạo lứt và
bánh mì lứt làm món ăn chính.
5/CÁC CHẤT KHOÁNG
Có nhiều trong gạo lứt, tương,
nước suối thiên nhiên và rong biển (sea vegetable). Theo tiên sinh Ohsawa
vì nước biển là âm mà rong ở dưới đó nên nó rất dương, nhất là loại rong
Hiziki màu đen vì nó ở dưới độ sâu của biển. Sau này các môn đệ của Ohsawa
đã thay công thức muối mè của ông bằng rong biển trong nhiều loại bệnh
nhất là trong tất cả các loại bệnh ung thư họ đều khuyên ăn rong (vì rong
ở biển nó hấp thụ muối thiên nhiên rất quý trong các tế bào của nó vì sống
trong môi trường đó nên thứ muối này rất quý còn hơn muối ta ăn và vì tính
cách dương của nó còn hơn cây mè trên đất liền).
THỬ PHÂN TÁCH THÀNH PHẦN CỦA
BỮA ĂN:
Theo Tây y thì một bữa ăn bổ
phải có đủ thành phần của chất bột (glucide) chất đạm (protide) và chất
béo (lipide), sinh tố và khoáng. Theo nhiều tại liệu thì người Việt Nam
trung bình cần 2300 calori một ngày gồm có:
Thành phần (glucide - bột) 76%
cho 1748 calo - (protide - đạm) 12% cho 276 calo - (lipide - béo) 12% cho
276 calo
Thực đơn này áp dụng cho người
ăn chay trường là đúng vì rất ít chất đạm và béo của (thịt, mở).
Nếu tính 1 gram glucide cung
cấp cho cơ thể 4.1 calo, 1 gram lipide cung cấp cho cơ thể 9.3 calo thì số
lượng ăn trong một ngày là: - glucide 1748/4.1 = 426 gram-lipide 276/9.3 =
29 gram-protide 276/4.1 = 67 gram.
Như vậy khẩu phần ăn ‘chính sẽ
là gạo lứt, bánh mì lứt, các loại bột lứt.. tổng cộng 426 gram chưa đầy
nữa kilo,tức là 2 lon gạo (lon sữa) các đồ ăn cũng ít, không nhiều. Nếu
bạn là thanh niên hay lao động mà ăn chay trường thì cần thêm gạo và đồ ăn
sao cho đủ sức làm việc vào khoảng 3000 calo mỗi ngày. Nếu bạn là đàn ông
thì cần calo nhiều hơn đàn bà, và về mùa đông giá lạnh thì cần tăng thêm
ba thành phần trên để đủ sức chống lạnh.
Theo Ohsawa khi đến Việt Nam
năm 1965 ông đã căn cứ vào một xứ nhiệt đới để đưa ra thành phần bữa ăn
như sau:
từ 50-60% các cốc loại (gạo và
các ngũ cốc)
từ 30-40% các thức ăn phụ như
các loại đậu, củ, các chất béo,rau, dưa.
5% (canh hay xúp) rong biển,
rau củ..
5% (trái cây các loại)
Nhà Ohsawa ( do nhóm Anh Minh
Ngô Thành Nhân) ở Sài Gòn sau 30 năm nghiên cứu đưa ra một thực đơn gồm
có:
- thức ăn chính 50-60% gạo lứt
(cơm, cháo hay bột gạo lứt làm các loại bánh, hủ tiếu, mì..) và các loại
ngũ cốc khác như bắp, nếp,bobo, kê v.v..
- muối mè và đậu phụng độ 1%
hoặc các loại bơ mè đậu phụng 29-35% thức ăn phụ gồm các món ăn: rau, củ,
tương, rong biển, v.v..
10% các loại đậu hạt ( như đậu
đỏ, đậu đen..nấu chung với cơm tức là độn thêm hoặc là nấu chung với rau
củ...)
5-10% trái cây.
Theo chúng tôi vì ở Úc khí hậu
khác với Việt Nam và mùa đông tương đối lạnh hơn Sài Gòn, số lượng trái
cây nên giảm xuống về mùa đông từ 2% đến 5% (bớt âm) và tăng phần dương
lên bằng 5% (canh hay xúp rong biển vì ở Việt Nam rong biển khó mua ít
nhập cản rất đắt) và tăng phần gạo lứt tối đa 60% bữa ăn để thêm calo
chống lạnh và giảm còn 50% gạo lứt vào mùa nóng.
THỨC UỐNG:
Uống nước đung sôi, để nguội.
Gạo lứt rang vàng sậm làm trà nấu uống rất tốt (mùa hè bỏ thêm hoa cúc cho
mát và thơm, mùa đông bỏ ít tí gừng dễ tiêu, và ấm cơ thể). Nếu có được lá
cây chè (tea) xanh và già, người Nhật gọi là bancha uống rất quý. Chúng
tôi đề nghị mỗi chùa có đất nên trồng một số cây chè để hái lá uống tốt
hơn là uống trà Tàu dễ bị ung thư và kích thích khó ngủ. Tránh uống các
loại nước ngọt như coca cola, cam.. cà phê nên hạn chế dùng nhiều mất ngủ,
có thể bị ung thư tuyến tiền liệt sinh bí đái và không dùng đường các
trắng. Có thể dùng đường các vàng (mía) hay mật ông nếu thèm đồ ngọt và
hạn chế vì dùng nhiều đồ ngọt và trái cây một số người ăn chay trường bị
bệnh đái đường. Tránh kẹo, bánh, mứt, làm bằng đường. Trong cơm có nhiều
chất ngọt rồi, nếu ăn nhiều chất ngọt nữa thì bị bệnh. Mùa nóng có thể
uống Artichaut, tim sen, lá dâu. Có thể rang đậu đỏ nước uống bổ thận.
CÁCH ĂN VÀ UỐNG:
Ăn cơm phải nhai cho nhỏ va do
nước miếng nên rất bổ. Ăn chậm rãi không nên ăn mau có hại bao tử. Không
nên chan canh vào với cơm để lùa cho mau vì sẽ khó tiêu. Sau bữa ăn độ 10
phút sẽ uống nước và ít vì đã có canh rồi nếu uống nhiều khó tiêu hóa.
Uống nước theo số tiểu tiện mỗi ngày - đàn ông đi tiểu độ 4 lần (cả đêm)
đàn bà (3 lần là vừa, nếu quá thì phải hạn chế bớt nước uống.
Có người theo phương pháp
Ohsawa (ăn chay trường) vì ít uống nước,sau bị sạn thận phải mổ vì họ hiểu
lầm kiêng ít uống nước.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT MÌNH ĂN ĐỦ
VÀ ĐÚNG?
Đúng nhất là cần thức ăn, định
thành phần, tính calo tuy không ai làm vì quá phiền phức nên xem kết quả
sau bữa ăn sẽ rõ.
Ăn đủ là sau khi ăn cảm giác
vừa no, không nặng nề, dễ chịu, làm việc bình thường cho đến bữa ăn sau
bắt đầu đói và thèm ăn.
Hằng tháng nên cân để xem có
lên cân hay sụt (đối vời tuổi trẻ thì lên cân) còn lớn tuổi và già thì số
cân không thay đổi hay lên rất ít, nếu thấy sụt cân là ăn thiếu.
Ăn đúng cách thì xem các triệu
chứng sau:
Ăn xong không bị rối loạn về
tiêu hóa (như tiêu chảy, táo bón, đau bụng, trung tiện, sình bụng, ựa
chua, nất cục, buồn nôn, nhức đầu, chóng mặt, lạnh hay nóng.. ). Đi phân
tốt có lọn màu vàng sậm, đi nhanh không phải ngồi lâu rặn, ít mùi hôi. Có
khi dùng giấy vệ sinh lau không thấy có phân dính vào giấy chỉ tỏ món ăn
rất quân bình (trong một tháng có một hai ngày tôi đi phân như vậy). Ngày
đại tiện 1 hay 2 lần nếu ăn nhiều.
Đi tiểu mỗi ngày từ 3 đến 4 lần
cho đàn ông và từ 2 đến 3 lần cho đàn bà (kể cả ban đêm tính 24 giờ) nước
tiểu màu vàng đi thông không bị bí đái, số lượng nước tiểu nhiều, không
đái dầm, đái són.
Giấc ngủ được ngon, dễ ngủ,
không bị mộng mị, ngủ và thức đúng giờ.
Làm việc bền bỉ có sự dẻo dai
không biết mệt dù lao động trí óc hay chân tay không bị các chứng vọp bẻ,
uể oải, nhức mỏi, ít bị bệnh lặt vặt như cảm cúm, sỗ mũi, đau đầu.. Không
bị các bệnh nan y và bệnh nặng. Vi trùng khó tấn công và thắng, vì cơ thể
đủ sức chống cự.
Thiện Tuệ.
--- o0o ---
Cập nhật 01-03-2003